Với mỗi cá nhân, GDHN nhằm định hướng, giáo dục cho mỗi HS có ý thức và động cơ chọn nghề đúng đắn để có thể chọn được nghề phù hợp với năng lực, sở trường, hứng thú nghề nghiệp của cá n
Trang 1- BGH, CBGV và HS cỏc trường THPT Phỳc Yờn đó hết sức giỳp đỡ và cộng tỏc
- Lónh đạo trường trung cấp nghề, TT GDHN-DN và lónh đạo cỏc cơ quan, xớ nghiệp trong địa bàn đó tạo điệu kiện giỳp đỡ và cung cấp thụng tin quan trọng
- Cỏc bạn học viờn, cỏc nhà doanh nghiệp, cỏc tổ chức đoàn thể, hội cha mẹ học sinh đó giỳp đỡ tụi hoàn thành luận văn này
Vỡ kinh nghiệm cũn ớt, chắc chắn khụng trỏnh khỏi thiếu sút, tỏc giả rất vui lũng nhận được sự đúng gúp ý kiến của cỏc độc giả
Xin chõn thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 thỏng 12 năm 2013
Tỏc giả
Lờ Quang Hũa
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
Lấ QUANG HềA
MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN Lí NHẰM TĂNG CƯỜNG CễNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH
TRƯỜNG THPT PHÚC YấN, VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC Sĩ SƯ PHẠM KỸ THUẬT
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
Chuyên sâu: Sư phạm kỹ thuật công nghệ thông tin
gs tskh nguyễn minh đường
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan, những gì được viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu
và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể
Luận văn này đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo vệ luận văn thạc sỹ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào
Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về những điều cam đoan ở trên
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2013
Tác giả
Lê Quang Hòa
Trang 3BẢNG CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 4MỤC LỤC
Trang
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP VÀ
QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
5
1.3.1 Chủ trương của Đảng và nhà nước về hướng nghiệp cho HSPT 12
1.3.5 Các con đường để giáo dục hướng nghieepi cho HSPT 19 1.4 Quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp cho HSPT 21 1.4.1 Quản lý việc thực hiện mục tiêu, chương trình, kế hoạch GDHN 21 1.4.2 Quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng cho các hoạt động
1.4.3 Quản lý việc tổ chức thực hiện các hoạt động GDHN 27
1.4.4 Quản lý mối liên kết giữa trường THPT với trung tâm hướng
nghiệp, trung tâm dạy nghề và các doanh nghiệp trên địa bàn trong công
Trang 5QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG
THPT PHÚC YÊN, VĨNH PHÚC
2.1 Một số nét về tình hình kinh tế - xã hội Thị xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc 31
2.2 Thực trạng giáo dục ở trườngTHPT Phúc Yên 32
2.3 Thực trạng chất lượng công tác GDHN ở trường THPT Phúc Yên 33 2.3.1 Thực trạng chất lượng hoạt động hỗ trợ định hướng nghề
2.4.3 Quản lý việc tổ chức thực hiện các hoạt động GDHN 46
2.4.5.Quản lý mối liên kết giữa các trường THPT với trung tâm hướng
nghiệp, các cơ sở đào tạo nghề và các doanh nghiệp trên địa bàn trong
công tác GDHN cho HSPT
49
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG CÔNG TÁC GDHN Ở TRƯỜNG THPT PHÚC YÊN, VĨNH
PHÚC
52
3.2 Các giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng HĐ GDHN 53 3.2.1 Giải pháp 1: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao 53
Trang 6nhận thức về GDHN cho các đối tượng có liên quan
3.2.2 Giải pháp 2: Bồi dưỡng năng lực và nghiệp vụ sư phạm về GDHN
tâm hướng nghiệp, các cơ sở đào tạo nghề và các doanh nghiệp trên địa
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các nội dung GDHN 19 Bảng 1.2 Năng lực cần có của GV hướng nghiệp 24
Bảng 2.4 Kết quả đánh giá chất lượng công tác hỗ trợ định hướng nghề
nghiệp và tư vấn nghề cấp THPT thị xã Phúc Yên năm 2012 34
Bảng 2.5 Về việc chọn nghề và tư vấn chọn nghề 35 Bảng 2.6 Đánh giá hiệu quả công tác tư vấn chọn nghề cho HS 37 Bảng 2.7 Kết quả thi ĐH, khối thi và phân ban 38 Bảng 2.8 Dự định về phân luồng và chọn trường của HS THPT 40 Bảng 2.9 Sự đánh giá của GV và HS về sự hiểu biết của HS đối với
Bảng 2.11 Đánh giá về QL các hình thức GDHN trong nhà trường 46 Bảng 2.12 Đánh giá về sự phối hợp các lực lượng xã hội trong GDHN 49
Sơ đồ 3.2 Phân loại nghề theo đối tượng lao động 58
Sơ đồ 3.3 Phân loại các ngành nghề theo các loại hình 58
Sơ đồ 3.5 QL việc tăng cường CSVC phục vụ cho GDHN 63 Bảng 3.6 Kết quả khảo sát về tính cần thiết và tính khả thi của các giải
Biểu đồ 3.7 Đồ thị biểu diễn tính cần thiết và tính khả thi của các giải
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Con người ta đến tuổi trưởng thành ai cũng phải chọn một nghề cho mình Chọn nghề chính là chọn số phận, chọn cuộc đời Cuộc đời mỗi con người có ý nghĩa hay không là ở chỗ: bằng lao động của chính mình đem lại lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội Sự lựa chọn nghề phù hợp sẽ giúp con người phát triển cao
độ khả năng của mình Thế nhưng thế giới nghề mênh mông, mỗi HS lại có những
tố chất, năng lực cũng như hoàn cảnh gia đình và xã hội khác nhau, làm thế nào chọn được nghề phù hợp để phát huy hết được năng lực của mình để cống hiến được nhiều cho xã hội và để bản thân có một cuộc sống ấm no, hạnh phúc là không
dễ
Hoạt động GDHN cho học sinh phổ thông có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi
cá nhân cũng như đối với toàn xã hội
Với mỗi cá nhân, GDHN nhằm định hướng, giáo dục cho mỗi HS có ý thức và động cơ chọn nghề đúng đắn để có thể chọn được nghề phù hợp với năng lực, sở trường, hứng thú nghề nghiệp của cá nhân đồng thời phù hợp với nhu cầu của xã hội để phát huy được năng lực của mình và cống hiến được nhiều cho xã hội
Với toàn xã hội, GDHN nhằm mục đích phân luồng HSPT, điều chỉnh nguồn nhân lực quốc gia để chuyển đổi cơ cấu lao động trong tiến trình CNH, HĐH đất nước phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
Đảng và nhà nước ta rất quan tâm đến giáo dục hướng nghiệp Điều 27
chương III Luật giáo dục 2005 khẳng định về mục tiêu của giáo dục THPT “Giáo
dục THPT nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và
HN, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học ĐH, CĐ, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”
Trang 9Trong những năm qua, hoạt động GDHN đã được đưa vào chương trình chính khóa của GDPT Trường THPT Phúc Yên đang thực hiện công tác giáo dục hướng nghiệp cho HS phổ thông nhằm giúp các em học sinh có được sự lựa chọn nghề một cách đúng đắn và khoa học Tuy nhiên, cho đến nay, công tác hướng nghiệp chưa thực sự phát huy một cách có hiệu quả Thực tế cho thấy HS ở cuối cấp THPT chưa có sự chuẩn bị chu đáo trong việc chọn hướng đi cho mình Kết quả khảo sát cho thấy có tới 70% HS tốt nghiệp THPT bước vào đời không được hướng nghiệp đầy đủ Bên cạnh đó, do áp lực tâm lý từ phía gia đình là đều muốn con em mình vào ĐH cùng với xu hướng của bạn bè và quan niệm của xã hội đã dẫn đến HS chọn sai ngành nghề, đổ xô vào học những ngành nghề mà xã hội không thiếu nên khi tốt nghiệp ra trường không thể xin được việc làm hoặc phải chấp nhận làm những việc không đúng chuyên môn Điều đó gây hụt hẫng về tâm lý và gây lãng phí lớn cho nhà nước cũng như cho xã hội
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, nhưng nguyên nhân chủ yếu là
do quản lý công tác GDHN của trường còn nhiều yếu kém Để nâng cao chất lượng
và hiệu quả của công tác GDHN trong nhà trường phổ thông, cần có những nghiên cứu để đổi mới quản lý công tác GHHN của trường
Với những lý do trên nên, tác giả chọn nghiên cứu vấn đề “Một số giải pháp quản lý nhằm tăng cường công tác hướng nghiệp cho học sinh trường THPT Phúc Yên, Vĩnh Phúc”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất những giải pháp QL nhằm nâng cao chất lượng GDHN, từ đó góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục tại trường THPT Phúc Yên, Vĩnh Phúc
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: QL công tác GDHN của trường THPT
- Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp QL nhằm nâng cao chất lượng GDHN ở trường THPT Phúc Yên, Vĩnh Phúc
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay giáo dục hướng nghiệp cho HS ở trường THPT Phúc Yên, Vĩnh
Trang 10Phúc chưa đạt được yêu cầu mong muốn Nếu áp dụng đồng bộ một số giải pháp
QL công tác GDHN mang tính khoa học, khả thi thì có thể nâng cao chất lượng GDHN ở trường THPT Phúc Yên, Vĩnh Phúc
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan cơ sở lý luận về GDHN và QL công tác GDHN cho HS ở trường THPT
- Đánh giá thực trạng về GDHN và QL công tác GDHN ở trường THPT Phúc Yên, Vĩnh Phúc
- Đề xuất và khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của một số giải pháp QL nhằm nâng cao chất lượng GDHN ở trường THPT Phúc Yên, Vĩnh Phúc
7 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này tác giả sử dụng các nhóm phương pháp:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp cụ thể hoá lý thuyết, phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháp chuyên gia, phương pháp tổng kết kinh nghiệm
7.3 Phương pháp hỗ trợ: sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu
8 Những đóng góp của luận văn:
- Về lý luận: Luận văn đã góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận của GDHN và quản lý công tác GDHN trong trường THPT
- Về thực tiễn: Luận văn đã đánh giá được thực trạng công tác GDHN và QL công tác GDHN ở trường THPT Phúc Yên, Vĩnh Phúc
- Đề xuất và khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của một số giải pháp QL
Trang 11nhằm nâng cao chất lượng GDHN cho học sinh trường THPT Phúc Yên, Vĩnh Phúc
9 Cấu trúc nội dung của luận văn:
Chương 1: Cơ sở lý luận của GDHN và quản lý công tác GDHN trong trường THPT
Chương 2: Thực trạng về GDHN và QL công tác GDHN ở trường THPT Phúc Yên, Vĩnh Phúc
Chương 3: Một số giải pháp QL nhằm nâng cao chất lượng GDHN ở trường THPT Phúc Yên, Vĩnh Phúc
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ CÔNG
TÁC GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Ở nước ngoài
HN đã có một lịch sử ra đời và phát triển khoảng 100 năm trên thế giới Hệ thống HN học đường và nghề nghiệp đã có những mức phát triển rất cao ở các nước như Pháp, Bỉ, Thuỵ Sỹ, Đức, Hoa kỳ, Australia, Liên Xô, v.v
Vào giữa thế kỷ 19 (1848), ở Pháp xuất hiện cuốn sách "Hướng dẫn chọn
nghề", với nội dung bàn đến vấn đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát
triển công nghiệp và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp nhằm sử dụng có hiệu quả năng lực lao động của thế hệ trẻ Các nhà tâm lý học ở Pháp là những người sáng lập ra trào lưu định hướng và Viện Quốc gia Định hướng nghề (INOP) thành lập năm 1928 do ba nhà khoa học thay nhau lãnh đạo: J.Fontegne, H Labbé và H Périon Năm 1939 viện này đổi tên là Viện Quốc gia nghiên cứu về Lao động và HN (INETOP) Các bài dạy của Viện do các giáo sư tầm cỡ trong ngành đảm nhiệm, trong đó GS.JM Lahy giảng dạy về HN, chọn nghề, GS H Luc giảng dạy về triết lý HN HN được thể chế hoá bằng sắc lệnh năm
1938 liên quan tới HS rời ghế nhà trường lúc 14 tuổi
Tại Bỉ, O Decroly là người sáng lập ra Trung tâm HN tại Bruxelles năm
1939
Ở Thuỵ Sỹ, Claparede đã phát triển công tác HN và chủ trì hội nghị quốc tế đầu tiên về HN tại Genevé năm 1920, J.M Lahy và J Fontegne - đại diện nước Pháp tham dự hội nghị này Năm 1922, Claparede đăng bài nghiên cứu nhan đề
"HN - vấn đề và các phương pháp" theo đơn đặt hàng của Tổ chức Lao động Quốc
tế
Karl Marx đã khẳng định việc chọn nghề là một việc rất quan trọng trong
Trang 13cuộc sống con người Do vậy, việc chọn nghề cần suy nghĩ kỹ và là trách nhiệm của
thanh niên khi bước vào đời “Nếu ta chọn nghề trong đó ta có thể làm việc được
nhiều hơn cho nhân loại thì ta sẽ không còng lưng dưới gánh nặng của nó, bởi vì đó
là sự hy sinh cho mọi người, khi đó hạnh phúc của chúng ta sẽ thuộc về hàng triệu người, những việc làm của chúng ta sẽ sống một cuộc sống âm thầm nhưng mãi có hiệu quả và trên thi hài của chúng ta sẽ giữ những giọt nước mắt nóng bỏng của những con người cao quí”
Năm 1918-1919 V.I Lenin đã yêu cầu cần cho HS phổ thông làm quen với khoa học kỹ thuật, với các cơ sở sản xuất hiện đại Luận điểm của V.I Lenin đã
được N.K Crupxkaia làm sáng tỏ và cụ thể hóa vào thực tiễn trong bài viết “Tự do
chọn nghề” (năm 1929) Theo bà, thông qua HN, mỗi HS đều phải nhận thức sâu
sắc hướng phát triển kinh tế của đất nước, những nhu cầu của nền sản xuất cần được thoả mãn, những nhiệm vụ của thanh, thiếu niên phải đáp ứng được yêu cầu mà xã hội đề ra trước các em trong lĩnh vực lao động sản xuất Mặt khác, công tác HN lại phải giúp cho các em phát triển được hứng thú và năng lực nghề nghiệp, giáo dục cho các em thái độ lao động đúng đắn, động cơ chọn nghề trong sáng Từ đó, thanh thiếu niên có thái độ tự giác trong việc chọn nghề
1.1.2 Ở trong nước
Nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp THPT dựa trên những nguyên
lý chung về quản lý giáo dục và quản lý giáo dục THPT Những vấn đề chung về quản lý giáo dục và quản lý giáo dục THPT được đề cập trong công trình nghiên cứu của các tác giả như: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc [8];[9], Đặng Quốc Bảo [4], Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải [16], Bùi Văn Quân [30]…
Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh có vai trò nền tảng và định hướng phát triển nghề nghiệp tương lai, chuẩn bị tâm thế và năng lực cụ thể cho việc nắm bắt thế giới nghề nghiệp trên cơ sở hiểu biết về các yêu cầu xã hội cũng như hiểu biết năng lực, sở thích của bản thân trong quá trình học tập và lựa chọn nghề nghiệp tương lai cho mình Vì lẽ đó, giáo dục hướng nghiệp được quan tâm nghiên cứu một cách có hệ thống từ những năm 70 của thế kỷ XX Những nghiên cứu về giáo dục nghề nghiệp được triển khai rất đa dạng
Trang 14Tác giả Phạm Tất Dong [10];[11];[12], Đặng Danh Ánh [1];[2];[3], Đoàn Chi [7], Đặng Quốc Bảo [4], nghiên cứu về hứng thú, khuynh hướng nghề nghiệp của học sinh và xây dựng chương trình hướng nghiệp chính khóa cho học sinh Phổ thông Tác giả Đặng Danh Ánh, Nguyễn Viết Sự [32];[33] đã nghiên cứu về mô tả nghề để làm cơ sở cho việc tư vấn nghề cho học sinh (giai đoạn từ 1982 đến 1986), Nguyễn Minh Đường đã nghiên cứu về cơ sở khoa học của hướng nghiệp, đã nêu lên mối quan hệ giữa thế giới con người, thế giới nghề nghiệp và thị trường lao động [14], Nguyễn Văn Hộ với các công trình nghiên cứu như: “ Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam (1988) [17], “Cơ sở sư phạm của công tác hướng nghiệp trong trường Phổ thông” [18] đã khái quát các luận chứng lý luận và thực tiễn cho hệ thống hướng nghiệp Phổ thông trong điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của đất nước thời kỳ hội nhập và đề xuất một số hình thức phối hợp giữa nhà trường Phổ thông với các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất trong việc hướng nghiệp, dạy nghề cho học sinh Phổ thông Những khía cạnh khác của giáo dục hướng nghiệp cũng được đề cập trong một số công trình nghiên cứu sau: “Một số vấn đề về giáo dục hướng nghiệp cho nhà trường Phổ thông” của Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền, Bùi Văn Quân [23] “Định hướng giáo dục hướng nghiệp trong trường Phổ thông Trung học” của Phạm Tất Dong [30]; “Mối quan hệ giữa hệ thống giáo dục nghề nghiệp với thị trường lao động”; “Về giáo dục kỹ thuật
và hướng nghiệp trong giáo dục Phổ thông ở nước ta trong thời gian tới” của Nguyễn Viết Sự [32];[33]
Nguồn nhân lực vừa thiếu, vừa yếu, nguyên nhân chính là công tác giáo dục hướng nghiệp chưa thật sự đáp ứng yêu cầu Để tồn tại và phát triển, nước ta phải tiến hành CNH, HĐH định hướng xã hội chủ nghĩa Sự nghiệp CNH,HĐH đặt ra hàng loạt yêu cầu đối với Giáo dục - Đào tạo nói chung, hướng nghiệp cho học sinh Phổ thông nói riêng Vì thế, trước hết phải thấy rõ đặc thù của sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta, những đặc thù này sẽ quy định phương hướng phát triển công tác hướng nghiệp Theo đó, hướng nghiệp sẽ góp phần phát triển nguồn nhân lực cho
sự nghiệp CNH, HĐH Nghiên cứu về vấn đề này, có các nội dung nghiên cứu chủ yếu như: đổi mới mạnh mẽ giáo dục nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực
Trang 15(Phạm Minh Hạc); thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên (Nguyễn Hữu Dũng); bối cảnh của việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực và công tác hướng nghiệp (Phạm Tất Dong); giáo dục kỹ thuật – nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực (Trần Khánh Đức); giáo dục Phổ thông và hướng nghiệp - nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào CNH, HĐH đất nước (Chương trình Khoa học Công nghệ cấp Nhà nước KX-05, Đề tài KX- 05—09).v.v
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Tuỳ theo cách tiếp cận mà ta có thể hiểu QL theo nhiều cách khác nhau:
- "QL là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định." [28]
- Paul Hersey và Ken Blanc Hard “QL là quá trình cùng làm việc thông qua
các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích tổ chức” [27]
- Tác giả Đặng Quốc Bảo quan niệm: “QL là quá trình tác động gây ảnh
hưởng của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu chung”.[4]
- Tác giả Trần Quốc Thành xác định: “QL là sự tác động có ý thức của chủ thể QL để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và HĐ của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhà QL phù hợp với qui luật của khách quan” [34]
Nhìn chung ta có thể hiểu: QL là sự tác động hợp qui luật của chủ thể QL
đến khách thể QL để điều khiển, hướng dẫn các hành vi, HĐ của họ nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
1.2.1.2 Chức năng của QL:
Quản lý có 4 chức năng là kế hoạch hóa, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá
a) Kế hoạch hóa: Là HĐ dựa trên các thông tin về thực trạng của tổ chức như
nhân lực, tài lực, vật lực, các chỉ thị từ cấp trên và các điều kiện khác để đề ra mục tiêu, đề xuất giải pháp, xây dựng kế hoạch trong đó có dự kiến phân bố các nguồn lực, tiến độ thực hiện để đạt mục tiêu đề ra
Trang 16b) Tổ chức thực hiện: Là việc điều phối, bố trí các nguồn lực: nhân lực, tài
lực và vật lực và triển khai các hoạt động để thực hiện kế hoạch đã đề ra
c) Chỉ đạo: Là việc hướng dẫn các hoạt động, liên kết, liên hệ, động viên,
kích thích, giám sát các bộ phận, cá nhân trong tiến trình thực hiện kế hoạch, uốn nắn kịp thời các sai lệch để việc thực hiện kế hoạch được đúng hướng, đúng tiến độ
và đạt mục tiêu đề ra
d) Kiểm tra, đánh giá: Là theo dõi, giám sát, đánh giá các HĐ bằng nhiều
cách thức (trực tiếp hoặc gián tiếp, thường xuyên hoặc định kỳ ) nhằm so sánh kết quả với mục tiêu để nhận biết về chất lượng và hiệu quả của các HĐ, tìm ra những sai lệch để kịp thời đưa ra những quyết định điều chỉnh
Đánh giá kết quả cuối cùng so với mục tiêu đề ra
Các chức năng nêu trên luôn được chủ thể QL liên tiếp thực hiện, đan xen vào nhau, phối hợp với nhau và bổ sung cho nhau tạo thành một quá trình QL Để thực hiện các chức năng QL thì người QL phải có thông tin Vì thế trong quá trình
QL thì thông tin đóng một vai trò rất quan trọng, nó tạo sự liên kết giữa chủ thể QL
và khách thể QL Thông tin là bước khởi đầu vì thiếu thông tin không thể xây dựng
kế hoạch Một mặt khác, thông tin cũng rất cần thiết trong công tác tổ chức cũng như chỉ đạo thực hiện các hoạt động, đặc biệt tong khâu đánh giá, rất caanfcos thông tin đầy đủ và chính xác mwosi có thể đánh giá đúng đắn được
1.2.1.3.Quản lý giáo dục
QLGD là một loại hình QL xã hội Đã có một số định nghĩa tiêu biểu về
QLGD như sau:
- Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành,
phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Cho nên, QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân” [3]
Còn theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “QLGD là hệ thống những tác
động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể QL (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện
Trang 17được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất".[29]
Do đó QLGD là thực hiện các chức năng của quá trình QL trong công tác
GD, công tác QLGD còn được hiểu theo khía cạnh nội dung QL, là QL các yếu tố cấu thành quá trình giáo dục, bao gồm QL các yếu tố: mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, tổ chức giáo dục, người dạy, người học, trường sở, môi trường giáo dục và các lực lượng giáo dục
Mục tiêu QLGD là chất lượng giáo dục của người học với các mặt: chính trị
tư tưởng, đạo đức, văn hoá, khoa học kỹ thuật, phát triển trí tuệ, thể chất, hiểu biết
và thích ứng nghề nghiệp theo yêu cầu của xã hội
Như vậy: QLGD là hệ thống những tác động có hướng đích, hợp qui luật của
chủ thể QL đến khách thể và đối tượng quản lý nhằm làm cho hệ giáo dục được QL vận hành theo đúng đường lối quan điểm của Đảng, thực hiện các mục tiêu giáo
dục đã đề ra bằng các hình thức giáo dục phù hợp
1.2.2 Hướng nghiệp
1.2.2.1 Khái niệm
Tuỳ theo cách tiếp cận mà ta có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm HN:
a, Xét về phương diện kinh tế học: HN được hiểu là hệ thống những giải
pháp dẫn dắt tổ chức thanh, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp nhằm sử dụng hợp lý tiềm năng lao động trẻ tuổi của đất nước HN góp phần tích cực vào quá trình phấn đấu nâng cao năng suất lao động xã hội
b, Xét về phương diện tâm lý học: HN được coi như một quá trình chuẩn bị
cho thế hệ trẻ sự sẵn sàng tâm lý đi vào lao động nghề nghiệp Sự sẵn sàng tâm lý
đó chính là tâm thế lao động - một trạng thái tâm lý tích cực trước HĐ lao động
c, Xét về phương diện giáo dục học: HN như một hệ thống tác động giúp thế
hệ trẻ có cơ sở khoa học trong việc chọn nghề, hệ thống điều chỉnh sự lựa chọn nghề của HS cho phù hợp với những yêu cầu của sự phân công lao động xã hội, có tính đến hứng thú và năng lực của từng cá nhân Đối với trường PT thì HN là một
hệ thống giải pháp tác động của gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó nhà trường
Trang 18đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời lại phù hợp hứng thú năng lực cá nhân
1.2.2.2 Vai trò của HN: HN cho HSPT là bước khởi đầu quan trọng trong
quá trình phát triển nguồn nhân lực Trên bình diện cá nhân HN giúp HS chọn nghề phù hợp với nhu cầu của xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với năng lực, sở trường và điều kiện tâm lý, sinh lý cá nhân để họ có thể phát triển tới đỉnh cao trong nghề nghiệp, cống hiến thật nhiều cho xã hội cũng như tạo lập được cuộc sống tốt đẹp cho bản thân Trên bình diện xã hội, HN nhằm góp phần phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn nhân lực, vốn quí của đất nước để phục vụ cho sự phát triển kinh tế- xã hội, mang lại phồn vinh cho đất nước
Như vậy HN là quá trình chọn nghề, chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản
xuất xã hội có định hướng và hiệu quả hơn HN vừa là HĐ dạy của thầy vừa là HĐ
học của trò, có nghĩa là trong công tác HN, GV là người tổ chức, người hướng dẫn còn HS là người chủ động tham gia vào HĐ để tiếp cận với hệ thống nghề nghiệp Kết quả cuối cùng của quá trình HN là sự tự quyết định của HS trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai
1.2.3 Giáo dục hướng nghiệp
Theo tài liệu HN của Australia thì “GDHN liên quan đến sự phát triển kiến
thức, kỹ năng và thái độ thông qua một chương trình hoạch định sẵn và sẽ giúp HS
có quyết định về sự lựa chọn nghề trong trường học và sau khi tốt nghiệp, giúp HS làm việc có hiệu quả hơn”
GDHN là hệ thống các giải pháp giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tâm lý, tri thức, kỹ năng để họ có thể sẵn sàng đi vào ngành nghề, lao động sản xuất và cuộc sống GDHN góp phần phát huy năng lực, sở trường của từng người, đồng thời góp phần điều chỉnh nguyện vọng của cá
nhân sao cho phù hợp với nhu cầu phân công lao động trong xã hội Có thể nói
"GDHN là hướng dẫn cho HS ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường sớm có ý thức
về một nghề mà sau này các em sẽ chọn” [25]
GDHN cho HS THPT là công việc của tập thể sư phạm nhà trường nhằm
Trang 19giúp HS lựa chọn nghề một cách có ý thức trên cơ sở hiểu biết về sự phát triển kinh tế-văn hoá-xã hội, về các HĐ, yêu cầu của nghề nghiệp, những đòi hỏi về phẩm chất đạo đức, năng lực của người lao động đối với nghề nghiệp, những điều kiện phát triển của nghề nghiệp GDHN cho HS THPT không những chỉ tạo ra cơ hội cho việc tuyển chọn lao động mà còn góp phần vào việc phân công, sử dụng hợp lý HS tốt nghiệp ra trường Đặc biệt đối với các nước nghèo, nền kinh tế còn thấp, mạng lưới ngành nghề chưa mở rộng, nhất là đối với các nước còn thừa thầy, thiếu thợ như nước ta hiện nay Từ đó ta thấy rằng thực chất GDHN trong trường PT là nhằm thực hiện nhiệm vụ hình thành nhân cách nghề nghiệp cho HS, trên cơ sở điều chỉnh động cơ hứng thú nghề nghiệp, chuẩn bị cho HS có ý thức chọn nghề đảm bảo năng suất và hiệu quả lao động cao mang lại nhiều lợi ích cho cá nhân và xã hội Từ đó tư vấn giúp HS chọn nghề thích hợp
1.3 Cơ sở lý luận của giáo dục hướng nghiệp
1.3.1 Chủ trương của Đảng và nhà nước về hướng nghiệp cho HSPT
Công tác GDHN trong trường phổ thông đã và đang được Đảng và nhà nước
ta quan tâm
- Ngày 3/6/1981 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 126/CP “Về công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh tốt nghiệp ra trường”
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng CSVN đã khẳng định:
“Thực hiện phương châm học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương”
- Luật Giáo dục 1998 đã nêu rõ: “Giáo dục THCS nhằm giúp học sinh có những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp”
- Chiến lược phát triển Giáo dục 2001-2010 cũng đã nêu rõ: “THCS cung cấp cho học sinh những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để thực hiện phân luồng sau THCS THPT giúp học sinh có những hiểu biết về kỹ thuật , chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân luồng sau THPT”
Trang 20- Ngày 23 tháng 7 năm 2003, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ra chỉ thị số 33/2003/CT-BGD&ĐT về tăng cường GDHN cho HSPT Chỉ thị này ban hành trong bối cảnh toàn ngành giáo dục đang triển khai nhiệm vụ đổi mới chương trình GDPT theo Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết 40 của Quốc hội khoá
X và chỉ thị số 14 của Thủ tướng Chính phủ Với ý nghĩa quan trọng đó, Chỉ thị 33/2003/CT-BGD&ĐT đã định hướng cho GDHN không chỉ vài năm mà là một giai đoạn nhiều năm Chỉ thị đã khẳng định GDHN là một bộ phận hữu cơ của nội dung giáo dục toàn diện đã được xác định trong Luật giáo dục Chỉ thị đã xác định ý nghĩa, mục tiêu, nội dung của GDHN, đồng thời còn chỉ ra nhiệm vụ cụ thể của các cấp QL, các cơ sở giáo dục trong việc đẩy mạnh GDHN thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, chuẩn bị cho HS học lên hoặc đi vào đời sống lao động, phục vụ cho
sự phát triển đất nước
- Điều 27 chương III Luật giáo dục 2005 khẳng định về mục tiêu của giáo dục THPT “Giáo dục THPT nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn PT và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và HN, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học ĐH, CĐ, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”
Những văn bản pháp lý trên đây chứng tỏ Đảng và nhà nước ta rất quan tâm đến công tác hướng nghiệp cho HSPT
1.3.2 Cơ sở khoa học của hướng nghiệp
- Thế giới con người
Hàng triệu HS, không ai giống ai về đặc điểm tâm sinh lý, năng lực, sở trường, hứng thú nghề nghiệp cũng hoàn cảnh gia đình và xã hội
Thế giới con người rất đa dạng Có sự khác biệt đáng kể giữa mỗi con người trên các mặt tâm - sinh lý, sở thích nguyện vọng, sở trường và hoàn cảnh sống Tuy nhiên, nhà tâm lý học Pavlov đã căn cứ vào khí chất mà chia thế giới con người thành 4 loại:
* Loại Flex: có ưu điểm là chín chắn, điềm đạm, kín đáo, cẩn thận, nhưng có
nhược điểm là chậm chạp, trầm lặng, ít cởi mở, kém nhạy bén và kém năng động
Trang 21* Loại xăng ganh: có những ưu điểm là nhanh nhẹn, hoạt bát, sôi nổi, nhiệt
tình, hiếu động Tuy nhiên, có nhược điểm là thiếu chín chắn, bồng bột, thiếu sâu sắc
* Loại Cô lê: có những ưu điểm là kiên quyết, sôi nổi, thẳng thắn Mặt khác,
lại có các nhược điểm là thiếu chín chắn, hay bốc đồng và nóng nảy, cáu gắt
*Loại Mê lan cô-li: có đặc điểm là giàu tưởng tượng, hoà nhã kín đáo,
nhưng hay trầm tư, uỷ mị, bay bổng, xa thực tế
Trong thực tế, có những người không hoàn toàn giống một loại nào kể trên,
mà có thể nằm trung gian giữa các loại Do vậy, sự phân loại trên đây cũng chỉ là tương đối Tuy nhiên sự phân loại này cũng rất quan trọng cho công tác hướng nghiệp
Rõ ràng là với một bức tranh rất đa dạng của thế giới nghề nghiệp và của thế giới con người như trên, không phải ai muốn chọn nghề gì cũng được, mà muốn
phát triển được trong nghề nghiệp, cần hướng nghiệp cho học sinh chọn nghề có những yêu cầu phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý hoàn cảnh của bản thân mình, đồng thời phù hợp với nhu cầu của xã hội, của thị trường lao động Đó là cơ sở
khoa học của hướng nghiệp
- Thế giới nghề nghiệp
Trong xã hội có hàng ngàn nghề mà người lao động có thể hành nghề để kiếm sống Tuy nhiên với góc độ hướng nghiệp, các nhà tâm lý học đã căn cứ vào đối tượng lao động của nghề và phân chia thế giới nghề nghiệp thành 5 loại và mỗi loại yêu cầu người lao động phải có những đặc điểm tâm sinh lý phù hợp
* Loại Người - Người là loại đối tượng hành nghề của người lao động cũng
là người như nghề y, nghề giáo v.v Với loại nghề này đòi hỏi người lao động phải
có lòng nhân đạo, bác ái, biết sống vì mọi người Ngoài ra còn phải nhạy cảm và có lòng kiên nhẫn đồng thời phải có khả năng giao tiếp trong mối quan hệ với đối tượng lao động của mình
* Loại Người - Nghệ thuật như nghề nhạc, hoạ, điêu khắc v.v
Trang 22Với loại nghề này, người lao động phải có óc thẩm mĩ, có cảm nhận tinh tế, tinh mắt, khéo tay, cần cù nhẫn nại, có khả năng phân tích, thể hiện và điều quan trọng là có tính sáng tạo
* Loại Người - Tự nhiên như nghề trồng trọt, chăn nuôi v.v
Loại nghề này đòi hỏi người lao động phải yêu thiên nhiên, có cảm nhận tinh
tế, nhạy bén trước sự biến đổi hàng ngày của tự nhiên
* Loại Người - Kỹ thuật như nghề điện, nghề cơ khí v.v
Loại nghề này đòi hỏi người lao động phải có tư duy kỹ thuật, có tác phong công nghiệp, tính nhạy cảm của các giác quan, hoạt bát, nhanh nhẹn, thao tác chuẩn xác
* Loại Người - Tín hiệu như nghề kế toán, tin học, mật mã, bưu chính viễn
- Thị trường lao động
Trong từng giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đặc biệt là trong tiến trình CNH, HĐH để đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nhiệp hiện đại, chúng ta đang phải cấu trúc lại nền kinh tế, và do đó, một tất yếu dẫn đến việc chuyển dịch cơ cấu lao động Bên cạnh đó, dưới tác động của KH-CN, nhiều nghề mới xuất hiện, nhiều nghề cũ mất đi Nhu cầu nhân lực nói chung và thị trường lao động luôn biến đổi không ngừng trong phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương
Bởi vậy, nhiệm vụ quan trọng của hướng nghiệp là :
Trang 23- Giúp học sinh hiểu được “mình là ai”?
Xác định được những đặc điểm tâm sinh lý, năng lực, sở trường, nguyện vọng, hoàn cảnh sống của cá nhân và gia đình v.v Đây là cơ sở quan trọng để học sinh không mơ hồ, viển vông, cảm tính trong việc chọn nghề
- Giúp học sinh tìm hiểu về thế giới nghề nghiệp
* Danh mục các nghề của địa phương, của cả nước;
* Đặc điểm của các nghề Mỗi nghề được đặc trưng bởi các yếu tố: đối tượng lao động, công cụ lao động, quy trình lao động, sản phẩm lao động và môi trường lao động
* Những yêu cầu của nghề đối với người lao động, trong đó có cáccchir định
và chống chỉ định của nghề
- Giúp học sinh tìm hiểu về nhu cầu của thị trường lao động, đặc biệt là
nhu cầu lao động các ngành nghề của địa phương
- Giúp học sinh tìm hiểu các cơ sở đào tạo ở địa phương và của cả nước
Biết được các cơ sở đào tạo ở địa phương và của cả nước, ngành nghề và trình độ
đào tạo của từng trường, các em có thể chọn được nơi học phù hợp
Trang 24kinh doanh, tổ chức gặp mặt với các nhà sản xuất giỏi, các công nhân lành nghề v.v
Như vậy, hướng nghiệp là một công việc hết sức quan trọng, nhưng cũng rất phức tạp, khó khăn và là một quá trình lâu dài đòi hỏi người làm công tác hướng nghiệp phải có hiểu biết về công tác này và phải có lòng kiên trì, lòng yêu học sinh thì mới đạt kết quả tốt đẹp
1.3.3 Mục đích của hướng nghiệp
Trên bình diện cá nhân: Hướng nghiệp nhằm tạo định hướng và giáo dục để
mỗi HS đều có thể lựa chọn cho mình được con đường nghề nghiệp thích hợp với năng lực, sở trường, hoàn cảnh của mình đồng thời phù hợp với nhu cầu phát triển nhân lực của đất nước, của từng địa phương để có thể phát triển tối đa được năng lực của mình, đồng thời để sau khi rời ghế nhà trường có cơ hội để tìm được việc
làm và cống hiến được nhiều cho xã hội, cho đất nước
- Trên bình diện quốc gia, hướng nghiệp nhằm phân luồng HSPT một cách
phù hợp để phát triển nguồn nhân lực, vốn quý của quốc gia một cách có hiệu quả,
là sự điều chỉnh hệ thống giáo dục mang tính chiến lược để giáo dục phục vụ đắc lực cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn phát triển, đồng thời để nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục Do vậy, hướng nghiệp có một ý nghĩa to lớn, một khởi đầu quan trọng cho quá trình phát triển nhân lực của một quốc gia
1.3.4 Nội dung của giáo dục hướng nghiệp
Giáo dục hướng nghiệp bao gồm các nội dung sau đây:
1.3.4.1 Định hướng nghề nghiệp
Định hướng nghề nghiệp nhằm cung cấp cho HS những thông tin về tình hình phát triển kinh tế của đất nước của địa phương, về nhu cầu nhân lực các ngành nghề và trình độ khác nhau của thị trường lao động, về thế giới nghề nghiệp, về HĐ của những ngành nghề cơ bản, nghề chủ yếu và những yêu cầu của nghề đối với người lao động Qua đó giúp HS tự đánh giá bản thân và lựa chọn nghề có chủ định
1.3.4.2 Tư vấn HN
Trang 25Tư vấn HN là hệ thống những giải pháp tâm lý- giáo dục để đánh giá toàn bộ những phẩm chất, năng lực thể chất và tinh thần của thanh thiếu niên, đối chiếu những yêu cầu do nghề đặt ra đối với người lao động, có cân nhắc đến nhu cầu nhân lực của các thành phần kinh tế nhằm xác định nhóm nghề phù hợp Trên cơ sở đó cho HS những lời khuyên chọn nghề có căn cứ khoa học, loại bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chín chắn trong khi chọn nghề Có hai loại tư vấn:
- Tư vấn sơ bộ: GV chủ nhiệm hoặc GV bộ môn đóng vai trò “nhà tư vấn”,
từ những hiểu biết về yêu cầu của một số ngành nghề ở một số trường hoặc địa phương, về nhu cầu nhân lực và về năng lực của HS từ đó cho HS những lời khuyên nên học gì? Ở đâu?
- Tư vấn chuyên sâu: Tiến hành trắc nghiệm các yếu tố tâm sinh lý của HS
một cách có cơ sở khoa học, đảm bảo độ chính xác cao nhờ vào các thiết bị trắc nghiệm hiện đại Trên cơ sở đó, đối chiếu với yêu cầu nghề nghiệp đối với người lao động của những nghề khác nhau, tư vấn cho HS nên chọn nghề nào là phù hợp Điều kiện để có loại tư vấn chuyên sâu đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên gia tư vấn được đào tạo có tay nghề cao, đồng thời phải có những bộ câu hỏi trắc nghiệm cũng như các thiết bị trắc nghiệm tâm sinh lý hiện đại
- Tuyển chọn nghề: Xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu của từng nghề nghề đối
với người lao động và những đặc điểm của tưng HS để tuyển người phù hợp vào học hay vào làm việc
Ba nội dung này có mối liên hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau Trong trường THPT ta thường tiến hành định hướng nghề nghiệp và tư vấn HN, đồng thời góp phần cho việc tuyển chọn nghề Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, các trường trung cấp, CĐ thường xuống trực tiếp trường PT để tuyên truyền, tuyển chọn nghề thì nội dung công tác tuyển chọn nghề cũng được coi là một nội dung mà trường PT cần phối hợp với các CSĐT để thực hiện
Ba nội dung của GDHN được Đặng Danh Ánh đề xuất trong tam giác hướng nghiệp, biểu diễn bằng sơ đồ 1.1
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các nội dung GDHN
Trang 261.3.5 Các con đường để giáo dục hướng nghiệp cho HSPT
Để đạt được mục đích trên, GDHN trong trường PT được thực hiện qua bốn con đường:
1.3.5.1 Hướng nghiệp thông qua sinh hoạt HN
Sinh hoạt HN được thực hiện theo chương trình Giáo dục hướng nghiệp của
Bộ GD&ĐT ban hành Nội dung của GDHN bao gồm các hoạt động giúp HS phương pháp tìm hiểu các thông tin về thế giới nghề nghiệp, nhu cầu của xã hội và của địa phương về nghề nghiệp, hệ thống các cơ sở đào tạo trong địa phương cũng như của cả nước, Sinh hoạt HN thể hiện rõ vai trò chủ đạo của nhà trường đối với việc định hướng nghề nghiệp cho thanh thiếu niên Nội dung chương trình sinh hoạt
HN có tính hệ thống chặt chẽ nhằm cung cấp cho HS những hiểu biết về: cách thức lựa chọn nghề nghiệp tương lai; tình hình và yêu cầu phát triển kinh tế của địa phương, của đất nước; đặc điểm và yêu cầu tâm sinh lí của hệ thống ngành nghề cơ bản trong xã hội; hệ thống trường lớp đào tạo nghề của Trung ương và địa phương; các hướng đi của HS sau khi ra trường
Những HĐ phong phú đa dạng của các tổ ngoại khoá và các hình thức đọc thêm sách báo, xem phim, nghe đài, tham gia các HĐ do đoàn đội, hội CMHS tổ chức ở trong và ngoài nhà trường giúp HS mở rộng thông tin nghề nghiệp, nhu cầu lao động và điều chỉnh động cơ chọn nghề một cách sinh động, tạo điều kiện để các
em bộc lộ và thể nghiệm tài năng, hứng thú của mình, sau đó tự giác điều chỉnh
Thị trường lao
Tuyển chọn
Phẩm chất, năng lực hoàn cảnh cá nhân
Tư vấn nghề
Trang 27nguyện vọng, chọn nghề cho phù hợp với yêu cầu xã hội HN qua các HĐ ngoại khóa ở trong và ngoài nhà trường được tiến hành như sau:
- Tổ chức cho HS đọc sách báo, nghe đài, xem phim, tận dụng các phương tiện thông tin đại chúng, văn hoá nghệ thuật phục vụ GDHN, đồng thời chú trọng xây dựng các tổ ngoại khoá
- Tổ chức, động viên HS tích cực tham gia các HĐHN của các đoàn thể, các cơ
sở sản xuất và cơ sở giáo dục ở ngoài nhà trường
- Phát huy vai trò chủ đạo của nhà trường đối với tác động HN của gia đình
1.3.5.2 HN thông qua việc dạy môn công nghệ và dạy nghề PT
Môn công nghệ và nghề phổ thông gắn chặt với nghề nghiệp để giúp các em
có những hiểu biết về những đặc điểm của nghề và thử sức với nghề, qua đó có thể chọn được nghề phù hợp Bởi vậy, dạy học môn công nghệ, dạy nghề PT có tác dụng to lớn trong GDHN cho HSPT, góp phần tích cực thực hiện 4 nhiệm vụ HN đã nêu trong quyết định 126/CP của Chính phủ
Cách thức thực hiện GDHN qua HĐ dạy học môn công nghệ và nghề PT:
- Nghiên cứu kĩ để nắm vững, thực hiện nghiêm túc chương trình môn công nghệ và dạy nghề PT
- Trong quá trình dạy học, cần giới thiệu cho HS biết đặc điểm của nghề cũng như yêu cầu của các nghề đối với người lao động, thông tin về các trường lớp đào tạo, nhu cầu lao động của các ngành nghề liên quan đến các nghề được giới thiệu trong chương trình môn công nghệ và nghề PT
- Bảo đảm thực hành, rèn luyện kĩ năng lao động tương ứng với kiến thức công nghệ và nghề PT, một mặt khác, tạo điều iện cho các em được thử sức với nghề mình định chọn
- Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu kĩ thuật cho HS
1.3.5.3 HN thông qua việc dạy các môn văn hóa
Các môn khoa học cơ bản như Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Địa lí v.v có chức năng cung cấp một hệ thống những khái niệm làm nền tảng cho sự hình thành
tư duy lí luận, thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng cũng như tạo ra ở
HS những kĩ năng thực hành, ứng dụng những tri thức vào cuộc sống sinh động
Trang 28hàng ngày GDHN qua các môn học là một nguyên tắc đặt ra cho nhà giáo Điều này có nghĩa là, những kiến thức mới, những thông tin mới mà bài học mang lại cho
HS đều phải có tác dụng GDHN Những khả năng HN qua các môn học gồm:
- Hình thành sự định hướng nghề nghiệp qua các bài giảng cụ thể, giúp cho HS
có biểu tượng tương đối rõ ràng về hệ thống nghề đang cần phát triển
- Xây dựng cho HS phương pháp làm việc và tác phong công tác phù hợp với nghề định chọn
- Phát hiện năng khiếu, tài năng của HS qua các giờ học, từ đó tiến hành công tác tư vấn nghề nghiệp cho HS
- Giáo dục ý thức lao động XHCN đối với nghề nghiệp tương lai, từng bước hình thành ở HS sự sẵn sàng tâm lí đi vào lao động sản xuất
1.3.5.4 HN thông qua HĐ ngoại khóa ở trong và ngoài nhà trường
Những HĐ phong phú đa dạng của các tổ ngoại khoá và các hình thức đọc thêm sách báo, xem phim, nghe đài, tham gia các HĐ do đoàn đội, hội CMHS tổ chức ở trong và ngoài nhà trường giúp HS mở rộng thông tin nghề nghiệp, nhu cầu lao động và điều chỉnh động cơ chọn nghề một cách sinh động, tạo điều kiện để các
em bộc lộ và thể nghiệm tài năng, hứng thú của mình, sau đó tự giác điều chỉnh nguyện vọng, chọn nghề cho phù hợp với yêu cầu xã hội HN qua các HĐ ngoại khóa ở trong và ngoài nhà trường được tiến hành như sau:
- Tổ chức cho HS đọc sách báo, nghe đài, xem phim, tận dụng các phương tiện thông tin đại chúng, văn hoá nghệ thuật phục vụ GDHN, đồng thời chú trọng xây dựng các tổ ngoại khoá
- Tổ chức, động viên HS tích cực tham gia các HĐHN của các đoàn thể, các cơ
sở sản xuất và cơ sở giáo dục ở ngoài nhà trường
- Phát huy vai trò chủ đạo của nhà trường đối với tác động HN của gia đình
1.4 Quản lý công tác giáo dục hướng nghiệp cho HSPT
1.4.1 Quản lý việc thực hiện mục tiêu, chương trình, kế hoạch GDHN
Mục tiêu, chương trình, kế hoạch GDHN cho HSPT đã được Bộ GD%ĐT ban hành
1.4.1.1 Mục tiêu của GDHN ở trường THPT
Trang 291.4.1.2 Chương trình, kế hoạch GDHN ở trường THPT được thực hiện từ
lớp 10, thống nhất theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT Cấu trúc chương trình hiện nay
kế thừa ở lớp 9: lớp 10,11 chủ yếu giúp các em tìm hiểu về các nhóm nghề cụ thể, còn lớp 12 tập trung vào việc tìm hiểu thông tin đào tạo và hướng phát triển kinh tế nhằm giúp cho việc chọn nghề, chọn ngành, chọn trường có hiệu quả Chương trình GDHN ở trường THPT gồm các nội dung cụ thể như sau:
1 Lựa chọn nghề nghiệp tương lai
2 Năng lực bản thân và truyền thống gia đình
3 Tìm hiểu nghề dạy học
4 Giới tính và nghề nghiệp
5 Tìm hiểu một số nghề về Nông-Lâm-Ngư nghiệp
6 Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành Y, Dược
7 Tham quan một đơn vị sản xuất công hoặc nông nghiệp
8 Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành xây dựng
10
9 Nghề tương lai của tôi
1 Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành Giao thông-Địa chất
2 Tìm hiểu một số nghề thuộc lĩnh vực kinh doanh, dich vụ
Trang 303 Tìm hiểu một số nghề thuộc lĩnh vực an ninh quốc phòng
4 Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành Năng lượng, Bưu chính viễn
thông, Công nghệ thông tin
5 Giao lưu với những điển hình về sản xuất, kinh doanh giỏi,
những gương vượt khó theo chủ đề; Làm gì sau khi tốt nghiệp THPT?
