Lời cảm ơn Sau gần một năm nghiên cứu và tìm hiểu các tài liệu chuyên môn cùng với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo PGS.TS Phạm Thanh Huyền em đã hoàn thành luận văn với đề tài "Nghiên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
PHAN TRUNG HIẾU
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ PHỤ GIA
ĐẾN CHẤT LƯỢNG CỦA NHIÊN LIỆU
PHẢN LỰC JET A-1
CHUYÊN NGÀNH : KỸ THUẬT HÓA HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN :
PGS.TS PHẠM THANH HUYỀN
Hà Nội – 2011
Trang 2Mục lục Trang
trình cháy của nhiên liệu trong động cơ phản lực
8
Trang 31.5 C¸c ph−¬ng ph¸p kiÓm tra chÊt l−îng nhiªn liÖu ph¶n lùc 20
Trang 42.2.9 Xác định độ dẫn điện 40
Jet A-1
48
độ dẫn điện của nhiên liệu Jet A-1
57
nhiên liệu Jet A-1
60
nhiên liệu Jet A-1
64
băng của nhiên liệu Jet A-1
64
mẫu
70
liệu Jet A-1
Trang 5Lời cảm ơn
Sau gần một năm nghiên cứu và tìm hiểu các tài liệu chuyên môn cùng với sự
hướng dẫn tận tình của cô giáo PGS.TS Phạm Thanh Huyền em đã hoàn thành luận
văn với đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của phụ gia đến chất lượng nhiên liệu phản
lực Jet A-1”
mình của bản thân, em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Cô giáo PGS.TS Phạm
Thanh Huyền người đã trực tiếp hướng dẫn, cung cấp cho em những kiến thức để em
có một bài viết hoàn chỉnh về nhiên liệu phản lực
Em cũng xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo Viện Kỹ thuật Hoá
học đã trang bị cho em những kiến thức cần thiết về hoá dầu trong suốt quá trình
học tập tại trường Xin được cảm ơn các đồng nghiệp đang công tác tại Phòng Thử
nghiệm – XN Xăng dầu Hàng không Miền Bắc đã cung cấp tài liệu, kinh nghiệm
chuyên môn giúp tôi hoàn thành luận văn này
Luận văn đã hoàn thành nhưng do kiến thức của bản thân còn hạn chế và thời
gian nghiên cứu có hạn nên em chưa thể đi sâu tìm hiểu hết các vấn đề Và trong
quá trình thực hiện sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự
góp ý của các Thầy Cô giáo để luận văn này hoàn chỉnh hơn
Trang 6Lời mở đầu
Trong tiến trình phát triển chung của nhân loại, dầu mỏ đã được con người
biết đến từ rất lâu Thế kỷ 18 dầu mỏ được sử dụng làm nhiên liệu đốt cháy, thắp
sáng Sang thế kỷ 19 dầu mỏ được coi là nguyên liệu chính cho mọi phương tiện
giao thông và cho nền kinh tế quốc dân Đến nay dầu mỏ đã trở thành nguồn năng
lượng quan trọng nhất cho mọi quốc gia trên thế giới
Theo xu thế chung của thời đại, các loại động cơ cồng kềnh sẽ được thay thế
bằng các loại động cơ gọn nhẹ với công suất lớn hơn Một trong những phương tiện
bảo vệ an ninh quốc phòng, vận chuyển hàng hoá thông thương quốc tế có hiệu quả
cao là ngành hàng không Trong đó động cơ phản lực tỏ ra có tính ưu việt nhất và
được sử dụng rộng rãi Vì vậy việc nghiên cứu sản xuất và nâng cao chất lượng
nhiên liệu dùng cho động cơ phản lực trở thành nhiệm vụ chính của ngành công
nghiệp xăng dầu
Để nâng cao chất lượng nhiên liệu phản lực, bên cạnh các phương pháp như:
tuyển nguồn nguyên liệu tốt có các thành phần phù hợp với yêu cầu của nhiên liệu
phản lực, mở rộng phạm vi cất sau đó tiến hành pha trộn nhiều phân đoạn sản phẩm,
cải tiến công nghệ chế biến thì phương pháp pha phụ gia vào nhiên liệu phản lực
đóng vai trò rất quan trọng
ở Việt Nam hiện nay nhà máy lọc dầu Số 1 Dung Quất đi vào hoạt động đã
có thể cung cấp nhiên liệu Jet A-1 cho thị trường Vì vậy việc nghiên cứu chất lượng
sản phẩm cũng như khả năng sử dụng của phụ gia trong nhiên liệu Jet A-1 sẽ góp
phần sử dụng hiệu quả nguồn nhiên liệu này
Trong phạm vi luận văn này, em xin tập trung nghiên cứu về nhiên liệu phản
lực với đề tài “Đánh giá tác động của một số phụ gia đến chất lượng của nhiên liệu
phản lực Jet A-1’’
Trang 7Mục tiêu của luận văn là:
- Đánh giá chất lượng của một số loại nhiên liệu Jet A-1 đang sử dụng ở công
ty xăng dầu Hàng không và kerosen của nhà máy lọc dầu Dung Quất
- Nghiêu cứu ảnh hưởng của phụ gia tăng độ dẫn điện Stadis 450 tới chất
lượng nhiên liệu Jet A-1, ảnh hưởng của các thông số như hàm lượng phụ gia, nhiệt
độ, thời gian…đến chỉ tiêu độ dẫn điện của nhiên liệu Jet A-1
- Nghiêu cứu ảnh hưởng của phụ gia ức chế đóng băng tới chất lượng nhiên
liệu Jet A-1, ảnh hưởng của các thông số như hàm lượng phụ gia, thời gian…đến chỉ
tiêu điểm băng của nhiên liệu Jet A-1
- Nghiên cứu tác động của hỗn hợp phụ gia tăng độ dẫn điện và phụ gia ức
chế đóng băng tới chất lượng nhiên liệu Jet A-1, cũng như ảnh hưởng của các thông
số tới chất lượng nhiên liệu Jet A-1 khi pha hỗn hợp phụ gia này
Trang 8Phần I: Tổng quan 1.1 Giới thiệu chung về nhiên liệu hàng không [1]
Trong dầu mỏ, phân đoạn dầu hoả được chia ra làm 3 loại: Dầu hoả dân dụng
chủ yếu dùng để thắp đèn; dầu hoả dùng cho mục đích kỹ thuật thường là các chất
dung môi; và dầu hoả động cơ dùng cho các loại động cơ máy kéo, các động cơ
cánh quạt máy bay và cho các động cơ máy bay phản lực
Dựa vào nguyên lý hoạt động của động cơ máy bay các nhà sản xuất đã đưa
ra 2 loại nhiên liệu hàng không chủ yếu đó là:
- Nhiên liệu dùng cho máy bay cánh quạt hay còn gọi là xăng máy bay (sử
dụng cho động cơ đốt trong – Aviation Gasoline)
- Nhiên liệu dùng cho máy bay phản lực (Sử dụng cho động cơ tuabin phản
lực – Jet fuel)
* Xăng máy bay dùng cho máy bay động cơ nổ kiểu piston Xăng máy bay
đòi hỏi có trị số octan cao, yêu cầu về thành phần cất nghiêm ngặt
Về công nghệ chế tạo, xăng máy bay đã đạt đến đỉnh cao của phát triển vào
những năm 1939 – 1945 Chỉ đến khi động cơ tuabin khí ra đời với tính ưu việt của
nó đã hạn chế sự phát triển của động cơ piston trong lĩnh vực này
Máy bay cánh quạt được sử dụng cho mục đích khảo sát thăm dò địa chất, du
lịch và quân sự Xăng máy bay là các sản phẩm được chưng cất trực tiếp từ dầu mỏ
hoặc sản phẩm cracking xúc tác, được bổ sung thêm sản phẩm và các thành phần
phụ gia khác nhằm nâng cao trị số octan như các sản phẩm alkylat, sản phẩm isomer
hóa, iso octan kỹ thuật và các chất chống oxy hoá
Xăng máy bay phải có những tính chất lý hoá và các tính năng sử dụng nhằm
đảm bảo cho động cơ làm việc bình thường trong mọi chế độ hoạt động Các tính
chất đó là:
- Tính chống kích nổ cần thiết trong hỗn hợp giàu và hỗn hợp nghèo
- Có thành phần phân đoạn tối ưu
Trang 9- Có nhiệt độ kết tinh thấp
- Hàm lượng nhựa và các hợp chất lưu huỳnh nhỏ
- Nhiệt cháy cao
- Có tính ổn định trong quá trình tồn chứa
* Nhiên liệu phản lực được dùng cho động cơ hoạt động theo nguyên lý phản
lực Động cơ này đòi hỏi nhiên liệu tiêu thụ phải có đặc tính khác biệt hơn so với
xăng đó là nhiên liệu phản lực phải có đặc tính cháy tốt, nhiệt lượng cao
Luận văn này sẽ đi sâu vào nghiên cứu tìm ra những đặc tính ưu việt nhất của
nhiên liệu phản lực phục vụ cho động cơ phản lực
1.2 Thành phần hoá học nhiên liệu phản lực [1]
1.2.1 Thành phần hydrocacbon ảnh hưởng của thành phần hydrocacbon đến
quá trình cháy của nhiên liệu trong động cơ phản lực
Nhiên liệu dùng cho động cơ phản lực được chế tạo từ phân đoạn kerosen
hoặc từ hỗn hợp giữa phân đoạn kerosen với phân đoạn xăng Yêu cầu của nhiên liệu
phản lực là dễ cháy ở bất kỳ điều kiện áp suất và nhiệt độ nào, cháy điều hoà, không
