Xuất phát từ thực trạng dạy học của môn học “Cấu trúc dữ liệu và giải thuật” tại trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà nội Xét một cách toàn diện trong một điều kiện cụ thể thì quan điểm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
Vũ Thị Kim Phượng
DẠY HỌC TƯƠNG TÁC VÀ ỨNG DỤNG TRONG MÔN HỌC CẤU TRÚC DỮ LIỆU VÀ GIẢI THUẬT
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp giảng dạy
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KỸ THUẬT CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY
Chuyên sâu : Sư phạm kỹ thuật Tin học
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS NGUYỄN XUÂN LẠC
Hà Nội – Năm 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành:
Thầy giáo hướng dẫn: GS.TS Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Xuân Lạc đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Khoa Sư phạm kỹ thuật - Đại học Bách khoa Hà Nội, Viện đào tạo sau đại học
đã tạo mọi điều kiện cho việc học tập, nghiên cứu, tiến hành luận văn của tác giả được hoàn thành đúng thời hạn
Gia đình và toàn thể anh em, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm, động viên, giúp
đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Hà nội, ngày tháng năm 2010
Tác giả
Vũ Thị Kim Phượng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Dạy học tương tác và ứng dụng trong môn học Cấu trúc dữ liệu và Giải thuật ở trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội” là công trình
nghiên cứu độc lập của tôi dưới sự hướng dẫn của thầy giáo GS.TS Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Xuân Lạc Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu
có đều được trích dẫn đầy đủ
Luận văn này cho đến nay vẫn chưa hề được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo
vệ luận văn thạc sĩ nào trên toàn quốc cũng như nước ngoài và cho đến nay chưa hề được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Hà nội, ngày tháng năm 2010
Tác giả
Vũ Thị Kim Phượng
Trang 4DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT CĐNCN : Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà nội
CNTT : Công nghệ thông tin
QTDH : Quá trình dạy học
DH : Dạy học
SPTT : Sư phạm tương tác
CNTTTT : Công nghệ thông tin và truyền thông
CNDHTT : Công nghệ dạy học tương tác
LLDHTT : Lý luận dạy học tương tác
CNDH : Công nghệ dạy học
CNDHTT : Công nghệ dạy học tương tác
WIMP : Windows, Icons, Menu, Pointers
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 : Phân phối tần số điểm kiểm tra trước thực nghiệm
Bảng 3.2 : Kết quả kiểm tra nhận thức của hai nhóm thực nghiệm
với đối chứng khi chưa có tác động sư phạm Bảng 3.3 : Thang đánh giá mức độ nhận thức
Bảng 3.4 : Phân phối tần số điểm kiểm tra sau thực nghiệm
Bảng 3.5 : Điểm kiểm tra nhận thức của hai nhóm sau thực nghiệm
Bảng 3.6 : Kết quả so sánh hai nhóm thực nghiêm và đối chứng
Bảng 3.7 : Tổng hợp số liệu phân tích nhóm thực nghiêm
Bảng 3.8 : Tổng hợp số liệu phân tích nhóm đối chứng
Bảng 3.9 : Bảng tổng hợp các giá trị tham số đặc trưng cơ bản qua 2 lần kiểm tra
Trang 6DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ
Hình 1.1 : Lược đồ chức năng của QTDH
Hình 1.2 : Cấu trúc của phương pháp thuyết trình
Hình 1.3a : Cấu trúc của phương pháp đàm thoại
Hình 1.3b : Cấu trúc của phương pháp đàm thoại
Hình 1.3c : Cấu trúc của phương pháp đàm thoại
Hình 1.4 : Cấu trúc bài dạy thực hành
Hình 1.5 : Bộ ba tác nhân và hoạt động của nó [1, T20 ]
Hình 1.6 : Sơ đồ bộ máy học
Hình 1.7 : Sơ đồ tính năng động của bộ máy học
Hình1.8 : Sơ đồ các tương tác và sự tương hỗ các tác nhân [1,T22]
hình 1.9a : Sơ đồ bộ ba tác nhân
hình 1.9b :Sơ đồ bộ ba tương tác và sự tương tác giữa các phần tử trong nội bộ tác
nhân Hình 2.1 : Phần mềm Macromedia Dreamweaver
Biểu đồ 3.1 : Biểu đồ biểu diễn tần xuất kết quả kiểm tra trước thực nghiệm
Biểu đồ 3.2 : Tần xuất kết quả kiểm tra thực nghiệm
Biểu đồ 3.3 : Kết quả điểm trung bình sau thực nghiệm
Trang 7MỞ ĐẦU
1 TÊN ĐỀ TÀI
Dạy học tương tác và ứng dụng trong môn học “Cấu trúc dữ liệu và Giải thuật” ở
trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội
Nghị quyết Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã định hướng phát triển về
giáo dục và đào tạo 5 năm 2006 - 2010 "… Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán,
từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo được chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình độ giáo dục của khu vực và thế giới; khắc phục cách đổi mới chắp và, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu kế hoạch đồng bộ Phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân và vì dân, đảm bảo công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học, nâng cao chất đội ngũ giáo viên và tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường, phát huy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh " [23] Những tư tưởng chỉ đạo này là
những định hướng cho sự đổi mới giáo dục của nước ta hiện nay - một sự đổi mới tất yếu nhằm chấn hưng, phát triển nền giáo dục nước nhà
b Xuất phát từ những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại và ảnh hưởng của
nó đến ngành Giáo dục và đào tạo
