1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên thực hành nghề cơ khí chế tạo tại trường cao đẳng công nghiệp việt hung

98 277 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI Quang Thị Thủy ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THỰC HÀNH NGHỀ CƠ KHÍ CHẾ TẠO TẠI TRƯỜNG C

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

Quang Thị Thủy

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THỰC HÀNH NGHỀ CƠ KHÍ CHẾ TẠO TẠI TRƯỜNG CAO

ĐẲNG CÔNG NGHIỆP VIỆT-HUNG

Chuyên sâu: Quản lý và Đào tạo nghề

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KỸ THUẬT Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp giảng dạy

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS.THÁI THẾ HÙNG

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian qua để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi còn được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô trong Khoa Sư phạm kỹ thuật trường Đại học Bách khoa Hà Nội Đặc biệt là sự thường xuyên quan tâm, góp ý và giúp đỡ tận tình của thầy giáo PGS.TS Thái Thế Hùng, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi luận văn Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo PGS.TS Thái Thế Hùng đã tạo điều kiện dành thời gian, công sức để sửa chữa, bổ sung từng trang bản thảo của luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tới các Thầy Cô giáo trong Khoa Sư phạm kỹ thuật trường Đại học Bách khoa Hà Nội, các Giảng viên ở các Viện Nghiên cứu và phát triển giáo dục đã truyền đạt, cung cấp cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm nghề nghiệp để tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập và đề tài luận văn này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và tập thể Cán bộ, Giáo viên, Công nhân viên Trường Cao Đẳng công nghiệp Việt- Hung đã tận tình giúp đỡ tôi cung cấp số liệu, tài liệu, tham gia đóng góp những ý kiến quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn

Dù đã rất cố gắng trong quá tình hoàn thành luận văn, nhưng do thời gian cũng như bản thân còn hạn chế, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong các Thầy, Cô giáo trong hội đồng chấm luận văn và các bạn đồng nghiệp xem xét, góp ý kiến, bổ sung để luận văn hoàn thiện và đạt kết quả tốt hơn

Hà Nội, tháng 08 năm 2011

Tác giả

Quang Thị Thủy

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những lời mà tôi viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể

Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ Hội đồng bảo vệ luận văn thạc sỹ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở trên

Hà Nội, tháng 08 năm 2011

Quang Thị Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các sơ đồ

MỞ ĐẦU

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO VIÊN VÀ YÊU CẦU BỒI DƯỠNG NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY NGHỀ

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Giáo viên và đội ngũ giáo viên

1.2.2 Đào tạo, đào tạo lại, đào tạo tiếp theo và đào tạo người trưởng thành

1.2.3 Bồi dưỡng

1.3 Cơ sở lý luận về giáo viên dạy nghề

1.3.1 Dạy học là một nghề xã hội

1.3.2 Đòi hỏi của người giáo viên dạy nghề trong nền giáo dục hiện đại

1.4 Quy định tiêu chuẩn giáo viên dạy nghề Việt Nam

1.5 Những vấn đề mới đặt ra đối với hệ thống dạy nghề

1.5.1 Sơ lược về hệ thống dạy nghề Việt Nam

1.5.2 Một số nét kinh tế xã hội Việt Nam

1.5.3 Phát triển giáo dục nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường

1.5.4 Sự mở rộng và hội nhập quốc tế

1.5.5 Ảnh hưởng của sự phát triển khoa học kỹ thuật và khoa học giáo dục nghề nghiệp

Trang

1

2

3

6

7

7

8

13

13

14

14

15

18

19

19

19

22

26

26

28

28

29

29

Trang 5

1.6 Những đặc thù và yêu cầu của giáo viên dạy nghề Cơ khí chế tạo

1.6.1 Mục tiêu đào tạo công nhân nghề Cơ khí chế tạo

1.6.2 Đặc thù của GVDN ngành Cơ khí chế tạo

1.7 Những căn cứ và nguyên tắc tiến hành quá trình bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên dạy nghề

1.7.1 Những căn cứ

1.7.2 Những nguyên tắc

Chương II: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY THỰC HÀNH NGHỀ CƠ KHÍ CHẾ TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP VIỆT – HUNG

2.1 Một số nét về sự phát triển của Trường Cao Đẳng công nghiệp Việt – Hung

2.2 Thực trạng về trình độ đội ngũ giáo viên dạy nghề

2.2.1 Về tuyển chọn đội ngũ GVDN

2.2.2 Thực trạng tuổi đời, thâm niên giảng dạy và bằng cấp đội ngũ giáo viên hiện nay

2.2.3 Năng lực chuyên môn

2.2.4 Năng lực sư phạm

2.2.5 Năng lực xã hội

2.2.6 Trình độ ngoại ngữ, khả năng ứng dụng thông tin trong dạy học

2.2.7 Những nguyên nhân khác ảnh hưởng tới quá trình giảng dạy của đội ngũ GVDN

2.3 Công tác bồi dưỡng đội ngũ GV dạy thực hành nghề Cơ khí chế tạo tại Trường CĐCN Việt - Hung

2.3.1 Bồi dưỡng chuyên môn

2.3.2 Bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm

2.3.3 Các hình thức bồi dưỡng khác

2.4 Công tác quản lý hoạt động giảng dạy của GV dạy thực hành nghề 2.5 Một số vấn đề cần xem xét đổi mới trong công tác bồi dưỡng nâng cao

31

31

33

34

34

34

35

35

38

39

40

44

51

54

54

55

56

56

57

57

58

Trang 6

trình độ đội ngũ GVDN thời gian tới

Chương III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY THỰC HÀNH NGHỀ CƠ KHÍ CHẾ TẠO TẠI TRƯỜNG CĐCN VIỆT - HUNG

3.1 Quan điểm về bồi dưỡng nâng cao trình độ GVDN

3.2 Mục tiêu bồi dưỡng

3.3 Nâng cao nhận thức vai trò trách nhiệm và lòng tự hào của người GVDN trong sự nghiệp GD - ĐT

3.4 Các giải pháp về quản lý

3.4.1 Tăng cường quản lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ GVDN

3.4.2 Xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ GVDN

3.4.3 Quản lý, tổ chức và phát triển công tác bồi dưỡng GVDN

3.5 Nâng cao năng lực tự bồi dưỡng của đội ngũ GVDN

3.6 Một số giải pháp đổi mới nội dung bồi dưỡng

3.6.1 Bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm

3.6.2: Bồi dưỡng về trình độ tay nghề của ĐNGV dạy thực hành

3.6.3 Các nội dung bồi dưỡng khác

3.7 Một số giải pháp về đổi mới hình thức bồi dưỡng

3.7.1 Bồi dưỡng dài hạn (Từ 1 đến 5 năm)

3.7.2 Bồi dưỡng ngắn hạn (Dưới 1 năm)

3.7.3 Bồi dưỡng thường xuyên

3.7.4 Hội thảo, hội giảng

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Phiếu điều tra (dành cho cán bộ quản lý)

Phụ lục 2: Phiếu điều tra (dành cho học sinh)

Phụ lục 3: Phiếu điều tra (Dành cho giáo viên)

59

62

62

62

63

65

65

67

69

70

71

71

72

76

78

79

79

80

80

81

83

85

88

90

Trang 7

MỘT SỐ KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT

BCN

CĐ CĐMR CĐCQ CĐCN CHLB CNKT CNH-HĐH CKLK ĐNGV

ĐH ĐHCQ ĐHTC

ĐT GD-ĐT

GV GVDN

HS KH-GD KH-CN LĐ-TB&XH THPT THCS THCN

: Bộ công nghiệp : Cao đẳng : Cao đẳng mở rộng : Cao đẳng chính quy : Cao đẳng công nghiệp : Cộng hòa liên bang : Công nhân kỹ thuật : Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa : Cơ khí luyện kim

: Đội ngũ giáo viên : Đại học

: Đại học chính quy : Đại học tại chức : Đào tạo

: Giáo gục đào tạo : Giáo viên : Giáo viên dạy nghề : Học sinh

: Khoa học- giáo dục : Khoa học - công nghệ : Lao động- Thương binh và xã hội : Trung học phổ thông

: Trung học cơ sở : Trung học chuên nghiệp

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Phân biệt đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại theo các tiêu chí

Bảng 1.2: Vai trò của GV và HS đối với các loại hình dạy học

Bảng 2.1: Con số tuyển sinh hàng năm

Bảng 2.2: Số lượng GV trong các năm

Bảng 2.3 Đội ngũ GVDN chuyên ngành Cơ khí chế tạo Trường CĐCN

Bảng 2.4 Đội ngũ GVDN chuyên ngành Cơ khí chế tạo Trường CĐCN Việt - Hung theo tuổi đời và trình độ học vấn

Bảng 2.5 Thống kê khả năng tiếp thu kiến thức lý thuyết của HS trên lớp

Bảng 2.6 Thống kê đánh giá về năng lực dạy lý thuyết của đội ngũ GV

Bảng 2.7 Thống kê kết quả làm bài tập thực hành của học sinh

Bảng 2.8 Thống kê đánh giá về năng lực dạy thực hành của GV

Bảng 2.9 Đánh giá về năng lực nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ GVDN

Bảng 2.10 Thực trạng những tri thức và kỹ năng sư phạm cụ thể của đội ngũ GVDN tới hoạt động giảng dạy của đội ngũ GVDN

Bảng 2.11 Thống kê từ khảo sát thực tế những nguyên nhân ảnh hưởng

Bảng 2.12 Nhu cầu bồi dưỡng nâng cao trình độ của đội ngũ GVDN

Trang 19 21 37 37 41 43 46 47 49 49 52 53 55 60 DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ1.1: Sơ đồ mô tả công việc dạy lý thuyết của GVDN ngành Cơ khí chế tạo

Sơ đồ1.2: Sơ đồ mô tả công việc dạy thực hành của GVDN ngành Cơ khí chế tạo

Sơ đồ 2 Sơ đồ tổ chức quản lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ GVDN

