1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu xây dựng bài giảng điện tử máy lạnh công nghiệp cho chuyên ngành điện lạnh tại trường trung cấp nghề kỹ thuật công nghệ hùng vương

120 306 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 4,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội thảo Quốc tế về giảng dạy đại học được tổ chức tại Pari 10/1998 đã khẳng định"...Đặc biệt coi trọng trang bị các thiết bị giảng dạy chuyên ngành đối với các môn học ở trình độ cao ph

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

LÊ THANH MINH

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ MÁY LẠNH

CÔNG NGHIỆP CHO CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN LẠNH

TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô đã trực tiếp giảng dạy và giúp

đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS-TS Nguyễn Khang đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu

Xin gửi tới các Thầy, Cô trong Khoa Sư phạm kỹ thuật Trường Đại học Bách khoa Hà Nội lời chúc sức khỏe và lòng kính trọng sâu sắc nhất

Tác giả cũng xin cảm ơn Ban Giám hiệu, cán bộ, giáo viên và học viên trường TCN KTCN Hùng Vương và các đồng nghiệp đã cung cấp tài liệu, số liệu và tạo điều kiện trong quá trình thu thập thông tin để luận văn này được hoàn thành

Do khả năng và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học còn hạn chế nên chắc rằng luận văn không tránh khỏi nhiều thiếu sót Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn đồng nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 10 năm 2010

Tác giả

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, những gì mà tôi viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu

và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn cụ thể

Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan

Hà Nội, tháng10 năm 2010

Tác giả

Lê Thanh Minh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn 1 Lời cam đoan 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC

XÂY DỰNG BGĐT Ở TRƯỜNG TCN KTCN HÙNG VƯƠNG

13

1.3.1 Các khả năng cơ bản của máy vi tính 32

1.3.2 Các khả năng hỗ trợ của máy vi tính trong dạy học 33

Trang 5

1.3.3 Đặc điểm tâm lý của HS-SV 38 1.3.4 Vai trò của GV trong dạy học với sự hỗ trợ của máy tính 42

Chương 2: KHẢO SÁT PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN

MÁY LẠNH CÔNG NGHIỆP TẠI TRƯỜNG TCN KTCN

2.6 Thực trạng về phương pháp giảng dạy môn học Máy lạnh

công nghiệp tại Trường TCN KTCN Hùng Vương

51

2.6.1 Những hiểu biết của GV về PPDH tích cực 52 2.6.2 Tình hình trang bị thiết bị dạy học 52 2.6.3 Nhu cầu của GV về các PTDH kỹ thuật số trong dạy học 53 2.6.4 Điều kiện học tập cũng như khả năng lĩnh hội kiến thức của

HS-SV khi học môn Máy lạnh công nghiệp

54

Chương 3: NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ

MÁY LẠNH CÔNG NGHIỆP CHO CHUYÊN NGÀNH ĐIỆN

LẠNH TẠI TRƯỜNG TCN KTCN HÙNG VƯƠNG

59

3.1.4 Đặc điểm của môn học và những phương pháp giảng dạy đặc

trưng

63

Trang 6

3.2 Lựa chọn phần mềm thiết kế bài giảng điện tử 63

3.2.2 Các phần mềm thiết kế BGĐT thông dụng 66 3.2.3 Điều kiện để sử dụng hiệu quả BGĐT môn học Máy lạnh công

3.3.1 Các nguyên tắc xây dựng bài giảng điện tử theo hướng tích hợp

truyền thông đa phương tiện

73

3.3.2 Qui trình xây dựng BGĐT Máy lạnh công nghiệp 77

4.3.1 Kết quả phân tích bài kiểm tra trong thực nghiệm 99 4.3.2 Kết quả phân tích bài kiểm tra sau thực nghiệm 100

Trang 7

MỘT SỐ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

CNTT-TT Công nghệ thông tin - truyền thong

GD&ĐT Giáo dục và đào tạo

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1

Bảng kết quả khảo sát: Mức độ đáp ứng nhu cầu học tập

của HS-SV về cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy-học

tập của Khoa

55

Bảng 2.2 Bảng kết quả khảo sát: Phương pháp giảng dạy của GV

Bảng 2.3 Bảng kết quả khảo sát: Khối lượng giảng dạy về lý thuyết

và thực hành môn Máy lạnh công nghiệp 57

Bảng 2.4 Bảng kết quả khảo sát: Áp lực học tập của HS-SV trong

Bảng 2.5

Bảng kết quả khảo sát: Kiến thức học tập môn Máy lạnh

công nghiệp tại trường có sát với thực tế công việc đang

làm hay không

58

Bảng 4.1 Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra của 2 khối thực

nghiệm và đối chứng (số HS đạt điểm Xi) 99

Hình 4.1 Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra trong thực nghiệm 100

Bảng 4.3 Bảng thống kê điểm số các bài kiểm tra của 2 khối thực

nghiệm và đối chứng (số HS đạt điểm Xi) 100

Hình 4.2 Biểu đồ tần suất điểm các bài kiểm tra 101

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển ngày càng nhanh và đã bước sang một giai đoạn mới Tri thức và thông tin trở thành yếu tố hàng đầu và là nguồn tài nguyên có giá trị nhất Trong bối cảnh đó, giáo dục trở thành nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế xã hội Các nước trên thế giới kể cả các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển đều coi giáo dục - đào tạo là nhân tố quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia UNESCO cũng chỉ rõ:

"Không có một sự tiến bộ và thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của mỗi quốc gia " Đào tạo lực lượng lao động đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội, giáo dục đóng vai trò hết sức quan trọng không chỉ trong việc truyền thụ các tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo mà còn trong cả sự hình thành và phát triển một nhân cách toàn diện cho người học Trong bối cảnh đó đổi mới giáo dục và đào tạo đã và đang diễn ra trên qui mô toàn cầu, tạo nên những biến đổi sâu sắc trong nền giáo dục thế giới Cùng với vấn đề đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học theo hướng hiện đại hoá, cuộc cách mạng về phương pháp dạy học đang diễn ra theo 3 hướng chính: tích cực hoá, cá biệt hóa và công nghệ hóa nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học nói riêng, giáo dục và đào tạo nói chung

Một phần của Công nghệ hóa ở đây chính là việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông, môi trường dạy học đa phương tiện vào quá trình dạy học Hội thảo Quốc tế về giảng dạy đại học được tổ chức tại Pari (10/1998) đã khẳng định" Đặc biệt coi trọng trang bị các thiết bị giảng dạy chuyên ngành đối với các môn học ở trình độ cao phù hợp với nhu cầu xã hội và giảng dạy nhờ vào công nghệ mới về thông tin và truyền thông", đây là thời cơ và thách thức của nền giáo dục các nước chậm phát triển trong đó có Việt Nam

Trong "Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010" của Chính phủ đã nhận định: "Sự đổi mới và phát triển giáo dục đang diễn ra ở qui mô toàn cầu tạo cơ hội

Trang 10

tốt để giáo dục Việt Nam nhanh chóng tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những cơ sở lý luận, phương thức tổ chức, nội dung giảng dạy hiện đại và tận dụng các kinh nghiệm quốc tế để đổi mới và phát triển"

Chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) khẳng định: "ứng dụng và phát triển CNTT là nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước đi trước Mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng đều phải ứng dụng CNTT để phát triển" Chỉ thị số 29/200/CT-BGD&ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2001-

2005 nêu rõ: "CNTT và đa phương tiện sẽ tạo ra những thay đổi lớn trong hệ thống quản lý giáo dục, trong chuyển tải nội dung chương trình đến người học, thúc đẩy cuộc cách mạng về phương pháp dạy và học"

Trường TCN KTCN Hùng Vương từ nhiều năm nay đã triển khai đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy trong tất cả các Khoa, ngành đào tạo trong Trường bảo đảm phù hợp với nhu cầu xã hội Về phương pháp giảng dạy: với đặc thù là trường đào tạo đa ngành, nhiều môn học có mô hình động phức tạp, thường xuyên phải cập nhật kiến thức, công nghệ mới Để hỗ trợ cho việc đổi mới PPDH: nhà trường đã đầu tư kinh phí để mua sắm thiết bị dạy học hiện đại, khuyến khích ứng dụng CNTT vào dạy học nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng đào tạo

Sử dụng BGĐT trong dạy học kỹ thuật nói chung và trong các môn học mang tính chất tư duy trừu tượng về sự hoạt động hay sự biến đổi bên trong như Máy lạnh công nghiệp nói riêng, cùng với việc kết hợp sử dụng các phần mềm đồ họa chuyên ngành như Autodesk Inventor, SolidWorks,…để xây dựng mô hình vật thể, mô phỏng chuyển động của cụm lắp, thiết bị chuyển động… sẽ tiết kiệm chi phí cho việc chế tạo mô hình học cụ và giúp cho tiết học trực quan, sinh động, giúp HS hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức, giảm thời gian truyền đạt lý thuyết của GV, tăng thời gian thực hành của HS

Trang 11

Được sự đồng ý của PGS.TS Nguyễn Khang, tôi lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng Bài giảng điện tử Máy lạnh công nghiệp cho chuyên ngành Điện lạnh tại trường TCN KTCN Hùng Vương” với mong muốn góp phần nâng cao

chất lượng giảng dạy môn học tại trường

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu xây dựng BGĐT Máy lạnh công nghiệp và khai thác một số phần mềm đồ họa chuyên ngành nhằm đổi mới phương pháp, PTDH theo hướng hoạt động hóa người học, từ đó nâng cao chất lượng dạy và học ở Khoa Điện lạnh

