Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo TCCN ngànhcông nghệ may tại trường CĐCN nam định 40 2.2 Thực trạng về chất lượng đào tạo TCCN ngành Công nghệ may tại trường Cao đẳng công nghiệp
Trang 1TRƯờNG ĐạI HọC bách khoa Hà NộI
-
Trần thị thu hà
Nghiên cứu Nâng cao chất lượng đào tạo hệ trung cấp chuyên nghiệp ngành công nghệ may tại trường cao đẳng công nghiệp nam định
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã dành tình cảm, động viên, tạo điều kiện để tôi đạt đ−ợc kết quả nh− ngày hôm nay
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn không tránh khỏi khiếm khuyết Kính mong sự chỉ dẫn và góp ý của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để kết quả nghiên cứu tiếp theo đ−ợc hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 30 tháng 1 năm 2007
Trần Thị Thu Hà
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan, những gì mà tôi viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể
Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo
vệ luận văn thạc sỹ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở trên đây
Hà Nội, ngày 30 tháng 1 năm 2007
Trần Thị Thu Hà
Trang 4Danh mục các sơ đồ, biểu đồ 6
chương 1: Cơ sở lý luận về việc nâng cao nâng cao
chất lượng đào tạo
14
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo 20
Trang 5Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo TCCN ngành
công nghệ may tại trường CĐCN nam định
40
2.2 Thực trạng về chất lượng đào tạo TCCN ngành Công nghệ
may tại trường Cao đẳng công nghiệp Nam Định
44
2.2.1 Thực trạng về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng
đào tạo
44
2.2.2 Thực trạng về chất lượng đào tạo TCCN ngành Công
nghệ may tại trường cao đẳng công nghiệp Nam định
61
2.3 Định hướng công tác đào tạo TCCN ngành Công nghệ may
tại trường cao đẳng Công nghiệp Nam định
67
chương 3: một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo
tCCN ngành công nghệ may tại trường CĐCN Nam định
70
3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo TCCN ngành
công nghệ may tại trường CĐCN Nam định
71
3.2.1 Đổi mới công tác tuyên truyền tuyển sinh 713.2.2 Đổi mới nội dung chương trình, phương pháp đào tạo 723.2.3 Tăng cường về cơ sở vật chất và phương tiện dạy học 873.2.4 Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên 883.2.5 Nâng cao ý thức, thái độ nghề nghiệp cho học sinh 903.2.6 Tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường và cơ sở sử
dụng lao động
91
3.2.7 Đổi mới công tác quản lý chất lượng đào tạo 93
Trang 6Danh môc c¸c tõ viÕt t¾t
Quality Management)
Trade Organization)
Trang 7DAnh mục các Sơ đồ và biểu đồ
Sơ đồ 1.4 Mối quan hệ giữa các nhân tố của quá trình dạy học 28
Sơ đồ 1.6 Đánh giá quá trình đào tạo theo quá trình đầu vào -
quá trình - đầu ra của Mỹ
37
Sơ đồ 1.7 Mô hình hệ thống đánh giá chất l−ợng theo Châu Âu 37
Trang 8DAnh mục các bảng
Bảng 2.1 Mức độ phù hợp của mục tiêu và nội dung CTĐT
so với nhu cầu thực tiễn
44
Bảng 2.2 ý kiến về tải trọng lý thuyết và thực hành trong
CTĐT hệ TCCN ngành Công nghệ may
46
Bảng 2.4 Chất lượng đội ngũ giáo viên đang giảng dạy hệ
TCCN ngành Công nghệ may
48
Bảng 2.5 ý kiến của giáo viên về thực trạng bồi dưỡng nâng
cao trình độ trong 5 năm qua
49
Bảng 2.6 ý kiến của giáo viên về chất lượng các khoá bồi
dưỡng đã được tham gia
50
Bảng 2.9 ý kiến của giáo viên về mức độ sử dụng phương
Trang 9Bảng 2.11 Đánh giá mức độ đầy đủ về CSVC và phương tiện
Bảng 2.13 Đánh giá của cán bộ quản lý của trường về mối
quan hệ giữa nhà trường và CSSDLĐ
59
Bảng 2.14 Đánh giá của cán bộ quản lý các doanh nghiệp về
quan hệ giữa nhà trường và CSSDLĐ
Bảng 3.2 Nội dung tổng quát mô đun Cơ sở thiết kế trang
Bảng 3.6 ý kiến chuyên gia về tính cấp thiết và tính khả thi
của các giải pháp
95
Trang 10Mở đầu
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng và Nhà nước ta hết sức chú trọng phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn lực con người, coi đó là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững
Bước sang thế kỷ 21, sau gần 20 năm đổi mới, giáo dục Việt nam đã thu
được những thành tựu quan trọng Tuy nhiên, trong thời gian qua chất lượng giáo dục và đào tạo còn thấp, một mặt chưa tiếp cận được với trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, mặt khác chưa đáp ứng với các ngành nghề trong xã hội Học sinh, sinh viên tốt nghiệp còn hạn chế về năng lực, tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng thích ứng với nghề nghiệp, kỷ luật lao
động, tinh thần hợp tác và cạnh tranh lành mạnh chưa cao; khả năng tự lập còn hạn chế [1, tr 4]
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra chủ trương “Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao… chấn hưng nền giáo dục Việt nam ”[3] đặc biệt đối với hệ thống giáo dục nghề nghiệp “ Tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề, tiếp cận trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới”[3] Một trong những vấn đề bức xúc
đang được dư luận quan tâm đó là chất lượng đào tạo Hiện nay Bộ Giáo dục
và Đào tạo thắt chặt các kỷ cương giáo dục, coi trọng chất lượng thực sự Các trường học, ngành học trong cả nước, trong đó có các trường dạy nghề đang thi đua hưởng ứng cuộc vận động này nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Ngành may mặc Việt nam có từ lâu đời song mới chỉ phát triển mạnh hơn chục năm nay Là một trong những ngành công nghiệp non trẻ nhưng thu hút lực lượng lớn lao động, có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết việc làm
Trang 11cho người lao động Xã hội càng phát triển thì nhu cầu may mặc ngày càng cao Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì càng có nhiều loại vật liệu mới, công nghệ mới và các trang thiết bị hiện đại sẽ được áp dụng trong ngành may Sự phát triển của ngành thời trang cũng tác động không nhỏ đến công nghiệp may Mặt hàng sản xuất luôn thay đổi làm cho quá trình tổ chức sản xuất cũng thay đổi theo, đòi hỏi sự năng động linh hoạt, kiến thức, kỹ năng vững vàng của nhà quản lý, đội ngũ kỹ thuật viên và công nhân Đặc biệt hiện nay nước ta đã là thành viên của WTO, được hội nhập nền kinh tế quốc tế, xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt, đòi chúng ta phải cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của sản xuất trong nước cũng như xuất khẩu lao động