Sơ đồ 3.1 Các kỹ năng sư phạm cần bồi dưỡng cho đội ngũ GVDN

Sơ đồ 3.2: Các hình thức bồi dưỡng GVDN

Trang

33

33

58

72

79

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Để đáp ứng sự phát triển nền công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, Đảng và nhà nước ta đã coi việc phát triển giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, nguồn nhân lực được đào tạo với chất lượng cao chính là năng lực cạnh tranh trong tiến trình hội nhập quốc tế và đảm bảo chắc chắn cho sự phát triển bền vững của đất nước Nhận thức rõ vai trò của giáo dục với sự phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước, nghị quyết đại hội Đảng

toàn quốc lần thứ X đã khẳng định “: "Giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển

giáo dục là nền tảng, nguồn nhân lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh

và bền vững” [23] Để thực hiện mục tiêu chiến lược đó cần phải khai thác và sử

dụng nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó phải kể đến nguồn lực con người.Với Việt Nam, nguồn lực tài chính, vật chất còn hạn hẹp, do vậy nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ, có tay nghề cao, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với

nền khoa học công nghệ hiện đại

Trong đại hội Đảng X đã đưa ra kế hoạch nâng cao chất lượng hiệu quả giáo

dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực như sau: “Nâng

cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá", chấn hưng nền giáo

dục Việt Nam Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở -

mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục” [23] Đồng thời đại hội còn nhấn mạnh việc phải

Trang 10

“phát triển hệ thống hướng nghiệp và dạy nghề, đa dạng hoá các loại hình dạy

nghề, phát triển nhanh hình thức đào tạo nghề dài hạn theo hướng hiện đại Tăng nhanh tỉ lệ lao động được đào tạo nghề; trang bị cho số đông thanh niên những kiến thức sản xuất, kỹ năng lao động và năng lực tiếp thu công nghệ mới để chủ động tìm cơ hội lập nghiệp” Đây chính là định hướng chủ yếu được cụ thể hóa

trong mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục với những nội dung chủ yếu là tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục, ưu tiên chất lượng đào tạo nhân lực, đổi mới mục tiêu phương pháp, chương trình giáo dục và các bậc học và trình độ đào tạo Trong quá trình phát triển giáo dục và đào tạo, đội ngũ giáo viên giữ vị trí vô cùng quan trọng, đây là lực lượng quyết định việc phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo Luật giáo dục được Quốc hội thông qua và ban hành năm 1998, điều 14 đã

khẳng định: “ Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo

dục… Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, có chính sách bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện nhiệm vụ của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học”[22] Chính vì vậy, để đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển dạy nghề, đồng

thời thực hiện đồng bộ các giải pháp xây dựng phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề đến năm 2020 đảm bảo chất lượng, số lượng, đồng bộ về cơ cấu ngành nghề đào tạo, đạt chuẩn về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng nghề vững vàng, việc bồi dưỡng giáo viên nghề có hiệu quả là nhiệm vụ trọng tâm của giáo

dục và đào tạo nước ta

Nhiệm vụ trên đặt ra cho công tác đào tạo nghề những trách nhiệm nặng nề, trong đó có trách nhiệm xây dựng nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đào tạo được đội ngũ nhân lực có trình độ cao, nắm vững và ứng dụng các tri thức trong thực tiễn, đổi mới và chuyển giao công nghệ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá Để đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực này, trước mắt chúng ta phải chăm lo xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề Nhìn chung phần đông đội ngũ giáo viên này có tâm huyết với nghề, có năng lực đáp ứng nhu cầu đào tạo, song trước những yêu cầu cao của xã hội, của sự

Trang 11

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, họ lại có những điểm không đồng đều về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng nghề nghiệp, khả năng nghiên cứu còn yếu và thiếu

Một số chuyên gia nước ngoài khi tư vấn về Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề cho Việt Nam đã khuyến nghị: “Các nhà hoạch định chính sách bao giờ cũng nên

ưu tiên cho vấn đề cải thiện chất lượng giáo viên và coi đây là vấn đề nổi cộm nhất

mà hệ thống đang phải đối đầu” [9]

Trường Cao đẳng công nghiệp Việt – Hung được thành lập hơn 30 năm nay Trong quá trình hình thành và phát triển, trường đã có rất nhiều thành tựu đáng kể,

đã tạo được nhiều công nhân, kỹ thuật viên các ngành Cơ khí, Điện, Tin học, Kế toán có tay nghề cao và có vị thế trong xã hội Để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhà trường có nhiệm vụ phải xây dựng một đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao, có trình độ tay nghề, phẩm chất đạo đức tốt, năng động, sáng tạo và làm chủ trên mọi lĩnh vực công tác Với lý do trên việc bồi dưỡng và nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên dạy thực hành là tất yếu, khách

quan và cấp thiết vì vậy việc nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng và các giải

pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên thực hành nghề Cơ khí chế tạo tại trường

Cao đẳng công nghiệp Việt – Hung” là cần thiết

2 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp thực hiện nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên dạy thực hành nghề tại trường Cao đẳng công nghiệp Việt – Hung để góp

phần nâng cao chất lượng giảng dạy

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên dạy thực hành nghề

- Khảo sát thực trạng trình độ đội ngũ giáo viên của trường Cao đẳng công nghiệp Việt – Hung

Trang 12

- Đưa ra các giải pháp bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên dạy thực hành nghề qua khảo sát

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Thực trạng đội ngũ giáo viên dạy thực hành nghề và một số các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên dạy thực hành nghề Cơ khí chế tạo tại trường Cao đẳng công nghiệp Việt – Hung

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tham khảo các tài liệu lý luận khoa học,

tạp chí, sách báo, kỉ yếu hội thảo

- Phương pháp điều tra, khảo sát: Bằng các phiếu thăm dò, tìm hiểu thực tế

- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo các ý kiến của các nhà quản lý, các

chuyên gia về giáo dục – đào tạo

- Phương pháp phân tích- tổng hợp: Thống kê các số liệu, phân tích và đánh

giá

6 Giả thiết khoa học

Căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tai, nếu các giải pháp này được chấp nhận và được thực hiện thì sẽ nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên dạy thực hành, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng công

nghiệp Việt – Hung

7 Dự kiến cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương được sắp xếp có quan hệ mật thiết với nhau đi từ cơ sở lý

thuyết đến cơ sở thực tiễn và giải pháp

Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo viên và yêu cầu bồi dưỡng nâng cao trình

độ cho đội ngũ giáo viên dạy nghề

Trang 13

Chương 2: Thực trạng đội ngũ giáo viên dạy thực hành nghề Cơ khí Chế tạo tại Trường Cao Đẳng công nghiệp Việt – Hung

Chương 3: Một số giải pháp bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên dạy thực hành nghề Cơ khí chế tạo tại Trường Cao Đẳng công nghiệp Việt – Hung

Trang 14

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO VIÊN VÀ YÊU CẦU BỒI DƯỠNG NÂNG CAO

TRÌNH ĐỘ CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY NGHỀ

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã đạt tốc độ tăng trưởng cao,

cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch mạnh mẽ Các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu chế xuất, các ngành kinh tế mũi nhọn ngày càng phát triển Đầu tư trong nước và quốc tế ngày càng tăng Kỹ thuật mới, công nghệ mới được đưa vào sản xuất ngày càng nhiều Điều đó đòi hỏi phải có nguồn nhân lực có chất lượng Cùng với những tác động của nhiều chính sách và giải pháp kinh tế – xã hội, cơ cấu nền kinh tế nước ta phát triển ngày càng năng động hơn Trong bối cảnh đó, đào tạo nghề cần có những đột phá mới, giảm thiểu tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu của thị trường lao động Đào tạo nghề không những cần tăng quy mô, đa dạng hoá các loại hình, mở rộng ngành nghề đào tạo mới nhằm đáp ứng nhu cầu chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động mà còn đặc biệt quan tâm tới chất lượng đào tạo cho

dù đào tạo ở loại hình nào Muốn làm được điều đó cần phát triển dạy nghề theo hướng tiêu chuẩn hoá, hiện đại hoá, tiếp cận trình độ khu vực và quốc tế Chúng ta cũng cần phải đồng thời thực hiện đồng bộ hệ thống các giải pháp về quy mô, cơ cấu ngành nghề, chất lượng đào tạo trong đó quan trọng nhất là xây dựng, nâng

cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề

Để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề hiện nay, công tác bồi dưỡng giáo viên là một vấn đề quan trọng, đã và đang được rất nhiều nhà khoa học

Trang 15

Năm 1991, Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục đã nghiên cứu đề tài “Mô hình bồi dưỡng giáo viên dạy nghề”, chủ yếu đề ra thực trạng mà chưa đề cập sâu

về cơ sở lý luận của công tác bồi dưỡng

Năm 1993, Bộ GD-ĐT đã xây dựng chương trình bồi dưỡng hè cho giáo viên dạy nghề, đồng thời còn có một số công trình nghiên cứu khác như: Đề tài KX 07-

14 do GS.TSKH Nguyễn Minh Đường chủ trì về vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới, trong đó đề cập hai vấn đề mới là cán bộ quản lý và giáo viên Cũng vào năm này đề tài B92-38-8 có tiêu đề “Nghiên cứu việc bồi dưỡng cán bộ giảng dạy đại học, Cao đẳng và giáo viên dạy nghề” do Phạm

Thành Nghị làm chủ nhiệm đã ra đời [10]

Tháng 3 năm 1999 tại Hà Nội đã có hội thảo và đào tạo bồi dưỡng giáo viên dạy nghề do Tổng cục dạy nghề tổ chức Hội thảo đã tập trung và nêu các biện pháp

xây dựng, phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề nói chung

Đề tài B99-52-36 “Xây dựng mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật có trình độ đại học cho các trường trung học chuyên nghiệp – dạy nghề” do PGS.TS.Nguyễn Đức Trí làm chủ nhiệm [18]

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Giáo viên và đội ngũ giáo viên:

a Giáo viên:

Theo cách hiểu thông thường GV là những người làm nghề dạy học, khái niệm này được dùng rất phổ biến trong đời sống xã hội và trong các văn bản pháp quy của nhà nước Một số khái niệm liên quan đến GV được định nghĩa như sau:

- Giáo viên: Người dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương

- Giảng viên: Tên gọi chung cho người làm công tác giảng dạy ở bậc đại học

và cao đẳng

Trang 16

Như vậy có thể hiểu “Giáo viên” là tên gọi chung đối với tất cả mọi người làm công tác giảng dạy ở các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân

Luật giáo dục ở nước ta đã có một chương về Nhà giáo, trong đó quy định Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác Nhà giáo ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp (bao gồm THCN và Dạy nghề) được gọi là Giáo viên Nhà giáo ở các cơ sở giáo dục Cao đẳng và Đại học được gọi là giảng viên [19]

b Đội ngũ giáo viên dạy nghề

Đội ngũ giáo viên dạy nghề là tập thể những người dạy lý thuyết, dạy thực hành hoặc vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành trong các cơ sở dạy nghề