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu xây dựng BGĐT Máy lạnh công nghiệp cho học sinh hệ trung

cấp chuyên ngành Điện lạnh tại Trường TCN KTCN Hùng Vương

5 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu xây dựng và sử dụng BGĐT Máy lạnh công nghiệp theo quan điểm dạy học hiện đại, đáp ứng các yêu cầu sư phạm thì sẽ hỗ trợ tốt cho hoạt động dạy của

GV tích cực hóa quá trình học của HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học

môn Máy lạnh công nghiệp ở khoa Điện lạnh tại Trường TCN KTCN Hùng Vương

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Trang 12

ƒ Lý thuyết xây dựng và sử dụng BGĐT

ƒ Nội dung, phương pháp dạy học môn Máy lạnh công nghiệp

ƒ Quá trình dạy học môn Máy lạnh công nghiệp với sự hỗ trợ của BGĐT

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

ƒ Phân tích các tài liệu để làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc xây dựng BGĐT

tại trường TCN KTCN Hùng Vương

ƒ Phân tích nội dung, chương trình môn Máy lạnh công nghiệp hiện hành

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

a Phương pháp điều tra viết, phương pháp trò chuyện

Tìm hiểu thực trạng xây dựng BGĐT ở khoa Điện lạnh tại Trường TCN KTCN Hùng Vương

b Phương pháp chuyên gia

Tham khảo ý kiến của các chuyên gia về phương pháp giảng dạy bộ môn, về Tin học, BGĐT, kinh nghiệm của họ về cách xây dựng BGĐT

7.3 Những phương pháp hỗ trợ khác

Phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu khảo sát

8 Cấu trúc của luận văn

Trang 13

Chương 3: Nghiên cứu xây dựng BGĐT Máy lạnh công nghiệp cho chuyên ngành

Điện lạnh tại Trường TCN KTCN Hùng Vương

Chương 4: Thực nghiệm sư phạm

Kết luận và kiến nghị

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG BGĐT

Ở TRƯỜNG TCN KTCN HÙNG VƯƠNG 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của CNTT-TT, Internet, công nghệ truyền thông đa phương tiện (multimedia) đã mang lại nhiều ứng dụng trong đời sống xã hội như: trao đổi thư tín qua mạng Internet: e-mail; chính phủ điện tử: e-government; giáo dục điện tử: e-education; dạy học qua mạng: e-learning; thư viện điện tử: e-libraly; văn hoá số hay văn hoá điện tử: e-culture Những thành tựu của CNTT-TT đã tạo ra một cuộc cách mạng trong hầu hết các lĩnh vực xã hội, kinh tế Sự thay đổi không chỉ thấy trong các nền sản xuất công nghiệp, điện tử, viễn thông mà ngay trong các lĩnh vực như: tài chính, ngân hàng, thương mại, quản lý nhà nước, giáo dục CNTT-TT không chỉ thay đổi căn bản phương thức điều hành và quản lý giáo dục (Education Management Technology)

mà còn tác động mạnh mẽ làm thay đổi nội dung và phương pháp dạy học,

CNTT-TT đã trở thành một bộ phận giáo dục về khoa học, công nghệ cho mọi HS-SV

Tại Hội nghị quốc tế về giáo dục đại học thế kỷ 21 "Tầm nhìn và hành động" tại Paris diễn ra từ ngày 5 đến 9 tháng 10 năm 1998 do UNESCO tổ chức đã đưa ra

ba mô hình giáo dục:

Mô hình Vai trò trung tâm Vai trò người học Công nghệ sử dụng

đèn chiếu

Tri thức Nhóm HS Thích nghi cao độ MTĐT và mạng

Trang 15

MTĐT đã đóng vai trò quyết định trong việc chuyển từ mô hình truyền thống sang mô hình thông tin và sự xuất hiện của mạng máy tính là tác nhân chính để chuyển từ mô hình thông tin sang mô hình tri thức

Công nghệ đa phương tiện cho phép tích hợp nhiều dạng dữ liệu như văn bản, biểu đồ, đồ thị, âm thanh, hình ảnh, vi deo vào bài giảng nhằm giúp HS có điều kiện tiếp thu bài học qua nhiều kênh thông tin Vai trò của CNTT-TT trong việc tạo ra một môi trường dạy học mới cũng đã được Nguyễn Bá Kim [15], Quách Tuấn Ngọc, Đào Thái Lai [19]…khẳng định:

ƒ CNTT-TT góp phần đổi mới việc dạy học

ƒ CNTT-TT là công cụ đắc lực góp phần đổi mới việc chuẩn bị và lên lớp của

người thầy

ƒ Cung cấp cho GV nhiều phương tiện dạy học mới như MTĐT, máy chiếu đa

năng, bảng điện tử

CNTT-TT đã làm cho quá trình dạy học không còn bị ràng buộc bởi không gian

và thời gian, HS có thể học ở mọi nơi, học mọi lúc, học suốt đời Việc học tập trở nên uyển chuyển, linh hoạt, căn cứ vào nhu cầu của HS, HS được phép lựa chọn những phương thức học tập có hiệu quả, lựa chọn nội dung bài giảng và các tài liệu

có liên quan phù hợp với năng lực bản thân Vấn đề này, các chuyên gia Nguyễn Bá Kim [15], Quách Tuấn Ngọc, Đào Thái Lai [19],… cũng đã khẳng định: CNTT-TT

đã tạo ra một môi trường tương tác để người học hoạt động và thích nghi trong môi trường đó và như vậy CNTT-TT tạo điều kiện cho người học độc lập với mức độ cao và hỗ trợ cho người học vươn lên trong quá trình học tập

CNTT-TT tạo ra các mô hình dạy học mới:

1 Dạy học có sự trợ giúp của máy tính (Computer Based Training - CBT)

2 Dạy học trên nền website (Web Based Training -WBT)

3 Dạy học qua mạng (Online Learning Training- OLT)

Trang 16

4 Dạy học từ xa: GV và học viên không ở cùng một vị trí, không cùng thời gian (Distance Learning)

5 Sử dụng CNTT-TT tạo ra một môi trường ảo để dạy học (E-leaming)

Việc ứng dụng CNTT-TT trong dạy học tập trung vào các lĩnh vực sau:

ƒ Sử dụng các thiết bị (phần cứng) với vai trò là phương tiện, công cụ dạy học như: MTĐT (Pcs-personal Computers); Thiết bị hiển thị thông tin (display): Large colour monitors, Data projectors, Interactive whiteboards, OHP dispiays, TV interfaces ; Các thiết bị ngoại vi ghép nối với MTĐT: máy ảnh kỹ thuật số, máy quét, graphic calcu/ators

ƒ Sử dụng các ngôn ngữ lập trình như Pascal, Logo ; Các phần mềm thông dụng: Excel, Winword, Frontpage; Các phần mềm đồ hoạ (Graph Plotting Software-GPS); Các phần mềm số học, hệ thống đại số máy tính (Computer Algebra System-CAS); Các phần mềm hình học động (Dynamic Geometry Software-DGS); Các phần mềm trình diễn (Data Handling Software-DHS)

ƒ Khai thác thông tin trên các CD-ROM và Intemet

Như vậy, việc ứng dụng CNTT-TT trong dạy học ở Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được các kết quả chính sau:

1 Nghiên cứu và khai thác các phần mềm dạy học trên thế giới

2 Thiết kế và xây dựng các phần mềm dạy học cho các nội dung cụ thể

3 Tổ chức dạy học với sự hỗ trợ của MTĐT

4 Thử nghiệm khai thác mạng, Internet để dạy học từ xa

Tuy nhiên đứng trước những tiềm năng to lớn của CNTT-TT đối với GD&ĐT thì các thành tựu trên còn rất khiêm tốn, ở đa số các trường, việc triển khai, ứng dụng CNTT trong giảng dạy và học tập còn nhỏ lẻ, việc đổi mới PPDH chỉ dành cho các đợt thao giảng, hội giảng Đội ngũ giáo viên sử dụng thành thạo và kết hợp

Trang 17

các phần mềm để xây dựng BGĐT là không nhiều, hoặc có thì chỉ mang tính chất tự làm báo cáo, minh họa cho giờ giảng của riêng mình

Đối với môn học Máy lạnh công nghiệp: đây là môn học chuyên ngành của khoa Điện lạnh Việc ứng dụng CNTT nhằm xây dựng BGĐT cho môn học còn gặp rất nhiều khó khăn do tính chất đặc trưng của môn học Hiện nay, việc giảng dạy môn học này tuy đã có sự đổi mới về nội dung và phương pháp nhưng vẫn chưa tạo được sự hứng thú, kích thích được tính tích cực cho HS trong quá trình học tập

Việc chọn đề tài: “Nghiên cứu xây dựng Bài giảng điện tử Máy lạnh công nghiệp cho chuyên ngành Điện lạnh tại trường TCN KTCN Hùng Vương”, với

mong muốn được đóng góp một phần vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học

