- Quá trình dạy học QTDH là một quá trình dưới sự lãnh dạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức,
Trang 1CHO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
CHUYÊN SÁU SƯ PHẠM KỸ THUẬT ĐIỆN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN VĂN THỊNH
Hà Nội – năm 2014
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã dành tình cảm, động viên, tạo điều kiện để tôi đạt được kết quả như ngày hôm nay
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn không tránh khỏi khiếm khuyết Kính mong
sự chỉ dẫn và góp ý của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để kết quả nghiên cứu tiếp theo được hoàn thiện hơn
Nam Định , ngày tháng năm 2014
Vũ Mạnh Hùng
Trang 33
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, những gì mà tôi viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể
Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo vệ luận văn thạc sỹ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở trên đây
Người cam đoan
Vũ Mạnh Hùng
Trang 44
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU CẬP NHẬT KIẾN THỨC BÀI GIẢNG ”TỰ ĐỘNG ĐIỀU CHỈNH TRUYỀN ĐỘNG ĐIỆN” 10
1.1 Cơ sở phương pháp luận 10
1.1.1 Cơ sở triết học và các quan điểm tiếp cận: 10
1.2 Một số khái niệm: 10
1.2.1 Quá trình dạy học : 10
1.2.2 Các nhân tố cơ bản của quá trình dạy học và mối quan hệ giữa chúng: 11
1.2.3 Bản chất của quá trình dạy học : 15
1.2.4 Học tập là quá trình nhận thức tích cực 16
1.3 Công nghệ dạy học hiện đại 20
1.3.1 Công nghệ 20
1.3.2 Công nghệ dạy học 20
1.3.3 Bản chất và đặc điểm của công nghệ dạy học hiện đại 21
1.3.4 Các thành phần của công nghệ dạy học hiện đại 22
1.3.5 Tác dụng của công nghệ dạy học 23
1.3.6 Những điểm lưu ý về công nghê dạy học hiện đại 25
1.3.7 Một số xu thế của dạy học hiện đại 26
1.4 Phương tiện dạy học 28
1.4.1 Phương tiện 28
1.4.2 Đa phương tiện (Multimedia) 28
1.4.3 Phương tiện dạy học 30
1.4.4 Vai trò của phương tiện dạy học 30
1.4.5 Khả năng dạy học bằng máy tính điện tử 32
1.5 Đổi mới nội dung dạy học 38
1.5.1 Kế hoạch dạy học 38
1.5.2 Đổi mới chương trình 38
1.5.3 Đổi mới sách giáo khoa, giáo trình giảng dạy 40
Chương II: THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY MÔN HỌC TỰ ĐỘNG ĐIỀU TRỈNH TRUYỀN ĐỘNG ĐIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP 43
2.1 Khái quát về công tác dạy nghề ở tỉnh Nam Định 43
Trang 55
2.1.1.Quy mô, số lượng, trình độ các nghề đào tạo 43
2.1.2 Các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy nghề 45
2.2 Thực trạng đào tạo ngành điện trường Đại học kinh tế kỹ thuật - công nghiệp Nam Định 47
2.2.1 Giới thiệu về trường 47
2.2.2 Thực trạng đào tạo ngành điện 50
2.2.3 Thực trạng giảng dạy môn học “Tự động điều chỉnh truyền động điện” 51
Chương III: NGHIÊN CỨU CẬP NHẬT KIẾN THỨC BÀI GIẢNG “TỰ ĐỘNG ĐIỀU CHỈNH TRUYỀN ĐỘNG ĐIỆN” 61
3.1 Cập nhật nội dung cho môn học “Tự động điều chỉnh truyền động điện” 62
3.1.1 Tái cấu trúc và cập nhật nội dung môn học “Tự động điều chỉnh truyền động điện” 62
3.2 Tái cấu trúc nội dung chương 2 65
3.2.1 Các phần tử tự động 65
3.2.1 Điều khiển gián đoạn 70
3.3 Tái cấu trúc nội dung chương 5 79
3.3.1 Mô hình toán học của động cơ không đồng bộ 79
3.3.3 Khái quát các phương pháp điều khiển 87
3.3.4 Điều khiển bằng tần số 91
3.3.5 Hệ thống nối tầng động cơ không đồng bộ 97
3.4 Đánh giá nội dung môn học “Tự động điều chỉnh truyền động điện” sau khi tái cấu trúc nội dung 101
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 66
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 CNTT&TT Công nghệ thông tin và truyền thông
Trang 7Để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu đặt ra đối với nguồn nhân lực
là: Có trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, tay nghề, đặc biết là nguồn nhân lực cao
Ngành điện đã “ăn” sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống, từ sản xuất tư liệu sản xuất đến trực tiếp làm ra sản phẩm Cao cấp hơn, các ngành CN tự động điều chỉnh truyền động điện còn phục vụ cho an ninh quốc phòng, y tế… Có lẽ, việc phát triển tự động hoá
là yêu cầu không thể bàn cãi hiện nay, nhưng trên bước đường thực hiện mục tiêu này, theo các chuyên gia trong ngành, nỗi lo lớn nhất hiện nay là nguồn nhân lực, vừa thiếu lại vừa yếu Đây là vấn đề đang đặt ra với ngành giáo dục
Trong đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại hóa, việc phát triển và ứng dụng CNTT&TT, môi trường dạy học đa phương tiện vào quá trình dạy học là yêu cầu bắt buộc Với phương pháp học tập mới này, SV sẽ đóng vai trò trung tâm trong hoạt động dạy học Vai trò của SV đối với việc học sẽ mang tính tích cực, chủ động hơn
Môn học Tự động điều chỉnh truyền động điện là môn không thể thiếu trong ngành điện, do đó là môn học bắt buộc đối với sinh viên học ngành này Đây là môn học có nội dung trừu tượng và đòi hỏi SV có tư duy cao Do đó để đào tạo được nguồn nhân lực cao đòi hỏi các trường phải có trang thiết bị dạy học trực quan Nhưng hầu hết các nhà trường không đáp ứng được Điều này, làm người học khó khăn hơn trong quá trình lĩnh hội kiến thức
Trang 88
Do đó để tiết học trực quan, sinh động khi giảng dạy môn Kỹ thuật nói chung và
Kỹ thuật Điện nói riêng, giúp SV tiếp cận gần với thực tế và khác phục phần nào còn thiếu về mặt trang thiết bị Vì nhứng lý do đó và được sự đồng ý của TS Trần Văn Thịnh,
tôi đã lựa chọn đề tài : “Nghiên cứu cập nhật kiến thức bài giảng Tự động điều chỉnh truyền động điện cho trường Đại học kinh tế kỹ thuật công nghiệp”
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Bài giảng Tự động điều chỉnh truyền động điện
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài cập nhật nội dung kiến thức cho bài giảng tự động điều chỉnh truyền động điện Từ đó giúp cho người học có thể bắt kịp với trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tìm hiểu môn học Tự động điều chỉnh truyền động điện
- Phân tích nội dung, phương pháp dạy học môn Tự động điều chỉnh truyền động điện
- Cập nhật nội dung cho môn học
Trang 99
5 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và sử dụng Bài giảng điện tử cho môn “Tự động điều chỉnh truyền động điện” theo hướng dạy học hiện đại, đáp ứng yêu cầu sư phạm thì sẽ hỗ trợ tốt hoạt động dạy và học, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn “Tự động điều chỉnh truyền động điện” ở Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phân tích cơ sở lý luận của việc xây dựng nội dung bài giảng tự động điều chỉnh truyền động điện
- Phân tích nội dung cập nhật cho môn học tự động điều chỉnh truyền động điện
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được thể hiện trong 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương II: Thực trạng giảng dạy môn học "tự động điều chỉnh truyền động điện"
tại trường Đại học kinh tế kỹ thuật công nghiệp
Chương III: Nghiên cứu cập nhật kiến thức bài giảng ”Tự động điều chỉnh truyền
động điện”
Trang 1010
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU CẬP NHẬT KIẾN THỨC BÀI GIẢNG ”TỰ ĐỘNG ĐIỀU CHỈNH TRUYỀN ĐỘNG
ĐIỆN”
1.1 Cơ sở phương pháp luận
SPKT là một lĩnh vực khoa học sư phạm, chuyên ngành nghiên cứu các hiện tượng, các vấn đề, các quá trình đào tạo nghề nghiệp nhắm tìm hiểu các đặc tính, các mối quan hệ phát hiện các quy luật của quá trình đào tạo nghề nghiệp Cũng như bất cứ một lĩnh vực nghiên cứu khoa học nào, các nghiên cứu về SPKT đều trước hết phải dựa trên những quan điểm lý luận cơ bản, nền tảng phản ánh những quan điểm giáo dục tiến bộ của dân tộc và thời đại, những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Đặc biệt trong lĩnh vực SPKT, các cơ sở lý luận về hoạt động, về tư duy kỹ thuật và nhận thức khoa học, các quan điểm biện chứng duy vật, các quan điểm phát triển nguồn nhân lực và các quy luật phát triển KH-CN là những cơ sở phương pháp luận quan trọng để xây dựng, ứng dụng và nghiên cứu các vấn đề trong lĩnh vực SPKT Nói cách khác, phương pháp luận là hệ thống lý luận về phương pháp, phản ánh hệ thống các quan điểm, tiền đề xuất phát và các quy luật chung nhất của quá trình phát triển của xã hội, tự nhiên và tư duy làm cơ sở cho công tác nghiên cứu và ứng dụng trong khoa học sư phạm nói chung