1.2.2 Đào tạo, đào tạo lại, đào tạo tiếp theo và đào tạo người trưởng thành

a Đào tạo

Đào tạo là một trong những thuộc tính cơ bản của quá trình giáo dục, nó có phạm vi, cấp độ cấu trúc và những hạn định cụ thể về thời gian, nội dung và tính chất

Quá trình đào tạo thường được tiến hành trong các cơ sở trường, viện, trung tâm hoặc cơ sở sản xuất theo những mục tiêu, nội dung chương trình hoàn chỉnh và

có hệ thống cho mỗi khóa học, ứng dụng với thời gian xác định và thường được đánh giá để cấp bằng tốt nghiệp vào cuối khóa học

Như vậy có thể hiểu: Đào tạo là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển một cách có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ….để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân người học, tạo tiền đề cho

họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả [20]

b Đào tạo lại

Trong quá trình lao động, nhiều người không có khả năng thích ứng và phù hợp với nghề nghiệp đã được đào tạo trước kia, số khác thì không có khả năng kiếm

Trang 17

được việc làm đúng với nghề nghiệp mà mình đã được đào tạo, hoặc do những nguyên nhân khác, từ đó họ nảy sinh nhu cầu học một nghề mới cho phù hợp với khả năng, nguyện vọng, thích ứng với nhu cầu xã hội Việc đào tạo một nghề mới

để chuyển nghề cho những người đã được đào tạo một nghề trước đó được xem là đào tạo lại

Như vậy, có thể hiểu đào tạo lại là quá trình diễn ra sau khi người học đã học xong ít nhất một nghề trong các cơ sở đào tạo nghề Trên cơ sở kiến thức đã có của người học để phát triển các kiến thức trong lĩnh vực chuyên môn mới Kết thúc khóa đào tạo lại, người học có thể được cấp bằng tốt nghiệp hoặc chứng chỉ

Ngày nay khái niệm đào tạo lại đã khá phổ biến, quen thuộc với nhiều người Với sự tiến bộ vượt bậc của KH-KT, nhiều vị trí lao động của con người dần được thay thế bằng máy móc, việc thay đổi vị trí làm việc là điều dễ xảy ra, do vậy, đào tạo lại là một yêu cầu tất yếu, khách quan Việc phân biệt này phải dựa trên việc họ

có thay đổi vị trí làm việc, chuyển sang một ngành nghề mới hay không?

c Đào tạo tiếp theo

Đào tạo tiếp theo là một quan điểm xuất phát từ yêu cầu chuẩn bị cho các thành viên trong xã hội có khả năng thích ứng với những biến đổi thường xuyên và nhanh chóng của xã hội dưới tác động mạnh mẽ của những tiến bộ KH-KT Cũng như tất cả các loại hình lao động nghề nghiệp khác, lao động sư phạm của người giáo viên cũng thường xuyên thay đổi về nội dung, phương pháp để phù hợp với mục tiêu đào tạo trong điều kiện mới, nhất là những yêu cầu về đổi mới giáo dục Trong những năm gần đây đã xuất hiện các loại hình đào tạo mới, thay đổi và hiện đại hóa nội dung, trang thiết bị và phương tiện kỹ thuật mới Trong điều kiện đó vốn tri thức về kỹ năng cơ bản được đào tạo của người GVDN không theo kịp được yêu cầu và thực tiễn phát triển nghề nghiệp Vốn tri thức và kỹ năng cơ bản đó chỉ là nền tảng ban đầu để người GVDN tiếp tục bổ sung và hoàn thiện trong quá trình dạy học ở trường Việc gắn bó chặt chẽ, hữu cơ giữa đào tạo cơ bản với quá trình bồi dưỡng thường xuyên là xu hướng chính trong quá trình hoàn thiện công tác đào

Trang 18

tạo và bồi dưỡng của GVDN ở tất cả các mặt Trong quá trình đó nếu người GV vì một lý do nào đó không tham gia vào quá trình học tập bồi dưỡng, không tự rèn luyện năng lực và phẩm chất nghề nghiệp thì coi như từ bỏ trách nhiệm làm GVDN Việc nâng cao trình độ nghề nghiệp GV thường tập trung vào các mặt sau:

- Trình độ hiểu biết về khoa học, công nghệ đáp ứng những tiến bộ hiện nay

- Trình độ sử dụng các phương tiện dạy học

- Tri thức xã hội, trình độ tâm lý học và sư phạm phù howpjvowis GVDN

- Phương pháp và khả năng tự học, tự rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp

Để bồi dưỡng thường xuyên cho GV, ở nước ta cũng như ở nhiều nước khác

đã thành lập các cơ sở chuyên trách như: Trường bồi dưỡng GV, trung tâm bồi dưỡng GV, trung tâm nghiên cứu phương pháp và bồi dưỡng GV.v.v việc tổ chức bồi dưỡng GV có nội dung và hình thức rất đa dạng

d Đào tạo người trưởng thành

Công tác bồi dưỡng GVDN liên quan đến phạm trù giáo dục đào tạo cho người lớn với những đặc trưng cơ bản Người lớn học những điều xuất phát từ yêu cầu thiết thực trong cuộc sống của họ nhằm đạt các mục đích khác nhau như: thay đổi địa vị trong xã hội, nâng cao chất lượng công việc, đổi nghề.v.v Đó là những nguyên nhân và động cơ trực tiếp của việc học này Họ biểu lộ cách học rất đa dạng

và bằng nhiều cách học khác nhau Tuy nhiên, họ cần tập trung vào các vấn đề có ý nghĩa thiết thực với cuộc sống và kết quả học tập có tác dụng ngay Kinh nghiệm học tập của quá khứ tác động đến việc học tập hiện tại, có lúc thúc đẩy và có khi làm cản trở

Cuối cùng thì người lớn bộc lộ một xu hướng tự chỉ đạo mình trong quá trình học “Đối tượng giáo dục người lớn là những người đã trưởng thành về mặt sinh học và xã hội, họ có những hoàn cảnh khác biệt về bản thân, gia đình, điều kiện sống, khả năng, nhu cầu, nguyện vọng… và đặc biệt là có vốn sống nhất định về cuộc sống và nghề nghiệp xã hội” [14]

Trang 19

Quá trình giáo dục bồi dưỡng người lớn phải xuất phát từ nhu cầu và đặc điểm của người học, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người học thỏa mãn nhu cầu giáo dục của họ trong những vấn đề thiết thực và cụ thể Do vậy các chương trình bồi dưỡng cho người lớn phải thiết thực, phù hợp với nhu cầu nhận thức và với hình thức đa dạng, để phát huy vốn kiến thức và kinh nghiệm của họ, việc bồi dưỡng cho người lớn cần chú ý:

- Tạo môi trường hỗ trợ cho việc học tập

- Khẳng định được việc đã sẵn sàng học và có lý do cho việc học

- Sử dụng kinh nghiệm và kiến thức của người học

- Tích cực lôi cuốn người học vào các hoạt động

- Những người lớn khó tiếp thu những kiến thức mang tính ghi nhớ, bắt chước, tuy nhiên họ có thể vận dụng kinh nghiệm bản thân cho việc tư duy

1.2.3 Bồi dưỡng

Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của KH-CN, đặc biệt là công nghệ thông tin, thì trong quá trình hoạt động nghề nghiệp, người ta phải thường xuyên cập nhật những kiến thức mới, tiếp cận với các lĩnh vực khoa học mới, nâng cao trình độ, phù hợp với yêu cầu của công việc Quá trình học tập nhằm cập nhật, bổ sung những kiến thức còn thiếu ở các bậc học nhằm nâng cao trình độ về chuyên môn nghiệp vụ, hoạt động nghề nghiệp thì được gọi là bồi dưỡng

Mục đích của bồi dưỡng là nâng cao phẩm chất, năng lực làm việc để người lao động có cơ hội củng cố, mở rộng và nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, chuyên môn nghiệp vụ đã có nhằm đạt hiệu quả công việc cao hơn những công việc đang đảm trách, chứ không phải để mục đích đổi nghề

Theo kiến nghị của các chuyên gia, có thể phân biệt các khái niệm theo các tiêu chí sau [1]

Trang 20

Bảng 1.1 Phân biệt đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại theo các tiêu chí Tiêu chí phân loại Đào tạo Bồi dưỡng Đào tạo lại

Bằng hoặc chứng chỉ

1.3 Cơ sở lý luận về giáo viên dạy nghề

1.3.1 Dạy học là một nghề xã hội

Hiện nay mọi người đều nhận thức dạy học là một nghề khó khăn, phức tạp, mang tính khoa học, sáng tạo và nghệ thuật Công việc của giáo viên không chỉ đơn thuần là chuẩn bị, thực hiện và đánh giá chất lượng bài giảng, mà luôn phải thay đổi nội dung và phương pháp để thực hiện việc dạy nghề theo kịp sự phát triển và đổi mới của công nghệ Chính vì lẽ đó mà nghề dạy học được cả xã hội trân trọng

1.3.2 Đòi hỏi của người giáo viên dạy nghề trong nền giáo dục hiện đại

Trong một xã hội nông nghiệp với nền văn minh nông nghiệp, trình độ dân trí thấp, khoa học kỹ thuật chưa phát triển, thầy giáo chiếm vai trò trọng tâm, độc quyền trong việc truyền đạt tri thức Mọi hoạt động giáo dục đều xuất phát từ người thầy và thông qua người thầy mà học sinh nắm được các tri thức về tự nhiên, xã hội Trong điều kiện đó chức năng truyền thụ tri thức, kinh nghiệm trở thành chức năng

cơ bản của người GV trong nhà trường và GV là trung tâm của quá trình giáo dục Ngày nay với sự tác động mạnh của khoa học – công nghệ và khoa học giáo dục; vai trò, vị trí, chức năng của nhà trường nói chung và của thầy giáo nói riêng

đã thay đổi cơ bản Vị trí trung tâm của quá trình giáo dục - đào tạo được chuyển từ

GV sang người học Người học có thể khai thác thông tin, kiến thức bằng nhiều

Trang 21

hình thức khác nhau, có thể ở trong trường, ngoài trường Vì vậy người giáo viên không chỉ làm nhiệm vụ truyền kiến thức (mặc dù đây vẫn là chức năng quan trọng nhất) mà còn dạy học sinh cách học, cách tiếp nhận, sàng lọc và sử dụng kiến thức Giáo viên không chỉ đào tạo ra người có năng lực chuyên môn giỏi, mà còn phải cho họ khả năng tư duy sáng tạo và thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của KH-

