1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu phương pháp và công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên nền web ứng dụng trong giảng dạy tại trung cấp kỹ thuật tin học hà nội

98 361 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những định hướng về dạy học khác nhau đó – và trong những điều kiện khác nhau của lịch sử – chúng ta có thể có 3 mô hình giáo dục được UNESCO 1998 phân loại như sau: [8] Mô hình Trun

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

NGUYỄN PHƯƠNG THẢO

NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP VÀ CÔNG CỤ HỖ TRỢ LÀM VIỆC NHÓM TRÊN NỀN WEB ỨNG DỤNG TRONG GIẢNG DẠY TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP KỸ THUẬT TIN HỌC HÀ NỘI

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KỸ THUẬT

Chuyên sâu: SƯ PHẠM KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS HUỲNH QUYẾT THẮNG

HÀ NỘI NĂM 2012

Trang 2

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, cho phép tôi được gửi lời

cảm ơn đến Thầy giáo PGS.TS – Huỳnh Quyết Thắng, người đã tận tình chỉ dẫn,

giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo đặc biệt là thầy Bùi Ngọc Sơn khoa Sư phạm kỹ thuật - trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và các cán bộ Viện đào tạo sau đại học - trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã tham gia quản lý, giảng dạy

và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các đồng nghiệp và các em học sinh khoa CNTT, khoa Kinh tế và khoa Quản trị văn phòng trường Trung cấp

kỹ thuật Tin học Hà nội (ESTIH) đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm tại trường

Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè và những người thân trong gia đình đã quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự chỉ dẫn và góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày 10 tháng 2 năm 2012

Tác giả

Nguyễn Phương Thảo

Trang 3

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những gì mà tôi viết ra trong luận văn này là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn đầy đủ

Luận văn này cho đến nay vẫn chưa hề được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo vệ luận văn thạc sĩ nào trên toàn quốc cũng như nước ngoài và cho đến nay chưa hề được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan trên đây

Hà Nội, ngày 10 tháng 2 năm 2012

Tác giả

Nguyễn Phương Thảo

Trang 4

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 2 

DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT 7 

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 8 

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 9 

LỜI MỞ ĐẦU 10 

1 Lý do chọn đề tài 10 

1.1 Yêu cầu của xã hội đối với đào tạo nghề 10 

1.2 Triết lý giáo dục của thế kỷ XXI: 11 

1.3 Xu thế phát triển phương pháp dạy học 11 

1.4 Vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học 13 

1.5 Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những vấn đề trọng tâm hiện nay 13  1.6 Đặc điểm và thực trạng dạy môn Excel và lập trình VBA tại trường Trung cấp kỹ thuật Tin học Hà Nội 14 

2 Lịch sử nghiên cứu 16 

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 16 

3.1 Mục đích nghiên cứu 16 

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 16 

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17 

5 Giả thiết khoa học 17 

6 Phương pháp nghiên cứu 17 

6.1 Phương pháp luận 17 

6.2 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết 17 

6.3 Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 18 

6.4 Các phương pháp xử lý thông tin 18 

7 Đóng góp mới của đề tài 18 

7.1 Về lý luận 18 

7.2 Về thực tiễn 18 

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC THEO NHÓM TRÊN NỀN WEB 20 

1.1 Giới thiệu chung 20 

1.2 Vài nét về lịch sử ra đời của phương pháp học tập nhóm 21 

Trang 5

Trang 4

1.3 Khái niệm về phương pháp và phương pháp dạy học theo nhóm 22 

1.3.1 Khái niệm phương pháp: 22 

1.3.2 Các đặc điểm cơ bản của phương pháp: 23 

1.3.3 Khái niệm phương pháp dạy học 23 

1.3.4 Khái niệm về phương pháp dạy học theo nhóm 24 

1.4 Các cấu trúc cộng tác nhóm 27 

1.4.1 Suy ngẫm - Làm việc theo cặp - Chia sẻ và các biến thể của nó 27 

1.4.2 Bàn tròn (RoundTable) và những biến thể của nó 28 

1.4.3 Các góc (Corners) 29 

1.4.4 Ghép nhóm (Jigsaw và Jigsaw chuyên môn) 29 

1.4.5 Cùng nhau đánh số đầu 31 

1.4.6 Trộn lẫn và Ghép 32 

1.4.7 Cấu trúc Liên tục 32 

1.4.8 Hoặc/hoặc 33 

1.5 Kỹ thuật thành lập nhóm 33 

1.6 Nguyên tắc học tập theo nhóm 35 

1.7 Các yếu tố ảnh hưởng tích cực tới học tập theo nhóm 36 

1.7.1  Có quan niệm đúng đắn về học tập theo nhóm 36 

1.7.2  Cơ cấu tổ chức chặt chẽ, hợp lý 36 

1.7.3  Có các kỹ năng học tập theo nhóm 36 

1.7.4  Các thành viên có ý thức, tích cực trong hoạt động học tập nhóm 39 

1.7.5  Phương pháp tiến hành hoạt động nhóm phù hợp: 39 

1.7.6  Một số các điều kiện khác: 39 

1.8 Khái niệm Web và dạy học nhóm trên Web: 40 

1.8.1 Khái niệm Web: 40 

1.8.2 Khái niệm phương pháp dạy học nhóm trên nền Web: 40 

1.8.3 Các phương pháp làm việc nhóm trên Web: 40 

1.9 Ý nghĩa của dạy học theo nhóm trên Web 41 

1.10 Các điều kiện cần thiết để thực hiện học tập cộng tác theo nhóm trên nền Web 43 

1.11 Các công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên nền Web: 44 

1.11.1 Các công cụ hỗ trợ làm việc nhóm Online 44 

Trang 6

Trang 5

Google Docs: 45 

Conceptboard: 45 

Meetin.gs: 45 

Teamlab: 46 

1.11.2 Các công cụ hỗ trợ làm việc nhóm Offline 46 

Forum: 46 

Email: (Electronic Mail) 48 

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY MÔN EXCEL VÀ LẬP TRÌNH VBA TẠI KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN - TRƯỜNG TRUNG CẤP KỸ THUẬT TIN HỌC HÀ NỘI 50 

2.1 Giới thiệu về trường trung cấp Kỹ Thuật Tin học Hà Nội 50 

2.2 Thực trạng cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên của khoa CNTT 53 

2.3 Thực trạng dạy học môn Excel và lập trình VBA 54 

2.3.1 Chương trình môn học 54 

2.3.2 Mục tiêu của môn học 55 

2 4 Đặc điểm của môn học Excel và lập trình VBA 57 

2 5 Thực trạng dạy học môn Excel và lập trình VBA tại trường Trung cấp Kỹ Thuật Tin Học Hà Nội 58 

2 6 Khảo sát thực trạng áp dụng các phương pháp giảng dạy ở khoa CNTT 58 

CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO NHÓM TRÊN NỀN WEB VÀO GIẢNG DẠY MÔN EXCEL VÀ LẬP TRÌNH VBA TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP KỸ THUẬT TIN HỌC HÀ NỘI 60 

3.1 Mô hình đào tạo làm việc nhóm và trao đổi qua Web : 60 

3.2 Xây dựng quy trình tổ chức làm việc theo nhóm trên nền Web 61 

3.3 Các thành phần trong quy trình: 62 

3.3.1 Xây dựng Website môn học: 62 

3.3.2 Giai đoạn chuẩn bị bài giảng : 62 

3.3.3 Giai đoạn thực hiện bài giảng 64 

3.4 Một số chú ý với giáo viên 67 

3.5 Xây dựng Môn học Excel và lập trình VBA theo phương pháp làm việc nhóm và trao đổi trên nền Web 68 

3.5.1 Yêu cầu môn học 68 

Trang 7

Trang 6

3.5.2 Lựa chọn công cụ để thực hiện phương pháp làm việc nhóm và trao đổi qua

Web đối với môn học Excel và lập trình VBA 72 

CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 76 

4.1 Mục đích của việc thực nghiệm 76 

4.2 Đối tượng và thời gian tiến hành thực nghiệm 76 

4.3 Lựa chọn bài dạy và lựa chọn cấu trúc cộng tác Jigsaw chuyên môn: 76 

4.4 Các bước tiến hành tổ chức làm việc nhóm và trao đổi qua Web: 77 

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88 

A Kết luận 88 

B Kiến nghị 90 

C Hướng phát triển của đề tài 90 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 

PHỤ LỤC 92 

1 Phụ lục 01: Phiếu trưng cầu ý kiến giáo viên 92 

2 Phụ lục 02: Phiếu xin ý kiến giáo viên về phương pháp làm việc theo nhóm trên nền Web 94 

3 Phụ lục 03: Phiếu phán hồi của học sinh 96 

Trang 9

3 Bảng 2.1: Nội dung và phân phối môn học Excel cơ bản

4 Bảng 2.2: Nội dung và phân phối môn học Excel và lập trình VBA

5 Bảng 3.1: Chương trình giảng dạy Excel và lập trình VBA làm việc

nhóm và trao đổi qua Web

6 Bảng 4.1: Kết quả câu 1.1 của giáo viên

7 Bảng 4.2: Kết quả câu 1.2 của giáo viên

8 Bảng 4.3: Kết quả câu 1.3 của giáo viên

9 Bảng 4.4:Kết quả câu 1.4 của giáo viên

10 Bảng 4.5:Kết quả câu 1.5 của giáo viên

11 Bảng 4.6:Kết quả câu 2.1 của giáo viên

12 Bảng 4.7:Kết quả câu 2.2 của giáo viên

13 Bảng 4.8:Kết quả câu 2.3 của giáo viên

14 Bảng 4.9:Kết quả câu 2.4 của giáo viên

15 Bảng 4.10:Kết quả câu 2.5 của giáo viên

16 Bảng 4.11:Kết quả câu 2.6 của giáo viên

17 Bảng 4.12:Kết quả câu 1 của học sinh

18 Bảng 4.13:Kết quả câu 2 của học sinh

19 Bảng 4.14:Kết quả 2 bài kiểm tra

20 Bảng 4.15:Tỷ lệ % xếp loại 2 bài kiểm tra

Trang 10

9 Hình 3.9 : Mô hình đào tạo làm việc nhóm và trao đổi qua Web

10 Hình 3.10: Sơ đồ quy trình tổ chức làm việc theo nhóm và trao đổi

qua Web

11 Hình 3.11: Giao diện Website môn học

12 Hình 3.12 : Giao diện phần mềm Artisteer

13 Hình 3.13 : Giao diện Google Docs

Trang 11

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Yêu cầu của xã hội đối với đào tạo nghề