ở khoa Điện lạnh nói chung và môn Máy lạnh công nghiệp nói riêng

1.2 Một số khái niệm liên quan đến đề tài

1.2.1 Công nghệ dạy học hiện đại

"Công nghệ dạy học là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng tác động vào con người, hình thành một nhân cách xác định" [13]

Trang 18

Một cách khái quát: "Công nghệ dạy học là quá trình sử dụng những thành tựu của khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào quá trình dạy học nhằm thực hiện mục đích dạy học với hiệu quả kinh tế cao"[16]

Công nghệ dạy học có thể được xem như một quá trình công nghệ đặc biệt, một quá trình sản xuất những sản phẩm cao cấp, tinh vi nhất (con người), HS không còn là đối tượng thụ động của quá trình tác động của GV mà họ vừa là khách thể, vừa là chủ thể của QTDH

Ngày nay, QTDH không chỉ được hiểu là một quá trình công nghệ mà nó đã phát triển lên một tầm cao mới, đó là công nghệ dạy học hiện đại, công nghệ dạy học hiện đại là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng mới tác động vào con người, hình thành một nhân cách xác định

1.2.2 Phương tiện dạy học

- Khái niệm phương tiện: Có rất nhiều định nghĩa về phương tiện, mỗi định nghĩa có một cách tiếp cận khác nhau Trong số các định nghĩa đó, có một định nghĩa của Lotslinbo được chúng tôi cho là phù hợp nhất: “Phương tiện là những đối tượng vật chất hoặc phi vật chất được sử dụng để thực hiện những hoạt động có mục đích.”[26]

- Khái niệm đa phương tiện (Multimedia): Đa phương tiện là một thuật ngữ gắn với CNTT, có thể hiểu “đa phương tiện là việc sử dụng nhiều phương tiện khác nhau để truyền thông tin ở các dạng như văn bản, đồ hoạ - hình ảnh (bao gồm cả hình tĩnh, hình động) và âm thanh, cùng với siêu liên kết giữa chúng Với mục đích giới thiệu thông tin đến người nghe”, nói gọn hơn, có thể hiểu:

Multimedia = Digital text + Audio & visual media + Hyperlink

- Khái niệm phương tiện dạy học: PTDH là tổ hợp cơ sở vật chất kỹ thuật trường học bao gồm: thiết bị kỹ thuật đóng vai trò “truyền tin” Ví dụ: máy chiếu phim, đèn chiếu, máy ghi âm ) và các PTDH đóng vai trò “giá thông tin” Ví dụ: phim xinê, phim đèn chiếu, băng ghi âm được sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả

Trang 19

dạy học PTDH là tất cả các phương tiện vật chất cần thiết giúp GV hay HS tổ chức

và tiến hành hợp lý, có hiệu quả quá trình giáo dục hay giáo dưỡng ở các cấp học, các lĩnh vực, các môn học để có thể thực hiện được các yêu cầu của chương trình giảng dạy

- Khái niệm phương tiện trực quan: Theo GS.TS Đinh Quang Báo: “Phương tiện trực quan là tất cả các đối tượng nghiên cứu được tri giác trực tiếp nhờ các giác quan” Phương tiện trực quan là một công cụ trợ giúp đắc lực cho GV trong quá trình tổ chức các hoạt động ở tất cả các khâu của QTDH, nếu sử dụng PTDH một cách logic, hợp lí sẽ làm tăng hiệu quả của QTDH

- Thế nào là tích hợp truyền thông đa phương tiện trong dạy học: Tích hợp truyền thông đa phương tiện chỉ mối quan hệ hữu cơ giữa các phương tiện (kênh) truyền tải thông tin khác nhau QTDH tích hợp truyền thông đa phương tiện tức là: QTDH có sự kết hợp nhiều phương tiện truyền tải nội dung nhằm tác động đồng thời vào các giác quan của người học Nếu QTDH chỉ có ngôn ngữ và chữ viết thì người học sẽ thấy nội dung bài học khô khan, buồn tẻ và nhàm chán điều đó ắt sẽ dẫn đến kết quả QTDH không cao Khi sử dụng tích hợp đa phương tiện trong QTDH sẽ đưa đến một kết quả là từ một nội dung, người học được tiếp nhận cùng một lúc nhiều kênh thông tin khác nhau kênh chữ, kênh hình, kênh tiếng…) và mỗi kênh đó tác động vào một giác quan của người học, điều này đã làm cho quá trình lĩnh hội kiến thức của người học trở nên nhanh và hiệu quả hơn

- Vai trò của đa phương tiện trong dạy học: Thật vậy kỹ thuật siêu liên kết (hyperlink) của CNTT đã giúp kết nối mau lẹ nhiều cơ sở dữ liệu gồm mọi loại văn bản, đồ hoạ, âm thanh trở thành nguồn tư liệu đa năng và phong phú, và tăng tốc độ tương tác giữa người sử dụng và nguồn tư liệu Khi ngồi trước một máy tính có nối mạng là bạn được ngồi trước một kho dữ liệu vô tận, bao gồm các cơ sở dữ liệu ghi trên máy tính và các đĩa CD, DVD kèm theo, và vô vàn các trang Web liên quan trên toàn thế giới, mà mọi cơ sở dữ liệu đó được kết nối rất nhanh chóng khi tìm

Trang 20

kiếm bằng công cụ siêu liên kết Rõ ràng nếu hiểu ‟đa phương tiện” theo cách như trên chúng ta mới thấy hết quy mô và sức mạnh diệu kỳ của nó

- Với sự tiến bộ nhanh chóng của CNTT và vi điện tử, các công cụ lưu trữ thông tin ngày càng có sức chứa lớn, chẳng hạn một CD-ROM thông thường có dung lượng 700MB, có thể chứa được cỡ 250.000 trang văn bản, cho phép ghi các hình ảnh động có màu sắc kèm âm thanh, các đĩa DVD còn có sức chứa lớn hơn: các thanh từ, thẻ từ, ổ đĩa cứng tí hon cơ động, ổ cắm cơ động USB có thể chứa hàng trăm MB, cho phép ghi một khối lượng lớn dữ liệu và hình ảnh chất lượng cao Kèm với công cụ lưu trữ thông tin, công cụ thu nhận và sao chép thông tin tiện lợi tạo điều kiện để ghi sao và chế tạo các đĩa CD, DVD đa phương tiện: đó là các máy ảnh digital, các ổ đĩa cho phép ghi CD-ROM với giá không quá cao, và các đĩa

CD trắng rất rẻ

- Các đĩa CD, DVD chứa Multimedia là các công cụ rất quan trọng hỗ trợ giảng dạy và học tập Nhờ đó người ta có thể soạn thảo các từ điển bách khoa chứa rất nhiều thông tin văn bản, hình ảnh tĩnh, âm thanh, hình ảnh động có âm thanh… thuận tiện cho việc tra cứu Do tính phong phú và cơ động của các CD, DVD chứa Multimedia, đây có thể là phương tiện thuộc công nghệ mới hỗ trợ dạy và học linh động nhất, có hiệu quả nhất trong điều kiện nước ta hiện nay, khi phương tiện Internet chưa phổ cập hết đến mọi nơi

1.2.3 Quá trình truyền thông

Truyền thông tồn tại từ khi có con người, nhưng chỉ gần đây mới được nghiên cứu về mặt khoa học Lý luận thông tin đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu truyền thông, truyền thông được nghiên cứu theo lý luận ngôn ngữ học tâm lý, việc hiểu ngôn ngữ gắn liền với cơ chế tri giác Xã hội học quan tâm tới tác động của cấu trúc xã hội, quan hệ xã hội trong quá trình truyền đạt, tiếp nhận thông tin, khái niệm truyền thông được sử dụng ở nhiều lĩnh vực: theo nghĩa rộng nhất, nó là

sự tạo ra mối liên hệ giữa các đối tượng có thể mang bản chất sự sống hay không

Trang 21

các quá trình tâm lý mà còn cho các phương thức hành vi trong xã hội QTTT là một quá trình bao gồm sự lựa chọn, sắp xếp và phân phối thông tin từ người truyền tin đến người nhận tin, QTTT nhằm thực hiện sự trao đổi qua lại về linh nghiệm, tri thức, tư tưởng, ý kiến, tình cảm Người ta có thể sử dụng các hệ thống ký hiệu khác nhau theo dạng phi ngôn từ hoặc ngôn từ để thông báo M.Weber cho rằng có thể hiểu truyền thông như là phương tiện của tương tác xã hội, làm sáng tỏ các ý nghĩa chủ quan của một bên là hành động xã hội và bên kia là định hướng xã hội Người

ta thống kê được có khoảng 160 định nghĩa khoa học xã hội cho thuật ngữ truyền thông (Merton) và đã phân chia truyền thông theo chuẩn cấu trúc: loại có cấu trúc một chiều, truyền thông như là truyền dẫn, như là hành động kích thích phản ứng, loại có quá trình cấu trúc đối xứng, truyền thông như là thông hiểu, như là trao đổi, như là tham gia, như là quan hệ Ở đây, vấn đề tương tác rất được coi trọng, người

ta nhất trí rằng: truyền thông là một phạm trù cơ bản, qua đó các hệ thống xã hội được hình thành và phát triển Do có truyền thông mà các thành tố xã hội, hệ thống con người, các hệ thống xã hội bao gồm cả hệ thống con, hệ thống lớn liên tiếp được cải biến và phân hóa Sự phát triển của xã hội học cho thấy: ngay từ đầu, hiện tượng truyền thông đã ở vị trí trung tâm, nó được xem là khái niệm cơ bản của xã hội học Người ta nhận rõ ý nghĩa quan trọng của truyền thông đối với quá trình xã hội hóa con người cũng như việc hình thành và phát triển các cộng đồng người, đặc biệt, ngày nay các phương tiện truyền thông đại chúng có vai trò hết sức to lớn trong đời sống xã hội, nó tham gia ngày càng tích cực vào hoạt động tổ chức, quản

lý xã hội Tâm lý học giải thích rằng người ta hành động theo cách người ta suy nghĩ Người ta suy nghĩ trên cơ sở thông tin người ta tiếp nhận được Không có hoạt động truyền thông hoặc truyền thông không đầy đủ thì không thể có suy nghĩ đúng

và do đó cũng không có hành động đúng Theo chỉ dẫn của M.Weber, người ta thấy

rõ ràng là hành động xã hội theo các giá trị và chuẩn mực xã hội được truyền bá trong QTTT, được thực hiện từ sự thấu hiểu của các cá nhân, các cộng đồng người