bị tắt trong dòng không khí có tốc độ xoáy lớn Vì vậy thành phần của nhiên liệu
cần có nhiều parafinic mạch thẳng
Để đảm bảo có nhiệt trị cao, nhiên liệu không được chứa nhiều aromatic mà
chủ yếu là parafin và naphten Nhưng để an toàn cho máy bay hoạt động ở độ cao
lớn, nhiệt độ thấp cần hạn chế hydrocacbon parafinic vì nó dễ bị kết tinh và cần tăng
cường thành phần naphtenic nhiều vòng
Cần chú ý đến khả năng tạo cặn, tạo cốc của nhiên liệu ảnh hưởng xấu đến
tính năng hoạt động của động cơ (làm tắc vòi phun), khả năng đó được sắp xếp theo
chiều giảm dần như sau:
Aromatic > mono–olefin > iso–parafin, naphten > n–parafin
Để đánh giá khả năng tạo cặn, tạo cốc của nhiên liệu thường dùng chỉ tiêu
chiều cao ngọn lửa không khói Chiều cao ngọn lửa không khói là chiều cao tối đa
Trang 10của ngọn lửa không có khói tính bằng mm khi đốt nhiên liệu trong đèn dầu tiêu
chuẩn Chiều cao ngọn lủa không khói càng cao, chứng tỏ nhiên liệu cháy càng hoàn
toàn
Những thành phần phi hydrocacbon chứa trong nhiên liệu đều có ảnh hưởng
xấu đến tính chất sử dụng của nhiên liệu, do đó cần khống chế hàm lượng các tạp
chất khác có trong nhiên liệu phản lực theo đúng các tiêu chuẩn quốc tế ban hành
1.2.2 Thành phần phụ gia
Trong nhiên liệu phản lực ngoài các thành phần chính là các hydrocacbon
người ta còn bổ sung thêm các chất phụ gia Phụ gia cho nhiên liệu phản lực là một
vấn đề rất quan trọng Các phụ gia thường dùng là: phụ gia chống oxi hoá, phụ gia
chống ăn mòn, chống đóng băng, chống tĩnh điện, chống vi khuẩn và khử hoạt tính
của kim loại, phụ gia chống tạo khói, chống kích nổ, phụ gia cải thiện tính bôi trơn
Tùy vào chất lượng của từng loại nhiên liệu phản lực mà một hoặc một vài loại phụ
gia sẽ được sử dụng
Ví dụ, để pha phụ gia chống oxy hóa, đối với nhiên liệu phản lực cần quan
tâm đến tỉ lệ phần trăm thể tích (từ 0% dến 100%V) của các hợp phần đã qua quá
trình chế biến hydro Từ đó mới có quyết định pha hay không pha thêm phụ gia
chống oxy hóa Nếu nhiên liệu phản lực chưa qua quá trình xử lý hydro thì không
nhất thiết phải pha thêm phụ gia chống oxy hoá Nếu nhiên liệu đã qua quá trình xử
lý hydro thì nhất thiết phải pha phụ gia chống oxy hoá Lượng phụ gia thêm vào
được tính toán dựa trên tỉ lệ phần trăm thể tích hợp phần đã qua quá trình xử lý
hydro có trong nhiên liệu
1.3 Phụ gia cho nhiên liệu phản lực
Phụ gia là những hóa chất có thể tan trong nhiên liệu, được thêm vào nhiên
liệu với lượng nhỏ (cỡ ppm) nhằm làm tăng cường hoặc duy trì các tính chất quan
trọng của nhiên liệu Phụ gia là thành phần không thể thiếu trong bất cứ nhiên liệu
bay nào, sự khác nhau chủ yếu giữa nhiên liệu dùng cho quân đội và dân dụng là các
phụ gia, hàm lượng của chúng
Trang 11Bảng 1 liệt kê các loại phụ gia thường được sử dụng cho nhiên liệu dân dụng
và quân đội
Bảng 1 Các loại phụ gia thường được sử dụng [7]
ASTM D 1655
Jet A1 DEF STAN 91-91
JP-8 MIL-DTL 83133
Chống tạo cặn kim
loại
1.3.1 Phụ gia ức chế đóng băng (FSII) cho nhiên liệu phản lực
Hiện nay, ethylene glycol mono methyl ether (EGME) và diethylene glycol
mono methyl ether (Di-EGME) được sử dụng rất phổ biến trong nhiên liệu phản lực
làm phụ gia ức chế đóng băng [17-23] Các loại phụ gia này cho thêm vào mùa
đông và mùa hè khi chuyến bay kéo dài quá 5 tiếng vì với khoảng thời gian này
nhiên liệu sẽ kịp đông lạnh đến nhiệt độ thấp
Hai hợp chất này cho hiệu quả chống đóng băng rất cao, tuy nhiên ở nồng độ
cần thiết để hoạt động thì nó lại rất độc với môi trường và sức khoẻ bởi vì cả hai chất
đều cấu tạo dựa trên gốc glycol [5] Nguyên tắc hoạt động của các glycol đó là
chúng sẽ hút nước của nhiên liệu sau đó kéo các phân tử nước xuống dưới tầng đáy
của bình nhiên liệu, từ đó tháo ra qua bộ lọc và van
Một số đặc tính tiêu biểu của diethylene glycol methyl ether (di-EGME:
Trang 12Glycol có khả năng hoà tan trong nước rất tốt nhờ có hai nhóm –OH, tuy
nhiên khối lượng phân tử càng cao thì càng khó hoà tan Nhờ có điểm đóng băng
thấp và ít ăn mòn nên rất thích hợp để làm phụ gia cho nhiên liệu Khi xuất hiện
thêm nhóm ete và glycol trùng hợp tạo dạng polyme thì chúng trở nên đặc biệt ổn
định và tan tốt trong nước Ngoài tác dụng làm phụ gia ức chế đóng băng,
glycolether còn được sử dụng nhiều làm xúc tác chuyển pha, hợp chất trung gian
cho tổng hợp hữu cơ và sản xuất acetal
George W.Mushrush cùng cộng sự [5], K.T Geiss cùng cộng sự [10], đã
nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng phụ gia tới chất lượng 2 loại nhiên liệu phổ
biến là JP-8 & Jet-A Phụ gia pha vào với nồng độ dao động từ 0.15% - 0.7% cho
kết quả khả quan, nhiên liệu tương thích tốt và hoạt động ổn định Nhiên liệu được
kiểm tra theo tiêu chuẩn ASTM D5304 – 94 để xác định độ ổn định, tương thích,
theo ASTM-D3703-92 để xác định độ lắng trọng lực, sau đó xác định điểm đóng
băng, đo thời gian bán huỷ của mẫu… tất cả đều đạt yêu cầu
Một số đặc tính cơ bản của EGME và DiEGME được trình bày ở bảng 2
Trang 13Bảng 2: Các đặc tính cơ bản của EGME và DiEGME [5]
Glycol là một tác nhân cần rất nhiều oxy khi phân huỷ, do vậy khi thải ra môi
trường sẽ khiến các vi sinh vật bị ảnh hưởng nặng nề Vì thế hiện nay xu hướng tìm
kiếm phụ gia hạ điểm đông không độc, rẻ tiền, dễ phân huỷ sinh học
Trong những nghiên cứu mới nhất hiện nay, các nhà khoa học Mỹ đang sử
dụng tinh bột và đường (cacbohydrate) [5] để thêm vào phụ gia FSII Các hợp chất
có nguồn gốc tinh bột được dùng rất rộng rãi trong tổng hợp hữu cơ nên việc xuất
phát từ nguyên liệu này là rất khả quan, chi phí rẻ Tuy nhiên để dùng được
cacbohydrate thì cần giải quyết tốt hai vấn đề sau đây: phải hoà tan được trong nhiên
liệu phản lực và nhiên liệu ổn định trong quá trình tồn chứa Để đánh giá các chỉ
tiêu này cần tiến hành một loạt các kiểm tra về độ độc hại và tính chất hoá lý của
nhiên liệu khi thêm phụ gia
Kết quả thu được cho thấy khi đưa thêm manose vào tổng hợp phụ gia thì
nhiên liệu có khả năng thẩm thấu vào da ít hơn, nên ít độc hơn so với phụ gia glycol
Trang 14Trong khí quyển nó cũng phân huỷ tương đương so với các chất hạ điểm băng hiện
hành, tuy nhiên độ bay hơi của chúng cũng tương đối lâu Khi phân huỷ thì sản
phẩm thu được cũng ít độc hơn hẳn so với phụ gia truyền thống
Đối với xăng máy bay (avgas), isopropanol cũng có thể được sử dụng làm
phụ gia FSII, tuy nhiên isopropanol đắt hơn di-EGME và bản thân isopropanol có
thể làm giảm chỉ số octan của nhiên liệu, nên hiện nay
di-EGME hay được sử dụng làm phụ gia ức chế điểm băng khi được yêu cầu [10]
1.3.2 Phụ gia chống oxy hoá
Các loại nhiên liệu phản lực dùng trong dân dụng cũng như quân sự hiện nay
chủ yếu là sản phẩm của phân đoạn kerosene Để ngăn chặn sự tạo thành peroxit
trong quá trình bảo quản, vận chuyển nhiên liệu từ sau khi chế biến người ta cho
thêm chất chống oxy hoá vào Hiện nay phụ gia chống oxy hoá chủ yếu là các dẫn
xuất phenol, được đưa vào với hàm lượng 10 – 20 àg/ml
Oxy chiếm một phần tương đối lớn trong thành phần không khí, khi hoà tan
vào nhiên liệu sẽ là tác nhân cho phản ứng theo cơ chế chuỗi gốc xảy ra Các
hydrocacbon trong nhiên liệu bị chuyển thành peroxit sẽ tấn công các bộ phận của
