1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Thiết kế bài giảng tích hợp cho module tiện cơ bản tại trường cao đẳng nghề cơ điện luyện kim thái nguyên

108 355 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, cần thiết phải thay đổi quan điểm dạy học trong đào tạo nghề sang dạy học tích hợp, phương pháp dạy kết hợp lý thuyết và thực hành giúp sinh viên luyện tập ngay kiến t

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nội dung trong luận văn là do sự tìm tỏi, học hỏi và nghiên

cứ u thực sự của cá nhân dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo tâ ̣n tình của thầy:

PGS.TS Nguyễn Đắc Trung

Bô ̣ môn: Gia công Áp lực, Viện Cơ khí trường ĐHBK Hà Nội

Đề tài được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết để thực hiê ̣n thiết kế xây dựng bài giảng tích hợp, mo ̣i kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của tác giả khác,

nếu có đều được trích dẫn và liê ̣t kê cu ̣ thể

Đề tài của luận văn chưa được bảo vê ̣ ta ̣i bất kỳ mô ̣t hô ̣i đồng nào và cũng chưa hề được công bố trên bất kì một phương tiện nào

Tác giả xin hoàn toàn chi ̣u trách nhiê ̣m về những lời cam đoan trên

Ha ̀ Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2016 Tác giả

Mạc Thị Thanh Hải

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong Viện Sư phạm

Kỹ thuật – Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, các đồng nghiệp, gia đình và người

thân đã tận tình giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn cán bộ, giáo viên Trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên, các bạn học viên cao học khóa 2013B đã giúp đỡ, cung cấp thêm tư liệu và

tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Đắc Trung, người đã tận

tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và sau này là quá trình nghiên cứu và hoàn

thiện đề tài

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian có hạn, cũng như kinh nghiệm của bản thân còn nhiều hạn chế, do vậy luận văn không thể tránh khỏi những sai sót nhất định, rất mong các thầy cô giáo, các anh chị đồng nghiệp và bạn đọc xem xét, đóng góp ý kiến bổ sung để luận văn được hoàn thiện hơn

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

LỜI CẢM ƠN 2

MỤC LỤC 3

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 5

DANH MỤC CÁC BẢNG 6

DANH MỤC CÁC HÌNH 7

PHẦN MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài Error! Bookmark not defined 2 Mục tiêu nghiên cứu Error! Bookmark not defined 3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 10

5 Giả thuyết khoa học 10

7 Phương pháp nghiên cứu Error! Bookmark not defined 8 Đóng góp khoa học của luận văn 11

8.1 Về nghiên cứu áp dụng lý thuyết vào thực tế xây dựng bài giảng tích hợp 11

8.2 Về mă ̣t thực nghiệm giảng dạy và đánh giá kết quả đào tạo 11

9 Nội dung của đề tài, các vấn đề cần giải quyết……….11

CHƯƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC TÍCH HỢP 1.1 Cơ sở lý luận của dạy học tích hợp 12

1.1.1 Khái niệm về tích hợp 12

1.1.2 Dạy học tích hợp 13

1.2 Tiếp cận đào tạo theo năng lực thực hiện (NLTH) 14

1.2.1 Khái niệm và cấu trúc của năng lực 14

1.2.2 Đào tạo theo năng lực thực hiện 15

1.3 Bài dạy học tích hợp 19

1.3.1 Định nghĩa 19

1.3.2 Đặc trưng của bài dạy học tích hợp 20

1.4 Thực trạng dạy - học tích hợp tại Trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên 21

1.4.1 Giới thiệu về trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên 21

1.4.2 Vị trí của nghề Tiện trong gia công cắt gọt kim loại 22

1.4.3 Thực trạng dạy - học tích hợp Môđun “Tiện cơ bản” tại Trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên 23

Trang 4

CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐIỀU KIỆN TIỀN ĐỀ CỦA MÔĐUN “TIỆN CƠ BẢN” ĐỀ THỰC

HIỆN GIẢNG DẠY TÍCH HỢP

2.1 Môđun “Tiện cơ bản” trong đào tạo nghề Cắt gọt kim loại tại Trường Cao đẳng

nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên 27

2.1.1 Vị trí Môđun “Tiện cơ bản” 27

2.1.2 Cấu tạo Môđun 16: Tiện cơ bản 28

2.1.3 Mục tiêu của Môđun 16: Tiện cơ bản 29

2.1.4 Thời gian thực hiện của Môđun 16: Tiện cơ bản 29

2.2 Những kiến thức cơ bản về thực hành nghề tiện và các điều kiện thực hiện giảng dạy Môđun 16: Tiện cơ bản 30

2.2.1 Những kiến thức cơ bản về thực hành nghề Tiện 30

2.2.2 Các điều kiện thực hiện giảng dạy Môđun 16: Tiện cơ bản 40

2.3 Phân tích kết cấu Môđun 16: Tiện cơ bản 43

Kết luận chương 2 50

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ BÀI GIẢNG TÍCH HỢP VÀ BÀI TẬP TRẮC NGHIỆM CHO MÔĐUN 16: TIỆN CƠ BẢN 3.1 Trình tự thiết kế bài giảng tích hợp 52

3.2 Phương pháp kiểm tra bằng các loại trắc nghiệm khách quan (TNKQ) 55

3.2.1 Ưu, nhược điểm của trắc nghiệm khách quan 55

3.2.2 Thiết kế bài tập trắc nghiệm khách quan có sự hỗ trợ của máy tính 56

3.2.3 Thiết kế bài trắc nghiệm khách quan bằng phần mềm Ispring Quizmaker 57

3.3 Ví dụ thiết kế một số bài giảng tích hợp cho Mô đun 16: Tiện cơ bản 63

CHƯƠNG 4 KHẢO SÁT Ý KIẾN VỀ BÀI GIẢNG TÍCH HỢP 4.1 Phương pháp điều tra- khảo sát 90

4.2 Khảo sát ý kiến GV về bài giảng tích hợp 91

4.3 Khảo sát ý kiến SV về bài giảng tích hợp 93

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CỦA LUẬN VĂN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

PHỤ LỤC 98

Trang 5

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Cụm từ viết tắt Nghĩa đầy đủ

KH&CN Khoa học và Công nghệ

CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Sự khác biệt giữa đào tạo truyền thống và đào tạo theo NLTH 18

Bảng 2: Cấu tạo Môđun 16 28

Bảng 3: Thời gian đào tạo Môđun 16 theo Chương trình khung 30

Bảng 4: Phương tiện dạy học cần sử dụng trong Môđun 16 42

Bảng 5: Bảng phân tích kết cấu nội dung bài dạy Môđun 16 44

Bảng 7: Bảng so sánh cấu trúc bài dạy lý thuyết và thực hành 53

Bảng 8: Bảng tính năng công dụng phần mềm Ispring Quizmaker 58

Bảng 9:Bảng kết quả khảo sát ý kiến GV về bài giảng tích hợp 91

Bảng 10: Bảng kết quả khảo sát ý kiến SV về bài giảng tích hợp 93

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1: Các thành tố cấu thành năng lực thực hiện 15

Hình 2: Dạng của sơ đồ DACUM 19

Hình 4: Sơ đồ vị trí Mô đun " Tiện cơ bản" 27

Hình 5: Căn mẫu 33

Hình 6: Calip kiểm tra mặt côn 33

Hình 7: Calip kiểm tra mặt trụ 33

Hình 8: Cấu tạo thước cặp loại 1/10 34

Hình 9: Cấu tạo panme đo ngoài 34

Hình 10: Cách chia du xích trên panme 35

Hình 11: Cấu tạo máy tiện vạn năng 36

Hình 12: Bàn xe dao máy tiện 38

Hình 13: Mâm cặp tự định tâm 3 chấu 39

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Với xu thế toàn cầu hóa cùng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ đòi hỏi sự nghiệp giáo dục phải có những đổi mới để đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đảng và Nhà nước ta luôn xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, tuy nhiên, thực trạng đào tạo nghề hiện nay ở Việt Nam còn nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu và giải quyết

Nhìn chung, chất lượng đào tạo nghề nước ta không cao và không theo kịp xu thế phát triển của kinh tế - xã hội, không đáp ứng được nhu cầu thị trường lao động nhất là lao động chất lượng cao Nhiều sinh viên ra trường tay nghề kém, tác phong làm việc công nghiệp yếu, không thích ứng kịp với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ, vì vậy phải đào tạo lại rất tốn thời gian và lãng phí, trong khi “Tính chất phát triển của công nghiệp lớn, hiện đại trong điều kiện cơ chế thị trường thực tế đã tạo ra một xã hội phát triển năng động với quá trình hợp tác và cạnh tranh gay gắt” [2]

Tại trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên, mặc dù là trường đào tạo nghề lâu năm nhưng cũng không tránh khỏi những khó khăn trên Một trong những nguyên nhân cơ bản của những tồn tại trên là quan điểm dạy học chỉ tập trung vào lý thuyết, sinh viên ít có cơ hội thực hành vì thế kỹ năng thực hành kém, lý thuyết và thực hành tách rời nhau ít có mối quan hệ, cộng với việc bài giảng tích hợp được thiết kế không phù hợp, nội dung trùng lặp, thừa, thiếu dẫn tới những tồn tại trên Do

đó, cần thiết phải thay đổi quan điểm dạy học trong đào tạo nghề sang dạy học tích hợp, phương pháp dạy kết hợp lý thuyết và thực hành giúp sinh viên luyện tập ngay kiến thức đã học vào thực tế công việc, chương trình đào tạo được kết cấu theo module năng lực thực hiện đã tích hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp để hoàn thành một công việc cụ thể, dạy học định hướng mục tiêu với cách dẫn dắt, giải quyết vấn đề đi từ thực tiễn

Đối với nghề tiện, để đào tạo thợ tiện tay nghề cao trước hết người thợ phải thành thạo các bước đầu của nghề hay các bước của tiện cơ bản Đào tạo tiện cơ bản mới dừng lại ở bước thực hành các thao tác cơ bản của nghề, nắm được những kiến thức cơ bản có liên quan, các máy thường dùng trong đào tạo tiện cơ bản cũng thô sơ và chưa có sự gắn kết lý thuyết, thực hành Vì vậy “Để đào tạo tốt nghề tiện cần phải

có những điều kiện như cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên có trình độ cao, tài liệu và

Trang 9

phương pháp giảng dạy, học tập tiên tiến, và một yếu tố quan trọng nữa là học lý thuyết đi đôi với thực hành” [1]

