1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo hệ cao đẳng định hướng thị trường lao động tại trường đại học sư phạm kỹ thuật hưng yên

150 189 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo dục đại học và nghề nghiệp với thị trường lao động Chương II - Thực trạng chất lượng đào tạo hệ cao đẳng tại trường Đại Học SPKT Hưng yên 2.1.1.. Tuy nhiên, “chất lượng, hiệu quả củ

Trang 1

luận văn thạc sĩ

Nghiên cứu các giải pháp nâng cao Chất lượng đào tạo hệ cao đẳng định

hướng thị trường lao động tại trường đại học spkt hưng yên

ngành : sư phạm kỹ thuật

Phạm hữu hưng

Người hướng dẫn: PGS.Ts nguyễn đức trí

Hà Nội 2007

Trang 2

Mục lục

Lời cảm ơn

Mục lục

mở đầu

Chương I - Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng Đào

tạo hệ cao đẳng Định hướng thị trường lao động

1.1.1 Quan niệm về chất lượng

1.1.2 Quan niệm về chất lượng GD

1.1.3 Quan niệm về hệ cao đẳng và chất lượng GD hệ cao đẳng

1.3.2 Những qui định trong việc đánh giá chất lượng

1.4.1 Khái niệm về thị trường lao động

1.4.2 Thị trường lao động ở nước ta hiện nay

1.4.3 Giáo dục đại học và nghề nghiệp với thị trường lao động

Chương II - Thực trạng chất lượng đào tạo hệ cao

đẳng tại trường Đại Học SPKT Hưng yên

2.1.1 Chương trình đào tạo trình độ cao đẳng

2.1.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường

2.1.3 Các yếu tố về người học

2.1.4 Thực trạng đội ngũ GV

Trang

16

11111113152020273035353536363738

414141485156

Trang 3

2.2 Quá trình đào tạo

2.2.1 Cơ cấu bộ máy tổ chức quản trị của nhà trường

2.2.2 Quản lý quá trình dạy học trong trường

2.3.1 Số lượng SV tốt nghiệp

2.3.2 Sự hài lòng của các cơ sở sử dụng lao động

2.3.3 Khả năng tìm việc và tình trạng việc làm của SV tốt nghiệp

2.3.4 Khả năng học nâng cao và khả năng học suốt đời

Chương III - Một số giảI pháp nâng cao chất lượng đào

tạo hệ CĐ tại trường ĐH SPKT Hưng yên

3.1 Một số định hướng và nguyên tắc đề xuất giải pháp

3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo hệ cao đẳng

3.2.1 Tăng cường nghiên cứu khoa học kết hợp với đào tạo trong giảng

viên, sinh viên 3.2.2 Phát triển CTĐT theo hướng nghề nghiệp

3.2.3 Đổi mới phương pháp giảng dạy của GV

3.2.4 Nhà trường cần tạo ra mối liên hệ chặt chẽ với DN

3.2.5 áp dụng quản lý theo ISO

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

6060707373747679

82828383

87919598101

Trang 4

Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization) Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (General Agreement on Tariffs and Trade )

Chương trình đào tạo Học sinh, sinh viên Công nghệ thông tin Nghiên cứu khoa học Cán bộ công chức Giáo viên kỹ thuật/ dạy nghề Trung cấp chuyên nghiệp Cao đẳng

Đào tạo liên thông

Trang 5

Danh mục các bảng

1 1.1 So sánh mục tiêu, nội dung, phương pháp GD giữa trình độ

CĐ và ĐH trong Luật GD 2005

16

2 1.2 Các cấp độ mục tiêu GD về kỹ năng tâm vận (theo Harrow) 18

5 2.2 Thi tốt nghiệp sau khi kết thúc khóa đào tạo 73

6 2.3 Xếp loại hạnh kiểm/ rèn luyện hệ CĐ điện 74

7 2.4 Xếp loại hạnh kiểm/ rèn luyện hệ CĐ CNTT 74

8 2.5 Doanh nghiệp so sánh năng lực của HSSV tốt nghiệp các

trường đối tác với HSSV các trường khác

75

9 2.6 Tỉ lệ HSSV tốt nghiệp đã tham gia các khóa đào tạo nâng

cao có liên quan đến nghề đã học

79

Trang 6

Danh mục các hình

1 1.1 Các thành phần của chất lượng giáo dục 15

3 1.3 Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của quản lý GD 34

4 2.1 Qui trình đào tạo của trường ĐH SPKT Hưng Yên 41

5 2.2 Đào tạo trình độ CĐ chính qui trong mô hình đào tạo

của trường

45

6 2.3 Đào tạo trình độ CĐ chính qui thời gian 3 năm (không

phải liên thông) trong mô hình đào tạo của trường

46

7 2.4 Đào tạo trình độ CĐ không chính qui (chuyên tu) trong

mô hình đào tạo của trường (áp dụng từ năm 1987)

46

8 2.5 Biểu đồ số lượng GV dạy CĐ và ĐH năm 2001 và 2006 57

9 2.6 Cơ cấu bộ máy tổ chức quản trị trường ĐH SPKT HY 60

10 2.7 Thi tốt nghiệp sau khi kết thúc khóa đào tạo 73

12 3.2 Chu trình phát triển CTĐT theo định hướng nghề nghiệp 88

13 3.3 Qui trình kết hợp đào tạo tại trường và doanh nghiệp 97

Trang 7

mở đầu

1 Lý do nghiên cứu đề tài

Giáo dục đang là mối quan tâm sâu sắc của toàn dân ta Phát triển giáo dục và đào tạo (GD ĐT) là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy hiệu quả một tài nguyên quí giá nhất – con người

Trong suốt hơn một thập niên đổi mới của GD Việt Nam vừa qua, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng như qui mô GD có sự tăng trưởng mạnh, cơ cấu hệ thống GD từng bước được cải thiện, đa dạng hoá các loại hình giáo dục, nâng cấp cơ sở vật chất cho trường học và chất lượng GD

có một số chuyển biến tích cực Tuy nhiên, “chất lượng, hiệu quả của GD còn thấp so với yêu cầu; việc đổi mới hoạt động GD và ĐT, thực hiện xã hội hoá

GD và hội nhập quốc tế về GD và ĐT chậm so với yêu cầu và sự đổi mới về kinh tế - xã hội; đội ngũ giáo viên (GV) còn thiếu, chất lượng chưa đáp ứng

được yêu cầu của đổi mới GD” [14]; mất cân đối về cơ cấu GD; chưa gắn chặt

chẽ GD với thực tiễn; đào tạo chưa gắn với sử dụng; cơ sở vật chất còn thiếu; chương trình, giáo trình, phương pháp GD và công tác quản lý chậm đổi mới; tiêu cực và thiếu kỷ cương chậm được khắc phục

GD Việt Nam nói chung và giáo dục đại học nói riêng có những cơ hội

và thách thức khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO (7/11/2006) Gia nhập WTO, lực lượng lao động của chúng ta nói chung, học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp nói riêng sẽ có nhiều cơ hội việc làm cao hơn, thu nhập cao hơn, được làm việc trong một môi trường lao động có điều kiện tốt hơn Tuy nhiên, chất lượng GD ĐT nói chung còn thấp, một mặt chưa theo kịp được với tốc độ phát triển của kinh tế – xã hội, mặt khác chưa bắt nhịp được với trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Học sinh, sinh viên (HSSV) tốt nghiệp còn hạn chế về năng lực tư duy sáng tạo, kỹ năng làm

Trang 8

việc, tay nghề, khả năng thích ứng nghề nghiệp; ý thức tác phong công nghiệp, chất lượng công việc và kỷ luật lao động, tinh thần hợp tác và cạnh tranh lành mạnh chưa cao; khả năng tự lập nghiệp còn hạn chế

“Nhiều nhà sư phạm cho rằng, Việt Nam đó làm được nhiều việc để thực hiện mục tiờu tổng thể quản lý nhà nước về giỏo dục, song cũng cũn nhiều việc chưa làm được do sự giằng xộ giữa một bờn là thị trường chưa hoàn chỉnh và một bờn là lề thúi của lối kế hoạch chỉ huy, bao cấp quan liờu với cơ chế xin - cho Đầu vào của giỏo dục phổ thụng và giỏo dục chuyờn nghiệp bị chi phối bởi sự gia tăng dõn số, và sự “bốc thuốc” của một số nhà làm kế hoạch, cú trường hợp cũn ớt hiểu biết về quỏ trỡnh sư phạm, trong khi