Trang 8Những tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là công nghệ thông tin và truyền thông, đang làm thay đổi nhanh chóng diện mạo của thế giới, thúc đẩy nhanh chóng tốc độ hội nhập và toàn cầu hoá, theo đó làm thay đổi mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy-học trong nhà trường Nội dung giáo dục trong các trường nghề ngày nay mang tính hiện đại
và phát triển, phương pháp giáo dục coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự rèn luyện tay nghề, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo và tạo tiền đề để
họ có khả năng tự học suốt đời
Thành tựu nổi bật nhất của tâm lý học thế kỷ XX là sự khám phá ra vai trò quyết định của hoạt động của con người trong việc hình thành các năng lực và phẩm chất Những khả năng trí tuệ, năng lực chuyên môn, các phẩm chất nghề nghiệp, thuộc tính nhân cách của con người là kết quả của việc con người, bằng hoạt động của chính bản thân mình, chuyển hóa những năng lực và phẩm chất người của loài người thành tài sản riêng cho bản thân Giáo dục và dạy học, về bản chất, chính là sự tổ chức hoạt động lĩnh hội cho người học, hướng vào lĩnh hội kinh nghiệm xã hội-lịch sử của loài người Chất lượng của các năng lực, sự hình thành phẩm chất tâm lý khác nhau tùy thuộc ở cách mà con người tiến hành hoạt động lĩnh hội Nếu dạy học chỉ đòi hỏi ở người học sự ghi nhớ thụ động, sự dập khuôn cứng nhắc, thói chờ đợi chỉ dẫn thì trong trường hợp tốt nhất cũng chỉ có thể hình thành ở người học khả năng ghi nhớ máy móc, tính thụ động chờ đợi chỉ dẫn, chứ không thể hình thành được tư duy uyển chuyển, óc sáng tạo và tinh thần khám phá
Trong lĩnh vực giáo dục, phương pháp dạy học được hiểu là cách thức hoạt động cùng nhau của người dạy và người học hướng tới việc giải quyết các nhiệm vụ dạy học (bao gồm cả trang bị tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; hình thành các phẩm chất nhân cách; phát triển những khả năng và năng lực) Phương pháp dạy học là cách mà người dạy chỉ đạo (tổ chức, điều khiển, lãnh đạo) hoạt động của người học, và cách mà người học tiến hành hoạt động lĩnh hội năng lực người
Trang 9Như vậy, chất lượng của các năng lực, sự hình thành phẩm chất tâm lý này hay khác ở người học tùy thuộc chính ở cách người học tiến hành việc học - ở phương pháp dạy học, giáo dục Trong quá trình dạy học, phương pháp dạy học nổi lên như nhân tố chủ quan (chủ quan về phía người giảng viên) hàng đầu quyết định chất lượng dạy học
Và do vậy, việc lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học phù hợp luôn có ý nghĩa sống còn đối với chất lượng dạy học và giáo dục
Quan điểm sư phạm tương tác - một quan điểm giáo dục - hiện được đề cập nhiều trong các tài liệu giáo dục của nước ta Đã có một số cơ sở giáo dục tổ chức huấn luyện và thực thi quá trình dạy học theo quan điểm này Bản chất của quan điểm giáo dục này là
sự học của đối tượng giảng dạy cần được quan tâm tìm hiểu và tạo ra những điều kiện tốt nhất cho sự lĩnh hội tri thức, hình thành năng lực chủ động, tích cực, sáng tạo trong hoạt động học tập của họ Theo đó, tổ chức điều khiển quá trình dạy học thực chất chính là tổ chức vận hành tốt mối tương tác giữa các nhân tố người học, người dạy và môi trường dạy học
c Xuất phát từ thực trạng dạy học của môn học “Cấu trúc dữ liệu và giải thuật” tại trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà nội
Xét một cách toàn diện trong một điều kiện cụ thể thì quan điểm sư phạm tương tác phù hợp với yêu cầu tổ chức quá trình dạy học cho mọi đối tượng người học nhằm khai thác tốt các kinh nghiệm và phát huy vai trò chủ thể của họ trong môi trường dạy học đa dạng Tuy nhiên phương pháp dạy học tương tác chưa được nghiên cứu sâu và
áp dụng vào đào tạo nghề tại trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội
Qua nhiều năm giảng dạy một số môn tin học tại trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà nội tôi rất trăn trở về thực trạng việc dạy và học trong nhà trường tôi hiện nay Đối tượng học sinh của trường rất không đồng đều về trình độ ở đầu vào (vì nhà trường chỉ xét tuyển ở đầu vào mà không tổ chức kiểm tra văn hóa) Trong quá trình học tập có những môn học rất trừu tượng, khô khan, học sinh khó tiếp thu nếu chỉ dạy học theo những phương pháp thông thường
Trang 10Những phân tích trên là lý do để tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu với tiêu đề:
"Dạy học tương tác và ứng dụng trong môn học “Cấu trúc dữ liệu và Giải thuật” ở trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội"
3 MỤC ĐICH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về dạy học tương tác
Nghiên cứu việc vận dụng dạy học tương tác vào dạy học tại khoa Công nghệ thông tin trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà nội
Nghiên cứu việc vận dụng dạy học tương tác vào dạy môn "Cấu trúc dữ liệu và giải thuật " thông qua hình thức xây dựng bài giảng bằng công nghệ dạy học hiện đại
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Dạy học tương tác các môn học công nghệ
Phạm vi nghiên cứu: Vận dụng dạy học tương tác vào dạy môn "Cấu trúc dữ
liệu và giải thuật " thông qua hình thức xây dựng bài giảng bằng công nghệ dạy học hiện đại
5 NHIỆM VỤ
Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học theo quan điểm sư phạm tương tác
Nghiên cứu vận dụng dạy học tương tác vào giảng dạy môn "Cấu trúc dữ liệu