động cơ máy bay, gây hỏng bộ lọc, hệ thống phun nhiên liệu cũng như giảm hiệu
suất của động cơ Chất chống oxy hoá hoạt động dựa trên khả năng ngăn ngừa
peroxit tạo ra [9]
Trong các loại hydrocacbon thì olefin là dễ bị oxy hoá nhất, tuy nhiên như
JP-8 hay Jet-A1 chứa rất ít và hầu như không có olefin, đặc biệt là nhiên liệu sản
xuất từ quá trình xử lý hy dro Mặt khác, khi tiến hành xử lý hy dro thì ngoài việc
loại bỏ tạp chất, có thể một số chất chống oxy hoá tự nhiên có sẵn trong nhiên liệu
đã xử lý, vì vậy phụ gia chống oxi hóa tốt nhất là được cho vào ngay sau khi xử lý
hydro
Các dẫn xuất có nguồn gốc phenol có khả năng bắt gốc tự do rất tốt nên khi
cho vào nhiên liệu sẽ giúp ức chế sự hình thành peroxit, ngăn việc nhiên liệu bị biến
chất Trong công nghiệp phụ gia phổ biến nhất hiện nay đó là:
Trang 152,6-ditertiary-4-methyl phenol (nồng độ tối đa cho phép của phụ gia này là 24mg/l), ngoài ra có thể
sử dụng 2,4-dimethyl-6- terbutyl phenol; 2,6-diterbutyl phenol [8,9] Phương pháp
chủ yếu để xác định hàm lượng phụ gia chống oxy hoá hiện nay là sử dụng sắc ký
[9]
1.3.3 Phụ gia chống tĩnh điện
1.3.3.1 Tác hại của tĩnh điện
Con số các vụ cháy nổ trong các phân xưởng, khu công nghiệp ngày một tăng
trong thời gian trở lại đây thực sự rất đáng lo ngại Nhiều báo cáo cho rằng tĩnh điện
là nguyên nhân chủ yếu của các vụ cháy, chính vì vậy tĩnh điện cần được nghiên cứu
một cách cẩn thận Trong nhiên liệu phản lực thì tĩnh điện càng rất dễ nguy hiểm bởi
đặc thù của nhiên liệu này là có nhiều hợp chất dễ cháy và được sử dụng với khối
lượng lớn Từ lâu nay, chúng ta vẫn hay quan tâm đến quy trình đánh lửa và vận hành
động cơ vì cho rằng nguyên nhân cháy nổ chủ yếu từ khâu này, tuy vậy nghiên cứu
chỉ ra rằng nguồn nguyên liệu đầu vào đóng một vai trò đáng kể trong việc gây ra
cháy nổ của nhiên liệu phản lực
Hầu hết các chất lỏng không phân cực như dầu hoả, BTX, diesel nằm trong
một điện trường tương đối cân bằng nhưng trong đó có một số thành phần gọi là tĩnh
điện hoạt động rất nguy hiểm Chúng khiến các điện tích chuyển động và gây nên
dòng điện, sau đó gây cháy nổ Vì thế các nhà khoa học đã nghiên cứu một hợp chất
có khả năng làm tăng độ dẫn điện của chất lỏng tới một mức độ nào đó và tĩnh điện
được kiểm soát an toàn bằng cách đưa ra ngoài (có thể nối đất) [11]
Độ dẫn điện của nhiên liệu được biểu diễn bởi đơn vị độ dẫn (CU); 1CU=1
pico Siemens/met (1 pS/m)
Kerosen có độ dẫn từ <1 CU tới 20 CU, để dễ so sánh, nước deion hóa có độ
dẫn khoảng 10 triệu CU
Trang 161.3.3.2 Cơ chế tích điện của nhiên liệu chứa trong bồn kim loại
Mặc dù bản chất chính xác của cơ chế tích điện là chưa rõ ràng nhưng ý kiến
chung cho rằng chủ yếu là do các ion tạp chất trong hydrocacbon lỏng với hàm
lượng chỉ cỡ ppm hoặc ppb Khi nhiên liệu nằm trong bồn chứa, ion tạp chất hấp phụ
trên bề mặt phân cách giữa nhiên liệu và thành bồn chứa
Xét theo phương diện gây nên sự chuyển dịch điện tích trong nhiên liệu, ion
tạp chất phân thành 2 loại: ion có lợi và ion có hại Hình 1 miêu tả sự hình thành
tĩnh điện của nhiên liệu lỏng trong đường ống
Từ hình 1 nhận thấy các ion có hại có ái lực với bề mặt rắn lớn hơn so với các
ion có lợi, nhưng do số ion có lợi và số điện tích âm đều bằng nhau nên bình thường
không có sự tạo dòng chuyển dời điện tích trong nhiên liệu
Thành ống
Trong quá trình chảy
Điện tích được tách ra và được nhiên liệu đẩy đi
Thành ống
Nhiên liệu trong đường ống
Ion tạp chất hấp phụ lên bề mặt
đất
đất
Hình 1: Sự tích điện của nhiên liệu lỏng trong đường ống [14]
Khi nhiên liệu bắt đầu chuyển động trong ống, các điện tích dương quét dọc
theo chiều dòng nhiên liệu còn các điện tích âm rò rỉ xuống đất, do đó dòng điện
tích dương sẽ được mang vào hệ thống Hoàn toàn tương tự, nhiên liệu sẽ mang theo
điện tích âm nếu như các ion có lợi được ưu tiên hấp phụ trên bề mặt đường ống,
thùng chứa
Với cơ chế như vậy trong các động cơ công suất lớn như máy bay, mật độ
điện tích có thể tăng lên theo hệ số 100 lần Sau đó nếu tĩnh điện của nhiên liệu đủ
thấp: 0,1 – 10 pS/m có thể gây ra dòng tĩnh điện Hiện tượng đánh lửa có xảy ra hay
Trang 17không còn phụ thuộc vào bản chất, thành phần hỗn hợp/không khí trong đường ống,
áp suất hơi bão hoà, nhiệt độ môi trường xung quanh…
Năng lượng tối thiểu cho một lần phóng tia lửa điện giữa hai bản cực kim loại
để đốt cháy một hỗn hợp nhiên liệu tối ưu là 0,26 mili jul (mJ) Khi thay thế bằng
một loại vật liệu có điện trở suất cao thì năng lượng tối thiểu tăng lên 4,7 mJ Ngoài
ra độ dẫn điện của nhiên liệu phản lực có liên quan mật thiết với thời gian trễ Theo
khảo sát tại Hoa Kỳ có 38% mẫu nhiên liệu phản lực có độ dẫn điện nhỏ hơn 1pS/m
Bảng 3: Sự phụ thuộc của thời gian trễ vào độ dẫn điện [14]
0.01 1800 0.1 180 1.0 18 10.0 1.8 100.0 0.18
Như vậy các nhiên liệu có độ dẫn điện 1 pS/m có thời gian trễ 18s Trong quá
trình bơm nhiên liệu cho máy bay, qua bộ phận tách/lọc chỉ mất vài giây nên đây sẽ
là căn cứ để ta điều khiển tránh gây ra sự cháy nổ
1.3.3.3 Cơ chế tích điện trong bồn chứa bằng vật liệu phi kim
Cùng với sự phát triển về vật liệu thì bồn bể chứa bằng vật liệu phi kim cũng
được ứng dụng nhiều trong ngành hàng không, điều này cũng là một nguy cơ tiềm
ẩn về khả năng cháy nổ của nhiên liệu Vật liệu phi kim loại có độ dẫn thấp, khi xảy
ra hiện tượng tích điện, điện tích khó truyền xuống đất nên nguy cơ cháy nổ càng
tăng cao
Tuy nhiên do ưu điểm về giá thành và độ bền, nên vật liệu phi kim vẫn được
sử dụng làm bồn bể chứa, hiện nay đã có một số cải tiến trong công nghệ vật liệu với
Trang 18việc đưa sợi thuỷ tinh hoặc thép cacbon nhằm tăng khả năng dẫn điện của lớp vỏ
ngoài bồn chứa [14]
1.3.3.4 Thành phần phụ gia chống tĩnh điện
Phụ gia sẽ được bổ sung vào nhiên liệu phản lực làm tăng độ dẫn điện của
nhiên liệu đến một mức thích hợp Tĩnh điện được kiểm soát an toàn và dẫn ra ngoài
qua một sợi dây nối đất Các yếu tố như tỷ lệ hỗn hợp, tốc độ dòng… cũng ảnh
hưởng tới tĩnh điện của nhiên liệu Mặc dù được nối đất nhưng tĩnh điện vẫn có thể
tồn tại trong bồn nhiên liệu vì thế nếu không quan tâm đúng mức đến vấn đề này sẽ
gây ra nguy cơ cháy nổ cao [11]
Phụ gia chống tĩnh điện phổ biến nhất hiện nay đang được sử dụng có tên gọi
Stadis 450 [15], nó là sản phẩm hỗn hợp bao gồm:
+) Toluene: 30 – 60 %
+) Dung dịch Naphta: 10 – 30 %
+) Axit dinonylnaphtylsulphonic: 10 – 30 %
+) Polymer có chứa lưu huỳnh: 10 – 30 %
+) Polymer có chứa nitơ: 5 – 10 %
+) Propan-2-ol: 1 – 5 %
+) Naphtalen: 1 – 5 %
Hàm lượng phụ gia sử dụng nằm trong khoảng 5 – 50 ppm tuỳ vào loại nhiên
liệu sử dụng, hàm lượng thấp để đảm bảo không ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
và giảm nguy cơ cháy nổ Stadis 450 cũng rất hiệu quả trong việc làm giảm các vết
rỗ trên bề mặt bồn chứa gây ra bởi sự hoạt động của tĩnh điện
Ngoài ra hướng nghiên cứu hiện nay cũng đang triển khai thêm một loại phụ
gia có tên gọi Octastat – một hợp chất mang tính phi kim Octastat không chỉ có ứng
dụng trong nhiên liệu phản lực làm phụ gia chống tĩnh điện mà nó còn có thể dùng
trong một số ngành công nghiệp hoá học Trong quá trình sản xuất polypropylene và