KT và đời sống xã hội hiện đại Chính điều đó tạo ra cho học sinh năng lực thích ứng với công việc khi ra trường và khả năng tự học suốt đời (để theo kịp sự phát triển của khoa học kỹ thuật) Các tình huống trong thực tế đời sống rất đa dạng, vì vậy chức năng của người GV phải tổ chức và điều khiển các hoạt động giáo dục, hoạt động dạy học để hướng tới mục tiêu hình thành và bồi dưỡng nhân cách cho

HS Ngoài ra nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng ngày càng trở nên một trong những chức năng quan trọng của người giáo viên trong bối cảnh hiện nay Trong xã hội hiện đại những biến đổi nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công nghệ đòi hỏi người GV thường xuyên học hỏi tiếp cận và nắm bắt để mở rộng vốn tri thức, nâng cao năng lực nghề nghiệp, tích lũy kinh nghiệm và ứng dụng tiến bộ

kỹ thuật trong lĩnh vực chuyên môn của mình

Theo UNESCO vai trò của GV thay đổi theo các hướng chủ yếu sau đây [18]:

- Chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học của HS, sử dụng đến mức tối đa những nguồn tri thức trong xã hội

- Đảm nhiệm nhiều chức năng hơn so với trước, có trách nhiệm lớn hơn trong việc lựa chọn nội dung dạy học và giáo dục

- Coi trọng cá biệt hóa trong học tập, thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò

- Yêu cầu rộng rãi hơn những phương tiện dạy học hiện đại, do đó cần trang bị thêm những kiến thức và kỹ năng cần thiết

- Yêu cầu hợp tác rộng rãi và chặt chẽ hơn với các giáo viên cùng trường, thay đổi cấu trúc trong mối quan hệ giữa các GV với nhau

Trang 22

- Yêu cầu thắt chặt hơn mối quan hệ với cha mẹ học sinh và cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống

- Yêu cầu GV tham gia các hoạt động rộng rãi ngoài nhà trường

- Giảm bớt và thay đổi mối quan hệ thầy – trò theo kiểu truyền thống

Chính những yêu cầu mới đó đòi hỏi GVDN không chỉ dừng lại ở kiến thức về

lý thuyết và thực hành chuyên môn giỏi mà còn cần có những hiểu biết sâu sắc về những lĩnh vực khác nhau như xã hội học, kinh tế, chính trị, tâm lý và đặc biệt là khoa học giáo dục…

Quá trình thay đổi vai trò của người dạy và người học thể hện ở bảng sau:

Bảng 1.2: Vai trò của GV và HS đối với các loại hình dạy học

Loại hình dạy học Vai trò của GV Vai trò của HS

- Dựa trên việc cung cấp

tri thức - Cung cấp và kiểm tra - Thu nhận

- Tự thu nhận và giải quyết vấn đề

- Theo vấn đề của HS

- Trao đổi kinh nghiệm

- Giúp HS giải quyết vấn

đề

- Nhận dạng vấn đề

- Tự giải quyết vấn đề, đánh giá kết quả

- Theo hoàn cảnh người

Trang 23

thông tin, điện tử viễn thông trong mọi lĩnh vực, cho phép mọi người tiếp cận, khai thác một khối lượng kiến thức khổng lồ và đa dạng trên các mạng thông tin (đặc biệt là mạng thông tin về Internet)

Chính điều này đòi hỏi GVDN phải có hiểu biết mới về vị trí kiến thức của mình: Từ chỗ họ là trung tâm của quá trình dạy – học, là độc tôn của việc truyền thụ kiến thức sang vị trí cố vấn cho quá trình lĩnh hội tri thức của HS Rõ ràng ở cương

vị mới này, người GVDN cần “chất xám” hơn là sức lực, khối lượng kiến thức đòi hỏi ở họ không chỉ dừng lại ở một lĩnh vực chuyên môn hẹp mà cần có những hiểu biết rộng về nhiều lĩnh vực khác nhau của khoa học giáo dục, khoa học xã hội, các lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác như công nghệ thông tin, ngoại ngữ vv…

Họ cần dạy cho HS cách học, cách sàng lọc thông tin bổ ích, loại bỏ thông tin không cần thiết, tạo tiềm năng cho HS “tự học suốt đời”, hơn là trang bị vài “miếng

võ “ nghề nghiệp cụ thể Có như vậy HS khi ra trường mới thích ứng được sự thay đổi công việc Chính những thay đổi ấy đòi hỏi phải nâng cao trình độ đội ngũ GVDN, đặc biệt cần coi trọng hình thức bồi dưỡng thường xuyên, tự bồi dưỡng, đa dạng hình thức bồi dưỡng nhằm đạt được hệ thống tri thức và kỹ năng cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của họ UNESCO cũng chỉ ra “thầy giáo phải iêđược đào tạo

để trở thành nhà giáo dục nhiều hơn là người chuyên gia truyền đạt kiến thức” và

“chương trình đào tạo bồi dưỡng GV cần triệt để, sử dụng các thiết bị và phương pháp dạy học tốt nhất” [18] Có thể nói rằng, trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình phát triển xã hội nói chung và phát triển giáo dục nói riêng, vai trò, vị trí của người giáo viên luôn được coi trọng Những thay đổi theo xu thế phát triển xã hội

đã không giảm đi vai trò, vị trí mà ngược lại làm tăng thêm vị thế của họ cùng với

sự phát triển xã hội

1.4 Quy định tiêu chuẩn giáo viên dạy nghề Việt Nam

Xuất phát từ nhu cầu chuẩn hóa và nâng cao trình độ GVDN, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng với đòi hỏi của xã hội, ngày 8/6/1994 Bộ Trưởng – Trưởng ban Tổ chức cán bộ chính phủ đã ban hành quyết định 202/TCCB-VC về

Trang 24

tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức ngành giáo dục và đào tạo để chuẩn hóa GVDN Tiếp đó kỳ họp thứ 4 (từ ngày 28 tháng 10 đến ngày 02 tháng 12 năm 1998) Quốc hội khóa VIII; Nghị định số 43/2000/NĐ-CP của chính phủ; Nghị định số 02/2001/ND-COMPOSITE của chính phủ đã quy định một số tiêu chuẩn có tính chất chung đối với GVDN như sau:

Theo tiêu chuẩn của ngạch công chức ngành giáo dục và đào tạo, GV làm công tác giảng dạy trong các trường dạy nghề được chia thành 3 cấp:

- Giáo viên dạy nghề

- Giáo viên chính dạy nghề

- Giáo viên cao cấp dạy nghề

Sự khác nhau cơ bản giữa các cấp chính danh là trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ sư phạm, khả năng dạy thực hành và lý thuyết cũng như các nhiệm vụ khác: biên soạn giáo trình, nghiên cứu khoa học sư phạm, quản lý…

Tiêu chuẩn về chuyên môn nghề nghiệp của GVDN có các cấp trình độ khác nhau:

* Đối với giáo viên chính nghề: Chưa có quy định chuẩn

* Đối với GV cao cấp dạy nghề

Trang 25

- Có chứng chỉ bồi dưỡng sau đại học và có tay nghề hướng dẫn học sinh theo yêu cầu đào tạo tay nghề của trường

- Có chứng chỉ sư phạm dạy nghề bậc II theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Có chứng chỉ lý luận Mác- Lê Nin, chương trình bồi dưỡng sau đại học

- Có thâm niên dạy nghề tối thiểu là 9 năm

- Có những công trình khoa học cải tiến giảng dạy được ngành công nhận

- Có chứng chỉ trình độ C về một ngoại ngữ thông dụng

Người GVDN muốn trở thành giáo viên cao cấp dạy nghề phải có sự phấn đấu vươn lên toàn diện về cả trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, cả về trình độ

lý thuyết và năng lực thực hành để có thể giảng dạy tốt cả hai lĩnh vực đó

Điều đó có nghĩa là ở cấp “ giáo viên dạy nghề” người thầy vừa có chất xám vừa có bàn tay vàng Đòi hỏi đó đặt ra yêu cầu đối với GV muốn chuyển cấp trình

độ phải phấn đấu rèn luyện để thay đổi hẳn về chất

Như vậy GVDN có chứng chỉ trình độ sau đại học phải phấn đấu rèn luyện tay nghề đáp ứng được yêu cầu dạy nghề, ngược lại những GVDN có trình độ tay nghề đáp ứng được yêu cầu đào tạo nhưng thiếu về trình độ lý thuyết chuyên môn phải phấn đấu để có chứng chỉ sau đại học Đạt được hai tiêu chí cơ bản trên, cùng với những đòi hỏi khác theo yêu cầu của trình độ chức danh mới công nhận là “Giáo viên cao cấp dạy nghề” Những đòi hỏi của tiêu chí chức danh có tác dụng kích thích mọi GVDN đều phải học tập thường xuyên, tự nâng cao trình độ Về nghiệp

vụ sư phạm, tiêu chuẩn chức danh giáo viên đòi hỏi phải nâng cao dần hiểu biết các

kỹ năng sư phạm, ở cấp đầu tiên của chức danh thực chất là thời kỳ rèn luyện nghiệp vụ sư phạm để hình thành các kỹ năng, ở cấp giáo viên cao cấp dạy nghề kỹ năng sư phạm đã phát triển và ở trình độ cao Với trình độ đó người giáo viên dạy nghề có khả năng làm chủ các đề tài khoa học ở cấp nhà nước, biên soạn những giáo trình môn học sử dụng rộng rãi trong toàn ngành, giảng dạy có chất lượng cao

Trang 26

về cả lý thuyêt và thực hành nghề Ngoại ngữ đạt trình độ C giúp họ có khả năng đọc được những tài liệu và giao tiếp với người nước ngoài, phục vụ cho việc nghiên cứu hoàn thiện quá trình dạy học thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình Nhờ đó GV cao cấp dạy nghề có thể trở thành chuyên gia về dạy nghề

Tóm lại: Những yêu cầu về tiêu chuẩn chức danh chính là chuẩn trình độ ở cấp

giúp cho GVDN có mốc để rèn luyện phấn đấu trong từng thời gian Nó cũng là cơ

sở để nhà trường lập kế hoạch bồi dưỡng GV hàng năm nhằm không ngừng nâng cao trình độ đội ngũ GV để đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của xã hội và người học, góp phần quyết định vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực cho đất nước trong những năm tới, tuy nhiên đứng về góc độ khoa học mà nhìn nhận thì tiêu chuẩn chức danh dạy nghề có những hạn chế sau đây:

- Mâu thuẫn giữa chức trách và nhiệm vụ của GVDN:

Thực chất dạy nghề là dạy kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cho học sinh Muốn đạt được mục đích đó trước hết người GVDN phải có kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp

ở trình độ cao mới có thể đào tạo ra được người công nhân lành nghề Đây chính là đặc thù của dạy nghề so với các hệ thống đào tạo khác mà tiêu chuẩn hóa trình độ phải tính đến Muốn đào tạo người thợ giỏi nhất thiết phải sử dụng đội ngũ GV có tay nghề cao hơn chứ không nhất thiết sử dụng đội ngũ GV có trình độ lý thuyết cao Trên thực tế, trong các trường dạy nghề, số lượng GV cấp cao dạy nghề ít hơn nhiều so với GVDN Căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh đã ban hành thì số GVDN chỉ có thể đảm đương được dạy lý thuyết nghề, điều này dẫn đến nghịch lý là GV cao cấp dạy nghề có trình độ đại học và sau đại học buộc phải dạy thực hành nghề

và GVDN có trình độ trung cấp phải dạy lý thuyết nghề Mâu thuẫn giữa năng lực của GVDN và sự phân công sẽ làm hạn chế tới chất lượng đào tạo

Như vậy theo chúng tôi, tiêu chuẩn GV cao cấp dạy nghề phải có trình độ đại học và nhất thiết phải có tay nghề ở bậc cao (nghệ nhân) “không nhất thiết phải có chứng chỉ sau đại học” như thế mới phản ánh được đặc thù của dạy nghề và đào tạo được đội ngũ công nhân lành nghề có chất lượng cao

Trang 27

- Khái niệm bồi dưỡng sau đại học chưa rõ ràng: Một số vấn đề chưa rõ ràng trong tiêu chuẩn Chức danh đối với GV cao cấp dạy nghề (không ghi rõ yêu cầu về văn bằng và phạm trù thuật ngữ “bồi dưỡng sau đại học” chưa rõ ràng), mỗi người hiểu theo một góc độ khác nhau, thực tế hiện nay cũng chưa nơi nào cấp chứng chỉ sau đại học

- Chức danh GVDN chỉ có hai cấp trình độ: Trong chức danh nghiệp vụ ngạch công chức ngành giáo dục và đào tạo thì GVDN chỉ có hai cấp trình độ (GV dạy nghề và GV cao cấp dạy nghề) Việc chia trình độ GVDN chỉ có hai cấp sẽ không phù hợp với cơ cấu phân bố đội ngũ giáo viên trong một trường Danh giới giữa GVDN với GV cao cấp dạy nghề quá rộng không có cấp chuyển đổi làm hạn chế quá trình phấn đấu vươn lên của đội ngũ GVDN Nhiều GV có trình độ ở mức trung gian để ở cấp GVDN thì thiệt thòi cho họ, đưa lên GV cao cấp thì còn chưa đủ điều kiện, những vấn đề bất hợp lý trong chức danh đã được GV nhiều trường phản ánh,

đề nghị Bộ GD&ĐT nhận thấy những ý kiến đề nghị của GV là hợp lý nên vẫn kiên trì với nhà nước xem xét, sửa đổi chức danh của GVDN theo ba cấp trình độ cho phù hợp với cơ cấu phân bố trình độ đội ngũ GV trong các trường để kích thích quá trình phấn đấu đi lên của từng người GVDN

1.5 Những vấn đề mới đặt ra đối với hệ thống dạy nghề

1.5.1 Sơ lược về hệ thống dạy nghề Việt Nam

Hệ thống dạy nghề Việt Nam chính thức ra đời vào năm 1960 với tên: “Tổng cục đào tạo công nhân kỹ thuật” do Bộ LĐ-TB&XH quản lý Đến năm 1978 Tổng cục đào tạo công nhân kỹ thuật được tách ra khỏi Bộ LĐ-TB&XH và được đổi tên thành Tổng cục Dạy nghề trực thuộc Chính Phủ Năm 1978 Tổng cục Dạy nghề được sát nhập vào Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề Năm 1998 Tổng cục Dạy nghề được tái lập nhưng trực thuộc Bộ LĐ-TB&XH

Trong quá trình ra đời và phát triển, hệ thống dạy nghề ở Việt Nam có những bước thăng trầm rất khác nhau Thời kỳ được đánh giá cao nhất chính là giai đoạn

hệ thống dạy nghề chịu sự quản lý trực tiếp của Tổng cục Dạy nghề trực thuộc

Trang 28

Chính phủ Trước khi hệ thống dạy nghề được giao cho Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề quản lý có tất cả 266 trường, nhưng cho đến khi giao lại cho Bộ LĐ-TB&XH quản lý vào năm 1998 thì hệ thống Dạy nghề chỉ còn lại

192 trường (theo báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch đào tạo nghề 1996-2000 và

kế hoạch đào tạo nghề 2001-2005 Tổng cục Dạy nghề)

Đến nay mạng lưới dạy nghề có 2.050 cơ sở, trong đó có 55 trường cao đẳng nghề, 242 trường trung cấp nghề (72 trường tư thục), 632 trung tâm dạy nghề và hàng ngàn cơ sở khác có dạy nghề Với mục tiêu: “Đào tạo nghề và định hướng đào tạo nghề theo nhu cầu tại Việt Nam được cải thiện và phát triển bền vững”, Bộ LĐ-

TB & XH/Tổng Cục dạy nghề đã đề nghị GTZ hỗ trợ đáng kể trong xây dựng Chiến lược Phát triển Dạy nghề giai đoạn 2010 – 2020 (dự báo đến năm 2025) Trong các phiên tư vấn, bao gồm cả các chuyên gia quốc tế, tất cả các đối tác được khuyến khích và tiếp tục thảo luận các cuộc thảo luận tiếp theo của các cơ quan có liên quan

về đào tạo nghề của Việt Nam về sự tham gia của các doanh nghiệp vào điều tiết, xây dựng chương trình đào tạo và tổ chức đào tạo nghề

Qua các dịch vụ tư vấn, các đối tác phía Việt Nam được hỗ trợ trong phát triển một đề án hợp tác theo yêu cầu giữa các trường đào tạo nghề và các doanh nghiệp,

và một đề án về cấp tài chính cho đào tạo nghề Chính vì vậy, bước đầu tiên đã được thực hiện nhằm phân tích những cơ chế, những thách thức và những phương hướng hành động hiện nay Sau đó, những đề xuất cho các hoạt động tiếp theo đã được đưa ra Trong các cuộc hội thảo, các đối tác liên quan của Tổng cục Dạy nghề, các bộ, các trường đào tạo nghề và của các doanh nghiệp đã cùng các chuyên gia quốc tế thảo luận về kinh nghiệm của quốc tế và Việt Nam Hiện tại, Dự án đang chuẩn bị triển khai một nghiên cứu tiếp theo nhằm phân tích cơ cấu chi phí và các

cơ chế cấp tài chính cho đào tạo nghề

Đầu năm 2009, một thỏa thuận hợp tác đã được ký kết giữa GTZ, Hội Dạy nghề Việt Nam và Tổng cục Dạy nghề Theo văn kiện này, các bên đã đạt được thỏa thuận về những

nỗ lực chung nhằm hỗ trợ hợp tác giữa các trường đào tạo nghề và các doanh nghiệp (trong

Trang 29

đó có các cơ chế cấp tài chính) cũng như hỗ trợ công tác quảng bá cho dạy và đào tạo nghề, một trọng tâm của hợp tác

1.5.2 Một số nét kinh tế xã hội Việt Nam

Hiện nay nước ta đang trong thời kỳ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, thực hiện công nghiệp hóa nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Muốn tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển GD-ĐT, phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững Đồng thời chúng ta đã xác định mục tiêu chung của sự phát triển GD-ĐT là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu

đó nhằm tạo ra cho mọi người một khả năng lao động ở trình độ cao Sử dụng sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp, tiến bộ khoa học và công nghệ tạo ra năng suất lao động cao

Khả năng lao động mới đó, được tạo ra từ những con người gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có trách nhiệm xây dựng và bảo vệ tổ quốc, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo và

kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật, có sức khỏe và là những người thừa kế xây dựng Chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa

“chuyên” [3]

1.5.3 Phát triển giáo dục nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Cơ chế thị trường đã tạo ra động lực mới cho sự phát triển xã hội cũng như phát triển GD-ĐT, tuy nhiên nó cũng gây ra không ít khó khăn cho giáo dục nghề nghiệp Mặc dù các trường dạy nghề đã có bước đầu thích ứng, song còn xoay

quanh việc tiếp cận có hiệu quả với sự biến động, thể hiện qua các quy luật sau:

Trang 30

+ Quy luật giá trị: Nhà trường cần lấy chất lượng đào tạo là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển, đồng thởi phải hiểu đào tạo kỹ thuật nghề nghiệp cho HS là tạo điều kiện cho họ thâm nhập vào thị trường lao động Vì vậy người GVDN phải liên tục phấn đấu để đào tạo ra đội ngũ lao động kỹ thuật với chất lượng cao

+ Quy luật cung cầu: Cần mềm dẻo trong quá trình đào tạo và thích ứng nhanh, đáp ứng trình độ, số lượng và loại hình lao ddoongj theo kịp thời gian mà thị trường yêu cầu vì vậy nhà trường cần tìm hiểu thị trường đầu vào, đầu ra thông qua hội nghị khách hàng Thị trường lao động luôn biến động đòi hỏi sự đa dạng về ngành nghề đào tạo, cơ sở đào tạo phải năng động theo kịp và đón đầu những biến động để có hướng đi đúng

+ Quy luật cạnh tranh: Trong cơ chế thị trường, dù là thị trường có sự quản lý của nhà nước, sự cạnh tranh đang tác động đến nhà trường và từng GV, cạnh tranh trong tuyển sinh, trong ngành nghề đào tạo Vì vậy nắm bắt thị trường đầu ra tăng cường tính hiệu quả và chất lượng đào tạo là yếu tố quan trọng hàng đầu của cơ sở đào tạo nghề