Tuy nhiên, ở Việt Nam,bài giảng tích hợp mới chỉ đơn thuần là bài phân chia lý thuyết, thực hành để sắp xếp dạy cùng nhau mà chưa có độ linh hoạt trong thiết kế và giảng dạy, cách thức xây dựng bài giảng tích hợp chưa khoa học Ngoài ra, việc áp dụng hình thức kiểm tra đánh giá truyền thống không phù hợp với dạy học tích hợp cần được thay thế và sửa đổi

Trên thế giới, chương trình đào tạo nghề được kết cấu theo môđun năng lực thực hiện được áp dụng từ lâu Theo đó, việc đào tạo nghề được thực hiện dựa trên quan điểm tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, bài giảng tích hợp kết hợp lý thuyết,

kỹ năng của nhiều chuyên ngành, nhiều môn học, hay nhiều phương pháp, phương tiện dạy học giúp cho người học hoàn thiện bản thân Ở Việt Nam từ 1995 – 2004 với thành quả 39 biểu đồ DACUM và 17 bộ chương trình theo mô đun, việc phân tích chương trình đào tạo theo năng lực thực hiện được xây dựng cho các ngành nghề đào tạo cả ngắn hạn và dài hạn Hiện nay Bộ Lao động và Thương binh xã hội đã áp dụng cho các hệ cao đẳng nghề và trung cấp nghề: Quyết định 58/2008/QĐ-BLĐTBXH ngày 09/6/2008 qui định về chương trình khung trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; quyết định 103/QĐ-TCDN phê duyệt Dự án “Xây dựng chương trình khung dạy nghề năm 2010” là bước đầu cho việc thực hiện dạy học theo quan điểm tích hợp

Tóm lại, cần nâng cao chất lượng bài giảng tích hợp cho Module “Tiện cơ bản” cũng như các module khác trong nghề bằng cách cấu trúc lại cấu trúc bài giảng cho hợp lý, khoa học về thời gian cũng như trình tự thực hiện công việc trong bài, kết hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác cộng với việc áp dụng kiểm tra đánh giá cuối bài nhanh gọn và hiệu quả bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan Chính vì

vậy, đề tài luận văn Thiết kế bài giảng tích hợp cho Module “Tiện cơ bản” tại trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên là hết sức cần thiết

Chính những lý do trên tác giả đã lựa chọn đề tài luận văn Thiết kế bài giảng tích hợp cho Module “Tiện cơ bản” tại trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu quá trình thiết kế bài giảng tích hợp và xây dựng một số bài giảng tích hợp cho Môđun “Tiện cơ bản” áp dụng giảng dạy cho sinh viên nghề Tiện tại

Trang 10

trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên nhằm nâng cao chất lượng

học tập nghề Tiện tại trường

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình giảng dạy và nội dung chương trình Module “Tiện cơ bản” tại trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Cách thức xây dựng bài giảng tích hợp cho Module “Tiện cơ bản” tại trường

Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên, cấu trúc và nội dung bài giảng

4 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng giảng da ̣y tích hợp Module “Tiện cơ bản” ta ̣i Trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên Từ đó đề xuất đổi

mớ i nô ̣i dung, cấu trúc bài giảng, quy trình thiết kế bài giảng tích hợp, bài tập trắc nghiệm liên quan, ứng dụng giảng dạy tại trường

5 Giả thuyết khoa học

Trên cơ sở nội dung và quá trình dạy – học, nếu giáo viên khéo léo trong quy trình thiết kế bài giảng; lựa chọn, lồng ghép nội dung cho logic, cấu trúc bài giảng phù hợp với tư duy của người học, chủ ý sư phạm mà vẫn đảm bảo được mục tiêu rõ ràng của bài học, kết hợp với bài tập trắc nghiệm nhanh gọn, dễ thực hiện thì bài giảng tích hợp cho module “Tiện cơ bản” sẽ đạt hiệu quả cao, nâng cao chất lượng giảng dạy

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Điều tra thực trạng dạy học tích hợp tại trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên

- Nghiên cứu lý thuyết về dạy học tích hợp, nội dung chương trình và đề xuất một số giải pháp vận dụng quan điểm dạy học tích hợp vào việc thiết kế bài giảng tích hợp nhằm nâng cao chất lượng dạy học nội dung Module ‘‘Tiện cơ bản”

- Tiến hành thiết kế bài tập trắc nghiệm khách quan dựa trên ứng dụng phần mềm Ispring

- Tiến hành khảo sát, lấy ý kiến thầy cô và sinh viên về bài giảng tích hợp được thiết kế và giảng dạy

7 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lí luâ ̣n: Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liê ̣u các vấn đề liên quan đến đề tài

Trang 11

- Nghiên cứ u thực tiễn: Điều tra thực trạng da ̣y và ho ̣c Module “Tiện cơ bản”

- Phương pháp điều tra, khảo sát: Phát phiếu điều tra cho cán bộ, giáo viên, sinh viên

để lấy ý kiến

- Phương pháp phân tích –tổng hợp: Lập bảng phân tích số liệu đánh giá ý kiến của

cán bộ và sinh viên tại trường về bài giảng tích hợp

8 Đóng góp khoa học của luận văn

8.1 Về nghiên cứu áp dụng lý thuyết vào thực tế xây dựng bài giảng tích hợp

- Góp phần làm sáng tỏ những quan điểm về dạy học tích hợp

- Đề xuất được các phương án thiết kế bài giảng tích hợp cho Module “Tiện cơ

bản”, nhằm nâng cao chất lượng da ̣y ho ̣c

8.2 Về mặt thực nghiệm giảng dạy và đánh giá kết quả đào tạo

- Tổ chức dạy ho ̣c các tiết cu ̣ thể với sinh viên tại trường

- Luận văn góp phần đổi mớ i phương pháp da ̣y học tích hợp, chứng minh tính

hiệu quả của việc vận du ̣ng quan điểm dạy học tích hợp vào thiết kế bài giảng tích hợp

9 Nội dung của đề tài, các vấn đề cần giải quyết

Ngoài phần “Mở đầu”, “Kết luận”, “Danh mục tài liệu tham khảo” và “Các phụ

lục”, Luận văn gồm bốn chương : Chương 1 trình bày những cơ sở lí luâ ̣n và thực tiễn

củ a dạy học tích hợp, Những điều kiện tiền đề của Module “Tiện cơ bản” để thực hiện

bài giảng tích hợp được nghiên cứu, đề cập trong chương 2 Trong Chương 3 trình bày các nội dung xây dựng, thiết kế bài giảng tích hợp cho Module

“Tiện cơ bản”, cuối cùng là bản khảo sát ý kiến về bài giảng tích hợp được đưa ra

trong chương 4

Trang 12

CHƯƠNG 1

CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC TÍCH HỢP

1.1 Cơ sở lý luận của dạy học tích hợp

Trong tiếng Anh, tích hợp được viết là “integration” một từ gốc Latin (integer)

có nghĩa là “whole” hay “toàn bộ, toàn thể” Có nghĩa là sự phối hợp các hoạt động

khác nhau, các thành phần khác nhau của một hệ thống để bảo đảm sự hài hòa chức năng và mục tiêu hoạt động của hệ thống ấy

Trong dạy học, tích hợp có thể được hiểu là sự phối, kết hợp các tri thức của một số môn học có những nét chính, tương đồng vào một lĩnh vực chung, thường là quanh những chủ đề, những kiến thức nguồn Nói cách khác, tích hợp là phương hướng phối hợp tối ưu các quá trình học tập một cách riêng rẽ các môn học, phân môn học khác nhau theo những hình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng mục tiêu, mục đích và yêu cầu cụ thể khác nhau

Theo Từ điển giáo dục học thì tích hợp là “hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy”[6] Kế hoạch giảng dạy có thể là kế hoạch giảng

dạy của một chương trình học, một môn học hay của một bài dạy Theo đó, tích hợp được chia thành: Tích hợp dọc là loại tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau, như tích hợp bộ môn, tích hợp chương trình, tích hợp giảng dạy, tích hợp học tập, tích hợp kiến thức, tích hợp kỹ năng,… còn tích hợp ngang là tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau xung quanh cùng một chủ đề

Trong thực tế đào tạo nghề, giáo viên (GV) đang thử nghiệm theo những cách hiểu riêng với những mức độ cụ thể khác nhau về tích hợp như là sự liên hệ, sự phối

hợp, sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành “Tích hợp đào tạo là sự kết hợp một cách

Trang 13

hữu cơ, có hệ thống các kiến thức lý thuyết cần thiết liên quan (môn chung, cơ sở ngành, lý thuyết chuyên môn) và kỹ năng thực hành nghề tương ứng thành một nội dung kỹ năng nhất định, nhằm đem đến cho người học các năng lực thực hiện (NLTH) công việc, nhiệm vụ cụ thể”[4] Mọi cách hiểu đều hướng đến mục tiêu dạy học với bốn trụ cột lớn của giáo dục hiện đại “Học để hiểu biết và sáng tạo, học để làm, học

để chung sống và học để làm người” [2]

Như vậy, trong dạy học, tích hợp có thể được coi là sự liên kết các các đối tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự thống

nhất, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học tốt nhất

Ví dụ, trong dạy nghề Tiện, mục tiêu của mỗi môđun là năng lực mà người học đạt được sau quá trình học tập Bởi thế, để hình thành cho người học một kỹ năng GV phải dạy cho họ biết cách kết hợp và huy động hợp lý các nguồn nội lực và ngoại lực (tất cả những gì có thể huy động được nằm ngoài cá nhân) Sự trọn vẹn ấy được quyết định bởi sự kết hợp hài hòa giữa kiến thức – kỹ năng – thái độ ở người học

1.1.2 Dạy học tích hợp

“Trong quá trình phát triển một xã hội công nghiệp, yêu cầu về KH&CN đối với đào tạo nhân lực ngày càng cao và càng đa dạng tương ứng với giai đoạn công nghiệp hóa” [5]

Để người học có thể nhanh chóng hòa nhập thực tế sản xuất, có năng lực đáp ứng với các tiêu chuẩn của doanh nghiệp, rút ngắn thời gian đào tạo … đa phần các hệ thống đào tạo nhân lực trên thế giới hiện nay đều chuyển sang tiếp cận theo NLTH hay còn gọi là phương pháp dạy học tích hợp