polyethylene, tĩnh điện là nguyên nhân gây nên các hạt polymer dính vào nhau và
Trang 19dính vào thành lò, làm giảm hiệu suất của lò thì octastat cũng khắc phục được điều
này
Hàm lượng phụ gia cho thêm vào đảm bảo độ dẫn điện trong khoảng 50 –
600pS/m Giới hạn dưới đảm bảo an toàn khi bơm nhiên liệu, giới hạn trên để đồng
hồ đo nhiên liệu hoạt động bình thường
1.3.4 Một số loại phụ gia khác cho nhiên liệu phản lực
*) Phụ gia chống tạo cặn kim loại
Kim loại có lẫn trong nhiên liệu là xúc tác cho phản ứng oxy hoá, làm giảm
độ ổn định của nhiên liệu trong quá trình bảo quản do vậy cần phải được loại bỏ
Phụ gia chống tạo cặn kim loại hoạt động dựa vào nguyên tắc tạo phức bền dạng
vòng càng chelat với kim loại, khiến chúng không tham gia phản ứng được Cho đến
nay chỉ có phụ gia N, N’ – disalycylidene-1,2-propane diamine được sử dụng cho
mục đích này
*) Phụ gia chống vi sinh vật
Sử dụng để tiêu diệt các vi sinh vật và nấm mốc tồn tại trong nhiên liệu, gây
ảnh hưởng đến chất lượng nhiên liệu [6,7] Phụ gia chống vi sinh vật rất độc nên
nước thải cần được xử lý cẩn thận Phụ gia hiện đang được sử dụng trong thương mại
*) Phụ gia chống ăn mòn:
Phụ gia chống ăn mòn được sử dụng để ngăn ngừa nước tự do và oxy không
khí tấn công vào hệ thống bồn bể chứa gây ăn mòn Nó hoạt động như một chất gây
ức chế, và cũng có khả năng tăng cường sự bôi trơn cho đường ống Phụ gia này
chứa nhóm có cực (thường là axit cacboxylic) sẽ bám lên bề mặt kim loại tạo thành
một lớp màng mỏng tương tự như dầu nhờn có tác dụng bảo vệ chống ăn mòn [14]
Trang 201.4 Bảo quản nhiên liệu trong qúa trình vận chuyển và
tồn chứa
Công tác bảo quản trong vận chuyển và tồn chứa nhiên liệu là một yếu tố rất
quan trọng, nó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm Vì cho dù sản phẩm có
tốt đến đâu nhưng trong quá trình vận chuyển tồn chứa nếu công tác bảo quản không
tốt thì chất lượng sản phẩm sẽ giảm đi rất nhiều Ngoài ra công tác bảo quản còn
ảnh hưởng rất lớn đến việc tiết kiệm nhiên liệu, chống lãng phí Nếu bảo quản tốt sẽ
tránh được sự thất thoát do ngoại cảnh đem đến, giảm thiểu những chi phí khắc phục
chất lượng sản phẩm trước khi sử dụng Bên cạnh đó công tác bảo quản còn là yếu tố
quyết định trong việc phòng chống cháy nổ
Để đảm bảo công tác bảo quản trong quá trình vận chuyển và tồn chứa nhiên
liệu cần tuân thủ những nguyên tắc sau:
1.4.1 Các tiêu chuẩn liên quan đến vận chuyển tồn chứa nhiên liệu
Hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam đã đề ra:
- TCVN 3891 quy định việc đóng rót, ghi nhãn, vận chuyển, bảo quản và an
toàn
- TCVN 2715 quy định về lấy mẫu thủ công phục vụ việc phân tích các chỉ tiêu
chất lượng sản phẩm trong quá trình vận chuyển và tồn chứa
1.4.2 Chống bay hơi hao hụt
Nhiên liệu phản lực là nhiên liệu lỏng có tính bay hơi cao Để hạn chế sự bay
hơi của nhiên liệu trong quá trình vận chuyển và bảo quản cần tuân theo những quy
định sau:
- Tồn chứa nhiên liệu ở những nơi kín gió, khô ráo và mát mẻ Nếu tồn chứa
trong những bể chứa lớn tốt nhất là nên chôn dưới đất Nếu là bể nổi cần quét sơn
màu sáng để phản xạ ánh sáng nhằm tản bớt nhiệt lượng do hấp thụ ánh sáng mặt
trời Hạn chế tối đa mặt thoáng của nhiên liệu bằng cách tăng chiều cao cột nhiên
liệu chứa trong bể Bể phải có nắp đậy kín đáo, có mái che Lượng nhiên liệu trong
bể nên chiếm khoảng 90 -95% thể tích bể vì nếu để khoảng trống nhiều thì khi nhiên
liệu bốc hơi mạnh sẽ hao hụt nhiều
Trang 21- Việc bơm hút, tra nạp nhiên liệu cần thực hiện kín, tránh những nơi đầu gió,
cần cấp hàng tập trung tránh cấp phát lẻ, đảm bảo nguyên tắc cấp hàng cũ, giữ hàng
mới
1.4.3 Chống biến chất nhiên liệu
Để tránh biến chất nhiên liệu thì điều đầu tiên cần lưu ý là tránh để các loại
nhiên liệu lẫn vào nhau Nếu sản phẩm dầu mỏ nhẹ lẫn vào nhiên liệu phản lực sẽ
làm thay đổi các chỉ tiêu kỹ thuật như thay đổi thành phần cất, giảm độ chớp cháy,
giảm nhiệt lượng
Đặc biệt trong quá trình bảo quản tuyệt đối không để lẫn nước vào nhiên liệu
phản lực vì nước có tác động vô cùng xấu đến chất lượng nhiên liệu và độ an toàn
cho mỗi chuyến bay khi máy bay hoạt động ở tầm cao với áp suất khí quyển liên tục
thay đổi
Các vật dụng bằng kim loại sử dụng để tồn chứa nhiên liệu cũng là một yếu
tố ảnh hưởng đến tính ổn định hoá học của nhiên liệu Thực tế cho thấy các kim loại
đồng, sắt có tác dụng làm tăng tốc độ tạo nhựa Ngược lại các hợp kim chứa kẽm,
nhôm nhất là niken sẽ làm giảm sự tạo thành nhựa Do vậy các vật chứa phải sạch
sẽ, không lẫn rỉ sắt, tạp chất Không được dùng vật chứa chung giữa nhiên liệu phản
lực với các sản phẩm dầu mỏ khác
1.5 Các phương pháp kiểm tra chất lượng nhiên liệu phản
lực Jet A-1
1.5.1 Xác định màu saybolt [2]
Tiêu chuẩn xác định TCVN 4354: 2007, ASTM D 156 – 02 e1
Việc xác định màu của sản phẩm dầu mỏ được sử dụng chủ yếu cho mục
đích kiểm soát sản xuất Đây cũng là chỉ tiêu chất lượng quan trọng vì người sử
dụng dễ dàng nhìn thấy màu của sản phẩm Trong một vài trường hợp, màu biểu
hiện độ tinh chế của sản phẩm Khi đã biết dải màu của sản phẩm, sự thay đổi nằm
ngoài phạm vi trên có thể biểu hiện là bị nhiễm với sản phẩm khác Tuy nhiên, trị số
Trang 22về màu không luôn luôn là chỉ dẫn tin cậy đối với chất lượng và cũng không nên
dùng tùy tiện trong các tiêu chuẩn về chất lượng
Tóm tắt phương pháp
Hạ chiều cao của cột mẫu tới các mức phù hợp với số màu cho đến khi nhìn
qua cột mẫu thấy màu của mẫu chắc chắn sáng hơn màu của tấm kính chuẩn Báo
cáo số màu trên mức này là kết quả của phép thử, mặc dù màu của mẫu đó là sẫm
hơn, chưa rõ ràng hoặc có thể phù hợp ở mức cao hơn
1.5.2 Xác định thành phần cất ở áp suất khí quyển [2]
Tiêu chuẩn xác định TCVN 2698 : 2007, ASTM D 86 – 05
Phương pháp chưng cất đã được sử dụng rất lâu trong ngành công nghiệp dầu
mỏ từ khi còn là phương pháp chưng cất Engler Do được áp dụng một thời gian dài
như vậy nên nó có một số lượng lớn cơ sở dữ liệu lưu trữ để dự đoán độ nhạy tối đa
đối với sản phẩm và quá trình chế biến
Các đặc tính chưng cất của các hydrocacbon thường có ảnh hưởng quan trọng
đến an toàn và tính năng sử dụng của chúng Dựa vào dải sôi ta có thể biết được các
thông tin về thành phần, tính chất của nhiên liệu trong quá trình bảo quản và sử
dụng Tính bay hơi là một yếu tố chính xác để xác định xu hướng tạo hơi nổ của hỗn
hợp nhiên liệu Mặt khác tính bay hơi ảnh hưởng đến sự khởi động máy làm nóng
máy và xu thế tạo nút hơi ở nhiệt độ vận hành cao hay ở độ cao lớn
Tóm tắt phương pháp
Chưng cất 100ml nhiên liệu ở áp suất môi truờng dưới các điều kiện quy định
theo phương pháp chưng cất thủ công – Bộ chưng cất Engler.Ghi lại số đọc nhiệt độ
và thể tích ngưng tụ ở các điểm Tsđ, T5%, T10%, T20%, T40%, T50%,
T60%,T80%,T90%,T95%,Tsc Thể tích cặn, hao hụt cũng được ghi lại
Kết quả sau khi thu được được hiệu chỉnh về áp suất khí quyển Báo cáo và so
sánh dưới dạng đồ thị của đường cong chưng cất
Trang 231.5.3 Xác định điểm chớp cháy cốc kín bằng thiết bị thử có kích thước nhỏ [2]
Tiêu chuẩn xác định TCVN 6608 : 2006, Astm d 3828 – 05
- Điểm chớp cháy đánh giá phản ứng của mẫu nhiên liệu với nhiệt và ngọn
lửa trong điều kiện kiểm soát của phòng thí nghiệm Đây là một trong các tính chất