và trong lĩnh vực SPKT nói riêng
1.1.1 Cơ sở triết học và các quan điểm tiếp cận:
Cơ sở phương pháp luận trong lĩnh vực khoa học SPKT là các quan điểm tư tưởng,
lý luận triết học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các trào lưu triết học
1.2 Một số khái niệm:
1.2.1 Quá trình dạy học :
Từ trước đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về quá trình dạy học, song ta có
thể nói một cách tổng quát quá trình dạy học như sau:
- Quá trình dạy là quá trình hoạt động của giáo viên (GV) nhằm tổ chức và điều khiển quá trình học của học sinh (HS), giúp HS lĩnh hội tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ
Trang 11- Quá trình dạy học (QTDH) là một quá trình dưới sự lãnh dạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức, học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học
Song để có quan điểm đúng đắn và chính xác ta phải thấy rõ các nhân tố cơ bản và bản chất của QTDH
1.2.2 Các nhân tố cơ bản của quá trình dạy học và mối quan hệ giữa chúng:
QTDH là một hệ thống bao gồm các nhân tố cơ bản sau:
- Môi trường sư phạm,
- Các mối quan hệ (Thuận, ngược, liên nhân cách)
1.2.2.1 Hoạt động học tập và hoạt động dạy học
Quá trình dạy học là quá trình phối hợp thống nhất hoạt động điều khiển, tổ chức hướng dẫn của giáo viên với hoạt động lĩnh hội tự giác, tích cực sáng tạo của học sinh nhằm làm cho học sinh đạt tới mục tiêu dạy học Quá trình dạy học bao hàm trong đó hoạt
Trang 1212
động dạy và hoạt động học, được thực hiện đồng thời cùng với một nội dung và hướng tới cùng một mục đích
Hoạt động dạy học
Giáo viên giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ quá trình dạy học Giáo viên xây dựng
và thực thi kế hoạch dạy học, tổ chức cho học sinh hoạt động với mọi hình thức, trong những thời gian và không gian khác nhau, giáo viên là người trực tiếp đảm nhiệm việc giảng dạy, giáo dục do nhà trường phân công, giữ vai trò chủ đạo trong mọi hoạt động giảng dạy và giáo dục Trong dạy thực hành, người giáo viên phải đạt trình độ chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ theo qui định tại Điều 11 Nghị định số 02/2001/NĐ-CP ngày 09/01/2001 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Bộ luật lao động và luật giáo dục về dạy nghề Trong dạy học các điều kiện đảm bảo chất lượng và hiệu quả trong dạy học các môn học thực hành chuyên môn nghề là: Phẩm chất và năng lực của giáo viên kỹ thuật, Mục tiêu và nội dung môn học; Phương pháp dạy học, trình độ nhận thức của học sinh, điều kiện cơ sở vật chất và đánh giá kiểm tra
Hoạt động học tập
Là quá trình hoạt động của học sinh trong đó học sinh dựa vào nội dung dạy học, vào sự chỉ đạo của giáo viên để lĩnh hội tri thức Hoạt động học là một nhận thức độc đáo, thông qua hoạt động mà người học chủ yếu thay đổi chính bản thân mình và ngày càng có năng lực hơn trong hoạt động tích cực nhận thức và cải biến hiện thực khách quan Hoạt động dạy và học luôn gắn bó mật thiết với nhau, thống nhất biện chứng với nhau, dạy tốt dẫn đến học tốt, học tốt đòi hỏi phải dạy tốt
1.2.2.2 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Kiểm tra và đánh giá kết quả thành tích học tập của học sinh là khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học Kiểm tra đánh giá có quan hệ hữu cơ với quá trình dạy học Đánh giá là động lực thúc đẩy tích cực hoạt động dạy học và là công cụ đo trình độ người học Qua kiểm tra đánh giá giúp cho các nhà quản lý điều chỉnh, cải tiến nội dung chương trình, kế hoạch dạy học đồng thời giúp giáo viên luôn đổi mới nội dung, phương pháp dạy học Những yêu cầu cơ bản của việc đánh giá kết quả học tập của học sinh gồm:
Trang 13- Đảm bảo tính công khai Đảm bảo tính công khai trong đánh giá kết quả học tập của HS từ khâu chuẩn bị tiến hành đến khâu công bố kết quả không những có ý nghĩa giáo dục mà còn có ý nghĩa xã hội, thể hiện tính dân chủ cũng như góp phần hạn chế tiêu cực trong giáo dục
Bốn yêu cầu cơ bản trên có thể dùng làm thước đo giá trị của việc đánh giá kết quả học tập của HS Ngoài ra, cần phải bảo đảm ý nghĩa của việc kiểm tra, đánh giá kết quả như sau:
- Đối với giáo viên: Xác định được thành tích và thái độ của từng học sinh học nghề và của toàn bộ lớp học, qua đó phân tích nguyên nhân của những kết quả thu được
từ đó tìm ra biện pháp để cải tiến công tác sư phạm
- Đối với học sinh học nghề: Họ tự xác định được sự hiểu biết và năng lực của chính mình so với yêu cầu đặt ra trong chương trình giáo dục
- Đối với người quản lý giáo dục: Rút ra được những trọng tâm của công tác giáo dục và giáo dưõng ở cơ sở đào tạo của mình từ đó có những biện pháp trong công tác tổ chức, quản lý và chỉ đạo mọi hoạt động đào tạo của trường
Như vậy quá trình dạy học là hệ thống hoàn chỉnh, trong đó tất cả các nhân tố cơ bản tác động qua lại lẫn nhau theo những quy luật nhất định nhằm đạt được nhiệm vụ dạy học Trong đó có hai nhân tố nổi lên rõ rệt là hoạt động dạy và hoạt động học
Trang 1414
* Mối quan hệ giữa dạy và học :
Dạy và học là hai mặt không thể thiếu được của quá trình dạy học
- Hoạt động dạy của người GV nhằm lãnh đạo, tổ chức và điều khiển quá trình nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nghiên cứu của HS trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật nhất định
có liên quan đến tương lai của họ Người GV với tư cách là nhà sư phạm, nhà khoa học và nhà hoạt động xã hội
- Hoạt động học của HS là sự tự giác, tích cực huy động mọi chức năng tâm lý từ cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy, ngôn ngữ đến tình cảm, ý chí và hoạt động Hoạt động học tập của HS học nghề phải kết hợp chặt chẽ giữa học tập với lao động sản xuất, thực hành nghề nghiệp của mình Bản thân phải luôn luôn ý thức được rằng: Mình vừa là người học, vừa là người tập dượt nâng cao tay nghề, là người công nhân, người thợ có tay nghề cao, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
- Dạy và học phải thống nhất biện chứng với nhau vì kết quả của hoạt động học của HS phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động dạy của GV Trong quá trình dạy học, người
GV đóng vai trò chủ thể tác động đến HS bằng những biện pháp sư phạm thông qua nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học còn HS nhận sự tác động đó Vậy HS là khách thể Nhưng trong quá trình dạy học, HS không chỉ đóng vai trò khách thể mà còn đóng vai trò chủ thể, vì họ là những thực thể có ý thức xã hội, họ là con người đã trưởng thành, họ
ý thức được nhiệm vụ học tập của mình, tự giác và tích cực trong học tập, nhận mọi sự tác động từ phía GV Vậy trong hoạt động học, HS đóng vai trò chủ thể Vai trò chủ thể của
HS càng được phát huy, thì tác động sư phạm càng có hiệu quả cao
Trong sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt của QTDH, hoạt động dạy bao giờ cũng đóng vai trò chủ đạo Người GV phải chỉ rõ phương hướng, nội dung, phương pháp học tập cho HS, làm sao cho HS tự giác tuân theo sự hướng dẫn của mình
Trong quá trình dạy học, dù thiết bị và phương tiện có hiện đại đến đâu đi nữa thì người GV vẫn đóng vai trò chủ đạo và không được làm lu mờ tính tích cực, tính độc lập, chủ động sáng tạo của HS
Trang 1515
GV phải có nhiệm vụ khơi gợi, bồi dưỡng và phát huy hứng thú nhận thức, tính tích cực nhận thức, tính sáng tạo, vai trò chủ thể của HS Do đó cần kết hợp chặt chẽ vai trò chủ đạo của GV với tính tích cực, chủ động, độc lập của HS Phải đảm bảo sự thống nhất biện chứng giữa dạy và học, đó là vấn đề quan trọng trong nghệ thuật dạy học
1.2.3 Bản chất của quá trình dạy học :
* Trước tiên, ta khẳng định học là một hoạt động nhận thức Vậy thế nào là hoạt động nhận thức ?
- Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào não người - đó là sự phản ánh tâm lý của con người bắt đầu từ cảm giác đến tư duy, tưởng tượng 8 Sự học tập của HS cũng là quá trình như vậy Đó là sự phản ánh đi trước, có tính chất cải tạo mà mức độ cao nhất là sự sáng tạo Sự phản ánh đó bị khúc xạ qua lăng kính chủ quan của mỗi người (như qua kinh nghiệm, nhu cầu, hứng thú…), và đó là sự phản ánh tích cực của mỗi chủ thể
- Quá trình học tập của HS cũng diễn ra theo công thức của Lênin về quá trình nhận thức : Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan
* Tuy nhiên, trong QTDH, nhận thức của HS còn thể hiện tính độc đáo, cụ thể như
sau :
- Quá trình nhận thức của HS không phải là quá trình tìm ra cái mới cho nhân loại
mà chủ yếu là sự tái tạo những tri thức của loài người đã tạo ra
- Quá trình nhận thức của HS không diễn ra theo con đường mò mẫm, thử và sai như quá trình nhận thức nói chung của loài người, mà diễn ra theo con đường đã được khám phá, được những nhà xây dựng chương trình, nội dung dạy học gia công sư phạm
Vì vậy, trong một thời gian nhất định, HS có thể lĩnh hội khối lượng tri thức rất lớn một cách thuận lợi
- Quá trình học tập của HS phải tiến hành theo các khâu của QTDH
Trang 1616
- Quá trình nhận thức của HS trong QTDH diễn ra dưới vai trò chủ đạo của người
GV cùng với những điều kiện sư phạm nhất định
Như vậy bản chất của QTDH là hoạt động nhận thức độc đáo của HS dưới vai trò chủ đạo của GV nhằm thực hiện tới mục đích, nhiệm vụ dạy học
1.2.4 Học tập là quá trình nhận thức tích cực
Quá trình học tập giúp cho HS hiểu biết sâu rộng về cuộc sống và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, áp dụng những kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tế Những nhiệm vụ này chỉ có thể thực hiện được khi HS hứng thú nhận thức làm cho quá trình học tập đạt kết quả cao
Trong dạy học GV vạch ra cho HS khía cạnh hấp dẫn của nội dung môn học, nhờ biết tổ chức khéo léo quá trình nhận thức của HS, GV khêu gợi HTNT của họ và biến nó thành động cơ học tập của HS Vậy động cơ học tập là gì?
Động cơ học tập là những hiện tượng, sự vật trở thành cái kích thích học sinh đạt kết quả nhận thức và hình thành phát triển nhân cách 8
Để hình thành động cơ học tập cho HS, người GV cần phân tích rõ ý nghĩa nghề nghiệp, những yêu cầu của nghề nghiệp Như vậy động cơ học tập của HS được tăng cường do ảnh hưởng của GV và nó là chỗ dựa vững chắc cho việc phát triển tay nghề của
họ
b Những điều kiện để việc giảng dạy có tác dụng gây HTNT
Trang 17- Tạo ra hoàn cảnh giảng dạy có tác dụng gây xúc cảm Điều quan trọng nhất gây HTNT là tạo ra bầu không khí đượm màu sắc xúc cảm trong giờ học Bầu không khí đó gây hứng thú trong hoạt động nhận thức, làm cho HS mong muốn hiểu biết điều mới mẻ, thích thú và hoàn thiện những hoạt động tư duy của mình Trạng thái xúc cảm làm cho HS
dễ tiếp thu bài trên lớp, gây hưng phấn trong quá trình học tập trên lớp Trạng thái xúc cảm bao gồm nhiều yếu tố khác nhau có liên quan đến nội dung và tài liệu học tập, đến sự hoạt động của GV và HS, đến tập thể HS trong lớp
Lời nói sinh động đầy xúc cảm của GV thể hiện thái độ của họ đối với các hiện tượng tự nhiên, xã hội, những vấn đề tri thức, họ cần truyền đạt cho HS rất quan trọng trong việc gây trạng thái xúc cảm trong lớp học Song điều quan trọng là GV phải diễn tả tình cảm của mình một cách chân thật, phải có thái độ tự tin và tin tưởng vào những ý kiến mà mình trình bày Thiếu niềm tin đó thì lời nói dù có bóng bẩy cũng không gây được xúc cảm với HS
Các phương tiện trực quan cũng có tác dụng gây xúc cảm đối với HS HS rất thích giờ học có các mô hình giảng dạy đẹp mắt, rõ ràng Những mô hình đó cụ thể hoá các nguyên lý, các hiện tượng trong nội dung giờ học
Việc tạo ra xúc cảm trong giờ lên lớp, kích thích tính tích cực hoạt động trí óc của học sinh là hai điều kiện cơ bản để HTNT được phát sinh, phát triển và củng cố Vấn đề là
GV phải thường xuyên duy trì và bồi dưỡng HTNT cho HS
1.2.4.2 Tính tích cực nhận thức
a Khái niệm
Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức
Trang 1818
Tính tích cực nhận thức biểu hiện rõ nét ở tính tự nguyện, tự giác, tự nhận lấy công việc và hoàn thành công việc bằng chính sức lực của mình, do những động cơ và nguyên tắc do chính mình đề ra, có hoài bão vươn lên đạt đỉnh cao trong học tập, ham hiểu biết,
có sự tập trung trí tuệ và sức lực để giải quyết vấn đề nào đó trong học tập, giàu tình cảm, say mê khoa học, tự lập, vận dụng tối đa sức của bản thân, không chờ đợi sự động viên nhắc nhở của người khác
Thực tế có HS học giỏi, học yếu, có em thông minh, có em chậm hiểu, có em ham hiểu biết, nhưng cũng có em lười học ham chơi… Như vậy không phải chỉ riêng bản thân phương pháp giảng dạy dẫn đến kết quả học tập cao mà còn có vấn đề khác ảnh hưởng đến kết quả học tập của HS Đó là vấn đề kích thích tính tích cực nhận thức
b Kích thích tính tích cực nhận thức
Như ta đã biết những yếu tố sinh học có ảnh hưởng rất lớn đến tính tích cực nhận thức, chất lượng và kết quả học tập, đồng thời ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình nhận thức của học sinh Do bản chất tự nhiên, HS có trí nhớ, tư chất, thể lực, trí tuệ… khác nhau Tất cả những ảnh hưởng đến học tập, đến tính tích cực nhận thức của họ Những yếu tố sinh học không phải là yếu tố quyết định đến kết quả học tập Khoa học đã khẳng định, mỗi con người đều có những khả năng lớn lao về mặt phát triển và hoàn thiện trí tuệ không nên chỉ dựa vào học tập đơn thuần để suy xét năng lực của con người
Trong giảng dạy GV không khéo léo tạo nên mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, xây dựng nên tình huống có vấn đề Nhờ đó điều khiển có hiệu quả sự chú ý của HS, phát huy tính tích cực hoạt động nhận thức của HS Đồng thời GV cần phải đặt một nhiệm vụ nào đó để HS tự giải quyết trước khi GV giảng bài
1.2.4.3 Tính độc lập và bồi dưỡng tính độc lập cho HS
Tính độc lập, biểu hiện trước hết là nhu cầu và kỹ năng tư duy độc lập, ở năng lực định hướng trong hoàn cảnh mới, ở chỗ tự nhận thấy vấn đề nhiệm vụ và tìm cách giải quyết chúng Tính độc lập của HS biểu hiện ở óc phê phán nhất định, ở năng lực phát triển quan điểm của mình không tuỳ thuộc vào sự phán đoán của người khác Tính độc lập được hình thành, củng cố và phát triển nếu GV khéo léo xác định tính chất và mức độ khó
Trang 1919