Trong bối cảnh chung của nền kinh tế tri thức thế giới, trước những yêu cầu của công nghiệp hoá - hiện đại hóa đất nước, trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã định hướng phát triển giáo dục, đào tạo giai đoạn này như sau: “Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá,

xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời” [1]

“Phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức ” [2]

Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đã đạt tốc độ tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch mạnh mẽ Quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta yêu cầu phải đáp ứng đủ số lượng lao động kỹ thuật chất lượng cao cho các ngành kinh tế, nhất là các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ cao như : tin học, tự động hóa, điện, cơ điện tử, chế biến xuất khẩu v.v và đòi hỏi lao động phải được qua đào tạo, có như vậy các doanh nghiệp mới đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế

Để đáp ứng được yêu cầu đó, hệ thống đào tạo nghề kỹ thuật thực hành phải thường xuyên bổ sung, cập nhật, hoàn thiện các chương trình dạy nghề hoặc xây dựng các chương trình dạy nghề mới; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý; đầu tư, đổi mới trang thiết bị giảng dạy và đặc biệt chú trọng đổi mới phương pháp giảng dạy để đào tạo đội ngũ nhân lực kỹ thuật có tay nghề cao trực tiếp làm việc với kỹ thuật, công nghệ mới

Trang 12

Mục đích của việc học của mỗi cá nhân:

Ngày nay việc học của mỗi cá nhân không chỉ là học để biết, để hiểu, để làm, để ứng dụng mà học để cùng sống với nhau và học để làm người

Xây dựng một xã hội học tập:

Giáo dục trong nhà trường (Formal education) cần phải tiến hành song song và/hoặc được tiếp nối bởi giáo dục ngoài nhà trường (informal education) sao cho mọi cá nhân trong xã hội đều có cơ hội tiếp cận mọi nguồn kiến thức bất cứ khi nào cần đến Việc học tập phải trở thành một nhu cầu thường xuyên của mọi cá nhân và

có thể được đáp ứng một cách thường xuyên Điều này là rất cần thiết và cấp bách trong thời đại xã hội thông tin Vì lẽ trong xã hội hiện nay khối lượng kiến thức của con người không ngừng tăng lên như vũ bão, các lĩnh vực hoạt động của con người theo đó cũng thay đổi không ngừng với tốc độ rất cao Con người cần phải có khả năng thích ứng với tốc độ thay đổi đó

1.3 Xu thế phát triển phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học có khuynh hướng tăng cường dần vai trò chủ động của người học trong việc chiếm lĩnh tri thức và kỹ năng cần thiết cho cuộc sống của mỗi

cá nhân Như Jean Vial (1982) đã chia các phương pháp dạy học thành 4 “đời” đi dần từ trọng tâm là người dạy sang trọng tâm là người học: từ giáo điều trong đó người thầy quyền uy, trò mờ nhạt; đến cổ truyền trong đó thầy gợi mở, trò được định hướng; rồi phát triển lên tích cực, lúc này thầy chỉ là người hướng dẫn, trọng tài, còn trò là người chủ động chiếm lĩnh tri thức và phương pháp học tập thứ tư là

Trang 13

Trang 12

phương pháp không chỉ đạo, lúc này vai trò của người thầy mờ nhạt, trò tự giải phóng, tự giáo dục Theo đó tỉ lệ tương quan giữa người dạy và người học diễn ra như sau: Ở đời 1việc dạy học là giải thích, minh họa; ở đời 2 dạy học là lập lại, tái tạo theo mẫu; đời 3 dạy học là cùng tìm tòi, giải quyết và ở đời 4 dạy học là tích cực chiếm lĩnh, nghiên cứu

Với những định hướng về dạy học khác nhau đó – và trong những điều kiện khác nhau của lịch sử – chúng ta có thể có 3 mô hình giáo dục được UNESCO (1998) phân loại như sau: [8]

Mô hình Trung tâm Vai trò người học Công nghệ dạy học

Truyền thống Người đạy Thụ động Bảng phấn/TV/Radio

Thông tin Người học Chủ động Máy tính PC

Bảng 1.1 – Phân loại mô hình giáo dục

Như vậy quan niệm về dạy học phát triển dần từ chỗ “lấy người dạy” làm trung tâm của các hoạt động dạy và học sang “lấy người học làm trung tâm” Thay đổi quan niệm về việc dạy làm cho quan hệ dạy – học có thể được nhìn nhận trong hai mô

hình đối lập nhau Đó là Mô hình dạy học truyền thụ một chiều: (DẠY – GHI

NHỚ) Trong mô hình này thày truyền đạt kiến thức - trò thụ động tiếp thu Thầy độc thoại hay phát vấn, giảng giải - Trò ghi chép (nhớ), học thuộc lòng Thày độc quyền đánh giá Thày là thày dạy: dạy chữ, dạy nghề, dạy người Mô hình thứ hai là

Mô hình dạy học hợp tác hai chiều: (DẠY – TỰ HỌC), trong mô hình này trò tự

mình tìm ra kiến thức dưới sự hướng dẫn của thày Có các đối thoại: trò-trò; trò; có sự hợp tác với bạn và với thày; do thày tổ chức Học cách học, cách ứng xử, cách giải quyết vấn đề, cách sống Trò có thể tự đánh giá, tự điều chỉnh; cung cấp liên hệ ngược cho thày đánh giá Khuyến khích sự tự học

thày-Quá trình phát triển đó kéo theo những thay đổi sâu sắc về quan hệ giữa người học

và người dạy, về cách thức đánh giá tính hiệu quả của quá trình giáo dục và hiệu quả của quá trình học tập Quá trình đó cũng làm thay đổi một cách bắt buộc cách

thức tổ chức và quản lí việc dạy học

Trang 14

Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng

có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy học đồng đẳng, cộng tác nhóm, , cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin và truyền thông

Những khả năng mới mẻ và ưu việt này của công nghệ thông tin và truyền thông đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn cả là cách ra quyết định của con người Do đó, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho học sinh, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần chỉ là “thầy đọc, trò chép” như kiểu truyền thống, học sinh được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân mình

Mặt khác, với chủ trương của Đảng và Nhà nước khuyến khích người học học tập suốt đời và có nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ và khuyến khích người học tham gia một cách chủ động và tự giác vào quá trình học tập của mình (ví dụ các hình thức học theo học chế tín chỉ, học từ xa, học qua mạng…)

1.5 Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những vấn đề trọng tâm hiện nay

Vấn đề phương pháp dạy học (PPDH) trong các nhà trường được xã hội quan tâm ngay từ những năm 70 Đến đầu thập kỷ 90 vấn đề về PPDH và đổi mới PPDH được đặt ra và phát động nhiều lần trong ngành giáo dục nhưng thực tiễn giáo dục ở

Trang 15

Trang 14

các nhà trường chưa đạt hiệu quả cao do PPDH vẫn xoay quanh, thầy đọc - trò ghi

có xen kẽ vấn đáp, giải thích minh họa là chính Kiểu dạy học như vậy không phát huy được tính tích cực của học sinh, làm cho khả năng tự học, tự tìm tòi nghiên cứu của học sinh bị hạn chế

Đổi mới phương pháp dạy học là một trong số những vấn đề trọng tâm hiện nay Bởi vì, với khối lượng kiến thức ngày càng phong phú, rất đa dạng và thay đổi theo thời gian dẫn đến giảng dạy là phải biết khai thác và tận dụng nội lực của người học để họ sẽ tự học suốt đời

Trong những năm gần đây, kỹ năng làm việc theo nhóm (Team work) được coi

là một trong những kỹ năng hàng đầu giúp cho nhân viên làm việc trong bất kỳ công ty nào cũng có khả năng phát triển nghề nghiệp, là một trong những kỹ năng mềm quan trọng cần trang bị cho tất cả học sinh Hơn nữa, với sự phát triển với tốc

độ nhanh chóng của Internet, việc dạy học theo nhóm trực tuyến ngày càng được phát triển mạnh mẽ Hình thức dạy học này mang đến cho người học nhiều thuận lợi: người học không bị ảnh hưởng bởi không gian, tận dụng được chất xám (ví dụ như một học sinh ở Việt Nam có thể theo học một giáo sư rất giỏi tại Mỹ), môi trường học tập mở và là một môi trường lý tưởng để kiến tạo và tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua các họat động được thiết kế bởi người dạy Người học có điều kiện phát triển mạnh mẽ tính chủ động, tư duy sáng tạo và khả năng học hỏi lẫn nhau trong mỗi thành viên của nhóm Kết hợp với một số hình thức dạy học khác sẽ tạo

ra sự phát triển toàn diện và nâng cao chất lượng giảng dạy

1.6 Đặc điểm và thực trạng dạy môn Excel và lập trình VBA tại trường Trung cấp kỹ thuật Tin học Hà Nội

Excel và lập trình VBA là một môn học rất quan trọng đối với chuyên ngành

Kế toán – Tin học của trường Trung cấp Tin học Hà Nội Đây cũng là một môn bổ trợ cho các chuyên ngành khác của trường như: Tin học quản lý, Tin học văn phòng Đây là một môn học được đánh giá cao ở năng lực thực hành Học Tin học nói chung và học Excel và lập trình VBA nói riêng luôn phải đi đôi lý thuyết với thực hành và thực hành đóng vai trò quan trọng và chủ yếu trong nội dung học Tại trường Trung cấp kỹ thuật Tin học Hà Nội, việc học tập và giảng dạy được

tổ chức theo hình thức học tập trung trên lớp Phương tiện phục vụ giảng dạy khá hiện đại và đầy đủ như giáo viên có thể sử dụng máy chiếu tại các phòng học lý