phải cân nhắc trong việc đánh giá tổng thể sự nguy hiểm cháy của một nhiên liệu
- Điểm chớp cháy được sử dụng trong các qui định an toàn và vận chuyển để
chỉ rõ và phân loại các loại nhiên liệu dễ cháy và có thể gây cháy
- Điểm chớp cháy chỉ ra khả năng có mặt các chất dễ cháy và dễ bay hơi
trong các vật liệu không cháy và không bay hơi
Tóm tắt phương pháp
- Đưa mẫu vào cốc của thiết bị đã chọn và duy trì ở nhiệt độ chớp cháy dự
kiến Sau thời gian qui định đưa ngọn lửa vào và quan sát có sự xuất hiện chớp cháy
hay không
mẫu mới vào cốc và tiến hành thử Quy trình này lặp lại cho đến khi xác định được
1.5.4 Xác định điểm băng [2]
Tiêu chuẩn xác định TCVN 7170 : 2006, Astm d 2386 – 06
Điểm băng của nhiên liệu Hàng không là nhiệt độ thấp nhất mà tại đó trong
nhiên liệu chưa xuất hiện những tinh thể hydrocacbon rắn, sự có mặt của chúng
trong nhiên liệu có thể hạn chế dòng chảy của nhiên liệu qua các bộ lọc trong hệ
thống nhiên liệu của tàu bay Thông thường nhiệt độ của nhiên liệu trong thùng chứa
của tàu bay giảm xuống trong quá trình bay, phụ thuộc vào tốc độ bay, độ cao và
thời gian bay Điểm băng của nhiên liệu luôn luôn phải thấp hơn nhiệt độ làm việc
tối thiểu của thùng chứa nhiên liệu
Tóm tắt phương pháp
Trang 24Nhiên liệu sau khi được đưa vào ống jacket được đưa vào bình chân không
được làm lạnh bằng cồn 99,9% (Rượu metylic) Nhiên liệu được khuấy liên tục bằng
thanh khuấy Khi bắt đầu xuất hiện các tinh thể có vệt mờ như bột sắn dây, ngừng
khuấy lấy mẫu ra và khuấy bằng tay cho đến khi các tinh thể hydrocacbon hoàn toàn
biến mất Ghi lại nhiệt độ tại đó
1.5.5 Xác định khối lượng riêng [2]
Tiêu chuẩn xác định Tcvn 6594 : 2007, Astm d 1298 – 05
- Việc xác định khối lượng riêng rất cần thiết cho việc chuyển đổi thể tích ở
nhiệt độ thực tế về thể tích hoặc khối lượng ở nhiệt độ đối chứng tiêu chuẩn trong
quá trình bảo quản vận chuyển
- Khối lượng riêng là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của dầu thô Tuy
nhiên tính chất này của dầu mỏ không phải là một chỉ dẫn chắc chắn về chất lượng
của dầu nếu không kết hợp các tính chất khác
- Khối lượng riêng là một chỉ số quan trọng đối với nhiên liệu hàng hải, hàng
không và ô tô trong việc tồn chứa, bảo quản và đốt cháy
Tóm tắt phương pháp
Mẫu được đưa về nhiệt độ qui định và một phần mẫu được rót vào ống đong
có nhiệt độ xấp xỉ nhiệt độ của mẫu thử Tỷ trọng kế có nhiệt độ tương tự được thả
vào phần mẫu thử và để yên Sau khi nhiệt độ đạt cân bằng, đọc kết quả trên thang
đo của tỷ trọng kế và ghi lại nhiệt độ mẫu lúc đó áp dụng các Bảng Đo lường về
Dầu mỏ qui đổi số đọc tỷ trọng kế đã quan sát được về nhiệt độ chuẩn Nếu cần thiết
đặt ống đong tỷ trọng và mẫu chứa trong đó vào bể ổn nhiệt để tránh sự thay đổi
nhiệt độ quá lớn trong quá trình đo
1.5.6 Xác định độ ăn mòn đồng bằng phép thử tấm đồng [2]
Tiêu chuẩn xác định Tcvn 2694 : 2007, Astm d 130 – 04 e1
Hầu hết các hợp chất lưu huỳnh có trong dầu thô đã được loại bỏ trong quá
trình chế biến Tuy nhiên lưu huỳnh vẫn còn trong sản phẩm dầu mỏ, một số hợp
Trang 25chất có thể gây ăn mòn đối với các kim loại Sự ăn mòn này không nhất thiết trực
tiếp phụ thuộc vào hàm lượng lưu huỳnh tổng, ảnh hưởng của nó rất đa dạng, phụ
thuộc vào cấu tạo hóa học của hợp chất lưu huỳnh Phương pháp này nhằm đánh giá
mức độ ăn mòn tương đối của sản phẩm dầu mỏ
Tóm tắt phương pháp
Tấm đồng đã đánh bóng đựơc nhúng chìm trong một lượng mẫu thử qui định
và gia nhiệt ở điều kiện nhiệt độ và thời gian qui định cụ thể đối với vật liệu thử Sau
chu kỳ gia nhiệt lấy tấm đồng ra, rửa sạch, đánh giá màu và độ xỉn bằng cách so với
Bảng chuẩn ăn mòn tấm đồng ASTM
1.5.7 Xác định hàm lượng nhựa bằng phương pháp bay hơi [2]
Tiêu chuẩn xác định Tcvn 6593 : 2006, Astm d 381 – 04
- Hàm lượng nhựa cao có thể gây ra đóng cặn ở hệ thống cảm ứng và dính
các van nạp, và trong nhiều trường hợp có thể khẳng định rằng hàm lượng nhựa thấp
sẽ đảm bảo cho hệ thống cảm ứng không gặp trở ngại gì Tuy nhiên người sử dụng
hiểu rõ rằng bản thân phép thử này không liên quan với các cặn của hệ thống cảm
ứng
- Hàm lượng nhựa cao biểu hiện của sự nhiễm tạp chất của nhiên liệu do các
lọai dầu có nhiệt độ sôi cao hơn hoặc do các nguyên nhân đặc biệt và phản ánh
chung việc vận chuyển và bảo quản kém trong quá trình phân phối
Tóm tắt phương pháp
Cho bay hơi một lượng nhiên liệu xác định bằng dòng không khí hoặc hơi ở
các điều kiện được kiểm soát về nhiệt độ và lưu lượng Lượng cặn thu được đem cân
và kết quả tính bằng số miligam trên 100ml nhiên liệu
1.5.8 Xác định trị số tách nước bằng máy đo loại xách tay [2]
Tiêu chuẩn xác định Tcvn 7272 : 2006, Astm d 3984 - 05
- Phương pháp này cung cấp số đo về sự hiện diện của chất hoạt động bề mặt
trong nhiên liệu tuốc bin hàng không Phương pháp này có thể phát hiện các vết của
Trang 26các cặn còn lại trong nhiên liệu sau quá trình tinh luyện ở nhà máy lọc dầu Phương
pháp này cũng có thể phát hiện được các chất hoạt động bề mặt cho thêm vào hoặc
bị nhiễm trong quá trình vận chuyển từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ Các phụ gia
hiện có cũng có thể ảnh hưởng bất lợi đến việc xác định trị số Một vài phụ gia ảnh
hưởng đến khả năng tách nước tự do ra khỏi nhiên liệu của đầu lọc
- Máy đo độ tách nước có dải đo từ 50 đến 100 Các giá trị nằm ngoài khoảng
này được coi là không xác định và không có hiệu lực Khi giá trị nhận được lớn hơn
100, có thể sự truyền sáng của nhiên liệu dùng để đặt mức so sánh 100 bị giảm do
các chất có trong đó Chất này sau đó bị loại trong quá trình kết tủa của phép thử,
như vậy nhiên liệu đã qua xử lý sẽ có tính truyền sáng cao hơn so với mẫu nhiên liệu
dùng để đặt mức so sánh 100 dẫn đến trị số cuối cùng đo được sẽ lớn hơn 100
Tóm tắt phương pháp
Mẫu nhiên liệu được tạo thành trong xylanh bằng máy khuấy tốc độ cao Sau
đó đẩy chất này ra khởi xylanh ở tốc độ đã định qua đầu lọc bằng sợi thủy tinh tiêu
chuẩn và đem phân tích phần dung dịch hứng được bằng phép đo truyền sáng để xác
định lượng nước trong đó Làm tròn kết quả đến số nguyên gần nhất và báo cáo theo
thang đo từ 0 đến 100 Các trị số cao cho thấy nước dễ bị kết tụ, nghĩa là nhiên liệu
hầu như không có chất hoạt động bề mặt Có thể thực hiện phép đo trong vòng 5
phút đến 10 phút
1.5.9 Xác định độ dẫn điện [2]
Tiêu chuẩn xác định Tcvn 6609 : 2006, Astm d 2624 – 06
Khả năng nhiên liệu làm tiêu tan điện tích sinh ra trong quá trình bơm và lọc
được đánh giá bằng độ dẫn điện của nhiên liệu, độ dẫn điện này phụ thuộc vào
lượng của các dạng ion trong nhiên liệu Nếu độ dẫn điện càng lớn thì độ tiêu tan
điện càng nhanh, đủ để ngăn ngừa tích điện và tránh điện thế cao trong bồn tiếp
nhận nhiên liệu
Trang 27Tóm tắt phương pháp
Đưa điện áp vào hai điện cực đặt trong nhiên liệu và nhận được cường độ
dòng điện biểu thị cho giá trị độ dẫn điện Dùng thiết bị đo loại xách tay đo dòng
điện ngay sau khi đưa điện áp vào để tránh sai số do việc suy giảm ion
Qua tổng quan lý thuyết ta thấy, các yêu cầu về chỉ tiêu kỹ thuật của động
cơ phản lực cũng như các yêu cầu về độ an toàn bay ngày càng khắt khe hơn, do đó