1.5.4 Sự mở rộng và hội nhập quốc tế

Đây là điều kiện rất thuận lợi cho giáo dục nghề nghiệp, bởi vì cùng với

việc đầu tư vốn vào Việt Nam, các doanh nghiệp nước ngoài cần tuyển dụng một lực lượng lao động kỹ thuật trong nước (tăng cơ hội tìm kiếm việc làm cho HS khi

ra trường) đồng thời, trong mấy năm qua nhiều tổ chức quốc tế đã có các dự án cho đào tạo nghề như: Dự án đào tạo nghề của Hàn Quốc, CHLB Đức, Thụy Điển và Ngân hàng Châu Á.v.v…Sự hội nhập trong GD-ĐT đã tạo điều kiện cho chúng ta tiếp cận với nền giáo dục tiên tiến của các nước và có cơ hội tiếp thu kinh nghiệm

và phương tiện cho nghiên cứu khoa học

1.5.5 Ảnh hưởng của sự phát triển khoa học kỹ thuật và khoa học giáo dục nghề nghiệp

Sự phát triển của khoa học kỹ thuật công nghệ làm thay đổi cơ cấu ngành nghề

Trang 31

trong xã hội, đòi hỏi GD-ĐT điều chỉnh cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo cho phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế Vì vậy ngành GD-ĐT cần xem xét lại danh mục nghề đào tạo, loại bỏ những ngành nghề không còn nhu cầu và bổ sung những ngành nghề mới do đó các trường dạy nghề cần nắm bắt để triển khai kế hoạch bồi dưỡng cho GV

Sự phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ đòi hỏi thay đổi phương pháp đào tạo: Để truyền đạt có hiệu quả cao một khối lượng kiến thức lớn do sự phát triển khoa học và công nghệ mang lại, phương pháp dạy học không thể giữ nguyên một mẫu cứng nhắc theo lối mòn, mà cần đổi mới và đa dạng hóa, được lựa chọn hợp lý, phù hợp với mục tiêu, nội dung thời gian, trình độ người học Sự phát triển KH-KT và công nghệ mang lại cho GD-ĐT nhiều phương tiện dạy học hiện đại Ảnh hưởng của khoa học giáo dục nghề nghiệp: Khoa học nghề nghiệp là lĩnh vực còn mới ở nước ta, nhưng đã từng bước phát triển trong những năm gần đây, nó tạo cơ sở lý luận cho sự phát triển của giáo dục nghề nghiệp trong thời gian tới Ngày nay lĩnh vực KH-GD nghề nghiệp đang có những bước tiến mạnh mẽ tập trung vào các xu thế sau: Đa dạng hóa mục tiêu và nội dung đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại

Đối với giáo dục nghề nghiệp: việc lựa chọn và đổi mới, thường xuyên hiện đại hóa nội dung đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại được đặt ra hết sức cần thiết Đối với từng quốc gia, tùy thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội mà lựa chọn

và đổi mới, thường xuyên hiện đại hóa nội dung đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại Tùy thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội mà lựa chọn các mũi nhọn công nghệ, trên cơ sở đó phát triển chiến lược GD-ĐT phù hợp với đón đầu

Để hiện đại hóa nội dung, đảm bảo khả thi về thời gian và trình độ người học, người ta coi trọng việc tích hợp hóa nội dung đào tạo nhằm hình thành các liên môn, tích hợp nhiều kỹ thuật tạo ra nghề có diện rộng, tích hợp lý thuyết và thực hành.v.v

Trang 32

Phát triển các phương pháp đào tạo theo quan điểm mới, cách tiếp cận mới, được cải cách theo các hướng sau:

+ Cá thể hóa dạy nghề: Quá trình đào tạo này được thực hiện nhằm tạo điều kiện cho HS chủ động, sáng tạo học tập theo kiểu GV nêu vấn đề hoặc đặt tình huống trong giảng dạy Bên cạnh việc sử dụng phương tiện đơn giản, giáo viên cần kết hợp các phương tiện kỹ thuật nghe nhìn trong dạy học như: Video, máy chiếu, máy tính điện tử, thiết bị đa phương tiện

+ Liên kết đào tạo sản xuất: Quá trình đào tạo được tiến hành với sự liên kết chặt chẽ giữa nhà trường và cơ sở sản xuất Bằng cách đưa sản xuất vào trong nhà trường hoặc đưa đào tạo nghề ra ngoài cơ sở sản xuất xã hội Kết quả của hai quá trình đó làm nâng cao chất lượng sản phẩm và người học có thể thích nghi ngay với quá trình làm việc sau khi ra trường Giải quyết quá trình dạy nghề theo xu hướng này làm xuất hiện cả liên hiệp sản xuất- nghiên cứu- đào tạo, đặc biệt coi trọng việc đào tạo nghề và bồi dưỡng tại cơ sở sản xuất

+ Dân chủ hóa trong giáo dục nghề nghiệp: Đảm bảo cho mọi người đều có điều kiện học và phát triển vào bất cứ thời gian, trình độ nào theo yêu cầu người học

+ Đẩy mạnh sự liên thông giữa đào tạo nghề, đào tạo cao đẳng và đại học

1.6 Những đặc thù và yêu cầu của giáo viên dạy nghề Cơ khí chế tạo

1.6.1 Mục tiêu đào tạo công nhân nghề Cơ khí chế tạo

a Kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp

- Kiến thức:

+ Có các kiến thức cơ bản về công nghệ Chế tạo cơ khí để vận dụng một cách sáng tạo vào việc chế tạo cơ khí, các vật liệu sử dụng trong cơ khí chế tạo, xác định được các phương pháp chế tạo thiết bị cơ khí, thiết kế được quy trình chế tạo thiết

bị cơ khí và các công việc khác của nghề Cơ khí chế tạo

Trang 33

- Kỹ năng:

+ Tính toán và gia công chế tao được các thiết bị cơ khí theo đúng quy trình công nghệ bằng các phương pháp kỹ thuật cơ bản, đảm bảo tính chính xác, tính thẩm mỹ, tiết kiệm và an toàn

+ Có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm: có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe; có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn

b Chính trị, đạo đức; thể chất và quốc phòng

- Chính trị, đạo đức:

+ Có hiểu biết một số kiến thức phổ thông về chủ nghĩa Mác-Lênin, hiến pháp, pháp luật và lao động Nắm vững quyền và nghĩa vụ của người công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

+ Có hiểu biết về đường lối phát triển kinh tế của Đảng, truyền thống của giai cấp công nhân Việt Nam, phát huy truyền thống của giai cấp công nhân Việt Nam nói chung và của người thợ Cơ khí chế tạo nói riêng

+ Có khả năng làm việc độc lập, theo nhóm, sáng tạo ứng dụng kỹ thuật công nghệ vào công việc, giải quyết các tình huống kỹ thuật phức tạp trong thực tế + Có đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp nhằm tạo điều kiện sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn

Trang 34

1.6.2 Đặc thù của GVDN ngành Cơ khí chế tạo

Bên cạnh những nét chung của người GVDN, người GV dạy nghề Cơ khí chế tạo còn phải thường xuyên bồi dưỡng kiến thức công nghệ mới Ngoài công việc khai thác và chế tạo sửa chữa các thiết bị trong lĩnh vực này, người công nhân đòi hỏi còn phải nắm vững lý thuyết chuyên môn mới có thể thực hành nghề được (bởi

vì giữa lý thuyết và thực hành trong lĩnh vực này có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, là điều kiện không thể thiếu để có thể hiểu được bản chất của vấn đề) Vì vậy theo các chuyên gia dạy nghề trong lĩnh vực nghề Cơ khí chế tạo máy, người

GV dạy nghề cần có cả năng lực về lý thuyết và năng lực kỹ năng kỹ xảo thực hành thì mới có khả năng giảng dạy Bởi công việc của họ có thể mô tả như sau:

Sơ đồ1.1: Sơ đồ mô tả công việc dạy lý thuyết của GVDN ngành Cơ khí chế tạo

Sơ đồ1.2: Sơ đồ mô tả công việc dạy thực hành của GVDN ngành Cơ khí chế

HS chuyển hóa trong quá trình thực hành

Tạo cho HS có khả năng thực hành và có tư duy kỹ thuật Truyền thụ

Hình thành tay nghề cho HS, phát triển năng lực tư duy độc lập mới trong kỹ thuật

Truyền thụ

GV xử lý

những vấn đề

trong thực hành

Trang 35

1.7 Những căn cứ và nguyên tắc tiến hành quá trình bồi dưỡng nâng cao trình

độ đội ngũ giáo viên dạy nghề

1.7.1 Những căn cứ

- Căn cứ vào thực trạng đội ngũ GVDN

- Căn cứ vào điều kiện thực tế để lựa chọn hình thức bồi dưỡng phù hợp

- Căn cứ vào yêu cầu chuẩn hóa GVDN của bộ, ngành và yêu cầu của nhà trường

1.7.2 Những nguyên tắc

- Nguyên tắc học tập suốt đời trong quá trình làm việc để theo kịp và đón đầu

sự phát triển của khoa học kỹ thuật

- Nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo và bồi dưỡng

- Nguyên tắc nghĩa vụ và trách nhiệm trong công tác bồi dưỡng GVDN đối với nhà trường, nhằm phát huy năng lực tự bồi dưỡng và tạo kinh phí cho quá trình bồi dưỡng

- Bồi dưỡng phải nhằm phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của nhà trường trong giai đoạn hiện tại và tương lai

- Dựa trên nguyện vọng cá nhân và yêu cầu hoàn thành nhiệm vụ của người GVDN mà nhà trường và xã hội đòi hỏi ở họ

- Đảm bảo bồi dưỡng đúng đối tượng

- Lựa chọn nội dung phù hợp với trình độ người học

- Lựa chọn nội dung bồi dưỡng cần thiết cho nhiệm vụ của người GVDN

Trang 36

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY THỰC HÀNH NGHỀ CƠ KHÍ CHẾ TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP VIỆT-HUNG 2.1 Một số nét về sự phát triển của Trường Cao Đẳng công nghiệp Việt – Hung

Trường Cao đẳng công nghiệp Việt – Hung nằm cách thủ đô Hà Nội 50 km về phía Tây, thuộc địa bàn phường Xuân Khanh, Thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội Trước kia trường là một đơn vị thực thuộc Bộ Công nghiệp, nay trường trực thuộc

Bộ công thương Ngày 30 tháng 5 năm 1977, Bộ Cơ khí và luyện kim (BCN) ký quyết định thành lập lấy tên là Truờng Công Nhân kỹ thuật Việt – Hung Trường