Trong những năm qua trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định đã đào tạo một lực lượng lớn lao động góp phần đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp may trong khu vực tỉnh Nam Định cũng như cả nước Tuy nhiên với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ dẫn đến có sự thay đổi lớn về công nghệ cũng như tổ chức sản xuất ở các doanh nghiệp Trong khi đó các trường dạy nghề nói chung, trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định nói riêng các điều kiện đảm bảo về chất lượng còn nhiều hạn chế Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo của nhà trường, trong đó có hệ trung cấp chuyên nghiệp ngành Công nghệ may
Để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong giai đoạn mới cần có
sự chuyển biến mạnh mẽ nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của nhà trường, đó là trách nhiệm của mỗi cán
bộ, giáo viên và học sinh của nhà trường
Vì vậy “Nghiên cứu nâng cao chất lượng đào tạo hệ trung cấp chuyên nghiệp ngành Công nghệ may tại trường Cao đẳng Công nghiệp Nam
Định” là yêu cầu cấp thiết Được sự đồng ý của các giảng viên hướng dẫn, tác
giả xin lựa chọn đề tài trên để nghiên cứu
Trang 122 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo trung cấp chuyên nghiệp ngành Công nghệ may tại trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình đào tạo Trung cấp chuyên nghiệp ngành Công nghệ may tại trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo hệ trung cấp chuyên nghiệp ngành Công nghệ may tại trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định
4 - Giả thuyết khoa học
Trong những năm qua chất lượng đào tạo hệ trung cấp chuyên nghiệp
ngành công nghệ may còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường lao động Vì vậy việc nghiên cứu đề tài đưa ra các giải pháp hợp lý sẽ nâng cao chất lượng đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng
được nhu cầu thị trường lao động, góp phần thúc đẩy sản xuất xã hội, đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận về việc nâng cao chất lượng đào tạo
- Đánh giá thực trạng về chất lượng đào tạo hệ trung cấp chuyên nghiệp ngành Công nghệ may tại trường Cao đẳng Công nghiệp Nam định trên cơ sở khảo sát các điều kiện đảm bảo chất lượng, quá trình đào tạo, chất lượng đầu
ra bằng cách kết hợp điều tra khảo sát ở một số cơ sở sản xuất mà có các kỹ
Trang 13thuật viên trung cấp ngành Công nghệ may đang làm việc và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo hệ trung cấp chuyên nghiệp ngành Công nghệ may tại trường Cao đẳng Công nghiệp Nam
định trong thời gian tới
6 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu chất lượng đào tạo, những yếu tố ảnh hưởng
đến chất lượng đào tạo và một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng học sinh trung cấp chuyên nghiệp ngành công nghệ may được trường Cao đẳng Công nghiệp Nam định đào tạo
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc và tham khảo các tài liệu, tạp chí sách, báo nhằm phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá các tri thức đã có trong tài liệu, đưa ra cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra, khảo sát, tổng hợp và thống
kê xử lý số liệu để đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng
đào tạo cũng như đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng đào tạo hệ trung cấp chuyên nghiệp ngành Công nghệ may
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu nhằm hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn đưa ra các kết luận về việc nâng cao chất lượng đào tạo hệ trung cấp chuyên nghiệp ngành Công nghệ may tại trường Cao đẳng công nghiệp Nam Định
Trang 148 Cấu trúc của luận văn
Luận văn được cấu trúc như sau:
- Mở đầu
- chương 1: Cơ sở lý luận về việc nâng cao nâng cao chất lượng
đào tạo
- Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo hệ TCCN ngành Công nghệ may tại trường CĐCN nam Định
- chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo hệ TCCN ngành Công nghệ may tại trường CĐCN Nam Định
- Kết luận và kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 15Chương 1 Cơ sở lý luận về việc nâng cao chất lượng
đào tạo 1.1 Một số khái niệm cơ bản
Hiện nay vấn đề chất lượng không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của ngành giáo dục mà là mối quan tâm của tất các ngành sản xuất và dịch vụ Chất lượng đào tạo là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển nhà trường Việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được coi là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ cơ sở đào tạo nào Vai trò và tầm quan trọng của chất lượng đã được xác định, tuy nhiên trong thực tế vẫn tồn tại những quan niệm khác nhau về chất lượng và chất lượng đào tạo Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, với sự phát triển của khoa học công nghệ, sự phân cấp trong hệ thống quản lý giáo dục làm tác động thường xuyên
đến quan niệm về chất lượng Vì vậy để nâng cao chất lượng đào tạo TCCN
đáp ứng thị trường lao động hiện nay, trước hết phải có sự thống nhất về mặt nhận thức, quan niệm về chất lượng đào tạo
1.1.1 Khái niệm về chất lượng
Qua nghiên cứu cho thấy có nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng Tuỳ theo cách tiếp cận, các lĩnh vực hoạt động văn hoá hay kỳ vọng của mỗi người mà quan niệm chất lượng được diễn tả rất khác nhau
- Chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc), hiện tượng làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác [24]
- Chất lượng là thước đo hay là một chỉ số về độ tốt của một sản phẩm hay dịch vụ (Nach Garwin /1994/s.25ff) [23]
- Chất lượng là khả năng thoả mãn nhu cầu của thị trường với chi phí thấp nhất (Kaoru Ishikawa) [16, tr16]
Trang 16- Theo các quan điểm quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management – TQM) và tiêu chuẩn chất lượng ISO 9000 phiên bản năm 2000 thì chất lượng là sự thoả mãn nhu cầu của khách hàng Chất lượng được đảm bảo và
đánh giá theo cả quá trình từ đầu vào, quá trình đến đầu ra [16, tr 16]