và giải thuật " tại trường CĐNCN Hà nội
Xây dựng một số bài dạy ở chương các phương pháp sắp xếp cơ bản của môn
“Cấu trúc dữ liệu và giải thuật”
6 GIẢ THIẾT KHOA HỌC
Nếu vận dụng dạy học tương tác vào dạy môn “Cấu trúc dữ liệu và giải thuật” sẽ góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo nghề quản trị cơ sở dữ liệu nói riêng và tất cả các nghề của ngành Công nghệ thông tin nói chung ở trường cao đẳng nghề Công nghiệp
Hà nội
Trang 117 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Ý nghĩa khoa học: Vận dụng công nghệ dạy học vào việc dạy học các môn học
kỹ thuật
Ý nghĩa thực tiễn: Áp dụng ngay vào quá trình đào tạo Nghề quản trị cơ sở dữ
liệu và các nghề khác tại khoa Công nghệ thông tin của trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà nội
8 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát các nguồn tư liệu để xây dựng cơ
sở lý thuyết cho đề tài
Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Phương pháp điều tra
Phương pháp quan sát
Phương pháp chuyên gia
9 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
Chương III:
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 12Chương I:CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA DẠY HỌC TƯƠNG TÁC
1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Khái niệm dạy học
Mỗi cá nhân, muốn tồn tại và phát triển thì phải học Mặt khác, để tồn tại và phát triển, xã hội cũng phải truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm đã được các thế hệ trước sáng tạo và tích lũy, tức là phải dạy Cùng với sản xuất, việc dạy thế hệ sau là hai phương thức cơ bản để tồn tại và phát triển
Dạy và học là hại mặt không thể tách rời của phương thức tồn tại và phát triển của
xã hội và cá nhân Một mặt là sự tiếp nhận và chuyển hóa những kinh nghiệm đã có của xã hội thành kinh nghiệm của cá nhân, còn mặt kia là sự chuyển giao những kinh nghiệm đó từ thế hệ trước đến thế hệ sau
Như vậy:[11]
- Học là quá trình tương tác giữa cá thể với môi trường, dẫn đến sự biến đổi bền
vững về nhận thức và ứng xử của cá thể đó
- Dạy là sự truyền lại kinh nghiệm đã được tích lũy của một cá thể đi trước cho
cá thể đi sau trong một tiến trình được xét
- Dạy học là truyền thụ và tiếp thu (có tổ chức) kiến thức và năng lực thực hiện một hoạt động xác định
1.1.2 Hoạt động dạy học và sự tương tác giữa người dạy, người học và môi
trường
Hoạt động dạy và hoạt động học là sự tương tác lẫn nhau giữa hai mặt của một
hoạt động: Hoạt động dạy học Sự tồn tại và phát triển của mặt này quy định sự tồn tại
và phát triển của mặt kia Yếu tố tạo lên sự quy định lẫn nhau là do chức năng, vị thế
và phương pháp tác động của chúng Trong thực tế những yếu tố này bị chi phối bởi mục đích dạy học và có lịch sử phát triển khá lâu dài
a Quá trình dạy học
Trang 13Quá trình dạy học là chuỗi liên tiếp các hành động dạy và hành động học của người
dạy và người học đan xen và tương tác với nhau trong khoảng không gian và thời gian
nhất định nhằm thực hiện nhiệm vụ dạy học
Quá trình dạy học (QTDH) được xác định bởi các dấu hiệu:
- Thứ nhất: Dạy học là một hoạt động đặc thù của xã hội, nhằm truyền thụ và lĩnh
hội kinh nghiệm xã hội, trên cơ sở đó hình thành và phát triển nhân cách của người học Hai hoạt động dạy và học có chức năng khác nhau, đan xen và tương tác lẫn nhau trong khoảng không gian và thời gian nhất định: Hoạt động học, chủ thể là người học,
hướng vào đối tượng học, tiếp nhận và chuyển hóa nó, biến thành của riêng, qua đó
phát triển chính bản thân mình Hoạt động dạy, chủ thể là người dạy, hướng vào đối tượng dạy, làm cho nó trở thành đối tượng của sự điều khiển của mình
- Thứ hai: Hoạt động dạy và hoạt động học đều phải được tiến hành trên bản thể của
QTDH là nội dung dạy học (NDDH) NDDH là yếu tố khác quan, quyết định tiến trình
và phương pháp của hoạt động dạy và hoạt động học
- Thứ ba: Kết quả của quá trình dạy học là làm biến đổi ở người học những đặc tính
nào đó đã được xác định từ trước và tương ứng với nội dung dạy học Nói cách khác, phải thực hiện được mục đích của chính QTDH
- Thứ tư: QTDH phải là một quá trình học tập có kiểm soát và điều khiển được
Nét độc đáo trong quá trình học tập thể hiện ở: Người học, bằng phương pháp học của mình , vừa học những cái mới chủ quan từ kho tàng văn hóa của nhân loại, vừa tập vận dụng để củng cố kết quả, hình thành và phát triển năng lực hoạt động thực tiễn
b Cấu trúc của quá trình dạy học[12]
QTDH là một tập hợp phần tử có cấu trúc và tương tác xác định, nghĩa là một hệ thống, hơn nữa còn là một hệ thống điều khiển được (sẽ được đề cập chi tiết ở phần tiếp cận hệ thống)
Theo chức năng, các phần tử cấu trúc (các thành tố) của QTDH là : Mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, người dạy với công nghệ dạy (hệ thống phương tiện,
Trang 14phương pháp và kỹ năng), người học với công nghệ học, kết quả dạy học, môi trường dạy học
Trong bất kỳ quá trình dạy học nào cũng tồn tại sự tương tác giữa ba yếu tố: Người dạy, người học và môi trường dạy học
1.2 Tổng quan về dạy học tương tác
1.2.1 Khái niệm về sư phạm tương tác
Trong bài “Lý luận dạy học các khoa học và việc đào tạo người thầy giáo” Guy Brouseau đã phân tích kỹ vai trò của người dạy trong sự tương tác với môi trường- nội