Trang 16

Trang 15

thuyết và thực hành, tại mỗi phòng máy đều có đủ máy kết nối Internet cho học sinh học tập…Như vậy có thể hình dung việc học tập và giảng dạy của học sinh và giáo viên chỉ có thể diễn ra tại một địa điểm cụ thể, việc học tập và giảng dạy cũng chỉ

có thể thực hiện được khi có mặt của cả giáo viên và học sinh Đối với giáo viên, việc đưa ra mục tiêu, nội dung tổng quát, những yêu cầu đối với học sinh… chỉ được thực hiện trên lớp học Đây là những thông tin rất quan trọng với học sinh tuy nhiên nếu chỉ được thực hiện trên lớp học thì các em dễ quên và trong trường hợp học sinh nghỉ học thì khó có được thông tin chính xác Trong quá trình học, học sinh vẫn chưa thực sự chủ động, giáo viên giảng gì thì ghi chép cái đó, không có sự chuẩn bị trước cũng như không đọc các liệu tham khảo… (học sinh không được đọc trước các slide bài giảng hoặc đoạn phim hướng dẫn) Ngoài ra để củng cố kiến thức cho học sinh, các bài tập trắc nghiệm, các bài tập thực hành hay bài tập lớn của môn học, học sinh chỉ có được khi giáo viên giao tại lớp học Có thể nói việc dạy và học hiện nay tại trường còn bị động Hơn nữa, trong khi học các môn học yêu cầu phát triển kỹ năng (các môn thực hành), việc học sinh tiến hành thực hành cá nhân (mỗi học sinh một máy tính) ngay sau khi giáo viên kết thúc các thao tác mẫu là chưa thực sự hiệu quả mà cần thiết các em phải thực hành nhóm để củng cố kỹ năng, em giỏi có thể bổ xung cho em yếu hơn, chậm hơn Chính vì vậy việc phân nhóm và hợp tác làm việc thông qua Web giúp cho giáo viên và học sinh chủ động hơn trong việc học tập, đồng thời tăng khả năng tương tác giữa thầy và trò nhằm

nâng cao chất lượng dạy và học

Môn học Excel và lập trình VBA bao gồm 2 modul : Excel cơ bản và lập trình VBA với thời lượng thực hành chiếm tới 70% thời gian của môn học và các bài thực hành chủ yếu trên máy tính cá nhân, vì vậy đòi hỏi giáo viên phải xây dựng những bài giảng điện tử với các bước rõ ràng, cụ thể, giúp học sinh rèn luyện các thao tác, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, tư duy lập trình Việc học tập sẽ trở nên nhàm chán với học sinh nếu phương pháp giảng dạy chủ yếu là giáo viên thuyết trình – giáo viên thao tác mẫu - học sinh làm bài tập thực hành Nếu như có một phương pháp học tập cộng tác trong môi trường có nối mạng Internet thì công việc sẽ nhanh hơn, việc thay đổi phương pháp thực hành sẽ mang lại hiệu quả lớn hơn

Trang 17

vì thế mà nó được áp dụng ngày một phổ biến trong trường học và nhất là ở những công ty phần mềm và các tổ chức đa quốc gia… Tuy nhiên, cơ sở lý luận và việc dạy học qua Web nhất là học nhóm chưa được nghiên cứu kỹ, vì thế mà việc áp dụng nó vẫn chưa đạt được hiệu quả mong muốn và vẫn chưa trở thành một trào lưu

áp dụng Vì vậy, dạy học nhóm qua Web cần được nghiên cứu tổng thể, sâu sắc hơn nhằm đánh giá hiệu quả cũng như khả năng áp dụng trong thực tiễn ở Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, tôi phải hoàn thành những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu về phương pháp làm việc theo nhóm và tìm hiểu các công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên nền Web

- Vận dụng phương pháp dạy học nhóm và trao đổi qua Web vào dạy học các môn tin học nói chung và môn Excel và lập trình VBA nói riêng

Trang 18

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp dạy học theo nhóm và trao đổi qua Web

- Phạm vi nghiên cứu: Ứng dụng phương pháp dạy học theo nhóm và trao đổi qua Web trong dạy học các môn tin học cụ thể là môn Excel và lập trình VBA

5 Giả thiết khoa học

Nếu ứng dụng một cách hợp lý và khoa học phương pháp dạy học nhóm và trao đổi qua Web trong phần giảng dạy môn Excel và lập trình VBA thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học theo các mức độ:

- Học sinh nắm vững, tự sửa đổi hoặc mở rộng kiến thức cho bản thân

- Đa dạng hóa các hoạt động nhận thức và gây hứng thú học tập cho học sinh

từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo

- Phát triển kỹ năng trí tuệ như: Tư duy logic, giải quyết vấn đề, ra quyết định

- Tạo điều kiện phát triển kỹ năng giao tiếp, SV cùng trao đổi, tranh luận, học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm

- Rèn luyện tác phong làm việc tập thể, hợp tác làm việc

- Học sinh tiếp cận được công nghệ mới và có khả năng hòa nhập nhanh với môi trường làm việc thực tế sau này

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận

- Quan điểm tiếp cận hệ thống

- Quan điểm tiếp cận hoạt động

6.2 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát các nguồn tư liệu để xây dựng cơ

sở lý thuyết cho đề tài

Trang 19

Trang 18

6.3 Các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Quan sát, xây dựng các chương trình thử nghiệm và chương trình môn học minh họa

- Phương pháp điều tra: Trắc nghiệm, phỏng vấn

- Phương pháp chuyên gia : lấy ý kiến các giáo viên

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

6.4 Các phương pháp xử lý thông tin

Phương pháp toán học thống kê: lập bảng số liệu

7 Đóng góp mới của đề tài

7.1 Về lý luận

Dạy học theo nhóm đã từ lâu được coi là một trong những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực và chủ động của người học với lớp học dạy giáp mặt Những nghiên cứu của các nhà khoa học, các chuyên gia trong lĩnh vực phương pháp dạy học cũng chỉ rõ những ưu điểm và hướng phát triển trong tương lai của phương pháp làm việc theo nhóm Trong những năm gần đây, với sự phát triển và ứng dụng sâu rộng các dịch vụ phân tán (Web) đã cho phép tăng hiệu quả làm việc, tiết kiệm chi phí và tạo ra những sản phẩm tối ưu hơn Đề tài này đã góp phần làm sáng tỏ và phong phú thêm lý luận dạy học theo nhóm thông qua sự hỗ trợ của công nghệ mạng (Internet) bằng cách phân tích vấn đề: các cách thành lập các nhóm học tập, nguyên tắc học tập theo nhóm hiệu quả trên Web cùng với những công cụ hỗ

trợ với chi phí ít nhất mang lại hiệu quả cao nhất

7.2 Về thực tiễn

- Đề xuất mô hình và sơ đồ tổ chức dạy học theo nhóm và trao đổi qua Web

- Đề xuất quy trình xây dựng bài giảng môn Excel và lập trình VBA theo nhóm và trao đổi qua Web

- Nghiên cứu và vận dụng các ứng dụng trên nền Web để xây dựng bài giảng môn Excel và lập trình VBA theo hướng làm việc nhóm và trao đổi qua Web

Trang 20

Trang 19

- Áp dụng hiệu quả phương pháp dạy học theo nhóm và trao đổi qua Web vào quá trình giảng dạy môn Excel và lập trình VBA tại trường Trung cấp kỹ thuật Tin học Hà Nội

Trang 21

Trang 20

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHƯƠNG PHÁP LÀM VIỆC THEO

NHÓM TRÊN NỀN WEB

1.1 Giới thiệu chung

Sự thành công của việc giảng dạy phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp dạy học được giáo viên lựa chọn Cùng một nội dung nhưng tùy thuộc vào phương pháp

sử dụng thì sẽ có những kết quả khác nhau Làm việc theo nhóm là một trong những phương pháp dạy học được áp dụng trong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay nhằm phát huy được tính tích cực của người học, dạy học hướng về người học

Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên gọi khác nhau như dạy học hợp tác, dạy học theo nhóm nhỏ Dạy học theo nhóm nhỏ không phải là một phương pháp dạy học (PPDH) cụ thể mà là một hình thức xã hội, hay là hình thức hợp tác của dạy học Tuỳ theo nhiệm vụ cần giải quyết trong nhóm mà có những phương pháp làm việc khác nhau được sử dụng Khi không phân biệt giữa hình thức và PPDH cụ thể thì dạy học nhóm trong nhiều tài liệu cũng được gọi là PPDH nhóm

Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì yêu cầu làm việc theo nhóm là cần thiết hơn bao giờ hết vì trong thực tế cuộc sống không có ai là hoàn hảo, do đó làm việc theo nhóm có thể tập trung được những mặt mạnh của từng người và bổ sung, hoàn thiện cho nhau những điểm yếu, hơn nữa nó còn tạo ra được niềm vui và sự hứng thú trong học tập Qua những nghiên cứu, việc giảng dạy theo nhóm mang lại những mặt tích cực sau:

Thứ nhất, việc giảng dạy theo nhóm thỏa mãn nhu cầu học tập cá nhân, phù

hợp với việc học tập hướng tới người học, khuyến khích sự độc lập tự chủ, người

Nội dung của chương này sẽ trình bày các vấn đề sau:

Trình bày các khái niệm về phương pháp dạy học và phương pháp học tập theo nhóm

Khái niệm về Web, các phương pháp dạy học theo nhóm trên nền Web

Giới thiệu một số công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên Web

Một số yêu cầu dạy học nhóm trên Web

Trang 22

Trang 21

học có thể đưa ra những giải pháp, cách biểu đạt riêng cho vấn đề nào đó Nếu trong phương pháp thuyết trình, người học chỉ có thể trao đổi với nhau được rất ít thì trong làm việc theo nhóm các thành viên tham gia có cơ hội đưa ra quan điểm của mình đối với chủ đề thảo luận, mặt khác nó nâng cao được tính tương tác giữa các thành viên nhằm tác động tích cực đến người học như: Tăng cường động cơ học tập, nảy sinh những hứng thú mới, kích thích sự giao tiếp, chia sẻ tư tưởng và cách giải quyết vấn đề, khích lệ mọi thành viên tham gia học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, phát triển được các mối quan hệ và quan tâm đến nhau

Thứ hai, các thành viên trong nhóm biết được sự phụ thuộc lẫn nhau

Làm việc theo nhóm là cách học cho phép tất cả các thành viên trong nhóm giải quyết một cam kết làm việc được mô tả rõ ràng, không được giảng viên dẫn dắt trực tiếp mà chỉ nhờ vào sự hợp tác chặt chẽ và sự phân công công việc trong nhóm, vì vậy mỗi thành viên trong nhóm tự ý thức được phải cố gắng hết mình không phải chỉ vì thành tích cá nhân mà còn vì thành công của cả nhóm