Như vậy theo các quan niệm trên đây thì chất lượng là một khái niệm
được dùng nhiều trong các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ thông qua các cách tiếp cận khác nhau Theo quan điểm mới thì đào tạo cũng là một ngành dịch
vụ đặc biệt bởi “sản phẩm của đào tạo” là nhân cách của học sinh, là kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà học sinh nhận được trong quá trình đào tạo Vì vậy quan niệm về chất lượng đào tạo cũng có những nét riêng so với các ngành dịch vụ nói chung
1.1.2 Chất lượng đào tạo
- Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu
đào tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo (Lê Đức Ngọc, Lâm Quang Thiệp - Đại học Quốc gia Hà nội) [12,tr 30]
Theo quan niệm này chỉ phù hợp trong những điều kiện mục tiêu được thiết kế chuẩn xác mới đáp ứng được nhu cầu của xã hội
- Theo Harvey/ Green, 2000 thì quan niệm về chất lượng đào tạo được hiểu như sau:
• Chất lượng được thể hiện là:
+ Vượt mức trung bình
+ Theo các quan niệm truyền thống
+ Phù hợp với các tiêu chuẩn đã có
• Chất lượng là sự hoàn hảo: Chất lượng từ đầu đến cuối hoàn hảo không mắc lỗi
Trang 17• Chất lượng gắn với giá cả phù hợp: Trong một điều kiện nhất định đưa
ra chất lượng cao nhưng phù hợp với giá cả thị trường
• Chất lượng đào tạo là khả năng phát triển của người học:
+ Tạo ra khả năng học tập tiếp tục
+ Tạo ra khả năng thăng tiến về nghề nghiệp của người học
đào tạo về chất lượng thi tốt nghiệp của học sinh mà cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn Đào tạo chỉ có ý nghĩa khi sản phẩm của đào tạo (người học) được thị trường lao động chấp nhận, được chủ sử dụng lao động hài lòng; học sinh sau khi tốt nghiệp có trình độ phù hợp với ngành nghề đào tạo, có khả năng phát triển nghề nghiệp trong tương lai (Sơ đồ 1.1)
(Sản phẩm)
Trang 18- Chất lượng đào tạo là sự đáp ứng nhu cầu của thị trường, của khách hàng, được bảo đảm bằng chất lượng quá trình từ đầu vào, đến quá trình dạy học và đầu ra – sản phẩm đào tạo [16,tr 10]
Với quan niệm này thì “chất lượng đào tạo” là khái niệm động bởi thị trường lao động luôn biến đổi về “số” và “chất” Tuỳ theo từng thời điểm khác nhau thì yêu cầu về chất lượng cũng có sự khác nhau Trong thực tế chúng ta
đã thấy rõ từ chỗ chất lượng đào tạo được đo bằng kiến thức đến chỗ đo bằng cả kiến thức, kỹ năng, thái độ; từ chỗ đánh giá cao sự tích luỹ tri thức của người học ngày nay người ta coi trọng khả năng thu thập, phân tích và tổng hợp thông tin để chuyển hoá thành tri thức Như vậy ta có thể quan niệm chất lượng đào tạo theo hai cách:
+ Chất lượng đào tạo theo quan điểm tương đối: Chất lượng đào tạo nhân lực là sự thoả mãn nhu cầu cơ bản của thị trường lao động và khách hàng trên các mặt: năng lực của người được đào tạo, giá thành đào tạo và thời điểm cung cấp nguồn nhân lực
+ Chất lượng đào tạo theo quan điểm tuyệt đối: Là sự xuất chúng, hoàn hảo, xuất sắc, là mức độ cao nhất của chất lượng.Với quan niệm này có thể không thể hiện đầy đủ ý nghĩa cũng như mức độ khác nhau của chất lượng nhưng cũng là đích để chúng ta hướng đến
Chất lượng đào tạo nhân lực được quyết định bởi quá trình: xác định miền chất lượng theo nhu cầu chung của các loại khách hàng (chất lượng theo nhu cầu) – Thiết kế quá trình đào tạo (chất lượng theo thiết kế ) - Tổ chức quá trình đào tạo (chất lượng đào tạo thực tế) Về mặt nguyên tắc, chất lượng của việc tổ chức quá trình đào tạo cho sản phẩm đầu ra phải đảm bảo chất lượng như thiết kế Tuy nhiên trong thực tế điều này khó có thể thực hiện được vẫn
có độ lệch chất lượng giữa các khâu của quá trình, điều quan trọng là cố gắng hạn chế sự khác biệt này đến mức có thể
Trang 19Sơ đồ 1.2 Giao diện về chất lượng
Quan niệm đúng về chất lượng đào tạo có ý nghĩa quyết định trong việc xác định đúng miền chất lượng theo nhu cầu của các loại khách hàng, thiết kế mục tiêu và nội dung đào tạo phù hợp và tổ chức quá trình đào tạo, nhằm đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế xã hội như chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 đã đặt ra mục tiêu của giáo dục là: “Giáo dục con người Việt nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri thức, sức khoẻ và thẩm mỹ phát triển được năng lực cá nhân, đào tạo người lao động có kỹ năng nghề nghiệp, năng động sáng tạo trung thành với lý tưởng độc lập, có ý thức công dân góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ văn minh phục
vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [1] Như vậy ý tưởng của chiến lược
đã cụ thể hoá mục tiêu của đào tạo, trong đó có đào tạo trung cấp chuyên nghiệp
Chất lượng đào tạo thực tế
Chất lượng theo thiết kế
Chất lượng theo
nhu cầu khách hàng
Trang 20Trong luận văn này tác giả tiếp cận chất lượng đào tạo theo các khâu của quá trình đào tạo đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động
1.1.3 Hiệu quả đào tạo
Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung và lĩnh vực đào tạo nói riêng người ta đều quan tâm đến hiệu quả công việc Khi đánh giá hiệu quả kinh tế đào tạo người ta thường lấy một số chỉ tiêu kinh tế làm cơ sở Nhưng hiệu quả của đào tạo là phạm trù bao quát hơn so với phạm trù hiệu quả kinh
tế đào tạo, nó bao gồm hiệu quả nghề nghiệp, chính trị, văn hoá xã hội của
đào tạo
- Hiệu quả đào tạo nhân lực các cấp trình độ nói chung và mỗi cấp trình
độ nói riêng là tỷ số kết quả hữu ích do lĩnh vực này mang lại so với mức độ
đầu tư để đảm bảo cho các lĩnh vực kinh tế xã hội hoạt động [16, tr13]
Hiệu quả đào tạo bao gồm hiệu quả trong quá trình đào tạo (hiệu quả trong) và hiệu quả ngoài quá trình đào tạo (hiệu quả ngoài)
- Hiệu quả trong: Phản ánh kết quả trong quá trình đào tạo: Tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp so với số học sinh nhập học, số năm đào tạo trung bình của một học sinh với những chi phí nhất định về đào tạo, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên kể cả chuyên môn nghề nghiệp, mức
độ kiến thức kỹ năng nghề nghiệp, chi phí đầu tư cho học sinh tốt nghiệp
- Hiệu quả ngoài: Phản ánh mức độ hay khả năng thích ứng của người lao động sau khi tốt nghiệp với đời sống xã hội và thị trường lao động:
+ Tỷ lệ học sinh đã có việc làm so với số học sinh được đào tạo
+ Tỷ lệ học sinh sau tốt nghiệp có việc làm đúng ngành nghề đào tạo so với tổng số học sinh có việc làm
+ Sự phù hợp và sự đáp ứng về phẩm chất năng lực với thực tiễn nghề nghiệp và thực tiễn tổ chức sản xuất
Trang 21+ Năng lực tiềm ẩn và thăng tiến nghề nghiệp
+ Khả năng thích ứng với môi trường luôn thay đổi
+ Khả năng tiếp tục học tập và nâng cao trình độ
Như vậy hiệu quả ngoài của đào tạo chịu sự tác động của môi trường xã hội, để nâng cao hiệu quả ngoài thì phải gắn đào tạo với sản xuất và nhu cầu của thị trường lao động
Trong quá trình đào tạo việc nâng cao hiệu quả đào tạo là một yếu tố khách quan, vì nâng cao hiệu quả đào tạo cũng chính là nâng cao chất lượng
đào tạo Nâng cao hiệu quả đào tạo đem lại hiệu quả kinh tế xã hội đồng thời với nguồn kinh phí của nước ta dành cho đào tạo còn nhiều hạn hẹp và sự
đóng góp của người học và doanh nghiệp cho giáo dục còn hạn chế thì việc nâng cao hiệu quả đào tạo là điều tất yếu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Giữa chất lượng đào tạo và hiệu quả đào tạo có quan hệ biện chứng với nhau Chất lượng đào tạo tốt đáp ứng được nhu cầu của thị trường thì sẽ đem lại hiệu quả cao và ngược lại
Qua phần đã trình bày ở trên cho ta thấy vai trò to lớn và quyết định của chất lượng đào tạo với sự phát triển đất nước, của mỗi cơ sở đào tạo và của người học Việc nâng cao chất lượng đào tạo không chỉ là nhiệm vụ của mỗi cá nhân, tập thể mà là của cả xã hội
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
Có rất nhiều yếu tố tác động làm ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo như: chương trình đào tạo, quá trình tiến hành đào tạo, trình độ chuyên môn của
đội ngũ cán bộ giảng dạy, năng lực và động cơ học tập của người học, yếu tố chính trị, các điều kiện quản lý, điều kiện khung về pháp lý Ngoài ra điều kiện kinh tế xã hội với xu thế hội nhập toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc
tế, quy luật cạnh tranh và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ tác
Trang 22động không nhỏ đến chất lượng đào tạo Như vậy không chỉ yếu tố chủ quan của cơ sở đào tạo làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo mà cả những yếu tố khách quan Sau đây là một số yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo:
1.2.1 Chương trình đào tạo
Chương trình đào tạo (CTĐT) có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng
đào tạo, bởi với cách tiếp cận CTĐT gồm cả yêu cầu và phương thức kiểm tra
đánh giá sẽ tác động đến cách học và cách dạy của nhà trường Trước tầm quan trọng của CTĐT với đầu ra của quá trình đào tạo, cho nên để đảm bảo
và nâng cao chất lượng đào tạo thì vấn đề hàng đầu là CTĐT được thiết kế phải đảm bảo chất lượng, phù hợp với các điều kiện thực hiện và sử dụng chương trình đó
Mỗi nước có các quan niệm khác nhau về CTĐT Trên thế giới CTĐT thường được sử dụng bằng thuật ngữ “Curriculum” Theo các chuyên gia giáo dục thì việc nghiên cứu CTĐT là một trong những lĩnh vực khó nhất của giáo dục bởi CTĐT thay đổi theo sự phát triển của xã hội và chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố (người học, người dạy, phụ huynh, người tuyển dụng, tôn giáo chính trị ) nên có nhiều quan niệm khác nhau về CTĐT Tuỳ theo cách lý giải khác nhau mà có cách hiểu khác nhau về CTĐT
- Theo T Wentling 1993: CTĐT là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo (Hoạt động đó chỉ có thể là một khoá đào tạo) Nó cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ ra những gì có thể trông đợi ở người học sau khi kết thúc khoá học Nó phác hoạ ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo và cũng chỉ ra phương pháp đào tạo, hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập Tất cả được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ [10]
- Theo nghị định 43/ CP: CTĐT là văn bản cụ thể hoá mục tiêu giáo dục, quy định phạm vi mức độ và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp,
Trang 23hình thức hoạt động, giáo dục, chuẩn mực và cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và toàn bộ một bậc học, cấp học, trình độ
đào tạo [5]
Tuy những quan niệm có khác nhau, song đều thừa nhận rằng các bộ phận cơ bản cấu thành một CTĐT là: Mục tiêu đào tạo; nội dung đào tạo; phương pháp, quy trình đào tạo; hình thức tổ chức; cách thức kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo chúng gắn kết với nhau như một chỉnh thể đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu, nội dung đào tạo và đáp ứng nhu cầu, lợi ích của người học Cơ sở để xây dựng chương trình đào tạo nghề phải căn cứ vào yêu cầu thực tế sản xuất dịch vụ về: Nội dung, trình độ do vị trí nghề đòi hỏi; căn cứ vào mục tiêu đào tạo của nhà nước và căn cứ vào tiến bộ của khoa học và điều kiện của cơ sở đào tạo nghề [19, tr160] Chương trình đào tạo phải được định
kỳ bổ xung, điều chỉnh dựa trên việc tham khảo chương trình chuẩn của Việt nam và quốc tế, các ý kiến phản hồi từ các nhà tuyển dụng, học sinh tốt nghiệp, các tổ chức giáo dục và các tổ chức khác, nhằm phát triển nguồn nhân lực phát triển kinh tế – xã hội [11]
CTĐT ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo, đồng thời các hoạt
động của nhà trường đều xoay quanh việc thực hiện CTĐT đề ra từ cơ cấu bộ máy đến việc tuyển chọn giáo viên, từ việc lập kế hoạch đào tạo đến các hoạt
động khác như: thư viện, phòng đào tạo, quản lý học sinh, mối quan hệ giữa các bộ phận, mối quan hệ giữa nhà trường với các cơ sở sử dụng nhân lực Như vậy nội dung CTĐT là một trong những yếu tố quan trọng của quá trình đào tạo Để quá trình đào tạo đạt chất lượng cũng như nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động thì yếu tố đầu tiên và cơ bản là cơ sở đào tạo phải xác định đúng mục tiêu cũng như nội dung chương trình
đào tạo
Trang 241.2.2 Đội ngũ giáo viên
Trên thế giới nói chung và Việt nam nói riêng nhà giáo luôn được tôn vinh với vai trò cao quý đó là đào tạo đội ngũ thế hệ trẻ tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm xã hội đi vào cuộc sống Từ xa xưa ông cha ta thường có câu