Dạy học tích hợp có phải đơn thuần chỉ là sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành tại cùng một địa điểm, thời gian hay không? Chính do quan niệm dạy học là sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành gây khó khăn cho người GV khi biên soạn giáo án khi phân chia thời gian cho dạy lý thuyết và thực hành sao cho phù hợp, tổ chức bài dạy tích hợp sao cho đúng thời gian,…khi việc thực hiện tại cùng một địa điểm và rất

dễ tốn thời gian chuyển tiếp lý thuyết, thực hành

Mục đích của dạy học tích hợp là hình thành và phát triển năng lực của người học, các thành phần tham gia tích hợp là loại tri thức hoặc các thành tố của quá trình dạy học Khi đó, dạy học tích hợp tạo ra các tình huống liên kết tri thức các môn học,

đó là cơ hội phát triển các năng lực của sinh viên (SV) Khi xây dựng các tình huống

Trang 14

vận dụng kiến thức, SV sẽ phát huy được năng lực tự lực, phát triển tư duy sáng tạo Các tình huống được lựa chọn trong bài giảng giúp hình thành năng lực rõ ràng cho người học, có chủ đích trước của GV, các tình huống xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của nghề Vì vậy, hiện nay các chương trình đào tạo đều được xây dựng trên cơ sở tổ hợp các năng lực cần có của người lao động trong thực tiễn sản xuất, kinh doanh, môn học được sắp xếp thành các môđun, quan điểm dạy học tích hợp được hiểu như sau:

Theo PGS Trần Khánh Đức “Dạy học tích hợp được hiểu là hình thức dạy học kết hợp giữa dạy lý thuyết và dạy thực hành, qua đó người học hình thành một năng lực nào đó (kỹ năng hành nghề) nhằm đáp ứng được mục tiêu của môn học/mô đun

Để hình thành cho người học một kỹ năng cần phải dạy cho họ biết cách kết hợp và huy động các nguồn nội lực (kiến thức, khả năng thực hiện, thái độ) và ngoại lực (tất cả những gì có thể huy động được nằm ngoài cá nhân)” [2]

Tuy nhiên, đặc trưng của bài dạy học tích hợp là “Các đơn vị kiến thức, kỹ năng, thái độ không tách rời nhau mà tích hợp lại thành các môđun năng lực thực hiện” [2] Vì thế, dạy học tích hợp là quá trình dạy học mà ở đó các nội dung, hoạt động dạy kiến thức, kỹ năng, thái độ được tích hợp với nhau trong cùng một nội dung và hoạt động dạy học để hình thành và phát triển năng lực thực hiện hoạt động nghề nghiệp cho người học

Ngoài ra dạy học tích hợp còn được thể hiện ở các bài học lý thuyết trong đó có

tổ hợp nhiều loại tri thức khác nhau hoặc nhiều loại kỹ năng khác nhau… để tạo ra những nhận thức mới, khả năng rộng mở hơn, hình thành các mối liên kết hữu cơ giữa các loại tri thức hoặc kỹ năng khác nhau

1.2 Tiếp cận đào tạo theo năng lực thực hiện (NLTH)

1.2.1 Khái niệm và cấu trúc của năng lực

a, Khái niệm năng lực

“1/ Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó 2/ Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao” [9]

“Khả năng được hình thành và phát triển, cho phép con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp Năng lực được thể hiện vào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ [6]

Trang 15

Có thể nói: “Năng lực là khả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con người (tri thức, kỹ năng, thái độ, thể lực, niềm tin,…) để thực hiện có chất lượng và hiệu quả công việc hoặc đối phó với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp trong các điều kiện cụ thể và theo các chuẩn mực nhất định” [4]

b, Cấu trúc năng lực

Năng lực chung (General Competency):

Là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp như năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ và tính toán; năng lực giao tiếp, năng lực vận động… Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống

Năng lực chuyên biệt

Là những năng lực riêng được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù Ví dụ như năng lực nhận dạng nhanh được hình thành trên cơ sở các năng lực chung về thị giác, phán đoán, so sánh… và các phẩm chất, năng khiếu chuyên biệt Trong dạy học năng lực là tổ hợp

Hình 1: Các thành tố cấu thành năng lực thực hiện

Trong đào tạo nghề người ta quan tâm đến năng lực thực hiện hoạt động chuyên môn (Professional Action Competency) Năng lực này được coi là tích hợp của bốn loại năng lực sau: năng lực cá nhân (Individual competency) – năng lực chuyên môn/kỹ thuật (Professional/Technical competency) – năng lực phương pháp luận

(Methodical competency) và năng lực xã hội (Social competency)

1.2.2 Đào tạo theo năng lực thực hiện

Theo Nghị quyết số 76/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 về mục tiêu dạy nghề như sau: “Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản

Trang 16

xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Theo đó, để đạt được mục tiêu dạy nghề, ta cần áp dụng lối tiếp cận dạy học hiệu quả, loại bỏ lối tiếp cận truyền thống không phù hợp

Trong lĩnh vực đào tạo hiện nay có hai lối tiếp cận dạy học, đó là tiếp cận truyền thống và tiếp cận NLTH Tiếp cận truyền thống tỏ ra không mấy thích hợp với nhu cầu lao động của thế giới cũng như người lao động hiện nay do còn tồn tại những

nhược điểm sau:

- Quá nặng về phân tích lý thuyết, không định hướng thực tiễn và hành động

- Thiếu và yếu trong phát triển kỹ năng quan hệ qua lại giữa các cá nhân, kỹ năng mềm khác ngoài kỹ năng thao tác nghề (kỹ năng giao tiếp, kỹ năng trình bày, …)

- Lý thuyết và thực hành tách rời nhau ít có mối quan hệ

- Không giúp người học làm việc tốt trong các nhóm

- Nội dung trùng lặp, học có tính dự trữ

- Không phù hợp với xu thế học tập suốt đời…

Một trong những nhược điểm của tiếp cận truyền thống là hệ thống đào tạo tốn thời gian, chi phí, năng lực nghề nghiệp của người học sau khi tốt nghiệp thấp, không

phù hợp với nhu cầu xã hội và mất nhiều công sức để đào tạo lại

Đào tạo theo NLTH (Competency Based Training) là phương thức đào tạo dựa chủ

yếu vào những tiêu chuẩn quy định cho một ngành, nghề chứ không dựa vào thời gian như trong đào tạo truyền thống

Với lối tiếp cận theo NLTH, nội dung đào tạo là năng lực giải quyết các nhiệm

vụ sản xuất tại một vị trí làm việc trong doanh nghiệp/công ty Đơn vị của NLTH là các thành tố năng lực, các thành tố này xác định bởi công việc (task) mà người lao động phải thực hiện Để thực hiện một công việc, người lao động cần phải có:

- Khả năng sử dụng các công cụ lao động và tư liệu sản xuất để làm ra sản

phẩm theo các tiêu chuẩn kỹ thuật qui định (Skill)_ sự thực hiện

- Biết tại sao phải làm như thế, tại sao làm khác sẽ hư hỏng (Knowledeg) _ kiến thức

Trang 17

- Làm việc với ý thức, tinh thần trách nhiệm trong sự liên đới xã hội (Attitude)_ thái độ

NLTH được coi như là sự tích hợp của kiến thức – kỹ năng – thái độ làm thành khả năng thực hiện một công việc sản xuất và được thể hiện trong thực tiễn sản xuất Không chỉ là kỹ năng tâm vận động hay là kỹ năng lao động tay chân, những kỹ năng trí tuệ cũng là thành phần kỹ năng tạo nên NLTH

Đặc điểm cơ bản nhất của đào tạo theo NLTH là định hướng và chú trọng vào kết quả đầu ra của quá trình đào tạo, nghĩa là: Từng người học có thể làm được cái gì trong một tình huống lao động nhất định theo tiêu chuẩn đề ra Trong đào tạo theo NLTH, người có NLTH là người:

- Có khả năng làm được cái gì đó (liên quan đến nội dung chương trình đào tạo)

- Có thể làm được những cái đó tốt như mong đợi Mỗi người học làm được thông thạo cái gì đó sau một thời gian học tập dài, ngắn khác nhau tùy thuộc chủ yếu vào khả năng, nhịp độ học của người đó Người học thực sự được coi là trung tâm và có

cơ hội phát huy tính tích cực, chủ động của mình, người học được phép tích lũy tín chỉ về những gì đã học trước đó, có khả năng thực hiện chúng theo tiêu chuẩn quy định

Chương trình được xây dựng dựa trên kết quả phân tích nghề để xác định NLTH cần thiết đối với từng cấp độ nghề Việc phân tích nghề nhằm xác định mô hình hoạt động của người lao động, bao gồm những nhiệm vụ, công việc người lao động phải thực hiện, được trình bày dưới dạng các công việc thực hành nghề thực tế phải làm hoặc dưới dạng các hành vi về mặt kiến thức, thái độ liên quan đến nghề nghiệp Mỗi nghề gồm nhiều lĩnh vực, hay nhiệm vụ nghề Nội dung đào tạo được xây dựng thành các môđun đào tạo tương ứng với các nhiệm vụ nghề Môđun đào tạo gồm nhiều đơn nguyên học tập/bài Mỗi đơn nguyên là một tình huống giải quyết một công việc hay kỹ năng nghề

Theo luật dạy nghề số 76/2006/QH11 29/11/2006 quy định:

“Môđun là đơn vị học tập được tích hợp giữa kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành và thái độ nghề nghiệp một cách hoàn chỉnh nhằm giúp cho người học nghề

có năng lực thực hành trọn vẹn một công việc của một nghề

Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quy định về mức độ thực hiện và yêu cầu kiến thức,

kỹ năng, thái độ cần có để thực hiện các công việc của một nghề”

Trang 18

Bảng 1: Sự khác biệt giữa đào tạo truyền thống và đào tạo theo NLTH

Đặc trưng Đào tạo theo truyền

thống

Đào tạo theo NLTH

Học cái gì? - Học các kiến thức lý

thuyết có sẵn trong tài liệu học tập và thực hành các

- Được xác định chính xác, rõ ràng trước khi học

Cách học - Hoạt động học chủ yếu

dưới sự hướng dẫn của

GV

- Người học ít có cơ hội kiểm tra quá trình học của mình

- Không có thông tin phản hồi đều đặn trong quá trình học

- Tổ chức hoạt động học hướng vào người học, tài liệu, phương tiện học tập giúp người học hoàn thành công việc