dung và người học, đó là chuyển giao một tình huống và thể chế hoá tri thức ( làm
sống lại kiến thức, làm cho kiến thức được tạo ra bởi chính người học như là câu trả lời cho tình huống và biến đổi câu trả lời của người học thành tri thức khoa học) [21] Hai tác giả người Canada là Jean - Mare Denommé và Madeleine Roy trong tác phẩm “ Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác” [Pour une pédagogie interactive ], [26] đã mô tả logic của hoạt động dạy học và mở ra một trường phái sư phạm học tương tác với tất cả nền tảng lý luận của nó Trong kết quả nghiên cứu của họ, cấu trúc dạy học được quy gộp lại trong một “ bộ ba’’ gồm Người học- Người dạy- Môi trường và được
xem xét về chức năng, cấu trúc và những mối quan hệ ràng buộc giữa chúng ở đây yếu
Mục tiêu
DH
Nội dung DH
Người dạy
Công nghệ dạy
Người học
Công nghệ học
Môi trường DH (kinh tế - xã hội - văn hóa - khoa học)
Kết quả
DH
Hình 1.1: Lược đồ chức năng của QTDH
Trang 15tố “kiến thức ” được các tác giả xem như một yếu tố khách quan mà người dạy muốn hướng người học chiếm lĩnh
Vậy, sư phạm tương tác là gì? Sư phạm tương tác là quá trình tác động qua lại giữa người dạy, người học với một môi trường sư phạm đa phương tiện
Sự tương tác giữa người dạy và người học vẫn được sử dụng từ trước đến nay trong quá trình dạy học, nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ nhất định, còn nhiều hạn chế cần khắc phục, chưa phát huy được tính chủ động sáng tạo của người học Sau đây là một số phương pháp dạy học hiên nay
1.2.2 Một số phương pháp dạy học hiện nay
Phương pháp thuyết trình:
Phương pháp thuyết trình có thể được gọi dưới nhiều tên khác nhau: Phương pháp diễn giải, phương pháp dùng lời, phương pháp truyền thống Đôi khi người ta còn gán cho phương pháp này tên gọi: Phương pháp giáo điều,
ở phương pháp này giáo viên sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để cung cấp cho người học hệ thống thông tin về nội dung học tập, người học tiếp nhận hệ thống thông tin đó từ người dạy và xử lý chúng tuỳ theo tính chủ thể người học và yêu cầu của người học
Trang 16Cấu trúc của phương pháp thuyết trình:
Điểm mạnh:
o Có thể truyền đạt được nội dung khó, bổ sung cập nhật kiến thức mới
o Giúp học sinh hiểu được phương pháp tư duy logic, cách đặt vấn đề, giải quyết vấn đề khoa học
o Giáo viên tác động trực tiếp đến tâm tư, tình cảm của học sinh
o Truyền đạt được lượng thông tin lớn, cho nhiều người học một lúc
o Đảm bảo tính kinh tế, chi phí ít
Hạn chế:
o Người học thụ động, sự tương tác chủ yếu chỉ là thầy hỏi trò trả lời Quá trình học của người học chủ yếu là thính giác kết hợp với tư duy tái hiện để nhận thức
o Người học bị hạn chế phát triển ngôn ngữ nói
o Không sát với nhận thức và mức độ lĩnh hội kiến thức của người học
Như vậy, tính tương tác trong dạy học được thể hiện qua hình thức giao tiếp trực
tiếp thầy trò Sự tương tác về cơ bản vẫn là thầy giảng - trò ghi, tương tác chỉ diễn ra trong thời gian nhất định, trong giờ ôn bài, hướng dẫn bài tập và thực hành
Nêu vấn đề
Phát biểu vấn đề
Giải quyết vấn đề
Kết luận Phương pháp quy nạp Phương pháp diễn dịch
Hình 1.2: Cấu trúc của phương pháp thuyết trình
Trang 17Phương pháp đàm thoại:
Là phương pháp dạy học mà giáo viên khéo léo đặt ra một hệ thống những câu hỏi để học sinh trả lời nhằm gợi mở cho họ sáng tỏ những vấn đề mới, tìm ra những tri thức mới
Phương pháp đàm thoại bao gồm:
o Vấn đáp tái hiện: Giáo viên đặt câu hỏi, học sinh trả lời dựa vào trí nhớ
o Vấn đáp giải thích minh hoạ: Học sinh trả lời câu hỏi có luận cứ
o Đàm thoại gợi mở: Giáo viên đặt câu hỏi, đặt người học trong hoàn cảnh có vấn đề, mâu thuẫn và có nhu cầu lĩnh hội tri thức mới để giải quyết vấn đề
Cấu trúc của phương pháp đàm thoại:
• Đàm thoại trực tiếp từng học sinh:
Giáo viên đặt câu hỏi cho từng học sinh suy nghĩ, trả lời
Hình 1.3a: Cấu trúc của phương pháp đàm thoại
Trang 18• Thảo luận:
Giáo viên đặt câu hỏi, tập thể lớp thảo luận, giáo viên tổng kết bổ sung
Hình 1.3c: Cấu trúc của phương pháp đàm thoại
Như vậy, ở phương pháp này sự tương tác giữa người dạy, người học đã được chú trọng, người học có thể đưa ra câu hỏi cho người dạy hay cho các bạn học, những người học có thể trao đổi với nhau để cùng tìm ra câu trả lời Kiến thức được lĩnh hội thông qua sự trao đổi qua lại giữa người dạy - người học và giữa những người học với nhau
Điểm mạnh:
o Phát huy được tính tích cực, độc lập của học sinh
o Bồi dưỡng cho học sinh phát triển khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói, phát triển tư duy
o Giáo viên nhận trực tiếp phản hồi từ học sinh, điều chỉnh hoạt động của mình, nâng cao hiệu quả dạy học
o Tạo không khí sôi nổi sẵn sang nhận thức trong lớp học
Trang 19o Dễ xảy ra tranh luận không sát với mục tiêu bài học giữa giáo viên và học sinh
9 Tái sinh cái cụ thể trong tư duy
Ở phương pháp này thông qua các phương tiện trực quan đã diễn ra quá trình tương tác giữa người dạy – người học – môi trường Thông qua đó người học thu nhận thông tin về những mặt, thuộc tính, mối liên hệ với vật thật để tái tạo cụ thể vật chất trong tư duy
Điểm mạnh:
o Phát triển kỹ năng quan sát của người học
o Giới thiệu được kỹ thuật mới bằng nhiều hình thức
o Sử dụng nhiều giác quan
o Gần gũi với thực tiễn đời sống
Trang 20 Hạn chế:
o Không thích hợp với lớp học đông người
o Làm giảm chú ý nếu phương tiện trực quan có độ phức tạp cao
o Kinh phí đầu tư giảng dạy cao
Việc sử dụng phương tiện trong dạy học đã mang lại hiệu quả cao trong sự tương tác thầy trò Tuy nhiên nó vẫn còn có một số điểm hạn chế trong việc trình bày hình vẽ phức tạp Dùng tranh vẽ thì không thể hiển thị hình ảnh động, dùng mô hình hoặc vật thực chỉ nghiên cứu được một cách tổng thể về đối tượng, không thể nghiên cứu chi tiết từng thành phần, cơ chế hoạt động bên trong của nó
Phương pháp dạy học giả định trò chơi
Phương pháp dạy học giả định trò chơi là người dạy cung cấp và tổ chức cho người học tiến hành các trò chơi Hệ quả là người học thu được các tri thức khoa học, thái độ và kỹ năng hành động (trí óc và chân tay) sau khi kết thúc trò chơi
Yêu cầu của phương pháp:
Phải là một tình huống học tập của người học
Luật chơi là những điều kiện, phương tiện để người học triển khai việc học tập thông qua hoạt động chơi
Quá trình tương tác giữa người dạy, người học và môi trường diễn ra liên tục thông qua việc thực hiện hoạt động chơi
Tạo được tính tự giác cao và sự tích cực tham gia chơi của người học
Kích thích thúc đẩy người chơi qua nội dung chơi hay phần thưởng
Những kiến thức, kỹ năng và phương pháp hành động,… người chơi thu nhận được sau khi kết thúc trò chơi phải được sự xác nhận của giáo viên
Điểm mạnh:
o Người học tham gia tích cực vào quá trình học
o Người học được quyền quyết định và tự giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình chơi
Trang 21o Yếu tố kích thích, thi đua, sự thử thách và khả năng nâng cao hiểu biết, sự sáng tạo và tính kiềm chế của người học được phát huy
Trang 22Phương pháp luyện tập huấn luyện
Luyện tập là sự lặp đi lặp lại một hành động kỹ thuật một cách có mục đích, có
kế hoạch, có hệ thống nhằm hình thành, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề
Luyện tập hình thành kỹ năng lao động bằng tay như các thao tác tháo lắp bộ phận của máy tính, soạn thảo văn bản,…
Luyện tập hình thành kỹ năng thao tác máy như sử dụng các máy cắt gọt kim loại, sửa chữa máy tính (hay các thiết bị văn phòng)
Luyện tập thực hiện các nguyên công gia công trên máy như gia công mặt phẳng, gia công mặt nghiêng, định hình, …
Luyện tập được thực hiện trực tiếp trên các công cụ, phương tiện lao động sản xuất Gắn học tập với môi trường lao động xã hội
Điểm mạnh:
o Giúp học sinh rèn luyện hình thành kỹ năng nghề
o Gây hứng thú say sưa nghề nghiệp cho người học
o Đánh giá đúng năng lực thực hiện của người học
o Bước đầu gắn liền đào tạo trong nhà trường với thị trường lao động
Học sinh Lĩnh hội hiểu
biết kỹ thuật
Quan sát bắt chước Luyện tập
Kết quả Lĩnh hội hiểu biết
kỹ thuật
Định hình hành động Kỹ năng
Giáo viên Định hướng dạy
Trang 231.2.3 Nguyên lý cơ bản trong dạy học tương tác
Luận điểm sư phạm tương tác (SPTT) của hai nhà khoa học giáo dục Canada-
Jean-Marc Denommé và Madelein Roy được đề xuất và trình bày trong tác phẩm [26]
như sau:
a Bộ ba tác nhân (3E)
• Người học (estudiant): Là người đi học mà không phải là người được dạy
• Người dạy (enseignant): Là người hướng dẫn, hỗ trợ
• Môi trường (environnement): Là thế giới vật chất, xã hội và văn hóa
b Bộ ba thao tác (3A)
• Học (Apprendre) – Người học sử dụng nội lực, để kiểm định kiến thức và
kỹ năng nảy sinh trong mình theo một cách nào đó (Phương pháp học)
• Giúp đỡ (Aider/Assister) – Người dạy bằng kiến thức, kỹ năng và ứng xử
của mình làm nảy sinh kiến thức và kỹ năng ở người học theo cách của một người
hướng dẫn và hỗ trợ (Phương pháp dạy)
• Tác động (Agir) – Môi trường, bên trong cũng như bên ngoài, ảnh hưởng
(tác động) rất lớn tới cả việc dạy và việc học vì người học và người dạy đều là những nhân cách được hình thành và phát triển trong những điều kiện tự nhiên, vật chất, xã hội và văn hóa nhất định
Trang 24bổ sung, từ phía người dạy
Những tương tác này vẫn xẩy ra trong dạy học truyền thống Điều khác biệt thể hiện ở:
¾ Lúc, chỗ và độ thể hiện của tương tác
¾ Định hướng của tương tác
Trong khuôn khổ của phương pháp dạy học cũ – người dạy là trung tâm; gần đây, với phương pháp dạy học tích cực, người học là trung tâm đã ngày càng trở thành
định hướng chính Nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông
(CNTTTT), với các phần mềm dạy học tương tác (xem phần sau) không khác gì các trò
Hình 1.5: Bộ ba tác nhân và hoạt động của nó [26, T20 ]
Trang 25chơi tương tác, tương tác trong giờ lên lớp lý thuyết mới ngày càng khả thi và hiệu quả, cùng với học chế tín chỉ, người học có thể tự quyết định lộ trình học tập thích hợp, họ thực sự là trung tâm của quá trình dạy học
Giá trị các mối quan hệ tác động qua lại tồn tại giữa người dạy, người học và môi trường được thể hiện trong hình 1.6: Ở giữa tượng trưng cho tất cả sự liên hệ năng động giữa ba tác nhân, các mũi tên chỉ hướng tác động qua lại giữa chúng
Ảnh hưởng của môi trường tới việc học và việc dạy đã hiển nhiên Người học và người dạy cùng nhau phối hợp tổ chức và cải thiện môi trường làm việc cũng là điều dễ hiểu, nhất là trong thời đại CNTTTT hiện nay, và cuối cùng, tất cả đều vì người học
d Cơ sơ của việc học
Để đánh giá tốt vai trò của việc học trong dạy học tương tác ta cần mô tả bộ máy học, nghiên cứu tính năng và vạch ra những áp dụng sư phạm của nó