được ra đời là nhờ sự đóng góp tích cực của Đoàn thanh niên Cộng sản Hungari

Điều này đã đánh dấu một bước phát triển trong quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Hungari, giữa hai tổ chức Đoàn thanh niên Cộng sản

Hungari và Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lúc bấy giờ

Khi mới thành lập, trường có một cơ sở vật chất khá hiện đại, với quy mô đào tạo theo thiết kế là 1000 học sinh với các nghề đào tạo là: Tiện , Phay, Bào, Mài, Hàn, Rèn, Nguội dụng cụ, Nguội sửa chữa máy công cụ, Sửa chữa điện xí nghiệp và Sửa chữa ôtô xe máy

Nhiệm vụ của nhà trường lúc mới thành lập là:

- Đào tạo CNKT các ngành nói trên đạt trình độ bậc 3/7, theo kế hoạch của Bộ

Cơ Khí luyện kim (BCN) Đối tượng tuyển sinh là HS tốt nghiệp cấp II (THCS), thời gian đào tạo là 3 năm

- Đào tạo nâng cao trình độ cho CNKT các ngành nói trên của các tổng công

ty, các nhà máy, các xí nghiệp thuộc Bộ CKLK (BCN)

- Đào tạo lại CNKT cho các tổng công ty, các nhà máy, các xí nghiệp thuộc

Bộ CKLK (BCN)

Được sự chỉ đạo của Bộ CKLK (BCN) các trường bạn trong và ngoài Bộ chủ quản, ngày 25 tháng 11 năm 1977, trường đã khai giảng khóa đầu tiên với 206 học sinh

Trang 37

Từ khóa 1 tới khóa 3 (1977 ÷ 1980) nhà trường ứng dụng chương trình giảng dạy các môn học của nước bạn Hungari, với đối tượng HS đã tốt nghiệp cấp II (THCS)và theo kế hoạch của bộ CKLK (BCN) giao cho

Sau 3 năm đào tạo, nhà trường đã rút kinh nghiệm, chỉnh lý lại chương trình, nội dung giảng dạy cho phù hợp với điều kiện chương trình, cơ sở vật chất của Việt Nam và có kế thừa những ưu điểm trong chương trình, nội dung của bạn Từ khóa 4 đến khóa 14 (1980 ÷1990), nhà trường đã thay đổi đối tượng tuyển sinh từ HS tốt nghiệp cấp II (THCS) sang HS tốt nghiệp cấp III (THPT) và thời gian đào tạo cũng được rút ngắn từ 3 năm xuống còn 2,5 năm Đào tạo theo kế hoạch của Bộ chủ quảnvà học sinh tốt nghiệp ra trường đạt trình độ 3/7, phục vụ cho các đơn vị thuộc BCN

Từ những năm 1990 với sự bung ra của cơ chế thị trường, nhiều doanh nghiệp nhà nước gặp khó khăn, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc Bộ công nghiệp, đồng thời nhiều doanh nghiệp tư nhân ra đời và phát triển Điều này đòi hỏi một đội ngũ lao động kỹ thuật hoàn toàn khác trước cả về số lượng ngành nghề cũng như chất lượng

Nắm bắt được điều này nhà trường đã thay đổi nhiều phương diện như: đối tượng tuyển sinh, thời gian đào tạo, ngành nghề đào tạo, nội dung chương trình, phương pháp, phương tiện, đội ngũ giáo viên và cả thị trường phục vụ

- Trước tiên phải nói đến thị trường phục vụ Với cơ chế thị trường , nhu cầu

về lực lượng lao động kỹ thuật cũng thay đổi, nhà trường đào tạo không chỉ theo kế hoạch của Bộ chủ quản giao cho mà còn phục vụ cho thị trường lao động rộng lớn, cho các doanh nghiệp bên ngoài Bộ chủ quản, các doanh nghiệp tư nhân, các tổ chức, các cá nhân… Vì thế, ngoài kế hoạch tuyển sinh của Bộ chủ quản giao cho, trường còn tuyển thêm cho các doanh nghiệp bên ngoài Bộ chủ quản, các doanh nghiệp tư nhân, các tổ chưc, cá nhân… Yếu tố thị trường phục vụ này đã quyết định phần lớn sự thay đổi của nhà trường

Trang 38

Bảng 2.1: Con số tuyển sinh hàng năm Năm học 2005-2006 2006-2007 2007-2008 2008-2009 2009-2010 Chỉ tiêu

Thực

(Nguồn: Phòng đào tạo trường CĐCN Việt – Hung)

- Đối tượng tuyển sinh: Ngoài đối tượng tốt nghiệp THPT, nhà trường còn tuyển đối tượng tốt nghiệp THCS

- Thời gian đào tạo được rút ngắn xuống còn 2 năm với đối tượng HS tốt nghiệp THCN:2,5 năm và 3,5 năm với đối tượng tuyển sinh là HS tốt nghiệp THCS

- Ngành nghề đào tạo được thay đổi theo nhu cầu của thị trường Một số ngành không còn phù hợp, không đáp ứng được cho các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh thì được xóa bỏ, không đào tạo nữa, VD như: Nghề Rèn, Phay, Mài

- Nội dung chương trình, phương pháp, phương tiện cũng được thay đổi cho phù hợp với điều kiện thực tế, phù hợp với thời gian đào tạo, phù hợp với nhu cầu thị trường lao động

- ĐNGV được thay đổi về cả số lượng cũng như chất lượng và cơ cấu ngành nghề Nhiều GV được bồi dưỡng nâng cao về chuyên môn, về sư phạm, về khoa học công nghệ mới Các GV này được tham gia các lớp CĐ, ĐH, Thạc sỹ của trường Đại học sư phạm kỹ thuật I Hưng Yên, trường Đại học sư phạm I Hà Nội, trường Đại học Bách khoa Hà Nội, các lớp bồi dưỡng sư phạm, các chuyên đề về khoa học công nghệ mới, tham gia các lớp về công nghệ tiên tiến tại viện đào tạo nghề SIVAT- Hàn Quốc, về quản lý ĐT, về phương pháp giảng dạy…do tố chức AOTS của Nhật Bản tổ chức

Bảng 2.2: Số lượng GV trong các năm

( Nguồn: Phòng ĐT trường CĐCN Việt – Hung)

Trang 39

- Về cơ sở vật chất: Sau nhiều năm khai thác và sử dụng, cơ sở vật chất và các trang thiêt bị của nhà trường đã và đang bị lạc hậu và xuống cấp Trong các năm qua nhà trường đã đầu tư xây dựng lại cũng như xây dựng mới thêm nhiều nhà xưởng ( xưởng Hàn, xưởng Điện, xưởng Nguội), nhiều phòng học hiện đại ( phòng học ngoại ngữ, phòng học vi tính, phòng thí nghiệm, phòng công nghệ) và nhiều phòng học lớn Về thiết bị cũng vậy, nhà trường đã trang bị thêm nhiều trang thiết

bị tiên tiến hiện đại phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay và cải thiện điều kiện dạy, học của GV, HS như: Mô hình máy tiện CNC, máy hàn khí có bảo vệ, máy hàn điểm, máy soi kim cương, nhiều máy chiếu, máy vi tính…

Để phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho đất nước Ngày 27 tháng 03 năm 1998 trường được Bộ Công Nghiệp nâng cấp nâng cấp thành Trường Trung học công nghiệp Việt – Hung theo quyết định số 20/1998 - QĐ - BCN Cùng với sự phấn đấu nỗ lực không ngừng của đội ngũ cán bộ giáo viên toàn trường đến ngày 06 tháng 10 năm 2005 trường lại được

Bộ công nhận nâng cấp trở thành trường Cao Đẳng công nghiệp Việt - Hung, theo quyết định số 5614/QĐ-BGD&ĐT Ngoài việc đào tạo công nhân kỹ thuật các ngành nghề, trường còn đào tạo kỹ thuật viên các ngành: Sửa chữa và khai thác thiết

bị cơ khí, ngành Điện, ngành Tin học, ngành Kế toán doanh nghiệp…

Từ ngày thành lập, nhà trường đã đào tạo hơn 7000 công nhân kỹ thuật Lực lượng công nhân kỹ thuật này đã và đang làm việc tại các công ty, nhà máy xí nghiệp trong các cơ sở quốc doanh như: Công ty Khí cụ điện I-BCN, Công ty Cơ điện Việt

- Hung- BCN Sau một thời gian làm việc tại các cơ sở đó lực lượng công nhân kỹ thuật này đều được đánh giá là có trình độ và đáp ứng tốt yêu cầu, đòi hỏi của các

cơ sở, nhiều người đã trưởng thành trở thành thợ đầu đàn, trở thành những nhà quản lý…

2.2 Thực trạng về trình độ đội ngũ giáo viên dạy nghề

Đội ngũ giáo viên là người trực tiếp và quyết định việc đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường Trong những năm qua nền kinh tế của nước ta không

ổn định, đời sống của nhân dân nói chung và của giáo viên dạy nghề ở các trường

Trang 40

gặp rất nhiều khó khăn Mặc dù vậy đội ngũ giáo viên dạy nghề đã vượt qua thử thách, giữ vững phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, đoàn kết phấn đấu hoàn thiện nhiệm vụ và đã có đóng góp đáng kể cho việc đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề

và các dịch vụ sản xuất khác

Tổng số giáo viên đang trực tiếp dạy tại Khoa Cơ Khí Trường CĐCN Việt - Hung hiện nay là 45 giáo viên Số giáo viên dạy chuyên ngành Cơ khí chế tạo là 21 giáo viên Hơn 30 năm qua trong quá trình sản xuất và đào tạo, đội ngũ giáo viên này đã đào tạo ra rất nhiều lớp công nhân kỹ thuật lành nghề 3/7 Số công nhân này phần lớn họ đang công tác tại nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp trên địa bàn

Tỉnh Sơn Tây và một số công tác tại các tỉnh khác

Có thể nói rằng số lao động kỹ thuật hoạt động trong lĩnh vực này của Tỉnh chủ yếu là học sinh do trường đào tạo, mặc dù vậy, qua phân tích và nghiên cứu các

số liệu thống kê đối chiếu với yêu cầu của nghề đào tạo và tiêu chuẩn chức danh GVDN thì đội ngũ GVDN này ở thời điểm hiện nay có nhiều bất cập