- Người học có thể dừng lại, đi chậm,

đi nhanh tùy năng lực cá nhân

- Có thông tin phản hồi đều đặn trong quá trình học

Thời gian người

Trang 19

Hình 2: Dạng của sơ đồ DACUM

Cùng với sơ đồ Dacum là bảng phân tích công việc Nội dung của bảng này thể hiện các kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết để thực hiện được công việc đã nêu trong

sơ đồ Dacum cũng như điều kiện và tiêu chuẩn thực hiện của từng công việc ấy

Hình 3: Cấu trúc bảng phân tích công việc

1.3 Bài dạy học tích hợp

1.3.1 Định nghĩa

Trong dạy học, hoạt động dạy và học là hai hoạt động cơ bản nhất Không có hoạt động học thì không có hoạt động dạy Bởi vậy, khi đề cập đến dạy học tích hợp thì điều đầu tiên cần nói đến là bài dạy học tích hợp

Theo các nhà sư phạm, bài dạy học được coi là đơn vị dạy học nhỏ nhất để đảm nhiệm một nội dung dạy học có giá trị tương đối độc lập, trọn vẹn Với tiếp cận NLTH, bài học là đơn vị dạy học nhỏ nhất để hình thành cho người học khả năng giải quyết một công việc hoặc phần công việc (“sub task”, chứ không phải là “tiểu kỹ năng”) chuyên môn

Hai điều cơ bản làm nền tảng cho việc định nghĩa bài dạy học tích hợp Thứ nhất, dạy học tích hợp là quá trình dạy học mà ở đó các nội dung, hoạt động dạy kiến

Trang 20

thức, kỹ năng, thái độ được tích hợp với nhau trong cùng một nội dung và hoạt động dạy học để hình thành và phát triển NLTH hoạt động nghề nghiệp cho người học

Thứ hai, sự tích hợp diễn ra trên nền tảng một công việc (task) chuyên môn cụ thể, mà để thực hiện được, thì cần đến những kiến thức, kỹ năng, thái độ, công cụ sẽ được nêu ra và thực hiện trong bài học

Như thế, bài dạy học tích hợp được hiểu là đơn vị học tập nhỏ nhất có khả năng hình thành ở người học cả kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết để giải quyết một công việc hoặc phần công việc chuyên môn cụ thể, góp phần hình thành NLTH hoạt động nghề nghiệp của họ

Khi thiết kế bài dạy học tích hợp kèm theo các hoạt động tổ chức, hỗ trợ, điều khiển của người dạy, chúng ta có được bài dạy tích hợp

1.3.2 Đặc trưng của bài dạy học tích hợp

- Mục tiêu của dạy học tích hợp không phải là hình thành ở người học các đơn vị kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp một cách riêng lẻ mà là NLTH công việc Đó là khả năng thực hiện công việc hoặc phần công việc chuyên môn mới, kiến thức mới được tiếp thu, kỹ năng mới được hình thành (kỹ năng trí tuệ hoặc kỹ năng lao động chân tay)

- Trong dạy học tích hợp, các đơn vị kiến thức, kỹ năng, thái độ không tách rời nhau mà tích hợp lại thành các môđun NLTH Các môđun NLTH cần giúp cho việc luyện tập hoàn thiện các hoạt động nghề cho mỗi nghề Vì thế các loại bảng phân tích hoạt động nghề trong đó xác định các kiến thức, kỹ năng, thái độ và các tài liệu có tác dụng định hướng quan trọng trong việc xây dựng các mục tiêu học tập

- Trong dạy học tích hợp, kiến thức lý thuyết được học ở mức độ cần thiết đủ để

hỗ trợ cho việc hình thành và phát triển các NLTH Lý thuyết và thực hành được dạy tích hợp với nhau một cách linh hoạt Tuy nhiên, sự kết hợp không phải là dạy hết lý thuyết rồi đến thực hành trong cùng một bài, mà là sự biến hóa, kết hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ trong một công việc cụ thể dựa trên hình thức học lý thuyết kết hợp thực hành Nghĩa là cách thức phổ biến trong dạy học là dạy học dựa trên công việc và tại nơi làm việc theo chức năng của từng vị trí việc làm

- Phương pháp tổng hợp của việc học là một bộ phận quan trọng trong việc thực hiện các môđun Khi đó, nội dung của môđun không bị tách rời khi truyền đạt cho SV theo trình tự cho trước, vì thế các học liệu phải được soạn thảo và chuẩn bị thích hợp với các NLTH trong từng môđun, có sự khác biệt giữa các kỹ năng cụ thể

Trang 21

- Đánh giá người học trong dạy học tích hợp là đánh giá theo tiêu chí và chỉ số chứ không phải so sánh người học với nhau Tiêu chí sử dụng trong đánh giá là tiêu chí tối thiểu của ngành công nghiệp đảm bảo cho người học thực hiện các chức năng

an toàn và hiệu quả tại nơi làm việc

- Về cấu trúc, bài dạy học tích hợp như một bài giảng chuyển tiếp của bài dạy lý thuyết và thực hành, vì thế cấu trúc là sự kết hợp của hai loại bài giảng trên với sự phù hợp của nội dung và ý đồ giảng dạy

1.4 Thực trạng dạy - học tích hợp tại Trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên

1.4.1 Giới thiệu về trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên

a, Trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên

- Trụ sở chính: Xã Tích Lương - TP Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên

- Cơ sở 2: Phường Trung Thành - TP Thái Nguyên - Tỉnh Thái Nguyên

- Phân hiệu đào tạo Hà tĩnh: Phường Bắc Hồng – Thị Xã Hồng Lĩnh – Tỉnh Hà Tĩnh

- Trường được thành lập vào ngày 4/11/1965, ban đầu có tên là Trường Công nhân kỹ thuật Ba, đến năm 1988 Trường lấy tên là Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên và tên này được dùng cho tới nay Trường thuộc quản lý của Tổng công

ty Thép Việt Nam

- Ngày 22/7/2013: Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên chuyển về trực thuộc Bộ Công Thương

b, Cơ sở vật chất Trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên

Nhà trường có đầy đủ các phòng học lý thuyết, xưởng thực hành, hội trường, nhà ăn, ký túc xá, nhà đa năng Tất cả đều được bố trí một cách ngăn nắp khoa học và sạch sẽ

- Hệ thống điện : Gồm 03 trạm biến áp

+ TBA lò luyện 22/06 KV – 1000 KVA

+ TBA nhà trường 22/0,4 – 320 KVA

+ TBA phân xưởng cán 22/0,4 – 1000 KVA

- Các xưởng thực tập:

+ Xưởng cơ khí : Hàn, cắt gọt, rèn

+ Xưởng luyện thép: Lò luyện 0,6 tấn di chuyến bằng cầu trục

+ Xưởng động lực: Nguội, ôtô

Trang 22

+ Xưởng cán thép: Máy cán thép, 04 giàn cán

+ Xưởng điện: Điện dân dụng, tự động hoá, máy điện

c, Đội ngũ GV và các chuyên ngành đào tạo

Những năm đầu trường đào tạo công nhân bậc 1, bậc 2 Hiện nay trường đào tạo trên 20 ngành nghề, chủ yếu là đào tạo nghề với trên 60% SV, sinh viên làm nghề thật Toàn trường có trên 180 cán bộ nhân viên trong đó có 140 GV (90% trình độ đại học, 20% thạc sĩ )

Trường có 3 chương trình đào tạo chính là:

+ Cao đẳng nghề: Đào tạo 3 năm bao gồm các ngành

1 Cắt gọt kim loại 3 Công nghệ ôtô 5 Công nghệ cán

+ Trung cấp nghề: Đào tạo 1 năm, 2 năm gồm các ngành

1 Cắt gọt KL (tiện-tiện CNC) 8 Hàn 15 Luyện thép

2 Cắt gọt KL (phay-phay CNC) 9 Công nghệ ôtô 16 Luyện Fero

3 Nguội sửa chữa máy công cụ 10 Sửa chữa cơ điện 17 Tuyển khoáng

4 Công nghệ cán, kéo kim loại rèn 11 Tin học 18 Đúc kim loại

5 Vận hành lưới điện hạ thế 12 Điện công nghiệp 19 Điện dân dụng

6 Vận hành thiết bị nâng hạ 13 Rèn

7 Vận hành trạm oxy, trạm bơm 14 Luyện gang

+ Sơ cấp nghề: 1  12 tháng gồm tất cả các ngành nghề trên

1.4.2 Vị trí của nghề Tiện trong gia công cắt gọt kim loại

Để có một chi tiết với hình dáng, kích thước và chất lượng bề mặt theo yêu cầu thì phải thực hiện quá trình gia công cơ trên các máy công cụ để hớt đi một lượng kim loại nhất định Có rất nhiều phương pháp khác nhau để chế tạo các chi tiết máy, tuy nhiên những phương pháp gia công cắt gọt vẫn được sử dụng nhiều hơn cả Gia công bằng cắt gọt là quá trình hình thành các bề mặt bằng việc hớt đi các lớp kim loại nhất định Các phương pháp gia công cắt gọt đó là: Tiện, khoan, phay, bào, mài,… Một số sản phẩm đặc trưng được chế tạo sử dụng phương pháp cắt gọt kim loại như: Trục, bánh răng, puly,…

Trong các phương pháp gia công cắt gọt kim loại thì tiện được sử dụng rất nhiều để gia công các chi tiết đặc biệt là các chi tiết dạng tròn xoay từ đơn giản đến phức tạp Phương pháp gia công trên máy tiện được gọi là phương pháp tiện hay

Trang 23

nguyên công tiện Lựa chọn phương pháp này do, tiện là phương pháp đơn giản dựa trên hai chuyển động chính là chuyển động quay tròn của phôi và chuyển động tịnh tiến của dao Bằng phương pháp Tiện có thể gia công được mặt trụ, mặt côn, mép vát, mặt định hình, mặt phẳng, ren, góc lượn,…tùy vào tay nghề người thợ cũng như các dụng cụ, thiết bị phù hợp Tiện là nguyên công thông dụng nhất được thực hiện trong các phân xưởng cơ khí của các nhà máy, xí nghiệp

Bất kì người thợ tiện nào, từ thợ tiện tay nghề cao đến những người mới vào nghề đều phải rèn luyện cho mình những thao tác cơ bản nhất của nghề, những thao tác tiện cơ bản Tiện cơ bản bao gồm những kiến thức cơ sở (cấu tạo cũng như nguyên lý hoạt động của máy tiện, cách sử dụng, bảo dưỡng máy, công dụng của các loại dao, mâm cặp…), và các thao tác cơ bản, sơ khai nhất (thao tác điều chỉnh máy, gá phôi, gá dao, mài dao, tiện các chi tiết đơn giản như tiện mặt đầu, khoan tâm, tiện trụ trơn, tiện trục bậc,…) Các thao tác của tiện cơ bản phải được tập luyện đầu tiên trong nghề, được rèn luyện, sử dụng thường xuyên trong quá trình hành nghề