Thứ ba, giảng dạy dựa trên phương pháp làm việc theo nhóm nâng cao được

tính trách nhiệm của từng thành viên trong nhóm Do mỗi thành viên trong nhóm được phân công thực hiện một vai trò nhất định, một công việc và trách nhiệm cụ thể Các thành viên trong nhóm không thể trốn tránh trách nhiệm hoặc dựa vào công việc của người khác Trách nhiệm của mỗi thành viên là yếu tố quyết định việc thành công hay thất bại của nhóm Hay nói cách khác, việc tổ chức dạy học theo nhóm không phải là hình thức nhằm thay thế học tập cá nhân mà là để giúp cá nhân thực hiện nhiệm vụ học tập của mình thông qua trao đổi, thảo luận với các thành viên cùng học

1.2 Vài nét về lịch sử ra đời của phương pháp học tập nhóm

John Dewey, nhà giáo dục thực dụng Mỹ, được coi là người đầu tiên khởi xướng ra xu thế dạy học theo hướng học tập nhóm vào đầu những năm 1900, khi ông luôn nhấn mạnh vai trò của giáo dục như là một phương tiện dạy cho con người cách sống hợp tác trong một chế độ xã hội dân chủ

Trong khoảng thời gian từ năm 1930 đến năm 1940, nhà tâm lý học xã hội Kurt Lewin đã tạo nên một dấu ấn mới trong lịch sử phát triển của tư tưởng giáo dục hợp tác khi ông nhấn mạnh đến tầm quan trọng của cách thức cư xử trong

Trang 23

Trang 22

nhóm, khi nghiên cứu hành vi của các nhà lãnh đạo và thành viên trong các nhóm dân chủ Sau đó, Mornton Deutsch, một học sinh của Lewin, đã phát triển lý luận về

cộng tác và cạnh tranh trên cơ sở “những lý luận nền tảng” của Lewin Elliot

Aronson với mô hình lớp học Jigsaw đầu tiên [12] đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc hoàn thiện các hình thức cộng tác trong học tập nhóm

Với 122 nghiên cứu năm 1981 và 193 nghiên cứu năm 1989 về dạy học nhóm, Johnson và các cộng sự của mình đã nhận thấy rằng giáo dục theo nhóm cộng tác có nhiều khả năng tạo nên thành công hơn các hình thái tác động khác, kể

từ cấp tiểu học đến cấp đại học, thậm chí cao hơn nữa Các nghiên cứu của nhóm này về ảnh hưởng của giáo dục hợp tác tới tư duy phê phán, lòng tự trọng, các mối quan hệ về chủng tộc và dân tộc, các hành vi xã hội và nhiều tiêu chuẩn khác đã chỉ

ra rằng giáo dục hợp tác tỏ ra ưu việt hơn đa số các hình thức giáo dục truyền thống

Năm 1992, với việc nghiên cứu trên 200 trường đại học và cao đẳng, Astin

đã rút ra kết luận rằng sự tương tác giữa người học với nhau và giữa người học với giáo viên là những cơ sở rõ ràng nhất để có thể dự đoán được những thay đổi tích cực về quan điểm và nhận thức trong học sinh đại học và cao đẳng Trên cơ sở nghiên cứu này, Astin đã nhấn mạnh đến yêu cầu phải sử dụng nhiều hơn nữa giáo dục theo nhóm trong các trường đại học và cao đẳng Đến năm 1996, lần đầu tiên phương pháp dạy học theo lý thuyết học tập nhóm cộng tác được đưa vào chương trình học chính thức hàng năm của một số trường Đại học ở Mỹ

Gần đây, David và Roger Johnson thuộc trường Đại học Minnesota -Shlomo Sharan thuộc trường Đại học Tel Aviv, và Robert Slavin thuộc viện Johns Hopkins cùng với nhiều nhà nghiên cứu khác đã phát triển giáo dục theo nhóm cộng tác thành một trong những phương pháp dạy học hiện đại nhất trong vòng 30 năm trở lại đây nhằm phát huy tính tích cực của người học

1.3 Khái niệm về phương pháp và phương pháp dạy học theo nhóm

1.3.1 Khái niệm phương pháp:

Thuật ngữ “Phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, Methodos” – nguyên văn là con đường, cách thức vận động của một sự vật, hiện tượng đi tới một cái gì đó; có nghĩa là cách thức đạt tới mục đích

Trang 24

Trang 23

Khái niệm “Phương pháp” theo triết học được xem là cách nhận thức hay toàn bộ phương thức và phương tiện để đạt tới mục đích nhất định, để giải quyết những nhiệm vụ nhất định trong nhận thức và trong thực tiển (Định nghĩa phổ quát nhất trong các bách khoa toàn thư, từ điển bách khoa) Cùng phạm vi triết học Hegel cho rằng: phương pháp là ý thức về hình thức của sự tự vận động bên trong của nội dung

1.3.2 Các đặc điểm cơ bản của phương pháp:

- Tính mục tiêu là dấu hiệu cơ bản của phương pháp Mục tiêu nào phương pháp

nấy phương pháp giúp con người thực hiện được mục tiêu của mình: nhận thức thế giới và cải tạo thế giới và qua đó tự cải tạo mình

- Phương pháp có tính cấu trúc: trên con đường đi tới mục tiêu con người phải

thực hiện một loạt các thao tác được sắp xếp theo một trình tự logic, có hệ thống, có

kế hoạch

- Phương pháp gắn liền với nội dung: Phương pháp thay đổi theo từng đối tượng

nghiên cứu Nội dung qui định phương pháp, nhưng bản thân phương pháp có tác dụng trở lại nội dung làm cho nội dung phát triển lên một bước mới

- Phương pháp mang tính chủ thể: Phương pháp do chủ thể sự dụng, cho nên bị

quy định bởi trình độ nhận thức và kinh nghiệm của chủ thể Do vậy, phương pháp mang tính chủ quan Mặt chủ quan của phương pháp thể hiện bởi năng lực, kinh nghiệm của chủ thể

- Phương pháp cũng được xác định trên cơ sở nội dung, đặc điểm của đối tượng:

Như vậy đối tượng nào, mục tiêu nào thì có phương pháp đó Không có phương pháp vạn năng cho mọi đối tượng, cho mọi mục tiêu Ngược lại khi có hệ thống phương pháp hoàn chỉnh thì bản thân nó tác động trở lại nội dung làm cho nội dung đạt chất lượng cao, mục tiêu sáng rõ Nói cách khác mục tiêu nội dung qui định phương pháp, phương pháp chịu sự chi phối của mục tiêu, nội dung Nhưng nó có tác động ngược trở lại giúp đạt mục tiêu, nội dung [6]

1.3.3 Khái niệm phương pháp dạy học

Trong quá trình dạy học, phương pháp dạy học là một yếu tố cơ bản quan trọng Cùng với nội dung mà người học có thể chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng - kĩ xảo theo những phương pháp khác nhau và kết quả đạt được cũng không giống nhau

Trang 25

Trang 24

Do tầm quan trọng đối với phương pháp và quá trình dạy học, đã từ lâu phương pháp dạy học luôn luôn là trung tâm chú ý của các nhà giáo trên thế giới và trong nước

Cho đến nay phương pháp dạy học vẫn đang là một phạm trù được các nhà lí luận dạy học quan tâm Có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm, cấu trúc, sự phân loại, xu thế phát triển…về phương pháp dạy học

Nói chung lí luận về phương pháp dạy học đã được phát triển ngày càng hoàn thiện trên cơ sở kế thừa có phê phán và chọn lọc những thành tựu về tâm lí sư phạm và lí luận dạy học, đặc biệt là những tư tưởng mới về dạy học và phát triển về tích cực hóa, tối ưu hóa quá trình dạy học

Sau đây là một số định nghĩa về phương pháp dạy học: [6]

- Bách khoa toàn thư của Liên xô năm 1965: ”phương pháp dạy học là cách thức

làm việc của giáo viên và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, hình thành thế giới quan, phát triển năng lực nhận thức”

- Phương pháp dạy học theo theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “cách thức làm việc

của thầy và trò dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò nắm vững kiến thức kĩ năng, kỹ xảo một cách tự giác, tích cực tự lực, phát triển những năng lực nhận thức

và năng lực hành động, hình thành thế giới quan duy vật khoa học ”

Như vậy, có nhiều tiếp cận về dấu hiệu khác nhau về khái niệm phương pháp dạy học ví dụ vai trò của giáo viên, học sinh trong phương pháp dạy học, song dấu hiệu chung nhất về khái niệm phương pháp dạy học như sau:

Phương pháp dạy học là con đường, là tổng hợp các cách thức hoạt động của người dạy và người học trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu dạy học

1.3.4 Khái niệm về phương pháp dạy học theo nhóm

Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm “dạy học theo nhóm”

Ví dụ như:

Trang 26

Trang 25

• Dạy học theo nhóm là chiến lược giảng dạy trong đó người học làm việc cùng

nhau trong những nhóm nhỏ để giúp nhau cực đại hóa công việc học tập của

họ nhằm đạt được kết quả học tập cao hơn trong tiến trình học tập

• D Johnson, R Johnson & Holubec: học tập theo nhóm là toàn bộ những hoạt

động học tập mà học sinh thực hiện cùng nhau trong các nhóm, trong hoặc ngoài phạm vi lớp học

• J Cooper, và các tác giả khác: học tập theo nhóm cộng tác là một chiến lược

học tập có cấu trúc, có chỉ dẫn một cách hệ thống, được thực hiện cùng nhau trong các nhóm nhỏ, nhằm đạt được nhiệm vụ chung

• Hoạt động học tập theo nhóm được tổ chức sao cho việc học tập phụ thuộc vào

sự trao đổi thông tin, được cấu trúc có tính chất xã hội giữa những người học trong các nhóm, trong đó mỗi người học phải tự mình chịu trách nhiệm về việc học tập của bản thân mình, đồng thời được khuyến khích hỗ trợ học tập của những người cùng tham gia”