- Trình độ so với yêu cầu nhiệm vụ đào tạo và phát triển nhà trường còn chậm

- Cơ cấu đội ngũ giáo viên chưa cân đối

- Nguồn giáo viên trẻ kế tiếp chưa thật tương xứng

- Phần lớn giáo viên đều tham gia giảng dạy cả hai hệ, khó có thể phân biệt rõ giáo viên dạy hệ trung học công nghiệp với giáo viên dạy hệ đào tạo nghề Như vậy

tỷ lệ giáo viên trên tỷ lệ học sinh là 1/33 Nếu theo quy định tiêu chuẩn tỷ lệ giáo viên trên tỷ lệ học sinh là 1/15 thì hiện nay trường vẫn đang thiếu một số lượng tương đối lớn giáo viên

- Đa phần đội ngũ giáo viên còn yếu về nhiều mặt Trình độ ngoại ngữ và tin học, số đông giáo viên mới chỉ biết sử dụng máy tính cho việc soạn thảo văn bản thông thường, việc khai thác công nghệ thông tin còn nhiều hạn chế

2.2.1 Về tuyển chọn đội ngũ GVDN

Trước khi tìm hiểu thực trạng tuyển chọn đội ngũ GVDN hãy cùng nhìn nhận lại công tác đào tạo đội ngũ GVDN: Đầu năm 1970 cả nước mới chỉ có 4 trường GVDN do Tổng cục đào tạo công nhân kỹ thuật thuộc Bộ Lao Động lúc đó quản lý

Ngày đăng: 18/07/2017, 20:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]. Chỉ thị 40/CT.TW của Ban Bí thư, ký ngày 15/6/2004 “về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” Sách, tạp chí
Tiêu đề: về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
[7]. Nguyễn Đức Trí: “Các giải pháp xây dựng đội ngũ CBGV Đại học, Cao đẳng từ nay đến năm 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp xây dựng đội ngũ CBGV Đại học, Cao đẳng từ nay đến năm 2020
[8]. Nguyễn Hùng Lượng: “Những giải pháp bồi dưỡng GV trong các trường dạy nghề, VNCPTGD Hà Nội 1996” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp bồi dưỡng GV trong các trường dạy nghề, VNCPTGD Hà Nội 1996
[9]. Nguyễn Đức Trí: “Một số vấn đề mục tiêu, giải pháp xây dựng ĐNGVTHCN - DN đến năm 2020 và những năm tiếp theo trong “kỳ yếu hội thảo 10/1998”NXBGD” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề mục tiêu, giải pháp xây dựng ĐNGVTHCN - DN đến năm 2020 và những năm tiếp theo trong “kỳ yếu hội thảo 10/1998” NXBGD
Nhà XB: NXBGD”
[11]. Phan Văn Kha: “Phát triển ĐNGV trong các trường DN hiện nay. ĐT và BD GV DN/TCDN Hà Nội 3/1998” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển ĐNGV trong các trường DN hiện nay. ĐT và BD GV DN/TCDN Hà Nội 3/1998
[12]. Nguyễn Xuân Ngọc: “Bài giảng về lý luận chuyên ngành, 2001” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng về lý luận chuyên ngành, 2001
[13]. Nguyễn Đức Trí: “Vấn đề phát triển ĐGVN các trường THCN - DN bài giảng về quản lý GD. Viện NCPTGD Hà Nội 2000” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phát triển ĐGVN các trường THCN - DN bài giảng về quản lý GD. Viện NCPTGD Hà Nội 2000
[15]. Nguyễn Minh Đường (1996): “Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới” - Đề tài KX 07 - 14, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới
Tác giả: Nguyễn Minh Đường
Năm: 1996
[16]. Nguyễn Xuân Lạc: “Bài giảng phương pháp luận NCKH - CN 2001” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng phương pháp luận NCKH - CN 2001
[17]. Nguyễn Viết Sự: “Một số nét GVDN, thực trạng và phát triển ĐT và BDGVDN - THCN. Hà Nội - 03/1999” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nét GVDN, thực trạng và phát triển ĐT và BDGVDN - THCN. Hà Nội - 03/1999
[18]. Nguyễn Đức Trí: “Đề tài B99-52-36 (Xây dựng mô hình ĐTGVKT ở trình độ ĐH cho các trường THCN - DN) 12/2000” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài B99-52-36 (Xây dựng mô hình ĐTGVKT ở trình độ ĐH cho các trường THCN - DN) 12/2000
[19]. Nguyễn Đức Trí (viện nghiên cứu phát triển giáo dục 1997) “Giáo dục học nghề nghiệp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học nghề nghiệp
[1]. Bộ giáo dục & Đào tạo (1998) Luật giáo dục NXB chính trị quốc gia. Hà Nội Khác
[3]. Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, được thủ tướng phê duyệt số 201/2002/QĐ - TTg ngày 28/12/2001 Khác
[4]. Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2005), đề án xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010, Hà Nội Khác
[5]. Đảng cộng sản Việt Nam (Hà Nội 1996 Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB chính trị quốc gia) Khác
[6]. Luật giáo dục Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 1998 Khác
[10]. Phạm Thành Nghị: Đề tài B92 - 38 - 18, nghiên cứu bồi dưỡng cán bộ giảng dạy và giáo viên dạy nghề, viện NCPTGD Hà Nội 1993 Khác
[14]. Nguyễn Trọng Bình: Bài giảng về sản xuất - Nghiên cứu - Đào tạo 2001 Khác
[20]. Quyết định số 1672/TH-DN 18/8/1992 về việc ban hành chương trình bồi dưỡng sư phạm bậc một Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Phân biệt đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại theo các tiêu chí. - Đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên thực hành nghề cơ khí chế tạo tại trường cao đẳng công nghiệp việt   hung
Bảng 1.1. Phân biệt đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại theo các tiêu chí (Trang 20)
Bảng 1.2: Vai trò của GV và HS đối với các loại hình dạy học. - Đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên thực hành nghề cơ khí chế tạo tại trường cao đẳng công nghiệp việt   hung
Bảng 1.2 Vai trò của GV và HS đối với các loại hình dạy học (Trang 22)
Sơ đồ1.1: Sơ đồ mô tả công việc dạy lý thuyết của GVDN ngành Cơ khí chế tạo - Đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên thực hành nghề cơ khí chế tạo tại trường cao đẳng công nghiệp việt   hung
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ mô tả công việc dạy lý thuyết của GVDN ngành Cơ khí chế tạo (Trang 34)
Bảng 2.1: Con số tuyển sinh hàng năm  Năm học 2005-2006 2006-2007 2007-2008 2008-2009 2009-2010  Chỉ tiêu - Đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên thực hành nghề cơ khí chế tạo tại trường cao đẳng công nghiệp việt   hung
Bảng 2.1 Con số tuyển sinh hàng năm Năm học 2005-2006 2006-2007 2007-2008 2008-2009 2009-2010 Chỉ tiêu (Trang 38)
Bảng 2.3. Đội ngũ GVDN chuyên ngành Cơ khí chế tạo Trường CĐCN - Đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên thực hành nghề cơ khí chế tạo tại trường cao đẳng công nghiệp việt   hung
Bảng 2.3. Đội ngũ GVDN chuyên ngành Cơ khí chế tạo Trường CĐCN (Trang 42)
Bảng 2.4. Đội ngũ GVDN chuyên ngành Cơ khí chế tạo Trường CĐCN - Đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên thực hành nghề cơ khí chế tạo tại trường cao đẳng công nghiệp việt   hung
Bảng 2.4. Đội ngũ GVDN chuyên ngành Cơ khí chế tạo Trường CĐCN (Trang 44)
Bảng 2.5. Thống kê khả năng tiếp thu kiến thức lý thuyết của HS trên lớp - Đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên thực hành nghề cơ khí chế tạo tại trường cao đẳng công nghiệp việt   hung
Bảng 2.5. Thống kê khả năng tiếp thu kiến thức lý thuyết của HS trên lớp (Trang 47)
Bảng 2.6. Thống kê đánh giá về năng lực dạy lý thuyết của đội ngũ GV                 Mức độ đánh giá - Đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên thực hành nghề cơ khí chế tạo tại trường cao đẳng công nghiệp việt   hung
Bảng 2.6. Thống kê đánh giá về năng lực dạy lý thuyết của đội ngũ GV Mức độ đánh giá (Trang 48)
Bảng 2.9. Đánh giá về năng lực nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ GVDN - Đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên thực hành nghề cơ khí chế tạo tại trường cao đẳng công nghiệp việt   hung
Bảng 2.9. Đánh giá về năng lực nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ GVDN (Trang 53)
Bảng 2.10. Thực trạng những tri thức và kỹ năng sư phạm cụ thể của - Đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên thực hành nghề cơ khí chế tạo tại trường cao đẳng công nghiệp việt   hung
Bảng 2.10. Thực trạng những tri thức và kỹ năng sư phạm cụ thể của (Trang 54)
Bảng 2.11. Thống kê từ khảo sát thực tế những nguyên nhân ảnh hưởng - Đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên thực hành nghề cơ khí chế tạo tại trường cao đẳng công nghiệp việt   hung
Bảng 2.11. Thống kê từ khảo sát thực tế những nguyên nhân ảnh hưởng (Trang 56)
Sơ đồ 2. Sơ đồ tổ chức quản lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ GVDN - Đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên thực hành nghề cơ khí chế tạo tại trường cao đẳng công nghiệp việt   hung
Sơ đồ 2. Sơ đồ tổ chức quản lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ GVDN (Trang 59)
Bảng 2.12. Nhu cầu bồi dưỡng nâng cao trình độ của đội ngũ GVDN - Đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên thực hành nghề cơ khí chế tạo tại trường cao đẳng công nghiệp việt   hung
Bảng 2.12. Nhu cầu bồi dưỡng nâng cao trình độ của đội ngũ GVDN (Trang 61)
Sơ đồ 3.1. Các kỹ năng sư phạm cần bồi dưỡng cho đội ngũ GVDN - Đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên thực hành nghề cơ khí chế tạo tại trường cao đẳng công nghiệp việt   hung
Sơ đồ 3.1. Các kỹ năng sư phạm cần bồi dưỡng cho đội ngũ GVDN (Trang 73)
Sơ đồ 3.2: Các hình thức bồi dưỡng GVDN - Đánh giá thực trạng và các giải pháp nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên thực hành nghề cơ khí chế tạo tại trường cao đẳng công nghiệp việt   hung
Sơ đồ 3.2 Các hình thức bồi dưỡng GVDN (Trang 80)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w