Bộ máy học: Bao gồm một hệ thống thần kinh ngoại biên (năm giác quan và
nơron) và một hệ thống thần kinh trung ương trải qua quá trình tiến hoá của các thời kỳ khác nhau từ bò sát, thời kỳ động vật có vú đến não người Bộ máy học được mô tả qua hình 1.7
Người học
Người dạy
Môi trường
Hình1.6: Sơ đồ các tương tác và sự tương hỗ các tác nhân [26,T22]
Trang 26Tính năng động: Hệ thống thần kinh của bộ máy học có tính năng động Hệ
thống thần kinh ngoại biên có nhiệm vụ đón nhận thông tin qua trung gian là các giác quan được dẫn truyền qua các nơron trung tâm dưới hình thức các luồng thần kinh (dưới hình thức năng lượng) Như vậy, hệ thống thần kinh ngoại biên có vai trò hướng dẫn ban đầu với quá trình nhận thức của người học, nó là người vận chuyển thông tin
Các thông tin trong quá trình học của người học sẽ được 5 giác quan của bộ máy học tiếp nhận, các thông tin này được các nơ ron dấu đi và cảm ứng năng lượng Nơron dẫn năng lượng theo hai hướng : từ ngoại vi vào trong não và từ não ra ngoại vi Các thông tin nhận được, nhờ truyền vào sẽ được phân tích các thành phần khác nhau của cảm giác và của các sợi nhánh của nơ ron Đây là hình tượng được gọi tên là dị biệt Mặt khác, nơ ron thần kinh thông qua các khớp – nối mà các sợi nhánh của hai nơ ron gặp nhau, không để cho mọi thông tin đều được đi qua Nó lựa chọn, sàng lọc và chỉ cho những thông tin (dưới dạng năng lượng) xác đáng vào não Hiện tượng này được gọi là tương đồng Như vậy, thông qua chức năng mang đến và mang đi, dị biệt và tương
5 giác quan
Nơ ron: Tế bào, sợi trục, sợi nhánh, sináp
Ngoại biên
Não nguyên thủy: Chức năng tồn tại
Bán cầu đại não: Não người
Trang 27đồng các nơ ron thần kinh đã giúp cá thể làm chủ được các kích thích và có được các phản ứng với những kích thích cần phản ứng
Hệ thống thần kinh trung ương – não người - đảm nhận chức năng cảm xúc và thu lượm, ghi và khai thác tri thức
“Qua hệ thống ngoại biên, mà người nhận ra một số lớn các yếu tố thông tin được lựa chọn và dẫn đi dưới hình thức xung động thần kinh bởi các nơ ron nhưng bắt buộc được đón nhận dưới dạng cảm giác bởi các giác quan Đó là những dữ liệu mới và lại tiếp theo việc học trước đây, não người đã chứa một số kiến thức kinh nghiệm Đó
là một bộ ba dữ liệu được tích luỹ Trong tất cả bất cứ việc học nào, não cũng là tích luỹ một tập hợp các yếu tố mới cũng như cũ về bán cầu đại não”
Kích thích Nhận thức giác quan Tiềm năng hành động (luồng thần kinh)
Hứng thú (khứu não) Không đồng nhất (bán cầu phải)
Trạng thái thứ ba Đồng nhất (bán cầu đại não)
Hình 1.8: Sơ đồ tính năng động của bộ máy học
Trang 28Việc cho chuyển động không đồng nhất, trạng thái thứ ba và đồng nhất duy nhất thuộc vào người học Thật không may, phần lớn thời gian người học không biết hoạt động của não mình Tại sao không miêu tả điều này cho người học? Người học sẽ càng
có ý thức về đường đi phải theo trong việc học của mình: Kích hoạt các giác quan và trí nhớ của người học từ cái người học đã biết (tự hứng thú), và tiếp tục tìm kiếm đến khi người học đoán được câu trả lời (tìm được câu trả lời)
Đôi khi đường đi của người học thì dài và vất vả, vì vậy người dạy phải tỏ ra kiên trì và phải chờ đợi cho bán cầu phải hoàn thành công việc của mình Nếu việc dạy chỉ truyền những tư liệu lạ, những tư liệu không nhận biết được, không hiểu được bởi người học, người dạy sẽ thực sự không dạy, đó là một thất bại mà nhiều người dạy đã gặp phải
Người học là người thầy duy nhất của bộ não mình Người học chỉ thực sự học được khi tự họ xây dựng được những khái niệm học trong bộ não của họ
Trong phương pháp sư phạm tương tác người học khai thác cái mà mình “đã biết”, với sự giúp đỡ của người dạy để nắm bắt và thu lượm tri thức mới; người dạy đòi hỏi một đường hướng sư phạm mà nó quan tâm đến tri giác, hứng thú và hoạt động bộ não ở người học; môi trường trở thành nguồn kích thích trong quá trình học và trong phương pháp tiến hành sư phạm
Với tiếp cận SPTT, những khái niệm và phương pháp như DH tích cực, DH vấn đáp, DH nêu vấn đề, DH lấy người học làm trung tâm, DH định hướng hành động,…,
là những thuật ngữ khác nhau, thể hiện một hướng tiếp cận, với góc độ và mức độ khác nhau
Trong phần công nghệ DH, các phần mềm DH tương tác, sẽ minh họa rõ hơn về tiếp cận SPTT
e Hai định hướng chính của SPTT
Trang 29Để xác định rõ các định hướng, cần đánh giá những trào lưu sư phạm đương đại
và nghiên cứu các quan niệm về hoạt động sư phạm
Các trào lưu sư phạm (SP) đương đại
Người ta thừa nhận trong giới SP có 4 trao lưu sau:
- Trào lưu SP tự do: Dựa hoàn toàn vào người học, tất cả phải xuất phát từ
người học và lợi ích của họ Người học tự chọn mục tiêu, thời gian và phương thức học tùy kinh nghiệm hoặc cơ may
- Trào lưu SP đóng: Dựa vào chương trình học Ngời học được đánh giá theo
mục tiêu qui định Việc học được tuân theo một trật tự logic so với môn học chứ không phải so với phương pháp học
- Trào lưu SP bách khoa: Dựa hoàn toàn vào người dạy Người dạy đề ra mục
tiêu, thời gian và phương thức học, theo chủ quan của mình Người học ngoan ngoãn tuân theo và bằng lòng với kiến thức và kỹ năng được truyền thụ
- Trào lưu SP mở: Đặc biệt nhấn mạnh sự tác động qua lại giữa người học,
người dạy và môi trường Người học có đủ tiềm năng để hoàn thành một phương pháp học tự chủ, tuy nhiên phương pháp này được tiến hành nhờ vào người dạy-người đóng vai trò hàng đầu Môi trường được người học và người dạy phối hợp tổ chức
SPTT thuộc trào lưu SP mở (không đóng) Nó tập trung trước hết vào người học
và cơ bản dựa trên tác động qua lại giữa người học, người dạy và môi trường Người học là người chịu trách nhiệm chính về phương pháp học của mình, không tùy hứng (SP tự do); người dạy bằng kiến thức và kinh nghiệm của mình (SP bách khoa) hướng dẫn người học theo mục tiêu được xác định trong chương trình học (SP đóng) Người dạy và người học bị ảnh hưởng bởi môi trường bên trong cũng như bên ngoài mà họ có thể cùng nhau phối hợp sắp xếp
Bản chất SPTT là SP mở (dựa vào tương tác giữa ba tác nhân), kết hợp một đặc tính của SP tự do (coi người học là trung tâm), tận dụng ưu điểm của SP bách khoa (vai
Trang 30trò hướng dẫn và hỗ trợ của người dạy) và chấp nhận SP đóng (chương trình học) Như
vậy có thể khẳng đinh SPTT là một trào lưu sư phạm linh hoạt [12]
Các quan điểm về hoạt đông SP
• Quan điểm máy móc hay thụ động
Theo quan điểm này, hoạt động sư phạm giống như một quá trình phát – nhận Người học hoàn toàn thụ động, người dạy luôn luôn áp đặt Chương trình và kỷ
luật học tập cứng nhắc Người học hoàn toàn không ảnh hưởng được đến hướng đi của hoạt động sư phạm
• Quan điểm có tổ chức hay chủ động
Theo quan điểm này, hoạt động sư phạm dựa vào tính chủ động, tích cực, năng động và sáng tạo của người học Vì thế người học đóng vai trò hàng đầu, là tác nhân chính trong quá trình học của mình, họ có tất cả những khả năng cần thiết để thành công Người dạy tác động từ bên ngoài với tư cách là người hỗ trợ, cộng tác Thể chế, chương trình, là điều kiện khách quan quan trọng, làm cho việc quản lý sư phạm có
tổ chức và hiệu quả hơn
SPTT theo quan niệm có tổ chức (chủ động) Người học là người thợ chính của quá trình đào tạo, vì họ có tất cả những khả năng cần thiết để thành công Người dạy là người hướng dẫn, tổ chức hoạt động và giúp đỡ Vai trò của người dạy là vai trò hỗ trợ
và là người can thiệp quan trọng hàng đầu
Tóm lại, SPTT trước hết coi người học là trung tâm, là người thợ chính của quá trình học và căn bản dựa trên các tác động qua lại giữa người học, người dạy và môi trường Đó chính là hai định hướng lớn của SPTT [12]
f Các nguyên lý cơ bản
Từ những phân tích trên có thể rút ra ba nguyên lý cơ bản của SPTT
Trang 31¾ Người học là trung tâm, là tác nhân chính trong quá trình đào tạo:
Người học đóng vai trò quyết định, họ chính là tác nhân đầu tiên thực hiện phương pháp học, từ đầu cho đến khi kết thúc quá trình học Theo cách nhìn nhận này việc dạy đã trở nên tập trung vào người học
¾ Người dạy là người hướng dẫn, tổ chức, giúp đỡ: Người dạy phải được
trang bị tốt về tập hợp các kiến thức sư phạm để làm chủ nội dung và nghệ thuật dạy, hơn nữa người dạy cần có một tri thức vượt ra ngoài lĩh vực hạn chế của các bộ môn mình dạy
¾ Môi trường ảnh hưởng đến người học và phương pháp học, đến người dạy và phương pháp dạy một cách tương hỗ
g Các ứng xử liên đới
Hoạt động SPTT đòi hỏi ở các tác nhân những ứng xử tương hợp:
Người học khi tham gia vào quá trình học, phải tỏ rõ là có hứng thú rõ rệt với lợi ích của tri thức cần thu lượm Sự hứng thú, chủ yếu dựa vào lòng tự tin
Người học cần đảm nhận sâu sắc là có khả năng thực hiện thành công phương pháp học, phải tin vào khả năng và phương pháp làm việc của mình
Đối với người học:
o Hứng thú: Đầy tự tin và hoài bão vào khả năng và phương pháp làm việc của
mình khi tham gia vào quá trình học
o Tham gia: Tích cực, chủ động và sáng tạo bằng tất cả khả năng, tất cả tri thức thu lượm được cũng như tất cả kinh nghiệm sống của mình để phục vụ cho phương pháp học của mình cùng với việc phối hợp tham gia dự án tập thể lớp
Trang 32o Trách nhiệm cao: Thể hiện ở việc người học phải tham gia bền bỉ, sáng tạo
cố gắng tìm cách thoát ra khỏi bế tắc một mình bằng các tri thức đã có và các kinh nghiệm đã trải qua
Đối với người dạy:
o Kế hoạch (kế hoạch dạy học và giáo án,…) chu đáo cho từng tiết học, từng
môn học và cho cả năm học nhằm xác định trước một định hướng cả về quá trình học của người học cũng như phương pháp sư phạm của người dạy, góp phần làm an toàn hơn cho người dạy và kích thích người học nhiều hơn
o Tổ chức hoạt động thích hợp, lôi cuốn và đa dạng: Bằng những biện pháp thích nghi nhất, chia sẻ niềm say mê của người dạy với người học giúp họ hưng phấn theo hưng phấn của mình nhằm tạo ra tình huống thúc đẩy người học thực hiện việc học Đây là mối quan tâm hàng đầu của người dạy với tư cách là người hướng dẫn hoạt động
o Hợp tác đúng đắn (đúng lúc, đúng chỗ, đúng độ), toàn diện và hiệu quả: Người dạy hiểu rõ vai trò hướng dẫn của mình, là nơi hội tụ tất cả các cơ hội mang đến cho người học sự giúp đỡ và hỗ trợ Người dạy “hợp tác”, người dạy “hoạt động” “với” người học trong suốt quá trình học Vì vậy, người dạy cần làm cho kiến thức và kinh nghiệm của mình phù hợp với khả năng của người học và mang đến sự giúp đỡ của mình cho người học
Đối với môi trường:
o Xúc tác: Theo phương pháp sư phạm tương tác môi trường can thiệp vào tất