• “Học tập cộng tác theo nhóm là một mô hình/mẫu dạy học trong đó các nhóm người học làm việc theo những nhiệm vụ được cấu trúc (ví dụ: bài tập về nhà, thí nghiệm tại Lab, các dự án thiết kế…) với các điều kiện sau: sự phụ thuộc tích cực, tự chịu trách nhiệm, tương tác giáp mặt, sử dụng hợp lý các kỹ năng cộng tác, tự đánh giá nhóm một cách đều đặn Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi được thực hiện một cách chính xác, đúng đắn, học tập theo nhóm cộng tác

sẽ tăng cường khả năng thu nhận, lưu trữ thông tin, các kỹ năng tư duy trình

độ cao, kỹ năng truyền thông giao tiếp giữa các cá nhân, sự tự tin…” [13]

• Học tập theo nhóm là nói đến các phương pháp hướng dẫn tổ chức lớp học để các nhóm từ 2-6 học sinh làm việc với nhau để tìm ra một mục đích chung Học tập cộng tác bao gồm tất cả các thành viên của nhóm, những người mà cùng chia sẻ với nhau trong quá trình tiếp thu kiến thức, nội dung bài học và trong trách nhiệm trình bày phần công việc của mình

Có thể có một cách để hình dung học tập theo nhóm cộng tác là nhìn vào ba loại tổ chức lớp học chung nhất Các môi trường học tập trong lớp trên khắp thế giới nhìn chung phù hợp với ba phạm trù xã hội: cạnh tranh, mang tính cá nhân và cộng tác [11]

Trang 27

Trang 26

Các lớp học cạnh tranh dựa trên khái niệm xếp loại Các chỉ báo được thực hiện để phân biệt giữa các cá nhân học sinh Chỉ có một học sinh đứng đầu lớp Vì vậy, để một người có thể làm tốt nhất, người đó phải tìm ra cách để dẫn đầu các bạn khác Thành công của một người phụ thuộc vào thất bại của người khác Các trường y dược là một ví dụ tiêu biểu mà môi trường này được tìm thấy

Trong các lớp học mang tính cá nhân, các tiêu chuẩn thành công được truyền đạt một cách rõ ràng Thành công hay thất bại của bất kỳ một người học nào phụ thuộc vào hành động cá nhân của người học đó Có thể có hai hoặc nhiều học sinh đứng đầu lớp Tuy nhiên, thành công của học sinh này không có liên quan đến thành công hay thất bại của học sinh khác Người này có thể thành công hay thất bại và những người khác cũng có thể thành công hay thất bại, không có tương quan giữa hai việc đó Nhiều trường phổ thông trung học dùng phương pháp này để xếp loại trong lớp tốt nghiệp

Lớp học cộng tác theo nhóm, ràng buộc thành công của học sinh này với thành công của những học sinh khác Không có cách nào để học sinh này thành công mà người khác lại thất bại, hay không có cách nào để học sinh khác thành công mà học sinh này lại thất bại Trong lớp học cộng tác theo nhóm, sự tập trung thành tích chuyển từ cá nhân sang nhóm Điều chắc chắn và mới mẻ nhất về lớp học cộng tác là khi trọng điểm chuyển từ cá nhân sang nhóm, việc học tập của cá nhân được nâng cao [14]

Các phương pháp học tập cộng tác nhóm khác nhau về sự đề xuất chủ yếu của

nó, tuy nhiên, tất cả các phương pháp chính vẫn chứa những đặc điểm chung nhất định:

• Việc sử dụng các nhóm cho việc học tập

• Đào tạo các học sinh thực hiện chức năng trong nhóm

• Thiết kế các hoạt động học tập đòi hỏi học sinh thực hiện chức năng trong nhóm, nhưng vẫn giữ được trách nhiệm cá nhân và đồng thời ràng buộc được hoạt động của đa số các học sinh trong lớp

Ngoài ra, còn có nhiều định nghĩa khác về phương pháp học tập cộng tác nhóm Tựu chung lại, có thể đưa ra một cách hiểu toàn diện và tổng quát nhất về học tập

cộng tác nhóm như sau: Học tập nhóm là một chiến lược dạy - học tích cực, trong

Trang 28

Trang 27

đó các thành viên tham gia hoạt động và học tập cùng nhau trong những nhóm nhỏ (mỗi nhóm bao gồm các thành viên có trình độ và khả năng khác nhau) nhằm mục đích phát triển sự hiểu biết và chiếm lĩnh một nội dung học tập nào

1.4.1 Suy ngẫm - Làm việc theo cặp - Chia sẻ và các biến thể của nó

Một trong những cấu trúc làm việc nhóm đơn giản nhất được sử dụng là Suy ngẫm - Làm việc theo cặp - Chia sẻ Suy ngẫm - Làm việc theo cặp - Chia sẻ bắt đầu từ việc giáo viên nêu câu hỏi và cho các cá nhân “thời gian suy ngẫm” Sau đó mỗi học sinh làm việc theo cặp với một trong số những người cùng đội với mình để bàn luận tìm câu trả lời Sau đó giáo viên sử dụng các kỹ thuật như gọi ngẫu nhiên

Nhóm sinh viên

Nhóm sinh viên

Kỹ năng tương tác xã

hội được trao đổi giữa

các nhóm sinh viên, làm

tăng cường khả năng

tiếp thu và linh hội kiến

thức

Học tập cộng tác diễn ra giữa các nhóm sinh viên cả ở bên trong và bên ngoài lớp học Các nhóm làm việc như một đội, nhưng từng

cá nhân chịu trách nhiệm từng phần công việc, và có trách nhiệm hướng dẫn, trao đổi với các sinh viên khác

Hình 1.1 - Mô hình học tập cộng tác

Trang 29

1.4.2 Bàn tròn (RoundTable) và những biến thể của nó

Bàn tròn (RoundTable) là một cấu trúc học tập cộng tác hiệu quả khác, với các biến thể phức tạp Cấu trúc RoundTable được bắt đầu bằng việc giáo viên đưa

ra câu hỏi cho cả lớp Giáo viên thông báo đến các nhóm người (được chỉ định theo vòng tròn hoặc đánh số thứ tự) sẽ bắt đầu nêu câu trả lời của nhóm Sau đó câu trả lời cho câu hỏi được bắt đầu bàn luận đồng thời ở tất cả các nhóm Học sinh đầu tiên ở mỗi nhóm sẽ viết câu trả lời lên một tấm bảng giấy sau đó truyền tấm bảng cho học sinh tiếp theo Học sinh tiếp theo viết đáp án và tiếp tục truyền cho học sinh tiếp theo Qúa trình này cứ tiếp tục quanh bàn ít nhất một lần cho đến khi tất cả mọi người đều có câu trả lời

Với một số câu hỏi, có thể bạn muốn bảng ghi câu trả lời chỉ được chuyền quanh bàn một lần Với một số câu hỏi khác bạn lại muốn quá trình này lặp lại vài lần với các học sinh có thể đưa ra nhiều câu trả lời Sau khi quá trình RoundTable kết thúc, giáo viên yêu cầu các nhóm chia sẻ các đáp án của mình với ít nhất một nhóm khác hoặc với cả lớp Thông thường để chỉ định hoạt động tiếp theo dựa trên danh sách được tạo ra trong suốt hoạt động RoundTable Nếu bạn tuân theo quy trình của RoundTable bằng cách yêu cầu học sinh trả lời miệng, đó được gọi là RoundRobin Nếu các đáp án được viết ra trên một tấm bảng giấy đơn và chỉ được

Trang 30

Trang 29

truyền giữa hai học sinh, đó được gọi là RallyTable RallyTable có thể nhân đôi số học sinh tham gia vào bất cứ lúc nào

1.4.3 Các góc (Corners)

Trong cấu trúc Các góc (Corners) các học sinh trả lời câu hỏi hoặc được gợi

ý bằng cách chọn một trong số bốn đáp án khác nhau và sau đó giải thích lý do cho

sự lựa chọn của mình Giáo viên bắt đầu cấu trúc corners bằng cách nêu câu hỏi hoặc gợi ý bốn đáp án cho cả lớp Mỗi đáp án được đánh số tại bốn góc trong phòng Sau đó giáo viên cho học sinh thời gian suy ngẫm để quyết định chọn đáp án nào Các học sinh ghi đáp án mình chọn ra giấy Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh

di chuyển về các “góc của mình” và thành lập các nhóm đôi để bàn bạc về lý do chọn đáp án đó Các nhóm đôi sau đó lại gộp thành nhóm bốn và mỗi thành viên sẽ diễn giải sự lựa chọn của mình Sau khi diễn giải xong, giáo viên kêu gọi các học sinh từ mỗi góc lên phát biểu về lý do cho sự lựa chọn của mình Các cặp học sinh tại các góc khác diễn giải các đáp án này Hai bước này được lặp lại ở mỗi góc Khi tất cả các góc đã chia sẻ và diễn giải, các đội sẽ trở về bàn của mình Tại bàn, họ bắt đầu ôn lại tất cả để đảm bảo rằng tất cả các thành viên có thể giải thích các lý do

được đưa ra cho sự lựa chọn của mỗi góc

1.4.4 Ghép nhóm (Jigsaw và Jigsaw chuyên môn)

Elliot Aronson, Blaney, Stephan, Sikes và Snap (1978) lần đầu tiên phát triển cấu trúc Jigsaw Khái niệm Jigsaw dựa trên sự phân chia ý tưởng làm việc Mỗi thành viên trong nhóm cộng tác chỉ chịu trách nhiệm nắm một phần của nội dung và trình bày nội dung đó với các thành viên khác trong đội Vì sự phát triển độc đáo của nó, những giáo viên cộng tác phải sáng tạo ra nhiều biến thể của Jigsaw Trong bài này, chúng ta chỉ sử dụng thuật ngữ “Jigsaw” để chỉ cấp độ đơn giản nhất của Jigsaw, được thực hiện trong phạm vi các nhóm đơn

Để dạy học theo cấu trúc Jigsaw, đầu tiên giáo viên phải chuẩn bị các thông tin cần thiết cho học sinh Có thể chia một chương trong một chủ đề thành bốn phần tương đương nhau ở dạng phác thảo, tìm kiếm các tài liệu thêm, hoặc tạo ra các tài liệu nguyên gốc cho một chủ đề Nếu bạn tạo các bảng thông báo cho học sinh, các nhãn mác đánh số #1, #2, #3, và #4 Tiếp theo giáo viên chỉ định hoặc phân phát thông tin đến các nhóm Trong từng nhóm, các cá nhân được giao một phần của

Trang 31

Trang 30

thông tin Các cá nhân sẽ phải bắt đầu làm việc với các thông tin của mình Các học sinh đọc thông tin, quyết định xem đâu là những chi tiết quan trọng nhất trọng những thông tin này và chọn cách tốt nhất để truyền đạt những thông tin này trong nhóm của mình Tiếp theo các học sinh lần lượt đảm nhận nhiệm vụ truyền đạt lại những thông tin của mình cho nhóm hợp tác Mỗi học sinh sẽ được giao cho một khoảng thời gian để thuyết trình Cấu trúc Jigsaw kết thúc bằng một đánh giá học tập Có thể là một câu hỏi vấn đáp như truyền thống hay một cách đánh giá khác Điều quan trọng là phải tính đến quá trình làm việc nhóm khi đánh giá trong cấu trúc Jigsaw

Jigsaw chuyên môn là một biến thể phổ biến của Jigsaw cho phép học sinh bàn bạc ý kiến với những học sinh khác trước khi trình bày các tài liệu của mình với các thành viên trong đội Hai bước đầu tiên của Jigsaw chuyên môn giống với Jigsaw đơn giản Jigsaw chuyên môn bắt đầu với việc giáo viên chuẩn bị thông tin cho các nhóm học sinh và phân phối thông tin đến từng nhóm Trong mỗi nhóm, mỗi người được giao cho một phần thông tin Sau khi nhận thông tin, các học sinh hình thành các nhóm chuyên môn Mỗi nhóm chuyên môn gồm 3-4 cá nhân từ các đội khác nhau, những người nhận được thông tin giống nhau Học sinh, cùng với thông tin được đánh số #1 sẽ gặp nhau, #2 sẽ gặp nhau, v.v… Vì rằng bạn không muốn có nhiều hơn bốn học sinh trong mỗi nhóm chuyên môn, nên trong một lớp học lớn bạn có thể chỉ nên thành lập hai (hoặc) ba nhóm chuyên môn cho mỗi bộ thông tin

Trong nhóm chuyên môn, học sinh đọc thông tin của mình, quyết định xem đâu là những chi tiết quan trọng nhất trong những thông tin này và chọn cách tốt nhất để truyền đạt những thông tin này trong nội bộ nhóm Nếu có nhiều nhóm chuyên môn cùng chung một chủ đề, bạn có thể yêu cầu các học sinh tham khảo ý kiến của những người khác trước khi trở lại với nhóm của mình Khi học sinh quay trở lại nhóm, mỗi người được chỉ định một khoảng thời gian để trình bày các thông tin của mình với nhóm Jigsaw chuyên môn chấm dứt bằng một phương pháp đánh giá việc học tập của học sinh một cách tương đối Có thể là một câu hỏi vấn đáp như truyền thống hay một cách đánh giá khác Qúa trình làm việc nhóm là một phần quan trọng khi đánh giá trong cấu trúc Jigsaw chuyên môn

Trang 32

Trang 31

1.4.5 Cùng nhau đánh số đầu

Cùng nhau đánh số đầu là một cấu trúc hấp dẫn, nó thúc đẩy khả năng nắm vững các kiến thức đã đề ra Nó là một cách hiệu quả để ôn tập trước một kỳ kiểm tra hoặc thi vấn đáp Trước khi bắt đầu hướng dẫn, giáo viên phát triển các câu hỏi

mà mình định sử dụng và vạch ra những cách thức mà mình mong học sinh trả lời Các câu trả lời có thể được truyền đạt theo các cách sau:

• Trả lời trên bảng - chia cho mỗi nhóm một phần bảng

• Trả lời vào bảng học sinh - giao cho mỗi nhóm một tấm bảng nhỏ, phấn hoặc bảng trắng

• Đồng thanh - báo cáo viên của từng nhóm cùng lúc hô to câu trả lời

• Gọi ngẫu nhiên - giáo viên chọn ngẫu nhiên một thành viên trong nhóm trả lời

Cấu trúc Cùng nhau đánh số đầu bắt đầu bằng việc các thành viên trong đội đọc to số của mình trong hàng Trong mỗi đội, người đầu tiên đánh số 1, người thứ hai đánh số 2, v.v… Sau đó giáo viên nêu câu hỏi, thông báo cho học sinh thời gian

để trả lời Tại các bàn, các học sinh cùng chụm đầu vào và quyết định câu trả lời Mỗi thành viên trong đội đều phải có khả năng giải thích cho câu trả lời của đội Khi thời gian giới hạn để trả lời đã hết, giáo viên thông báo và các nhóm ngừng thảo luận Sau đó giáo viên sử dụng vòng quay, quân bài, hoặc bất cứ kỹ thuật nào khác để chọn ngẫu nhiên một trong bốn số Con số này sẽ chỉ định học sinh nào trả lời câu hỏi

Những học sinh có số được chọn trả lời câu hỏi bằng các cách trả lời mà giáo viên đã chọn trong quá trình đặt kế hoạch Giáo viên lặp lại các bước này đến khi tất các câu hỏi đều được trả lời Một số giáo viên ghi điểm cho mỗi câu trả lời đúng,

dự tính các cấp độ câu hỏi vấn đáp cho các thành viên trong đội Khi nêu câu hỏi yêu cầu chứng minh kiến thức, chẳng hạn như hoàn thiện một vấn đề toán học, sẽ thật sáng tạo và hiệu quả nếu thêm vào một bước “Viết” sau khi giáo viên nêu câu hỏi và trước khi các thành viên trong đội chụm đầu vào nhau Điều này đảm bảo rằng mỗi cá nhân đều tham gia vào quá trình thảo luận, được đánh giá và giảm nguy

cơ phụ thuộc

Trang 33

Trang 32

1.4.6 Trộn lẫn và Ghép

Cùng với Trò chơi xếp hình và Cùng nhau đánh số đầu, phương pháp Trộn lẫn và Ghép đòi hỏi các giáo viên phải chuẩn bị thông tin trước khi giảng bài Với phương pháp Trộn lẫn và Ghép, bạn chuẩn bị tài liệu tương tự như tài liệu được sử dụng trong một mục Ghép Với cấu trúc này bạn có thể phân thông tin thành 2 đến 4 phần Các ví dụ thông tin sử dụng bao gồm lời trích dẫn, định nghĩa, cụm từ hay câu then chốt Viết thông tin trên các mảnh giấy hay trên những tấm thẻ 3 x 5 và đặt chúng trong một hộp đựng Giáo viên bắt đầu hướng dẫn bằng cách phân phát thông tin Mỗi học sinh chọn một mảnh giấy từ hộp đựng mà không được xem thông tin Khi tất cả các học sinh đã có các mảnh thông tin, giáo viên cho học sinh tín hiệu để trộn lẫn Học sinh bắt đầu trao đổi các mảnh giấy với nhau đến khi có tín hiệu dừng lại Khi các học sinh đã dừng việc trộn lẫn, giáo viên đưa ra tín hiệu để ghép với nhau Bạn cần thông báo cho học sinh sử dụng các mảnh thông tin như thế nào để hoàn thiện bài ghép Các học sinh tìm ra người có thông tin để hoàn thành bài của chúng và đứng với nhau để chia sẻ Hình thức này được kết thúc với việc báo cáo của học sinh

Giáo viên quyết định kỹ thuật báo cáo nào sẽ được sử dụng Học sinh có thể đọc thông tin của chúng, soạn lại nó, hoặc trình bày nó bằng bề ngoài

1.4.7 Cấu trúc Liên tục

Cấu trúc Liên tục được thiết kế để giúp học sinh nhận ra các giá trị cá nhân

và chia sẻ chúng với lớp Cấu trúc Liên tục bắt đầu bằng việc giáo viên trình bày một câu hỏi hay một vấn đề với hai câu trả lời khác nhau Các câu trả lời được thiết

kế ở các đầu đối diện của câu trả lời liên tục, tên cho cấu trúc này Tiếp theo giáo viên làm một hàng ảo (hay thực) trên nền lớp học chạy từ bên này lớp học tới bên kia lớp học Giáo viên đưa ra thời gian cho học sinh suy nghĩ quyết định xem câu trả lời của chúng cho hàng liên tục này sẽ rơi ở đâu Sau thời gian suy nghĩ, học sinh rời khỏi ghế của chúng và di chuyển tới điểm trên hàng trình bày câu trả lời của chúng Sau đó lớp học thảo luận với nhau Một cách hiệu quả để tiến hành cuộc thảo luận đó là đầu tiên cho học sinh bắt cặp với nhau, nói rõ ý kiến của chúng, và diễn giải câu trả lời của bạn mình Tiếp theo thảo luận theo cặp là thảo luận theo nhóm nhỏ hoặc cả lớp Có ba kỹ thuật cho học sinh hình thành từng cặp

Trang 34

Trang 33

A Xoay tới người đứng cạnh bạn

B Đi lướt trên hàng Chia hàng này ra ở giữa Một nửa hàng sẽ đi qua nửa còn lại kia đến khi mỗi người đều đối mặt với một người khác

C Gấp hàng lại Người ở đầu hàng sẽ đi đến đầu hàng bên kia Học sinh ở đầu hàng đó sẽ đi theo chỉ dẫn đến khi mỗi người đối mặt với một người khác

1.4.8 Hoặc/hoặc

Cấu trúc Hoặc/hoặc [12] cũng được thiết kế để giúp học sinh nhận ra các giá trị

cá nhân và chia sẻ chúng với lớp Cấu trúc Hoặc/hoặc bắt đầu bằng việc giáo viên đưa ra một câu hỏi hay một vấn đề với hai câu trả lời khác nhau Các câu trả lời được tạo ra hầu như trái ngược với nhau về tính chất thực tế hay triết học Tiếp theo giáo viên đưa ra một hàng ảo (hay thực) trên nền lớp học chia phòng học ra làm hai Một bên phòng học trình bày câu trả lời đầu tiên, trong khi bên đối diện trình bày câu trả lời thứ hai Giáo viên đưa ra thời gian cho học sinh suy nghĩ quyết định xem câu trả lời của chúng sẽ rơi ở đâu Sau thời gian suy nghĩ, học sinh rời khỏi ghế của chúng và di chuyển tới điểm trên hàng trình bày câu trả lời của chúng Sau đó lớp học thảo luận với nhau Đầu tiên cho học sinh bắt cặp với nhau, nói rõ ý kiến của chúng, và diễn giải câu trả lời của bạn mình Tiếp theo thảo luận theo cặp là thảo luận theo nhóm nhỏ hoặc cả lớp Có hai kỹ thuật cho học sinh hình thành từng cặp trong cấu trúc Hoặc/hoặc