khăn của từng bài học, biết hướng hoạt động tư duy của HS vào việc giải quyết nhiệm vụ muôn hình muôn vẻ, liên hệ với nhau một cách lôgic Nhờ vậy GV động viên được tinh thần cho HS, giúp HS luôn khắc phục khó khăn Vì vậy GV cần có biện pháp bồi dưỡng tính độc lập cho họ:
- Để HS tìm kiếm tri thức mới, trên cơ sở những tri thức đã có từ trước, ở đây hệ thống các câu hỏi và bài tập của GV giữ vai trò quan trọng Những câu hỏi, những bài tập nhằm kích thích HS tự tìm kiếm những sự kiện cần thiết, những kết luận, những chứng minh
- Việc dạy học phải dựa trên cơ sở các mối liên hệ giữa lý thuyết nghề với thực hành nghề Trong quá trình lao động, thực tập tham quan trong các nhà máy xí nghiệp,
HS phải vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn và từ đó nảy sinh những vấn đề mới
- Mỗi HS đều nhận được nhiệm vụ vừa sức, nhưng đồng thời nhiệm vụ đó lại đòi hỏi các em có sự nỗ lực trí tuệ, ở lớp không thể cho mỗi HS một bài tập thực hành được, nhưng có thể cho các bài tập với mức độ khó dần Một trong những biện pháp tốt nhất để
tổ chức công tác độc lập cho HS là công tác chỉ đạo cá biệt
- GV cần kích thích tính tích cực nhận thức bên trong thông qua nhu cầu và động
cơ của mỗi cá nhân HS Sách giáo khoa, tài liệu học tập có vai trò quan trọng trong công tác tổ chức tự lập của HS, phải dạy cho các em biết cách đọc sách, suy nghĩ và nắm vững tài liệu, đến tri thức đọc được trong sách thành tri thức của mình, qua đó phát triển tính tích cực nhận thức Để đạt được điều đó GV phải tiến hành củng cố và kiểm tra kiến thức của HS, kịp thời uốn nắn những lệch lạc, không nên dập khuôn máy móc bài giảng, phải dựa vào nội dung đặc điểm cụ thể của môn học cũng như khả năng sáng tạo, khả năng sư phạm của mỗi GV Xong vận dụng một cách khéo léo sáng tạo thì chắc chắn sẽ nâng cao chất lượng đào tạo, thu được những kết quả tốt đẹp trong giảng dạy
Trang 201.3.2 Công nghệ dạy học
Theo nghĩa hẹp, công nghệ dạy học là quá trình sử dụng các phương tiện kỹ thuật
và các phương tiện hỗ trợ vào việc dạy học nhằm nâng cao chất lượng học tập của HS
Theo nghĩa rộng, công nghệ dạy học là hệ thống những phương tiện, phương pháp
và kỹ năng nhằm vận dụng quy luật khách quan, tác động vào người học hình thành một nhân cách xác định
Từ định nghĩa trên có thể thấy rõ dạy học được xem là một công nghệ, trước hết là
vì bản chất của nó tương ứng với nội hàm của khái niệm cộng nghệ, không phải vì hiện tượng những quy quy trình công nghệ hay những dụng cộng nghệ thộng tin hoặc phương tiện kỹ thuật khác,… trong dạy học
Như vậy, công nghệ dạy học là như một quá trình khoa học trong đó nguồn nhân lực và vật lực được sử dụng để nâng cao hiệu quả dạy học khi đó qua trình dạy học có thể xem như quá trình công nghệ đặc biệt, một quá trình sản xuất những sản phẩm cao cấp , tinh vi nhất (con người) Nét độc đáo của quá trình này la ở chỗ sinh viên không còn là
Trang 21Đầu ra (mục tiêu)
Đầu vào (HS)
Điều kiện
PT dạy học Nội dung đào tạo
Hệ thống phương pháp
Tiêu chuẩn đánh giá
Đạt mục đích đào tạo với chi phí tối ưu
Hình 1.1: Bản chất của công nghệ dạy học
Trang 2222
- Tính hiện đại: Thường xuyên áp dụng cập nhật vào thực tiễn dạy học những đổi mới về giáo dục một cách có căn cứ khoa học
- Tối ưu hóa: chi phí ít nhất về thời gian và sức lực
- Tính tích hợp: Sử dụng thành tựu của nhiều khoa học vào việc đào tạo
- Tính lặp lại kết quả: Cùng một quá trình đào tạo phải đạt được những kết quả mong muốn gần giống nhau (trình độ HS ra trường phải đạt được một ngưỡng nào đó gần như nhau)
- Tính phương tiện: Sử dụng phương tiện truyền thông và đồ dùng dạy học
- Tính khách quan: có các tiêu chí đánh giá kết quả học tập rõ ràng, khách quan, kịp thời về định lượng và cả định tính
- Hệ thống hóa: Chương trình hóa hoạt động từ lúc thăm dò nhu cầu xã hội, tuyển sinh, học tập đều được tiến hành theo những quy trình
1.3.4 Các thành phần của công nghệ dạy học hiện đại
Công nghệ dạy học bao gồm 4 thành phần cơ bản: thiết bị, con người, thông tin, quản lý
Hình 1.2: Các thành phần của công nghệ dạy học
CNDH
Thông tin
Quản lýThiết bị
Con người
Trang 2323
- Thành phần công nghệ dạy học hàm chứa thiết bị: bao gồm các phương tiện vật chất như thiết bị trường học, đồ dùng dạy học, xưởng trường…Đó là phần vật chất, phần cứng của công nghệ dạy học, giúp tăng cường năng lực hoạt động giáo dục,
- Thành phần công nghệ dạy học hàm chứa con người: bao gồm năng lực công nghệ dạy học của thầy giáo và sinh viên Cụ thể là các kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng,
kỹ xảo, sáng tạo, khả năng lãnh đạo,… Phần này phụ thuộc vào trình độ học vấn, vốn kinh nghiêm nghề nghiệp và lòng say mê với nghề
- Thành phần công nghệ dạy học hàm chứa thông tin: bao gồm tri thức giáo khoa
đã được thể thức hóa thành tri thức tiền dạy học nghĩa là được sắp xếp theo một quy trình
có thể diễn tả các lý thuyết, toát lên phương pháp nhận thức và thanh thao tác Thông tin giúp cho con người rút ngắn thời gian tiếp nhận, xử lý và tái tạo hiệu quả Thông tin phải luôn được bổ sung và cập nhật trong quá trình nhận thức
- Thành phần công nghệ dạy học hàm tổ chức: Bao gồm các hoạt động thể chế, quyền hạn và mối liên hệ trong quá trình điều khiển Chức năng của tổ chức là phối hợp tốt ba khâu ở trên của công nghệ dạy học
1.3.5 Tác dụng của công nghệ dạy học
- Về công nghệ dạy và học nói chung: tác dụng của các giác quan trong việc tiếp nhận và lưu giữ tri thức Công nghệ nói chung là một hợp phần của môi trường, người dạy, người học, có tác dụng hỗ trợ các tương tác trong quá trình dạy và học Công nghệ giúp tối đa hoá thời gian mà việc học tập thật sự diễn ra, tối thiểu hoá các lao động cấp thấp, tạo thuận lợi cho các mối quan hệ tương tác Để hiểu rõ hơn vai trò của công nghệ
và phương tiện dạy học, sau đây xin dẫn vài số liệu thống kê nêu tác dụng của các loại giác quan trong quá trình thu nhận và lưu giữ tri thức Tỷ lệ trung bình về vai trò của các giác quan trong việc thu nhận tri thức như sau:
Trang 24Tỷ lệ tri thức còn lưu lại trong trí nhớ sau khi thu nhận bằng từng giác quan, bằng
sự kết hợp các giác quan hoặc qua việc tự trình bày hoặc qua việc thao tác thực hiện như sau:
* Ưu điểm:
- Nâng cao năng suất và hiệu quả của dạy học Với sự hỗ trợ của máy tính giúp giảm thiểu được thời gian ghi chép mà thay vào đó là trao đổi thảo luận các vấn đề liên
Trang 25- Góp phần làm phong phú và hoàn thiện hơn cơ sở khoa học của dạy học, tạo cho
nó những nền tảng khoa học vững chắc
* Nhược điểm:
- Phụ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất và con người
- Chỉ áp dụng cho một số môn học cụ thể
1.3.6 Những điểm lưu ý về công nghê dạy học hiện đại
Một công nghệ (phương tiện, phương pháp, kỹ năng) dạy học chỉ có tác dụng tốt khi được sử dụng theo quan điểm công nghệ và quan điểm hệ thống[3]
* Theo quan điểm công nghệ
- Phải có phương tiện (máy tính, máy chiếu,…) thích hợp và điều kiện vận hành tương ứng
- Người dạy có tay nghề (kiến thức, phương pháp và kỹ năng về tin học cũng như chuyên môn,…) đủ để làm chủ quá trình dạy học như ứng tác linh hoạt khi phát hiện thiếu hoặc thừa thời gian dạy học so với kế hoạch đã định
Trang 2626
- Người học phải có học liệu thích hợp và biết ứng xử ngang tầm với những thuận lợi do công nghệ hiện đại đem lại
* Theo quan điểm hệ thống
Công nghệ dạy học hiện đại là một hệ thống con trong hệ thống công nghệ dạy học nói chung, vì thế phải được sử dụng trong mối tương quan với công nghệ dạy học truyền thống, theo phương châm đúng lúc, đúng chỗ và đúng độ (trình độ, mức độ,…), đảm bảo cho quá trình dạy học không chỉ khả thi mà còn hiệu quả
1.3.7 Một số xu thế của dạy học hiện đại
* Xu thế tổng quát của dạy học hiện đại
Các quá trình hiện đại hóa và tiêu chuẩn hóa sẽ là những xu thế tổng quát trong dạy học hiện đại, kể cả chính quy và không chính quy trong vài ba thập kỷ tới Nội dung của hiện đại hóa và tiêu chuẩn hóa chắc chắn được định hướng vào các mục tiêu nhân văn, dân chủ và phát triển bền vững Không chỉ có vấn đề tăng cường các yếu tố khoa học - công nghệ trong việc khai thác sử dụng các nguồn lực giáo dục, trong việc quản lý, điều hành hay đánh giá dạy học, trong phát triển chương trình và phương pháp, trong công nghệ dạy học mà điều cốt lõi nhất chính lá sự phát triển của người học nói riêng và của con người nói chung
Học tập thường xuyên và học tập suốt đời là xu thế chung của dạy học hiện đại Những xu thế triển vọng nhất trong dạy học và giáo dục không thể không chịu những ảnh hưởng trực tiếp của sự phát triển nhu cầu của con người, trước hết là những nhu cầu gắn liền với học vấn, tri thức, tay nghề, sự thành đạt về mặt xã hội, hạnh phúc cá nhân trong đời sống cộng đồng đa dạng
Trong điều kiện xã hội học tập và nền kinh tế tri thức ngày càng mở rộng, nhu cầu học vấn được nâng lên rõ ràng, đa dạng hơn, và đặc biệt có tính chất chọn lọc hơn Người
ta không chỉ đơn giản là cần học, muốn học, thấy bức bách rằng phải học, mà quan trong
Trang 2727
hơn rằng phải học như thế nào, học chính xác cái gì, học vào những lúc nào và học đến mức độ nào thì đủ để hiểu biết, để làm việc, để chung sống và để làm người
* Một số xu thế của dạy học hiện đại
Chương trình dạy học hiện đại không chỉ còn cứng nhắc như hiện nay mà nó có những phần cơ bản, cốt lõi và chuẩn mực bắt buộc (phần cứng) đòi hỏi 100% SV phải nắm vững và phần tự chọn, linh hoạt (phần mềm) thích ứng với từng trình độ người học, tạo điều kiện, cơ hội giúp người học tiếp thu dễ dàng Phần tự chọn này có thể chia nhiều mức khác nhau, cũng sẽ tương ứng mức yêu cầu lượng HS nắm được vấn đề khác nhau,
có thể 80%, 60%,… hoặc thậm chí là 20% Với phần kiến thức này, GV chỉ cần giảng sơ qua, đưa ra câu hỏi gợi mở để HS động não suy nghĩ, từ đó đúc rút được kiến thức cho mình
Phát triển các phương tiện công nghệ cao trong truyền thông, giao tiếp, giáo dục, sinh hoạt và môi trường thông tin toàn cầu hóa tạo điều kiện đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu học tập của con người Học tập từ xa sẽ là một xu thế mạnh mẽ trong dạy học Cần phải phát triển các chương trình học tự chọn, chuyển sang đào tạo, dạy học theo tín chỉ học phần, theo modul,…
Những phương pháp dạy học triển vọng nhất chính là những phương pháp dựa vào người học và hoạt động của người học, đó chính là phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm
Xu hướng tăng cường sự tương tác, hợp tác và cạnh tranh, tham gia và chia sẻ trong các quan hệ giữa người dạy và người học, giữa người học với nhau, giữa cá nhân và nhóm, giữa nhóm với tập thể lớp
Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin, điện tử, kỹ thuật số,… trong thiết kế và
tổ chức quá trình dạy học là xu thế mạnh mẽ trong hiện đại hóa và tiêu chuẩn hóa phần lớn tài liệu học tập và giảng dạy được thiết kế và tổ chức bằng cả hai dạng văn bản in
Trang 2828
truyền thống (giáo khoa, giáo trình,…) và văn bản điện tử (bài giảng điện tử, sách điện tử,…) Chúng được sử dụng song song, bổ sung cho nhau để tăng cường hiệu quả và chất lượng thông tin, đa dạng hóa các hình thức học tập, phù hợp với chế độ học tập của cá nhân và học độc lập
Toàn cầu hóa kinh tế dẫn tới hội nhập, do đó dẫn tới xu thế quốc tế hóa văn bằng chứng chỉ, kỹ thuật thiết kế và cấu trúc chương trình dạy học, công nghệ đo lường và đánh giá dạy học, đòi hỏi quốc tế hóa trong lĩnh vực chuẩn học vấn, chuẩn kỹ năng của nhiều lĩnh vực học tập
1.4 Phương tiện dạy học
1.4.1 Phương tiện
Phương tiện theo tiếng Latinh – “medium” có nghĩa là ở giữa và trung gian liên kết giữa người gửi và người nhận Phương tiện vừa nói lên sự hàm chứa, tính vị trí vừa có chức năng chuyển giao, liên kết trong quan hệ giữa người gửi và người nhận
Phương tiện là một cấu trúc chứa đựng và thể hiện các tín hiệu nhằm chuyển giao nội dung nhất định giữa người gửi và người nhận bằng hệ thống các tín hiệu thông qua các giác quan cảm nhận của con người
1.4.2 Đa phương tiện (Multimedia)
Năm 1994, Charles B Wang, chuyên gia máy tính, xem Đa phương tiện là “một trong những từ gây nhiều bàn cãi” Đa phương tiện thực sự là một thuật ngữ cho việc kết hợp các khả năng trong công nghệ Đa phương tiện liên kết với máy tính cá nhân các chức năng kết nối các yếu tố như văn bản, đồ họa, âm thanh, hình ảnh tĩnh và động sử dụng trong đào tạo hay thông tin Nói một cách ngắn gọn, theo Robert S Tannenbaum, đó là việc trình bày có tương tác với máy tính bao gồm ít nhất hai trong số các yếu tố: văn bản,
âm thanh, hình ảnh đồ họa tĩnh, đồ họa động và cả sự chuyển động
Trang 2929
Theo Fenrich (1997): “Multimedia là sự tích hợp lý thú giữa phần cứng và phần mềm máy tính, cho phép tích hợp các tài nguyên video, audio, hoạt hình đồ họa và trắc nghiệm để xây dựng và thực hiện một trình diễn kết quả nhờ một máy tính có cấu hình thích hợp”
Theo (Philip,1997): “Multimedia đặc trưng bởi sự hiện diện của văn bản hình ảnh,
âm thanh, mô phỏng và video được tổ chức chặt chẽ trong một chương trình máy tính.”