“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” và ngày nay tầm quan trọng của đội ngũ nhà giáo cũng được Đảng ta khẳng định: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh” [2, tr22] Muốn có được chất lượng tốt phải
có được đội ngũ nhà giáo tốt Trong lĩnh vực dạy nghề người giáo viên chính
là người lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và giám sát quá trình học tập và giáo dục của học sinh, là mối liên kết giữa gia đình và xã hội, góp phần hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh, đào tạo đội ngũ học sinh thành thạo tay nghề, có năng lực chuyên môn vững vàng, năng động, sáng tạo,
có ý thức tổ chức và kỷ luật đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động Vì vậy
đòi hỏi người giáo viên phải có trình độ chuyên môn, năng lực vững vàng, có khả năng tự đánh giá, có hiểu biết về xã hội, có nhân cách sư phạm và lòng yêu nghề sâu sắc, có trách nhiệm với học sinh và phải tác động tính tự giác, lòng yêu nghề cho của học sinh Như nhà sư phạm nổi tiếng người Đức đã nói:
“Người ta chỉ học thực sự khi có lòng yêu nghề và yêu thầy Phải làm cho học viên tìm được niềm vui trong học tập Không có chuyện người ta phải biết
mà chỉ có thể là người ta muốn biết.” (Hans – Georg Godamer) [17]
Chất lượng đào tạo đạt được khi đảm bảo mục đích đào tạo đặt ra đó là:
đào tạo người lao động có kiến thức, trình độ, phát triển nhân cách, đặc biệt tạo nên việc học tập suốt đời cho người học Do sự phát triển của khoa học công nghệ, yêu cầu của sự hội nhập với xu thế toàn cầu hoá đòi hỏi người học phải thường xuyên cập nhật kiến thức mới, kỹ năng giao tiếp, kiến thức văn hoá - xã hội …nên người thầy phải là tấm gương sáng về tinh thần học tập cho học sinh noi theo
Trang 25Ngoài nhiệm vụ truyền đạt kiến thức cho học sinh giáo viên phải là người tiên phong đi đầu trong công tác quản lý giáo dục, là đội ngũ trực tiếp tham gia công tác quản lý chất lượng đào tạo Trong khuyến cáo 21 điều về giáo
dục hiện đại của tổ chức UNESCO cũng chỉ rõ: “ Thầy giáo phải được đào tạo
để trở thành những nhà giáo dục nhiều hơn là những nhà chuyên gia truyền
đạt kiến thức” (điều 18)
Như vậy trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình phát triển giáo dục thì
vị trí vai trò trách nhiệm của đội ngũ giáo viên luôn được khẳng định và nâng cao, đòi hỏi người giáo viên luôn cập nhật kiến thức chuyên môn, xã hội, rèn giũa tay nghề, đổi mới phương pháp giảng dạy…hoàn thiện nhân cách nhà giáo đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của xã hội và đóng góp vai trò quan trọng
trong việc nâng cao chất lượng đào tạo
1.2.3 Năng lực và động cơ học tập của học sinh
Trong quá trình học tập người học đóng vai trò chủ đạo trong việc tiếp thu và lĩnh hội kiến thức cho nên người học có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đào tạo Mặc dù các điều kiện đảm bảo chất lượng như CTĐT, đội ngũ giáo viên có tốt đến đâu nhưng năng lực của người học quá yếu hoặc người học không tích cực, chủ động học tập và không tham gia vào quá trình học tập thì cũng không đạt được kết quả
Trong giáo dục học, năng lực được hiểu là khả năng được hình thành phát triển, cho phép một con người đạt thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp [22, tr11]
- Năng lực học tập sẽ giúp học sinh hình thành những cảm xúc tích cực đối với hoạt động học tập Năng lực học tập của học sinh TCCN phụ thuộc vào kết quả quá trình đào tạo ở trường phổ thông và phụ thuộc vào khả năng nhận thức
và thực hành của người học Để có đội ngũ học sinh có năng lực học tập tốt
Trang 26chủ yếu phụ thuộc công tác tuyển sinh, lựa chọn những học sinh có đủ năng lực vào học tập đó là cơ sở nâng cao chất lượng đào tạo
- Trong cấu trúc của hoạt động học tập thành tố tâm lý quan trọng nhất là
động cơ học tập Hoạt động học tập chỉ có kết quả cao khi xuất hiện nhu cầu học tập, các điều kiện và môi trường học tập tốt
Trong hoạt động học tập thì học sinh đóng vai trò chủ thể, bản thân người học phải chủ động, tự giác tích cực trong việc tiếp thu kiến thức
Sơ đồ 1.3 Mối quan hệ cơ bản của quá trình dạy học [15, tr9]
Đối với học sinh, học tập là việc tiếp thu kiến thức và hành động của người học nhằm thu nhận kiến thức mới, hình thành và phát triển các kỹ năng trí tuệ và hành động nghề nghiệp, góp phần hình thành và phát triển nhân cách
đúng đắn trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp của mỗi cá nhân trong xã hội Các kiến thức và kỹ năng mới bao giờ cũng được hình thành và phát triển dựa trên vốn kiến thức và kỹ năng lao động cơ bản Vì vậy quá trình học tập
đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa các hoạt động tư duy lô gíc và cảm xúc, giữa trí tuệ và tình cảm giữa nhận thức và hành động Để học sinh tiếp thu một
Giáo viên Học sinh
Học sinh Đối tượng lĩnh hội
Khách thể
Trang 27cách hiệu quả quá trình giảng dạy phải coi học sinh là chủ thể của quá trình học tập và giải pháp quan trọng là tích cực hoá quá trình nhận thức của học sinh
“Tích cực hoá là tập hợp các hoạt động nhằm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập’ [21,tr269]
Như vậy việc tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh đòi hỏi một
kế hoạch lâu dài, toàn diện khi phối hợp hoạt động giữa gia đình – nhà trường
và xã hội Trong đó phải hình thành cho học sinh ý thức, thái độ nghề nghiệp Thái độ nghề nghiệp là sự nhận thức, ý thức nghề nghiệp, định hướng trong việc lựa chọn nghề nghiệp như:
+ Hứng thú với nghề nghiệp
+ Sự hài lòng thoả mãn với nghề
+ Động cơ học nghề
+ ý thức kỹ thuật và trách nhiệm với nghề nghiệp
+ Sự say mê, sáng tạo trong học tập, lao động nghề nghiệp
+ Sự học tập, rèn luyện vươn lên trong nghề nghiệp
+ Quan hệ ứng xử tốt với khách hàng
Đặc biệt với ngành may là một ngành làm đẹp cho xã hội, cần ở người học tính cẩn thận, tỷ mỷ và có tính thẩm mỹ cao đòi hỏi tính kiên trì, sáng tạo của học sinh Do vậy phải tác động để học sinh có lòng yêu nghề và có thái độ nghề nghiệp đúng đắn, đặc biệt là tác phong làm việc công nghiệp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo Tuy nhiên thái độ nghề nghiệp của học sinh còn chịu sự tác động bởi yếu tố xã hội và của nhà trường
- Yếu tố xã hội:
Trang 28+ Công tác hướng nghiệp, dư luận xã hội về học TCCN