Trong cơ khí cắt gọt kim loại, tiện cơ bản là bước đầu tiên trong quá trình gia công sử dụng phương pháp tiện, các sản phẩm đều phải thực hiện qua bước này, các công việc trong tiện cơ bản như gá lắp phôi, dao, tiện mặt đầu, khoan lỗ tâm, tiện trụ trơn, … là những bước bắt buộc để tạo ra bất kì một sản phẩm cơ khí nào, vì thế nó ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng chi tiết gia công

1.4.3 Thực trạng dạy - học tích hợp Môđun “Tiện cơ bản” tại Trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên

Tiện cơ bản bao gồm các kiến thức cơ sở và các thao tác đầu tiên của một SV nghề tiện – thợ tiện tương lai Chính vì thế nó rất quan trọng trong gia công cơ khí cắt

gọt kim loại cũng như đối với SV Cao đẳng nghề nói chung và sinh viên Trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên nói riêng

Tiện là nguyên công thông dụng nhất được thực hiện trong các phân xưởng cơ khí của các nhà máy, xí nghiệp và thợ tiện có số lượng lớn nhất trong các nhóm thợ cơ khí cắt gọt Chính vì vậy việc đào tạo thợ tiện luôn luôn là một vấn đề cần được quan tâm đặc biệt Để đào tạo tốt nghề tiện phải có những điều kiện như cơ sở vật chất (nhà xưởng, máy móc, vật tư,…), đội ngũ giảng viên có trình độ cao, tài liệu giảng dạy và học tập đầy đủ, phương pháp giảng dạy và học tập tiên tiến,…

Trang 24

Đối với Trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên tiền thân là

Trường Công nhân Kỹ thuật 3, trường đào tạo công nhân bậc 1, bậc 2 Từ lâu, Trường

có nhiệm vụ đào tạo trình độ Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề, công nhân kỹ thuật lành nghề bậc 3/7, bậc 4/7 các nghề Cơ, Điện và Luyện kim, đồng thời đào tạo công nhân

kỹ thuật tay nghề chất lượng cao phục vụ nguồn lao động cho Tổng công ty Thép Việt Nam Với bề dày kinh nghiệm trong công tác đào tạo nghề, đội ngũ GV lâu năm với tay nghề thực hành tốt, nhà trường có nhiều lợi thế trong việc đào tạo nghề, đặc biệt là nghề tiện, chính vì vậy mà trường luôn coi trọng việc đổi mới phương pháp dạy và học

từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, GV,…phù hợp với điều kiện nhà trường và nâng cao chất lượng đào tạo nghề nói chung, nghề tiện nói riêng

Để phù hợp với nhu cầu thị trường lao động, từ năm 2011, Trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên đã thực hiện việc thay đổi toàn diện công tác

đào tạo, xác định quan điểm mới trong đào tạo nghề tiện, đó là tạo ra những thợ tiện có thể làm việc ngay sau khi ra trường mà thời gian đào tạo ngắn nhất Nhà trường đã chuyển sang dạy học tích hợp, hình thức đào tạo kết hợp giữa dạy và học lý thuyết kết hợp thực hành thay vì đào tạo riêng lý thuyết và thực hành tách rời như trước

Để thực hiện việc thay đổi quan điểm dạy học, từ dạy học truyền thống chuyển sang dạy học tích hợp kéo theo nhiều thay đổi trong công tác đào, chương trình đào tạo

- Về sơ sở vật chất: Các phòng học được kết cấu lại và được đặt ngay tại xưởng thực hành, các thiết bị dạy học vẫn được trang bị đầy đủ như phòng học lý thuyết, trang bị thêm nhiều máy móc và sắp xếp thành hàng hai bên lớp học lý thuyết thuận lợi cho việc dạy học tích hợp

- Về đội ngũ GV: Tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho các GV, nhằm bổ sung và nâng cao chất lượng, tập huấn và bổ sung kiến thức với các GV chỉ dạy thực hành và rèn luyện các thao tác cho các GV giảng dạy lý thuyết

- Về chương trình đào tạo: Cấu trúc lại chương trình theo hướng tiếp cận mục tiêu thay cho tiếp cận nội dung Sử dụng cấu trúc môđun thay cho cấu trúc môn bài, trong đó mỗi môđun là một NLTH mà người học cần đạt được

Đào tạo theo hướng tích hợp tại Trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên dần hoàn thiện, theo đúng quan điểm dạy học dựa trên công việc và tại

nơi làm việc theo chức năng của từng vị trí việc làm giúp hỗ trợ cho việc hình thành và phát triển các NLTH của người học

Trang 25

Tuy nhiên bài giảng tích hợp của trường còn một số vấn đề sau:

- Về nội dung: Lý thuyết được đưa vào giảng dạy không tràn lan nhưng chưa có

sự logic, rõ ràng, linh hoạt

- Về mục tiêu: Hình thành cho người học những kiến thức và kỹ năng thao tác

để hoàn thành một công việc là cả bài học với nhiều kiến thức và thao tác cộng gộp

- Về phương pháp kiểm tra đánh giá: Đánh giá thông qua sản phẩm sau khi kết

thúc bài, nghĩa là sau khi đã học xong lý thuyết và thực hành thành thạo

- Cách thức tổ chức bài dạy: Thực hiện theo trình tự được vạch sẵn: giới thiệu

bài, đưa ra mục tiêu bài học, giảng lý thuyết có liên quan (bao gồm yêu cầu kỹ thuật, các bước thực hiện, sai hỏng,…) cho toàn bài, sau đó GV làm mẫu, SV làm thử rồi thực hành những thao tác trong bài theo phiếu hướng dẫn thực hành đã chuẩn bị sẵn, luyện tập thường xuyên kéo dài, cuối cùng GV đánh giá thông qua sản phẩm của SV và rút ra kinh nghiệm, tốn thời gian ổn định lớp, gây phân tán tư tưởng khi học

- Về tài liệu học tập: Nội dung kiến thức và bài tập thực hành được biên soạn

chưa có sự hợp lý trong phân tích nội dung cần có, chưa tách được nội dung kiến thức cần thiết cho hoạt động thực hành Kiến thức lý thuyết và kiến thức bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động thực hành chưa được phân chia rõ

- Quy trình thiết kế bài giảng của GV Trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện

kim Thái Nguyên chưa chú ý đến bảng phân tích công việc cho từng bài dẫn đến bài

giảng chưa xác định được rõ ràng các kỹ năng, kiến thức, thái độ và những yếu tố cần thiết khác cho từng công việc một cách cụ thể, các hoạt động của GV và SV được thiết

kế không phù hợp, làm giảm hiệu quả bài giảng

Nhìn chung, Trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên thiết kế

bài giảng tích hợp theo cách kết hợp giữa lý thuyết và thực hành một cách đơn thuần, học hết phần lý thuyết rồi chuyển sang thực hành tại một thời gian và địa điểm theo thời gian đã chia lần lượt xuyên suốt cả bài lớn Do đó người học không thể hình thành NLTH bằng cách phát huy cả 3 yếu tố (kiến thức, kỹ năng, thái độ) mà 3 yếu tố này bị chia lẻ và lẫn trong kiến thức lý thuyết và thao tác thực hành Mặt khác, thời gian học hết lý thuyết mới sang thực hành làm SV không tập trung và quên kiến thức lý thuyết nên khó khăn cho thực hành, việc thiết kế bài giảng gặp khó khăn trong khâu phân chia thời gian cho lý thuyết, thực hành trong một môđun tại một địa điểm, thường phân chia cả bài học thành một bài giảng lý thuyết cộng thực hành rồi phân chia thời

Trang 26

gian cho suốt cả bài Nghĩa là, sự phân chia ở đây là dài, chưa rõ ràng và chưa hiệu quả.Với cách này, chỉ hiệu quả với các bài ngắn, thao tác rõ ràng, đơn giản, không phù hợp với các bài dài

- Về phương pháp kiểm tra, đánh giá: Khi đánh giá kết quả thường tập trung

vào kiến thức, kỹ năng mà không đánh giá được thường xuyên theo từng kỹ năng, kiến thức cũng như thái độ Bài kiểm tra cũng đánh giá dựa vào sản phẩm chứ không dựa vào các yếu tố NLTH của người học, do còn đặt nặng vấn đề điểm số vì vậy các bài kiểm tra có hình thức và cấu trúc tạo tạo cảm giác không thân thiện, hứng thú, biên soạn, thực hiện tốn nhiều thời gian

Kết luận chương 1

Nhìn chung, công tác đào tạo nghề Trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim

Thái Nguyên theo hướng tích hợp đã có những thay đổi phù hợp với nhu cầu thị trường

lao động, trình độ người học, điều kiện thực tiễn của trường, mà vẫn đảm bảo thời gian và nội dung theo chương trình khung đã quy định Song còn một số vấn đề cần lưu ý khi thiết kế bài giảng tích hợp cho môđun tiện cơ bản tại trường đó là:

- Phải quan tâm nhiều hơn nữa tới việc phát huy kiến thức, kỹ năng, thái độ người học trong từng kỹ năng của công việc giúp người học hình thành NLTH một cách toàn diện Khi thiết kế bài giảng tích hợp trước tiên cần xây dựng bảng phân tích công việc Do môđun “Tiện cơ bản” được giảng dạy là môđun nghề cơ bản, trước đó chưa có môđun nào chứa các thao tác tương tự nên việc dạy và học đều rất mới mẻ cần phải xác định rõ ràng, cụ thể các công việc phải làm

- Các kỹ năng trong bài giảng tích hợp phải được kết hợp linh hoạt không tách biệt lý thuyết, thực hành, nhưng lại phải có sự kết hợp với các bài giảng lý thuyết và thực hành cho phù hợp Vì vậy, cần thay đổi cách thiết kế bài giảng

- Việc đánh giá và xác định các NLTH phải theo quan điểm người học phải thực hành được các công việc giống như người công nhân trong thực tế Đánh giá phải dựa trên tiêu chuẩn nghề nên việc kiểm tra đánh giá cũng cần phải rất chính xác, nhanh gọn và hiệu quả Cần có bài kiểm tra đánh giá nhanh gọn, hiệu quả hơn

Trang 27

CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐIỀU KIỆN TIỀN ĐỀ CỦA MÔĐUN “TIỆN CƠ BẢN” ĐỀ THỰC

HIỆN GIẢNG DẠY TÍCH HỢP 2.1 Môđun “Tiện cơ bản” trong đào tạo nghề Cắt gọt kim loại tại Trường Cao đẳng nghề Cơ điện – Luyện kim Thái Nguyên

2.1.1 Vị trí Môđun “Tiện cơ bản”

Tên nghề: Cắt gọt kim loại

Mã nghề:

Trình độ đào tạo: Cao đẳng nghề

Đối tượng tuyển sinh: Tốt nghiệp Trung học phổ thông hoặc tương đương;

Số lượng môn học, mô đun đào tạo: 45

Bằng cấp sau khi tốt nghiệp: Bằng tốt nghiệp Cao đẳng nghề

Môđun 16: Tiện cơ bản là môđun chuyên môn nghề bắt buộc trong đào tạo nghề cắt gọt kim loại tại trường Môđun được bố trí giảng dạy sau môđun 15: Gia công nguội cơ bản và trước môđun 17: Tiện trục dài không dùng giá đỡ

toàn và bảo

hộ lao động

MĐ 14

Nhập nghề

cắt gọt kim loại

MĐ 15

Gia công

nguội cơ bản

MĐ 16 Tiện cơ bản MĐ 17: Tiện trục dài không dùng giá

đỡ

………

MĐ 32: Gia công

trên máy mài tròn

Hình 4: Sơ đồ vị trí Mô đun " Tiện cơ bản"

Trang 28

Môđun này sẽ cung cấp những kiến thức, kỹ năng cơ bản nhất của nghề tiện,

SV sẽ tiếp cận với các loại máy tiện, máy mài, dao cắt, đồ gá thông dụng có ở xưởng trường, các phương pháp gia công cơ bản, vận hành, bảo dưỡng máy tiện vạn năng, mài dao cắt trên máy mài hai đá, gia công được các bề mặt trụ trơn, trục bậc, mặt đầu, cắt rãnh, cắt đứt đạt mức cơ bản và thành thạo đảm bảo yêu cầu bản vẽ và an toàn lao động Đây là các bước đầu tiên cần thực hiện khi SV bước vào nghề

2.1.2 Cấu tạo Môđun 16: Tiện cơ bản

Mô đun 16: Tiện cơ bản gồm 11 bài:

Bảng 2: Cấu tạo Môđun 16

MĐ 16: Tiện cơ bản

Bài 1: Vận hành và bảo dưỡng máy tiện vạn năng

Bài 2: Sử dụng các loại đồ gá thông dụng

Bài 3: Đặc điểm của quá trình cắt khi tiện

Bài 4: Dao tiện

Bài 5: Phân loại dao tiện

Bài 6: Mài dao tiện

Bài 7: Khái niệm về chế độ cắt khi tiện

Bài 8: Tiện trụ trơn ngắn gá trên mâm cặp ba chấu tự định tâm Bài 9: Tiện mặt đầu và khoan lỗ tâm

Bài 10: Tiện trụ bậc ngắn gá trên mâm cặp

Bài 11: Tiện rãnh và cắt đứt

Xác định các công việc trong môđun

Với môđun này ta phải thực hiện các công việc sau:

- Tìm hiểu các khái niệm cơ bản về gia công tiện, cách vận hành, chăm sóc bảo dưỡng và các biện pháp an toàn khi sử dụng máy tiện

- Sử dụng các loại đồ gá thông dụng

- Tìm hiểu về đặc điểm của quá trình cắt khi tiện

- Tìm hiểu các loại dao tiện, phân loại dao và cách mài dao

- Nghiên cứu chế độ cắt khi tiện, thực hiện lựa chọn chế độ cắt hợp lý

- Thực hiện tiện trụ trơn ngắn gá trên mâm cặp ba chấu tự định tâm

- Thực hiện tiện mặt đầu, khoan lỗ tâm

- Thực hiện tiện trụ bậc ngắn gá trên mâm cặp

- Thực hiện tiện rãnh và cắt đứt

Trang 29

2.1.3 Mục tiêu của Môđun 16: Tiện cơ bản

Mục tiêu của Môđun 16: Tiện cơ bản

Sau khi học xong người học có khả năng:

1 Kiến thức

- Trình bày đầy đủ các đặc điểm, công dụng, cấu tạo các bộ phận chính của máy tiện và quy trình chăm sóc, vận hành máy

- Chỉ ra được các phương pháp kiểm tra đánh giá chất lượng sản phẩm

- Trình bày đầy đủ các dạng sai hỏng thường gặp, nguyên nhân và biện pháp khắc phục

- Được đánh giá qua các bài viết, câu hỏi miệng, trắc nghiệm đạt yêu cầu

2 Kỹ năng

- Sử dụng thành thạo máy tiện

- Lập được quy trình gia công hợp lý cho từng bước công nghệ tiện

- Nhận dạng, lựa chọn, sử dụng đúng các loại dụng cụ đo, cắt và đồ gá cho từng công việc cụ thể

- Tiện được các chi tiết trụ trơn ngắn, trụ bậc, mặt đầu và khoan tâm, cắt rãnh, cắt đứt đúng quy trình, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn

- Được đánh giá bằng phương pháp quan sát với bảng điểm, thang điểm đạt yêu cầu

3 Thái độ

- Cẩn thận, nghiêm túc khi vận hành máy thực hiện các thao tác

- Biểu lộ tinh thần, trách nhiệm và hợp tác trong quá trình làm việc

2.1.4 Thời gian thực hiện của Môđun 16: Tiện cơ bản

+ Đơn vị thời gian trong kế hoạch đào tạo được tính bằng tuần và giờ học

+ Thời gian học tập trong kế hoạch đào tạo được quy đổi như sau:

* Một giờ học = 45 phút

* Một ngày học thực hành, thực tập hoặc học theo môđun không quá 8 giờ học

* Một ngày học lý thuyết không quá 6 giờ học

* Giờ học tích hợp được thực hiện theo thời gian phân chia phù hợp

+ Mỗi tuần không học quá 40 giờ thực hành hoặc 30 giờ lý thuyết

Ta có bảng phân bổ thời gian theo chương trình khung của Môđun như sau:

Trang 30

Bảng 3: Thời gian đào tạo Môđun 16 theo Chương trình khung

Kiểm tra

1 Bài 1: Vận hành và bảo dưỡng máy tiện vạn năng 21 4 16 1

2 Bài 2: Sử dụng các loại đồ gá thông dụng 12 3 8 1

3 Bài 3: Đặc điểm của quá trình cắt khi tiện 5 3 1 1

7 Bài 7: Khái niệm về chế độ cắt khi tiện 5 2 2 1

8 Bài 8: Tiện trụ trơn ngắn gá trên mâm cặp ba

9 Bài 9: Tiện mặt đầu và khoan lỗ tâm 20 2 16 2

10 Bài 10: Tiện trụ bậc ngắn gá trên mâm cặp 18 2 14 2

- Tại vị trí lắp đặt máy tiện phải được sắp xếp hợp lý về khoảng cách giữa các máy, lối đi hợp lý cho việc vận chuyển phôi liệu, sản phẩm và làm vệ sinh công nghiệp

- Sàn nhà, lối đi lại phải sạch sẽ, không trơn, không để dầu mỡ dính trên sàn nhà Hàng ngày phải quét dọn, hàng tuần phải tổng vệ sinh

- Tại vị trí làm việc xung quanh máy tiện phải trang bị các tủ đựng dụng cụ đồ nghề, dụng cụ đo kiểm, các loại chìa vặn,

Trang 31

- Các dụng cụ đo kiểm được đặt trên tấm lót bằng nỉ đặt trên tủ bên trái người thợ hoặc trên nắp hộp trục chính Các loại dao tiện, căn đệm, tốc kẹp, chìa khóa mâm cặp, được đặt trên băng máy sau ụ động, không được đặt trên băng máy, bàn chạy dao ngang, dao dọc

b, Những biện pháp an toàn khi làm việc trên máy tiện

- Người làm việc trên máy tiện phải đội mũ, mặc quần áo bảo hộ lao động gọn gàng, tay áo phải cài cúc hoặc gấp lên cao

- Phải kiểm tra các dụng cụ cắt gọt, các chi tiết gia công, phôi liệu, bản vẽ kỹ thuật, dụng cụ gá lắp xem đã đầy đủ chưa và có đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật không

- Kiểm tra hiện trạng bên ngoài của máy các bộ phận che chắn, các vị trí công tắc, tay gạt có ở vị trí an toàn không Đồng thời cho máy chạy ở chế độ không tải để kiểm tra các cơ cấu điều khiển, hệ thống làm nguội, bôi trơn

- Nếu máy tiện bị hỏng, không được tự ý sửa chữa, điều chỉnh Khi lắp các chi tiết lớn có khối lượng nặng phải có thiết bị hỗ trợ

- Nhất thiết phải đeo kính bảo hộ để bảo vệ mắt khỏi phoi tiện bắn vào, không

đi găng tay vải để làm việc Không dùng các miếng căn đệm để chêm vào miệng các chìa vặn, đặc biệt nghiêm cấm trường hợp kẹp chặt phôi xong, để lại chìa vặn trên mâm cặp sẽ dẫn tới tai nạn lao động khi máy chạy

- Khi kẹp chặt phôi xong phải chú ý đến chiều dài nhô ra khỏi mâm cặp của các chấu kẹp (không vượt quá 1/3 chiều dài của chấu) nếu không phải thay chấu kẹp khác hoặc đổi chiều chấu kẹp

- Khi thực hiện cắt gọt phải cho chi tiết quay tròn rồi mới điều chỉnh dao tiếp xúc với chi tiết Trước khi dừng máy, ngắt chạy dao tự động, điều chỉnh dao di chuyển khỏi bề mặt đang gia công mới được ngắt chuyển động quay tròn của trục chính

- Khi cắt đứt các chi tiết dài, đường kính lớn không được cắt với tốc độ cao Khi cắt sắp đứt cần tiến dao ăn vào chi tiết từ từ để tránh phần chi tiết bị cắt văng ra gây nguy hiểm và làm gãy dao

- Khi máy đang làm việc không được tự ý rời bỏ vị trí làm việc hay chống tay, đứng tì lên máy Phải dừng máy và ngắt động cơ điện trước khi rời khỏi vị trí làm việc Khi máy bị mất điện đột ngột (mất điện nguồn) phải nhanh chóng đưa các tay gạt, công tắc đến vị trí an toàn, đưa dao ra khỏi vị trí cắt gọt của chi tiết gia công để đề phòng sự cố xảy ra khi có điện

Trang 32

- Khi gia công các kích thước lỗ phải chú ý đến kích thước chiều cao, chiều dài của dao để đảm bảo không ảnh hưởng đến chi tiết gia công

- Khi dừng máy không được dùng tay hãm hoặc dùng các vật khác tác dụng vào mâm cặp hoặc chi tiết gia công

- Khi kết thúc công việc dừng máy phải điều chỉnh các cần gạt về vị trí an toàn, ngắt điện khỏi máy

- Vệ sinh sạch sẽ phoi tiện, dung dịch làm mát còn đọng lại ở trên máy bằng giẻ và chổi quét Lau sạch các dụng cụ đo, dụng cụ cắt và cất gọn vào tủ dụng cụ hoặc các

vị trí đã quy định Quét sạch sàn nhà xung quanh vị trí máy tiện

- Sắp xếp gọn gàng các chi tiết đã gia công, phôi liệu vào các vị trí quy định Dùng dầu bôi trơn bôi lên các bề mặt trượt làm việc ở trên bàn xe dao và băng máy

c, Dụng cụ đo kiểm trong gia công tiện

Trong quá trình gia công tiện, để đảm bảo kích thước chi tiết gia công theo đúng bản vẽ kỹ thuật người thợ tiện phải tiến hành kiểm tra các kích thước gia công Muốn thực hiện công việc này phải sử dụng các dụng cụ đo kiểm Thông thường, người ta sử dụng 2 loại dụng cụ đo là:

- Các dụng cụ đo calip và căn mẫu

- Các dụng cụ đo có khắc vạch và máy đo Căn mẫu là loại mẫu chuẩn về kích thước chiều dài, có độ chính xác cao dùng

để kiểm tra hoặc để truyền kích thước từ độ dài chuẩn tới chi tiết cần kiểm tra Căn mẫu thường được dùng để kiểm tra các chi tiết, điều chỉnh dụng cụ đo, điều chỉnh máy, điều chỉnh các cữ chặn để gia công các chi tiết có độ chính xác cao Thường được chế tạo thành các khối thép hình chữ nhật có các mặt phẳng song song với nhau và được mài rà chính xác

Vật liệu chế tạo là thép hợp kim chịu mài mòn Độ chính xác của căn mẫu phụ thuộc vào kích thước danh nghĩa và độ sai lệch cho phép của căn Mặt đo của căn mẫu

có thể lắp khít vào nhau sau khi đã lau sạch lớp dầu bảo vệ trên bề mặt căn mẫu

Trang 33

Hình 5: Căn mẫu

Tiết diện của căn mẫu là 9 × 30mm với các miếng căn có kích thước đo dưới 10mm Tiết diện của căn mẫu là 9 × 35mm với các miếng căn có kích thước đo trên 10mm

Căn mẫu được chế tạo thành từng bộ, mỗi bộ có 32 miếng, 45 miếng, 82 miếng,

92 miếng và được bảo quản trong các hộp gỗ

Trong gia công hàng loạt, người ta không cần đo trực tiếp để xác định kích thước thực của chi tiết gia công mà chỉ cần kiểm tra xác định xem kích thước của chi tiết gia công có trong dung sai cho phép hay không, khi đó người thợ có thể dùng calip

để kiểm tra Thông thường để kiểm tra kích thước trong gia công tiện, người ta thường dùng các loại calip: Calip kiểm tra mặt trụ, calip kiểm tra mặt côn, calip kiểm tra ren

Calip kiểm tra mặt côn gồm: calip bạc côn (Hình 6a) để kiểm tra các mặt côn ngoài, calip nút côn (Hình 6b) dùng để kiểm tra lỗ côn Trên các calip này ở các mặt mút đầu có chia thành các bậc hoặc khắc vạch trên bề mặt côn để xác định kích thước độ côn

Hình 6: Calip kiểm tra mặt côn Hình 7: Calip kiểm tra mặt trụ

Ngoài ra, khi gia công trên máy tiện, để đo các kích thước gia công, ta thường

sử dụng các loại dụng cụ đo khắc vạch như thước lá, thước cặp, panme, đồng hồ so, Thước lá dùng để đo những kích thước không cần chính xác hoặc chính xác không cao Thước lá có phạm vi đo tới 500mm

Trang 34

Với các chi tiết yêu cầu độ chính xác cao hơn thường sử dụng thước cặp Thước cặp dùng để đo chiều dài, chiều rộng, chiều cao, đường kính chiều rộng rãnh của các bề mặt ngoài, bề mặt trong Ngoài ra thước cặp còn có thanh thẳng để đo chiều sâu

Có những loại thước cặp có gắn đồng hồ để đọc phần lẻ

Hình 8: Cấu tạo thước cặp loại 1/10

Để đo các kích thước có yêu cầu độ chính xác cao hơn nữa ta thường dùng panme, panme là loại dụng cụ đo có cấp chính xác cao đo được các kích thước chính xác từ 0,01 – 0,001mm Căn cứ theo công dụng của panme thường có các loại sau: panme đo ngoài, panme đo trong, panme đo chiều sâu, panme đo ren,

Hình 8: Cấu tạo panme đo ngoài

1 Thân thước có lắp chặt đầu đo cố định 7 Núm vặn giới hạn áp lực

Trang 35

Hình 10: Cách chia du xích trên panme

Khi đọc giá trị đo căn cứ vào mép ống động(6) trên ống cố định(4) để đọc giá trị phần nguyên, căn cứ vào số thứ tự của vạch trên ống côn động trùng với đường chuẩn trên ống cố định (bằng cách lấy số thứ tự nhân với giá trị của thước) ta có giá trị phần lẻ Giá trị đo được là tổng kích thước của phần nguyên với phần lẻ

d, Máy tiện

Máy tiện là loại máy cắt kim loại để gia công các chi tiết dạng trụ tròn xoay Thông thường, chi tiết được kẹp chặt trên mâm cặp và quay tròn, dao cắt chuyển động tịnh tiến cắt gọt chi tiết gia công Đối với một số máy chuyên dùng đặc biệt thì chi tiết đứng yên còn dao cắt quay tròn (máy tiện cụt)

Máy tiện dùng để gia công các chi tiết dạng trục, côn, các mặt định hình, cắt ren, cắt rãnh, cắt đứt, Ngoài ra, máy tiện còn có thể thực hiện các nguyên lý khác như: khoan, khoét, doa, mài, cắt ren bằng bàn ren, …

Phân loại máy tiện như sau:

- Dựa vào công dụng có: Máy tiện vạn năng và máy tiện chuyên dùng

- Dựa vào cấu tạo có: Máy tiện thông thường, máy tiện cụt, máy tiện đứng

- Dựa vào mức độ tự động có: Máy tiện bán tự động và máy tiện tự động

Máy tiện ren vít vạn năng hay được sử dụng trong các nhà máy, xí nghiệp và xưởng trường Là loại máy tiện thông dụng nhất hiện nay ở nước ta Máy có thể gia công được nhiều loại chi tiết như: tròn xoay, các bề mặt định hình, cắt ren, khoan, khoét,… Nước ta hiện nay đã sản xuất được các loại như: T613, T616, T630, T6M16, T6M12,…có độ chính xác cao

Máy tiện là loại máy cắt gọt kim loại được sử dụng rộng rãi để gia công các vật thể tròn xoay, các vật thể định hình Máy tiện được cấu tạo gồm các bộ phận sau:

Trang 36

Hình 11: Cấu tạo máy tiện vạn năng

1,3 Tay quay để thay đổi tốc độ chạy dao 20 Tay khóa ụ động

2 Tay quay để xác định vị trí chạy dao, cắt

ren các loại

22 Tay quay kẹp ụ động với sống trượt

4,8 Tay gạt để thay đổi tốc độ trục chính 23 Vô lăng di chuyển nòng ụ động

6 Tay gạt để cắt ren khuếch đại và bình

chính

17 Tay gạt li hợp điều chỉnh hướng chạy dao 35 Núm điều khiển để tiện trơn và cắt ren

Tuy có cấu tạo khác nhau nhưng chúng đều có nguyên lý giống nhau, được cấu tạo gồm 4 phần chính (Thân máy, Ụ trước, Bàn dao, Ụ động)

Trang 37

- Thân máy: Là bộ phận quan trọng của máy tiện, thân máy được đúc bằng gang

để đỡ ụ trước, ụ sau và bàn xe dao Mặt trên của thân máy là 2 băng trượt phẳng và hai băng trượt hình tam giác dùng để dẫn hướng cho bàn xe dao và ụ sau trượt trên nó Thân máy được đặt trên hai bệ máy, các đường trượt của băng máy được gia công rất chính xác để bàn xe dao và ụ sau di chuyển không bị xê dịch ngang, phía dưới có khay

để đựng phoi và hứng nước

- Ụ trước: Còn gọi là đầu máy, dùng để gá vật gia công, truyền chuyển động

quay cho vật gia công và chuyển động tịnh tiến cho bàn xe dao, bên trong có lắp các bộ phận làm việc chủ yếu của máy như trục chính và hộp tốc độ

Trục chính là một trục rỗng, đầu bên phải lắp đồ gá kẹp phôi, trục chính nhận truyền động từ động cơ chính thông qua đai truyền, hệ thống bánh răng, khớp nối ly hợp,…Nhờ đó mà thay đổi được tốc độ vòng quay trục chính Vì vậy ta gọi ụ trước là hộp tốc độ quay trục chính, căn cứ vào trị số tốc độ quay của trục chính đã cho ta điều chỉnh các cần gạt về vị trí theo bảng chỉ dẫn được gắn trên mỗi máy

- Bàn xe dao (bàn trượt dao): Là bộ phận lắp và di trượt trên băng trượt của

máy Bàn xe dao thực hiện chuyển động chạy dao dọc và chạy dao ngang, nó bao gồm; bàn trượt dọc, bàn trượt ngang, bàn trượt dọc trên (trượt dọc phụ), ổ gá dao Một số máy có cơ cấu di chuyển bàn trượt dao tự động nhanh được bố trí bằng một động cơ riêng khi hoạt động

Bàn trượt dọc: Di trượt trên sống trượt dẫn hướng của băng máy theo chiều dọc, thực hiện chạy dao dọc tự động nhờ hộp xe dao, hoặc chạy dao dọc bằng tay khi quay tay quay thông qua bộ truyền thanh răng – bánh răng

Bàn trượt ngang: Di trượt trên sống trượt đuôi én của bàn trượt dọc theo phương ngang, thực hiện chạy dao ngang tự động nhờ hộp xe dao hoặc chạy dao ngang bằng tay khi quay tay thông qua cơ cấu vít me – đai ốc ngang

Bàn trượt dọc trên: Có thể quay xung quanh trục của nó khi nới lỏng hai đai ốc

ở 2 bên bàn quay đồng thời có thể tịnh tiến trượt dọc trên sống trượt đuôi én của bàn quay tròn

Ổ gá dao: Ổ gá dao được gá trên bàn trượt dọc trên và có thể quay xung quanh trục của ổ dao để định vị, kẹp chặt dao tiện trong quá trình cắt gọt

Ổ dao thường dùng trên máy tiện là ổ dao vuông, có thể lắp được 4 dao tiện trên

4 cạnh của ổ dao Nếu cần thay đổi dao chỉ cần thay đổi vị trí góc cạnh của ổ dao tới vị

Trang 38

trí cần thiết Khi gá lắp dao phải chú ý đến điều chỉnh độ cao của lưỡi cắt ngang với tâm máy (tâm trục chính)

Hình 12: Bàn xe dao máy tiện

1 Bàn trượt dọc trên 4 Vít bắt giá dao 7 Đế bàn trượt dọc

3 Khe bắt dao 6 Vít bắt dao

- Ụ động: Ụ động của máy tiện được đặt trên băng trượt dẫn hướng của băng

máy và di trượt dọc theo băng máy Ụ động dùng để lắp các mũi chống tâm (cố định và xoay) để đỡ các chi tiết gia công kém cứng vững, đồng thời còn để gá các loại mũi khoan, khoét, mũi doa, các đồ gá để gia công ren…

Để kẹp chặt ụ động xuống băng máy ở vị trí gia công thông qua tay gạt cần xoay chốt lệch tâm hoặc dùng bulong – đai ốc

e, Các phụ tùng gá lắp thường dùng trong máy tiện

- Mâm cặp: Mâm cặp dùng để kẹp chặt và định vị các chi tiết gia công, lắp trên đầu trục chính thông qua bề mặt côn định vị và ren trên đầu trục chính Mâm cặp máy tiện thường có 2 loại chính là mâm cặp không tự định tâm và mâm cặp tự định tâm

Mâm cặp không tự định tâm có các chấu dịch chuyển hướng tâm độc lập với nhau trong các vành của mâm cặp Ở vị trí mỗi chấu có nửa đai ốc ăn khớp với vít me, một đầu của vít me có lỗ vuông để cắm chìa vặn Khi vặn vít me thì chấu cặp tương ứng sẽ dịch chuyển hướng tâm Mâm cặp không tự định tâm dùng để kẹp chặt các chi tiết gia công có hình dạng không đối xứng hoặc để kẹp chặt các chi tiết lệch tâm Ngoài ra, trên mặt đầu của mâm phẳng phần có nhiều rãnh hướng tâm để lắp các bu lông kẹp chặt đồ gá trên mâm phẳng để gia công những chi tiết có hình dạng phức tạp

Mâm cặp tự định tâm là mâm cặp dùng để kẹp chặt các chi tiết gia công dạng tròn xoay Khi kẹp chặt chi tiết gia công có tâm trùng với tâm của trục chính

Trang 39

Hình 13: Mâm cặp tự định tâm 3 chấu

Mâm cặp tự định tâm có các loại 2 chấu, 3 chấu, 4 chấu, 6 chấu Mâm cặp 3 chấu được sử dụng nhiều nhất, nó cấu tạo gồm: bánh răng côn nhỏ, bánh răng côn lớn, đĩa răng và chấu cặp Khi đĩa răng quay, các chấu sẽ đồng thời trượt dọc trong rãnh của mâm phẳng đi ra xa hoặc đi vào gần tâm mâm cặp để kẹp chặt hoặc tháo lỏng chi tiết gia công

Mâm cặp tự định tâm có hai bộ chấu: bộ chấu thuận và bộ chấu ngược Chấu thuận để định vị và kẹp chặt chi tiết gia công có đường kính không quá lớn, chấu ngược để kẹp chặt các chi tiết gia công có đường kính lớn, các mặt bậc của chấu là mặt chặn chắc chắn cho chi tiết gia công

- Mũi tâm: Mũi tâm dùng để gá đặt các chi tiết kém cứng vững hoặc các chi tiết trục dài có khoan tâm ở hai đầu, hoặc các chi tiết đòi hỏi độ chính xác cao về gá đặt cũng như đồng tâm giữa các bề mặt Mũi tâm cố định được sử dụng khi gia công với tốc độ cắt gọt thấp Mũi tâm xoay dùng để gia công với tốc độ cắt gọt lớn Mũi tâm ngược là loại mũi tâm không tiêu chuẩn, dùng để gá đặt các chi tiết gia công có kích thước nhỏ, có đầu tâm ngoài và cắt gọt với lượng dư nhỏ

- Bầu cặp: Là loại dụng cụ để gá sử dụng trong quá trình gia công lỗ trên máy tiện Bầu cặp được gá trên nòng ụ động (nhờ chuôi côn) để gá kẹp các loại mũi khoan, khoét, doa…

- Tốc kẹp: Tốc kẹp là một dụng cụ đỡ gá chuyên dùng để truyền mômen quay cho chi tiết gia công được gá trên 2 mũi tâm thông qua mâm đẩy tốc hay đuôi tốc Thông thường có hai loại tốc kẹp: tốc kẹp đuôi thẳng và tốc kẹp đuôi cong Tốc kẹp được kẹp vào chi tiết thông qua vít kẹp Nếu là tốc kẹp đuôi thẳng thì trên mâm cặp sẽ

có ngón đẩy tốc để truyền mô men quay Nếu là tốc kẹp đuôi cong thì phần đuôi cong

sẽ tì vào rãnh vấu cặp hoặc vấu cặp trên mâm cặp để truyền mômen quay

Trang 40

2.2.2 Các điều kiện thực hiện giảng dạy Môđun 16: Tiện cơ bản

a, Các kiến thức có liên quan cần thiết cho việc thực hiện giảng dạy môđun

Việc nghiên cứu và thiết kế được bài giảng tích hợp cho môđun tiện cơ bản cần rất nhiều kiến thức liên quan như:

- Các kiến thức thực tế đời sống: Bao gồm các kiến thức có được nhờ học tập,

tham khảo tài liệu, quá trình giảng dạy, thực hành như: cách mài dao, cách tạo ra các chi tiết ngoài thực tế có hình dạng trụ trơn, trục bậc, Vì thế, khi thiết kế bài giảng tích hợp GV cần huy động các kiến thức thực tế, thể hiện ở cách lựa chọn phương pháp giảng dạy, lựa chọn nội dung kiến thức phù hợp tư duy thực tế trong đời sống người học, giúp người học dễ dàng hình thành các kiến thức và thao tác

- Các kiến thức về cơ khí, đặc biệt là tiện, từ các kiến thức cơ bản của các môn

dung sai, vẽ kỹ thuật, vật liệu … đến các môn cơ sở như máy, dụng cụ cắt, chế tạo máy, chế tạo phôi, … hay những môn của ngành cắt gọt kim loại, kiến thức về các loại dao, đồ gá, phôi, cấu tạo và cách vận hành các loại máy tiện hay được sử dụng trong các trường nghề như 1K62, T616, T18A,…

- Các kiến thức về dạy học tích hợp: Bài giảng tích hợp không chỉ là sự kết

hợp lý thuyết thực hành, mà còn là sự kết hợp giữa các phương pháp dạy học giúp người học dễ dàng tiếp thu kiến thức, vì thế GV cần có hiểu biết rõ về các phương pháp thiết kế và xây dựng bài giảng tích hợp, điều kiện thực hiện cũng như cách thức

tổ chức sao cho hiệu quả nhất

- Bài dạy theo quan điểm tích hợp phải là một giờ học hoạt động phức hợp bao gồm nhiều yếu tố Bài dạy tích hợp liên quan tới các thành phần sau:

- Chương trình đào tạo nghề

- Giáo án tích hợp

- Đề kiểm tra

- Đề cương bài giảng theo giáo án

- Các mô phỏng, bản vẽ, biểu mẫu sử dụng trong bài giảng

- Phiếu hướng dẫn luyện tập, phiếu phân công luyện tập,(bài dạy thực hành) Trong đó, giáo án tích hợp là thành phần quan trọng nhất Vì vậy để tổ chức dạy học tích hợp thành công đó là GV phải biên soạn được giáo án tích hợp

- Các kiến thức về đánh giá trong giáo dục: GV cần phải biết SV cần đạt được

mức độ nào, đang ở mức nào để có cách hướng dẫn, tác động phù hợp

Ngày đăng: 18/07/2017, 20:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Văn Địch, Kỹ thuật tiện, NXB Khoa học và kỹ thuật, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật tiện
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
2. Trần Khánh Đức, Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
3. Trần Khánh Đức, Sư phạm Kỹ thuật, NXB Giáo dục, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sư phạm Kỹ thuật
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Trần Khánh Đức, Bài giảng Lý luận và phương pháp dạy học hiện đại, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Lý luận và phương pháp dạy học hiện đại
6. Bùi Hiền, Từ điển giáo dục học, NXB Từ điển bách khoa, năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giáo dục học
Nhà XB: NXB Từ điển bách khoa
7. Trần Minh Hùng, Giáo trình thực hành cơ bản nghề tiện (Dùng cho các trường đào tạo chuyên nghiệp và dạy nghề), NXB Lao động – Xã hội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thực hành cơ bản nghề tiện (Dùng cho các trường đào tạo chuyên nghiệp và dạy nghề)
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
8. Nguyễn Xuân Lạc, Bài giảng Lý luận và công nghệ dạy học hiện đại, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Lý luận và công nghệ dạy học hiện đại
9. Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà nẵng, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Đà nẵng
10. Nguyễn Quang, Minh Trí, Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Hồng Đức
11. Nguyễn Thị Quỳnh, Phạm Minh Đạo, Trần Sỹ Tuấn, Giáo trình tiện 1, NXB Lao Động, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tiện 1
Nhà XB: NXB Lao Động
12. Mạc Văn Trang, Giáo trình Tâm lý học Sư phạm kỹ thuật, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học Sư phạm kỹ thuật

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w