Đa phương tiện được hiểu nôm na là sự tổ hợp của nhiều phương tiện Khi nói đến
đa phương tiện, người ta thường nói đến máy tính, đến công nghệ thông tin Đa phương tiện còn được hiểu là một tổ hợp các công nghê dựa trên nền tảng máy tính để tạo cho người dùng khả năng truy nhập và thao tác những văn bản, âm thanh và hình ảnh Đa phương tiện trong dạy học là sự kết hợp các đối tượng mang thông tin khác nhau (văn bản, âm thanh, hình ảnh) thành một hệ thống nhất để truyền thông tin giữa thầy và trò [4]
Ứng dụng Multimedia trong dạy học là yếu tố của quá trình nâng cao chất lượng dạy học Multimedia là sự phối hợp một cách có tính toán những phương tiện truyền thống khác nhau trong dạy học (như âm thanh, đồ họa, phim ảnh, video,…) cũng như các phương tiện tương tự nhờ máy tính để thực hiện mục tiêu dạy học
Sự tích hợp của văn bản (Test), hình ảnh (Image), âm thanh (Sound), hình động (animation) và phim (video)… trong phương tiện được sử dụng đã tạo nên tính hiệu quả của multimedia trong dạy học, tạo ra môi trường, phương tiện và điều kiện thuận lợi cho người dạy và người học nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học
Ứng dụng Multimedia trong dạy học không phủ nhận hoặc giảm nhẹ vai trò người dạy mà phải làm tăng hiệu quả vai trò của người dạy trong tổ chức, điều khiển, lãnh đạo hoạt động nhận thức của người học
Trang 3030
1.4.3 Phương tiện dạy học
Như chúng ta đã biết, quá trình dạy học gồm có hoạt động dạy và hoạt động học, trong đó diễn ra quá trình tái sản xuất những kinh nghiệm xã hội của nhân loại Cũng như bất kỳ một quá trình sản xuất nào, quá trình dạy học cũng phải sử dụng những phương tiện lao động nhất định Phương tiện lao động sư phạm rất đa dạng Nó bao gồm những phương tiện vật chất, phương tiện thực hành, phương tiện trí tuệ ở đây chúng ta chỉ nghiên cứu PTDH vật chất với ý nghĩa là công cụ lao động của người dạy và người học,
và được nói gọn là PTDH Song, khi đề cập đến các PTDH với cách sử dụng chúng thì phần nào đã nói đến phương tiện thực hành Từ cách hiểu PTDH như vậy, có thể đi tới định nghĩa của nó như sau:
PTDH là tập hợp những đối tượng vật chất được người dạy sử dụng với tư cách là những phương tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của người học, là phương tiện nhận thức của người học, thông qua đó mà thực hiện những nhiệm vụ dạy học.[4.tr7]
1.4.4 Vai trò của phương tiện dạy học
Giáo dục và đào tạo đang là vấn đề thách thức của toàn cầu Hiện nay các quốc gia trên thế giới đang nỗ lực đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục - đào tạo với nhiều
mô hình, biện pháp khác nhau nhằm mở rộng qui mô, nâng cao tính tích cực trong dạy học và học một cách toàn diện, dạy làm sao để giúp người học hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động Muốn vậy cần phải nâng cao, cải tiến đồng bộ các thành tố liên quan, trong đó phương tiện dạy và học là một thành tố quan trọng
Vị trí PTDH của phương tiện trong dạy học kỹ thuật: Phương tiện dạy học đóng một vai trò quan trọng trong dạy học, đặc biệt là trong dạy học kỹ thuật Sơ đồ vị trí của phương tiện dạy học trong dạy học kỹ thuật [5] đã cho ta thấy, dạy học có các yếu tố bên trong là hoạt động thống nhất của mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và các yếu tố bên ngoài là điều kiện về con người, văn hóa, xã hội Nội dung bài giảng là yếu tố quyết định cấu trúc của phương tiện dạy học Phương pháp dạy học và phương tiện có
Trang 3131
quan hệ chặt chẽ với nhau, phương pháp khác nhau thì phải chọn phương tiện khác nhau Việc sử dụng phương tiện dạy học hợp lý giúp cho phương pháp dạy học phát huy hơn nữa hiệu quả của nó
ĐK con người
ĐK văn hóa, xã hội
Tác động đến văn hóa
xã hội
Tác động đến con người
Phương tiệnPhương pháp
Trường
Dạy học
Lĩnh vực điều kiện
Lĩnh vực quyết định
Hình 1.4: Vị trí của phương tiện dạy học trong dạy học kỹ thuật
- Trong tài liệu nhập môn công nghệ dạy học hiện đại [6] định nghĩa “quá trình dạy học là một quá trình xã hội Về hình thức, đó là quá trình hoạt động tương tác giữa người dạy (hoạt động dạy) và người học (hoạt động học)” Từ định nghĩa quá trình dạy học, chúng ta nhận thấy rằng hoạt động dạy là hoạt động tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS, mà một trong những nhiệm vụ tổ chức điều khiển nhận thức đó của giáo viên là việc tổ chức, điều khiển quá trình tri giác cảm tính những hiện tượng hoặc đối tượng được nghiên cứu của HS Song, những hiện tượng, đối tượng đó không phải bao giờ cũng được hiện ra một cách trực tiếp ở ngay phòng học Trong trường hợp đó PTDH tạo khả năng tái hiện chúng một cách gián tiếp thông qua hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, mô hình v.v Nhờ chúng mà tạo nên trong ý thức của người HS những hình ảnh trực quan cảm tính của những hiện tượng và sự vật Nhiệm vụ của dạy học là làm sao để từ những
Trang 3232
hình ảnh trực quan cảm tính dẫn HS hiểu bản chất của hiện tượng hoặc sự vật Việc chuyển hoá đó có liên hệ với tư duy trừu tượng, với việc đưa vào và sử dụng những khái niệm trừu tượng Với điều đó, những hình ảnh trực quan đảm bảo mối liên hệ thường xuyên giữa tư duy với hiện tượng hoặc đối tượng nghiên cứu khi cung cấp cho tư duy tài liệu thông tin cần thiết
Đối với giáo viên, PTDH là trợ thủ không thể thay thế được của người giáo viên ở giai đoạn hình thành tư duy trừu tượng cho HS ở giai đoạn này những hình ảnh trực quan cảm tính bao giờ cũng là thành phần và tiền đề bắt buộc của tư duy Tư duy dù đạt đến mức độ cao như thế nào ít nhiều nó cũng vẫn cần đến trực quan cảm tính, cần đến hình ảnh ở giai đoạn kết thúc sự nghiên cứu hiện tượng hoặc sự vật cần phải chỉ cho HS sự vận dụng trong thực tiễn của nó Điều đó cũng sẽ khó đạt được nếu thiếu sử dụng những PTDH Vì vậy, ở cả giai đoạn trực quan cảm tính, giai đoạn tư duy trừu tượng và ở cả giai đoạn giới thiệu cho HS sự vận dụng thực tiễn những hiện tượng hoặc sự vật nghiên cứu cũng cần phải sử dụng những PTDH Đối với người học, PTDH là công cụ nhờ nó mà họ nhận thức được thế giới xung quanh
1.4.5 Khả năng dạy học bằng máy tính điện tử
1.4.5.1 Các khả năng cơ bản của MTĐT
Trong CNTT, MTĐT là một bộ phận chính đóng vai trò chủ đạo trong việc giao tiếp và thu nhận thông tin Do vậy, nó đã có ở hầu hết trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - chính trị - xã hội Sở dĩ như vậy vì nó có khả năng ưu việt sau:
- MTĐT là thiết bị tạo ra, lưu trữ trong máy và hiển thị lại lên màn hình một khối lượng thông tin vô cùng lớn dưới dạng văn bản, hình ảnh,… mà con người có thể tiếp nhận được Hơn nữa, việc truy cập thông tin hết sức dễ dàng, nhanh chóng, chính xác, tiện lợi và rẻ tiền hơn ở mọi phương tiện thông thường khác
- MTĐT có khả năng tính toán, xử lý cực nhanh các phép tính với độ chính xác cao Chức năng ưu việt này, giúp cho con người thực hiện những khối lượng công việc
Trang 3333
tính toán vô cùng lớn trong khoảng thời gian vô cùng nhỏ Mặt khác, các dữ liệu thu thập được qua tính toán, xử lý, cho ra các kết quả được hiển thị dưới dạng chuẩn như: biểu bảng, biểu đồ, đồ thị,…tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu
- MTĐT còn tạo ra xã hội mới với đặc thù đặc biệt – xã hội nối mạng (Networking Social) Với xã hội được nối mạng, mọi thành viên đều được nối với nhau bằng mạng máy tính toàn cầu Mọi cá nhân đều có thể liên lạc với nhau bất cứ khi nào và bất cứ nơi đâu Thành tưu tạo ra sự thay đổi đó chính là Internet Internet là một hệ thống gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau trên phạm vi toàn thế giới
- MTĐT còn có thể tạo ra được một thế giới ảo Thế giới ảo trong đó không chứa đựng các đối tượng vật lý cụ thể mà chỉ là những biểu tượng về những đối tượng vật chất Thế giới ảo đang ngày càng phát triển và tác động sâu sắc tới từng thành viên của nhân loại, nó làm phong phú và đa dạng hơn môi trường sống của con người
- Nhờ phần mềm thông qua MTĐT có thể điều khiển hoàn toàn tự động các quá trình theo chương trình cài đặt sẵn
1.4.5.2 Các khả năng hỗ trợ của máy tính điện tử trong dạy học
Nhờ những ưu điểm nổi trội, hiện nay, MTĐT đã được ứng dụng vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Đối với ngành giáo dục đào tạo, khi khai thác có hiệu quả,
nó có thể hỗ trợ được tất cả các khâu của quá trình dạy học như truyền đạt tri thức, rèn luyện kỹ năng, ôn tập củng cố, kiểm tra, đánh giá
Vậy, MTĐT có những khả năng hỗ trợ cơ bản nào trong quá trình dạy học?