Vì thế truyền thông được coi là cái tạo nên khuôn mẫu hành động: nguyên lý đó có khả năng ứng dụng rất lớn, một trong những ứng dụng đó là được sử dụng vào trong

Trang 22

QTDH Trong giáo dục người ta thường dùng thuật ngữ truyền thông giao tiếp, ở mức đơn giản có thể hiểu truyền thông giao tiếp là việc trao đổi thông tin giữa con người với nhau, và thường dẫn đến hành động Ở mức phức tạp hơn, truyền thông giao tiếp (truyền thông): là một tiến trình mang tính chọn lọc, hệ thống và duy nhất

mà trong đó con người tương tác với nhau thông qua việc sử dụng các ký hiệu nhằm

tạo ra, giải thích và chia sẻ các ý nghĩa

GV, với hoạt động học có phương pháp học của mỗi cá nhân, qua đó ta có thể đưa

ra một số định nghĩa cho QTDH:

QTDH là một QTTT bao gồm: sự lựa chọn, sắp xếp và phân phối thông tin trong một môi trường sư phạm thích hợp, sự tương tác giữa người học và các thông tin Trong bất kỳ tình huống dạy - học nào cũng có một thông điệp được truyền đi, thông điệp đó thường là nội dung của chủ đề được dạy, cũng có thể là các câu hỏi

về nội dung cho người học, các phản hồi từ người dạy đến người học về nhận xét, đánh giá các câu trả lời hay các thông tin khác QTDH là sự phối hợp thống nhất các hoạt động chỉ đạo của thầy với hoạt động lĩnh hội tự giác, tích cực tự sáng tạo của trò, nhằm làm cho trò đạt được mục đích dạy - học QTDH còn được hiểu là hoạt động dạy và học, được tạo nên bởi các yếu tố cấu trúc cơ bản: mục tiêu; phương pháp; nội dung; hình thức tổ chức, phương tiện dạy học và kiểm tra đánh

Trang 23

giá Các yếu tố này có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau và được mô tả như sơ

- Phương tiện dạy học

- Kiểm tra đánh giá

Qua sơ đồ trên ta nhận thấy QTDH luôn luôn vận động và phát triển theo các quy luật vốn có của nó (quy luật phù hợp giữa mục tiêu và nội dung; quy luật phù hợp giữa mục tiêu và phương pháp; quy luật phù hợp giữa nội dung và phương pháp; quy luật phù hợp giữa nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức; quy luật phù hợp giữa hình thức tổ chức và PTDH; quy luật thống nhất giữa mục tiêu, phương pháp, nội dung, hình thức tổ chức và PTDH…) Do vậy, người dạy - nhà sư phạm

Trang 24

phải biết tổ chức và điều khiển quá trình này, phát huy cao độ vai trò tự giác, tích cực, độc lập của người học, tạo ra hệ thống các động lực, thúc đẩy và phát triển một cách tổng hợp và đồng bộ mọi yếu tố của QTDH nói chung và đặc biệt là yếu tố người học nói riêng, đáp ứng được yêu cầu của xã hội đối với sự nghiệp giáo dục

- Mục đích giáo dục và nhiệm vụ dạy học: phản ánh một cách tập trung nhất những yêu cầu của môn học, của xã hội đối với QTDH

- Nội dung dạy học: bao gồm hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo liên quan đến từng môn học cụ thể mà người học cần nắm vững trong QTDH Nội dung dạy học là một nhân tố cơ bản trong QTDH Nội dung dạy học bị tri phối bởi mục đích và nhiệm vụ dạy học, đồng thời nó lại quy định việc lựa chọn và vận dụng phối hợp các phương pháp, PTDH

- Phương pháp và PTDH: là hệ thống những cách thức, phương tiện hoạt động phối hợp của người dạy và người học nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học

- GV với hoạt động dạy và HS với hoạt động học: Trong QTDH, GV với hoạt động dạy có chức năng tổ chức, điều khiển, chỉ đạo hoạt động học tập của người học, đảm bảo cho người học thực hiện đầy đủ và có chất lượng những yêu cầu đã dược quy định bởi mục đích và nhiệm vụ dạy học Trong QTDH, người học vừa là khách thể (của quá trình dạy), vừa là chủ thể tích cực, độc lập, sáng tạo của hoạt động học

- Môi trường có ảnh hưởng đến QTDH: Nếu các thành tố: mục đích - nhiệm

vụ, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, GV - HS, kết quả…là các thành tố bên trong thì thành tố môi trường được xem là thành tố bên ngoài của QTDH Các môi trường này không chỉ tác động đến hoạt động dạy học nói chung mà còn ảnh hưởng tới tất cả các thành tố cấu trúc bên trong QTDH Ngược lại: QTDH phát triển

sẽ góp phần thúc đẩy sự vận động đi lên của các môi trường bên ngoài, mối quan hệ của QTDH và môi trường bên ngoài là mối quan hệ biện chứng; mối quan hệ này

Trang 25

phản ánh vai trò của đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp sâu sắc đến nền kinh tế thị trường, đến từng nhân tố của quá trình giáo dục, tới chất lượng và hiệu quả GD&ĐT.

- Những người có tri thức văn hoá, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, có phẩm chất đạo đức và thái độ đúng đắn…sẽ phát huy ảnh hưởng tích cực trở lại đối với nền kinh tế xã hội…Với ý nghĩa đó, giáo dục có vai trò là động lực, là điều kiện

cơ bản cho sự phát triển kinh tế xã hội

Trong mối quan hệ giữa các thành phần tham gia QTDH, PTDH chở thông điệp đi theo một PPDH nào đó Trong lý luận dạy học: QTDH là một QTTT bao gồm sự lựa chọn, sắp xếp và truyền đạt thông tin trong môi trường sư phạm thích hợp, tối ưu cho người học Trong bất kì tình huống dạy - học nào cũng có một thông điệp truyền đi, thông điệp đó thường là nội dung của chủ đề được dạy, cũng có thể

là các câu hỏi về nội dung cho người học và các phản hồi từ người học, kể cả sự kiểm soát quá trình này về sự nhận xét, đánh giá các câu trả lời hay các thông tin khác PTDH chính là cầu nối truyền thông tin từ người thầy tới HS và ngược lại

Sơ đồ 1.2 Quá trình dạy học theo quan điểm truyền thông

Trong lý luận dạy học thì PTDH có những vai trò sau:

PTDH được sử dụng trong QTDH, giúp cho GV tổ chức và tiến hành hợp lý,

có hiệu quả của QTDH để có thể thực hiện được những yêu cầu của chương trình học tập PTDH chỉ phát huy hiệu quả cao nhất khi: GV sử dụng nó với tư cách là phương tiện tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của HS, còn đối với HS thông qua làm việc với PTDH để hình thành những tri thức, kỹ năng, thái độ và hình thành nhân cách

Trang 26

PTDH có vai trò quan trọng trong QTDH: nó thay thế cho những sự vật, hiện tượng và các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà GV và HS không thể tiếp cận trực tiếp được PTDH giúp cho GV phát huy được tất cả các giác quan của HS trong quá trình tiếp thu kiến thức, giúp HS nhận biết được quan hệ giữa các hiện tượng, các khái niệm, quy luật làm cơ sở cho việc rút ra những tri thức và sự vận dụng vào thực tế Như vậy: nguồn tri thức mà HS nhận được trở nên đáng tin cậy và được nhớ lâu bền hơn

PTDH làm cho việc dạy-học trở nên cụ thể hơn, vì vậy tăng khả năng tiếp thu kiến thức về sự vật, hiện tượng, các quá trình phức tạp mà bình thường HS khó nắm vững, sử dụng PTDH có thể rút ngắn thời gian giảng dạy của GV mà việc lĩnh hội kiến thức của HS lại nhanh hơn, vững chắc hơn

PTDH là công cụ trợ giúp đắc lực cho GV trong quá trình tổ chức hoạt động học tập ở tất cả các khâu của QTDH, như: Tạo động cơ học tập và kích thích hứng thú nhận thức, hình thành kiến thức mới, củng cố hoặc kiểm tra kiến thức của HS PTDH giúp GV có nhiều thời gian và cơ hội thuận lợi để tổ chức, hướng dẫn HS tự chiếm lĩnh tri thức mới, do đó làm tăng hiệu quả dạy - học

PTDH dễ dàng gây được cảm tình, sự chú ý của HS và cuốn hút đối với HS, khi sử dụng PTDH, GV có thể kiểm tra một cách khách quan khả năng tiếp thu kiến thức cũng như sự hình thành kỹ năng, kỹ xảo của HS Đối với trẻ em khuyết tật thì PTDH lại càng chiếm vị trí quan trọng: Ví dụ: trẻ em chậm phát triển trí tuệ cần có các khóa học được cấu trúc cao hơn tùy khả năng tiếp thu và tổ hợp các thông tin vào bộ nhớ có nhiều hạn chế Chúng cần được cung cấp các thông điệp thuộc phạm

vi của bài học được lặp đi lặp lại nhiều lần để chúng có thể phát triển các vấn đề đã được học, còn HS nghe kém và nhìn kém cần nhiều tư liệu học tập khác nhau Phải tăng cường các phương tiện nghe cho các em nhìn kém hơn bình thường bởi vì: PTDH có vai trò cực kì quan trọng đối với trẻ em khuyết tật, nó không những giúp cho các em học hỏi thêm được nhiều tri thức mà còn giúp các em hòa nhập được với cộng đồng không bị mặc cảm

Trang 27

Ngày nay với những thành tựu của khoa học và công nghệ thì PTDH càng được phát triển cùng với sự ra đời của các phương tiện nghe nhìn hiện đại làm cho PTDH ngày càng đóng vai trò quan trọng trong QTDH; những thành tựu đó đã cho phép đưa vào những nội dung diễn cảm và hứng thú làm thay đổi phương pháp và hình thức tổ chức dạy - học, làm tăng nhịp độ của QTDH, tạo nên phong cách mới

và trạng thái tâm lý mới Nhưng dù cho PTDH có hiện đại đến đâu thì nó vẫn chỉ là công cụ trong tay người GV, giúp họ thực hiện có hiệu quả QTDH

1.2.5 Bài giảng điện tử

Hiện nay ở Việt Nam, phong trào xây dựng các BGĐT của các môn học trên máy vi tính đang phát triển rất mạnh mẽ, tuy nhiên có rất ít tác giả đưa ra khái niệm

về BGĐT và các khái niệm đưa ra cũng chưa thống nhất

Sau đây là một số khái niệm của các tác giả:

Theo Vương Đình Thắng, BGĐT được hiểu là toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của GV và hoạt động học tập của HS cùng các phương tiện dạy và học (như tranh ảnh, biểu bảng, biểu đồ các vi deo - clip ) của một tiết học, được số hoá và cài đặt vào máy vi tính dưới dạng một chương trình nhằm thực hiện mục đích của QTDH đã đặt ra

Theo tác giả Lê Công Triêm, BGĐT là một hình thức tổ chức dạy học mà ở

đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của GV và HS đều được "chương trình hoá"

do GV điều khiển thông qua môi trường Multimedia do máy vi tính tạo ra[26]

Từ các định nghĩa đã được trình bày ở trên, có thể nhận xét và đánh giá như sau:

- Các điểm chung: Các tác giả đều cho rằng, BGĐT là bài giảng đã được chương trình hoá và đưa vào máy vi tính

- Các điểm chưa thống nhất:

Trang 28

Theo cách hiểu thứ nhất: BGĐT là bản kế hoạch hoạt động dạy - học của GV

và HS Đây là cách hiểu của giáo án điện tử; vì giáo án điện tử là bản kế hoạch hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS đối với một bài học ở trên lớp theo một cấu trúc chặt chẽ, 1ogic và được cài đặt vào máy tính dưới dạng một chương trình nhằm thực hiện mục đích của quá trình dạy học Do vậy, giáo án điện tử chính là bản thiết kế của BGĐT

Theo cách hiểu thứ hai: BGĐT là một hình thức tổ chức dạy học Trong khi đó: hình thức tổ chức dạy học là cách thức tổ chức hoạt động dạy học ở thời gian và địa điểm nhất định, với các phương pháp, PTDH cụ thể nhằm giải quyết các nhiệm

vụ dạy học Khi tổ chức hoạt động dạy học, BGĐT là một chương trình dạy học được GV điều khiển theo tiến trình dạy học, trong đó GV sử dụng phối hợp và linh hoạt với các phương pháp, PTDH cụ thể, với hình thức tổ chức dạy học hợp lý nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học Do BGĐT không phải là một hình thức tổ chức dạy học Có thể đưa ra một số đặc trưng của BGĐT như sau:

- BGĐT được thiết kế bao gồm toàn bộ hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS đối với một bài học ở trên lớp theo một cấu trúc chặt chẽ, logic và hợp

lý, được quy định bởi logic của môn học và logic nhận thức của HS, được cài đặt vào máy vi tính dưới dạng một chương trình cụ thể nhằm thực hiện tốt mục đích dạy học Xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế BGĐT là hai cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể, đó là: thực hiện dạy - học với sự hỗ trợ của máy vi tính

- Nét đặc trưng cơ bản của BGĐT để phân biệt với bài giảng truyền thống,

đó là, các kiến thức trong bài giảng được trình bày dới dạng văn bản, sơ đồ, tranh ảnh, vi deo - clip và được đặt liên kết giữa các đối tượng trong bài giảng

- Khi tổ chức hoạt động dạy học ở trên lớp, BGĐT được GV điều khiển theo tiến trình dạy học, từ đó, góp phần đạt được mục tiêu của bài học Trong quá trình

sử dụng BGĐT, GV phối hợp với các phương pháp, PTDH khác để bài giảng thu được kết quả tốt nhất BGĐT có thể được sử dụng dưới hình thức dạy học đồng loạt hoặc dưới hình thức học tập theo nhóm tại lớp, hình thức dạy học cá nhân

Trang 29

Trên cơ sở định nghĩa của các tác giả và các đặc trưng cơ bản của BGĐT, BGĐT được định nghĩa như sau:

BGĐT là một chương trình dạy học được số hoá và cài đặt vào máy vi tính, ở

đó thể hiện toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của GV và HS, được GV điều khiển theo tiến trình dạy học, cùng với các phương pháp, PTDH cụ thể, với hình thức tổ chức dạy học thích hợp nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học

Phân biệt sự khác nhau giữa giáo án điện tử và giáo án truyền thống

- Sự giống nhau:

Giáo án (giáo án điện tử hay giáo án truyền thống) là một phương tiện vô cùng quan trọng không thể thiếu đối với người GV khi lên lớp làm nhiệm vụ dạy học, nó được xem như là một phương tiện bắt buộc đối với GV trong hoạt động dạy học

Khi thiết kế bài giảng (truyền thống hay điện tử) đều phải quán triệt các yêu cầu:

# Quán triệt mục tiêu của bài học về kiến thức, kỹ năng thái độ

# Nắm được các yêu cầu đổi mới trong việc thiết kế bài học

# Hiểu biết sâu sắc nội dung của bài học, trên cơ sở đó xác định đúng đắn phần trọng tâm của bài

# Biết lựa chọn các phương pháp dạy học tích cực theo tinh thần đổi mới

# Nắm chắc đặc điểm tâm lý của đối tượng HS để có những tác động phù hợp

# Biết xây dựng và sử dụng khéo léo hệ thống câu hỏi cho từng đối tượng

HS

# Có kiến thức thực tiễn phong phú để minh họa cho bài học

Trang 30

Bản thiết kế bài giảng (truyền thống hay điện tử) đều phải thể hiện rõ được hai loại hoạt động chủ yếu: Hoạt động của GV và hoạt động của HS Nội dung của bài học được chia thành các đơn vị hoạt động: hoạt động 1, hoạt động 2,

- Sự khác nhau

Nội dung dạy học bao gồm toàn

bộ tri thức trong giáo trình, sách

giáo khoa hiện hành, được diễn

đạt dưới dạng văn bản là chủ yếu,

đôi khi có sử dụng mô hình, sơ

đồ, hình vẽ…

Nội dung dạy học bao gồm toàn bộ tri thức cô đọng, chủ yếu của chương trình đại trà và những tri thức mở rộng, được diễn đạt dưới dạng văn bản, bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ, âm thanh, video-clip…

Kế hoạch hoạt động của thầy và

trò được GV ghi ra giấy

Kế hoạch hoạt động của thầy và trò được đưa vào máy vi tính dưới dạng một chương trình, trong đó có sử dụng các siêu liên kết nhằm kết nối giữa các mục với nhau, giữa bài mới

và bài cũ có liên quan, giữa lý thuyết với bài tập, giữa nội dung kiến thức cơ bản và mở rộng, giữa các mục và trợ giúp…

Thời lượng dành cho việc truyền

đạt lý thuyết là nhiều hơn

Thời lượng dành cho việc truyền đạt lý thuyết giảm, tăng thời gian cho thực hành

Phần kiểm tra, đánh giá sau khi

kết thúc bài học có thể là các câu

hỏi vấn đáp, hoặc viết, khó có thể

kiểm tra được toàn lớp và cho

biết kết quả tức thời

Bao gồm các câu hỏi trắc nghiệm khách quan, được số hóa và đưa vào máy vi tính, cho biết kết quả tức thời về kết quả học tập, những sai sót, ưu–nhược điểm…để kịp thời điều chỉnh trong quá trình dạy và học