+ Nhu cầu xã hội về lực lượng TCCN ngành may
+ Sự phát triển của ngành may công nghiệp
- Yếu tố nhà trường:
+ Mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo
+ Đội ngũ giáo viên và vai trò của giáo viên chủ nhiệm
+ Quan hệ của nhà trường với các doanh nghiệp
+ Chính sách khen thưởng và hoạt động của các đoàn thể
Như vậy năng lực và động cơ học tập của học sinh có ý nghĩa quan trọng
đến chất lượng Muốn nâng cao chất lượng đào tạo phải lựa chọn được học sinh có đủ năng lực học tập, đồng thời mỗi người giáo viên phải có tác động
đến ý thức thái độ nghề nghiệp của học sinh Học sinh có động cơ học tập tốt
sẽ chủ động tích cực, tự giác hoàn thành nhiệm vụ học tập Xu thế đổi mới phương pháp dạy học sẽ tăng cường tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh và tăng tính hành dụng cho học sinh, hướng tới mục tiêu học tập hiện đại
là: “Học để biết, học để làm, học để tồn tại và học để chung sống với mọi người”[19, tr235]
1.2.4 Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá trình dạy học Cùng một nội dung nhưng học sinh có hứng thú, tích cực học tập hay không; có để lại những ấn tượng sâu sắc và khơi dậy tình cảm lành mạnh trong tâm hồn các em hay không phần lớn phụ thuộc vào phương pháp giảng dạy của người thầy [24,tr 205] Trong quá trình dạy học việc tìm tòi những phương pháp dạy học thích hợp cho mỗi bài học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của giờ học là hoạt động sáng tạo chủ yếu, thường xuyên của người thầy giáo
Trang 29Qua nghiên cứu cho thấy có nhiều quan niệm khác nhau về phương pháp dạy học
- “Phương pháp dạy học là con đường, cách thức dạy học nhằm đạt
được mục đích dạy học” [7, tr 51]
- Phương pháp đào tạo là cách thức tổ chức các hoạt động của người dạy và người học nhằm hình thành và phát triển ở người học các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và phát triển nhân cách nghề nghiệp trong quá trình đào tạo” [13, tr 55]
Phương pháp đào tạo là một trong những nhân tố cấu thành quá trình đào tạo Quá trình đào tạo muốn đạt kết quả tốt thì người giáo viên phải nắm vững quy luật vận động của quá trình đào tạo và giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố cơ bản cấu thành quá trình đạo tạo như một chỉnh thể trọn vẹn (Sơ đồ 1.3)
Sơ đồ 1.4 Mối quan hệ giữa các nhân tố của quá trình đào tạo
Mục tiêu
Phương pháp Nội dung
Trang 30Trong lý thuyết có nhiều phương pháp dạy học tuỳ theo các quan điểm khác nhau như:
- Phân loại theo con đường nhận thức có các phương pháp: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, hồi quy…
- Phân loại theo nguồn kiến thức và đặc điểm tri giác có các phương pháp: dùng ngôn ngữ, trực quan, thực hành…
- Phân loại theo hình thức tổ chức quá trình dạy học có các phương pháp: dạy học theo nhóm, dạy học theo dự án, dạy học giáp mặt …
Trong dạy học không có và không thể có phương pháp dạy học nào được coi là vạn năng Có nhiều trường hợp có thể áp dụng cùng một phương pháp dạy học để giải quyết các nhiệm vụ dạy học khác nhau, truyền đạt những nội dung khác nhau, nhưng cũng có những trường hợp đã áp dụng nhiều phương pháp dạy học để giải quyết cùng một mục đích dạy học, cùng một nội dung dạy học [7,tr 52] Như vậy, để đạt được hiệu quả đào tạo cũng như nâng cao chất lượng đào tạo đòi hỏi người giáo viên phải biết lựa chọn phối hợp các phương pháp dạy học trên cơ sở mục đích bài giảng cụ thể, các điều kiện dạy học và đối tượng học sinh cụ thể, đó cũng chính là nghệ thuật của người giáo viên
1.2.5 Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
“Cơ sở vật chất là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng, hiệu quả và hiệu suất cao trong đào tạo” [8, tr 97] Nhà trường nếu đáp ứng
đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất (CSVC) trang thiết bị dạy học sẽ tạo
điều kiện tốt cho việc học tập, giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng đào tạo vì CSVC, trang thiết bị dạy học là phương tiện lao động sư phạm của giáo viên
và học sinh Đó là một hệ thống gồm: phòng học, nhà xưởng, phòng thí nghiệm, thiết bị dạy học, (máy móc, vật tư, tài liệu) Ngoài ra ký túc xá, câu lạc bộ, nhà ăn, phương tiện vận chuyển có tính chất phụ trợ cho giáo dục
Trang 31Trong các trường dạy nghề thì xưởng thực hành với trang thiết bị hiện đại
đóng vai trò quan trọng góp phần hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cho học sinh Hệ thống mặt bằng và cơ sở vật chất của trường phải đảm bảo tiêu chuẩn nhằm đáp ứng chương trình đào tạo và số lượng học sinh của trường Trang thiết bị dạy học là điều kiện để nâng cao hiệu quả và chất lượng
đào tạo Các thiết bị và đa phương tiện sẽ giúp giáo viên áp dụng các phương pháp giảng dạy mới, tăng tính trực quan, hỗ trợ việc truyền tải lượng thông tin lớn trong một thời gian ngắn, tăng tính chủ động tiếp thu kiến thức Đặc biệt học sinh có thể cập nhật kiến thức mới dưới sự hướng dẫn của thầy cô giáo thông qua Internet
Trang thiết bị hiện đại giúp học sinh tiếp thu công nghệ mới, hiện đại phù hợp với thực tế sản xuất, nâng cao chất lượng đào tạo, học sinh có kiến thức,
kỹ năng phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động
Tuy nhiên để có thiết bị hiện đại với công nghệ mới đối với các trường nghề trong điều kiện kinh phí hạn hẹp như hiện nay là rất khó và đặc biệt với
sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ càng là cản trở lớn cho các trường trong việc đầu tư trang thiết bị Để học sinh có điều kiện tiếp cận với công nghệ mới, hiện đại phù hợp với thực tế sản xuất thì nhà trường phải gắn liền với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
1.2.6 Mối quan hệ giữa nhà trường và cơ sở sử dụng lao
động
Để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo trong điều kiện cơ sở đào tạo còn nhiều hạn chế thì việc huy động tiềm lực của cơ sản xuất kinh doanh, dịch vụ (gọi tắt là cơ sở sử dụng laođộng (CSSDLĐ) tham gia và quá trình đào tạo là hết sức cần thiết Thông qua mối quan hệ góp phần hình thành cho học sinh những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với thực tế đổi mới kỹ thuật, công nghệ và tổ chức sản xuất, hình thành thái độ nghề nghiệp đúng
Trang 32đắn trong lao động, hình thành tác phong công nghiệp, tính kỷ luật, tính chính xác về quy trình kỹ thuật và công nghệ, tính tiết kiệm, lòng say mê nghề nghiệp thông qua lao động sản xuất Mối quan hệ giữa nhà trường và CSSDLĐ góp phần tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng:
- Mục tiêu và nội dung đào tạo được xây dựng phù hợp với yêu cầu của CSSDLĐ: Khi thiết lập được mối quan hệ nhà trường và CSSDLĐ sẽ thu hút các chuyên gia của các CSSDLĐ phát triển các CTĐT đặc biệt đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo theo hướng bám sát nhu cầu thực
tiễn của sản xuất theo phương châm: “Dạy cái gì mà xã hội cần, người học cần chứ không dạy cái gì mà nhà trường sẵn có”
- Nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viên: thông qua mối quan hệ nhà trường thu hút các chuyên gia của các CSSDLĐ có trình độ tham gia hoạt
động đào tạo, đồng thời tạo điều kiện cho giáo viên nhà trường tham quan, học hỏi kinh nghiệm tại các cơ sở sản xuất
- Tăng cường cơ sở vật chất cho đào tạo: CSSDLĐ cung cấp tài liệu,
đầu tư thiết bị có công nghệ hiện đại phù hợp thực tiễn sản xuất Thông qua các hợp đồng đào tạo CSSDLĐ đóng góp kinh phí cho nhà trường phục vụ cho việc nâng cao chất lượng đào tạo
- Cải tiến tổ chức kiểm tra đánh giá chất lượng đào tạo: Việc kiểm tra
đánh giá chất lượng không chỉ bó hẹp trong phạm vi quá trình đào tạo trong nhà trường mà cần được thực hiện ở các cơ sở sản xuất sau khi học sinh tốt nghiệp làm việc Nhà trường nắm bắt thông tin phản hồi về phẩm chất năng lực của học sinh đang làm việc tại các cơ sở sản xuất để đổi mới điều chỉnh mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên chuẩn bị các
điều kiện đảm bảo để nâng cao chất lượng đào tạo
Có rất nhiều yếu tố tác động đến quá trình đào tạo và ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo Vì vậy để nâng cao chất lượng đào tạo bên cạnh việc quan tâm
Trang 33đến các điều kiện đảm bảo chất lượng, xây dựng tốt mối quan hệ giữa nhà
trường và CSSDLĐ cần phải làm tốt công tác quản lý chất lượng đào tạo
1.3 Quản lý chất lượng đào tạo
Trong giáo dục, người ta càng ngày nhận ra chất lượng quyết định sự thắng lợi, kém chất lượng đồng nghĩa với sự thất bại Rất nhiều chỉ số xác
định chất lượng trong trường học đã được đưa vào trong quản lý [18, tr25] Vấn đề quản lý chất lượng thực chất là tạo cơ chế chịu trách nhiệm của nhà trường trước người cung cấp tài chính, người sử dụng dịch vụ và toàn xã hội Quản lý chất lượng đào tạo giúp nhà trường nâng cao chất lượng và cho phép các cơ quan bên ngoài đánh giá hiệu quả và kết quả đào tạo tại trường, phân hạng, công nhận tương đương…
1.3.1 Phương thức quản lý chất lượng
Khác với các quá trình sản xuất công nghiệp, các loại hình dịch vụ hàng hoá, lĩnh vực đào tạo có những đặc trưng riêng Từ các yếu tố đầu vào (chương trình, nội dung, CSVC, đội ngũ giáo viên, học sinh) đến các hoạt động dạy - học… đặc biệt là sản phẩm của đào tạo là “nhân cách con người” Với ý nghĩa sản phẩm của đào tạo là con người không có phế phẩm, vì vậy công tác quản
lý chất lượng đào tạo là nhiệm vụ trọng tâm của công tác đào tạo
Quản lý chất lượng đào tạo là quá trình tổ chức thực hiện có hệ thống các biện pháp quản lý toàn bộ quá trình đào tạo đáp ứng yêu cầu người sử dụng lao động (Từ khâu tìm hiểu nhu cầu thị trường lao động, thiết kế CTĐT đến công tác tuyển sinh, tổ chức đào tạo và kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo) [12, tr49]
Hiện nay trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ nói chung cũng như lĩnh vực đào tạo đã áp dụng nhiều phương thức quản lý chất lượng ở nước ta hiện nay có một số nghiên cứu và ứng dụng ISO & TQM trong kiểm định và xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng
Trang 34đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề [12, tr39] Việc lựa chọn mô hình quản lý chất lượng phụ thuộc vào điều kiện của từng cơ sở đào tạo, năng lực quản lý, đội ngũ cán bộ công nhân viên, giáo viên nhà trường
Các mô hình quản lý chất lượng theo ISO & TQM:
- Kiểm tra chất lượng - sự phù hợp (Quality control – conformance: QC)
Trong đào tạo mô hình này thể hiện ở cách thức quản lý, đánh giá chất lượng đào tạo trên cơ sở kết quả kiểm tra thi cử cuối khoá đào tạo mà không quan tâm đến chất lượng tuyển sinh và quá trình đào tạo
- Mô hình kiểm tra chất lượng toàn diện (Total quality control: TQC)
Đây là việc kiểm tra, kiểm soát của một hệ thống nhằm đạt được mức chất lượng nhất định So với mô hình kiểm tra chất lượng QC, mô hình TQC
có ưu điểm là việc kiểm tra chất lượng sản phẩm được thực hiện từ khâu đầu
đến khâu cuối nên có những nhận xét về tình hình của cả hệ thống đào tạo
- Mô hình quản lý chất lượng tổng thể TQM (Total quality management)
TQM là sự hợp tác của tất cả các thành viên trong một tổ chức nhằm đưa chất lượng làm trọng tâm để thoả mãn yêu cầu của khách hàng cho cả quá trình lâu dài cũng như đạt mục đích thoả mãn các tổ chức và các thành viên trong xã hội
Như vậy quản lý chất lượng không chỉ là nhiệm vụ của nhà quản lý mà là nhiệm vụ của mọi thành viên trong nhà trường Mô hình TQM thích hợp hơn cả, vì mô hình này phát huy tối đa nguồn lực con người trong nhà trường tham gia vào quản lý chất lượng đào tạo Vì vậy cần phải có biện pháp quản lý hữu hiệu tác động đến mọi người phát huy năng lực, nhiệt tình tham gia giải quyết vấn đề chất lượng, mọi người đều coi quản lý chất lượng là trọng tâm của nhiệm vụ (Sơ đồ 1.5)
Trang 35Sơ đồ 1.5 Mô hình quản lý chất lượng TQM [9]
- Lập kế hoạch chất lượng: thông qua việc phân tích những điểm mạnh, điểm yếu của nhà trường hoặc thông qua cán bộ, giáo viên hay khách hàng, chủ sử dụng nhân lực…để lập kế hoạch chất lượng phù hợp
- Điều chỉnh chất lượng: Thông qua các đề nghị của khách hàng hay kiến nghị của cán bộ, giáo viên điều chỉnh chất lượng phù hợp yêu cầu thị trường lao động
- Kiểm tra chất lượng: Phải kiểm tra theo các hợp đồng hoặc theo các mục tiêu đã đặt ra
- Thể hiện chất lượng: Chất lượng được khẳng định được ghi nhận vào sổ tay chất lượng và thông qua báo cáo hay phương tiện truyền thông có
TQM là trọng tâm nhiệm vụ
Thể hiện chất
lượng
Điều chỉnh chất lượng
Kiểm tra chất lượng Xây dựng chiến lược chất lượng
Trang 36thể nghe, nhìn thấy thông tin chất lượng, đó cũng chính là sự khẳng định và quảng bá chất lượng [9]
Như vậy áp dụng mô hình quản lý TQM sẽ giúp cho quá trình quản lý
đào tạo được hoàn thiện “làm đúng ngay từ đầu” để nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo
1.3.2 Kiểm định chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo có thể đánh giá trực tiếp qua sản phẩm đào tạo, qua chất lượng học sinh tốt nghiệp, nhưng cũng có thể đánh giá thông qua các
điều kiện đảm bảo chất lượng Kiểm định chất lượng được tiếp cận theo hai cách đánh giá trên vì nếu chỉ đánh giá theo chất lượng học sinh tốt nghiệp nhiều khi mang tính chủ quan của người dạy
Kiểm định chất lượng đào tạo là một hệ thống tổ chức và giải pháp để
đánh giá chất lượng đào tạo (đầu ra) và các điều kiện đảm bảo chất lượng
đào tạo theo các chuẩn mực quy định [12, tr 39]
Kiểm định chất lượng đào tạo không nhằm mục đích xếp loại các trường
mà thực chất mục đích của công tác kiểm định chất lượng đào tạo là:
- Đánh giá xác nhận hệ thống đảm bảo chất lượng hoặc một chương trình đào tạo theo bộ tiêu chuẩn do cơ quan kiểm định đề ra và được nhà trường thừa nhận và cam kết thực hiện
- Trợ giúp nhà trường cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thị trường lao động và đảm bảo lợi ích cho người học
Để quá trình kiểm định đạt kết quả phải thực hiện tốt việc đánh giá đo lường chất lượng đào tạo
Trang 371.3.3 Đánh giá chất lượng đào tạo
Chất lượng đào tạo như đã trình bày ở trên là khái niệm động, đa chiều và gắn với các yếu tố chủ quan thông qua quan hệ giữa người với người Do vậy không thể dùng một phép đo đơn giản để đánh giá chất lượng đào tạo Trong
đào tạo người ta dùng một thước đo bao gồm các chỉ tiêu và các chỉ số ứng với các lĩnh vực đào tạo của trường
Đánh giá chất lượng đào tạo có thể được tiến hành bởi chính cán bộ giảng dạy, học sinh của trường nhằm mục đích tự đánh giá các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo cũng như bản thân chất lượng đào tạo của trường mình Việc đánh giá chất lượng đào tạo còn được tiến hành từ bên ngoài, từ các cơ quan quản lý, cơ sở sử dụng lao động có các học sinh nhà trường sau khi tốt nghiệp làm việc…với các mục đích khác nhau như xếp hạng, khen – chê, khuyến khích tài chính…
Căn cứ số đo và các tiêu chí xác định, việc đánh giá năng lực và phẩm chất của người tốt nghiệp (sản phẩm đào tạo) để nhận định, phán đoán và đưa
ra các giải pháp nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo
Để đánh giá chất lượng đào tạo có nhiều mô hình đánh giá khác nhau như:
- Mô hình các yếu tố tổ chức là mô hình quản lý toàn bộ quá trình đào tạo từ đầu vào, quá trình và đầu ra, kết quả đào tạo và khả năng thích ứng về lao động và việc làm
- ở Mỹ đi theo mô hình đầu vào, quá trình và đầu ra với 21 chỉ số các
loại (Sơ đồ 1.6)
Trang 38Sơ đồ 1.6 Đánh giá chất l−ợng theo quá trình đầu vào - quá trình - đầu ra
của Mỹ [12,tr54]
Châu âu sử dụng hệ thống đánh giá chất l−ợng gồm: các tiêu chuẩn về tiềm lực và các tiêu chuẩn kết quả có tỷ lệ bằng nhau là 50% Tổng số điểm
là: 1000 điểm (đ) Trong hệ thống này có 9 tiêu chuẩn cụ thể (Sơ đồ 1.7)
Sơ đồ 1.7 : Mô hình hệ thống đánh giá chất l−ợng theo châu Âu [9]
- Chất l−ợng giảng dạy
Đội ngũ cán bộ, giáo viên
90 đ (9%)
Chính sách
và chiến l−ợc 80 đ (8%)
Nguồn lực
90 đ (9%)
Quá
trình
140 đ (14%)
Kết quả
150 đ (15%)
Mức độ hài lòng của nhân viên
90 đ (9%)
Mức độ hài lòng khách hàng 200đ (20%)
Trách nhiệm xã hội 60đ
Trang 39Trong đó có 3 tiêu chí quan trọng đó là: Đội ngũ cán bộ giáo viên, tiềm năng, mức độ hài lòng của khách hàng [ 9]
Những phân tích trên cho thấy những thước đo đơn giản về thành tích của nhà trường là chỉ số không đầy đủ về chất lượng thực sự của trường đó Để
đánh giá một cách chính xác về chất lượng đào tạo của nhà trường cần xem xét các chỉ số đầu vào, quá trình của hệ thống có tầm quan trọng như chỉ số kết quả đầu ra của đào tạo
Như vậy đánh giá chất lượng đào tạo phải đánh giá thông qua các quá trình đào tạo từ đầu vào - quá trình - đầu ra, trong đó coi trọng sự hài lòng của khách hàng hay một cơ sở đào tạo có chất lượng khi sản phẩm của đào tạo đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động cả về kiến thức, kỹ năng, thái độ
Đánh giá chính xác về chất lượng đào tạo của nhà trường giúp nhà trường nhận định đúng về thực trạng, đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo
Trang 40Kết luận chương 1
Chất lượng đào tạo là sự đáp ứng nhu cầu của thị trường, của khách hàng, được bảo đảm bằng chất lượng quá trình từ đầu vào, đến quá trình dạy học và đầu ra – sản phẩm đào tạo Quan niệm đúng về chất lượng đào tạo có ý nghĩa quyết định trong việc xác định đúng miền chất lượng theo nhu cầu của các loại khách hàng, thiết kế mục tiêu và nội dung đào tạo phù hợp và tổ chức tốt quá trình đào tạo nhằm đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế
Có rất nhiều yếu tố tác động làm ảnh hưởng tới quá trình đào tạo trong đó
có các yếu tố bên trong, bên ngoài, yếu tố chủ quan, khách quan…Ngoài những yếu tố như CTĐT, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất… còn có mối quan
hệ giữa trường và các cơ sở sử dụng nhân lực Đó là yếu tố quan trọng mà nhà trường, các ngành, khoa trong trường cần phấn đấu gây dựng, liên kết chặt chẽ tạo nên sức mạnh góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng thị trường lao động
Các biện pháp quản lý đào tạo nói chung và quản lý chất lượng đào tạo nói riêng mà phù hợp có ý nghĩa quyết định trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo Hệ thống quản lý chất lượng TQM sẽ phát huy tổng thể năng lực, tinh thần trách nhiệm của cán bộ quản lý, cán bộ giáo viên tham gia quản lý chất lượng, thực hiện công tác kiểm định và đánh giá chất lượng đào tạo của nhà trường tìm ra những giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng
đào tạo Như vậy nâng cao chất lượng không phải là nhiệm vụ của riêng ai mà
là trách nhiệm chung của toàn thể cán bộ, giáo viên, công nhân viên trong nhà trường Nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao
động là mục tiêu để nhà trường hướng tới