A Bắt cặp với một người ở cùng phía với bạn trong lớp học

B Bắt cặp với một người ở phía đối diện với bạn trong lớp học

1.5 Kỹ thuật thành lập nhóm

- Có rất nhiều cách để thành lập nhóm học sinh theo các tiêu chí khác nhau, tùy theo mục tiêu và nội dung của môn học mà áp dụng Bảng sau đây trình bày 6 cách theo các tiêu chí khác nhau: [7]

TT Tiêu chí Cách thực hiện Ưu điểm Nhược điểm

Đối với học sinh thì đây là cách dễ chịu nhất để thành lập nhóm, đảm bảo công việc thành công

Dễ tạo ra sự tách biệt giữa các nhóm trong lớp,

vì vậy cách tạo lập nhóm như thế

Trang 35

Các nhóm luôn luôn mới sẽ đảm bảo là tất

cả các học sinh đều có thể học tập chung nhóm với tất cả các học sinh khác

Nguy cơ có trục trặc sẽ tăng cao

Học sinh phải sớm làm quen với việc đó để thấy rằng cách lập nhóm đôi như vậy

Cách tạo lập nhóm kiểu vui chơi, không gây ra sự đối địch

Cần một ít chi phí

để chuẩn bị và cần nhiều thời gian hơn để tạo lập nhóm đôi

Tạo lập nhóm đôi một cách độc đáo, tạo ra niềm vui và học sinh

có thể biết nhau rõ hơn

Cách làm này mất

đi tính độc đáo nếu được sử dụng thường xuyên

Tất cả đều được lợi

Những học sinh giỏi đảm nhận trách nhiệm, những học sinh yếu được giúp đỡ

Ngoài việc mất nhiều thời gian thì chỉ có ít nhược điểm, trừ khi những học sinh giỏi hướng dẫn

Trang 36

bổ sung

Học sinh có thể tự xác định mục đích của mình Tích cực khuyến khích các học sinh khá phát huy khả năng chủ động sáng tạo

Cách làm này dẫn đến kết quả là một số nhóm không tự tin vì cảm thấy bị chia thành những học sinh kém

Bảng 1.2 - Các cách thành lập nhóm

1.6 Nguyên tắc học tập theo nhóm

Việc dạy học theo nhóm không phải bao giờ cũng mang lại kết quả mong

muốn Nếu được tổ chức và thực hiện kém, nó thường sẽ dẫn đến kết quả ngược lại

với những gì dự định đã đặt ra

Nếu các nhóm chưa được luyện tập dễ xảy ra hỗn loạn Ví dụ, có thể xảy ra

chuyện là một thành viên của nhóm có cá tính quá mạnh mẽ theo kiểu áp đặt, độc

đoán thì thành viên còn lại sẽ không thể hiện được năng lực, có thể phát sinh tình

trạng đối địch và giận dữ

Để dạy học theo nhóm đạt hiệu quả cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Tạo sự đồng thuận: Có khoảng thời gian để giới thiệu cách thức học tập theo

nhóm và để bồi đắp tinh thần đồng đội Khoảng thời gian này giúp các thành

viên làm quen với nhau, hiểu biết về nhau, gắn bó với nhau, tạo sự nhất trí về

các mục tiêu cũng như cơ cấu tổ chức nhóm Để tạo sự đồng thuận mọi vấn

đề của nhóm đều cần đem ra bàn bạc và đi đến thống nhất dựa trên sự nhất trí

của các thành viên

- Chia sẻ và hợp tác với tinh thần đồng đội: Đây là một nguyên tắc quan trọng

trong học tập theo nhóm Vì học tập theo nhóm là sự tham gia của hai thành

viên nhằm hướng đạt mục tiêu chung trong học tập nên sự hợp tác và chia sẻ

là không thể thiếu Hơn nữa nếu làm việc đơn lẻ sẽ khó thực hiện tốt nhiệm vụ

chung vì mỗi người chỉ mạnh về một khía cạnh nào đó của công việc chung Vì

thế sự hợp tác và chung sức sẽ tạo ra sức mạnh tập thể

Trang 37

Trang 36

- Tôn trọng: Tôn trọng là một nguyên tắc rất quan trọng trong học tập theo

nhóm Chỉ khi tập thể đó tồn tại sự tôn trọng lẫn nhau giữa các thành viên, tôn trọng nội quy của nhóm mới có thể xây dựng một bầu không khí cởi mở, thân thiện trong nhóm Sự tôn trọng thể hiện ở sự chấp hành nội quy của nhóm, đúng giờ, chú ý lắng nghe khi người khác phát biểu ý kiến, tạo cơ hội - khuyến khích mọi người chia sẻ, ghi nhận - đánh giá đúng sự đóng góp của các thành viên

- Phân công nhiệm vụ rõ ràng, hợp lý: Phân công nhiệm vụ là một việc làm

không thể thiếu khi học tập theo nhóm Khi phân công phải chú trọng phân công phù hợp với năng lực của từng thành viên vì mỗi cá nhân sẽ cống hiến hết mình nếu họ được đánh giá đúng năng lực, sử dụng đúng và được tin tưởng Sự phân công rõ ràng trách nhiệm của từng thành viên sẽ là yếu tố quan trọng tạo nên thành công cho nhóm

1.7 Các yếu tố ảnh hưởng tích cực tới học tập theo nhóm

Lí luận và thực tiễn đã chứng minh rằng trong hoạt động học tập theo nhóm

có nhiều yếu tố ảnh hưởng, có thể theo hai chiều hướng: tích cực hoặc tiêu cực Nếu xét theo chiều hướng tích cực, tác giả nhận thấy các yếu tố sau đây sẽ làm hoạt động nhóm đạt hiệu quả cao

1.7.1 Có quan niệm đúng đắn về học tập theo nhóm

Để hoạt động học tập theo nhóm đạt kết quả, trước hết hai thành viên trong nhóm cần phải hiểu rõ thế nào là học tập theo nhóm, có những nhận thức đúng đắn

về những ưu thế của học tập theo nhóm, từ đó mới thấy được trách nhiệm của bản thân và có định hướng hoạt động nhóm đạt hiệu quả Nếu các thành viên quan niệm lệch lạc về học tập theo nhóm thì chắc chắn hoạt động học tập nhóm đó sẽ không thể có hiệu quả

Trang 38

Trang 37

- Kỹ năng lập kế hoạch hoạt động cho nhóm: Có kỹ năng xây dựng một kế

hoạch hoạt động cho nhóm một cách cụ thể, hợp lý, bao gồm: thứ tự công việc, nội dung công việc, thời gian, người chịu trách nhiệm sẽ đảm bảo cho mỗi thành viên chủ động và có định hướng trong công việc của mình và của cả nhóm

- Kỹ năng xây dựng nội quy nhóm: khi đã thành lập một nhóm học tập (hay

làm việc) cần thiết lập những nội quy, là những nguyên tắc chung trong hoạt động để mọi thành viên trong nhóm dựa vào đó mà thực hiện, đảm bảo sự quy củ, nghiêm túc trong hoạt động của nhóm

- Kỹ năng phân công nhiệm vụ rõ ràng, hợp lý: Cần có sự thỏa thuận giữa các

thành viên về phân công nhiệm vụ Khi công việc được phân công rõ ràng, phù hợp với năng lực và khả năng của mỗi thành viên họ sẽ ý thức được vai trò của mình, có trách nhiệm hoàn thành công việc Ngược lại, nếu phân công công việc không rõ ràng, không hợp lý, người thì phải đảm nhiệm quá nhiều việc, người lại không có việc để làm, kết quả là sự bất hợp tác sẽ tác động lớn đến chất lượng của hoạt động nhóm và sản phẩm của nhóm

- Kỹ năng thảo luận, trao đổi: Điểm đặc trưng nổi bật nhất của học tập theo

nhóm là sự hợp tác nhằm xây dựng một sản phẩm trí tuệ tập thể bằng việc thống nhất các ý kiến thông qua sự thảo luận, trao đổi giữa các thành viên trong nhóm Vì vậy đây là một kỹ năng có vị trí rất quan trọng trong hoạt động nhóm Thảo luận, trao đổi là hoạt động đòi hỏi các thành viên phải tư duy và có tinh thần xây dựng ý kiến hết mình cho nhóm Để thảo luận, trao đổi có hiệu quả các thành viên trong nhóm cần có khả năng thuyết trình, diễn giải vấn đề sao cho mạch lạc, thuyết phục người nghe; khả năng đặt câu hỏi chất vấn; khả năng phản biện cũng như khả năng lắng nghe và tiếp thu ý kiến góp ý của các thành viên khác Thông qua thảo luận, trao đổi chúng ta có thể nhận biết được cách tiếp cận vấn đề, quan niệm riêng của từng thành viên, mức độ tác động lẫn nhau giữa các thành viên Kỹ năng này không chỉ giúp

ta thống nhất được ý kiến mà còn giúp mỗi thành viên học hỏi lẫn nhau, giúp nhau cùng phát triển

Trang 39

Trang 38

- Kỹ năng nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu tài liệu là một kỹ năng cần thiết

trong học tập Muốn nghiên cứu tài liệu hiệu quả cần biết cách tìm kiếm tài liệu, biết đánh giá, chọn lọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu theo những vấn

đề mình cần tìm Có kỹ năng nghiên cứu tài liệu sẽ giúp mọi thành viên trong nhóm tìm kiếm được nhiều thông tin làm phong phú hơn bài tập của mình

- Kỹ năng chia sẻ trách nhiệm: Để cho hoạt động của nhóm đạt chất lượng và

không khí làm việc trong nhóm vui vẻ, đoàn kết hai thành viên cần phải chia

sẻ trách nhiệm với nhau Biết chia sẻ hợp lý trách nhiệm giữa các thành viên

sẽ tạo động lực giúp hoạt động nhóm đạt hiệu quả cao hơn

- Kỹ năng lắng nghe một cách chủ động, tích cực: Lắng nghe một cách hiệu

quả giúp tiết kiệm thời gian, hạn chế rắc rối, thắt chặt hơn các mối quan hệ Trong học tập theo nhóm, kỹ năng lắng nghe là rất cần thiết vì lắng nghe là phương pháp cơ bản để tập hợp thông tin Mục tiêu của lắng nghe là để hiểu, học hỏi, thưởng thức, giúp đỡ, hỗ trợ

- Kỹ năng chia sẻ thông tin: Làm việc nhóm nghĩa là hợp tác trên cơ sở chia sẻ

kiến thức và thông tin từ hai người để hoàn thiện bài tập chung một cách tốt nhất Vì vậy, kỹ năng chia sẻ thông tin là rất cần thiết Trong nhóm có hai người chia sẻ thông tin, lượng thông tin nhiều hơn, phong phú hơn, là một điều kiện để sản phẩm của nhóm đạt chất lượng càng cao

- Kỹ năng giải quyết xung đột: Trong một nhóm tồn tại quá nhiều cái tôi cá

nhân nên không thể tránh khỏi những xung đột gây ra sự bất hòa trong nhóm Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động nhóm Tất nhiên mâu thuẫn là động lực cho sự phát triển nhưng khi mâu thuẫn quá mức thì sẽ không tốt cho sự hợp tác trong nhóm Vì vậy, kỹ năng giải quyết xung đột là rất quan trọng đối với hoạt động nhóm

- Kỹ năng tự kiểm tra - đánh giá hoạt động của nhóm: Để hoạt động nhóm

ngày càng đạt hiệu quả thì nhóm cần phải thường xuyên tự kiểm tra - đánh giá hoạt động của mình để tự điều chỉnh kịp thời (nếu thấy cần thiết)

Trang 40

Trang 39

1.7.4 Các thành viên có ý thức, tích cực trong hoạt động học tập nhóm

Trong học tập theo nhóm thì sự hợp tác là rất quan trọng, đòi hỏi các thành viên trong nhóm phải có tinh thần tự giác, tích cực vì công việc tập thể cũng chính

là việc của mình Mỗi thành viên phải ý thức được trách nhiệm của mình đối với nhóm, phải hiểu rằng mình là một mắt xích trong “cỗ máy” nhóm, một mắt xích không đảm bảo thì ảnh hưởng đến sự vận hành của cả cỗ máy Vì vậy, mỗi thành viên phải có thái độ làm việc nghiêm túc, tích cực cùng cả nhóm thực hiện mục tiêu chung một cách hiệu quả nhất

1.7.5 Phương pháp tiến hành hoạt động nhóm phù hợp:

Chất lượng làm việc của một nhóm học tập phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp mà nhóm đó sử dụng Phương pháp ở đây chính là cách thức tiến hành hoạt động nhóm mà nhóm sử dụng nhằm đạt mục tiêu mà nhóm đặt ra Có phương pháp làm việc khoa học và phù hợp với điều kiện của nhóm, phù hợp với từng nội dung bài tập chắc chắn sẽ đem lại hiệu quả cho hoạt động nhóm

1.7.6 Một số các điều kiện khác:

- Chủ đề thích hợp: Chủ đề phải phù hợp cho làm việc nhóm, HS có đủ những

kiến thức cơ sở để thực hiện chủ đề làm việc Yếu tố này cũng tác động không nhỏ đến chất lượng hoạt động nhóm

- Đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện để thực hiện hoạt động

nhóm như: bàn ghế, tài liệu, máy tính, mạng internet, không gian, thời gian

- Sự hướng dẫn của giáo viên: Khi giao bài tập nhóm cho HS, giáo viên có

hướng dẫn về cách làm việc nhóm nhằm định hướng hoạt động cho HS thì chắc chắn sẽ làm cho hiệu quả hoạt động nhóm được nâng cao hơn, đặc biệt

là với những khóa HS mới

- Sự đánh giá và kết luận của giáo viên cũng tác động không nhỏ đến chất

lượng làm việc nhóm Sau khi các nhóm làm việc cho ra các sản phẩm, nếu giáo viên đánh giá chi tiết mặt tốt, chưa tốt của sản phẩm, so sánh các sản phẩm của các nhóm với nhau để HS nhận ra được những ưu, khuyết của mình, sau đó giáo viên nêu lên kết luận (đưa ra chân lý khoa học) thì HS sẽ

Ngày đăng: 18/07/2017, 20:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3] Trần Văn Đạt (2007), Sử dụng kiểu học hợp tác như một chiến lược dạy học nhằm thúc đẩy sự năng động của sinh viên, Kỷ yếu hội thảo khoa học “giảng dạy lấy người học làm trung tâm” trường Đại học An Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: giảng dạy lấy người học làm trung tâm
Tác giả: Trần Văn Đạt
Năm: 2007
[11] David Kluge (1999), A Brief Introduction to Cooperrative learning, Permission to reproduce and disseminate this material has blen granted by Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Brief Introduction to Cooperrative learning
Tác giả: David Kluge
Năm: 1999
[13] Tim S.Roberts (2003), Online collaborative learning, Published in the United States of America by Information Science Publishing Sách, tạp chí
Tiêu đề: Online collaborative learning
Tác giả: Tim S.Roberts
Năm: 2003
[8] Phương pháp giảng dạy trong thời đại CNTT, loạt bài đăng trên http://phuongphapdayhoc.blogspot.com/ Link
[1] Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Khác
[2] Lê Khánh Bằng (1989), Một số vấn đề nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học ở đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, ĐHSP Hà Nội Khác
[4] Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học - kỹ thuật, Hà Nội Khác
[5] Đặng Thành Hưng (2004), Thiết kế phương pháp dạy học tích cực hóa, tạp chí giáo dục số 102 (chuyên đề) Khác
[6] Giáo trình phương pháp giảng dạy (2007), nhiều tác giả, trường Đại học sư phạm kỹ thuật TP Hồ Chí Minh Khác
[7] Sổ tay Phương pháp giảng dạy và đánh giá (2006), nhiều tác giả, trường Đại học Nha Trang Khác
[12] Gniting student involvement, peer interaction, and teamwork: a taxonomy of specific cooperative learning structures and collobarative learning strategies Khác
[14] Barbara Flanagan (2000) Collaborative Teaching 101 _ TEAMWORK Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1  - Mô hình học tập cộng tác - Nghiên cứu phương pháp và công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên nền web ứng dụng trong giảng dạy tại trung cấp kỹ thuật tin học hà nội
Hình 1.1 - Mô hình học tập cộng tác (Trang 28)
Bảng 1.2 - Các cách thành lập nhóm - Nghiên cứu phương pháp và công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên nền web ứng dụng trong giảng dạy tại trung cấp kỹ thuật tin học hà nội
Bảng 1.2 Các cách thành lập nhóm (Trang 36)
Hình 1.2 -  Google docs - Nghiên cứu phương pháp và công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên nền web ứng dụng trong giảng dạy tại trung cấp kỹ thuật tin học hà nội
Hình 1.2 Google docs (Trang 45)
Hình 1.3 - Concepboard - Nghiên cứu phương pháp và công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên nền web ứng dụng trong giảng dạy tại trung cấp kỹ thuật tin học hà nội
Hình 1.3 Concepboard (Trang 46)
Hình 1.5 - Teamlab - Nghiên cứu phương pháp và công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên nền web ứng dụng trong giảng dạy tại trung cấp kỹ thuật tin học hà nội
Hình 1.5 Teamlab (Trang 47)
Hình 1.4 - Meetin.gs - Nghiên cứu phương pháp và công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên nền web ứng dụng trong giảng dạy tại trung cấp kỹ thuật tin học hà nội
Hình 1.4 Meetin.gs (Trang 47)
Hình 1.6 - Eazy - Nghiên cứu phương pháp và công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên nền web ứng dụng trong giảng dạy tại trung cấp kỹ thuật tin học hà nội
Hình 1.6 Eazy (Trang 48)
Hình 1.7 – Forumup - Nghiên cứu phương pháp và công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên nền web ứng dụng trong giảng dạy tại trung cấp kỹ thuật tin học hà nội
Hình 1.7 – Forumup (Trang 48)
Hình 1.8 – Freepowerboad - Nghiên cứu phương pháp và công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên nền web ứng dụng trong giảng dạy tại trung cấp kỹ thuật tin học hà nội
Hình 1.8 – Freepowerboad (Trang 49)
Bảng 2.1 -  Nội dung và phân phối học phần Excel cơ bản - Nghiên cứu phương pháp và công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên nền web ứng dụng trong giảng dạy tại trung cấp kỹ thuật tin học hà nội
Bảng 2.1 Nội dung và phân phối học phần Excel cơ bản (Trang 56)
Hình 3.10 - Quy trình tổ chức làm việc theo nhóm và trao đổi qua Web - Nghiên cứu phương pháp và công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên nền web ứng dụng trong giảng dạy tại trung cấp kỹ thuật tin học hà nội
Hình 3.10 Quy trình tổ chức làm việc theo nhóm và trao đổi qua Web (Trang 62)
Bảng 3.1 – Chương trình giảng dạy Excel và lập trình VBA làm việc nhóm - Nghiên cứu phương pháp và công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên nền web ứng dụng trong giảng dạy tại trung cấp kỹ thuật tin học hà nội
Bảng 3.1 – Chương trình giảng dạy Excel và lập trình VBA làm việc nhóm (Trang 71)
Hình 3.12 - Giao diện phần mềm Artisteer - Nghiên cứu phương pháp và công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên nền web ứng dụng trong giảng dạy tại trung cấp kỹ thuật tin học hà nội
Hình 3.12 Giao diện phần mềm Artisteer (Trang 74)
Hình 3.11 - Giao diện Website khi mới cài đặt xong - Nghiên cứu phương pháp và công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên nền web ứng dụng trong giảng dạy tại trung cấp kỹ thuật tin học hà nội
Hình 3.11 Giao diện Website khi mới cài đặt xong (Trang 74)
Hình 3.13 – Giao diện Google docs - Nghiên cứu phương pháp và công cụ hỗ trợ làm việc nhóm trên nền web ứng dụng trong giảng dạy tại trung cấp kỹ thuật tin học hà nội
Hình 3.13 – Giao diện Google docs (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w