* Khả năng hỗ trợ khâu truyền đạt và lĩnh hội tri thức mới
Trong hoạt động dạy học, hoạt động dạy là hoạt động tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS, mà một trong các nhiệm vụ tổ chức điều khiển hoạt động nhận thức của HS là việc tổ chức điều khiển HS tri giác trực tiếp những hiện tượng, đối tượng
Trang 3434
được nghiên cứu Điều này bắt nguồn từ vai trò của nhận thức cảm tính trong quá trình nhận thức Nhận thức cảm tính cung cấp tài liệu cho quá trình tư duy, tư duy phải dựa trên những tại liệu cảm tính, trên những kinh nghiệm trên cơ sở trực quan sinh động Nhận thức cảm tính là một khâu của mối liên hệ trực tiếp giữa tư duy với hiện thực, là cơ sở của những khái quát kinh nghiệm dưới dạng các khái niệm, các quy luật Do đó, Lê nin đã đưa ra công thức nổi tiếng về quá trình nhận thức: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức thực tại khách quan” Xét toàn bộ quá trình nhận thức chung của loài người cũng như của HS đều thể hiện theo công thức đó, song trong từng giai đoạn cụ thể, tùy theo điểm xuất phát trong quá trình nhận thức mà có thể đi từ cụ thể đến trừu tượng hoặc từ trừu tượng đến cụ thể
MTĐT tạo ra môi trường đa phương tiện với nhiều hình thức biểu diễn khác nhau như: văn bản, hình ảnh (biểu bảng, biểu đồ, ảnh tĩnh, động,…) và âm thanh được trình bày theo một kịch bản đã dựng sẵn, nhằm đạt hiệu quả tối đa qua quá trình học tập đa giác quan Nó được lưu giữ lại và trình diễn cho HS, làm cho nội dung tri thức trở nên dễ nhớ,
dễ hiểu và nhớ lâu hơn, vì độ bền vững của tri thức chỉ có thể đạt được khi người học tiếp thu chúng bằng nhiều con đường khác nhau dưới nhiều hình thức khác nhau Trong công tác nghiên cứu, với những đối tượng không thể quan sát trực tiếp được như các hệ vi mô,
vĩ mô, các quá trình biến đổi quá nhanh hoặc quá chậm, sự nguy hiểm hoặc không có thiết bị,… thì con người thường sử dụng phương pháp mô hình hóa để mô tả một cách đơn giản, gần đúng cấu trúc vật chất Sau đó cho mô hình vận động theo những quy luật của đối tượng thật Quá trình này gọi là sự mô phỏng Nhờ việc xây dựng chính xác các mô hình đó trên máy tính dưới sự trợ giúp của các phần mềm điều khiển, người ta có thể mô phỏng một cách sinh động, trung thực và đầy thuyết phục các đối tượng thực cần nghiên cứu như: sự chuyển động của một hành tinh trong hệ mặt trời, của một điện tử quay xung quanh hạt nhân, sự vận hành của hệ tuần hoàn, hệ bài tiết, sự phát triển của một loài cây
từ khi gieo hạt tới khi ra hoa kết quả,…làm cho nội dung của nó trở nên dễ hiểu, dễ nhớ
Trang 3535
Trên cơ sở tri giác tài liệu trực quan (tri giác mô hình, hình ảnh tĩnh, động, âm thanh,… từ MTĐT), HS xây dựng biểu tượng chính xác làm cơ sở cho việc hình thành khái niệm, HS tiến hành các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa để hình thành khái niệm, phán đoán, suy lý và qua đó, các thao tác tư duy ngày càng được hoàn thiện hơn
* Khả năng điều khiển, kiểm tra
MTĐT tự động lưu giữ và đánh giá kết quả học tập của HS bao gồm cả mặt mạnh, mặt yếu và ghi lại thời gian HS trả lời câu hỏi, kịp thời đưa ra các thông tin phản hồi bao gồm các yêu cầu, hướng dẫn, những nội dung kết quả trả lời của HS,… Như vậy, MTĐT cho GV và SV là bức tranh chính xác về sự tiến bộ của HS trong quá trình tiếp thu tri thức Qua đó, giúp GV kịp thời điều khiển phương pháp giảng dạy và sửa chữa cho từng
SV, giúp SV tự điều chỉnh hoạt động học tập của mình cho phù hợp và hiệu quả
Việc kiểm tra kiến thức của HS bằng MTĐT luôn đảm bảo được tính công bằng, chính xác, khách quan, nhờ đó mà tính trung thực của HS cũng được rèn luyện Dạy học bằng MTĐT đã góp phần giáo dục nhân cách người lao động mới Như vậy, MTĐT được xem là một phương tiện kiểm tra có nhiều thế mạnh hơn các phương tiện truyền thông khác, luôn đảm bảo mối liên hệ ngược trong, ngược ngoài, điều khiển, điều chỉnh kịp thời hoạt động học tập của HS
MTĐT tạo điều kiện cho người học hoạt động độc lập tới mức độ cao, tách xa thầy giáo trong khoảng thời gian dài mà vẫn đảm bảo mối liên hệ ngược trong quá trình dạy học Do đó, việc sử dụng MTĐT trong quá trình dạy học dẫn tới kiểu dạy học mới – dạy học cá thể hóa Mỗi HS ngồi trước màn hình có thể học theo tiến độ riêng, không cần sự giám sát trực tiếp của GV, người này không phụ thuộc vào người kia
Với dạy học bằng MTĐT, HS không bị hạn chế học tập theo một thời khóa biểu, theo không gian học tập ở trên lớp Các em có thể học ở bất cứ nơi đâu, vào bất cứ lúc
Trang 3636
nào, có thể ở nhà máy, ở xưởng trường, vườn trường, có thể đặt máy vi tính ở phòng nghỉ trong giờ ra chơi, HS có thể tìm kiếm tri thức, rèn luyện kỹ năng, giải trí thông qua các trò chơi học tập
Như vậy, dạy học bằng MTĐT là hình thức dạy học theo nhu cầu Sự hòa nhập giữa CNTT & TT dẫn tới hình thành những mạng máy tính, đặc biệt là Internet cung cấp những thông tin và tri thức khổng lồ GV và HS có thể sử dụng cơ sở dữ liệu của mạng, tra cứu sách, tư liệu ở ngân hàng dữ liệu trung tâm, trích đọc, trích in những phần cần thiết một cách nhanh chóng và thuận tiện Nhờ có MTĐT, người học có thể giao lưu với nhau không bị hạn chế bởi thời gian và khoảng cách, có thể dạy học từ xa và mang tính chất giao tiếp chủ động MTĐT tạo điều kiện cho việc thực hiện những ý tưởng vĩ đại trong giáo dục như học mọi nơi, mọi lúc, học suốt đời, nâng cao tính nhân văn, dân chủ của nên giáo dục MTĐT có thể giúp người học ở mọi lúc, mọi nơi đều có khả năng chinh phục khoảng cách, tiếp thu nội dung giáo dục hiện đại nhất ở địa điểm tùy ý Họ có thể tùy chọn chương trình học, chọn thầy dạy, có thể học không chỉ một thầy giỏi, có thể giao lưu với nhiều bạn học ở những nơi khác nhau Vì thế mọi HS trên lãnh thổ đều có điều kiện tiếp thu chương trình học, thậm chí thầy học như nhau
Với MTĐT, GV có thể cài đặt trên mạng những bài dạy mẫu, có thể dạy học cho
cả lớp hoặc chia lớp thành nhiều nhóm hội thoại với nhau Thông qua mạng, GV có thể hướng dẫn, kiểm tra từng nhóm, từng HS Mạng cho phép hội thoại giữa GV với HS và
HS với nhau
Khả năng liên lạc của MTĐT được sử dụng nhiều trong các trường hợp mà mối liên lạc trực tiếp giữa người dạy và người học gặp nhiều khó khăn Khi đó, các bài học, bài tập, bài kiểm tra,… được gửi và nhận được dạng các thư điện tử Với sự phát triển rộng rãi của mạng Internet và hệ thống đa phương tiện thì khả năng này của MTĐT càng được phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết
* Khả năng hỗ trợ công tác luyện tập và rèn luyện kỹ năng