đú, đầu ra của ngành giỏo dục thỡ lại bị điều tiết của thị trường lao động, thị trường nhõn lực Cụng tỏc quản lý nhà nước đối với giỏo dục của nước ta diễn ra trong xu thế quy mụ hoỏ giỏo dục đào tạo ở tất cả cỏc loại hỡnh, ngành càng tăng, nhưng bộ mỏy điều hành cũn nhiều bất cập và bị phõn tỏn…” [14]

Bao trùm lên tất cả bức tranh không mấy sáng sủa của GD nước nhà trên trước hết là do những yếu tố chủ quan, trình độ quản lý giáo dục và mô hình quản lý trong GD chưa theo kịp với thực tiễn và nhu cầu phát triển; chưa

sử dụng và phối hợp hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước và xã hội; tư duy, phương thức quản lý và các công cụ quản lý còn chậm đổi mới; chưa đề ra kịp thời các định hướng chiến lược và chính sách vĩ mô đứng đắn trong GD để xử

lý mối tương quan giữa qui mô, chất lượng và hiệu quả

Ngày nay dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ

đang diễn ra theo tốc độ “một ngày bằng 20 năm”, sự đua tranh quyết liệt giữa các quốc gia, thế giới đầy sáng tạo và biến động cực kỳ nhanh chóng, ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống kinh tế - xã hội của nước ta nói chung và GD kỹ thuật - nghề nghiệp, phát triển nguồn nhân lực nói riêng Điều này đòi hỏi GD

- ĐT nghề nghiệp trong giai đoạn hiện nay phải thích ứng được với xu hướng

Trang 9

xã hội hoá, đa dạng hoá và quốc tế hoá, thoả mãn nhu cầu phát triển, đáp ứng nhu cầu nhân lực của các thành phần kinh tế khác nhau, sự phong phú, đa dạng và thường xuyên thay đổi cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo của thị trường sức lao động xã hội ở nước ta

Trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, từ trường Trung học Công nghiệp Hưng Yên (1966-1970), trường Giáo viên Dạy nghề I (1971-1978), trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật I (1979-2002), đến tháng 1 năm

2003 trường trở thành Trường Đại học SPKT Hưng Yên Năm học 2006-2007, trường đã đào tạo khoá đại học thứ tư nhưng vẫn duy trì đào tạo trình độ cao

đẳng đã tới khoá 36 cùng với các trình độ thấp hơn: Trung cấp chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật Trong 40 năm qua, trường đại học SPKT Hưng Yên đã đào tạo được hơn 30.000 GVKT/DN và kỹ thuật viên, trong đó trình

độ cao đẳng là 16.046 người (có trên 10.000 GVDN) [5, Tr.4] Trường Đại học SPKT Hưng Yên có nhiều thuận lợi, nhưng thách thức cũng hết sức to lớn Mục tiêu phát triển nhà trường đã bám sát tinh thần của nghị quyết 14 của chính phủ và quyết tâm “Đổi mới giáo dục đại học” của Bộ GD&ĐT đó là GD

đại học hướng chuyên nghiệp và theo hướng đại học nghề nghiệp ứng dụng (Professional Oriented Higher Education - POHE, Appliscience University) trong hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất, đào tạo giáo viên kỹ thuật trên nền tảng kỹ sư công nghệ Ngoài ra, nhà trường có thâm niên và kinh nghiệm trong đào tạo kỹ năng thực hành; có truyền thống quan hệ với các doanh nghiệp; được sự hỗ trợ của các dự án như: chương trình đào tạo nghề Việt Nam do Chính phủ CHLB Đức tài trợ (BBPV), dự án GD Đại học Việt Nam –

Hà Lan Profed (2005-2009), và các cộng tác quốc tế khác Tuy nhiên, nhà trường còn bộc lộ một số tồn tại về giáo viên, chương trình đào tạo và đào tạo nâng cao, công tác tổ chức và quản lý, cơ sở vật chất và tài chính và dẫn đến chất lượng đào tạo của nhà trường chưa đáp ứng yêu cầu thực tế Một số HSSV sau khi tốt nghiệp, trong đó có SV hệ cao đẳng (CĐ) ra trường chưa nhận ngay

Trang 10

được công việc phù hợp với chuyên môn đào tạo, tỷ trọng không nhỏ đang làm các công việc mà không được qua đào tạo, số khác chưa hoàn toàn vận dụng những khả năng đã được đào tạo trong công việc hiện tại

Vì vậy, việc tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo HSSV nói chung và SV hệ CĐ nói riêng của trường Đại học SPKT Hưng Yên

đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của xã hội, đặc biệt là những nhu cầu từ phía thị trường lao động (World of Work) Tuy nhiên, cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề trên Do đó, đề tài luận văn với

tiêu đề: “Nghiên cứu các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo hệ Cao

đẳng định hướng thị trường lao động tại trường Đại học SPKT Hưng Yên” là hết sức cấp thiết

2 mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo hệ CĐ định hướng thị trường lao động tại trường Đại học SPKT Hưng Yên

3 đối tượng nghiên cứu

Chất lượng đào tạo và những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo

hệ CĐ ở trường đại học SPKT Hưng Yên

4 nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:

+ Xác định những vấn đề lý luận về chất lượng, nâng cao chất lượng

GD ĐT định hướng thị trường lao động

+ Đánh giá chất lượng đào tạo hiện nay tại trường đại học SPKT Hưng Yên trên cơ sở điều tra khảo sát các cơ sở sản xuất, công ty, doanh nghiệp có các HSSV của trường đang làm việc

+ Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo hệ CĐ ở trường đại học SPKT Hưng Yên

Trang 11

về vấn đề nghiên cứu

+ Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, khảo sát (tham khảo kết quả khảo sỏt “Lần theo dấu vết sinh viờn” cuối năm 2005 của BBPV, tham khảo kết quả khảo sát dự án GD đại học Viẹt Nam-Hà Lan); phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp chuyên gia

+ Phương pháp thống kê, xử lý số liệu

Trang 12

Chương I

Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng Đào tạo

hệ Cao Đẳng định hướng thị trường lao động

1.1 Một số quan niệm về chất lượng giáo dục

1.1.1 Quan niệm về chất lượng

Chất lượng là một khái niệm xuất hiện nhiều trong các lĩnh vực sản xuất

và thương mại Tuỳ theo cách tiếp cận, lĩnh vực hoạt động, văn hoá và kỳ vọng

mà ta hiểu khái niệm chất lượng một cách khác nhau

+ Theo quan niệm của Joerg E Feuchthofen [47, Tr.157], ý nghĩa tổng quát của từ “chất lượng” được hiểu là từ đồng nghĩa với “chất lượng tốt” hay còn gọi là “chất lượng cao” Nó cũng được hiểu như là kết quả của sản phẩm hay là sự mong muốn về chất lượng của khách hàng ý nghĩa của từ đảm bảo chất lượng được hiểu trong ISO 9000, đó là sự tin tưởng của khách hàng về chất lượng cũng như là kết quả hàng hoá thực tế Hệ thống quản lý chất lượng

là một công cụ hỗ trợ để đáp ứng đầy đủ chất lượng

+ Theo TCVN 5814 – 1994 trên cơ sở tiêu chuẩn quản lý chất lượng

quốc tế ISO – 9000 đã đưa ra định nghĩa: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đó một khả năng thoả mãn những nhu cầu đã được công bố hoặc còn tiềm ẩn” [33]

+ Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hoá ISO, trong tiêu chuẩn ISO 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa sau:

“Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có” Yêu cầu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm

hiểu chung hay bắt buộc [39,Tr.19]

Trang 13

Để nhấn mạnh mức độ đạt được về chất lượng, có thể sử dụng kèm theo

từ “chất lượng” các tính từ như kém, tốt, tuyệt hảo

Từ các định nghĩa trên, ta lưu ý các điểm sau:

a Chất lượng được đo bởi sự thoả mãn yêu cầu Nếu một sản phẩm vì lý

do nào đó mà không đạt được các yêu cầu, và bởi vậy không đạt được thì trường chấp nhận, thì bị coi là chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại hay giá trị của chỉ tiêu chất lượng

có thể rất cao Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà quản lý

định ra chính sách, chiến lược hoạt động của mình

b Yêu cầu có thể là nhu cầu, đó là những đặc tính không thể thiếu đối với

khách hàng hay các bên quan tâm về sản phẩm được cung cấp, nhưng yêu cầu

cũng có thể là những mong đợi, nếu thoả mãn được sẽ đem lại tính cạnh tranh

cao đối với sản phẩm Xuất phát từ cách phân tích trên về nhu cầu, có thể chia

chất lượng thành 2 loại: chất lượng phải có, ứng với đáp ứng các nhu cầu, và chất lượng hấp dẫn ứng với đáp ứng mong đợi Tuy nhiên cần lưu ý rằng, do

sự thay đổi điều kiện sống, nên nhiều đặc tính trong một thời kỳ được coi là mong đợi, thì sau đó được coi là nhu cầu

c Các tổ chức không chỉ đáp ứng các yêu cầu của khách hàng, mà muốn tồn tại hay phát triển phải lưu ý đến các bên quan tâm khác, ví dụ như các yêu cầu pháp luật hay chế định, các tập quán hay văn hoá, sinh hoạt của cộng

Trang 14

sự thành công hay thất bại của một tổ chức và mới chứng tỏ tính chuyên nghiệp của hoạt động nghề nghiệp

f Chất lượng không chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hoá mà ta vẫn hiểu hàng ngày Chất lượng có thể áp dụng cho một đối tượng bất kỳ như hệ thống, quá trình

Như vậy, “khả năng thoả mãn nhu cầu” là chỉ tiêu cơ bản nhất để đánh giá chất lượng sản phẩm

1.1.2 Quan niệm về chất lượng giáo dục

Chất lượng giáo dục được hiểu khác nhau giữa những nhà giáo và nhà quản lý giáo dục, giữa gia đình và xã hội Do những thay đổi lớn đang diễn ra trên thế giới, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế, sự gia tăng nhanh chóng của qui mô GD, sự phân cấp trong hệ thống quản lý GD, sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ…đã tác động thường xuyên đến quan niệm chất lượng Từ chỗ chất lượng được đo bằng kiến thức đến chỗ đo bằng cả kiến thức, kỹ năng và thái độ Từ chỗ đánh giá cao sự tích luỹ của người học

đến coi trọng khả năng thu thập, phân tích và tổng hợp thông tin để chuyển hoá thành tri thức [10, Tr.11]

Chất lượng giáo dục không chung chung, mà luôn gắn với mục đích, mục tiêu cụ thể, bao gồm cả những yếu tố định tính, cả những yếu tố định

lượng, và không dễ “đo” Có những yếu tố có kết quả ngay, song cũng có

những yếu tố cần một khoảng thời gian để kiểm nghiệm, thử thách Tránh nhầm lẫn đồng nhất chất lượng giáo dục với kết quả học tập hoặc số người sau khi tốt nghiệp có việc làm hay thất nghiệp, dù chúng là chỉ số chất lượng Có

nhà nghiên cứu đã phát biểu: “sinh viên ra trường thất nghiệp nhiều hay ít không hẳn do giáo dục yếu kém mà do nền kinh tế đất nước chưa phát triển mạnh”

“Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010” đã đặt ra yêu cầu rõ ràng

đối với chất lượng sản phẩm giáo dục: Giáo dục con người Việt Nam phải toàn

Trang 15

diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ và thẩm mỹ; phát triển được năng lực của cá nhân; đào tạo những người lao động có kỹ năng nghề nghiệp, năng động sáng tạo, trung thành với lý tưởng độc lập và xã hội chủ nghĩa; có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp, có ý thức công dân góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [7]

Chất lượng giáo dục hiểu một cách toàn diện, bao gồm nhiều lĩnh vực như sau:

a Phẩm chất về xã hội-nghề nghiệp (đạo đức, lý lưởng sống; ý thức, trách nhiệm, uy tín…)

b Tri thức (Chuyên môn, Xã hội, Ngoại ngữ, Tin học)

c Khả năng giao tiếp, hợp tác

d Khả năng thích ứng thị trường lao động

e Khả năng thực hành (cơ bản và thực tiễn)

f Tổ chức và thực hiện công việc, sức khoẻ, tâm lý, sinh lý…

Đặc biệt, cần tổ chức giáo dục hướng tới tri thức quốc tế Một yếu tố quốc tế ở trong chất lượng giáo dục đó là phải giỏi ngoại ngữ Theo GS.TSKH Nguyễn Đăng Hưng - Đại học Liège, Bỉ “Một nước trung bỡnh như Việt Nam

để nuụi dưỡng hiểu biết ngang tầm thế giới cần phải thụng thạo mỗi người hai ngoại ngữ Tụi muốn nhấn mạnh ở chữ thụng thạo chứ hiểu biết sơ sài như trỡnh độ cỏc sinh viờn tốt nghiệp ĐH hiện nay tại Việt Nam thỡ chưa thấm vào đõu…” [12] Ông nhấn mạnh việc mở rộng sử dụng internet, công nghệ thông tin để cập nhật những tri thức mới mẻ, hiện đại có vai trò quan trọng trong nâng cao chất lượng giáo dục của ta

Theo cách tiếp cận hệ thống thì giáo dục bao gồm các khâu: đầu vào - quá trình - đầu ra Do vậy, nếu theo cách tiếp cận này thì chất lượng giáo dục

có thể hình dung theo hình 1.1 sau:

Trang 16

Trong các thành phần của chất lượng giáo dục trên thì gia đình và xã hội thường đánh giá về chất lượng đầu ra của giáo dục đó là những con người

do giáo dục tạo nên Nếu con người đó thích nghi, phù hợp với môi trường kinh tế – xã hội đang sống, với thị trường lao động thì với xã hội, nền giáo dục

đó càng được đánh giá là có chất lượng cao

1.1.3 Quan niệm về hệ cao đẳng và chất lượng GD cao đẳng

Quan điểm phổ biến hiện nay về chất lượng GD là: “chất lượng GD là

đáp ứng các mục tiêu GD” [8, Tr.15] Nói cách khác, chất lượng giỏo dục là

mức độ phự hợp, mức độ đỏp ứng mục tiờu đó được đề ra của một chương

trỡnh đào tạo Như vậy, Chất lượng GD cao đẳng là chất lượng thực hiện

các mục tiêu GD cao đẳng

Như ta đã nói ở trên, yếu tố định tính cũng như yếu tố định lượng trong chất lượng GD là khó đo đếm, do vậy để nâng cao chất lượng đào tạo hệ cao

đẳng thì chúng ta cần làm rõ khái niệm hệ CĐ (trình độ CĐ) và chất lượng GD cao đẳng

Hiện nay, hệ CĐ trong hệ thống GD quốc dân của ta đang được hiểu rất khác nhau ở các cấp quản lý cũng như trong chính những giáo viên trực tiếp giảng dạy ở hệ này này Luật GD 2005 không định nghĩa cụm từ “trình độ cao

đẳng” mà định nghĩa gián tiếp thông qua việc đưa ra mục tiêu GD, yêu cầu về nội dung và phương pháp GD ở trình độ CĐ Với ranh giới không được xác

định rõ ràng và đôi khi có sự đan xen, giao thoa về mức độ đạt được của kiến

Hình 1.1 Các thành phần của chất lượng giáo dục

Chất lượng đầu vào Chất lượng quá trình Chất lượng đầu ra

Chất lượng giáo dục

Trang 17

thức, kỹ năng, thái độ giữa trình độ cao đẳng và trình độ đại học Điều này có thể gây ra khó hiểu hoặc hiểu không đúng về hình loại này và dẫn đến thực hiện sai trong GD - ĐT trình độ cao đẳng, đặc biệt GV giảng dạy ở hệ cao

đẳng càng cần phải hiểu chính xác hơn về mục tiêu GD, chất lượng GD và mối quan hệ giữa chúng

Chúng ta bắt đầu từ việc so sánh mục tiêu, nội dung và phương pháp

GD giữa trình độ CĐ và ĐH cũng như phân tích, đánh giá mục tiêu GD trình

độ cao đẳng trong luật giáo duc 2005 có hiệu lực từ 01/01/2006, (Bảng 1)

Bảng 1: So sánh Mục tiêu, Nội dung và Phương pháp GD giữa đào tạo trình độ

Giáo dục đại học

Đào tạo trình độ cao đẳng Đào tạo trình độ đại học

+ đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc

+ nắm vững kiến thức chuyên

Trang 18

năng thực hành cơ bản để giải

quyết những vấn đề thông thường

thuộc chuyên ngành đào tạo

môn và kỹ năng thực hành thành thạo để giải quyết những vấn đề

thuộc chuyên ngành đào tạo + có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo

+ có năng lực vận dụng lý thuyết vào thực hiện công tác chuyên môn

+ tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng

Chất lượng GD cao đẳng là chất

lượng thực hiện các mục tiêu GD

cao đẳng

Chất lượng GD đại học là chất lượng thực hiện các mục tiêu

GD đại học

Chúng ta có thể dựa vào cách phân loại các kỹ năng tâm vận (thang cấp

độ mục tiêu GD về kỹ năng tâm vận do Harrow đề xuất) - bảng 2, hoặc ta sử

dụng thang đánh giá sự thực hiện (Performance Rating Scale - PRS) – bảng 3.

Trang 19

Bảng 2: Các cấp độ mục tiêu GD về kỹ năng tâm vận (theo Harrow)

5 Làm thuần thục Thực hiện công việc với độ chính xác và tốc độ cao

4 Làm biến hoá Thực hiện công việc trong các hoàn cảnh và điều kiện

khác nhau

3 Làm chính xác Thực hiện công việc một cách chuẩn xác, hầu như không

có thao, động tác thừa

2 Làm được Thực hiện công việc như những hướng dẫn nhưng còn

nhiều thao, động tác thừa

1 Bắt chước Sao chép, rập khuôn máy móc

Bảng 3: Thang đánh giá sự thực hiện – PRS

(từ cấp 1 là thấp nhất đến cấp 6 là cao nhất)

5 Thực hiện công việc với tốc độ và chất lượng cao, có sáng kiến và tính thích nghi với các tình huống, vấn đề đặc biệt

4 Thực hiện công việc với tốc độ và chất lượng công việc cao, không cần sự giám sát và trợ giúp nào

3 Thực hiện công việc, không cần sự giám sát và /hoặc trợ giúp nào

2 Thực hiện công việc đáp ứng yêu cầu nhưng cần có sự giám sát định

kỳ và sự trợ giúp chút ít

1 Thực hiện công việc nhưng cần có sự giám sát liên tục và sự trợ giúp chút ít

Trang 20

Dùng bảng 2 để so sánh, phân tích, đánh giá mục tiêu GD cao đẳng trong luật GD 2005 thì là chưa đủ, chưa toàn diện Để đánh giá mục tiêu GD đạt

được khi kết thúc quá trình GD (đánh giá người tốt nghiệp từ phía người sử dụng lao động, thị trường lao động), ở nhiều nước trên thế giới, người ta sử

dụng thang đánh giá sự thực hiện – PRS [42,Tr.66] Trên tinh thần như vậy,

đối chiếu với bảng 3 ta thấy, mục tiêu GD cao đẳng trong luật GD 2005 chưa

đề cập, đề cao yếu tố độc lập, chủ động, khả năng tập trung, tác phong công nghiệp, và đặc biệt là sự sáng tạo, tính thích nghi

Nhiều tham luận trong hội thảo khoa học "Cỏc giải phỏp cơ bản nõng cao chất lượng giỏo dục đại học" do Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chớ Minh và Bỏo Giỏo dục & Thời đại đồng tổ chức cho rằng mục tiờu GDĐH phải luụn bỏm sỏt thực tiễn xó hội, phản ảnh đỳng yờu cầu phỏt triển kinh tế -

xó hội của quốc gia, quốc tế cũng như mỗi địa phương Thực tiễn xó hội khụng ngừng vận động, vỡ vậy mục tiờu giỏo dục khụng thể cố định Mục tiờu GDĐH trong Luật giỏo dục hiện hành là định hướng lớn, chưa phải là mục tiờu Mục tiờu phải cụ thể hơn Mục tiờu giỏo dục trong Luật giỏo dục cũn tỏch GDĐH Việt Nam với GDĐH thế giới và chưa nhấn mạnh đỳng mức đến yờu cầu tri thức hiện đại cũng như khả năng sỏng tạo của người học, ngay cả với nghiờn cứu sinh [31]

Tóm lại, chất lượng GD sinh viên trình độ cao đẳng có quan hệ mật thiết với việc thiết kế, xây dựng các mục tiêu GD ở trình độ cao đẳng Việc xây dựng lại mục tiêu GDĐH nói chung và mục tiêu GD trình độ đào tạo cao đẳng nói riêng theo hướng mục tiêu GD toàn diện là yêu cầu cần thiết cho việc nâng cao chất lượng GD đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao và sinh viên tốt nghiệp trình độ cao đẳng

Đánh giá chất lượng GD cao đẳng, tức là chúng ta so sánh đối chiếu kết quả đạt được đơn lẻ hoặc định kỳ theo từng giai đoạn phát triển của quá trình

GD cũng như kết quả đạt được sau khi kết thúc quá trình GD (đánh giá người

Trang 21

tốt nghiệp) so với mục tiêu GD của các môn học hoặc một giai đoạn học tập cũng như cả khoá học tập

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng GD

Chất lượng GD ĐT bị tác động bởi nhiều yếu tố, ta có thể chia theo 2 nhóm sau: các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài

1.2.1 Các yếu tố bên trong

1.2.1.1 Mục tiêu giáo dục (Educational Objective)

Có 2 loại mục tiêu giáo dục: các mục tiêu chung và các mục tiêu giáo dục nghề nghiệp

™ Các mục tiêu chung (General Objectives): Các mục tiêu giáo dục cuối cùng là chung cho tất cả các nghề nghiệp (for all occupations), và được hoàn thành phù hợp với các kiến thức đạt được từ lĩnh vực giáo dục chung (đại cương) Đặc biệt, các mục tiêu giáo dục chung đạt được bằng kiến thức và các kỹ năng trong phạm vi các môn học giáo dục đại cương (the general educational subjects)

™ Các mục tiêu giáo dục nghề nghiệp (Professional Education Objectives)

cụ, thái độ hướng tới giải quyết vấn đề nảy sinh,…)

ắ Thái độ hướng tới các cộng tác viên và khách hàng (Attitude toward the collaborators and clients): Sự thật thà, sự tín nhiệm, sự tôn trọng (sincerity, trust, respect) Quan hệ với các môn học hướng tới các cộng tác viên và khách hàng

Trang 22

ắ Thái độ hướng tới người giỏi hơn (Attitude toward the superiors) Giỏo dục được xem như một quỏ trỡnh làm thay đổi năng lực của con người Mọi quỏ trỡnh giỏo dục luụn bắt đầu từ việc xõy dựng mục tiờu, bởi vậy

mục tiêu GD mô tả sự thay đổi năng lực của con người hay nói cách khác hình thành nên năng lực của con người

Mục tiờu của giỏo dục đại học định hướng nghề nghiệp (Profesional Higher Education-PHE) là tạo ra con người cú khả năng đỏp ứng được cỏc yờu cầu chuyờn mụn thực tế của thị trường lao động hay nói cách khác GD

đại học hướng nghề nghiệp có nhiệm vụ đào tạo con người có đủ năng lực đáp ứng được các vị trí công việc của thị trường lao động Tại thị trường lao động, cỏc yờu cầu chuyờn mụn cho một tỡnh huống nghiệp vụ được thể hiện dưới dạng cỏc cụng việc hoặc nhiệm vụ cụ thể (tasks) Khả năng giải quyết một cụng việc cụ thể thể hiện sự tớch hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thỏi độ, động

cơ và cỏ tớnh của cỏ nhõn Khả năng giải quyết đầy đủ cỏc cụng việc của một tỡnh huống nghiệp vụ (Profesional situations), theo quan điểm của giỏo dục, thể hiện cỏc năng lực thực hiện (competences) của con người Vỡ thế, giỏo dục

đại học định hướng nghề nghiệp tập trung vào cỏc quỏ trỡnh giỏo dục để tạo ra cỏc năng lực thực hiện cần thiết cho người học

Năng lực cao nhất là khả năng vận dụng nhuần nhuyễn và tớch hợp cỏc kiến thức và kỹ năng để hoàn thành nhiờm vụ trong những tỡnh huống nghề nghiệp cụ thể

Trong mục tiêu giáo dục con người, ở Châu Âu thường chú trọng các kỹ năng sau của SV tốt nghiệp:

• Kiến thức và hiểu biết

Trang 23

• ứng dụng các kiến thức và hiểu biết

• Có óc phán đoán (óc suy xét)

• Kỹ năng giao tiếp

• Các kỹ năng học tập

Tại Hà Lan có 10 năng lực chính (10 core competencies) sau:

• Trình độ chuyên môn rộng (Broad professionalisation)

• Sự tích hợp liên môn, liên ngành (Multi-disciplinary integration)

• Sự ứng dụng (có khoa học) - (scientific) application

• Tính sẵn sàng làm việc cao và di chuyển (Transfer and broad availability)

• Tính sáng tạo và tổng thể trong hoạt động (Creativity and complexity in acting)

• Làm việc định hướng vấn đề (Problem oriented working)

• Biết suy nghĩ và hành động có phương pháp và thích ứng (Methodical and reflective thinking and acting)

• Giao tiếp xã hội khéo léo (Social communicative skilled)

• Được đào tạo cơ bản cho quản lý (Basic skills for management)

• Có ý thức về trách nhiệm xã hội (Awareness of societal responsibility) Mục tiêu giáo dục trong Điều 2 chương I - Luật GD 2005 của VN là:

“Mục tiêu GD là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo

đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.”

Mục tiêu GD đại học trong Luật giáo dục 2005 của nước ta là một

định hướng lớn chưa cụ thể, cần phải được điều chỉnh theo hướng mục tiêu

GD toàn diện Điều ghi nhận trong mục tiêu GD toàn diện [20] là:

Trang 24

+ Sự phỏt triển cỏ nhõn phải toàn diện, bao gồm cả đức, trớ, thể, mỹ và tớnh xó hội

+ Giỏo dục đào tạo con người cú ý thức trỏch nhiệm với bản thõn, gia đỡnh, và bố bạn

+ Giỏo dục đào tạo con người cú ý thức trỏch nhiệm với cộng đồng và đất nước

Phần đức dục phải bao hàm tớnh trung thực, trong sỏng, hồn nhiờn; phần trớ dục phải bao hàm khả năng suy tư độc lập và tụn trọng sự khỏc biệt; phần

mỹ dục phải bao hàm khả năng sỏng tạo và khả năng làm đẹp cuộc đời; và phần giỏo dục tớnh xó hội phải bao hàm khả năng biết tụn trọng tớnh đa dạng của cộng đồng và xó hội

1.2.1.2 Giáo viên

Đội ngũ GV nói chung cũng như các giảng viên giảng dạy trong các trường cao đẳng, đại học nói riêng là một yếu tố đóng vai trò quyết định sự phát triển sự nghiệp GD & ĐT Đảng, Chính phủ và nhân dân luôn đánh giá cao công lao của các thầy cô giáo đối với việc dạy dỗ thế hệ trẻ Trong những năm đổi mới, truyền thống tôn sư trọng đạo (hoặc như dân gian nói: Không thầy đố mày làm nên) đã được giữ gìn và phát triển [11,Tr.264]

Trong điều kiện phát triển vũ bão của Khoa học và Công nghệ mới, trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, phát triển đội ngũ GV phải theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá và xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước

1.2.1.3 Chương trình đào tạo, nội dung và phương pháp dạy - học

Chương trỡnh, nội dung, phương phỏp cú ảnh hưởng quan trọng đến với chất lượng đào tạo đại học hiện nay ở gúc độ nhất định, chương trỡnh, nội dung đào tạo thế nào, chất lượng thế ấy

Trang 25

a Chương trình GD:

Trên thế giới, chương trình GD hoặc chương trình đào tạo (CTĐT) thường được sử dụng bằng thuật ngữ “curriculum” CTĐT thay đổi theo sự phát triển của xã hội và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố (người học, người dạy, phụ huynh, nhà tuyển dụng, các tổ chức tôn giáo, chính trị…) cho nên có nhiều quan niệm khác nhau và làm cho khái niệm này trở nên phức tạp

+ Trong “Một số thuật ngữ trong luật GD” – Luật GD 2005: Chương trình

GD là tài liệu thể hiện mục tiêu GD, qui định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm

vi và cấu trúc nội dung GD, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động GD, cách thức đánh giá kết quả GD đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo [16,Tr.40]

+ CTĐT là “tất cả các hoạt động mà người học cần thực hiện để theo học hết khoá học và đạt được mục đích tổng thể” Như vậy, CTĐT không chỉ là

bản liệt kê nội dung cần đào tạo mà là toàn bộ quá trình đi đến đích của người học Khái niệm này nhấn mạnh vào người học và lấy người học làm trung tâm cho cả quá trình dạy, đào tạo [3,Tr.7]

+ Chương trỡnh đào tạo: Là tài liệu lập kế hoạch cho một quỏ trỡnh đào tạo với mụ tả chi tiết cỏc mục tiờu đào tạo, làm thế nào để đạt được cỏc mục tiờu

đú và phương phỏp đỏnh giỏ kết quả quỏ trỡnh đào tạo Dựng để tổ chức, chuẩn bị và thực hiện cũng như cải tiến quỏ trỡnh đào tạo [37]

+ John Kerr định nghĩa CTĐT như sau: “Tất cả sự học tập mà được lập kế hoạch và được chỉ dẫn bởi trường học, nó được xúc tiến trong các nhóm hoặc cá nhân, bên trong hoặc bên ngoài trường” [46]

+ CTĐT theo Stenhouse: Như một lượng tối thiểu, một CTĐT nên cung cấp một nền tảng cho lập kế hoạch một khoá học, sự nghiên cứu nó theo kinh nghiệm và tính đến các lý lẽ của sự biện minh cho nó [46]

CTĐT là một thành tố quan trọng quyết định chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo Do đó, việc phát triển các CTĐT là nhiệm vụ chung của ngành

Trang 26

GD và các trường cao đẳng, đại học Chúng ta cần phải suy ngẫm về CTĐT dưới góc độ những nhà sư phạm (ngược với những người làm chính sách) Xét

về bản chất, CTĐT giúp họ nghĩ về các công việc của họ trước, trong và sau những sự can thiệp; nó như một phương tiện cho phép các nhà sư phạm đánh giá về sự điều khiển công việc của họ đã làm

b Nội dung GD đại học :

Phải có tính hiện đại và phát triển, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản, ngoại ngữ và công nghệ thông tin với kiến thức chuyên môn

và các bộ môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy bản sắc dân tộc, tương ứng với trình độ chung của khu vực và thế giới

Đào tạo trình độ cao đẳng phải bảo đảm cho sinh viên những kiến thức cơ bản và kiến thức chuyên môn cần thiết, chú trọng rèn luyện kỹ năng cơ bản

và năng lực thực hiện công tác chuyên môn [16,Tr.12]

c Phương pháp GD cao đẳng và đại học :

Khuyến khích sự chủ động học tập, nghiên cứu, thực nghiệm của người học, kết hợp với việc giảng dạy, hướng dẫn của người dạy Phương pháp GD phải thể hiện được nguyên lý GD: lý luận gắn liền với thực tiễn, GD kết hợp với lao động sản xuất Chấm dứt tình trạng dạy chay, không có thực hành, thực tập; đặc biệt cần sớm chấm dứt tình trạng xa rời cuộc sống, đề phòng khuynh hướng “phi chính trị” trong các trường [11,Tr.196]

1.2.1.4 Cơ sở hạ tầng

Hoạt động GD ĐT đòi hỏi những điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng cần thiết, thích hợp cho từng loại hình GD ĐT ở các bậc học và ngành học khác

nhau Các cơ sở hạ tầng trong GD ĐT chủ yếu bao gồm các công trình (lớp

học, phòng thí nghiệm, thư viện, xưởng thực hành, khu văn hoá - thể thao, khu

hành chính, ký túc xá ) và các trang thiết bị phục vụ cho các hoạt động dạy

và học của các cơ sở GD ĐT (từ các loại bảng, bàn ghế, dụng cụ dạy học đơn giản đến các thiết bị dạy học hiện đại như đèn chiếu, máy vi tính ) Đây là

Trang 27

những điều kiện quan trọng góp phần bảo đảm chất lượng đào tạo của nhà trường bên cạnh các điều kiện bảo đảm khác như đội ngũ GV, CTĐT, tài liệu học tập

Cùng với sự phát triển của sản xuất, tiến bộ khoa học và công nghệ, các trang thiết bị phương tiện dạy học của các trường đại học ngày càng trở nên phong phú, đa dạng và hiện đại trong đó có nhiều thiết bị dạy học, dụng cụ thí nghiệm quí hiếm và đắt tiền Trang thiết bị dạy học trở thành công cụ hỗ trợ

đắc lực cho lao động sư phạm của GV và hoạt động học tập của HSSV, nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học Trang thiết bị học tập là công cụ lao động sư phạm của người GV, là nhân tố cơ bản của quá trình dạy học [2,Tr.311]

Cỏc ĐH Việt Nam cũn rất nghốo, đặc biệt là quĩ đất, cỏc phũng thớ nghiệm và thư viện Khuụn viờn cỏc ĐH Việt Nam quỏ nhỏ bộ, thua cỏc ĐH thế giới rất xa [31] Tình hình cơ sở vật chất – trang thiết bị của hệ thống GD

ĐT của ta còn rất khó khăn, yếu kém do tỷ lệ chi cho xây dựng cơ bản và mua sắm trang thiết bị còn thấp Công tác quản lý cơ sở hạ tầng còn nhiều bất cập

từ khâu lập kế hoạch, mua sắm, sử dụng, bảo dưỡng,…Nhiều trang thiết bị quí hiếm, phương tiện dạy học không phát huy được hiệu quả sử dụng, tỷ lệ hao mòn vô hình cao

Do đó, việc nghiên cứu các cơ sở khoa học và giải pháp thực tiễn phát triển quản lý các cơ sở hạ tầng trong GD ĐT là một vấn đề quan trọng và cấp bách, góp phần nâng cao chất lượng GD ĐT nói chung và chất lượng đào tạo sinh viên cao đẳng của trường Đại học SPKT Hưng Yên nói riêng

1.2.1.5 Chính sách, cơ chế, tổ chức và các yếu tố khác

GD là một loại hình hoạt động xã hội có phạm vi tác động lớn và nhiều mặt với đời sống xã hội Các chính sách phát triển GD có vị trí, vai trò quan trọng và tác động về nhiều mặt đối với quá trình phát triển GD nói chung và

hệ thống GD nói riêng, qua đó tác động trở lại đến quá trình phát triển KT –

Trang 28

XH của mỗi quốc gia Các chính sách phát triển GD ĐT của ta đang từng bước

được phát triển và hoàn thiện có tác động mạnh mẽ đến quá trình phát triển

GD ĐT Tuy nhiên, hệ thống các chính sách GD ĐT chưa đồng bộ và tác động còn hạn chế đến phát triển GD do thiếu những điều kiện, cơ chế và các nguồn lực cần thiết để thực thi GD của ta đang có những vấn đề của các cơ chế trong quản lý GD như: đào tạo, nghiên cứu, tài chính đặc biệt trong chính sách tiền lương và thu học phí, chính sách thu hút nhân tài và quảng bá việc giải quyết tốt những vấn đề về cơ chế, chính sách sẽ góp phần nâng cao chất lượng GDĐT

1.2.2 Các yếu tố bên ngoài

1.2.2.1 Điều kiện kinh tế x∙ hội

Trong tiến trình đổi mới, nền kinh tế nước ta chuyển từ “kế hoạch hoá tập

trung” sang “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” kéo theo GD

ĐH Việt Nam trong 20 năm qua cũng đã mang đặc trưng chủ yếu là chuyển từ

GD kép kín sang GD mở cửa, chủ động hội nhập GD ĐH VN không còn bó

hẹp trong việc thoả mãn nhu cầu của các cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước mà

đáp ứng nhu cầu rộng rãi của các thành phần kinh tế khác nhau

Chính vì thực tế trên, nhất là khi VN đã gia nhập WTO (cam kết GATT)

sẽ khiến bức tranh GD ĐH VN có nhiều biến động mạnh, rõ nhất ở khu vực

ĐH tư thục cùng với sự xuất hiện của các cơ sở GD nước ngoài Cục diện cạnh tranh sẽ hình thành và phát triển Thị trường GD sẽ chuyển từ tự phát sang tự giác với sự định hướng mạnh mẽ của Nhà nước nhằm đảm bảo một “chuẩn thị trường”

Như vậy, chúng ta không phải bàn cãi, không thể lảng tránh thực tế có

một thị trường GD đang hình thành và phát triển trong bối cảnh VN mở rộng

cửa, rộng cửa nhất là GD ĐH [18]

Nói đến thị trường GD, tức là ta nói đến các qui luật thị trường tác động

đến tất cả các cá nhân, tổ chức tham gia vào các hoạt động GD ĐT (qui luật

Trang 29

cung – cầu, giá cả; qui luật giá trị; qui luật cạnh tranh; qui luật lợi nhuận tối

đa…) Một mặt, mạng lưới các trường cao đẳng, đại học điều chỉnh cơ cấu vùng miền, cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, xây dựng các tiêu chí đảm bảo mức chất lượng, điều chỉnh chế độ học phí, học bổng, các chính sách tài chính theo hướng đáp ứng tốt nhất nhu cầu thị trường cũng như việc xây dựng đội ngũ GV, cán bộ quản lý có chất lượng và công tác kiểm định chất lượng GD

Đó cũng là những vấn đề quan trọng nhằm tăng sức cạnh tranh của các trường

ĐH VN khi chúng ta mở rộng của và hội nhập kinh tế thế giới Mặt khác, sức

ép từ phía thị trường lao động nhất là khi cánh cửa WTO mở ra, đòi hỏi cao khả năng thích ứng với môi trường hội nhập của người lao động Những người lao động qua đào tạo, đặc biệt là nguồn nhân lực trình độ cao sẽ dễ dàng xin

được các công việc phù hợp, với mức lương tương xứng Để “cung lao động”

có thể đáp ứng “cầu lao động” thì mỗi người học phải tự rèn các kỹ năng chuyên môn, tác phong công nghiệp, khả năng làm việc độc lập, sáng tao…điều này góp phần làm cho chất lượng GDĐT được nâng lên

1.2.2.2 Sự phát triển khoa học – công nghệ

Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ đã, đang phát triển như vũ bão và

sẽ có những bước nhảy vọt trong thế kỷ XXI Thế giới chuyển từ thời kỳ công nghiệp hoá ở trình độ cao sang phát triển nền kinh tế tri thức Đối với nước ta quá trình CNH – HĐH đồng thời là quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế từng bước xây dựng một nền kinh tế công nghiệp hoá và hiện đại hoá tiệm cận với nền kinh tế tri thức Sự thay đổi đó tác động tới tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội,…làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất cũng như tinh thần của toàn xã hội Đồng thời với sự phát triển của khoa học – công nghệ là sự ra đời của hàng loạt những kiến thức mới đòi hỏi phải được đưa vào chương trình đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn phát triển tri thức và nguồn nhân lực có trình độ cao cho xã hội

Trang 30

1.2.2.3 Sự phát triển khoa học giáo dục

Khoa học GD là một ngành khoa học xã hội bao gồm nhiều chuyên ngành khoa học, lĩnh vực nghiên cứu cơ bản và ứng dụng khác nhau từ các chuyên ngành sinh lý học lứa tuổi, tâm lý học sư phạm, giáo dục học, quản lý giáo dục…đến các chuyên ngành nghiên cứu theo các bậc học, loại hình đào tạo như giáo dục phổ thông, giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp, giáo dục đại học,…

Khoa học GD nghề nghiệp với tư cách là một chuyên ngành của khoa học

GD mới được hình thành và phát triển ở nước ta trong thời gian gần đây Nó bao gồm hệ thống các tri thức và khái niệm khoa học phản ánh những thuộc tính cũng như qui luật vận động phát triển của các sự vật hiện tượng trong lĩnh vực GD nghề nghiệp

Những thành tựu, diện mạo mới trong sự phát triển của Khoa học Công nghệ hiện đại đã và đang tác động tới tư duy của con người nói chung và con người VN hôm nay nói riêng Những yếu kém của nền Khoa học Công nghệ cũng như sự tụt hậu của hệ thống GD nước nhà (những căn bệnh trầm kha, những cục bướu của GD VN) đang đòi hỏi những hướng đi mới, những biện pháp xây dựng một nền khoa học GD ĐT tiên tiến – thực sự trở thành động lực của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước [21]

1.2.2.4 Sự hội nhập quốc tế

Cùng với quá trình phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội, GD của các nước cũng luôn luôn được phát triển và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về GD và phát triển nguồn nhân lực của các quốc gia, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập với sự phát triển chung của khu vực và quốc tế

Muốn nõng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, muốn mau chúng đuổi kịp cỏc nước, khụng cú cỏch nào khỏc phải phỏt triển giỏo dục và khoa học theo tinh thần hiện đại húa để hội nhập Để có được sự hội nhập thành

Trang 31

công trong GD, chúng ta cần phải có những bước đột phá trong ĐT, nâng cao chất lượng ĐT ngang tầm với các nước trong khu vực và thế giới Để làm được

điều đó, chúng ta cần đưa GD thành quốc sách hàng đầu, GD phải là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân

1.2.3 Quản lý chất lượng giáo dục

1.2.3.1 Quản lý chất lượng

a) Quan niệm về quản lý chất lượng

Quản lý chất lượng là một nội dung rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp TCVN 5814 – 1994 đưa ra định nghĩa sau:

“Quản lý chất lượng là tập hợp những hoạt động của chức năng quản lý chung xác định chính sách chất lượng, mục đích, trách nhiệm và thực hiện chúng thông qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, điều khiển (kiểm soát) chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ chất lượng” [33, Tr.10]

Định nghĩa này đã đưa hoạt động quản lý chất lượng lên một trình độ cao, đặt vấn đề và giải quyết vấn đề chất lượng trong phạm vi hệ thống Có thể hiểu định nghĩa trên một cách đơn giản: quản lý chất lượng là việc ấn định mục tiêu, đề ra nhiệm vụ và tìm biện pháp thực hiện một cách có hiệu quả nhất

Theo Giáo sư Đặng ứng Vận, công việc đầu tiên của quản lý chất lượng

GD chính là sự đáp ứng các yêu cầu xã hội của sản phẩm GD HSSV ra trường

có khả năng thích ứng với công việc hay không [43]

Quản lý chất lượng là nhiệm vụ được thực hiện thích hợp và có hiệu quả, nó thoả mãn được những yêu cầu thường gặp của khách hàng (các doanh nghiệp) cũng như của công chúng (HS) [47]

b) Quản lý chất lượng theo ISO 9001:2000

Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 do Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hoá ban hành nhằm mục đích đưa ra một mô hình được chấp nhận ở mức độ quốc tế

Trang 32

về hệ thống quản lý chất lượng và có thể áp dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực,

kể cả GD ĐT

Tiêu chuẩn ISO 9001:2000 thay thế ISO 9001/2/3: 1994, qui định các yêu cầu đối với hệ thống quản lý chất lượng khi một tổ chức

+ Cần chứng tỏ khả năng cung cấp một cách ổn định sản phẩm (học viên tốt nghiệp) đáp ứng yêu cầu khách hàng (các doanh nghiệp) và các yêu cầu chế định thích hợp,

+ Nhằm nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng thông qua việc áp dụng

có hiệu lực hệ thống này, bao gồm cả các quá trình để cải tiến liên tục hệ thống và đảm bảo sự phù hợp với các yêu cầu của khách hàng và yêu cầu chế

định được áp dụng [39,Tr.496]

1.2.3.2 Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là việc xây dựng, hoạch định các đường lối, chính sách để giáo dục phát triển, đáp ứng mục tiêu kinh tế - xã hội trong xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá Một trong những vấn đề bức xúc nhất trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo hiện nay là quản lý giáo dục yếu kém Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo, nhà quản lý giáo dục và các cơ quan quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt và có vai trò quan trọng Nhà quản lý giáo dục và các cơ quan giáo dục đều cần có trách nhiệm tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng của sản phẩm giáo dục

Quản lý giáo dục được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến các khách thể quản lý trong lĩnh vực hoạt động/ công tác giáo dục Nói một cách

đầy đủ, quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và nâng cao chất lượng đào tạo theo yêu cầu phát triển xã hội

Trang 33

a) Đặc trưng của quản lý giáo dục

Hệ thống giáo dục là một hệ thống xã hội Quản lý giáo dục cũng chịu

sự chi phối của các qui luật xã hội và tác động của quản lý xã hội Quản lý giáo dục có những đặc trưng chủ yếu sau đây:

+ Sản phẩm giáo dục là nhân cách, là sản phẩm có tính đặc thù nên quản lý giáo dục phải ngăn ngừa sự dập khuôn, máy móc trong việc tạo ra sản phẩm cũng như không được phép tạo phế phẩm

+ Quản lý GD nói chung, quản lý nhà trường nói riêng phải chú ý đến

sự khác biệt giữa đặc điểm lao động sư phạm so với lao động xã hội nói chung

+ Trong quản lý chất lượng GD, các hoạt động quản lý hành chính nhà nước và quản lý sự nghiệp chuyên môn đan xen vào nhau, thâm nhập lẫn nhau không thể tách rời, tạo thành hoạt động quản lý GD thống nhất

+ Quản lý GD đòi hỏi những yêu cầu cao về tính toàn diện, tính thống nhất, tính liên tục, tính kế thừa, tính phát triển,

+ GD là sự nghiệp của quần chúng Quản lý GD phải quán triệt quan

điểm của quần chúng

Dựa vào phạm vi quản lý, người ta chia ra hai loại quản lý GD là:

+ Quản lý hệ thống GD: quản lý GD diễn ra ở tầm vĩ mô trong phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phương (tỉnh, thành phố)

+ Quản lý nhà trường: quản lý GD ở tầm vi mô, trong phạm vi một đơn

vị, một cơ sở GD

Có thể nói rằng, nhà trường hay trường học là khách thể quản lý của các cấp quản lý GD trong hệ thống GD quốc dân, đồng thời, trường học lại là một chủ thể quản lý – một hệ thống độc lập tự quản của xã hội

b) Chức năng của quản lý giáo dục

Quản lý GD có những chức năng cơ bản của quản lý nói chung, đó là: Lập kế hoạch, Tổ chức, Chỉ đạo - điều hành, kiểm tra - đánh giá

Trang 34

* Lập kế hoạch

Lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ thống, các hoạt

động và những điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó Lập kế hoạch có các nhiệm vụ sau:

+ Phân tích môi trường và phân tích nhu cầu;

+ Đề ra mục tiêu, chương trình;

+ Lập kế hoạch chương trình;

+ Nghiên cứu xác định tiến độ;

+ Thực hiện;

+ Kiểm tra và đánh giá quá trình thực hiện

Hình 1.2 Lập kế hoạch trong quá trình quản lý

* Tổ chức

Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hạn và nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả Tổ chức có các nhiệm vụ sau:

+ Xây dựng các cơ cấu, nhóm (cơ cấu, cấu trúc);

+ Tạo sự hợp tác, liên kết;

Trang 35

+ Xây dựng các yêu cầu;

+ Lựa chọn, sắp xếp;

+ Bồi dưỡng cho phù hợp;

+ Phân công nhóm và cá nhân

* Chỉ đạo, lãnh đạo, điều khiển

Là quá trình tác động đến các thành viên của tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu để cùng nhau đạt được các mục tiêu của tổ chức Chỉ đạo, lãnh đạo, điều khiển có các nhiệm vụ sau:

+ Rút kinh nghiệm và điều chỉnh

Các chức năng của quản lý GD có quan hệ tương tác với nhau, gắn bó với nhau Trong mọi hoạt động quản lý GD, thông tin quản lý GD luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng, nó được coi như “máu” của hoạt động quản lý GD

Hình 1.3 Mối quan hệ giữa các chức năng cơ bản của quản lý GD

Trang 36

GD góp phần phát triển các cá nhân, thúc đẩy mỗi tổ chức, mỗi xí nghiệp và toàn xã hội GD ĐH của ta hiện nay có một khoảng cách so với các nước trong khu vực và thế giới Việc tìm những tồn tại và đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý GD ĐH nhằm nâng cao chất lượng quản lý GD sẽ góp phần giảm bớt khoảng cách này Quản lý GD là nhân tố quan trọng dẫn

đến sự thành công trong việc nâng cao chất lượng GD ĐT

1.3 đánh giá chất lượng đào tạo

1.3.1 Đánh giá chất lượng giáo dục

Vấn đề chất lượng giáo dục là vấn đề quan tâm của các cơ quan có trách nhiệm cũng như của toàn xã hội Kiểm tra và đánh giá về chất lượng giáo dục luôn đi đôi với nhau và là một khâu, mắt xích quan trọng trong chu trình quản

lý GD, nó có quan hệ mật thiết với các chức năng quản lý khác như: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo - điều hành

Việc đánh giá chất lượng giáo dục cần được thực hiện có nguyên tắc,

cần “ thống nhất về phương pháp” [9], sử dụng các công cụ đánh giá và được

thực hiện không chỉ bên trong mà cần phải thực hiện cả bên ngoài cơ sở giáo dục, ngành giáo dục, từ chủ thể sử dụng các sản phẩm giáo dục

1.3.2 Những qui định trong việc đánh giá chất lượng

Đây là một “mắt xích” quan trọng trong đổi mới quản lý chất lượng

giáo dục Do có sự khác nhau giữa các vùng miền dân tộc, sự đa dạng của năng lực cá nhân và các phương thức giáo dục, chúng ta cần đưa ra các chuẩn mực cơ bản cho việc đánh giá chất lượng giáo dục Khi đã xây dựng được các chuẩn mực cơ bản thì để việc thực thi có hiệu quả cần thể chế hoá nguyên tắc, tiêu chí và qui trình đánh giá

1.3.2.1 Về nguyên tắc

Việc đánh giá chất lượng giáo dục cho đến nay còn nhiều tranh cãi, bàn bạc và có nhiều quan điểm chưa thống nhất, thậm trí trái ngược nhau Điều này đòi hỏi phải thể chế hoá các nguyên tắc chung mà mọi người cùng tuân

Trang 37

theo Nguyên tắc cơ bản của đánh giá là: Thực hiện mục tiêu giáo dục của quốc gia, khách quan, toàn diện, liên tục và có tính định hướng, tính quốc tế

1.3.2.2 Về tiêu chí

Tiêu chí là sự cụ thể hoá các chuẩn mực của việc đánh giá chất lượng, hàm chứa các chuẩn tối thiểu, đồng thời cần cụ thể, hiện thực và khả thi nhằm giúp cho việc đánh giá chất lượng GD được công bằng, chính xác

Khi đánh giá chất lượng cần xác định thống nhất là đánh giá so với cái

“chuẩn” nào, như đánh giá so với yêu cầu của đất nước, so với mục tiêu và

chương trình giáo dục, so với chất lượng giáo dục của ta trước đây Nếu ta so sánh chất lượng giáo dục với cái chuẩn là yêu cầu của đất nước, thì điều đó thể hiện qua sự đòi hỏi về chất lượng nhân lực của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay

Trong xu hướng hội nhập quốc tế – thế giới, toàn cầu hoá, đặc biệt trong bối cảnh chúng ta gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) vào

tháng 11/2006, thì đánh giá chất lượng giáo dục theo các “chuẩn” của khu vực

và thế giới cần hết sức quan tâm

1.3.2.3 Về qui trình

Theo trình tự có thể chia quá trình đánh giá thành 4 giai đoạn: xây dựng hệ thống các mục tiêu, tập hợp tư liệu, tiến hành khảo sát, phân tích và tổng hợp kết quả

Đánh giá chất lượng giáo dục là một công tác có tính chuyên nghiệp và

kỹ thuật rất cao Việc tổ chức công tác đánh giá giáo dục một cách khoa học, hiệu quả hay không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đối với chất lượng đánh giá Vì vậy, việc thể chế hoá qui trình đánh giá chất lượng giáo dục là rất cần thiết 1.4 thị trường lao động và yêu cầu đối với gD & ĐT

1.4.1 Khái niệm thị trường lao động (the labor market)

Thị trường lao động là nơi diễn ra việc mua bán, trao đổi sức lao động của con người Giá cả và giá trị sức lao động được xác định theo thoả thuận

Trang 38

giữa người mua và người bán Sức lao động trong thị trường này được coi là hàng hoá sức lao động (hàng hoá đặc biệt, phân biệt với sản phẩm hàng hoá, hàng hoá công nghiệp )

Thị trường lao động hoạt động tuân thủ theo qui luật của cơ chế thị trường: qui luật cung – cầu, qui luật giá cả - giá trị, qui luật canh tranh Điều này có nghĩa là khi coi sức lao động là hàng hoá, thì năng lực lao động, giá trị lao động là căn cứ để xác định giá cả sức lao động Người có năng lực chuyên môn phù hợp với yêu cầu xã hội thì dễ dàng được tuyển dụng Người có khả năng chuyên môn nghề nghiệp cao hơn sẽ chiếm ưu thế tuyển dụng và được trả lương cao hơn Năng lực lao động có được chủ yếu do học tập trong nhà trường và tích luỹ kinh nghiệm của con người

1.4.2 Thị trường lao động nước ta hiện nay

Nền kinh tế nước ta là có sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý nhà nước theo định hướng XHCN Do đó, bên cạnh sự thay đổi về cơ cấu ngành nghề, thị trường lao

động nước ta đang hình thành và phát triển với nhiều biến động trong thời kỳ chuyển đổi cũng đòi hỏi về trình độ của nguồn lao động ngày một cao đặc biệt

là nguồn lực lao động kỹ thuật có chất lượng cao

Sự biến đổi của lực lượng lao động xã hội nước ta ngày càng nhanh chóng hơn dưới tác động mạnh mẽ của tiến bộ khoa học công nghệ, tiến bộ của xã hội và sự phát triển của quá trình phân công lực lượng lao động xã hội

Khi gia nhập WTO, nguồn vốn, công nghệ đổ vào VN sẽ tạo thêm nhiều chỗ làm mới, lực lượng lao động sẽ có nhiều cơ hội việc làm, điều kiện

làm việc tốt, thu nhập cao, nó cũng đòi hỏi kỹ năng làm việc cao hơn, đồng

thời cũng tạo ra một đội quân thất nghiệp mới (nhất là lao động chưa qua đào

tạo, kỹ năng làm việc yếu) do không thích ứng được yêu cầu thị trường lao

động Việc mở rộng thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài sẽ làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế, dẫn đến thay đổi cơ cấu việc làm và cơ cấu lao động Hiện

Trang 39

nay, thị trường lao động nước ta đang có sự dịch chuyển lớn về lao động giữa các khu vực kinh tế (lao động từ khu vực Nhà nước chuyển sang khu vực ngoài quốc doanh), giữa các địa phương (từ nông thôn chuyển sang thành thị), giữa các ngành nghề và giữa các doanh nghiệp,

Thị trường lao động VN bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó sự can thiệp của Nhà nước bằng hệ thống chính sách và pháp luật chưa đầy đủ tạo ra

những “nhiễu” trong thị trường lao động vốn đã phức tạp lại càng phức tạp

hơn Mặt khác, khi gia nhập WTO sẽ xuất hiện những vấn đề mới trong quan

hệ lao động, chẳng hạn như dịch vụ cho thuê lao động vốn đang gây tranh cãi

Do vậy, cần điều chỉnh luật pháp và chính sách cho phù hợp ễng Mai Đức Chớnh, Trưởng Ban Chớnh sỏch Kinh tế - Xó hội, Tổng LĐLĐ VN, đỏnh giỏ:

“Hệ thống chớnh sỏch và luật phỏp của VN trong lĩnh vực lao động - xó hội

đó được sửa đổi theo hướng tiếp cận tiờu chuẩn quốc tế và nguyờn tắc thị trường Tuy nhiờn, khi gia nhập WTO, chỳng ta phải tiếp tục điều chỉnh nhiều văn bản luật phỏp, nhất là về quan hệ lao động, tuyển dụng lao động, tiền lương, an sinh xó hội, phỏt triển nguồn nhõn lực cho phự hợp với những nguyờn tắc cơ bản của WTO là khụng phõn biệt đối xử, minh bạch” [22]

Những năm qua, thị trường lao động VN đã hình thành, tuy nhiên vẫn còn đang chập chững những bước đi đầu tiên – gần như hoàn toàn tự phát

1.4.3 Giáo dục đại học và nghề nghiệp với thị trường lao động

Khi chúng ta mở cửa nền kinh tế, đặc biệt khi VN gia nhập WTO, chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức trong mọi lĩnh vực, đặc biệt về vấn

đề lao động Quá trình tự do thương mại sẽ tác động đến sức cạnh tranh của các doanh nghiệp, kể cả các tổ chức giáo dục Sự cạnh tranh này xét về góc độ người lao động chính là sự cạnh tranh giữa chất lượng lao động thể hiện bởi:

kỹ năng làm việc, tay nghề, tác phong công nghiệp, chất lượng của công việc

và kỷ luật lao động

Trang 40

Sự tác động của nền kinh tế – xã hội, đặc biệt là của thị trường lao động

đòi hỏi giáo dục đại học và nghề nghiệp phải nâng cao chất lượng giáo dục

đào tạo Các trường phải dạy cho các em các kỹ năng nghề nghiệp, nhưng phải

là các kỹ năng đáp ứng được yêu cầu các vị trí công việc của các cơ sở sử

dụng lao động tức là đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động Như vậy, việc khảo sát nhu cầu trong đào tạo của các doanh nghiệp, ngành công nghiệp cũng như đổi mới nội dung, CTĐT theo định hướng thị trường lao động là một trong các nhiệm vụ đồng thời cũng là giải pháp để phát triển các trường đại học theo hướng nghề nghiệp và ứng dụng Việc nghiên cứu, đánh giá các đặc trưng và những biến động của thị trường lao động sẽ là rất cần thiết cho công tác kế hoạch hoá đào tạo của toàn hệ thống giáo dục - đào tạo cũng như từng cơ sở đào tạo nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực của thị trường lao động

Trong một vài năm trở lại đây, hệ thống giáo dục đại học và nghề nghiệp đã có những bước chuyển đổi bước đầu để thích nghi với cơ chế thị trường (mở rộng hệ ngắn hạn, đào tạo theo địa chỉ, ) song về cơ bản chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, đào tạo chưa gắn với việc làm Quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo thích ứng với thị trường lao động trong những năm qua gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong đó nổi bật lên một vấn đề là ta chưa hình thành và phát triển một hệ thống thông tin về thị trường lao động một cách đầy đủ và đồng bộ, được cập nhật theo thời gian với các dự báo, các chỉ số cần thiết

Tóm lại, giáo dục đại học và nghề nghiệp nước ta hiện đang chịu tác

động mạnh mẽ bởi qui luật của cơ chế thị trường (thị trường lao động, thị trường đào tạo, ), có những chuyển biến tốt nhưng cho đến nay giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp chưa đáp ứng tốt nhu cầu của nền kinh tế và thị trường lao động Chúng ta chưa quan tâm đến nhu cầu nhân lực của thị trường lao động cả trong và ngoài nước, đồng thời chưa thiết lập hệ thống điều tra

Ngày đăng: 18/07/2017, 20:53

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w