Sơ đồ 3.1 Quy trình xây dựng bộ đề thi đánh giá kiến thức môn Máy điện bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan Bảng 3.1 Mục tiêu đánh giá nội dung môn học Bảng 3.2 Bảng phân bố câu hỏi theo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN THANH PHONG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ MÔN HỌC MÁY ĐIỆN THEO PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM KỸ THUẬT
CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
CHUYÊN SÂU SƯ PHẠM KỸ THUẬT ĐIỆN
Hà nội – năm 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
NGUYỄN THANH PHONG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ MÔN HỌC MÁY ĐIỆN THEO PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM KỸ THUẬT
CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
CHUYÊN SÂU SƯ PHẠM KỸ THUẬT ĐIỆN
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS.Trần Việt Dũng
Hà nội – 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian tìm hiểu và làm việc khẩn trương cùng với sự giúp đỡ tận tình
của PGS.TS Trần Việt Dũng tác giả đã hoàn thành luận văn với đề tài: “Đánh giá kết quả môn học Máy điện theo phương pháp trắc nghiệm khách quan”
Với tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Việt Dũng người đã trực tiếp giảng dạy và dành nhiều thời gian tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong khoa điện – Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội, các thầy, cô giáo trong khoa Sư phạm Kỹ thuật, Viện đào tạo sau đại học – trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã giúp đỡ tôi rất nhiều về kiến thức chuyên môn, tài liệu nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận văn
Tuy đã cố gắng rất nhiều nhưng luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của Hội đồng chấm luận văn, các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bài luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội ngày 02 tháng 3 năm 2012
NGUYỄN THANH PHONG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Đánh giá kết quả môn học Máy điện theo phương pháp trắc nghiệm khách quan ” đã hoàn thành bởi sự nỗ lực của bản thân tác giả và sự hướng dẫn tận
tình của PGS.TS Trần Việt Dũng
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của tác giả khác (nếu có) đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể Tất cả số liệu, kết quả nghiên cứu đều là trung thực và chưa được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Hà Nội ngày 02 tháng 3 năm 2012
NGUYỄN THANH PHONG
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ MINH HỌA
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU 13
1.Lý do chọn đề tài 13
2.Mục đích nghiên cứu 14
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 14
4 Phạm vi nghiên cứu 14
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 14
6 Phương pháp nghiên cứu 15
a Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 15
b Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 15
c Phương pháp bổ trợ bằng toán thống kê 15
Chương 1: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN TRONG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP……… 17
1.1 Tổng quan về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trong quá trình dạy học 17
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 17
1.1.2 Mục đích, chức năng và các yêu đối với việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh 19
1.1.3 Mục tiêu đánh giá kết quả học tập 21
1.1.4 Các bước đánh giá 25
Trang 61.1.5 Các lĩnh vực kiểm tra đánh giá 26
1.1.6 Các loại hình kiểm tra đánh giá 26
1.1.7 Các công cụ và phương pháp kiểm tra đánh giá 29
1.2 Phương pháp và kỹ thuật trắc nghiệm trong KTĐG KQHT 34
1.2.1 Lịch sử của khoa học về đo lường trong giáo dục trên thế giới và ở Việt Nam 34 1.2.2 Một số khái niệm 35
1.2.3 Cách tiếp cận để xây dựng và sử dụng trắc nghiệm 43
1.2.4 Kỹ thuật soạn một bài trắc nghiệm 44
1.2.5 Đánh giá chất lượng câu hỏi và đề thi 45
Chương 2: THỰC TRẠNG VIỆC KTĐG KQHT MÔN HỌC MÁY ĐIỆN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ HÀ NỘI 51
2.1 Đặc điểm chung về trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội 51
2.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của nhà trường 51
2.1.2 Đội ngũ giáo viên của nhà trường 51
2.1.3 Quy mô và hình thức đào tạo 52
2.2 Chương trình và nội dung môn học 52
2.2.1 Mục tiêu môn học 52
2.2.2 Chương trình khung môn máy điện 52
2.2.3 Đặc điểm nội dung môn máy điện 55
2.3 Thực trạng việc KTĐG KQHT tại khoa Điện - Điện Tử ,trường CĐCN Hà Nôi 57
2.3.1 Nhận thức của SV về môn học 58
2.3.2 Nhận thức của GV,SV về kiểm tra đánh giá kết quả học tập 60
2.3.3 Vấn đề sử dụng câu TNKQ trong KTĐG KQHT cảu SV khoa Điện - Điện Tử trường CĐ Công Nghệ Hà Nội 64
2.3.4 Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc thiếu khách quan trong KTĐG KQHT của SV và cách khắc phục 60
Trang 72.4 Khả năng vận dụng PP TNKQ vào KTĐG KQHT môn máy điện tại khoa điện
trường CĐCNHà Nội 66
Chương 3: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ MÔN HỌC MÁY ĐIỆN THEO PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 69
3.1 Quy trình đánh giá môn máy điện theo phương pháp TNKQ 69
3.1.1.1 Xác định mục tiêu đánh giá 70
3.1.1.2 Xây dựng bảng phân bố câu hỏi 72
3.1.1.3 Xây dựng hàng câu hỏi trắc nghiệm 73
3.1.2 Tạo bộ đề thi, kiểm tra 77
3.1.3 Tổ chức kiểm tra, đánh giá người học 78
3.1.4 Thu thập số liệu thống kê 78
3.1.5 Đánh giá chất lượng câu hỏi và đề thi 78
3.2 Xây dựng một số đề thi, kiểm tra đánh giá môn học máy điện 79
3.3.1 Mục đích của thực nghiệm 104
3.3.2 Đối tượng thực nghiệm 104
3.3.3 Nội dung thực nghiệm 104
3.3.4 Tiến trình thực nghiệm 105
3.3.5 Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm 105
3.4 Kết quả thực nghiệm 105
3.4.1 Kết quả phân tích câu hỏi trắc nghiệm 105
3.4.2 Đánh giá tổng quát về bài thực nghiệm 119
3.4.3 Thăm dò ý kiến sinh viên các lớp thực nghiệm 119
3.4.4 Thăm dò ý kiến giáo viên trong bộ môn về kết quả thu được 120
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 121
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 122
PHỤ LỤC 1 124
PHỤ LỤC 2 125
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ MINH HỌA
Sơ đồ 1.1 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá
Bảng 2.1 Thống kế số lượng học sinh của các năm học
Bảng 2.2 Chương trình khung môn máy điện
Bảng 2.3 Kết quả đánh giá ý nghĩa môn học Máy Điện của SV ngành điện công nghiệp
và dân dụng Trường CĐ CN Hà Nội
Biểu đồ 2.1 Đánh giá ý nghĩa môn học Máy Điện của sinh viên ngành điện công nghiệp và dân dụng Trường CĐ Công Nghệ Hà Nội
Bảng 2.4 Kết quả đánh giá mức độ mục tiêu học tập của SV muốn đạt được trong môn học
Biểu đồ 2.2 Đánh giá mức độ mục tiêu học tập của SV muốn đạt được trong môn học Bảng 2.5 Kết quả đánh giá việc sử dụng thời gian tự học của SV trong môn học Máy Điện
Biểu đồ 2.3.1 Đánh giá việc sử dụng thời gian tự học của sinh viên nhóm thực nghiệm cho môn học máy điện
Biểu đồ 2.3.2 Kết quả đánh giá việc sử dụng thời gian tự học của nhóm sinh viên nhóm đối chứng trong môn học máy điện