6 Nghề nghiệp với nhu cầu của thị trường lao động
7 Thảo luận: Tôi muốn đạt được được ước mơ của mình
11
8 Tham quan một số trường ĐH (hoặc CĐ), TCCN, DN tại địa
phương
1 Định hướng phát triển kinh tế của đất nước, của địa phương
2 Thảo luận: Những điều kiện để thành đạt trong nghề
3 Tìm hiểu hệ thống trường TCCN và đào tạo nghề của trung
ương và địa phương
4 Tìm hiểu hệ thống đào tạo ĐH và CĐ
5 Tư vấn nghề
6 Hướng dẫn HS chọn nghề cụ thể để làm hồ sơ tuyển sinh
7 Thảo luận: Thanh niên lập thân, lập nghiệp
12
8 Tham quan hoặc tổ chức HĐ văn hoá theo chủ đề HN
Thời lượng của HĐ GDHN là 3 tiết/tháng Từ năm học 2008-2009, số tiết của HĐ GDHN giảm còn 1 tiết/tháng, trong đó một số nội dung được tích hợp vào
HĐ ngoài giờ lên lớp và môn Công nghệ
1.4.2 Quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng cho các hoạt động GDHN
1.4.2.1 Quản lý đội ngũ giáo viên
Trong GD nói chung, GDHN nói riêng, GV giữ vị trí quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học
Quản lý đội ngũ GV phải có đủ đức và đủ tài Vì vậy, điều kiện tiên quyết
để thực hiện được các mục tiêu HN là GV phụ trách CTHN phải được trang bị đầy
đủ các kiến thức và kĩ năng về HN để có năng lực cần thiết thực hiện các nhiệm vụ
HN
Quản lý đội ngũ GV bao gồm các nội dung:
- Bồi dưỡng và sử dụng hợp lý và đội ngũ GV hiện có để họ có đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao Đối với GV thực hiện GDHN đây là vấn đề rất quan trọng vì hầu hết GV tham gia công tác là GV chủ nhiệm và một số GV dạy các môn học khác, họ đều chưa qua đào tạo về hướng nghiệp;
Trang 31Nhiệm vụ Nă ng lự c cần có để thực hiện nhiệm vụ
- Cơ sở khoa học và nội dung của HN,
- Các năng lực HN cần đạt của học sinh;
- Thế giới nghề nghiệp và kiến thức về một số nghề phổ biến;
- Hình thức và phương pháp tổ chức HĐGDHN theo hướng tích cực;
- Nội dung và phương pháp TVHN
Có kĩ năng:
- Lập kế hoạch giảng dạy (năm học, học kì, bài học);
- Sử dụng đa dạng các PPDH;
- Tổ chức giao lưu, tọa đàm và hoạt động ngoại khóa;
- Đề xuất với lãnh đạo và phối hợp với đồng nghiệp để thực hiện nhiệm vụ;
- Xây dựng mạng lưới chuyên nghiệp;
Trang 32- Kiến thức chuyên sâu về NPT đang dạy;
- Đặc điểm và yêu cầu của các nghề;
- Nội dung giáo dục LĐ;
- Dạy lí thuyết nghề và hướng dẫn, tổ chức thực hành nghề;
- Làm, sử dụng và khai thác các thiết bị và đồ dùng dạy học;
- Cách tổ chức tham quan, ngoại khóa;
- Đặc điểm về một số nghề tại địa phương;
Có kĩ năng:
- Lập KH tham quan, ngoại khóa;
- Xây dựng mạng lưới chuyên nghiệp;
- Hướng dẫn HS tìm hiểu TT khi tham gia tham quan, ngoại khóa và so sánh TT thu được với sở thích và khả năng của bản thân
Bảng 1.2 Năng lực cần có của giáo viên hướng nghiệp
Trang 33- Tuyển dụng GV mới theo nhu cầu phát triển quy mô của trường và thay thế những người về hưu, mất sức
- Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho GV hoạt động;
- Thực hiện các chính sách đối với GV
1.4.2.3 Quản lý học liệu và nguồn thông tin về GDHN
Học liệu và nguồn thông tin về GDHN rất phong phú và đa dạng, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như tranh ảnh, các bản mô tả nghề, các tài liệu học tập, thông tin về hệ thống các CSĐT và tuyển sinh hàng năm, thông tin về thị trường lao động, … đòi hỏi phải có thông tin từ nhiều nguồn khác nhau nhằm hỗ trợ GV thực hiện tốt các nội dung trong chương trình GDHN Hơn nữa, nhiều nội dung trong các chủ đề như định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đất nước; thế giới nghề nghiệp; hệ thống các trường TCCN, đào tạo nghề, CĐ, ĐH, luôn có sự biến động theo sự phát triển nhanh chóng của kinh tế -
xã hội Do vậy, cùng với việc có đủ sách giáo khoa và sách GV các CSGD cần phải
có nguồn tài liệu tham khảo và nguồn TTHN được cập nhật thường xuyên để cung cấp cho GV và HS thực hiện thuận lợi các hình thức HN Điều kiện này cũng đòi hỏi CB và GV cần phải có kiến thức cơ bản về HN để sử dụng, khai thác
và thường xuyên bổ sung, cập nhật các TT trên hệ thống internet, phương tiện thông tin đại chúng và các tài liệu tham khảo Ngoài ra, CB và GV cần phải xác định được nguồn TT đáng tin cậy và phù hợp để sử dụng vào từng hình thức HN
Quản lý học liệu và nguồn thông tin về GDHN bao gồm các nội dung:
- Quản lý việc mua sắm và tự chế tạo các loại học liệu;
- Quản lý việc bảo quản và sử dụng các học liệu có hiệu quả;
- Quản lý việc thu thập các thông tin;
- Quản lý việc phổ biến và sử dụng thông tin
1.4.2.4 Quản lý các thiết bị và đồ dùng dạy học
Thiết bị, máy móc và đồ dùng dạy học là công cụ để GV tiến hành các phương pháp (PP) khi tổ chức thực hiện các hình thức HN Hiệu quả của việc sử dụng các PPDH phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện này Do vậy, muốn tổ chức các
Trang 34hoạt động GDHN đạt kết quả, các trường cần phải có các trang thiết bị, đồ dùng dạy học như: video clip về nghề, máy tính nối mạng internet, máy chiếu, các thiết bị trắc nghiệm; ; có tương đối đầy đủ máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu (theo Tiêu chuẩn ngành của từng nghề đã ban hành) để dạy và tổ chức cho HS thực hành NPT
Cùng với các điều kiện cơ bản trên, việc thực hiện các hình thức HN còn đòi hỏi phải có nguồn kinh phí nhất định để mua sắm trang thiết bị kĩ thuật, băng đĩa hình về HN, xây dựng góc HN, tổ chức cho HS tham quan, ngoại khóa ngoài nhà trường; có cơ chế chính sách phù hợp, có khen thưởng, đãi ngộ xứng đáng để động viên và khuyến khích GV phụ trách CTHN
Quản lý các thiết bị và đồ dùng dạy học bao gồm các nội dung:
- Quản lý việc mua sắm và tự chế tạo các loại thiết bị và đồ dùng dạy học;
- Quản lý việc bảo quản và sử dụng các học liệu có hiệu quả;
- Quản lý việc bảo dưỡng và sửa chữa;
1.4.3 Quản lý việc tổ chức thực hiện các hoạt động GDHN
Một trong những khâu quan trọng của việc quản lý HĐGDHN chính là tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chương trình HĐGDHN ở các trường THPT Việc cụ thể hóa kế hoạch, chương trình thực hiện theo từng thời điểm nhất định, phân công trách nhiệm từng thành viên và việc thực hiện kế hoạch đến đâu, hiệu quả ra sao đều phụ thuộc chủ yếu vào việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chương trình HĐGDHN của lãnh đạo nhà trường Trong quá trình thực hiện kế hoạch, chương trình HĐGDHN, có thể xảy ra những tình huống ngoài dự kiến của kế hoạch, cần có sự điều chỉnh kịp thời để đạt đến mục đích mong đợi
1.4.4 Quản lý việc đánh giá kết quả GDHN
Kết quả HĐ GDHN qua được đánh giá qua kết quả HN của HS và công tác GDHN của GV Cụ thể là:
- Kết quả học nghề PT
- Tỉ lệ HS làm hồ sơ thi ĐH-CĐ; trung cấp và học nghề
- Kết quả thi ĐH- CĐ- trung cấp
Chung quy lại, đánh giá kết quả GDHN ở trường THPT chính là đánh giá
Trang 35kết quả phân luồng HS sau THPT
1.4.5 Quản lý mối liên kết giữa trường THPT với trung tâm hướng
nghiệp, trung tâm dạy nghề và các doanh nghiệp trên địa bàn trong công tác GDHN cho HSPT
- Người thành đạt, các chuyên gia, nhà QL kinh tế, QL doanh nghiệp là lực
lượng rất cần được các nhà trường chú trọng bởi họ đã thành đạt trên cơ sở công việc ngành nghề đã chọn Họ có thể đã qua trường lớp cơ bản hoặc những người có khả năng kinh doanh, dịch vụ mà không qua trường ĐH-CĐ nào HS rất muốn học tập và làm theo họ
- Lực lượng của các trường ĐH-CĐ-TCCN: lực lượng này thường giúp cho
các em và nhà trường những thông tin quan trọng việc chọn ngành, chọn nghề, chọn trường Họ còn có thể hỗ hợ CSVC đáng kể cho nhà trường trong công tác tổ chức GDHN
1.5 Các yếu tố quản lý ảnh hưởng đến chất lượng công tác GDHN ở trường THPT