Trang 37HS kém phải cố gắng gượng bỏ qua những thao tác mà mình chưa nắm vững để theo kịp
cụ phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và công tác quản lý trong ngành giáo dục
1.4.5.3 Những mặt hạn chế của máy tính điện tử trong dạy học
Nếu SV chỉ giao tiếp với máy, tách rời hoàn toàn với bạn bè và GV thì nó đã xóa
bỏ quan hệ SV và xã hội nên được coi là dạy học phi nhân cách, phi xã hội Như vậy theo quan điểm Tâm lý học và Giáo dục học Mác xit thì dạy học bằng MTĐT có thể làm phương hại đến sự hình thành nhân cách của SV Mặt khác, sử dụng MTĐT trong dạy học
có hiệu quả không những đòi hỏi GV phải có năng lực sư phạm cao, mà còn đòi hỏi SV phải có thói quen học theo kiểu CNTT (nên phải cần thời gian dài cho việc hình thành thói quen đó) Thậm chí, nếu lạm dụng việc sử dụng MTĐT trong dạy học thì sẽ làm phân tán chú ý của SV Chính vì vậy, chỉ nên coi MTĐT là phương tiện hỗ trợ trong quá trình dạy học, chứ không thể thay thế hoàn toàn GV,
Trang 3838
Tóm lại: Do khả năng thu nhận, lưu trữ, xử lý, cung cấp và trình diễn thông tin
dưới nhiều hình thức khác nhau (văn bản, hình ảnh, âm thanh,…) nên khả năng được coi
là nổi bật và có tính đặc thù của MTĐT là khả năng hỗ trợ công tác truyền đạt và lĩnh hội tri thức mới Khả năng của MTĐT đối với quá trình dạy học ngày càng được mở rộng, hỗ trợ tốt cho mọi giai đoạn của tiến trình dạy học và trở thành phương tiện tạo nên một
“Môi trường giáo dục có tính tương tác cao”, đáp ứng được yêu cầu mới của “Nền giáo dục điện tử”, của “Một xã hội học tập”
1.5 Đổi mới nội dung dạy học
1.5.1 Kế hoạch dạy học
Kế hoạch dạy học là văn bản quy định thành phần các môn học trong nhà trường, trình tự dạy học các môn học đối với từng năm, từng lớp, số giờ dành cho từng môn học trong cả năm Kế hoạch giáo dục phải thể hiện được nhiệm vụ trọng tâm của cấp học Số giờ quy định trong kế hoạch giáo dục nói lên vị trí của từng môn học trong nội dung giáo dục cấp học đó và trong việc môn học đó tham gia thực hiện các nhiệm vụ giáo dục Kế hoạch giáo dục phải thực hiện một cách nghiêm túc, số giờ dành cho từng môn phải được bảo đảm đầy đủ, không quá nhấn mạnh môn này, coi nhẹ môn kia, đảm bảo cho nhân cách người học được phát triển hài hòa Kế hoạch giáo dục là tài liệu quan trọng nhất nhằm xác định nội dung, mức độ học vấn và tổ chức hoạt động giáo dục để góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo của cấp học, bậc học
1.5.2 Đổi mới chương trình
Chương trình giáo dục là văn bản cụ thể hóa mục tiêu giáo dục, quy định phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung giáo dục; phương pháp, hình thành hoạt động giáo dục, chuẩn mực và cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, ở toàn
bộ một bậc học, cấp học cũng như trình độ đào tạo… Chương trình định hướng cho việc chỉ đạo và kiểm soát toàn bộ quá trình dạy học, do đó chương trình phải được Nhà nước thiết kế, quản lý, chỉ đạo thực hiện và phải được áp dụng thống nhất trong cả nước
Trang 3939
* Để đổi mới chương trình dạy học cần phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Xuất phát từ mục tiêu đào tạo:
Mục tiêu giáo dục đào tạo đã định rõ các phẩm chất và năng lực cần phát triển cho học sinh – sinh viên nhằm trước hết đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội mới của đất nước, giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa để đên năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa, mở rộng giao lưu hội nhập quốc tế với sự hình thành và phát triển của nền kinh
tế tri thức, đồng thời đáp ứng nhu cầu phát triển đa dạng của mỗi cá nhân
- Tiếp tục đảm bảo yêu cầu cơ bản, hiện đại, sát với thực tiễn của đất nước:
Nội dung dạy học các môn học phải phản ánh được những thành tựu khoa học mới của thế giới cũng như của nước ta, cùng với những vấn đề đang được cả loài người quan tâm, đồng thời lưu ý tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm tiên tiến của nước ngoài
Cần đưa thêm một số lĩnh vực tri thức cần thiết cho người học trong xã hội tương lai như: kinh tế học, xã hội học… qua hình thức tích hợp các nội dung này vào một số môn học có khả năng lồng ghép chúng hoặc qua một số giáo trình tự chọn
- Đảm bảo tính sư phạm và yêu cầu phân hóa:
Để đảm bảo năng lực thực hiện của người học trước hết cần xây dựng một chương trình phù hợp, vừa sức với đa số học sinh – sinh viên và được xem là “mặt bằng” với những mức độ yêu cầu mà họ phải đạt Từ “mặt bằng” trên tùy theo mục tiêu của từng ngành học hoặc từng loại trường mà định hướng chuyên sâu hoặc mở rộng kiến thức kỹ năng của một số môn hoặc lĩnh vực các môn phân hóa và chủ đề tự chọn
- Góp phần đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học:
Đây là một trong những yêu cầu hàng đầu của việc đổi mới chương trình giáo dục Cần chú ý nhiều đến việc phát triển năng lực tự học, đa dạng hóa các chương trình học
Trang 4040
tập, tạo điều kiện để học viên được tự nghiên cứu, chủ động trong việc phát hiện và giải quyết vấn đề Chương trình của từng môn học đều cần định hướng, yêu cầu cụ thể và đổi mới phương pháp dạy học bộ môn
- Tiếp tục coi trọng vai trò của phương tiện dạy học:
Phương tiện dạy học phải trở thành công cụ nhận thức, là một bộ phận hữu cơ của
cả phương pháp và nội dung dạy học Do yêu cầu tăng hoạt động thực hành, luyện tập, thí nghiệm cũng như yêu cầu ứng dụng công nghệ nên khi xây dựng chương trình cần đặt đúng vị trí của thiết bị dạy học trong quá trình dạy học môn học Khi nêu lên yêu cầu về mặt này cần lưu ý đến sự kết hợp giữa các thiết bị thông thường đã được mua sắm và các trang bị sẽ được mua sắm cho nhà trường với các thiết bị hiện đại, giữa các thiết bị mua sắm với các thiết bị tự tạo Cần lưu ý với vai trò của công nghệ thông tin và việc ứng dụng nó vào quá trình giảng dạy
1.5.3 Đổi mới sách giáo khoa, giáo trình giảng dạy
Giáo trình là tài liệu thể hiện một cách cụ thể nội dung, phương pháp giáo dục của từng môn học trong chương trình giáo dục Do đó các yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo phải được thể hiện trong nội dung và phương pháp biên soạn giáo trình
Những yêu cầu đặt ra đối với việc biên soạn giáo trình mới:
- Bám sát chương trình môn học:
Việc biên soạn giáo trình trước hết phải căn cứ vào mục tiêu giáo dục của bộ môn,
cụ thể là các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ, về nội dung, thời lượng, quán triệt các định hướng phương pháp học và cách thức kiểm tra, đánh giá mà chương trình đã quy định
- Đảm bảo tính kế thừa, phát huy những ưu điểm của giáo trình: