Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 xác định rõ mục tiêu chiến lược của giáo dục Việt Nam là tập trung nâng cao chất lượng toàn diện, phát triển nhanh nguồn nhân lực, nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
LÊ VĂN HÙNG
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ MÔN LẮP ĐẶT VÀ BẢO TRÌ MÁY TÍNH TẠI TRƯỜNG CAO
ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Thầy giáo GS.TS- Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Xuân Lạc, người đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy, các Cô giáo khoa Sư phạm kỹ thuật- trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Gửi lời cảm ơn đến các cán bộ Viện đào tạo sau đại học - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tham gia quản lý, giảng dạy và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường CĐ Nghề CN Hà Nội, các đồng nghiệp và các em học sinh khoa Công nghệ thông tin trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệp sư phạm tại trường
Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè và những người thân trong gia đình đã quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 03 tháng 10 năm 2011
Tác giả
Lê Văn Hùng
1
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung luận văn và sản phẩm của luận văn mà tôi viết ra
là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn đầy đủ
Luận văn này cho đến nay vẫn chưa hề được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo vệ luận văn thạc sĩ nào trên toàn quốc cũng như nước ngoài và cho đến nay chưa hề được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về pháp lý những gì mà tôi đã cam đoan trên đây
Hà Nội, ngày 03 tháng 10 năm 2011
Tác giả
Lê Văn Hùng
2
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 7
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 8
LỜI MỞ ĐẦU 10
1 Lý do chọn đề tài 10
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13
2.1 Mục đích nghiên cứu 13
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 13
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
4 Giả thiết khoa học 14
5 Phương pháp nghiên cứu 14
5.1 Phương pháp luận 14
5.2 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết 14
5.3 Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 14
5.4 Các phương pháp xử lý thông tin 15
6 Đóng góp mới của đề tài 15
6.1 Về lý luận 15
6.2 Về thực tiễn 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC TƯƠNG TÁC 16
1.1 Lịch sử nghiên cứu 16
1.2 Tương tác 17
1.3 Dạy học tương tác 18
1.4 Lý luận dạy học tương tác 18
1.4.1 Bộ ba tác nhân 19
1.4.2 Bộ ba thao tác 21
1.4.3 Định hướng tương tác 25
1.4.4 Bộ ba tương tác 28
3
Trang 51.4.5 Các liên đới của phương pháp dạy học tương tác 34
1.5 Công nghệ dạy học tương tác 36
1.5.1 Công nghệ dạy học tương tác 36
1.5.2 Tương tác người máy 37
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY MÔN LẮP ĐẶT & BẢO TRÌ MÁY TÍNH TẠI KHOA CNTT - TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 43
2.1 Giới thiệu về trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà nội 43
2.2 Thực trạng cơ sở vật chất và đội ngũ GV của khoa CNTT 44
2.2 Thực trạng dạy học môn Lắp ráp & bảo trì máy tính 46
2.2.1 Chương trình môn học 46
2.2.2 Mục tiêu của môn học 46
2.2.3 Đặc điểm của môn học Lắp đặt & bảo trì máy tính 47
2.2.4 Thực trạng dạy học môn Lắp đặt & bảo trì máy tính tại khoa CNTT trường CĐN Công nghiệp Hà Nội .48
2.3 Khảo sát thực trạng áp dụng các phương pháp giảng dạy ở khoa CNTT 49
CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG DẠY HỌC TƯƠNG TÁC VÀO MÔN LẮP ĐẶT & BẢO TRÌ MÁY TÍNH TẠI TRƯỜNG CĐN CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 51
3.1 Xây dựng quy trình tổ chức dạy học tương tác 51
3.2 Xây dựng bài giảng môn học “Lắp đặt & bảo trì máy tính” theo CNDHTT.57 3.2.1 Yêu cầu bài giảng 57
3.2.2 Lựa chọn phần mềm để xây dựng bài giảng 58
3.2.3 Quy trình xây dựng bài giảng 68
3.3 Sản phẩm 70
3.3.1 Phần nội dung lý thuyết 70
3.3.2 Phần thực hành 70
3.3.3 Phần ôn tập, kiểm tra 71
4.1 Mục đích của việc thực nghiệm 74
4.2 Đối tượng và thời gian tiến hành thực nghiệm 74
4
Trang 64.3 Cách thức tiến hành thực nghiệm 75
4.4 Các bài thực nghiệm 75
4.5 Kết quả thực nghiệm 75
a Kết quả điều tra của GV 75
b Kết quả điều tra của SV 80
c Kết quả các bài kiểm tra của quá trình thực nghiệm 81
4.6 Xử lý kết quả thực nghiệm 81
4.7 Phân tích kết quả thực nghiệm 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
1.Kết luận 88
1.1. Về nghiên cứu lý luận 88
1.2. Về thực tiễn 88
2 Kiến nghị 89
3 Hướng phát triển của đề tài .90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
5
Trang 7LLDHTT Lý luận dạy học tương tác
LĐTB & XH Lao động thương binh và Xã hội NDLTT Người dạy là trung tâm
NHLTT Người học là trung tâm
Trang 820 Bảng 4- 16: Bảng kết quả 3 bài kiểm tra
21 Bảng 4- 17: Bảng phân phối tần số, tần suất của các bài kiểm tra
22 Bảng 4- 18: Bảng tổng hợp phân loại học sinh
7
Trang 923 Bảng 4-18: Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
1 Hình 1-1: Tác động của môi trường và hoạt độngdạy học
2 Hình 1.2: Bộ ba tác nhân và bộ ba thao tác của chúng
3 Hình 1-3 Các tương tác và các tương hỗ của chúng(1)
4 Hình 1-4 Các tương tác và các tương hỗ của chúng(2)
5 Hình 1-5: Các liên đới của phương pháp giảng dạy tương tác
6 Hình 1-6: Giao tiếp kiểu dòng lệnh
7 Hình 1-7: Giao tiếp kiểu menu đơn giản trong môi trường text
8 Hình 1-8 : Giao tiếp kiểu truy vấn với CSDL (dạng GUI)
9 Hình 1-9 : Giao tiếp kiểu Form nhập dữ liệu
10 Hình 1-10: giao tiếp dạng WIMP
11 Hình 3-1: Mô hình dạy học tương tác
12 Hình 3-2 : Sơ đồ tổ chức dạy học tương tác
13 Hình 3-3: Giao diện cho người quản trị(Administrator) của Joomla
14 Hình 3-4 : Giao diện cho người dùng(Site) của Joomla
Trang 1024 Hình 3-14: Giao diện phần nội dung lý thuyết
25 Hình 3-15: Giao diện phần thực hành
26 Hình 3-16: Giao diện phần kiểm tra, đánh giá của SV
27 Hình 3-17: Giao diện kết quả làm bài tập của SV
28 Hình 3-14: Giao diện phần kết quả kiểm tra, đánh giá
29 Hình 4-1: Đồ thị phân loại kết quả học tập của SV
30 Hình 4-2: Đồ thị các tham số thống kê
9
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Xuất phát từ yêu cầu của xã hội đối với đào tạo nghề
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 xác định rõ mục tiêu chiến lược của giáo dục Việt Nam là tập trung nâng cao chất lượng toàn diện, phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế; nhấn mạnh đến việc “dạy người”, đồng thời với “dạy chữ” và dạy nghề…; xác định nhiều giải pháp quan trọng về đổi mới quản
lý giáo dục; phát triển nhân lực ngành giáo dục; tiếp tục đổi mới nội dung chương trình, phương pháp dạy học và đánh giá chất lượng giáo dục; nhà nước và xã hội tăng cường đầu tư cho giáo dục, gắn giáo dục - đào tạo với nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ; đẩy mạnh hội nhập quốc tế về giáo dục - đào tạo [14]
Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đã đạt tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch mạnh mẽ Quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta yêu cầu phải đáp ứng đủ số lượng lao động kỹ thuật chất lượng cao cho các ngành kinh tế, nhất là các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ cao như : Tin học, tự động hóa, điện, cơ điện tử, chế biến xuất khẩu v.v và đòi hỏi lao động phải được qua đào tạo, có như vậy các doanh nghiệp mới đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế
Để đáp ứng được yêu cầu đó, hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành phải thường xuyên bổ sung, cập nhật, hoàn thiện các chương trình dạy nghề hoặc xây dựng các chương trình dạy nghề mới; nâng cao chất lượng đội ngũ GV, cán bộ quản lý; đầu
tư, đổi mới trang thiết bị giảng dạy và đặc biệt chú trọng đổi mới phương pháp giảng dạy để đào tạo đội ngũ nhân lực kỹ thuật có tay nghề cao trực tiếp làm việc với kỹ thuật, công nghệ mới
1.2 Xuất phát từ việc ứng dụng CNTT trong dạy học diễn ra hổ biến và sâu rộng trong các nghành , trong đó có trong nghành GD trong giai đoạn hiện nay
Chỉ thị 58-CT/UW của Bộ Chính Trị ngày 07 tháng 10 năm 2000 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ
10
Trang 12rõ trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo
Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, trong đó các phàn mềm giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể
Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương
pháp và hình thức dạy học Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến
tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng
có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy học đồng đẳng, cộng tác nhóm, , cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông
tin và truyền thông
Những khả năng mới mẻ và ưu việt này của công nghệ thông tin và truyền thông đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn cả là cách ra quyết định của con người Do đó, mục tiêu cuối
cùng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là: Nâng cao một bước
cơ bản chất lượng học tập cho SV, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là “thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền thống, SV
được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình
1.3 Xuất phát từ việc đổi mới phương pháp dạy học – Một trọng tâm của ngành giáo dục hiện nay, đặc biệt là trong giáo dục dạy nghề
Vấn đề phương pháp dạy học(PPDH) trong các nhà trường được xã hội quan tâm ngay từ những năm 70 Đến đầu thập kỷ 90 vấn đề về PPDH và đổi mới PPDH được đặt ra và phát động nhiều lần trong ngành giáo dục nhưng thực tiễn giáo dục ở các nhà trường chưa đạt hiệu quả cao do PPDH vẫn xoay quanh, thầy đọc - trò ghi
có xen kẽ vấn đáp, giải thích minh họa là chính Người dạy không cố gắng tạo môi trường tương tác cho người học Kiểu dạy học như vậy không phát huy được tính tích cực của SV, làm cho khả năng tự học, tự tìm tòi nghiên cứu của SV bị hạn chế Đổi mới phương pháp dạy học là một trong số những vấn đề trọng tâm hiện nay Bởi vì, với khối lượng kiến thức ngày càng phong phú, rất đa dạng và thay đổi
11
Trang 13theo thời gian dẫn đến giảng dạy là phải biết khai thác và tận dụng nội lực của người học để họ sẽ tự học suốt đời
Trong những năm gần đây, dạy học tương tác là xu hướng lựa chọn hàng đầu của việc đổi mới phương pháp giảng dạy Hình thức dạy học này mang đến cho người học một môi trường lý tưởng để kiến tạo và tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua các họat động được thiết kế bởi người dạy Người học có điều kiện phát triển mạnh mẽ tính chủ động, tư duy sáng tạo và các kỹ năng sử dụng những công cụ hiện đại của khoa học công nghệ, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn đối với sản phẩm đào tạo Trong các hình thức dạy học tương tác, việc sử dụng phần mềm và các phòng học đa chức năng có nối mạng internet hoặc mạng nội bộ tỏ ra có nhiều ưu điểm và được nhiều nước trên thế giới quan tâm theo đuổi Kết hợp với các hình thức seminar và thực hiện cộng tác đội (teamwork), dạy học tương tác tạo ra sự phát triển toàn diện và nâng cao chất lượng giảng dạy
1.4 Đặc điểm và thực trạng dạy môn “Lắp đặt & bảo trì máy” tính tại trường CĐN Công nghiệp Hà Nội
Môn học “Lắp đặt & bảo trì máy tính” là một môn học rất quan trọng đối với các chuyên ngành cao đẳng Quản trị mạng; cao đẳng Quản trị cơ sở dữ liệu Đặc biệt càng quan trọng hơn đối với sinh viên các trường nghề như Trường cao đẳng Nghề Công nghiệp Hà Nội Nó là một môn học được đánh giá cao ở kỹ năng thực hành và năng lực thực hiện Học tin học nói chung và học cao đẳng Nghề các chuyên ngành Công nghệ thông tin nói riêng là luôn phải đi đôi lý thuyết với thực hành và thực hành đóng vai trò quan trọng và chủ yếu trong nội dung học Trong quá trình dạy học, người dạy và người học luôn tương tác với nhau và tương tác trực tiếp với máy tính Môn học Lắp đặt & bảo trì máy tính với thời lượng thực hành chiếm tới 78% thời gian Nhiều lớp học song song với thời lượng lớn(từ 6tiết đến 12 tiết/1 tuần/ 1 lớp),
Hiện nay môn học Lắp đặt & bảo trì máy tính tại Trường Cao đẳng nghề công nghiệp Hà Nội được giảng dạy cho các lớp cao đẳng Nghề quản trị mạng và cao đẳng nghề quản trị cơ sở dữ liệu Ngoài ra, môn học Lắp đặt & bảo trì máy tính
12
Trang 14cũng có một phần trong môn học “Lắp đặt, bảo trì máy tính & mạng máy tính” của các lớp trung cấp chuyên nghiệp ngành “Kỹ thuật viên Tin học” Để thực hiện giảng dạy môn học “Lắp đặt & bảo trì máy tính” thì chỉ có khoảng 06 máy tính hỏng để phục vụ phần nhận dạng các thành phần cơ bản của máy tính và lắp ráp Phần cài đặt hệ điều hành; cài đặt các chương trình ứng dụng thì SV thực hành chung các
máy tính, học xen kẽ các ca học với các môn học khác như “Thiết kế mạng LAN”;
“Quản trị mạng máy tính”; “Hệ điều hành Linux”,… Chính vì vậy mà việc phân
chia & Format ổ đĩa cứng; Cài đặt hệ điều hành; Cài các chương trình ứng dụng;
… Đều phải thực hiện trên các máy tính ảo nhờ công cụ VMware để không làm hỏng hệ điều hành; hỏng các chương trình ứng dụng của các môn học khác; của các
ca học khác
Những yêú tố trên là lý do để tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: Dạy học tương tác và ứng dụng trong môn học "Lắp đặt & bảo trì máy tính” ở trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lý luận về dạy học tương tác và công nghệ dạy học tương tác trong
giảng dạy môn “Lắp đặt & bảo trì máy tính” cao đẳng nghề nhằm nâng cao hiệu
quả dạy học theo hướng phát huy tư duy sáng tạo, tính tích cực và chủ động của
người học, góp phần đối mới phương pháp dạy học “Lắp đặt & bảo trì máy tính”
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tôi phải hoàn thành những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu về lý luận dạy học tương tác
- Nghiên cứu về các công nghệ dạy học tương tác đặc biệt là tương tác người
- máy
- Nghiên cứu việc vận dụng phương pháp dạy học tương tác vào dạy học các
môn kỹ thuật nói chung và môn “Lắp đặt & bảo trì máy tính” nói riêng
13
Trang 15- Nghiên cứu ứng dụng các phần mềm tạo máy ảo và tạo tương tác trong môn
“Lắp đặt & bảo trì máy tính”
- Xây dựng một số bài giảng môn “Lắp đặt & bảo trì máy tính” minh họa việc
ứng dụng công nghệ dạy học tương tác
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp dạy học tương tác đặc biệt là tương tác
người-máy
- Phạm vi nghiên cứu: Ứng dụng phương pháp dạy học tương tác trong dạy
học các môn kỹ thuật cụ thể là môn “Lắp đặt & bảo trì máy tính”
4 Giả thiết khoa học
Nếu ứng dụng một cách hợp lý và khoa học phương pháp dạy học tương tác
trong phần giảng dạy môn “Lắp đặt & bảo trì máy tính” thì sẽ góp phần nâng cao
hiệu quả dạy học theo các mức độ:
- SV nắm vững, tự sửa đổi hoặc mở rộng kiến thức cho bản thân
- Đa dạng hóa các hoạt động nhận thức và gây hứng thú học tập cho SV từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
- Quan điểm tiếp cận hệ thống
- Quan điểm tiếp cận công nghệ
- Quan điểm tiếp cận hoạt động
5.2 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát các nguồn tư liệu để xây dựng cơ
sở lý thuyết cho đề tài
5.3 Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm : Quan sát, xây dựng các chương trình thử nghiệm và các bài giảng minh họa
- Phương pháp điều tra: Trắc nghiệm, phỏng vấn, dự giờ
14
Trang 16- Phương pháp chuyên gia : Lấy ý kiến các GV trong tổ môn và trong Khoa
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
5.4 Các phương pháp xử lý thông tin
Phương pháp toán học thống kê: Lập bảng số liệu, xây dựng đồ thị và tính các tham số thống kê đặc trưng
6 Đóng góp mới của đề tài
6.1 Về lý luận
Lý luận: “Sư phạm tương tác-Một tiếp cận khoa học thần kinh” mà hai nhà
khoa học giáo dục Jean-Marc Denommé & Madeleine Roy cùng với các nhà
khoa học khác đã chỉ rõ được định hướng tương tác và mối quan hệ hai chiều của
bộ ba tác nhân người dạy - người học - môi trường Đề tài này đã góp phần làm sáng tỏ và phong phú thêm lý luận dạy học tương tác bằng cách phân tích vấn đề:
Lúc, chỗ và độ của tương tác đồng thời mở rộng hơn quan hệ tương tác của bộ ba tác nhân trên đó là tương tác giữa các phần tử trong nội bộ tác nhân
6.2 Về thực tiễn
- Đề xuất mô hình và sơ đồ tổ chức dạy học tương tác
- Đề xuất quy trình xây dựng bài giảng điện tử môn “Lắp đặt & bảo trì máy tính” theo công nghệ dạy học tương tác
- Nghiên cứu và vận dụng các phần mềm để xây dựng các bài giảng môn “Lắp đặt & bảo trì máy tính” có tính tương tác cao
- Áp dụng hiệu quả phương pháp dạy học tương tác vào quá trình giảng dạy môn học “Lắp đặt & bảo trì máy tính” tại trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội
15
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC TƯƠNG TÁC 1.1 Lịch sử nghiên cứu
Kurt levin (1890 - 1947) – Nhà tâm lí học người Đức - là người khởi xướng trào lưu tương tác nhóm vào đầu những năm 40 của thế kỉ XX
Lý thuyết tương tác chính thức ra đời vào những năm 70 của thế kỉ XX với kết quả nghiên cứu của các tác giả như Guy Brouseau, Claude Comiti,… thuộc viện Đại học đào tạo giáo viên ở Gremnoble (Pháp) Họ đã đưa ra cấu trúc tác động dạy học gồm 4 nhân tố: Người dạy, người học, nội dung kiến thức và môi trường
Trong tác phẩm [19], tác giả đã mô tả logic của hoạt động dạy học và mở ra
một quan điểm sư phạm tương tác với cấu trúc là một “bộ ba” gồm: người học, người dạy và môi trường, còn nội dung kiến thức như là một yếu tố khách quan mà
người dạy muốn hướng người học chiếm lĩnh
Từ cuối thế kỉ XX, các nước Đông Nam Á như Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Việt Nam, … đều tiến hành đổi mới phương pháp dạy học trong đó đặc biệt chú trọng đến người học để họ được phát huy tính sáng tạo hơn, tích cực hơn, giúp người học có khao khát tìm kiếm tri thức, khám phá cuộc sống và bản thân Trong giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay, ngoài các phương pháp giảng dạy như thuyết trình, đàm thoại, nêu vấn đề, mô phỏng, thì phương pháp dạy học tương tác với sự trợ giúp của công nghệ thông tin đã và đang đem lại hiệu quả rất lớn vì thế mà nó được áp dụng ngày một phổ biến trong trường học cũng như trong một số công ty, tổ chức… Tuy nhiên, cơ sở lý luận và công nghệ dạy học tương tác chưa được nghiên cứu kỹ, vì thế mà việc áp dụng nó vẫn chưa đạt được hiệu quả mong muốn và vẫn chưa trở thành một trào lưu áp dụng Vì vậy, dạy học tương tác cần được nghiên cứu tổng thể, sâu sắc hơn nhằm đánh giá hiệu quả cũng như khả năng áp dụng trong thực tiễn ở Việt Nam
16
Trang 18Như vậy, tương tác là quá trình tác động qua lại giữa các yếu tố với nhau nhằm tạo ra sự trao đổi giữa các yếu tố và biến đổi của mỗi yếu tố đó Vì thế, với
mỗi chuyên ngành khác nhau thì khái niệm tương tác cũng có khác nhau, ví dụ như:
- Tương tác cơ học: Tác động qua lại của hai hay nhiều vật thể hiện qua lực
tương tác
- Tương tác thuốc: Tác động của thuốc tới cơ thể thể hiện qua các phản ứng
sinh hóa
- Tương tác truyền hình(Interactive television): Người xem và nguồn phát có
thể trao đổi thông tin với nhau thường xuyên trong quá trình chương trình được thực hiện
- Tương tác dạy học: Tác động của GV, SV và môi trường thể hiện qua việc
dạy hoạt động dạy và học
-
17
Trang 191.3 Dạy học tương tác
Quá trình dạy học (QTDH) là một quá trình xã hội Về hình thức, đó là quá trình hoạt động tương tác giữa người dạy và người học Về bản chất, QTDH là quá
trình học tập (nhận thức và thực hành) độc đáo của người học được tiến hành dưới
sự tổ chức, hướng dẫn của người dạy nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học[11] Tương tác giữa người dạy và người học tồn tại tất yếu trong quá trình dạy học Không có tương tác sẽ không tạo nên quá trình dạy học Tương tác tạo nên tình huống và tình huống lại nảy sinh tương tác Dạy học sẽ mất định hướng và không đạt kết quả nếu để các tương tác trong quá trình dạy học diễn ra một cách tự nhiên
Dạy học tương tác là quá trình dạy học dựa trên sự tác động qua lại giữa ba tác nhân cơ bản: người dạy, người học, môi trường và sự tương tác giữa các phần tử nội bộ trong ba tác nhân đó
1.4 Lý luận dạy học tương tác
Tất cả các phương pháp dạy học truyền thống từ xưa tới nay đều có tương tác, vấn đề này ai cũng biết và sử dụng Từ phương thức dạy học truyền khẩu của các cụ
đồ nho đến việc giảng dạy sử dụng các phương tiện hiện đại để tăng tính tương tác trong dạy học Việc sử dụng tương tác trong dạy học chỉ là khả năng tích lũy được trong các quá trình nghiên cứu về các phương pháp dạy học mà chưa dựa trên một
cơ sở khoa học Phải đến khi tác phẩm [20] mới trình bày cách tiếp cận khoa học thần kinh nhận thức của việc học và dạy dựa trên sự vận hành năng động của hệ thần kinh trong quá trình tiếp thu và xử lí thông tin
Lý luận dạy học tương tác (LLDHTT) là lý luận dạy học theo quan điểm(hay tiếp cận) sư phạm tương tác (SPTT), coi quá trình dạy học là quá trình tương tác đặc thù giữa bộ ba tác nhân – Người học, người dạy và môi trường – trong đó, người học là trung tâm, là người thợ chính, người dạy là người hướng dẫn và giúp đỡ [8]
Luận điểm SPTT được đề xuất và trình bày trong tác phẩm [20] nêu bật những vấn đề cơ bản đó là:
18
Trang 20- Bộ ba tác nhân (3E): Người học (étudiant), người dạy (enseignant) và môi trường (environnement)
- Bộ ba thao tác (3A): Học (Apprendre), giúp đỡ (Aider/Assister) và tác động (Agir)
- Bộ ba tương tác : người học- người dạy- môi trường và tương hỗ giữa chúng
- Định hướng tương tác: coi người học là trung tâm, là tác nhân chính của quá trình đào tạo và nhấn mạnh các tác động qua lại giữa người học, người dạy và môi trường
Ta đi sâu vào phân tích từng vấn đề về lý luận dạy học tương tác mà hai nhà khoa học trên đã xây dựng
1.4.1 Bộ ba tác nhân
a/ Người học
Khái niệm người học (étudiant) có nguồn gốc từ tiếng la tinh (studium) với ý nghĩa là “cố gắng và học tập” Theo nghĩa rộng, thuật ngữ này có hàm nghĩa là cam kết và trách nhiệm Trong quan điểm sư phạm tương tác, khái niệm người học dùng
để chỉ tất cả những ai có tham gia (thực hiện) hoạt động học
Người học là người tìm cách hiểu tri thức và chiếm lĩnh nó Người học trước hết là người đi học mà không phải là người được dạy
b/ Người dạy
Người dạy(enseignant) là người được xã hội uỷ thác chuyên trách trong chức năng chuyển giao tri thức, kinh nghiệm xã hội cho người học Người dạy là người được đào tạo, huấn luyện với những chuyên môn nhất định nên có đủ các phẩm chất
và năng lực để thực hiện được chức năng nói trên
Người dạy chỉ cho người học cái đích cần phải đạt, giúp đỡ, làm cho người học hứng thú và đưa họ tới đích Chức năng chính của người dạy là giúp đỡ người học học và hiểu Theo phương pháp dạy học tương tác thì người dạy phải làm nảy sinh tri thức ở người học theo cách của người dạy Người dạy phục vụ người học
c/ Môi trường
19
Trang 21Hoạt động của người dạy và người học diễn ra trong không gian và thời gian xác định với ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài khác nhau Đó
là môi trường dạy học, môi trường dạy học do cả người dạy và người học cùng nhau phối hợp tổ chức
Môi trường dạy học các môn học công nghệ thông tin rất đa dạng, phong phú Đặc biệt là trong thời kỳ công nghệ thông tin và truyền thông phát triển mạnh như hiện nay Ngoài môi trường là các máy tính hiện đại, mạng internet phổ cập rộng rãi với nhiều thông tin phong phú thì còn có rất nhiều các phương tiện hiện đại khác Theo quan điểm tương tác “Người dạy và người học không phải là những sinh vật trừu tượng, xung quanh họ là thế giới vật chất văn hóa Cả người học và người dạy đều có một tính cách rõ rệt và các giá trị cá nhân được phát triển trong một đất nước có các thể chế, chính trị, gia đình và nhà trường mà chúng tất yếu có ảnh hưởng đến họ Tất cả những yếu tố này bên trong cũng như bên ngoài tạo thành môi trường dạy và học” [20])
Có thể hiểu môi trường dạy học là những điều kiện cụ thể, đa dạng do người
dạy tạo ra và tổ chức cho người học hoạt động, phù hợp với người học nhằm đạt tới mục tiêu của nhiệm vụ dạy học Môi trường có thể là phương tiện dạy học, môi
trường học tập (.cơ sở vật chất nhà trường, không khí lớp học, ) đến các phạm trù lớn hơn như gia đình, nhà trường và xã hội,
Trong môi trường dạy học thì phương tiện (means), đóng một vai trò không kém phần quan trọng Phương tiện trực tiếp để dạy học bao gồm những phương tiện chứa các thông tin, mang thông tin về các sự vật, hiện tượng và các quá trình xảy ra trong tự nhiên như: Sách giáo khoa, chương trình môn học, sổ tay, vở ghi
chép…Ngoài ra còn có các phương tiện mang tin thính giác như: Băng, đĩa; các phương tiện mang tin thị giác như: Bản vẽ, bản đồ…; Các phương tiện mang tin nghe nhìn như: Audio, video…; Các phương tiện mang tin dùng cho sự hình thành khái niệm, và thao tác như: Mô hình, đồ vật, thiết bị…
Chú ý : Vấn đề đặt ra là tại sao trong lý thuyết dạy học tương tác, khi đề cấp
đến các thành tố của quá trình dạy học, người ta chỉ quan tâm đến 3 nhân tố: người
20
Trang 22dạy, người học và môi trường Phải chăng yếu tố nội dung dạy học đã không chú trọng đến? Có thể khẳng định rằng lý thuyết dạy học tương tác không bỏ qua yếu tố nội dung dạy học mà ngược lại đề cao yếu tố này như một tất yếu trong phương pháp dạy và phương pháp học, gắn chặt với GV và SV Bởi vì:
- Với SV, nội dung dạy học là điểm kết thúc đối với hoạt động của chính họ và
do đó có ý nghĩa của yếu tố định hướng kích thích đối với SV
- Hoạt động của GV gắn liền đối với nội dung dạy học và nội dung dạy học được xem là điểm xuất phát đối với hoạt động của GV GV phải xây dựng kế hoặc dạy học, tổ chức các hoạt động và hợp tác với người học trong giờ học Tất cả các hoạt động này đều được gắn kết với nội dung dạy học trong đó kế hoạch dạy học(giáo án) là một sự thể hiện tiêu biểu của mối quan hệ này
Những phân tích trên cho thấy lý thuyết dạy học tương tác không hề phủ nhận
yếu tố nội dung dạy học trong quá trình dạy học Thông qua các nội dung cụ thể hoạt động của GV và SV, dạy học tương tác đã gắn kết chặt chẽ phương pháp dạy
và phương pháp học với nội dung dạy học, coi đó là những yếu tố đương nhiên trong hoạt động của hai nhân tố GV và SV
1.4.2 Bộ ba thao tác
Hoạt động dạy học bao gồm toàn bộ các hành động của người học khi học và của người dạy khi giúp đỡ người học trong quá trình học Thực tế hoạt động dạy học bao gồm bộ ba thao tác:
21
Trang 23o Người học sử dụng nội lực, để kiểm định kiến thức và kỹ năng nảy sinh trong mình theo một phương pháp học nào đó “Phương pháp học là khái niệm miêu
tả con đường mà người học phải theo bằng cách đưa ra hành động học”.[20]
o Phương pháp học bao gồm toàn bộ quá trình mà người học tiến hành để chiếm lĩnh tri thức, hình thành cho bản thân các kỹ năng, kỹ xảo Trong quá trình này người học thực hiện các hành động học tập tương ứng đối với các đối tượng học tập Do dó nội lực của người học là xuất phát điểm và cũng là lực đẩy bên trong của những hành động được người học thực hiện Kết quả thực hiện các hành động học tập, người học sẽ đưa ra những tri thức vốn tồn tại khách quan với bản thân vào hệ thống các tri thức đã có của mình, đồng thời có thể hòa nhập được với tình huống thực tiễn khi hoạt động học được diễn ra Khi đó người học đã đồng hóa được một tri thứ mới Như vậy theo tương tác dạy học, phương pháp học là khái niệm mô tả về con đường giúp cho người học đồng hóa được những tri thức mà người học phải lĩnh hội
o Phương pháp học tập của người học được quy định bởi mục đích, nội dung của từng môn học, từng bài học, bởi môi trường lớp học, phương tiện học tập, kinh nghiệm của bản thân và phương pháp hướng dẫn của GV
o Phương pháp học tập phụ thuộc rất nhiều vào ý thức học tập của từng SV, phải biết tự vượt qua chính mình Sự say mê, hứng thú, quyết tâm, sự tập trung chú ý vào các nhiệm vụ học tập sẽ tạo nên kết quả học tập tốt Phương pháp học còn phụ thuộc vào năng lực, kinh nghiệm, thói quen, kỹ năng học tập và tính khoa học của từng SV Kết quả học tập quyết định bởi năng lực tự học, kỹ năng thu thập, xử lý, trình bày thông tin của cá nhân
b/ Giúp đỡ (Aider/Assister)
o Theo C Margolinas, dạy là làm sống lại kiến thức, làm cho kiến thức được tạo
ra bởi chính SV như là câu trả lời cho tình huống; giúp đỡ SV đạt đến một sự hiểu biết cá nhân và chính xác hoá hiểu biết cá nhân thành kiến thức khoa học
o Người dạy can thiệp vào tất cả các yếu tố của hoạt động dạy học một cách có chủ đích (người dạy là người quyết định tri thức nào cần dạy và dạy như thế
22
Trang 24nào; tri thức nào người học cần học, và học như thế nào) Người dạy là người lựa chọn và tổ chức nội dung thành các tình huống dạy học và áp dụng các cách thức hành động phù hợp và tạo điều kiện để người học tích cực tham gia vào hoạt động lĩnh hội tri thức, kĩ năng và các giá trị mới - môi trường hoạt động tích cực cho cả người học lẫn người dạy
o Người dạy bằng kiến thức, kỹ năng và ứng xử của mình làm nảy sinh kiến thức
và kỹ năng ở người học theo cách của một người hướng dẫn và hỗ trợ (Phương pháp dạy).Phương pháp dạy được sử dụng trong dạy học tương tác là toàn bộ các can thiệp của người dạy trong mục đích hướng người học thực hiện phương pháp học
o Phương pháp dạy thể hiện trình độ nghiệp vụ sư phạm của GV, nó biểu hiện rõ nét nhất tính khoa học, tính kỹ thuật, tính nghệ thuật và đạo đức sư phạm tính khoa học thể hiện ở phương pháp tiếp cận sư phạm, tính kỹ thuật thể hiện ở hệ quy trình, tính nghệ thuật thể hiện bằng những thao tác khéo léo khi giải quyết các tình huống dạy học, tính đạo đức thể hiện ở thái độ, nhiệt tình, tâm huyết
"tất cả vì SV thân yêu" Phương pháp dạy của GV còn bao hàm cả các yếu tố của phương pháp giáo dục như: khích lệ, động viên, khơi dậy tính tích cực, sáng tạo, hứng thú, kiên trì và quyết tâm học tập của SV
c/ Tác động (Agir)
o Trong quá trình diễn ra hoạt động sư phạm, một tập hợp phức tạp các yếu tố môi trường ảnh hưởng (tác động) rất lớn tới cả việc dạy và việc học vì người học và người dạy đều là những nhân cách được hình thành và phát triển trong những điều kiện tự nhiên, vật chất, xã hội và văn hóa nhất định
o Các yếu tố bên ngoài như môi trường vật chất, nhà trường, đia đình, xã hội và người học hoặc người dạy gây ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt động sư phạm Chẳng hạn, điều kiện về không khí cũng tác động không ít đến hiệu quả học tập Không khí mát mẻ trong lành trong lớp học sẽ tạo cho SV thoải mái, ngược lại nếu không khí nặng nề ẩm thấp nhanh chóng dẫn đến mệt mỏi, chán nản Trong một ngày nóng bức, dễ thấy thiếu sự hào hứng của người học Điều kiện bất ổn
23
Trang 25về gia đình như tài chính bấp bênh, bố mẹ ly dị, bệnh tật, sẽ đặt người học vào một trạng thái không an toàn về tinh thần, thường gây bất lợi cho kết quả học tập
o Các yếu tố bên trong như tiềm năng trí tuệ, xúc cảm, giá trị, vốn sống , phong cách dạy, phong cách học cũng như tính cách đều có khả năng làm dễ dàng hoặc cản trở đến hoạt động dạy học Thí dụ, một SV mà người dạy đã làm cho anh ta cảm thấy lợi ích của môn toán trong đời sống hàng ngày, sẽ biểu lộ hứng thú đối với môn học này
Phương pháp học/Phương pháp dạy
Xã hội Nhà trường
Gia đình
Phong cách Giá trị
Tiềm năng
Xúc cảm
Người học Người dạy
Nhân cáchVốn sống
Môi trường
Môi trường ngoại vi
Môi trường bên trong
Hình 1-1: Tác động của môi trường và hoạt độngdạy học
Hình 1-1 giới thiệu toàn bộ các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài tác động ít nhiều đến hoạt động dạy học, nó thể hiện sự năng động được rút ra bởi mối quan hệ tương hỗ của ba tác nhân người dạy, người học và môi trường
Để phối hợp chặt chẽ ba tác nhân với các thao tác của họ và thu hút sự chú ý vào sự kết hợp này, bộ ba thao tác A ( Học – giúp đỡ - tác động ) giống như một hồi
âm trả lời bộ ba tác nhân E.( Người học – Người dạy – Môi trường )
24
Trang 26Hình 1.2: Bộ ba tác nhân và bộ ba thao tác của chúng
Trào lưu SP tự do: Dựa hoàn toàn vào người học, tất cả phải xuất phát
từ người học và lợi ích của họ Người học tự chọn mục tiêu, thời gian
và phương thức học tùy kinh nghiệm hoặc cơ may
Trào lưu SP đóng: Dựa vào chương trình học Người học được đánh
giá theo mục tiêu qui định Việc học được tuân theo một trật tự logic so với môn học chứ không phải so với phương pháp học
Trào lưu SP bách khoa: Dựa hoàn toàn vào người dạy Người dạy đề
ra mục tiêu, thời gian và phương thức học, theo chủ quan của mình Người học ngoan ngoãn tuân theo và bằng lòng với kiến thức và kỹ năng được truyền thụ
Trào lưu SP mở: Đặc biệt nhấn mạnh sự tác động qua lại giữa người
học, người dạy và môi trường Người học có đủ tiềm năng để hoàn thành một phương pháp học tự chủ, tuy nhiên phương pháp này được
25
Trang 27tiến hành nhờ vào người dạy-người đóng vai trò hàng đầu Môi trường được người học và người dạy phối hợp tổ chức
Bốn trào lưu SP này không tạo thành những ngăn kín Mỗi trào lưu có những điểm mạnh của mình và thường vay mượn ít nhiều yếu tố của nhau SPTT thuộc trào lưu SP mở (không đóng) Nó tập trung trước hết vào người học và cơ bản dựa trên tác động qua lại giữa người học, người dạy và môi trường Người học là người chịu trách nhiệm chính về phương pháp học của mình, không tùy hứng (SP tự do); người dạy bằng kiến thức và kinh nghiệm của mình (SP bách khoa) hướng dẫn người học theo mục tiêu được xác định trong chương trình học (SP đóng) Người dạy và người học bị ảnh hưởng bởi môi trường bên trong cũng như bên ngoài mà họ
có thể cùng nhau phối hợp sắp xếp
Như vậy, SPTT là một trò lưu tổng hợp linh hoạt: Bản chất nó là SP mở (dựa vào tương tác giữa ba tác nhân), kết hợp một đặc tính của SP tự do (coi người học là trung tâm), tận dụng ưu điểm của SP bách khoa (vai trò hướng dẫn và hỗ trợ của người dạy) và chấp nhận SP đóng (chương trình học)
Các hoạt động sư phạm tập hợp các phương pháp học và phương pháp dạy diễn ra hoàn toàn theo quan niệm thụ động hay chủ động
Quan điểm thụ động: Theo quan điểm này, hoạt động sư phạm giống như một quá trình phát – nhận Người học hoàn toàn thụ động, người dạy luôn luôn áp đặt Chương trình và kỷ luật học tập cứng nhắc
Quan điểm chủ động (có tổ chức) : Theo quan điểm này, hoạt động sư phạm dựa vào tính chủ động, tích cực, năng động và sáng tạo của người học Vì thế người học đóng vai trò hàng đầu, là tác nhân chính trong quá trình học của mình, họ có tất
cả những khả năng cần thiết để thành công Người dạy tác động từ bên ngoài với tư cách là người hỗ trợ, cộng tác Thể chế, chương trình, là điều kiện khách quan quan trọng, làm cho việc quản lý sư phạm có tổ chức và hiệu quả hơn
SPTT theo quan niệm chủ động người học là người thợ chính của quá trình đào tạo, vì họ có tất cả những khả năng cần thiết để thành công Người dạy là người
26
Trang 28hướng dẫn, tổ chức hoạt động và giúp đỡ Vai trò của người dạy là vai trò hỗ trợ và
là người can thiệp quan trọng hàng đầu
Tóm lại, SPTT trước hết coi người học là trung tâm, là người thợ chính của quá trình học và căn bản dựa trên các tác động qua lại giữa người học, người dạy và môi trường Đó chính là hai định hướng lớn của SPTT
Tác động qua lại giữa người học, người dạy và môi trường trong dạy học tương tác sẽ được trình bày ở phần sau( 1.3.4 )
Dạy học với người học là trung tâm (NHLTT) là định hướng giáo dục tập trung vào nhu cầu của người học, hơn là những yếu tố khác trong quá trình giảng dạy Nó hoàn toàn trái ngược với định hướng người dạy là trung tâm (NDLTT) đã tồn tại và phổ biến từ trước đến nay Các phương pháp giảng dạy lấy định hướng NDLTT, người thầy luôn giữ vai trò trung tâm trong việc giảng dạy, coi nhẹ hoạt động tích cực, chủ động của người học, người học chỉ có vai trò thụ động tiếp nhận kiến thức
Với định hướng lấy NHLTT, dạy học tương tác sẽ là lựa chọn hàng đầu trong
việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đặc biệt trong việc chuyển từ đào tạo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ (HCTC) bởi vì:
- HCTC là phương thức đào tạo trong đó sinh viên chủ động lựa chọn từng môn học theo một số ràng buộc qui định trước nhằm tích lũy từng phần và tiến tới hoàn tất toàn bộ chương trình đào tạo để được cấp bằng tốt nghiệp HCTC sẽ tạo điều kiện tối đa để cá nhân hóa qui trình đào tạo, trao quyền chủ động cho sinh viên trong việc đăng ký sắp xếp lịch học, kể cả sắp xếp thời gian học ở trường, thời gian tốt nghiệp
- HCTC đáp ứng nhu cầu chủ động của sinh viên trong học tập, và cũng đòi hỏi tính chủ động rất cao của sinh viên trong việc lập kế hoạch dự kiến đăng ký các môn học, chọn lựa môn học ngay từ đầu cho cả chương trình học bốn hay năm năm Sinh viên phải chủ động tìm hiểu đề cương các môn học, rồi theo
đó mà chuẩn bị đọc tài liệu trước giờ học, tích cực chủ động tham gia thảo luận trong lớp, cũng như làm bài tập, viết tiểu luận, làm dự án ở nhà
27
Trang 29- HCTC với định hướng lấy người học làm trung tâm được quán triệt từ khâu thiết kế chương trình, biên soạn nội dung giảng dạy và sử dụng phương pháp giảng dạy
Tóm lại : với HCTC, sinh viên thực sự là trung tâm của quá trình học tập, họ
tự thiết kế lộ trình học tập theo khả năng của mình Chính vì vậy mà dạy học tương tác với định hướng NHLTT sẽ đặc biệt thích hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ
1.4.4 Bộ ba tương tác
a/ Các tác nhân
Phương pháp sư pham tương tác đề cập đến khái niệm sự tương tác dựa trên
mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau giữa ba tác nhân: Người dạy, người học, môi trường Ba tác nhân này luôn quan hệ chặt chẽ với nhau sao cho mỗi tác nhân hoạt
động và phản ứng trong sự ảnh hưởng của hai tác nhân kia Trong [19] tương tác giữa ba tác nhân người dạy, người học, môi trường được biểu diễn bởi một đa-graph
có hướng gồm ba đỉnh và ba cặp cạnh, không có khuyên Các đường thẳng(cặp cạnh) chỉ ra mối quan hệ giữa các tác nhân, trong khi hai đầu của các đường thẳng dưới hình thức các mũi tên(cạnh có hướng) minh họa sự trao đổi qua lại giữa chúng
Người học
Hình 1-3 Các tương tác và các tương hỗ của chúng(1)
Người học với phương pháp học của mình sẽ truyền thông tin tới người dạy
hệ thống thông tin dưới nhiều hình thức khác nhau như: Bằng câu hỏi, lời bình luận, hoặc một suy nghĩ, Phương tiện để truyền thông tin đó có thể là thái độ, cử chỉ, cách ứng xử hay lời nói Người dạy sẽ tương tác lại với các thông tin từ người
28
Trang 30học bằng các câu trả lời, gợi ý, gợi mở, các hướng dẫn, động viên, khích lệ,… Từ sự tương tác trên người học tự điều chỉnh một cách phù hợp Trong quan hệ này
"người học hành động, người dạy phản ứng ", một cách chính xác đó là một loại
tác động qua lại
Người dạy bằng phương pháp sư phạm của mình sẽ giúp cho người học một hướng đi thuận lợi cho việc học, trong cách dạy này người dạy phải chỉ ra các giai đoạn phải vượt qua, các phương tiện cần sử dụng và các kết quả phải đạt được Đáp lại các tác động của GV, SV đi theo con đường mà GV đã định hướng Trong quan
hệ này “ Người dạy đã hành động, người học phản ứng”, sự tương tác qua lại với nhau và sự phản ứng qua lại này góp phần rất quan trọng vào quá trình tiếp thu của người học một cách sâu sắc mang tính tìm tòi, khám phá và sáng tạo
Môi trường với tư cách là một tác nhân sẽ tác động tới GV và SV thông qua sự tác động đến phương pháp hoạt động của họ Sự tác động của môi trường là đồng thời với cả GV và SV vì họ cùng tiến hành hoạt động và khi đó phương pháp sư phạm của GV và phương pháp học của SV được triển khai trong quan hệ mật thiết
vớ nhau Ngược lại, GV và SV cũng tác đông trở lại với môi trường thông qua sự tác động làm thay đổi các yếu tố(bên trong hoặc bên ngoài) của môi trường khiến cho môi trường được biến đối
Ảnh hưởng của môi trường tới việc học và việc dạy đã hiển nhiên Người học
và người dạy cùng nhau phối hợp tổ chức và cải thiện môi trường làm việc cũng là điều dễ hiểu, nhất là trong thời đại CNTT hiện nay, trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay –Lấy người học là trung tâm; tất cả đều vì người học
Mỗi tác nhân trong bộ ba tương tác trên đây khi thực hiện thao tác của mình đều thể hiện một ứng xử, dẫn đến đáp ứng của hai tác nhân kia Chẳng hạn, người học qua phương pháp học của mình ắt có những phản hồi tự nhiên bằng lời (câu hỏi, nhận xét, ) hoặc không (biểu cảm, ), dẫn đến những điều chỉnh tương ứng về phương pháp dạy hoặc thông tin bổ sung, từ phía người dạy
Các luận điểm về sư phạm tương tác mà hai nhà khoa học và các nhà khoa học khác đã trình bày khá toàn diện, tuy nhiên còn có hai vấn đề lớn chưa đề cập đó
29
Trang 31là vấn đề tương tác giữa các phần tử trong nội bộ tác nhân và lúc, chỗ và độ của tương tác
b/ Tương tác giữa các phần tử trong nội bộ tác nhân
Trong [14] GS.TS Nguyễn Xuân Lạc đã khẳng định các tương tác và các tương hỗ giữa chúng phải là một đa-graph có hướng, có khuyên ở đỉnh (hình 1-4)
Hình 1-4 Các tương tác và các tương hỗ của chúng(2)
Nó thể hiện sự tương tác giữa các phần tử nội bộ trong tác nhân, sự tương tác này cũng mạnh mẽ và mang lại kết quả đáng phải quan tâm Các ví dụ về tương tác giữa các phần tử của tác nhân:
- Trong lớp học chỉ do một GV dạy thì quan hệ giữa các học viên với
nhau qua vấn đáp, giúp nhau làm bài tập,…, là tương tác người học
với người học
- Liên hệ giữa nhà trường và gia đình, Kết hợp thực hành lao động, sản
xuất giữa Nhà trường & doanh nghiệp,…là tương tác giữa môi trường
& môi trường
- Trao đổi kinh nghiệm; sinh hoạt chuyên môn,… là sự tương tác giữa người dạy & người dạy
30
Trang 32Tương tác giữa người học – người học trong dạy học sẽ thực hiện hai chức
năng căn bản là tạo nên quy trình nhận thức của người học; tạo ra quy trình xã hội
Các hình thứ dạy học như: Động não, đóng kịch, dạy học theo dự án, cộng tác nhóm, dạy học đồng đẳng…chính là thể hiện sự tương tác tích cực giữa người học với người học
Công tác phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội có ý nghĩa quan trọng đối
với chất lượng giáo dục Điều 93 Luật Giáo dục 2005 khẳng định "Nhà trường có
trách nhiệm chủ động phối hợp với gia đình và xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên
lý giáo dục" Hiện nay, công tác phối hợp nhà trường, gia đình và xã hội đã đạt
được những kết quả nhất định, phát huy được sức mạnh tổng hợp và huy động được các nguồn lực trong xã hội tham gia ngày càng tích cực vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo
Một xu thế mới của đào tạo nghề đang được đặt ra hiện nay là đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, nhu cầu doanh nghiệp Điều này đòi hỏi cấp thiết là phải giải
quyết mối quan hệ giữa một bên là nhà trường, với một bên là nhu cầu xã hội để nhằm đạt được mục đích chung là “cung” gặp “cầu”, hướng đào tạo gắn với thị trường lao động
Liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của cả hai phía Các doanh nghiệp sẽ đóng vai trò là những nhà cung cấp thông tin để các cơ sở đào tạo nắm được nhu cầu của thị trường lao
31
Trang 33động Vì lợi ích của chính mình, hoạt động đào tạo của nhà trường luôn hướng tới nhu cầu xã hội, trong đó có nhu cầu doanh nghiệp Mặt khác, nếu cơ sở đào tạo đảm bảo cung cấp những lao động đáp ứng đúng nhu cầu của doanh nghiệp, thì đối với doanh nghiệp đó là điều lý tưởng nhất Được hợp tác với một cơ sở đào tạo cũng là nhu cầu thiết thực của chính doanh nghiệp
Để đạt được mối liên kết chặt chẽ thì các cơ sở đào tạo cần có cơ chế để các chủ doanh nghiệp được tham gia vào quá trình biên soạn chương trình đào tạo, các seminar khoa học, các hội nghị cộng tác viên, Thực tế cho thấy, đây là cách thức rất hiệu quả để các nhà đào tạo nắm được những kiến thức chuyên môn, cũng như những tư chất mà doanh nghiệp rất cần đến ở những sinh viên tốt nghiệp Đồng thời, cần tăng cường cho sinh viên tiếp cận doanh nghiệp từ khi còn đang được đào tạo trong nhà trường thông qua các đợt thực tập thực tế Hiện nay, không ít trường đại học đã thiết lập được mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo với đơn vị sử dụng lao động thông qua các hình thức tổ chức ngày hội tư vấn việc làm, tìm hiểu nhu cầu doanh nghiệp, ký kết hợp đồng đào tạo nhân lực
Trong khi những phát triển mới đây về phương pháp dạy học theo dự án, cộng tác nhóm, đào tạo gắn với thị trường lao động, nêu cao ý nghĩa khoa học và thực tiễn của các khuyên tương ứng người học, môi trường, thì khuyên người dạy ít được quan tâm hơn, nếu không muốn nói là chỉ dừng lại ở vài hình thức truyền thống, như với một môn học nào đó, có thể có sự cộng tác giữa giảng viên với trợ lí (bài tập, thí nghiệm,…), giữa GV dạy lý thuyết và GV dạy thực hành còn thì nói chung hiếm có sự làm việc nhóm giữa những GV dạy các học phần khác nhau, thậm chí có
cả trường hợp thiếu nhất quán, thiếu phối hợp giữa các GV ở các môn học khác nhau Dẫn đến SV khó biết sự tương quan giữa kiến thức các môn học
Vậy là trong khi dạy cách làm việc nhóm cho học viên, bản thân GV lại không quan tâm tự tạo cơ hội làm việc nhóm cho mình (?!)
Những đề tài nghiên cứu tình huống (case study), tiểu luận, đồ án v.v…, ở các
cơ sở đào tạo GV kỹ thuật còn khá đơn giản, thiếu tính tổng hợp, thường ở mức một
32
Trang 34thày một trò đã đủ đáp ứng, chất lượng vì thế không cao Rất hiếm có những đề tài huy động sự cộng tác chặt chẽ giữa các GV và SV như những cuộc thi Robocon Hiện nay tổng cục dạy nghề đã và đang tổ chức xây dựng bộ đề thi tốt nghiệp,
và các ngân hàng đề thi cho các môn học cho hệ thống các trường dạy nghề trong toàn quốc Để thực hiện được nhiệm vụ này, phải có sự cộng tác chặt chẽ của tập thể đông đảo các GV và chuyên gia của các cơ sở đào tạo nghề
- Môi trường trong lớp học là môi trường ảo, thực nghiệm ảo, tương tác ảo nhờ ứng dụng các phần mềm dạy học, công nghệ thông tin và truyền thông
- Sự tương tác giữa thầy và trò không nhất thiết phải “giáp mặt” mà có thể “gián tiếp” thông qua các hình thức đạo tạo từ xa nhờ ứng dụng công nghệ thông tin
và truyền thông Khi đó, máy tính và các phần mềm dạy học sẽ đóng vai trò như một GV thực hiện chức năng điều khiển việc học của SV, truyền đạt kiến thức và tiến hành kiểm tra đánh giá
- Các phần mềm dạy học kiểu trò chơi tương tác, tương tác với giao diện kéo - thả và tương tác tham số nhất là tương tác ảo đã cho phép tạo dựng và thực hiện những thao tác ảo " như thật " trên đối tượng khảo sát
Hiện nay công nghệ phần cứng và các phần mềm đã cho phép con người có khả năng tương tác linh động hơn rất nhiều, ví dụ như là chúng ta không cần phải sử dụng các thiết bị trỏ phức tạp mà sử dụng ngay các thao tác bằng tay Chúng ta chỉ việc chiếu giao diện nên một màn hình lớn sau đó dùng tay thao tác ngay trên màn hình chiếu như là chúng ta đang sử dụng chuột để điều khiển các chức năng của máy Như vậy máy tính không những tương tác với chúng ta qua màn hình và các thiết bị trỏ mà còn tương tác với người dùng trong một không gian thực Với hình
33
Trang 35thức tương tác này rất hiệu quả trong quá trình giảng dạy và trình diễn một nội dung nào đó
Như vậy, tương tác sư phạm với sự trợ giúp của đa phương tiện (máy tính, máy chiếu, internet, ) đã làm cho tính tương tác trong quá trình dạy học được nâng lên nhiều, tương tác giữa thầy và trò không chỉ tại những giờ học trên lớp
mà tại mọi lúc, mọi chỗ, mọi độ
1.4.5 Các liên đới của phương pháp dạy học tương tác
Dạy học tương tác nhằm tạo ra ở người học sự tham gia, hứng thú và trách nhiệm Nó gắn cho người dạy vai trò xây dựng kế hoạch,hướng dẫn hoạt động và hợp tác Nó gắn cho môi trường ảnh hưởng quan trọng đến các phương pháp riêng của người học và người dạy (hình 1-5)
a/ Các liên đới đối với người học
Quan điểm sư phạm tương tác khẳng định dứt khoát người học là người tham gia chính trong phương pháp hoc Người học đảm nhiệm vai trò mấu chốt này bằng cách thể hiện ngay từ khi bắt đầu học một sư hứng thú hiển nhiên và trong suốt quá trình học một sự tham gia tích cực liên tục, có trách nhiệm
Hình 1-5: Các liên đới của phương pháp giảng dạy tương tác
b/ Các liên đới đối với người dạy
34
Trang 36Người dạy đóng vai trò quan trọng trong quá trình sư phạm Trong quan điểm
sư phạm tương tác đối với người dạy đặc biệt có các hoạt động sau:
Xây dựng kế hoạch: Để đạt hiệu quả cao người dạy cần phải biết rõ mục tiêu
người học cần phải đạt được khi kết thúc việc học của mình và xác định các phương pháp dạy có khả năng giúp người học đạt mục đích một cách chắc chắn nhất Nhiệm vụ xây dựng kế hoạch là xác định trước một định hướng cả
về quá trình học của người học cũng như phương pháp sư phạm của người dạy Việc xây dưng kế hoạch chặt chẽ góp phần làm an toàn hơn cho người dạy và kích thích người học nhiều hơn
Kế hoạch dạy học: Khi xây dựng kế hoạch hàng năm, người dạy lập một kế
hoạch học nhằm đáp ứng được ở lớp chương trình do Bộ giáo dục đưa ra
Đề cương bài giảng (giáo án): Muốn thực hiện đầy đủ vai trò hướng dẫn của
mình, người dạy phải chuẩn bị một cách kỹ lưỡng từng giờ dạy của mình Người dạy phải lập đề cương chi tiết bài giảng của mình bằng cách xác định chính xác nội dung phải dạy, các tài liệu tham khảo liên quan, xác định mục tiêu cho người học, bằng cách lựa chọn phương pháp dạy và xác định hình thức đánh giá
Tổ chức hoạt động: Quan điểm sư phạm tương tác gắn cho người dạy, vai trò
xây dựng kế hoạch Người dạy có nhiệm vụ tạo nên không khí năng động ở trong lớp Người dạy phải thổi cơn gió hứng thú vào lớp học Người học sẽ tham gia tích cực vào quá trình học nếu anh ta cảm thấy một sự hứng thú thật
sự nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của anh ta
Hợp tác: Người dạy thể hiện sự quan tâm hợp tác với tất cả SV trong lớp,
không phải chỉ với những SV có năng khiếu và những SV thành công Sự hợp tác của người dạy nằm trong mối quan tâm mang đến sự hỗ trợ cho người học
để phát triển thành công tiềm năng của người học Vì vậy hợp tác trong quan điểm sư phạm tương tác tạo nên mối quan hệ qua lại giữa người dạy và người học
c/ Các liên đới liên quan đến môi trường
35
Trang 37Môi trường tác động vào hoạt động dạy học, người học và người dạy buộc phải có ý thức và tính đến nó trong các phương pháp tiến hành riêng của mình Hiện tượng này chắc chắn kéo theo sự tác động qua lại giữa ba tác nhân này; một bên là môi trường bằng yếu tố này hay yếu tố khác ảnh hưởng đến người học và người dạy Một môi trường tốt để dạy và học, một môi tường phong phú về tiện nghi dạy
& học,… thì người học tiếp thu kiến thức một cách nhanh chóng và sâu sắc hơn, người dạy dễ trình bày quan điểm, nội dung và kiến thức liên quan hơn.Từ ảnh hưởng của môi trường tốt sẽ tạo ra một kết quả dạy và học tốt hơn.Người học nhận
ra nhiệm vụ và trách nhiệm của mình, người dạy được đánh giá cao về nhiệm vụ của mình Một bên là người học và người dạy phải thích nghi với môi trường Ảnh hưởng và thích nghi đó chính là hệ quả của phương pháp dạy học tương tác liên quan đến môi trường
1.5 Công nghệ dạy học tương tác
1.5.1 Công nghệ dạy học tương tác
Công nghệ là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng nhằm vận
dụng quy luật khách quan, tác động vào một đối tượng nào đó, đạt được một thành quả xác định cho con người
Công nghệ dạy học là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng,
nhằm vận dụng quy luật khách quan (tâm lý học, giáo dục học, ) tác động vào người học, hình thành một nhân cách (tài, đức) xác định [12] Như vậy, dạy học được xem là một công nghệ, với những phương tiện, phương pháp và kỹ năng truyền thống - đó là công nghệ dạy học truyền thống; bên cạnh nó là công nghệ dạy học hiện đại - là công nghệ dạy học với phương tiện, phương pháp và kỹ năng hiện đại, ứng dụng CNTT trong thời đại hiện nay
Công nghệ dạy học tương tác (CNDHTT) bao gồm tất cả những nội dung và
hình thức vốn có về phương tiện, phương pháp và kỹ năng tương tác trong công nghệ dạy học truyền thống và công nghệ dạy học hiện đại
Sự phát triển nhanh đến chóng mặt của CNTTTT nói chung và giao diện người – máy (hay tương tác người – máy) nói riêng, đã nâng bộ ba tương tác trong
36
Trang 38LLDHTT lên một tầm cao mới, đó là điều chưa được đề cập trong [20], nhưng cũng
đã được các tác giả tiên liệu trong đoạn cuối của phần kết luận Nhờ các ngôn ngữ lập trình thích hợp, những phần mềm dạy học tương tác với giao diện kéo – thả và tương tác tham số, tương tác theo kiểu trò chơi, đã cho phép người học và người dạy có thể vấn đáp và thao tác tức thì những nội dung dạy học mà xưa nay chưa bao giờ có thể thực hiện trong giờ lên lớp lý thuyết, ví dụ những thao tác toán học dài dòng, những đồ họa động phức tạp hoặc những thí nghiệm và thực hành đòi hỏi nhiều thời gian tạo dựng và vận hành,
Những phần mềm này rất có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong Lý luận và công nghệ dạy học hiện đại bởi vì nó hoạt hóa (tích cực hóa) quá trình dạy học, nâng cao hiệu quả học tập (học và hành) và phát huy tư duy sáng tạo của người học
Trong CNDHTT và CNDH theo LLDHTT (hay quan điểm SPTT) thì tương tác người – máy là liên kết phổ biến giữa bộ ba người học – người dạy – môi trường
1.5.2 Tương tác người máy
Tương tác Người - Máy (Human Machine Interaction) nói chung và tương tác
Người – Máy tính (Human Computer Interaction) nói riêng là những vấn đề khoa học đã được quan tâm và nghiên cứu rất nhiều Chính việc nghiên cứu đó đã thúc đẩy được sự phát triển tính tiện dụng của máy móc đối với người sử dụng Bên cạnh
đó nó làm cho người dùng luôn cảm thấy máy móc thân thiện hơn và dễ nắm bắt được công nghệ
Theo như Backer và Boxton ([8]) định nghĩa thì “ Tương tác người máy là tập các quá trình, đối thoại và các hành động, qua đó con người sử dụng và tương tác với máy tính”
Tương tác ở đây được hiểu là sự giao tiếp giữa người dùng (con người) và hệ thống, trong đó máy tính được xem như là một công cụ thực hiện Việc lựa chọn kiểu giao tiếp sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến bản chất của quá trình đối thoại Có nhiều kiểu tương tác để con người giao tiếp với hệ thống máy tính như:
- Giao tiếp dòng lệnh
- Giao tiếp bảng chọn (Menu)
37
Trang 39- Giao tiếp bằng ngôn ngữ tự nhiên
- Giao tiếp dạng hỏi đáp và truy vấn
- Giao tiếp dạng Form điền
- Giao tiếp dạng WIMP
Hình 1-6: Giao tiếp kiểu dòng lệnh
Đây là loại giao tiếp có tính lịch sử và rất phổ biến Loại giao tiếp này cung cấp các phương tiện biểu diễn dòng lệnh cho máy tính một cách trực tiếp Người dùng đưa vào dòng lệnh để thực hiện yêu cầu của mình bằng cách nhần một phím chức năng Các lệnh thường là các động từ viết tắt hay chọn từ
Đối với loại hình giao tiếp này, yêu cầu người dùng bắt buộc phải nhớ các dòng lệnh chứ không được nhập tùy tiện Điều này là rất khó với người sử dụng, do vậy cần mất công đào tạo Unix, Dos là những hệ điều hành hay sử dụng giao tiếp kiểu dòng lệnh
38
Trang 40Hình 1-7: Giao tiếp kiểu menu đơn giản trong môi trường text
Cách thức giao tiếp này cung cấp một tập các lựa chọn cho người dùng và tập này thể hiện trên màn hình Người dùng lựa chọn một mục (tương ứng với công việc) bằng cách sử dụng các phím con trỏ, phím tắt hay nhấn vào một ký tự hoặc có thể dụng chuột để lựa chọn mục Khi các lựa chọn được quan sát trên màn hình, người dùng được gợi ý mà không đòi hỏi phải nhớ
Đây là dạng giao tiếp hấp dẫn nhất giữa người dùng và máy tính Việc hiểu ngôn ngữ tự nhiên bao gồm cả tiếng nói và chữ viết, là một chủ đề được quan tâm
và nghiên cứu của nhiều lĩnh vực Tuy nhiên sự nhập nhằng của ngôn ngữ tự nhiên gây nên các khó hiểu cho máy
Con người thường dựa vào ngữ cảnh để phân tích sự nhập nhằng này Tuy nhiên điều này với máy tính thì lại quá khó Điều này dẫn đến việc sử dụng ngôn ngữ tự nhiên trong các lĩnh vực hạn chế thì có thể thành công Hiện nay đã có một
số phần mềm máy tính nhận diện và điều khiển bằng giọng nói
Hỏi đáp là một cơ chế đơn giản nhằm cung cấp dữ liệu cho một ứng dụng của một lĩnh vực riêng nào đó Người dùng được yêu cầu bời một loạt các câu hỏi Các câu hỏi được miêu tả trong nhiều dạng khác nhau như: dạng yes/no, dạng đa lựa chọn, dạng nhấn số, Kiểu giao tiếp này khá tự nhiên, dễ thiết kế và thích hợp người dùng mới và thiếu kinh nghiệm
39