1.5.1 Yếu tố khách quan:
1.5.1.1 Tâm lý xã hội
Do dư âm của xã hội phong kiến trước đây, hiện nay, của đại bộ phận người Việt Nam còn coi trọng bằng cấp đại học và coi nhẹ lao động chân tay Đại bộ phận phụ huynh học sinh chỉ muốn cho con em mình học lên đại học mà không muốn cho vào học ở các trường dạy nghề
Một mặt khác, xã hội đang coi nhẹ công tác GDHN cho HSPT vì chưa thấy được tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển nghề nghiệp của con em mình cũng như đối với toàn xã hội Đối với CMHS, đa số đánh giá cao vai trò của công tác GDHN, nhưng lại yếu về phương pháp và thiếu các thông tin cần thiết nên khả năng thuyết phục đối với con em không cao Cuối cùng hầu hết cha mẹ đều "thoả hiệp"cho con cái quyết định
Đây đang là một trở ngại lớn cho công tác giáo dục hướng nghiệp cho HSPT
ở nước ta nói chung và ở trường trung học phổ thông Phúc Yên, Vĩnh Phúc nói riêng
Trang 361.5.1.2 Sự chỉ đạo của Bộ, ngành: thông qua việc ban hành hệ thống các văn
bản pháp quy hướng dẫn về định hướng, mục tiêu, nội dung, chương trình kế hoạch GDHN và việc kiểm tra, đánh giá công tác GDHN ở cơ sở Hiện nay hệ thống các văn bản pháp quy này về cơ bản đã được ban hành khá cụ thể như nội dung chương trình và hướng dẫn thực hiện Tuy nhiên, chưa có văn bản về đánh giá, tổng kết công tác này như thế nào, gắn với thi đua, khen thưởng ra sao Kết quả GDHN mới chỉ có tác dụng tham gia đánh giá về hạnh kiểm HS Vì vậy, ảnh hưởng của nó đối với công tác GDHN và QL GDHN tại các trường THPT chưa cao
1.5.2 Yếu tố chủ quan
1.5.2.1 Ý thức của CBQL, GV và HS
Ý thức đúng đắn của các lực lượng tham gia công tác GDHN sẽ quyết định
sự thành công của công tác này ở trường PT Tuy nhiên, thái độ, nhận thức của một
bộ phận không nhỏ của các nhà QLGD, CBGV chưa cao nên chưa có được những phương thức làm việc hiệu quả, sáng tạo, dẫn đến hiệu quả công tác này còn hạn chế
1.5.1.2 Triển khai thực hiện của cơ sở
Nhìn chung, các nhà trường chưa thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của cấp trên
Chưa thực hiện đúng, đủ nhiệm vụ, nội dung GDHN, chưa có phương pháp, hình thức phù hợp Việc kiểm tra đánh giá, khen thưởng không kịp thời Vì vậy chất lượng GDHN ở các trường THPT còn hạn chế
1.5.1.3 CSVC phục vụ công tác GDHN
Lãnh đạo nhà trường cần quan tâm tạo điều kiện về CSVC phục vụ công tác GDHN như: tài liệu, máy chiếu, băng hình, phòng, xưởng và chế độ thù lao với CBGV làm công tác này Nhìn chung hiện nay, vấn đề tăng cường CSVC phục vụ công tác GDHN chưa được quan tâm đúng mức dẫn tới chất lượng công tác GDHN
và QL GDHN ở THPT còn chưa đáp ứng được yêu cầu chung
1.5.2.4 Chất lượng của các lực lượng tham gia GDHN
Các lực lượng tham gia GDHN là yếu tố hết sức quan trọng quyết định chất lượng công tác GDHN ở trường THPT, đặc biệt là đội ngũ CBGV- những người trực tiếp làm công tác này Vì thế, phải chú trọng đến việc nâng cao phẩm chất đạo
Trang 37đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực thực hiện GDHN của họ Hiện nay, đội ngũ này hầu hết chưa có CM về GDHN, mới chỉ qua tập huấn ngắn ngày ở sở GD&ĐT, chưa đủ mạnh để đảm đương hoàn thành nhiệm vụ được giao Vì vậy mới xảy ra tình trạng làm theo kiểu đối phó là chính dẫn đến chất lượng công tác GDHN chưa đáp ứng được yêu cầu của các cấp ngành
Kết luận chương 1
Chất lượng nguồn nhân lực đang là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế xã hội vì phần thắng sẽ thuộc quốc gia nào GD&ĐT được đội ngũ lao động năng động, sáng tạo có trình độ nghề nghiệp cao
Công tác GDHN trong trường THPT giữ một vai trò rất quan trọng vì một mặt góp phận phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ, mặt khác góp phần cho sự phân luồng
HS để phát triển một đội ngũ lao động có chất lượng, đồng bộ về cơ cấu ngành nghề
để thực hiện CNH, HĐH đất nước Để làm được điều này, cần quan tâm đến QL GDHN ở trường THPT trên các mặt: quản lý mục tiêu, chương trình, kế hoạch GDHN; Quản lý các điều kiện đảm bảo chất lượng cho các hoạt động GDHN như đội ngũ GV, học liệu, thông tin và cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; Quản lý việc tổ chức thực hiện các hoạt động GDHN; Quản lý việc đánh giá kết quả GDHN
và Quản lý mối liên kết giữa trường THPT với trung tâm hướng nghiệp, trung tâm
dạy nghề và các doanh nghiệp trên địa bàn trong công tác GDHN cho HSPT
Trang 38CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
Ở TRƯỜNG THPT PHÚC YÊN, VĨNH PHÚC 2.1 Một số nét về tình hình phát triển kinh tế- xã hội của thị xã Phúc Yên.
Nằm ở phía đông nam tỉnh Vĩnh Phúc, cách trung tâm TP Hà Nội 40 km, TP Vĩnh Yên 20 km, TX Phúc Yên hội tụ đầy đủ các lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội như gần các trung tâm kinh tế lớn, có hệ thống giao thông đối ngoại thuận lợi (gần sân bay quốc tế Nội Bài và các tuyến giao thông huyết mạch như đường cao tốc, đường sắt Hà Nội - Lào Cai, QL2, QL23) Phúc Yên đồng thời nằm trong chuỗi
đô thị phía Bắc dọc theo hành lang Côn Minh - Hạ Long bao gồm các TP Côn Minh (Trung Quốc) - Lào Cai - Vĩnh Yên - Phúc Yên - Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long và tham gia vào chuỗi đô thị trung tâm, dọc theo đường xuyên Á, bao gồm các đô thị
Mê Linh - Phúc Yên - Vĩnh Yên - Việt Trì - Tuyên Quang - Hà Giang
Phúc Yên có diện tích khoảng 12.029 ha gồm 6 phường nội thị là Trưng Trắc, Trưng Nhị, Hùng Vương, Phúc Thắng, Xuân Hòa, Đồng Xuân và 4 xã khu vực ngoại thị là Nam Viên, Tiền Châu, Cao Minh, Ngọc Thanh Dân số trên địa bàn hiện có trên 12 vạn người Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt 78%
Giai đoạn 2009 - 2012, tốc độ tăng trưởng GDP trên 21,5% Cơ cấu kinh tế TX: Công nghiệp, xây dựng 94,8%; Thương mại, dịch vụ 4,6%; Nông, lâm nghiệp 0,6% Tổng thu ngân sách năm 2011 là 12.569 tỷ đồng và năm 2012 khi kinh tế suy giảm nhưng vẫn đạt 10.568 tỷ đồng, mức thu nhập bình quân đầu người cao gấp ba lần so với cả nước
Phúc Yên hiện là cực phát triển quan trọng, là một trong những đô thị hạt nhân chính của tỉnh Vĩnh Phúc, là đầu tàu lôi kéo sự phát triển của các huyện, thị tỉnh Vĩnh Phúc và các tỉnh lân cận, tạo thành cực phát triển kinh tế của tỉnh Phúc Yên là trung tâm dịch vụ, du lịch, tài chính ngân hàng, trung tâm văn hoá, thể dục thể thao, giáo dục đào tạo, trung tâm khoa học kỹ thuật và công nghệ của tỉnh Vĩnh Phúc, giữ vị trí chiến lược quan trọng về phát triển công nghiệp và thương mại - du lịch trên địa bàn tỉnh
Trang 39Đặc biệt, với sực hút đầu tư mạnh mẽ với, ngành công nghiệp mũi nhọn sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy, TX Phúc Yên đã và đang là động lực phát triển, thu hút vốn đầu tư nước ngoài Giá trị công nghiệp chiếm 75 - 80% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
2.2 Thực trạng giáo dục ở trườngTHPT Phúc Yên
Trang 40Tỉ lệ đậu tốt nghiệp hàng năm khá cao Tỉ lệ HS vào ĐH còn thấp Như năm 2011-2012 vừa qua, tỉ lệ tốt nghiệp là 98,7% và tỉ lệ HS đậu ĐH là 12,6 %
Đội ngũ cán bộ QL, GV THPT Phúc Yên thể hiện ở bảng 2.3
Đội ngũ GV đều đạt chuẩn và trên chuẩn về CM Tỷ lệ GV có chứng chỉ tin học tăng dần qua các năm do sở GD&ĐT Vĩnh Phúc tăng cường công tác bồi dưỡng tin học cho CBGV, coi đây là yêu cầu bắt buộc Còn về chứng chỉ HĐ GDHN thì 1số ít GV được cấp qua các kỳ bồi dưỡng Còn lại là chưa qua đào tạo về GDHN
Với chất lượng đội ngũ CBQL và GV như vậy, có đủ cơ sở để thực hiện tốt công tác GDHN ở trường THPT Phúc Yên, Vĩnh Phúc
Bảng 2.3 Đội ngũ CBQL, GV các trường THPT Phúc Yên
LL chính trị
Năm học
Số lượng
Số lượng
Trên
ĐH
CC tin học
CC GDHN