đòi hỏi chất lượng của nhiên liệu phản lực cần được nâng cao Một biện pháp nâng
cao chất lượng nhiên liệu được sử dụng phổ biến nhất hiện nay là sử dụng phụ gia
Vì vậy luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của việc pha phụ gia
chống tĩnh điện, phụ gia ức chế đóng băng, hỗn hợp phụ gia đến đến độ dẫn
điện, điểm băng cũng như chất lượng của nhiên liệu phản lực Jet A-1
Trang 28Phần II Thực nghiệm và phương pháp nghiên cứu 2.1 Chuẩn bị mẫu
• Lựa chọn mẫu:
Để có thể đánh giá được chất lượng nhiên liệu một cách tổng quát và cụ thể
nhất chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm và so sánh 3 mẫu nhiên liệu gồm: 2 mẫu dầu
JET A1 có tại phòng thử nghiệm XN xăng dầu Hàng không Miền Bắc (2 mẫu dầu
này có nguồn gốc xuất xứ từ 2 nhà máy lọc dầu khác nhau) và 1 mẫu kerosen outlet
-nhiên liệu từ nhà máy lọc dầu Dung Quất theo 9 chỉ tiêu mà PTN XN Xăng dầu HK
Miền Bắc đang thực hiện
+) Mẫu nhiên liệu Jet A-1 có nguồn gốc từ nhà máy lọc dầu Mao Ming –
Trung Quốc (ký hiệu Mẫu 1: Jet_TQ)
+) Mẫu nhiên liệu Jet A-1 có nguồn gốc từ nhà máy lọc dầu Hồng Kông (ký
hiệu Mẫu 2: Jet_HK)
+) Mẫu Kerosen Outlet của nhà máy lọc dầu Dung Quất – Việt Nam (ký hiệu
Mẫu 3: Kerosen_DQ)
Đánh giá ảnh hưởng của phụ gia chống tĩnh điện được thực hiện trên:
SDA là 0.1mg/l, 0.2 mg/l, 0.3 mg/l, 0.4 mg/l, 0.5 mg/l, 0.6 mg/l (Ký hiệu tương ứng
là mẫu số 4a – 4f)
hàm lượng phụ gia là 0,2 mg/l)
hàm lượng phụ gia là 0,25 mg/l)
Trang 29- Mẫu nhiên liệu của bể 3 – N1 lấy ngày 16/02/2011 ký hiệu là mẫu số 09 (pha
hàm lượng phụ gia là 0,2 mg/l)
mẫu 10 (Pha phụ gia Stadis với hàm lượng 0,1 mg/l)
mẫu 11 (Pha phụ gia Stadis với hàm lượng 0,1 mg/l)
phụ gia Stadis với hàm lượng 0,2 mg/l)
Đánh giá ảnh hưởng của phụ gia ức chế đóng băng được thực hiện trên 3 mẫu
có điểm băng khác nhau nhưng gần với giới hạn tối đa cho phép
Đánh giá ảnh hưởng của hỗn hợp phụ gia gồm phụ gia ức chế đóng băng và
phụ gia tăng độ dẫn điện được thực hiện trên mẫu nhiên liệu Jet A-1 bể 1 – N2 lấy
ngày 18/08/2011 (ký hiệu mẫu 16)
• Thực nghiệm pha phụ gia
+) Trong phòng thí nghiệm:
- Để pha nồng độ phụ gia chống tĩnh điện là 0.1mg/l thì cân khối lượng phụ
gia là 0.1 ± 0.01mg Sau đó cho lượng phụ gia này vào cốc thủy tinh có chứa 1 lít
nhiên liệu Jet A-1 Khuấy đều sau đó để ổn định khoảng 15 phút rồi tiến hành đo
Tương tự với các hàm lượng phụ gia khác
- Để pha nồng độ phụ gia ức chế đóng băng là 0.01% thể tích (%TT) thì dùng
pipet 50 àl lấy 100 àl phụ gia ức chế đóng băng cho vào cốc thủy tinh 1 lít Khuấy
đều, để ổn định trong 15 phút rồi tiến hành đo Tương tự với các hàm lượng phụ gia
khác
Trang 30+) Ngoài hiện trường: Lấy hàm lượng phụ gia tối ưu xác định được trong
phòng thí nghiệm nhân với tổng lượng dầu của bể cần pha ta được khối lượng phụ
gia cần pha vào bể
2.2 Các phương pháp phân tích chỉ tiêu chất lượng nhiên
liệu
2.2.1 Xác định màu saybolt [3]
- Thiết bị, dụng cụ bao gồm: Máy so màu saybolt, cốc đựng mẫu, phễu rót mẫu
- Lấy một phần mẫu thử để tráng ống mẫu, chú ý dốc hết mẫu trong ống Đổ
mẫu dầu nhiên liệu vào ống, so sánh màu theo số nguyên của kính màu chuẩn Khi
màu của mẫu sáng hơn kính màu chuẩn thì chuyển và thay bằng kính màu chuẩn
chuẩn hai đơn vị
- Đặt màu hoặc các kình màu chuẩn đúng vị trí, và để mẫu thử trong ống ở mức
mà màu của mẫu đó là sẫm hơn so với kính chuẩn, dùng vòi xả bớt mẫu dần dần ra
sao cho màu của mẫu hơi sẫm hơn so với màu chuẩn Từ điểm này hạ bớt mức mẫu
xuống đến độ sâu gần nhất phù hợp với đúng số màu Khi quan sát dầu qua mắt
kính, màu mẫu vẫn sẫm hơn kính màu chuẩn thì tiếp tục hạ mức mẫu xuống độ sâu
quy định và so sánh
- Tiếp tục thao tác như vậy cho đến khi độ sâu của mẫu đạt đến vị trí mà màu của
mẫu và kính màu chuẩn như nhau, hoặc khác nhau không đáng kể Từ điểm này hạ
thấp cột mẫu xuống độ sâu quy định tiếp theo và khi màu mẫu dầu rõ ràng sáng hơn
kính màu chuẩn thì ghi màu saybolt là số màu tương ứng với mức cao hơn gần nhất
2.2.2 Xác định thành phần cất ở áp suất khí quyển [3]
Thiết bị chính của bộ chưng cất thủ công gồm có: Bình cất, ống ngưng, bể
làm lạnh, nguồn nhiệt, tấm chịu nhiệt làm bằng thuỷ tinh thạch anh, nhiệt kế thuỷ
tinh ASTM 8C, ống hứng phần cất
Trang 31- Đổ lượng mẫu đến chính xác vạch 100ml của ống hứng và chuyển toàn bộ
lượng mẫu đó vào bình cất sao cho chất lỏng không chảy vào ống hơi
- Lắp nhiệt kế vào bình cất sao cho bầu nhiệt kế ở giữa cổ bình cất và điểm
thấp hơn của mao quản ở ngang mức với điểm cao nhất ở đáy thành trong ống hơi
- Chỉnh bình cất sao cho ống hơi xuyên vào ống ngưng 1 khoảng ừ 25-50mm
chỉnh đầu của ống ngưng sẽ nằm giữa miệng ống hứng và trong ống một khoảng ít
nhất 25mm
Điều chỉnh việc cấp nhiệt sao cho thời gian từ lúc bắt đầu đun đến điểm sôi đầu là
5-15 phút Tốc độ trung bình của quá trình ngưng tụ từ khi thu được 5% đến khi còn
5ml trong bình cất là 4-5ml/phút Thời gian còn 5ml cặn đến điểm sôi cuối không
được quá 5 phút
- Trong thời gian giữa điểm sôi đầu cho đến khi kết thúc chưng cất ghi lại các
số đọc nhiệt độ tại các thời điểm Tsđ, T5%, T10%, T20%, T40%, T50%,
T60%,T80%,T90%,T95%,Tsc Ghi lại thể tích cặn thu được từ đó tính lượng hao hụt
nhiên liệu
- Hiệu chỉnh số đọc nhiệt độ về 760mmHg theo công thức:
2.2.3 Xác định điểm chớp cháy cốc kín bằng thiết bị thử có kích thước nhỏ [3]
- Thiết bị, dụng cụ bao gồm: máy xác định điểm chớp cháy cốc kín, cốc đựng
mẫu, bơm tiêm
- Kiểm tra bên trong cốc mẫu, nắp và cửa sập để không còn vết bẩn Sử dụng
giấy thấm để lau sạch Đậy nắp và khóa cẩn thận, miệng rót mẫu phải dễ làm sạch
- Vặn núm điều chỉnh nhiệt độ thô theo chiều kim đồng hồ để đèn chỉ thị bật
núm này ngược chiều kim đồng hồ tới điểm tương ứng với nhiệt độ chớp cháy dự
Trang 32kiến Khi đèn chỉ thị nhấp nháy, đọc nhiệt độ trên nhiệt kế Nếu cần thiết, vặn núm
vi chỉnh điều chỉnh nhiệt độ để có chính xác nhiệt độ mong muốn
- Dùng bơm tiêm lấy 2ml mẫu thử, bơm tiêm cẩn thận đến gần cửa nạp của
thiết bị thử, bơm cẩn thận toàn bộ mẫu vào cốc sao cho không bị rớt mẫu ra ngoài,
đưa bơm tiêm ra
- Đặt đồng hồ hẹn giờ bằng cách xoay núm theo chiều kim đồng hồ đến điểm
cần dừng của nó Châm ngọn lửa mồi, từ từ mở van điều chỉnh khí gas đốt ngọn lửa
mồi và ngọn lửa thử Điều chỉnh kích thước ngọn lửa thử bằng van kẹp đến khoảng
4mm
- Sau khi tín hiệu báo cho thấy mẫu đang ở nhiệt độ thử, đưa ngọn lửa `thử
vào bằng cách mở cửa sập ra từ từ, sau đó đóng kín trong khoảng thời gian 2,5 giây
Quan sát ánh chớp tại vị trí mở cốc Mẫu chỉ được coi là đã chớp cháy khi có ngọn
lửa bùng to và tự nó lan truyền trên toàn bộ bề mặt của mẫu
- Dùng van điều chỉnh khí gas để tắt ngọn lửa thử Khi nhiệt độ cốc thử hạ
đến mức an toàn lấy mẫu ra và làm sạch thiết bị
* Báo cáo kết quả
Quan sát và ghi lại áp suất môi trường tại thời điểm thử Nếu áp suất khác
760mmHg thì
B: Là áp suất môi trường tính bằng mmHg
2.2.4 Xác định điểm băng [3]
- Thiết bị, dụng cụ bao gồm: ống chứa mẫu kiểu jacket, ống đệm, thanh
khuấy, bình chân không, nhiệt kế
- Lấy 25ml ± 1ml nhiên liệu vào ống chứa mẫu kiểu jacket, sạch và khô Đậy
chặt ống bằng nút bấc có gắn thanh khuấy, nhiệt kế và ống đệm chống ẩm, điều
Trang 33chỉnh nhiệt kế ở vị trí sao cho bầu nhiệt kế nằm ở giữa không chạm vào thành ống
và cách đáy ống chứa mẫu từ 10mm đến 15mm
- Cặp chặt ống chứa mẫu kiểu jacket sao cho ống nhúng ngập vào càng sâu
càng tốt trong bình chân không có chứa chất làm lạnh Bề mặt của mẫu phải ở dưới
bề mặt chất làm lạnh từ 15mm đến 20mm
- Khuấy nhiên liệu liên tục, nâng và hạ cánh khuấy với tốc độ từ 1 đến 1,5
chu trình/giây, cẩn thận để các vòng khuấy không chạm vào đáy bình khi hạ xuống
và khuấy dưới bề mặt nhiên liệu khi nâng lên Cho phép ngừng khuấy tạm thời khi
thực hiện một vài bước khác Quan sát liên tục để nhận thấy sự xuất hiện của các
tinh thể hydrocacbon Không cần quan tâm đến các vệt mờ xuất hiện khi ở gần -
- Ghi lại nhiệt độ mà tại đó các tinh thể hydrocacbon xuất hiện Lấy ống chứa
mẫu ra khỏi chất làm lạnh và để nó ấm dần lên, vẫn khuấy liên tục với tốc độ từ 1
đến 1,5 chu trình/giây Tiếp tục quan sát để nhận thấy sự biến mất của các tinh thể
hydrocacbon Ghi lại nhiệt độ mà tại đó các tinh thể hydrocacbon hoàn toàn biến
mất
2.2.5 Xác định khối lượng riêng [3]
Thiết bị, dụng cụ bao gồm: tỷ trọng kế, nhiệt kế, ống đo tỷ trọng, bể ổn nhiệt
(nếu cần), que khuấy
- Đưa nhiệt độ của mẫu đến nhiệt độ của phép thử sao cho mẫu ở trạng thái
đủ lỏng nhưng nhiệt độ mẫu không được cao quá gây hao hụt các thành phần nhẹ và
cũng không được thấp quá sẽ xuất hiện sáp trong mẫu Đưa nhiệt độ của ống đo tỷ
- Rót mẫu thử vào ống đo tỷ trọng đã được làm sạch, không làm tung tóe để
tránh tạo thành bọt khí và để giảm tối thiểu sự bay hơi của những thành phần có độ
sôi thấp hơn
- Đặt thẳng đứng ống đo chứa mẫu ở nơi kín gió, nhiệt độ môi trường xung
Trang 34phép thử Khi nhiệt độ của phần mẫu thử chênh lệch so với nhiệt độ của môi trường
trình thử
- Thả nhiệt kế phù hợp, dùng que khuấy phần mẫu xoay theo chiều dọc sao
cho nhiệt độ và khối lượng riêng đồng đều trong toàn bộ mẫu Ghi nhiệt độ mẫu
- Nhẹ nhàng thả tỷ trọng kế vào mẫu, khi tỷ trọng kế ở trạng thái cân bằng,
cẩn thận để tránh làm ướt phần nổi của tỷ trọng kế trên bề mặt chất lỏng
- ấn tỷ trọng kế xuống chất lỏng khoảng 2 vạch chia và sau đó thả ra, xoay
nhẹ để đưa về trạng thái cân bằng, nổi tự do, không chạm vào thành ống đo tỷ trọng
Phải đảm bảo là phần nổi của tỷ trọng kế trên bề mặt chất lỏng không bị ướt, vì chất
lỏng bám sẽ làm ảnh hưởng đến số đọc
- Khi chất lỏng đứng yên, nổi tự do, không chạm vào thành ống đo, đọc số
đọc trên thang đo chính xác đến một phần năm của vạch chia Ghi số đọc của tỷ
trọng kế là kết quả đọc được tại điểm mà bề mặt chính của chất lỏng cắt ngang
thang đo, xác định điểm này bằng cách để mắt nhìn ngay dưới bề mặt chất lỏng và
từ từ nâng tầm mắt cho đến khi bề mặt chất lỏng nhìn thấy đầu tiên là hình elíp méo,
sau đó thành một đường thẳng cắt ngang thang đo tỷ trọng kế
- Sau khi đọc xong số đọc trên tỷ trọng kế, cẩn thận nhấc tỷ trọng kế ra khỏi
chất lỏng, cho nhiệt kế vào, khuấy mẫu theo chiều thẳng đứng với que khuấy Ghi
lại qui trình
2.2.6 Xác định độ ăn mòn đồng bằng phép thử tấm đồng [3]
- Thiết bị, dụng cụ bao gồm: Bình chịu áp thử nghiệm ăn mòn tấm đồng, ống
thử, bể thử, thiết bị đo nhiệt độ, bàn kẹp đánh bóng, ống quan sát, kẹp fooc-xép,
Trang 35- Chuẩn bị bề mặt tấm đồng: Loại hết các vết bẩn trên cả sáu mặt của tấm
đồng từ phép phân tích trước Cách thực hiện là dùng bó thép cấp 00 hoặc mịn hơn
hoặc giấy hoặc vải silicacbua có độ mịn thích hợp để đạt được kết quả mong muốn
Cuối cùng dùng giấy hoặc vải silicacbua 65àm (240 hạt) tẩy hết các vết xước do các
loại giấy lau trước gây ra Phải bảo vệ tấm đồng đó không bị ôxy hóa trước khi đánh
bóng lần cuối bằng cách nhúng tấm đồng vào dung môi rửa, sau đó lấy ra ngay để
đánh bóng lần cuối hoặc bảo quản để cho lần thử nghiệm sau
Theo qui trình thủ công, khi chuẩn bị bề mặt tấm đồng ta đặt một tờ giấy
nhám lên trên một mặt phẳng, dùng dầu hỏa hoặc dung môi rửa thấm ướt và chà sát
tấm đồng theo chuyển động tròn, bảo vệ không cho tấm đồng tiếp xúc với các ngón
tay bằng một tờ giấy lọc không tro, hoặc dùng bao tay Có thể dùng máy mài với
giấy hoặc vải nhám loại phù hợp để đánh bóng bề mặt tấm đồng
- Đánh bóng lần cuối: Đối với các tấm đồng như chuẩn bị ở trên hoặc các tấm
đồng mới dùng lần đầu, lấy tấm đồng ra khỏi nơi bảo vệ như lấy ra khỏi dung môi
rửa Để tránh làm bẩn bề mặt tấm đồng trong quá trình đánh bóng lần cuối, không
được phép để ngón tay tiếp xúc trực tiếp với tấm đồng mà phải đeo bao tay hoặc giữ
tấm đồng qua giấy lọc không tro Trước tiên đánh bóng các mép, sau đó đến các mặt
chính bằng một miếng bông (len bông) đã thấm dung môi rửa, chấm các hạt
silicacbua 105àm (150 hạt) Sau đó dùng cục bông mới lau sạch tấm đồng, chú y chỉ
dùng kẹp thép không gỉ để giữ tấm đồng Không được chạm tay vào tấm đồng Kẹp
tấm đồng vào giá kẹp rồi dùng bông thấm các hạt siliccacbua đánh bóng các bề mặt
chính Không đánh bóng theo chuyển động tròn, chà sát theo trục dọc của tấm đồng
vượt thẳng qua đầu mút trước khi quay ngược lại Dùng các cục bông lau sạch các
bụi kim loại cho đến khi cục bông không có vết bẩn Điều quan trọng là cần đánh
bóng đều toàn bộ bề mặt tấm đồng để có được tấm đồng có độ bạc màu đồng nhất
Nếu các mép bị mài mòn hơn (bề mặt cong hình elip) thì chúng có xu hướng bị ăn
mòn nhiều hơn so với vùng trung tâm tấm đồng Việc dùng giá kẹp sẽ tạo khả năng
đánh bóng đồng đều
Trang 36- Cho 30ml mẫu hoàn toàn sạch, không có tạp chất và nước lơ lửng vào ống
thử khô, sạch (làm sạch bằng hóa chất), ống có đường kính 25mm và dài 150mm
trong vòng 1 phút thả trượt tấm đồng đã được đánh bóng lần cuối vào ống mẫu Đặt
cẩn thận ống thử vào bình thử và nắp chặt Nếu phân tích nhiều mẫu trong cùng một
thời gian thì được phép chuẩn bị từng bình áp suất trong một mẻ trước khi nhúng
thời gian tối thiểu kể từ mẫu đầu tiên đến mẫu cuối cùng Sau 2 giờ ± 5 phút lấy
bình thử ra và nhúng chìm trong nước lạnh vài phút (nước vòi) Sau đó mở bình áp
suất, lấy ống thử ra và đánh giá tấm đồng
- Đánh giá tấm đồng: Rót toàn bộ mẫu trong ống thử vào một vật chứa thích
hợp Nếu vật chứa là cốc thủy tinh cao thành có dung tích 150ml, thì nhẹ nhàng thả
trượt tấm đồng vào cốc để tránh vỡ cốc Dùng kẹp thép không gỉ lấy ngay tấm đồng
ra và nhấn chìm vào dung môi rửa, sau đó lấy tấm đồng này ra ngay, làm khô và
kiểm tra độ xỉn hoặc ăn mòn bằng cách so sánh với bảng chuẩn ăn mon đồng
ASTM Để làm khô tấm đồng, có thể thấm bằng giấy lọc, làm khô bằng không khí
hoặc các biện pháp thích hợp khác Đặt tấm đồng và bảng chuẩn ăn mòn đồng
kiểm tra và so sánh, có thể làm mờ, xỉn tấm đồng, để tránh điều này dùng ống dẹt
đậy bằng bông thấm nước để giữ tấm đồng
2.2.7 Xác định hàm lượng nhựa bằng phương pháp bay hơi [3]
- Thiết bị, dụng cụ bao gồm: Cân, cốc thử, bình làm nguội, bể bay hơi, lưu
tốc kế, phễu lọc xốp thủy tinh, bộ cảm biến nhiệt độ, ống đong, dụng cụ cầm tay -
kẹp
- Rửa các cốc, kể cả cốc bì bằng dung môi hòa tan nhựa cho đến khi sạch hết
nhựa Tráng kỹ bằng nước sau đó ngâm trong dung dịch chất tẩy rửa có tính kiềm
nhẹ hoặc có độ pH trung hòa dùng trong phòng thử nghiệm Dùng các kẹp bằng thép
không rỉ lấy các cốc ra khỏi dung dịch làm sạch và sau đó chỉ được cầm các cốc
bằng các kẹp này Rửa các cốc thật kỹ, trước tiên bằng nước từ vòi và sau đó bằng
Trang 37nước cất và làm khô trong tủ sấy ở nhiệt độ 1500C ít nhất 1 giờ Làm nguội các cốc
trong vòng ít nhất 2 giờ trong bình làm nguội đặt gần cân
- Làm nóng bể đến nhiệt độ làm việc Đưa không khí hoặc hơi vào thiết bị và
điều chỉnh dòng chảy toàn phần Sử dụng thiết bị làm nóng trước ở bên ngoài, điều
chỉnh nhiệt độ của môi trường tạo hơi để các lỗ thử đạt được nhiệt độ thử
- Cân cốc bì và các cốc thử chính xác đến 0,1 mg Ghi lại các kết quả cân
- Lấy 50ml ± 0,5ml mẫu thử bằng ống đong và chuyển vào cốc thử đã cân
Trừ cốc bì, mỗi cốc dùng cho một loại nhiên liệu Đặt các cốc đã có mẫu kể cả cốc
bì vào bể bay hơi sao cho thời gian đặt cốc càng ngắn càng tốt Khi sử dụng hơi
nước, gia nhiệt các lỗ thử trong vòng 3 đến 4 phút trước khi hạ các đầu phun Đặt
từng đầu phun vào giữa bề mặt chất lỏng và bắt đầu dẫn dòng khí hoặc hơi nước vào,
điều chỉnh theo tốc độ qui định Duy trì nhiệt độ và lưu lượng để mẫu thử bay hơi
trong vòng 30 phút ± 0,5 phút
- Sau khi gia nhiệt nhấc các đầu phun hình nón và chuyển các cốc thử từ bể
vào bình làm nguội Đặt bình làm nguội gần cân trong thời gian ít nhất là 2 giờ Cân
các cốc thử và ghi lại kết quả này
*Báo cáo kết quả
Hàm lượng nhựa thực tế (A)của nhiên liệu hàng không được tính theo công
thức:
A = 2000( B –D + X – Y )
Trong đó: B - Khối lượng đã ghi cho cốc đã chứa mẫu và cặn sau khi thổi, g
D - Khối lượng đã ghi cho cốc không chứa mẫu trước khi thổi, g
X - Khối lượng đã ghi cho cốc bì trước khi thổi, g
Y – Khối lượng đã ghi cho cốc bì sau khi thổi, g
Trang 382.2.8 Xác định trị số tách nước bằng máy đo loại xách tay [3]
- Thiết bị và dụng cụ bao gồm: Máy đo trị số tách nước loại micro, xylanh,
pittông, nắp bịt xylanh, ống đo, đầu lọc alumicel, pipet có đầu bít bằng nhựa, bình
sạch chứa nước cất, cốc thử
- Chuẩn bị thiết bị:
+ Mở nắp máy và lấy hộp phụ kiện sáu thứ ra khỏi nắp Nâng panel bên
phải đến vị trí thẳng đứng và khóa hãm lại Nếu có điện lưới thì nối máy với ổ điện
và bật máy Nếu dùng pin thì phải đảm bảo pin đã được nạp đủ dùng cho số các
phép thử đã định Nếu pin yếu, đèn sẽ không sáng Trước khi dùng, nối máy với điện
lưới để nạp pin ít nhất 16 giờ (nạp đầy) Sau khi nạp đầy pin, có thể thực hiện được
khoảng 25 phép thử
+ ấn nút bật ON để bật máy đo Đèn chỉ thị trên nút bật (ON) sẽ nhấp nháy
nếu máy nối với điện nguồn AC hoặc đèn sẽ sáng liên tục nếu máy hoạt động bằng
pin nguồn Trong khi thử nghiệm bằng pin nguồn của máy, nếu đèn sáng lập lòe thì
cần phải nạp lại
- ấn nút A để chọn chế độ thử A Lần lượt các nút sẽ tắt và đèn trên nút đã
ấn sẽ sáng Tốc độ nén của xylanh đã được đặt tự động
- Tháo pittông ra khỏi xylanh 50ml mới, dùng vải mềm lau sạch dầu mỡ bám
trên đầu pittông Đóng nắp nhựa vào đầu xylanh, cho vào 50ml ± 1ml nhiên liệu, đặt
xylanh vào bộ khuấy tạo nhũ và khóa lại Phải đảm bảo rằng xylanh được gióng
đồng trục với trục thanh khuấy và không chạm vào thanh khuấy Xác định đã gióng
đúng bằng cách giữ chặt xylanh và chuyển dịch cho đến khi chân vịt ở cuối thanh
trục khuấy không bị chạm vào thành xylanh Gióng lệch có thể gây các vết cạo nhựa
từ thành xylanh và đọng lại trên đầu lọ ngưng dẫn đến kết quả thử bị sai
Trang 39- ấn nút khởi động START như đèn báo để bắt đầu chu trình làm sạch
(CLEAN)
- Kết thúc chu trình làm sạch khi môtơ máy khuấy dừng, ấn nút đặt lại
(RESET), lấy xylanh ra khỏi máy tạo nhũ, đổ nhiên liệu đi và dốc sạch xylanh thật
kỹ Cho 50 ml ± 1 ml nhiên liệu mới vào xylanh và đặt xylanh vào bộ khuấy tạo nhũ
(khóa lại) Kiểm tra bằng mắt xem xylanh có được gióng đồng trục và không chạm
vào thanh khuấy Chọn chế độ thử A bằng cách ấn nút A
- ấn nút khởi động (START) để bắt đầu chu trình làm sạch (CLEAN) lần thứ
hai và đèn báo sáng
- Cho khoảng 15 ml đến 20ml nhiên liệu thử vào trong ống đo mới Dùng vải
sạch mềm lau sạch phần ngoài ống, sau đó đặt ống vào hố đo độ đục sao cho vạch
đen trên ống trùng với vạch trên bảng phía trước
- Kết thúc chu trình làm sạch, khi máy khuấy dừng, lấy xylanh ra khỏi máy
tạo nhũ, đổ nhiên liệu đi và dốc sạch xylanh thật kỹ Cho 50 ml ± 1ml mẫu nhiên
liệu mới vào xylanh Chú ý cầm xylanh sao cho mẫu nhiên liệu trong đó bị ảnh
hưởng do nhiệt độ cơ thể ít nhất
- Dùng đầu nhựa mới lắp vào pipét, cho 50àl nước cất vào mẫu nhiên liệu
theo cách sau: giữ pipét trên tay, xoay nhẹ cho đầu nhựa chặt khít, đẩy pittông nhấn
chìm đầu ống nhựa xuống dưới mặt nước, thả pittông ra, kéo từ từ pipét ra để tránh
những giọt nước bám vào mặt ngoài của đầu nhựa Nhấn chìm đầu pipét xuống ngay
dưới bề mặt nhiên liệu, giữ xylanh, giữ và đẩy pittông để các giọt nước ra hết và rơi
xuống đáy, rút pipét và thả pittông ra
- Lắp xylanh vào máy khuấy tạo nhũ và khóa lại
- Khi đã nắp xylanh đúng vị trí ấn nút khởi động (START) để khởi động
chương trình thử Nếu vì lý do nào đó phải dừng thử nghiệm, để bắt đầu lại ấn nút
đặt lại (RESET) để hủy và quay lại từ chu trình làm sạch (CLEAN) ban đầu
- Chương trình tự động bắt đầu làm việc với sự hiển thị số đọc trên máy(4
tiếng kêu ngắn), sau chu kỳ 10s chỉnh toàn bộ thang đo Trong giai đoạn này, đèn
Trang 40trên nút ARROWED sẽ sáng và có thể ấn để điều chỉnh máy đo đến 100 Nếu việc
điều chỉnh không kịp kết thúc trong thời gian này, việc điều chỉnh cuối cùng có thể
tiếp tục ở giai đoạn sau của quá trình thử
- Sau khi điều chỉnh toàn bộ thang đo, máy khuấy hoạt động và bắt đầu quá
trình tạo nhũ
- Khi máy khuấy dừng (sau khi tạo nhũ), tháo xylanh ra, lắp pittông vào
xylanh để làm kín một đầu xylanh Đảo ngược xylanh, rút chốt ra, xả hết khí còn
trong xylanh, cẩn thận đẩy pittông đến vạch 50ml không để thất thoát nhiên liệu
(dùng khăn sạch phủ trên đầu ra để thấm nhiên liệu có thể bị đùn ra như bọt) Lắp
đầu lọc ngưng Alumicel mới vào đầu xylanh
Đặt toàn bộ xylanh vào trong cơ cấu đẩy xylanh Để giảm lực cản của pittông
trong xylanh, đặt xylanh thẳng đứng, đầu của pittông song song với thanh đẩy của
cơ cấu đẩy xylanh Đặt cốc hứng dưới đầu lọc để hứng phần mẫu nhiên liệu chảy ra
Nối dây tiếp mát giữa đầu lọc và máy tách để tránh sự tích tụ điện có thể tạo
phóng điện gây nguy hiểm cháy vì chất lỏng dễ cháy đang thử nghiệm
- Bốn tiếng kêu ngắn là báo hiệu giai đoạn chỉnh thang đo lần 2 Nếu cần thí
nghiệm viên phải điều chỉnh số đọc đến 100 Sau đó cơ cấu đẩy bắt đầu đẩy xylanh
hạ xuống, đẩy hệ nhũ nước/ nhiên liệu chảy qua đầu lọc Alumicel Trong khi máy
vận hành chu trình này, lấy ống đo ra khỏi hố đo và đổ nhiên liệu đi
- Lấy 15ml cuối cùng của mẫu nhiên liệu từ đầu lọc vào ống đo vừa đổ nhiên
liệu đi khi đèn C/S sáng và có tiếng kêu ngắn Để giảm lượng khí xâm thực vào
nhiên liệu khi thao tác, cầm ống hơi nghiêng để nhiên liệu chảy vào mặt trong thành
ống Lấy ống ra ngay trước khi giọt mẫu cuối cùng rơi ra khỏi đầu lọc
- Dùng khăn mềm, sạch lau sạch các vết tay và nhiên liệu ở phía ngoài ống
Đặt ống chứa mẫu vào hố đo của đục kế sao cho các vạch trên ống và trên bảng điều
khiển trùng nhau Sau thời gian ổn định (1phút), một tiếng kêu (dài khoảng 4 giây)
báo hiệu cho thí nghiệm viên biết là máy chuẩn bị hoạt động