Trang 31

1.2.6 Bài tập điện tử:

Để đưa ra khái niệm bài tập điện tử: trước hết, cần tìm hiểu một số khái niệm liên quan

- "Bài tập" theo nghĩa chung nhất: dùng để chỉ một phương tiện hoạt động

nhằm rèn luyện thể chất và tinh thần (trí tuệ), trong dạy học, bài tập là một PTDH

- Trong giáo dục, theo từ điển tiếng việt do Hoàng Phê chủ biên (HN, 1994), thuật ngữ “bài tập" có nghĩa là bài ra cho HS làm để vận dụng những điều đã học" Những định nghĩa trên: chỉ mới giải thích về mặt ngữ nghĩa chứ chưa làm rõ được bản chất của khái niệm "bài tập"

- Bài tập được hiểu là một hệ thống thông tin xác định bao gồm hai tập hợp gắn bó chặt chẽ với nhau và tác động qua lại với nhau:

ƒ Những điều kiện, tức là tập hợp những dữ liệu xuất phát, là cái đã cho, diễn tả trạng thái ban đầu của bài tập, từ đó cho phép tìm ra phép giải

ƒ Những yêu cầu, cái cần tìm là trạng thái mong muốn đạt tới

Hai tập hợp này tạo thành bài tập nhưng chúng lại không phù hợp với nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau từ đó xuất hiện nhu cầu phải biển đổi chúng để khắc phục sự không phù hợp hay mâu thuẫn giữa chúng

Tóm lại, có thể hiểu bài tập là một hệ thông tin xác định bao gồm những điều kiện và những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học, đòi hỏi người học một lời giải đáp, mà lời giải đáp này về toàn bộ hoặc từng phần không ở trạng thái có sẵn của người giải tại thời điểm mà bài tập được đặt ra

"Câu hỏi": là thuật ngữ dùng để chỉ việc nêu vấn đề trong nói hoặc viết, đòi

hỏi phải có cách giải quyết Trong dạy học, câu hỏi mà GV đưa ra là những vấn đề

mà GV đã biết và HS đã học, hoặc trên cơ sở những kiến thức đã học mà trả lời một cách thông minh, sáng tạo Vì vậy, câu hỏi trong dạy học thường mang yếu tố khám phá hoặc khám phá lại dưới dạng một thông tin khác bằng cách yêu cầu HS tìm ra mối quan hệ, liên hệ, quy tắc con đường tạo ra cách giải quyết mới

Trang 32

Câu hỏi và bài tập có điểm giống và khác nhau, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, về mặt chức năng dạy học: câu hỏi và bài tập đều là nhiệm vụ được đặt ra cho

HS, là phương tiện để GV tổ chức hoạt động nhận thức, hoạt động thực hành cho

HS Đồng thời: chúng cũng là phương tiện để kiểm tra đánh giá và tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả nhận thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho HS Về hình thức, câu hỏi chỉ nêu yêu cầu, nhiệm vụ mà HS cần trả lời, còn bài tập, vừa có dữ liệu, điều kiện vừa có yêu cầu nhiệm vụ HS cần giải quyết, câu hỏi trở thành bài tập hoặc mang tính chất bài tập khi nó mang yếu tố "vấn đề" - nêu và giải quyết vấn đề

cố tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo

Chức năng chủ yếu của bài tập điện tử: là dùng để kiểm tra, đánh giá và giúp người học tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả học tập của mình, đồng thời nó còn giúp người học rèn luyện kỹ năng vận đụng tri thức lý thuyết để giải quyết các bài tập, giúp họ củng cố, khắc sâu tri thức đã học Từ đó, bài tập điện tử được định nghĩa như sau:

Bài tập điện tử là các nhiệm vụ học tập có tính chất vấn đề mà HS cần phải giải quyết trên cơ sở những tri thức, kỹ năng đã có, được đưa vào máy vi tính dưới dạng một phần mềm, qua đó, nhằm giúp HS củng cố tri thức rèn luyện các kỹ năng,

kỹ xảo, nhằm kiểm tra đánh giá và tự kiểm tra, tự đánh giá

1.3 Mối quan hệ giữa các yếu tố của quá trình dạy học

Trang 33

Để dạy học: phải có người hướng dẫn là GV, phải có người học là HS-SV, phải có nội dung để học và phải có môi trường học tập hoặc những điều kiện được thiết lập để GV và HS-SV làm việc với nội dung học tập Như thế có thể coi dạy học gồm bốn thành phần cơ bản: GV, HS-SV, nội dung và môi trường học tập Trong phần nghiên cứu này liên quan chủ yếu đến môi trường học tập trên lớp và cụ thể hơn là môi trường học tập có sự tham gia của máy vi tính

1.3.1 Các khả năng cơ bản của máy vi tính

Trong CNTT, máy vi tính là bộ phận chính đóng vai trò chủ đạo trong việc giao tiếp và thu nhận thông tin Do vậy, nó đã có ở hầu hết trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội Sở dĩ như vậy là vì nó có các khả năng ưu việt sau:

- Máy vi tính là thiết bị tạo ra, lưu trữ trong máy và hiển thị lại trên màn hình một khối lượng thông tin vô cùng lớn dưới dạng văn bản, hình ảnh… mà con người

có thể tiếp nhận được, hơn nữa việc truy cập thông tin hết sức dễ dàng, nhanh chóng, chính xác, tiện lợi và rẻ tiền hơn ở mọi phương tiện thông thường khác

- Máy vi tính có khả năng tính toán, xử lý cực nhanh các phép tính với độ chính xác cao Chức năng ưu việt này giúp cho con người thực hiện những khối lượng công việc tính toán vô cùng lớn trong khoảng thời gian vô cùng nhỏ Mặt khác, các dữ liệu đã thu thập được qua tính toán, xử lý, cho ra các kết quả được hiển thị dưới dạng chuẩn như: biểu bảng, biểu đồ, đồ thị tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu

- Máy vi tính còn tạo ra xã hội mới với đặc thù đặc biệt - xã hội nối mạng (Networking Social), với xã hội được nối mạng, mọi thành viên đều được nối với nhau bằng mạng máy tính toàn cầu, mọi cá nhân đều có thể liên lạc với nhau bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu Thành tựu tạo ra sự thay đổi đó chính là Internet, internet

là một hệ thống gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau trên phạm vi toàn thế giới

Trang 34

- Máy vi tính còn có thể tạo ra được một thế giới ảo: thế giới ảo trong đó không chứa đựng các đối tượng vật lý cụ thể mà chỉ là những biểu tượng về những đối tượng vật chất, thế giới ảo đang ngày càng phát triển và tác động sâu sắc tới từng thành viên của nhân loại, nó làm phong phú và đa dạng hơn môi trường sống của con người

- Nhờ phần mềm, thông qua máy vi tính có thể điều khiển hoàn toàn tự động các quá trình theo chương trình đặt sẵn

1.3.2 Các khả năng hỗ trợ của máy vi tính trong dạy học

Nhờ những ưu điểm nổi trội, hiện nay, máy vi tính đã được ứng dụng vào tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đối với ngành giáo dục đào tạo, khi khai thác

có hiệu quả, nó có thể hỗ trợ được tất cả các khâu của quá trình dạy học như truyền đạt tri thức, rèn luyện kỹ năng, ôn tập củng cố, kiểm tra, đánh giá Vậy máy vi tính

có những khả năng hỗ trợ cơ bản nào trong quá trình dạy học?

1.3.2.1 Khả năng hỗ trợ khâu truyền đạt và lĩnh hội tri thức mới

Trong hoạt động dạy học thì: hoạt động dạy là hoạt động tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS, mà một trong các nhiệm vụ tổ chức điều khiển hoạt động nhận thức của HS là việc tổ chức điều khiển HS tri giác trực tiếp những hiện tượng, đối tượng được nghiên cứu Điều này bắt nguồn từ vai trò của nhận thức cảm tính trong quá trình nhận thức, nhận thức cảm tính cung cấp tài liệu cho quá trình tư duy, tư duy phải dựa trên những tài liệu cảm tính, trên những kinh nghiệm, trên cơ

sở trực quan sinh động Nhận thức cảm tính: là một khâu của mối liên hệ trực tiếp giữa tư duy với hiện thực, là cơ sở của những khái quát kinh nghiệm dưới dạng các khái niệm, các quy luật Do đó, V.I Lê-Nin đã đưa ra công thức nổi tiếng về quá

trình nhận thức: "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan " Xét toàn bộ quá trình nhận thức chung của loài người cũng như

của HS đều thể hiện theo công thức đó, song trong từng giai đoạn cụ thể, tùy theo

Trang 35

điểm xuất phát trong quá trình nhận thức mà có thể đi từ cụ thể đến trừu tượng hoặc

từ trừu tượng đến cụ thể

Máy vi tính tạo ra môi trường đa phương tiện với nhiều hình thức biểu diễn khác nhau như: văn bản, hình ảnh (biểu bảng, bản đồ, ảnh tĩnh, động ) và âm thanh được trình bày theo một kịch bản đã vạch sẵn, nhằm đạt hiệu quả tối đa qua quá trình học tập đa giác quan Nó được lưu giữ lại và trình diễn cho HS, làm cho nội dung tri thức trở nên dễ nhớ, dễ hiểu và nhớ lâu hơn, vì độ bền vững của tri thức chỉ

có thể đạt được khi người học tiếp thu chúng bằng nhiều con đường khác nhau dưới nhiều hình thức khác nhau Trong công tác nghiên cứu, với những đối tượng không thể quan sát trực tiếp được như các hệ vi mô, vĩ mô, các quá trình biến đổi quá nhanh hoặc quá chậm, sự nguy hiểm hoặc không có thiết bị thì con người thường

sử dụng phương pháp mô hình hoá để mô tả một cách đơn giản, gần đúng cấu trúc vật chất Sau đó, cho mô hình vận động theo những quy luật của đối tượng thật, quá trình này gọi là sự mô phỏng Nhờ việc xây dựng chính xác các mô hình đó trên máy vi tính dưới sự trợ giúp của các phần mềm điều khiển, người ta có thể mô phỏng một cách sinh động, trung thực và đầy thuyết phục các đối tượng thực cần nghiên cứu như: Sự chuyển động của một hành tinh trong hệ mặt trời, của một điện

tử quay xung quanh hạt nhân, sự vận hành của hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, sự phát triển của một loài cây từ lúc gieo hạt cho đến khi ra hoa kết quả làm cho nội dung của nó trở nên dễ hiểu, dễ nhớ

Trên cơ sở tri giác tài liệu trực quan (tri giác mô hình, hình ảnh tĩnh, động,

âm thanh ) từ máy vi tính, HS xây dựng biểu tượng chính xác làm cơ sở cho việc hình thành khái niệm, HS tiến hành các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá để hình thành khái niệm, phán đoán, suy lý và qua đó, các thao tác tư duy ngày càng được hoàn thiện hơn

1.3.2.2 Khả năng điều khiển, kiểm tra

Máy vi tính tự động lưu giữ và đánh giá kết quả học tập của HS bao gồm cả mặt mạnh, mặt yếu và ghi lại thời gian HS trả lời câu hỏi, kịp thời đưa ra các thông

Trang 36

tin phản hồi bao gồm các yêu cầu, hướng dẫn, những nội dung kết quả trả lời của HS Như vậy: máy vi tính cho GVvà HS là bức tranh chính xác về sự tiến bộ của

HS trong quá trình tiếp thu tri thức, qua đó giúp GV kịp thời điều chỉnh phương pháp giảng dạy và sửa chữa cho từng HS, giúp HS tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình cho phù hợp và hiệu quả

Việc kiểm tra kiến thức của HS bằng máy vi tính luôn đảm bảo được tính công bằng, chính xác, khách quan, nhờ đó mà tính trung thực của HS cũng được rèn luyện Dạy học bằng máy vi tính đã góp phần giáo dục nhân cách người lao động mới Như vậy, máy vi tính được xem là một phương tiện kiểm tra có nhiều thế mạnh hơn các phương tiện truyền thông khác, luôn đảm bảo mối liên hệ ngược trong, ngược ngoài, điều khiển, điều chỉnh kịp thời hoạt động học tập của HS

Máy vi tính tạo điều kiện cho người học hoạt động độc lập tới mức độ cao, tách xa thầy giáo trong khoảng thời gian dài mà vẫn đảm bảo mối liên hệ ngược trong quá trình dạy học Do đó, việc sử dụng máy vi tính trong quá trình dạy học dẫn tới kiểu dạy học mới - dạy học cá thể hoá Mỗi HS ngồi trước màn hình có thể học theo tiến độ riêng, không cần sự giám sát trực tiếp của GV, người này không phụ thuộc vào người kia

Với dạy học bằng máy tính điện tử, HS không bị hạn chế học tập theo một thời khoá biểu, theo không gian học tập ở trên lớp Các em có thể học tập ở bất cứ nơi đâu, ở bất cứ lúc nào, có thể ở nhà máy, ở xưởng trường, vườn trường, có thể đặt máy vi tính tại phòng nghỉ trong giờ ra chơi, HS có thể tìm kiếm tri thức, rèn luyện kỹ năng, giải trí thông qua các trò chơi học tập

Như vậy, dạy học bằng máy vi tính là hình thức dạy học theo nhu cầu, sự hòa nhập giữa CNTT và viễn thông dẫn tới hình thành những mạng máy tính, đặc biệt là internet cung cấp những kho thông tin và tri thức khổng lồ GV và HS có thể sử dụng cơ sở dữ liệu của mạng, tra cứu sách, tư liệu ở ngân hàng dữ liệu trung tâm, trích đọc, trích in những phần cần thiết một cách nhanh chóng và thuận tiện Máy vi tính giúp cho người học có thể giao lưu với nhau mà không bị hạn chế bởi thời gian

Trang 37

và khoảng cách, có thể dạy học từ xa và mang tính chất giao tiếp chủ động Máy vi tính tạo điều kiện cho việc thực hiện những ý tưởng vĩ đại trong giáo dục như học mọi nơi, học mọi lúc, học suốt đời, nâng cao tính nhân văn, dân chủ của nền giáo dục Máy vi tính có thể giúp người học ở mọi lúc, mọi nơi đều có khả năng chinh phục khoảng cách, tiếp thu nội dung giáo dục hiện đại nhất ở địa điểm tuỳ ý Họ có thể tuỳ chọn chương trình học, chọn thầy dạy, có thể học không chỉ một thầy giỏi,

có thể giao lưu với nhiều bạn học ở những nơi khác nhau Vì thế mọi HS trên lãnh thổ đều có điều kiện tiếp thu chương trình học, thậm chí thầy học như nhau

Với MTĐT, GV có thể cài đặt lên mạng những bài dạy mẫu, có thể dạy học cho cả lớp hoặc chia lớp thành nhiều nhóm hội thoại với nhau Thông qua mạng:

GV có thể hướng dẫn, kiểm tra từng nhóm, từng HS, mạng cho phép hội thoại giữa

GV với HS và các HS với nhau

Khả năng liên lạc của máy vi tính được sử dụng nhiều trong các trường hợp

mà mối liên lạc trực tiếp giữa người dạy và người học gặp nhiều khó khăn Khi đó, các bài học, bài tập, bài kiểm tra được gửi và nhận được dạng các thư điện tử Với

sự phát triển rộng rãi của mạng internet và hệ thống đa phương tiện thì khả năng này của máy vi tính càng được phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết

1.3.2.3 Khả năng hỗ trợ công tác luyện tập và rèn luyện kỹ năng

Máy vi tính với các phần mềm dạy học để luyện tập thông qua hệ thống các bài tập, hệ thống bài tập đó có thể lặp lại vô hạn cho đến khi HS nắm vững tri thức, rèn luyện và củng cố vững chắc kỹ năng, kỹ xảo cần hình thành

Trong quá trình HS làm việc trên máy tính, máy thu nhận những thông tin về diễn biến của kết quả học tập Do đó, HS có thể rèn luyện kỹ năng với nhịp độ hoàn toàn phù hợp với khả năng của mình, tránh được tình trạng HS khá-giỏi mất thời gian chờ đợi HS kém hoặc HS kém phải gắng gượng bỏ qua những thao tác mà mình chưa nắm vững để chạy theo HS khá

Luyện tập hình thành kỹ năng trên máy vi tính giúp HS có điều kiện tiếp xúc nhiều hơn với thực tiễn như: quan sát các thí nghiệm thực, các tiết học cụ thể, các

Trang 38

hoạt động ngoại khóa đã được chụp ảnh hoặc quay phim trước khi làm việc với đối tượng thực, giúp tiết kiệm được thời gian chuẩn bị của thầy và nghiên cứu của trò Việc tạo ra các vi thế giới chỉ tồn tại trên máy vi tính mà quy luật vận động của chúng tuân theo quy luật vận động của thế giới thực đã tạo ra những khả năng tốt phát huy tính độc lập, tự giác, chủ động sáng tạo của HS Các sự vật hiện tượng cần được tái tạo, khảo sát quá trình vận động của chúng, nêu các giả thuyết để giải thích, kiểm tra, khẳng định tính đúng đắn hay bác bỏ giả thuyết, rút ra kết luận là những tri thức khoa học mới và sau đó vận dụng vào thực tiễn , HS có thể tiến hành cả quá trình đó trên môi trường vi thế giới Bên trong khả năng này là tư tưởng, là những cơ sở tâm lý của việc sử dụng các PPDH hiện đại: dạy học nêu và giải quyết vấn đề, dạy học thông qua hoạt động, đó cũng chính là một trong các hướng của việc đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay

1.3.2.4 Những khả năng khác

Ngoài những khả năng trên, máy vi tính còn được dùng để tạo ra những trò chơi hết sức phong phú, giúp cho HS có thể vừa giải trí, vừa học tập Qua đó, có thể hình thành động cơ học tập, gây hứng thú, làm giàu hoặc củng cố nhận thức cho HS, rèn luyện tốc độ phản ứng, khả năng phán đoán, phát triển năng lực trí tuệ Máy vi tính còn được dùng như công cụ phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và công tác quản

lý trong ngành GD&ĐT

1.3.2.5 Những mặt hạn chế của máy vi tính trong dạy học

Nếu HS chỉ giao tiếp với máy, tách rời hoàn toàn với bạn bè và GV thì nó đã xoá bỏ quan hệ HS và xã hội nên được coi là dạy học phi nhân cách, phi xã hội Như vậy, theo quan điểm Tâm lý học và Giáo dục học Mác xít thì dạy học bằng máy vi tính có thể làm phương hại đến sự hình thành nhân cách của HS Mặt khác,

sử dụng máy vi tính trong dạy học có hiệu quả không những đòi hỏi GV phải có năng lực sư phạm cao, mà còn đòi hỏi HS phải có thói quen học theo kiểu CNTT (nên phải cần thời gian dài cho việc hình thành thói quen đó) Thậm chí, nếu lạm dụng việc sử dụng máy vi tính trong dạy học thì sẽ làm phân tán chú ý của HS