Bảng 2.6 Kết quả nhận thức của giáo viên về mục đích kết quả kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Biểu đồ 2.4 Kết quả nhận thức của giáo viên về mục đích kết quả kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Bảng 2.7 Kết quả trưng cầu ý kiến về việc thực hiện các yêu cầu sư phạm trong kiểm tra đánh giá của GV
Trang 9Biểu đồ 2.5 Biểu đồ thể hiện kết quả việc thực hiện các yêu cầu sư phạm trong kiểm tra đánh giá của GV
Bảng 2.8 Kết quả thăm dò GV về mục tiêu kiến thức GV yêu cầu đối với SV trong quá trình KTĐG KQHT môn máy điện
Biểu đồ 2.6 Mô tả mục tiêu kiến thức GV yêu cầu đối với SV trong quá trình KTĐG KQHT môn máy điện
Bảng 2.9 Kết quả thăm dò ý kiến giáo viên trong việc xây dựng và sử dụng hợp lý câu hỏi KTĐH KQHT của sinh viên
Biểu đồ 2.7 Mô tả ý kiến GV trong việc xây dựng và sử dụng hợp lý câu hỏi kiểm tra trong KTĐG KQHT của SV
Bảng 2.10 Kết quả thăm dò GV về các PP KTĐG đang dùng trong khoa Điện – Điện
Tử trường CĐ Công Nghệ Hà Nội
Biểu đồ 2.8 Mô tả việc sử dụng các phương pháp KTĐG KQHT của sinh viên khoa Điện – Điện Tử trường CĐ Công Nghệ Hà Nội
Bảng 2.11 Các nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc thiếu khách quan,chính xác trong KTĐG KQHT của SV
Biểu đồ 2.9 Mô tả các nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc thiếu khách quan và chính xác trong KTĐG KQHT của SV
Sơ đồ 3.1 Quy trình xây dựng bộ đề thi đánh giá kiến thức môn Máy điện bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Bảng 3.1 Mục tiêu đánh giá nội dung môn học
Bảng 3.2 Bảng phân bố câu hỏi theo mức độ nhận thức trong chương trình mon học Máy điện
Bảng 3.3: Tổng hợp kết quả phân tích câu hỏi Chương 2 Máy biến áp
Bảng 3.4 Tổng hợp đánh giá câu hỏi trắc nghiệm qua độ khó
Biểu đồ 3.1 Mức độ khó của các câu hỏi trắc nghiệm
Bảng 3.5 Tổng hợp đánh giá câu hỏi qua mức độ phân biệt
Trang 10Biểu đồ 3.2 Mức độ phân biệt của các câu hỏi trắc nghiệm
Bảng 3.6: Tổng hợp kết quả phân tích câu hỏi Chương 3 Máy điện không đồng bộ
Bảng 3.7 Tổng hợp đánh giá câu hỏi trắc nghiệm qua độ khó
Biểu đồ 3.3 Mức độ khó của các câu hỏi trắc nghiệm
Bảng 3.8 Tổng hợp đánh giá câu hỏi qua mức độ phân biệt
Biểu đồ 3.4: Độ phân biệt của các câu hỏi trắc nghiệm
Bảng 3.9: Tổng hợp kết quả phân tích câu hỏi Chương 3 Máy điện không đồng bộ Bảng 3.10 Tổng hợp đánh giá câu hỏi trắc nghiệm qua độ khó
Biểu đồ 3.5 Mức độ khó của các câu hỏi trắc nghiệm
Bảng 3.11 Tổng hợp đánh giá câu hỏi qua mức độ phân biệt
Biểu đồ 3.6 Mức độ phân biệt của các câu hỏi trắc nghiệm
Bảng 3.12: Tổng hợp kết quả phân tích câu hỏi đề thi máy điện
Bảng 3.13 Tổng hợp đánh giá câu hỏi trắc nghiệm qua độ khó
Biểu đồ 3.7 Mức độ khó của các câu hỏi trắc nghiệm
Bảng 3.14 Tổng hợp đánh giá câu hỏi qua mức độ phân biệt
Biểu đồ 3.8 Mức độ phân biệt của các câu hỏi trắc nghiệm
Bảng 3.15 Bảng phân bố điểm ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Biểu đồ 3.9 Phân bố điểm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Biểu đồ 3.10 Đồ thị phân bố điểm lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Trang 11DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Cao đẳng Công nghệ Hà Nội CĐCN Hà Nội
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Trong quá trình giáo dục đào tạo, kiểm tra đánh giá (KTĐG) là một hoạt động thường xuyên và giữ vai trò quan trọng đối với chất lượng đào tạo Nếu coi quá trình dạy học là một hệ thống thì đánh giá đóng vai trò phản hồi của hệ thống Đánh giá có vai trò tích cực trong việc điều chỉnh hệ thống, là cơ sở để đổi mới phương pháp (PP) dạy học KTĐG tốt sẽ phản ánh được đầy đủ việc dạy của thầy
và việc học của trò, đồng thời giúp cho các nhà quản lý giáo dục hoạch định chiến lược trong quá trình quản lý và điều hành
Hiện nay trường cao đẳng Công Nghệ Hà Nội, công cụ chủ yếu được sử dụng để đánh giá kết quả học tập (KQHT) của học sinh (SV) là các bài kiểm tra với các câu hỏi dạng tự luận và bước đầu đã làm quen với phương pháp trắc nghiệm khách quan (TNKQ) Tại đây các giáo viên ngày càng có nhu cầu tìm hiểu và thực hiện phương pháp đánh giá TNKQ Ngoài việc tìm hiểu những nội dung yêu cầu khi thực hiện đánh giá đo lường bằng phương pháp TNKQ, các GV đang vận dụng các phần mềm tin học vào việc KTĐG để nâng cao độ tin cậy của PP đánh giá
Ngoài ra, việc thực hiện một chương trình máy tính (phần mềm) để hỗ trợ các giáo viên trong việc biên tập các câu hỏi trắc nghiệm, lưu trữ chúng thành ngân hàng câu hỏi, từ đó thực hiện ra đề là hết sức cần thiết Từ ngân hàng câu hỏi này,
sẽ dễ dàng tạo ra một bộ đề chung cho các người học, hoặc cho nhiều nhóm người học, thậm chí mỗi người học một đề khác nhau với cùng mức độ khó như nhau Chương trình quản lý được thời gian làm bài (tính theo từng câu hay toàn bài), thực hiện chấm điểm tự động, tức thời nếu thi trên máy tính Nhờ đó việc đánh giá sẽ trở nên khách quan, hạn chế được cách học tủ, học vẹt, "phao thi"
Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội đang bắt đầu thực hiện đào tạo theo tín chỉ và đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá, sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan, nhưng trong thực tế đang gặp nhiều khó khăn Chính vì lý do trên kết hợp với nhiều năm giảng dạy môn Máy điện, tác giả luận văn đã nghiên cứu đề tài:
Trang 13“Đánh giá kết quả môn học Máy điện theo phương pháp trắc nghiệm khách quan”, để vận dụng KTĐG KQHT tại trường Cao Đẳng Công Nghệ Hà Nội
2.Mục đích nghiên cứu
Vận dụng các vấn đề lý luận và kỹ thuật kiểm tra đánh giá theo phương pháp TNKQ, để xây dựng bộ đề thi cho môn Máy Điện bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan,để đưa vào đánh giá tại trường Cao Đẳng Công Nghệ Hà Nội
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
+ Nội dung môn học Máy điện của trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội + Quá trình kiểm tra đánh giá môn học Máy điện tại trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội
+ Quy trình xây dựng bộ đề thi đánh giá kiến thức môn Máy điện bằng câu hỏi TNKQ trên máy tính
- Khách thể nghiên cứu: Kết quả học môn học Máy điện ở trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội và so sánh với kết quả đạt được với phương pháp KTĐG truyền thống
4 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu quy trình, phương pháp xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan Trên cơ sở đó vận dụng xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan cho môn Máy Điện tại trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội
Nghiên cứu một số phần mềm tạo bồ đề thi từ ngân hàng câu hỏi trắc TN
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của kiểm tra đánh giá kết quả học tập;
- Khảo sát thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập ở Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội
- Vận dụng PP trắc nghiệm khách quan để biên soạn ngân hành câu hỏi TNKQ cho môn Máy điện;
- Sử dụng máy tính (phần mềm) để tạo ra bộ đề thi từ ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm;
Trang 14- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích , tổng hợp trên cơ sở thu thập tài liệu từ sách, báo, các phương tiện thông tin…
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Dùng phiếu hỏi để thăm dò ý kiến chuyên gia, đồng nghiệp và học sinh trên cơ sở đó tổng hợp , rút ra kết luận
- Phương pháp toạ đàm: Đàm thoại, thảo luận, trao đổi rút kinh nghiệm
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm để đối chứng, phân tích kết quả , rút ra kết luận
6.3 Phương pháp bổ trợ bằng toán thống kê
Xử lý theo phương pháp thống kê toán học để đánh giá định lượng kết quả thực nghiệm
Trang 15Chương 1
LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP TNKQ TRONG ĐÁNH GIÁ KQHT 1.1 Tổng quan về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trong quá trình dạy học [ 1,9,10,11]
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Kiểm tra
Trong Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý định nghĩa kiểm tra là xem xét thực chất, thực tế Theo Bửu Kế, kiểm tra là tra xét, xem xét, kiểm tra là soát xét lại công việc, kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét Còn theo Trần Bá Hoành, kiểm tra là cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá
Như vậy, các nhà khoa học và các nhà giáo dục đều cho rằng kiểm tra với nghĩa là nhằm thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, soát xét lại công việc thực tế để đánh giá và nhận xét
Trong giáo dục, kiểm tra có các hình thức như kiểm tra thường xuyên (kiểm tra hàng ngày), kiểm tra định kì (kiểm tra hết chương, hết phần ) và kiểm tra tổng kết (kiểm tra cuối học kì)
1.1.1.2 Đánh giá
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu qủa công việc
Đánh giá trong giáo dục, theo Dương Thiệu Tống là quá trình thu thập và xử lý kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục Căn cứ vào mục tiêu dạy học, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động trong giáo dục tiếp theo Cũng có thể nói rằng đánh giá là quá trình thu thập phân tích và giải thích thông tin một cách hệ thống nhằm xác định mức độ đạt đến của các mục tiêu giáo dục về phía học sinh Đánh giá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng hay định tính
Trang 16Như vậy đánh giá là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về trình độ học sinh Muốn đánh giá kết quả học tập của học sinh thì việc đầu tiên là phải kiểm tra, soát xét lại toàn bộ công việc học tập của học sinh, sau đó tiến hành đo lường để thu thập những thông tin cần thiết, cuối cùng là đưa ra một quyết định Do vậy kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh là hai khâu có quan hệ mật thiết với nhau Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để đánh giá và đánh giá thông qua kết quả của kiểm tra Hai khâu đó hợp thành một quá trình thống nhất là kiểm tra- đánh giá
Nếu có sẵn kết quả thi một bài trắc nghiệm tương đương từ trước, giáo viên có thể so sánh điểm của hai kỳ thi để ước lượng mức độ tiến bộ của HS
Thông thường kết quả bài làm của HS được ghi nhận là một số đo (điểm số) Điểm
số là ký hiệu gián tiếp phản ánh kết quả học tập của HS về mặt định tính (khá, giỏi, trung bình, yếu, kém) và định hạng (thứ bậc cao thấp trong nhóm được kiểm tra, đánh giá) Nhưng cần chú ý rằng điểm số không có ý nghĩa về mặt định lượng Ví
dụ HS được điểm 10 thì cũng không có ý nghĩa có trình độ cao gấp đôi HS được điểm 5, hoặc HS được điểm 0 thì cũng không có ý nghĩa là HS đó không biết chút gì
về môn học đó
1.1.1.4 Chẩn đoán
Chẩn đoán là ngoài việc đánh giá còn có chức năng phát hiện những nguyên nhân của hiện trạng, lỗi, khiếm khuyết và xây dựng căn cứ để khắc phục
Trang 17Một đánh giá có tính chẩn đoán không chỉ hướng đến đo lường mà phải có chức năng dự đoán và định hướng khắc phục
1.1.2 Mục đích, chức năng và các yêu đối với việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
Thông qua mục đích, chức năng và các yêu cầu của việc KTĐG trong quá trình dạy học để đi đến những quyết định cụ thể như:
- Quyết đinh về cải tiến mục tiêu, nội dung, phương pháp tổ chức giáo dục trong quá trình dạy học
- Quyết định có liên quan đến cá nhân: Xác đinh nhu cầu của người đánh giá, phân loại hoặc tuyển chọn, giúp họ biết rõ khả năng của mình so với yêu cầu
- Quyết định về mặt quản lý hành chính: Đánh giá một đơn vị, cá nhân, một sự việc
1.1.2.1 Mục đích của việc kiểm tra, đánh giá
- Thúc đẩy học tập nhờ có thông tin phản hồi kịp thời cho người học biết tiến
độ của mình
- Trước hết KTĐG có tác dụng “thúc bách” người học tập …không có kiểm tra, thi cử chắc nhiều người học sẽ “không học thật sự” Bên cạnh đó việc công khai hóa các nhận định về năng lực và KQHT của mỗi học sinh và của tập thể lớp còn tạo cho HS phát triển kỹ năng tự đánh giá, giúp học sinh nhận ra sự tiến bộ của mình, từ đó động viện, khích lệ người học học tốt hơn Ngoài ra, việc KTĐG còn chỉ ra người học thấy họ đã học tốt nội dung nào, chưa tốt nội dung nào, cần học thêm cái gì, học lại cái gì…
Trang 18- Cải tiến việc dạy và học
Người dạy không biết rõ là nội dung nào đã được dạy đủ chưa, cần bổ xung cái
gì, PP dạy học đã phù hợp chưa, cần hỗ trợ thêm cho ai, người học cần được giúp thêm ở nội dung nào
b) Mục đích về mặt quản lý đào tạo
- Xử lý hoặc xác nhận năng lực thực hiện của người học để cấp văn bằng, chứng chỉ
KTĐG nhằm khẳng định năng lực thực hiện của người học có đáp ứng yêu cầu
và tương ứng với văn bằng, chứng chỉ được cấp, đặc biệt là đối với chức năng, nhiệm vụ mà người tốt nghiệp sẽ phải đảm nhiệm
Điều quan trọng là phải xác định được một hệ thống kiểm tra, tiêu chí KTĐG phù hợp bao gồm từ quy chế thi và kiểm tra, tiêu chí KTĐG, hình thức KTĐG, loại công cụ, câu hỏi thích hợp, số lượng câu hỏi, cách xác định điểm đạt, mức đạt…
1.1.2.2 Chức năng của việc kiểm tra, đánh giá
a) Chức năng của việc kiểm tra, đánh giá dạy học
- Chức năng đo lường
+ Xác định mức độ hiểu biết, kỹ năng, phẩm chất trí tuệ của HS so với chuẩn của mục đích đã định trước Để thực hiện chức năng này phải:
+ Chính xác hóa và lượng hóa được các thông số cần đo (hiểu biết, kỹ năng) + Chọn đơn vị đo (bằng điểm số hay xếp hàng)
+ Xác đinh độ chính xác, độ nhạy và sự biến đổi của phép đo
- Chức năng thông tin
Chức năng này giúp GV nắm được kết quản giảng dạy từ đó điều chỉnh và hoàn thiện nội dung, PP giảng dạy Đồng thời giúp học sinh tự đánh giá kết quả học tập để điều chỉnh hoạt động học tập của mình theo các yêu cầu của môn học
- Chức năng chọn lọc và phân loại
+ Chọn ra được những kiến thức, kỹ năng mà học sinh nắm vững và chưa nắm vững trong từng môn học
Trang 19+ Phân loại học tập ở các mức độ (giỏi, khá, trung bình, yếu, kém) điều này có tác dụng kích thích sự học tập của học sinh
b) Chức năng của việc kiểm tra, đánh giá quản lý giáo dục và đào tạo
- Chức năng kiểm soát và phát hiện
Kiểm soát và phát hiện là chức năng xác đinh thực chất hiệu quả giáo dục, kiểm soát đúng sẽ phát hiện được ưu, khuyết điểm của từng đối tượng quản lí giúp giáo viên làm tốt công tác điều khiển công việc và định hướng trong chỉ đạo Hoạt động kiểm soát, phát hiện một khi được tiến hành thường xuyên sẽ giú cho GV không bị mắc bênh quan liêu
- Chức năng động viên, phế phán
Động viên và phê phán mang thuộc tính tâm lý xã hội KTĐG thường xuyên mới nắm bắt đầy đủ, tình cảm, năng lực của thầy và trò Mọi ý kiến giáo dục, động viên, phê phán đều xuất phát từ khâu KTĐG Khi được KTĐG, GV và HS chắc chắn phải nỗ lực hơn trong công việc và trong học tập để bộc lộ khả năng của mình
- Chức năng đánh giá
Đánh giá trong kiểm tra nhằm đo lường, xác định hiệu quả của lao động sư phạm, xác định trình độ thực hiện kế hoạch, xác định phẩm chất của thầy và năng lực của trò Đánh giá còn nhằm khẳng định những yếu tố chủ quan, khách quan, những lệch lạc, sơ hở nhằm giúp cho GV uốn nắn, điều chỉnh các quyết định nhằm đảm bảo chu trình quản lí được liên tục và đạt hiệu quả cao
- Chức năng thu thập thông tin
Thu thập thông tin là chức năng trung tâm trọng điểm của hoạt động KTĐG Chỉ có kiểm tra mới có được các thông tin đáng tin cậy, việc xử lý đúng đắn các thông tin giúp cho GV tác động kịp thời vào phong cách và thái độ làm việc của mình, điều chỉnh mục tiêu và quyết định cho chu trình quản lí làm việc mới của bản thân
1.1.2.3 Các yêu cầu đối với việc đánh giá KQHT
- Đảm bảo tính quy chuẩn: Đánh giá dù theo bất kỳ hình thức nào, cũng đều phải nhằm mục tiêu phát triển hoạt động dạy học, đồng thời phải đảm bảo lợi ích
Trang 20cho người được đánh giá và phát triển được Vì vậy đánh giá cần tuân theo những chuẩn mực nhất định, những chuẩn này được ghi rõ trong văn bản quy định hoạt động đánh giá phải được công khai với người được đánh giá Những quy định này cần được chi tiết, đầy đủ, rõ ràng về mọi lĩnh vực, từ xác định mục tiêu, nội dung và phương thức đánh giá đến thời điểm đánh giá bao gồm các điểm sau đây:
+ Mục tiêu đánh giá
+ Nội dung đánh giá
+ Tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá
+ Phương pháp và phương tiện
+ Người đánh giá
+ Thời điểm đánh giá
+ Địa điểm đánh giá
+ Quyền lợi và trách nhiệm của người được đánh giá
+ Tính pháp lý của việc đánh giá
- Đảm bảo tính khách quan: Việc đánh giá khách quan sẽ có tác dụng kích thích động cơ và tính tích cực của người học, đồng thời duy trì và phát triển mối quan hệ thân thiện, đoàn kết giữa các học viên
Tính khách quan của việc đánh giá phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực, nghiệp
vụ của người đánh giá, phụ thuộc vào tính quy chuẩn của việc đánh giá và phụ thuộc vào quan điểm, PP và phương tiện đánh giá
Trang 21khắc phục những điểm không phù hợp Do đó khi đánh giá phải biết trân trọng sự cố gắng của HS, đánh giá cao những tiến bộ trong học tập của họ
1.1.3 Mục tiêu đánh giá kết quả học tập
1.1.3.1 Mục tiêu
Vấn đề đầu tiên trong việc đánh giá KQHT của HS là câu hỏi: Đánh giá cái gì? Điều này liên quan đến hai khái niệm là mục đích và mục tiêu
Mục đích là những khẳng định chính xác, rõ ràng về những gì mà hoạt động cá nhân (nhóm) muốn đạt được trong quá trình dạy học
Mục đích cho ta biết hướng đi Vì thế mục đích có tính tất yếu Nhưng mục đích không cụ thể tới mức chỉ rõ việc lựa chọn những hành động và cách thức tiến hành như thế nào, tiến độ, thời hạn hoàn thành Do đó để chỉ cấp độ cụ thể ta dùng khái niệm mục tiêu
Mục tiêu là sự lượng giá của mục đích tại những thời điểm nhất định, cho phép
có thể kiểm soát được các bước đi và kết quả thực tế của nó trong lộ trình đi đến mục đích
1.1.3.2 Tầm quan trọng của các mục tiêu dạy học
- Định ra phương hướng, tiêu chí để quyết định nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học
- Xác định được cái cần KTĐG khi kết thúc mỗi môn học, học phần hay trong quá trình giảng dạy từng kiến thức cụ thể
- Thông báo cho người học biết những cái mong đợi ở đầu ra của sự học là gì Điều này giúp họ tự tổ chức công việc học tập của mình
1.1.3.3 Cách phát biểu mục tiêu
Các câu phát biểu mục tiêu cần phải:
- Rõ ràng, cụ thể;
- Đạt tới được trong các khóa học hay đơn vị học tập;
- Phải bao gồm nội dung học tập thiết yếu của môn học;
- Phải quy định rõ kết quả học tập, nghĩa là có khả năng mà người học sẽ có được khi học đạt đến mục tiêu;
Trang 22- Phải đo lường được;
- Phải chỉ rõ những gì người học có thể làm được vào cuối giai đoạn học tập
1.1.3.4 Mục tiêu đánh giá kết quả học tập
Theo Benjamin Bloom mục tiêu dạy học được phân thành ba lĩnh vực:
- Lĩnh vực nhận thức (cognitive domain) các mục đích học tập liên quan đến kiến
1 Nhớ (knowledge): Sự nhớ lại các dữ liệu đã học được trước đây Điều đó có
nghĩa là một người có thể nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các
lý thuyết phức tạp, tái hiện trong trí nhớ những thông tin cần thiết Đây là cấp độ thấp nhất của kết quả học tập trong lĩnh vực nhận thức
2 Thông hiểu (comprehension):Là khả năng nắm được ý nghĩa của tài liệu Điều đó
có thể thể hiện bằng việc chuyển tài liệu từ dạng này sang dạng khác (từ các từ sang
số liệu), bằng cách giải thích tài liệu (giải thích hoặc tóm tắt) và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng) Kết quả học tập ở cấp độ này cao hơn so với nhớ, và là mức thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật
3 Vận dụng (application): Là khả năng sử dụng các tài liệu đã học vào một hoàn
cảnh cụ thể mới Điều đó có thể bao gồm việc áp dụng các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lý, định luật và lý thuyết Kết quả học tập trong lĩnh vực này đòi hỏi cấp độ thấu hiểu cao hơn so với cấp độ hiểu trên đây
Trang 234 Phân tích (analysis): Là khả năng phân chia một tài liệu ra thành các phần của nó
sao cho có thể hiểu được các cấu trúc tổ chức của nó Điều đó có thể bao gồm việc chỉ ra đúng các bộ phận, phân tích môí quan hệ giữa các bộ phận, và nhận biết được các nguyên lý tổ chức được bao hàm Kết quả học tập ở đây thể hiện một mức độ trí tuệ cao hơn so với mức hiểu và áp dụng vì nó đòi hỏi một sự thấu hiểu cả nội dung
và hình thái cấu trúc của tài liệu
5 Tổng hợp (synthesis):Là khả năng sắp xếp các bộ phận lại với nhau để hình thành
một tổng thể mới Điều đó có thể bao gồm việc tạo ra một cuộc giao tiếp đơn nhất (chủ đề hoặc bài phát biểu), một kế hoạch hành động (dự án nghiên cứu), hoặc một mạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ đồ để phân lớp thông tin) Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh các hành vi sáng tạo, đặc biệt tập trung chủ yếu vào việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới
6 Đánh giá (evaluation):Là khả năng xác định giá trị của tài liệu (tuyên bố, tiểu
thuyết, thơ, báo cáo nghiên cứu) Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định Đó
có thể là các tiêu chí bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chí bên ngoài (phù hợp với mục đích), và người đánh giá phải tự xác định hoặc được cung cấp các tiêu chí Kết quả học tập trong lĩnh vực này là cao nhất trong các cấp bậc nhận thức vì nó chứa các yếu tố của mọi cấp bậc khác
Người ta đã cố gắng phân chia mỗi mức độ kể trên thành hai ba thang bậc chi tiết hơn và cho đến nay riêng trong lĩnh vực nhận thức ở trình độ đại học có đến 15 thang bậc
Cảm xúc
Lĩnh vực cảm xúc liên quan đến các mục đích thuộc về hứng thú, các thái độ và giá trị Theo Krathwohl, D.Retal bao gồm 5 mức độ sau đây:
1 Tiếp thu (receiving): Nhạy cảm với một sự động viên khuyến khích nào đó và có
một sự tự nguyện tiếp thu hoặc chú tâm vào đó
2 Đáp ứng (responding): Lôi cuốn vào một chủ đề hoặc hoạt động hoặc sự kiện để
mở rộng việc tìm tòi nó, làm việc với nó và tham gia vào đó
Trang 243 Hình thành giá trị (valuing): Cam kết tiến tới một sự vững tin vào các mục tiêu,
tư tưởng và niềm tin nào đó
4 Tổ chức (organisation): Tổ chức các giá trị thành một hệ thống, có sự nhận thức
hoặc sự xác đáng và các mối quan hệ của các giá trị phù hợp, và xây dựng nên các giá trị cá nhân nổi bật
5 Đặc trưng hoá bởi một tập hợp giá trị (characterization by a value complex):
Tích hợp các niềm tin, tư tưởng và thái độ thành một triết lí tổng thể hoặc tầm nhìn rộng như thế giới quan
Tâm vận
Lĩnh vực tâm vận liên quan đến các kĩ năng thao tác chân tay dùng đến cơ bắp hoặc những sự đáp ứng vận động hoặc đòi hỏi có sự phối hợp giữa cơ bắp và hệ thần kinh Theo Dave bao gồm 5 mức độ sau đây:
1 Bắt chước (imitation): Làm theo một hành động đã được quan sát nhưng thiếu sự
phối hợp giữa cơ bắp và hệ thần kinh
2 Thao tác (manipulation): Làm theo một hành động đã được quan sát thường theo
sự chỉ dẫn, thể hiện một số sự phối hợp giữa cơ bắp và hệ thần kinh
3 Làm chuẩn xác (precison): Thực hiện một hành động thể lực với sự chuẩn xác,
1.1.4 Các bước đánh giá
Bước 1: Xác định các quyết định đánh giá
Bước 2: Xây dựng các tiêu chí đánh giá
Bước 3: Thu thập các thông tin thích đáng
Bước 4: Đối chiếu các tiêu chí đã được thống nhất với các thông tin đã thu thập
Trang 25Bước 5: Hình thành những kết luận cuối cùng một cách thật chính xác trước khi quyết định công bố kết luận đánh giá
1.1.5 Các lĩnh vực kiểm tra đánh giá
1.1.5.1 Kiểm tra đánh giá kiến thức
Mục đích KTĐG kiến thức là xác định xem HS nhận thức được gì, ở mức độ nào trong các nội dung đã học Tùy theo mục tiêu học tập mà có những mức độ yêu cầu khác nhau, từ đơn giản nhất là tái hiện được (kể được, mô tả được, trình bày được) đến áp dụng được, so sánh, phân tích, giải thích…
1.1.5.2 Kiểm tra đánh giá kỹ năng
Mục đích KTDG kĩ năng là xác định xem HS đã làm được gì, ở mức độ nào trong các nội dung đã học Mức độ yêu cầu người học làm được cũng từ đơn giản nhất là bắt trước được đến làm đúng, chuẩn xác rồi đến làm nhanh và thành thạo
1.1.5.3 Kiểm tra đánh giá thái độ
KTĐG thái độ nhằm xem xét người học đã có cách ứng xử, cách biểu lộ tình cảm, cách bộc lộ những phẩm chất nhân cách như thế nào trước một sự kiện, hiện tượng, trước công việc, trước đồng nghiệp
1.1.6 Các loại hình kiểm tra đánh giá
1.1.6.1 Đánh giá bộ phận
a) Điểm kiểm tra thường xuyên
KTĐG thường xuyên trong quá trình dạy học cung cấp những thông tin phản hồi nhanh cho cả người học và người dạy trong quá trình dạy học để kịp thời điều chỉnh, bổ xung nhằm làm cho người học đạt được mục tiêu dạy học
Loại hình KTĐG này được thực hiện bám sát từng nội dung dạy học cụ thể, thông qua các hình thức tổ chức, PP và kỹ thuật dạy học đa dạng, phong phú của
GV Kết quả của KTĐG thường xuyên trong quá trình dạy học được GV ghi chép
và lưu lại vào sổ tay giáo viên
b) Điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận
Điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận là hình thức theo dõi, đánh giá chủ quan của giáo viên về nhận thức và thái độ của người học trong quá
Trang 26trình dạy học chủ yếu bằng những lời nhận xét, những chú ý … vào sổ theo dõi người học Kết quả của KTĐG nhận thức được GV ghi chép và lưu lại vào sổ tay giáo viên, làm cơ sở cho việc chỉ đạo, hướng dẫn sự học tập thường xuyên Tuy không cho điểm nhưng nó là những chứng cứ cần thiết cho việc đánh giá đinh tính cuối cùng của môn học
c) Điểm chuyên cần
Điểm chuyên cần cũng là hình thức theo dõi đánh giá chủ quan của GV đối với việc dự lớp của HS, thường được ghi chép thống kê vào sổ theo dõi của GV làm cơ
sở quan trọng đánh giá ở cuối học kỳ
d) Điểm thi giữa học phần
Thi giữa học phần được GV phụ trách học phần ra đề, kiểm tra và cho điểm, thường là bài TNKQ, điểm số theo thang điểm 10
e) Điểm tiểu luận
Đề tài tiểu luận học phần được giáo viên phụ thách học phần giao cho từng cá nhân hoặc theo nhóm Các bài tiểu luận thường được làm tại nhà trong một khoảng thời gian nhất định và điểm số mang tính chủ quan của người chấm
g) Điểm thực hành
Đối với các học phần thực hành sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực hành Điểm trung bình cộng của điểm các bài thực hành trong học kỳ được làm tròn đến một chữ số thập phân là điểm của học phần thực hành
Trang 27Cuối mỗi học kỳ trường tổ chức một kỳ thi chính và nếu có điều kiện tổ chức thêm một kỳ thi phụ Kỳ thi phụ dành cho những sinh viên không tham dự kỳ thi chính hoặc có học phần bị điểm F ở kỳ thi chính và được tổ chức sớm nhất là hai tuần sau kỳ thi chính
Thời gian dành cho ôn thi mỗi học phần tỉ lệ thuận với số tín chỉ của học phần
đó, ít nhất là 2/3 ngày cho một tín chỉ Hiệu trưởng quy định thời gian dành cho ôn thi và thời gian thi cho các kỳ thi Đề thi phải phù hợp với nội dung học phần đã quy định trong chương trình Đề thi được lấy từ ngân hàng đề thi
Hình thức thi có thể thi viết (trắc nghiệm hoặc tự luận), vấn đáp, viết tiểu luận, làm bài tập lớn, hoặc kết hợp giữa các hình thức trên
Việc chấm thi kết thúc các học phần chỉ có lý thuyết, chấm tiểu luận, bài tập lớn phải do hai GV đảm nhiệm
Thi vấn đáp kết thúc học phần cũng phải do hai GV thực hiện Điểm thi vấn đáp được công bố công khai sau mỗi buổi thi
Các điểm thi kết thúc học phần và điểm học phần phải ghi vào bảng điểm theo mẫu thống nhất của nhà trường, có chữ ký của hai giảng viên chấm thi và làm thành ban bản một bản lưu tại bộ môn, một bản gửi về văn phòng khoa, một bản gửi về phòng đào tạo, chậm nhất sau khi kết thúc chấm thi một tuần
Sinh viên vắng thi không có lý do chính đáng phải nhận điểm 0 ở kỳ thi chính
và được trưởng khoa cho phép được dự thi một lần ở kỳ thi phụ ngay sau đó (nếu có)
Sinh viên vắng mặt có lý do chính đáng ở kỳ thi chính, nếu được trưởng khoa cho phép, được dự thi ở kỳ thi phụ ngay sau đó (nếu có), điểm thi kết thúc học phần được coi là điểm thi lần đầu Trường hợp không có kỳ thi phụ hoặc không đạt trong
kỳ thi phụ sẽ phải dự thi tại các kỳ kết thúc học phần ở các học kỳ sau hoặc học kỳ phụ
b) Đồ án, khóa luận tốt nghiệp
Đầu học kỳ cuối khoá, các sinh viên được đăng ký làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp hoặc học thêm một số học phần chuyên môn được quy định như sau:
Trang 28- Làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp: áp dụng cho sinh viên đạt mức quy định của trường Đồ án, khoá luận tốt nghiệp là học phần có khối lượng không quá 5 tín chỉ cho trình độ cao đẳng Hiệu trưởng quy định khối lượng cụ thể phù hợp với yêu cầu đào tạo của trường
- Sinh viên không được giao làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn, nếu chưa tích lũy đủ số tín chỉ quy định cho chương trình
1.1.6.3 Cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm học phần
- Điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến một chữ số thập phân
- Điểm học phần là tổng điểm của tất cả các điểm đánh giá bộ phận của học phần nhân với trọng số tương ứng Điểm học phần làm tròn đến một chữ số thập phân, sau đó được chuyển thành điểm chữ như sau:
a) Loại đạt: A (8,5 - 10) Giỏi
B (7,0 - 8,4) Khá
C (5,5 - 6,9) Trung bình
D (4,0 - 5,4) Trung bình yếu
b) Loại không đạt: F (dưới 4,0) Kém
1.1.7 Các công cụ và phương pháp kiểm tra đánh giá
1.1.7.1 Các công cụ kiểm tra, đánh giá
a) Yêu cầu đối với công cụ kiểm tra đánh giá
- Không bỏ sót một khía cạnh quan trọng nào trong kiểm tra đánh giá
- Có sự nhất quán trong nội dung và phương pháp KTĐG đối với người học
- Đảm bảo độ tin cậy, độ giá trị và tính công bằng trong kiểm tra đánh giá
b) Các loại công cụ kiểm tra đánh giá
- Các văn bản, tư liệu lập kế hoạch
- Các phương pháp KTĐG KQHT: các câu hỏi, bài tập, các tình huống kiểm tra, các bảng điểm để thu thập chứng cứ
- Các sổ lộ trình công việc, các phieeud quy trình công nghệ
Trang 29- Các bản hướng dẫn của người kiểm tra đánh giá
- Các báo cáo của người dạy, người học, người giám sát KTĐG của cơ sở đào tạo…
- Kết hợp các công cụ trên đây để cung cấp đầy đủ chứng cứ cho việc đưa ra một đánh giá
c) Những đặc điểm chủ yếu của một công cụ kiểm tra đánh giá tốt
+ Hướng dẫn chính xác, đơn giản
+ Không gây nhầm lẫn trong bất kỳ trường hợp nào
- Về các tiêu chí, dấu hiệu
+ Chứng cứ chấp nhận được đều có liên quan đến các tiêu chí đã đề ra
+ Phải giải thích rõ có thể đạt được năng lực thực hiện như thế nào
+ Bao quát được các phương pháp thu thập tất cả các chứng cứ đã dự định
1.1.7.2 Các phương pháp kiểm tra đánh giá KQHT
Bất kỳ một quá trình giáo dục nào mà một con người tham gia cũng nhằm tạo
ra những biến đổi nhất định trong con người đó Muốn biết những biến đổi đó xảy
ra ở mức độ nào phải đánh giá hành vi của người đó trong một tình huống nhất định Việc đánh giá cho phép chúng ta xác định, một là mục tiêu giáo dục được đặt ra có phù hợp hay không và có đạt được hay không, hai là việc giảng dạy có thành công hay không, học viên có tiến bộ hay không
Có nhiều kiểu phân loại các phương pháp đánh giá trong giáo dục, tùy theo góc độ xem xét và mục tiêu phân loại Chúng ta có một số kiểu phân loại các phương pháp đánh giá trong giáo dục sau đây
a) Theo cách thực hiện việc đánh giá, có thể phân chia các phương pháp đánh giá làm ba loại lớn: loại quan sát, loại vấn đáp và loại viết (xem sơ đồ 1)
Trang 30- Loại quan sát giúp đánh giá các thao tác, các hành vi, các phản ứng vô thức, các kỹ năng thực hành và cả một số kỹ năng về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu - Loại vấn đáp có tác dụng tốt để đánh giá khả năng ứng đáp các câu hỏi được nêu một cách tự phát trong một tình huống cần kiểm tra, cũng thường được sử dụng khi sự tương tác giữa người hỏi và người đối thoại là quan trọng, chẳng hạn để xác định thái độ người đối thoại
- Loại viết thường được sử dụng nhiều nhất, vì nó có các ưu điểm sau:
+ Cho phép kiểm tra nhiều thí sinh cùng một lúc;
+ Cho phép thí sinh cân nhắc nhiều hơn khi trả lời
+ Có thể đánh giá một số loại tư duy ở mức độ cao
+ Cung cấp các bản ghi trả lời của thí sinh để nghiên cứu kỹ khi chấm
+ Dễ quản lý vì người chấm không tham gia trực tiếp vào bối cảnh kiểm tra Loại đánh giá viết lại được chia thành hai nhóm chính:
Nhóm các câu hỏi tự luận (TL): Các câu hỏi buộc phải trả lời theo dạng mở,
thí sinh phải tự mình trình bày ý kiến trong một bài viết để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra
Nhóm các câu hỏi trắc nghiệm khách quan (TNKQ): Đề thi thường bao gồm
rất nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu lên vấn đề và những thông tin cần thiết để thí sinh có thể trả lời từng câu một cách ngắn gọn
Trang 31
b) Theo mục tiêu của việc đánh giá có thể phân chia các phương pháp đánh giá làm hai nhóm: đánh giá trong tiến trình và đánh giá tổng kết
Đánh giá trong tiến trình được sử dụng trong quá trình dạy và học để nhận được các phản hồi từ học viên, xem xét mức độ thành công của việc dạy và học, chỉ
ra trở ngại và tìm cách khắc phục
Đánh giá tổng kết nhằm tổng kết những gì học viên đạt được, xếp loại học viên, lựa chọn học viên thích hợp để tiếp tục đào tạo hoặc sử dụng trong tương lai, chứng tỏ hiệu quả của khóa học và của việc dạy của giảng viên, đề ra mục tiêu tương lai cho học viên Hai nhóm đánh giá nêu trên được tiến hành theo những cách hoàn toàn khác nhau Trong giảng dạy ở nhà trường, các đánh giá trong tiến trình
Các PP kiểm tra đánh giá
HS
Trắc nghiệm
tự luận
Trắc nghiệm khách quan
Vấn đáp thuần túy
Vấn đáp kết hợp
Nhiều lựa chọn
Đúng sai
Ghép đôi
Điền khuyết
Sơ đồ 1: Các phương pháp kiểm tra đánh giá
Trang 32thường gắn chặt với giảng viên, còn các đánh giá kết thúc thường bám sát vào mục tiêu dạy học đã được đề ra, và có thể tách khỏi giảng viên
c) Theo phương hướng sử dụng kết quả đánh giá, có thể phân chia ra đánh giá theo chuẩn và đánh giá theo tiêu chí
- Đánh giá theo chuẩn: là đánh giá được sử dụng để xác định mức độ thực hiện của một cá nhân nào đó so với các cá nhân khác trong một nhóm mà trên đó việc đánh giá được thực hiện
- Đánh giá theo tiêu chí: là đánh giá được sử dụng để xác định mức độ thực hiện của một cá nhân nào đó so với các tiêu chí xác định cho trước
1.2 Phương pháp và kỹ thuật trắc nghiệm trong KTĐG KQHT
1.2.1 Lịch sử của khoa học về đo lường trong giáo dục trên thế giới và ở Việt Nam
- Trên thế giới việc học và thi diễn ra hàng nghìn năm trước đây (ở Trung Quốc từ khoảng năm 2000 TCN), nhưng một khoa học đo lường trong giáo dục thật
sự có thể xem như bắt đầu cách đây chỉ khoảng một thế kỷ (Thorndike,1904) Ở châu Âu và đặc biệt là Mỹ lĩnh vực khoa học này phát triển mạnh vào thời kỳ từ trước và sau thế chiến thứ hai với những dấu mốc quan trọng như Trắc nghiệm trí tuệ Standford-Binet xuất bản năm 1916, bộ trắc nghiệm thành quả học tập tổng hợp
đầu tiên Standford Achievement Test ra đời vào 1923 Với việc đưa vào chấm trắc nghiệm bằng máy của IBM năm 1935, việc thành lập National Council on
Measurement in Education (NCME) vào thập niên 1950 và ra đời Educational Testing Services (ETS) năm 1947, một ngành công nghiệp trắc nghiệm đã hình
thành ở Mỹ
- Lịch sử phát triển của khoa học về đo lường trong giáo dục ở Việt Nam
Ở nước ta khoa học về đo lường trong giáo dục ở trong tình trạng khá lạc hậu và phát triển rất chậm Trước 1975 ở Miền Nam, nước ta có một vài người được đào tạo về khoa học này từ các nước phương tây, trong đó có Giáo sư Dương Thiệu Tống Vào năm 1974 một hoạt động đáng lưu ý là kỳ thi tú tài lần đầu tiên được tổ chức ở Miền Nam bằng phương pháp TNKQ (Dương Thiệu Tống, 2005) Ở miền
Trang 33Bắc nước ta trước đây khoa học này ít được lưu ý vì trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa cũ, kể cả Liên Xô, khoa học này rất kém phát triển Vào những năm sau
1975 ở phía Bắc nước ta có một số người có nghiên cứu về khoa học đo lường trong tâm lý (Trần Trọng Thuỷ, 1992) Chỉ đến năm 1993 Bộ Giáo dục và Đào tạo mới mời một số chuyên gia nước ngoài vào nước ta, xuất bản sách phổ biến về khoa học này (Q Stodola & K Stordahl, 1996), cũng như cử một số cán bộ ra nước ngoài học tập Từ đó một số trường đại học có tổ chức các nhóm nghiên cứu áp dụng các phương pháp đo lường trong giáo dục để thiết kế các công cụ đánh giá, soạn thảo các phần mềm hỗ trợ, mua máy quét quang học chuyên dụng (OMR) để chấm thi Một điểm mốc đáng ghi nhận là kỳ thi tuyển đại học thí điểm tại trường Đại học Đà Lạt vào tháng 7 năm 1996 bằng phương pháp TNKQ mà sự thành công tốt đẹp của
nó được Hội nghị rút kinh nghiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo vào tháng 9 năm đó khẳng định (Kỳ thi có 7200 thí sinh dự tuyển, 2 loại đề trắc nghiệm và tự luận được
sử dụng để thí sinh tự chọn Có khoảng 70% lượt thí sinh chọn đề trắc nghiệm, chấm thi bằng máy Opscan-7, trong khoảng 60 trường hợp vi phạm kỷ luật thi do quay cóp thì chỉ có 4 thí sinh từ nhóm làm trắc nghiệm) (Quang An, 1997) Từ sau năm 1997 các hoạt động đổi mới phương pháp đo lường và đánh giá trong giáo dục
ở các trường đại học lắng xuống Cho đến mùa thi tuyển đại học năm 2002 Bộ Giáo dục và Đào tạo mới tổ chức kỳ thi tuyển đại học “3 chung” Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng thành lập “Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng” vào năm 2003 để cải tiến việc thi cử và đánh giá chất lượng các trường đại học, và đã dùng phương pháp trắc nghiệm khách quan để làm đề thi tuyển đại học cho môn Anh ngữ vào mùa thi
2006 Từ năm 2007 đến nay đã áp dụng kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học bằng thi TNKQ Trong các trường đại học, cao đẳng việc sử dụng TNKQ đã và đang trở thành phổ biến Hiện nay vấn còn nhiều tác giả nghiên cứu về đề tài này, như tại khoa sư phạm kỹ thuật trường ĐHBK Hà Nội Tác giả TS Dương Thị Kim Oanh nghiên cứu đề tại cấp bộ về : XÂY DỰNG BỘ CÂU HỎI TNKQ CHO CÁC MÔN HỌC NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CỦA KHOA SPKT – TRƯỜNG ĐHBK HÀ NỘI
Trang 341.2.2 Một số khái niệm
1.2.2.1 Trắc nghiệm
Trắc nghiệm là một phép thử (kiểm tra) để nhận dạng, xác định, thu nhận những thông tin phản hồi về những khả năng, thuộc tính, đặc tính, tính chất của một
sự vật hay hiện tượng nào đó Ví dụ: trắc nghiệm đo chỉ số thông minh (IQ); trắc
nghiệm đo thị lực mắt; trắc nghiệm do nồng độ cồn ở người lái xe
Trắc nghiệm trong giảng dạy cũng là là một phép thử (một phương pháp kiểm tra đánh giá ) nhằm đánh giá khách quan trình độ, năng lực cũng như kết quả học tập của ngưòi học trước, trong quá trình và khi kết thúc một giai đoạn học tập nhất định (phần hoặc bài giảng lý thuyết hoặc thực hành); một chương hoặc một chương trình đào tạo
Trắc nghiệm thường có các dạng thức sau : trắc nghiệm thành quả để đo lường kết quả, thành quả học tập của người học; trắc nghiệm năng khiếu hoặc năng lực để đo lưòng khả năng và dự báo tương lai Phương pháp trắc nghiệm có thể là khách quan hoặc chủ quan
1.2.2.2 Trắc nghiệm tự luận
a) Khái niệm
TNTL là phương pháp đánh giá kết quả học tập bằng việc sử dụng công cụ đo lường là các câu hỏi, học sinh trả lời dưới dạng bài viết bằng chính ngôn ngữ của học sinh trong một khoảng thời gian đã định trước
TNTL cho phép học sinh một sự tự do tương đối nào đó để trả lời mỗi câu hỏi trong bài kiểm tra Để trả lời câu hỏi đòi hỏi học sinh phải nhớ lại kiến thức, phải biết sắp xếp và diễn đạt ý kiến của mình một cách chính xác và rõ ràng
Bài TNTL trong một chừng mực nào đó được chấm điểm một cách chủ quan
và điểm cho bởi những người chấm khác nhau có thể không thống nhất Một bài tự luận thường có ít câu hỏi vì phải mất nhiều thời gian để viết câu trả lời
b) Phương pháp soạn câu hỏi trắc nghiệm tự luận
Trước khi viết câu hỏi TNTL phải xác định trước mục tiêu cần đánh giá nghĩa
là xác định các khả năng hay mức trí lực cần đánh giá Nên dùng câu hỏi TNTL để
Trang 35kiểm tra khả năng vận dụng những điều đã học để tìm ra những kiến thức mới chưa đựợc học ở lớp hay dánh giá khả năng so sánh các vấn đề với nhau của học sinh Nên báo cho học sinh biết trước loại câu hỏi nào sẽ được dùng để kiểm tra Nên định trước các mục tiêu và nội dung nào định kiểm tra Học sinh cũng cần biết truớc bài kiểm tra gồm những loại câu hỏi gì, nội dung nào để học bài, ôn bài, soạn bài một cách thích ứng
Nên soạn câu hỏi để đánh giá học sinh ở các mức trí lực khác nhau Với tự luận nên nhắm đến việc kiểm tra - đánh giá những mục tiêu quan trọng ở mức trí lực cao, không nên hỏi những điều vụn vặt chỉ cần trí nhớ
Không nên nhầm lẫn bài kiểm tra - đánh giá khả năng viết văn với bài kiểm tra
- đánh giá các khả năng khác trong bộ môn hóa học
Các học sinh trong cùng một lớp, một nhóm thì nên cho làm các câu hỏi giống nhau để khi cần so sánh các khả năng tiếp thu kiến thức, tư duy… của các học sinh
đó thuận lợi hơn
Các câu hỏi tự luận phải rõ ràng và phải có các giới hạn của các điểm cần trình bày trong câu trả lời
Sau khi hoàn thành các câu hỏi người soạn cần xem xét một lần nữa từng câu hỏi một, xem có đáng đưa vào bài kiểm tra không
Nến tăng số câu hỏi trong một bài kiểm tra vì số câu hỏi càng nhiều thì độ tin cậy của bài kiểm tra càng tăng
Phải dự tính đủ thời gian cho học sinh trả lời tất cả các câu hỏi trong bài kiểm tra vì học sinh phải viết câu trả lời với tốc độ không nhanh sau khi suy nghĩ để tìm câu trả lời cho câu hỏi
Các chỉ dẫn cách làm bài phải rõ ràng, đơn giản và cần nhắc học sinh đọc kĩ đề trước khi làm bài
c) Ưu, nhược điểm của trắc nghiệm tự luận
- Ưu điểm của trắc nghiệm tự luận
Câu hỏi TNTL đòi hỏi học sinh phải tự soạn câu trả lời và diễn tả bằng ngôn ngữ của chính mình vì vậy nó có thể đo được nhiều trình độ kiến thức, đặc biệt là ở
Trang 36trình độ phân tích, tổng hợp, so sánh…Nó không những kiểm tra được kiến thức của học sinh mà còn kiểm tra được kĩ năng, giải bài tập định tính cũng như định lượng
Có thể kiểm tra đánh giá các mục tiêu liên quan đến thái độ, sự hiểu biết những
ý niệm, sở thích và tài diễn đạt tư tưởng
Hình thành cho học sinh kĩ năng sắp đặt ý tưởng, suy diễn, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp… phát huy tính độc lập tư duy sáng tạo
Việc chuẩn bị câu hỏi dễ hơn, ít tốn công hơn so với câu hỏi trắc nghiệm khác quan
- Nhược điểm của trắc nghiệm tự luận
Bài kiểm tra theo kiểu tự luận thì số lượng câu hỏi ít, việc chấm điểm lại phụ thuộc vào tính chất chủ quan, trình độ người chấm do đó nó có độ tin cậy thấp Cũng do phụ thuộc vào tính chủ quan của người chấm nên nhiều khi cùng một bài kiểm tra, cùng một người chấm nhưng ở hai thời điểm khác nhau hoặc cùng một bài kiểm tra nhưng do hai người chấm khác nhau chấm, kết quả sẽ khác nhau, do đó phương pháp này có độ giá trị thấp
Vì số lượng câu hỏi ít nên không thể kiểm tra hết các nội dung trong chương trình, làm cho học sinh có chiều hướng học lệch, học tủ
1.2.2.3 Trắc nghiệm khách quan [ 9,10,11]
a) Khái niệm
TNKQ là phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi TNKQ gọi là “khách quan” vì cách cho điểm hoàn toàn khách quan không phụ thuộc vào người chấm
b) Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Câu hỏi trắc nghiệm khách quan có thể chia làm 4 loại chính:
- Câu trắc nghiệm “đúng sai”
Đây là loại câu hỏi được trình bày dưới dạng câu phát biểu và học sinh trả lời bằng cách lựa chọn một trong 2 phương án “đúng” hoặc “sai”
Trang 37Ưu điểm của loại trắc nghiệm “đúng sai”: Nó là loại câu hỏi đơn giản dùng để trắc nghiệm kiến thức về những sự kiện, vì vậy viết loại câu hỏi này tương đối dễ dàng, ít phạm lỗi, mang tính khách quan khi chấm
Nhược điểm của loại trắc nghiệm “đúng sai: HS có thể đoán mò vì vậy có độ tin cậy thấp, dễ tạo điều kiện cho học sinh thuộc lòng hơn là hiểu Học sinh giỏi có thể không thỏa mãn khi buộc phải chọn “đúng” hay “sai” khi câu hỏi viết chưa kĩ càng
- Câu trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn
Câu trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn được gọi tắt là câu hỏi nhiều lựa chọn Đây là loại câu hỏi thông dụng nhất Loại này có một câu phát biểu căn bản gọi là câu dẫn và có nhiều câu trả lời để học sinh lựa chọn, trong đó chỉ có một câu trả lời đúng nhất hay hợp lý nhất còn lại đều là sai, những câu trả lời sai là câu mồi hay câu nhiễu
Ưu điểm của loại câu hỏi nhiều lựa chọn:
- Giáo viên có thể dùng loại câu hỏi này để kiểm tra - đánh giá những mục tiêu dạy học khác nhau, chẳng hạn như:
+ Xác định mối tương quan nhân quả
+ Nhận biết các điều sai lầm
+ Ghép các kết quả hay các điều quan sát được với nhau
+ Định nghĩa các khái niệm
+ Tìm nguyên nhân của một số sự kiện
+ Nhận biết điểm tương đồng hay khác biệt giữa hai hay nhiều vật
+ Xác định nguyên lý hay ý niệm tổng quát từ những sự kiện
+ Xác định thứ tự hay cách sắp đặt nhiều vật
+ Xét đoán vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm
- Độ tin cậy cao hơn: Yếu tố đoán mò hay may rủi giảm đi nhiều so với cấc loại TNKQ khác khi số phương án chọn lựa tăng lên
Trang 38- Tính giá trị tốt hơn Với bài trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn, người ta có thể đo được các khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lý, định luật…, tổng quát hóa…rất hữu hiệu
- Thật sự khách quan khi chấm bài Điểm số của bài TNKQ không phụ thuộc vào chữ viết, khả năng diễn đạt của HS và trình độ người chấm bài…
Nhược điểm của loại câu hỏi nhiều lựa chọn
- Loại câu hỏi này khó soạn vì phải tìm câu trả lời đúng nhất, còn những câu còn lại gọi là câu nhiễu thì cũng có vẻ hợp lý Ngoài ra phải soạn câu hỏi hỏi thế nào đó để đo được các mức trí năng cao hơn mức biết, nhớ, hiểu
- Có những học sinh có óc sáng tạo, tư duy tốt, có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn đáp án thì sẽ làm cho học sinh đó cảm thấy không thỏa mãn
- Các câu hỏi nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán tinh vi
và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm bằng loại câu hỏi TNTL soạn kỹ
- Ngoài ra tốn kém giấy mực để in đề loại câu hỏi này so với loại câu hỏi khác
và cũng cần nhiều thời gian để học sinh đọc nội dung câu hỏi
- Câu hỏi loại này có thể dùng thẩm định trí năng ở mức biết, khả năng vận dụng, phân tích, tổng hợp hay ngay cả khả năng phán đoán cao hơn Vì vậy khi viết câu hỏi loại này cần lưu ý:
+ Câu dẫn phải có nội dung ngắn gọn, rõ ràng, lời văn sáng sủa, phải diễn đạt
rõ ràng một vấn đề Tránh dùng các từ phủ định, nếu không tránh được thì cần phải được nhấn mạnh để học sinh không bị nhầm Câu dẫn phải là câu hỏi trọn vẹn để học sinh hiểu được mình đang được hỏi vấn đề gì
+ Câu chọn cũng phải rõ ràng, dễ hiểu và phải có cùng loại quan hệ với câu dẫn, có cấu trúc song song nghĩa là chúng phải phù hợp về mặt ngữ pháp với câu dẫn
+ Nên có 5 phương án trả lời để chọn cho mỗi câu hỏi Nếu số phương án trả lời ít hơn thì yếu tố đoán mò hay may rủi sẽ tăng lên Nhưng nếu có quá nhiều phương án để chọn thì thầy giáo khó soạn và học sinh thì mất nhiều thời gian để đọc
Trang 39câu hỏi, các câu gây nhiễu phải có vẻ hợp lý và có sức hấp dẫn như nhau để nhử học sinh kém chọn
+ Phải chắc chắn chỉ có một phương án trả lời đúng, các phương án còn lại thật
Nhược điểm: Loại câu hỏi trắc nghiệm ghép đôi không thích hợp cho việc thẩm định các khả năng như sắp đặt và vận dụng các kiến thức Muốn soạn loại câu hỏi này để đo mức trí năng cao đòi hỏi nhiều công phu Ngoài ra, nếu danh sách mỗi cột dài thì tốn nhiều thời gian cho học sinh đọc nội dung mỗi cột trước khi ghép đôi
- Câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết hay có câu trả lời ngắn:
Đây là câu hỏi TNKQ nhưng có câu trả lời tự do Học sinh viết câu trả lời bằng một hay vài từ hoặc một câu ngắn
Ưu điểm: Học sinh có cơ hội trình bày những câu trả lời khác thường, phát huy
óc sáng kiến Học sinh không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ ra, nghĩ ra, tìm ra câu trả lời Dù sao việc chấm điểm cũng nhanh hơn TNTL song rắc rối hơn những loại câu TNKQ khác Loại này cũng dễ soạn hơn loại câu hỏi nhiều lựa chọn
Nhược điểm: Khi soạn thảo loại câu hỏi này thường dễ mắc sai lầm là trích nguyên văn các câu từ trong sách giáo khoa Phạm vi kiểm tra của loại câu hỏi này
Trang 40thường chỉ giới hạn vào chi tiết vụn vặt Việc chấm bài mất nhiều thời gian và thiếu khách quan hơn loại câu hỏi nhiều lựa chọn
c) Câu hỏi phối hợp giữa câu hỏi trắc nghiệm khách quan loại nhiều lựa chọn với tự luận
- Đây là câu hỏi TNKQ loại nhiều lựa chọn được đặt thêm 01 câu hỏi giải thích dưới dạng thành văn “Hãy giải thích một cách ngắn gọn vì sao chọn phương án đó”? Với loại câu hỏi này HS phải dùng cách hành văn của chính mình để viết ra cách giải, cách suy luận, giải thích để đưa đến kết quả mà mình đã chọn
- Loại câu hỏi này gần như mang đầy đủ các ưu điểm của loại câu hỏi TNKQ loại nhiều lựa chọn và loại câu hỏi TNTL Đặc biệt là nó khắc phục được các nhược điểm của câu hỏi nhiều lựa chọn: Loại bỏ được khả năng đoán mò, đánh giá được khả năng tư duy sáng tạo, đánh giá được trình tư độ duy của học sinh như câu hỏi TNTL, đánh giá được khả năng sử dụng ngôn ngữ chuyên môn của học sinh để sắp xếp, diễn đạt, trình bày một vấn đề và ít tốn thời gian chấm bài, khách quan hơn TNTL
- Tuy nhiên loại câu hỏi nhiều lựa chọn đã khó soạn nay lại phối hợp với tự luận càng khó hơn vì câu hỏi này phải có nội dung như thế nào đó để giáo viên đo được những gì cần đo, muốn đo mà phương pháp TNKQ không thực hiện được
- Khi chọn những câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn để phối hợp với tự luận có những điểm cần lưu ý sau:
+ Phải là những câu hỏi nhiều lựa chọn hay, có nội dung để đánh giá khả năng
ở mức trí lực cao như: Phân tích, tổng hợp, so sánh, thực nghiệm, óc quan sát tinh
vi, nhận xét tinh tế… vì đánh giá các mức trí lực cao là nhược điểm của câu hỏi TNKQ song đó lại là ưu điểm của tự luận
+ Dù là câu hỏi TNKQ hay TNTL thì học sinh phải mất thời gian suy nghĩ tương đương, song để đảm bảo độ tin cậy cho bài kiểm tra TNKQ thì số câu hỏi phải nhiều vì vậy phần TNTL phải là câu trả lời được viết ngắn gọn, rõ ràng, súc tích, ít tốn thời gian do đó câu hỏi loại này cũng chỉ nên đề cập đến một vấn đề, một nguyên tắc…, không nên hỏi nhiều vấn đề trong một câu như câu hỏi TNTL