Trang 39

Chính vì vậy: chỉ nên coi máy vi tính là phương tiện hỗ trợ trong QTDH, chứ không thể thay thế hoàn toàn GV

Tóm lại: Do khả năng thu nhận, lưu trữ, xử lý, cung cấp và trình diễn thông tin dưới nhiều hình thức khác nhau (văn bản, hình ảnh, âm thanh…) nên khả năng được coi là nổi bật và có tính đặc thù của máy vi tính là khả năng hỗ trợ công tác truyền đạt và lĩnh hội tri thức mới Khả năng của máy vi tính đối với QTDH ngày càng được mở rộng, hỗ trợ tốt cho mọi giai đoạn của tiến trình dạy học và trở thành phương tiện tạo nên một "Môi trường giáo dục có tính tương tác cao", đáp ứng được những yêu cầu mới của “Nền giáo dục điện tử”, của một “Xã hội học tập”

Tính khả thi của việc áp dụng công nghệ thông tin vào dạy học môn Máy lạnh công nghiệp

Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của ngành CNTT, việc ứng dụng của

nó đã thâm nhập vào hầu hết tất cả các lĩnh vực của cuộc sống hằng ngày, các lĩnh vực kinh tế, khoa học, kỹ thuật việc đưa CNTT vào ứng dụng trong phương pháp giảng dạy cũng ngày càng phổ biến

Tại Trường TCN KTCN Hùng Vương, Khoa điện lạnh đã được trang bị máy tính cấu hình cao, máy chiếu projetor phục vụ cho công tác giảng dạy của Khoa Đội ngũ GV có tuổi đời tương đối trẻ, đây là một trong những điều kiện vô cùng thuận lợi trong việc sử dụng các thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác giảng dạy Như vậy tính khả thi của việc sử dụng PTDH hiện đại (máy vi tính) ở Khoa Điện lạnh là có cơ sở

1.3.3 Đặc điểm tâm lý của HS-SV

HS-SV: là một tầng lớp xã hội, một tổ chức xã hội quan trọng đối với mọi thể chế chính trị Họ là nhóm người có vị trí chuyển tiếp, chuẩn bị cho một đội ngũ trí thức có trình độ và nghề nghiệp tương đối cao trong xã hội Họ sẽ là nguồn dự trữ chủ yếu cho đội ngũ những chuyên gia theo các nghề nghiệp khác nhau trong cấu trúc của tầng lớp trí thức xã hội

Trang 40

Tuy nhiên do còn đang ngồi trên ghế nhà trường, chưa tham gia trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất nên các thanh niên HS-SV chưa hoàn toàn là một người tự lập về mọi mặt

Những đặc điểm tâm lý của HS-SV sẽ chịu sự chi phối bởi những đặc điểm phát triển thể chất, môi trường và vai trò xã hội cụ thể mà trong đó họ sống và hoạt động, rất phong phú, đa dạng và không đồng đều Sau đây là những nét cơ bản:

1.3.3.1 Sự phát triển về nhận thức, trí tuệ của HS-SV

Đặc điểm hoạt động nhận thức của HS-SV có những nét cơ bản sau:

- HS-SV tham gia học tập nhằm lĩnh hội các tri thức, hệ thống khái niệm khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển các phẩm chất nhân cách Hoạt động nhận thức của HS-SV vừa gắn kết chặt chẽ với nghiên cứu khoa học, vừa không tách rời hoạt động lao động nghề nghiệp

- Hoạt động học tập của HS-SV được diễn ra theo thời gian chặt chẽ nhưng không quá khép kín mà được mở rộng theo khả năng và sở trường để họ có thể phát huy được tối đa năng lực nhận thức của mình trong nhiều lĩnh vực

- Phương tiện nhận thức của HS-SV được mở rộng và phong phú với các thư viện, phòng đọc, phòng thực hành với những thiết bị khoa học cần thiết của từng ngành đào tạo Do đó, phạm vi hoạt động nhận thức của HS-SV rất đa dạng: vừa rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, vừa phát huy việc học nghề một cách rõ rệt

- Hoạt động học tập của HS-SV mang tính độc lập, tự chủ và sáng tạo cao Hoạt động tư duy của họ trong quá trình học tập chủ yếu là theo hướng phân tích, diễn giải, chứng minh các mệnh đề khoa học.Tóm lại, hoạt động nhận thức của HS-

SV thực sự là loại hoạt động trí tuệ đích thực, căng thẳng, cường độ cao và có tính lựa chọn rõ rệt, hoạt động trí tuệ này vẫn lấy những sự kiện của nhận thức cảm tính làm cơ sở Vì vậy: đa số HS-SV lĩnh hội nhanh nhạy, sắc bén các vấn đề khoa học

1.3.3.2 Sự phát triển động cơ học tập của HS-SV

Ngày đăng: 18/07/2017, 20:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đặng Danh Ánh (1996), Bài giảng tâm lý học giáo dục nghề nghiệp, Viện Nghiên Cứu đào tạo và tư vấn Khoa Học Công Nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng tâm lý học giáo dục nghề nghiệp
Tác giả: Đặng Danh Ánh
Năm: 1996
[2] Trần Đức Ba (1994), Máy lạnh, NXB Giáo dục, TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Máy lạnh
Tác giả: Trần Đức Ba
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
[3] Nguyễn Cương (1995), Phương tiện kỹ thuật và đồ dùng dạy học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện kỹ thuật và đồ dùng dạy học
Tác giả: Nguyễn Cương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
[4] Hồ Ngọc Đại (1994), Công nghệ Giáo dục, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ Giáo dục
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
[5] Đỗ Ngọc Đạt (2002), Tiếp Cận hiện đại Hoạt động dạy học hiện đại, NXB ĐH QG HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp Cận hiện đại Hoạt động dạy học hiện đại
Tác giả: Đỗ Ngọc Đạt
Nhà XB: NXB ĐH QG HN
Năm: 2002
[8] Tô Xuân Giáp (1997), Phương tiện dạy học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương tiện dạy học
Tác giả: Tô Xuân Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
[9] Nguyễn Việt Hùng (2004), Thiết kế 3 chiều với SolidWorks 2004, NXB Xây dựng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế 3 chiều với SolidWorks 2004
Tác giả: Nguyễn Việt Hùng
Nhà XB: NXB Xây dựng
Năm: 2004
[10] Nguyễn Thế Hùng (2002), Multimedia và ứng dụng, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Multimedia và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Thế Hùng
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
[11] Trần Bá Hoành (2002) Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực, Tổng Cục dạy nghề số 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
[12] Lê Văn Hồng (2001), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, NXB ĐHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2001
[13] Nguyễn Khang (2009), Bài giảng Nghiên cứu xã hội và khoa học giáo dục, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Nghiên cứu xã hội và khoa học giáo dục
Tác giả: Nguyễn Khang
Năm: 2009
[14] Nguyễn Khang (2009), Bài giảng Quản lý chất lượng giáo dục nghề nghiệp, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Quản lý chất lượng giáo dục nghề nghiệp
Tác giả: Nguyễn Khang
Năm: 2009
[15] Nguyễn Bá Kim (1991), Phương pháp dạy học tin học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tin học
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1991
[16] Nguyễn Xuân Lạc (2008 – 2009), Bài giảng Lý luận và Công nghệ dạy học hiện đại, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Lý luận và Công nghệ dạy học hiện đại
[17] Nguyễn Xuân Lạc (2000 – 2009), Bài giảng Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
[19] Đào Thái Lai (1998), Một số triển vọng đặt ra với nhà trường hiện đại trong bối cảnh cuộc cách mạng thông tin, Tạp chí giáo dục phát triển số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số triển vọng đặt ra với nhà trường hiện đại trong bối cảnh cuộc cách mạng thông tin
Tác giả: Đào Thái Lai
Năm: 1998
[20] Nguyễn Đức Lợi và Phạm Văn Tùy (2006), Máy và thiết bị lạnh, NXB Giáo dục, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Máy và thiết bị lạnh
Tác giả: Nguyễn Đức Lợi và Phạm Văn Tùy
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
[22] Nguyễn Ngọc Quang (1986), Lý luận dạy học đại cương tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại cương tập 1
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1986
[23] Huỳnh Thị Ái Tâm (2007), Thiết kế và sử dụng bài giảng phần Sinh học thực vật 11 THPT theo hướng tích hợp tryền thông đa phương tiện, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế và sử dụng bài giảng phần Sinh học thực vật 11 THPT theo hướng tích hợp tryền thông đa phương tiện
Tác giả: Huỳnh Thị Ái Tâm
Năm: 2007
[30] WebSite: http://sketchup.google.com/training/videos/new_to_gsu.html [31] WebSite: http://tim.vietbao.vn Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w