cả các hoạt động dạy và học, do đó ảnh hưởng đến người dạy và người học, ảnh hưởng này không phải bao giờ cũng bộc lộ rõ nét, nhưng nó tồn tại và người ta không thể bỏ qua trong mối quan hệ qua lại giữa người học và
người dạy
Trang 33o Thích nghi: Sự thích nghi với môi trường thể hiện ở sự tăng cường hay một
biến đổi Môi trường gây nên một sức ép thuận lợi hoặc không thuận lợi đến người học và người dạy, khi đó họ phản ứng bằng cách tìm ra cái lợi của những ảnh hưởng tốt của môi trường hoặc bằng cách điều chỉnh hoặc biến đổi các ảnh hưởng tiêu cực, ít nhất là người học và người dạy chấp nhận
thích nghi ứng xử của mình
Về cơ bản phương pháp sư phạm tương tác nhằm tạo ra ở người học sự tham
gia, hứng thú và trách nhiệm Nó gắn cho người học vai trò xây dựng hế hoạch, hướng dẫn hoạt động và hợp tác Nó gắn cho môi trường ảnh hưởng quan trọng đến các phương pháp riêng của người học và người dạy Nhưng để đạt được điều này thì cần phải có sự trợ giúp đắc lực của công nghệ dạy học hiện đại là một hệ thống những phương tiện, phương pháp và kỹ năng trong thời đại ngày nay – thời đại Công nghệ thông tin và truyền thông
1.2.4 Công nghệ dạy học tương tác
1 Công nghệ dạy học:
Công nghệ là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng, nhằm vận
dụng quy luật khách quan, tác động vào một đối tượng nào đó, đạt một thành quả xác định cho con người
Công nghệ dạy học là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng, nhằm vận hành một nhân cách (tài, đức) xác định.[13]
Theo UNESCO 5/1976: "CNGD là khoa học về giáo dục, nó xác lập các nguyên tắc hợp lý của công tác DH và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình đào tạo cũng như xác lập các phuơng pháp và phương tiện có kết quả nhất để đạt mục đích đào tạo đề ra, đồng thời tiết kiệm được sức lực của thầy và trò" Như vậy, Với
những phương tiện, phương pháp và kỹ năng truyền thống, bên cạnh công nghệ dạy
Trang 34học hiện đại, là công nghệ dạy học với phương tiện, phương pháp và kỹ năng trong
thời đại ngày nay – thời đại CNTTTT, đã góp phần đáng kể để cải tiến quá trình học tập của con người, nâng cao chất lượng học tập
Ngày nay, tiếp cận công nghệ là một trong những cách tiếp cận quan trong nhất
khi nghiên cứu và giải quyết những vấn đề có liên quan tới lựa chọn phương án, đánh giá chất lượng , xác định tiêu chí,
Theo tiếp cận công nghệ dạy học:
Quá trình dạy học, từ xác định đầu vào (đối tượng tác động), mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, công nghệ dạy học, đến đánh giá kết quả dạy học,
đầu ra (thành quả), luôn luôn dựa vào các tiêu chí khả thi (dạy được, học được) và hiệu quả (dạy tốt, học tốt) để thiết kế, thi công và kiểm định
Những lý luận chung về công nghệ như thực thi công nghệ (với những khái
niệm cơ bản như nguyên công, quy trình, ), quản lý công nghệ và chuyển giao công nghệ (như vòng đời công nghệ, quy luật cung cầu, ), đều có
những vận dụng thích hợp cho công nghệ dạy học Giải thích giáo dục theo
mô hình thầy thiết kế - trò thi công là một ví dụ
Nhiều khái niệm quan trọng của lý luận dạy học được khái quát hoặc chuẩn hoa như:
o Chuẩn mực sư phạm – là những tiêu chí đảm bảo quá trình dạy học khả
thi (dạy được, học được) và hiệu quả (dạy tốt, học tốt)
o Đánh giá sư phạm qua phương pháp chuyên gia và phương pháp thực
nghiệm sư phạm – khác nhau ở chỗ: Phương pháp thứ nhất chỉ đánh giá được tính khả thi, phương pháp thứ hai còn đánh giá được tính hiệu quả
o v.v
2 Công nghệ dạy học tương tác
Trang 35Công nghệ dạy học tương tác (CNDHTT) bao gồm tất cả những nội dung và hình thức vốn có về phương tiện, phương pháp và kỹ năng tương tác trong công nghệ dạy học truyền thống (thực hành, vấn đáp, hoạt động nhóm, )
Sự phát triển nhanh đến chóng mặt của CNTTTT nói chung và giao diện người – máy (hay tương tác người – máy) nói riêng, đã nâng bộ ba tương tác trong LLDHTT lên một tầm cao mới Nhiều phần mềm với giao diện kéo – thả và tương tác tham số, nhất là tương tác ảo, đã cho phép người học và người dạy có thể vấn đáp và thao tác tức thì, ngay trên bảng, những nội dung dạy học mà xưa nay chưa bao giờ có thể thực
hiện trong giờ lên lớp lý thuyết, ví dụ những thao tác toán học dài dòng, những đồ họa động phức tạp, những thí nghiệm và thực hành đòi hỏi nhiều thời gian tạo dựng và vận hành,
CNDHTT và CNDH theo LLDHTT (hay quan điểm SPTT) trong đó tương tác
người – máy là liên kết phổ biến giữa bộ ba người học – người dạy – môi trường
• Tương tác người - máy
Tương tác Người - Máy (Human Machine Interaction) nói chung và tương tác Người – Máy tính (Human Computer Interaction) nói riêng là những vấn đề khoa học
đã được quan tâm và nghiên cứu rất nhiều Chính việc nghiên cứu đó đã thúc đẩy được
sự phát triển tính tiện dụng của máy móc đối với người sử dụng Bên cạnh đó nó làm cho người dùng luôn cảm thấy máy móc thân thiện hơn và dễ nắm bắt được công nghệ Tương tác ở đây được hiểu là sự giao tiếp giữa người dùng (con người) và hệ thống, trong đó máy tính được xem như là một công cụ thực hiện Việc lựa chọn kiểu giao tiếp sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến bản chất của quá trình đối thoại Có nhiều dạng tương tác được sử dụng như các tương tác dòng lệnh, bảng chọn (thực đơn), ngôn ngữ
tự nhiên, hỏi đáp và truy vấn, WIMP (Windows, Icons, Menu, Pointers)
Giao tiếp dòng lệnh: Đây là loại giao tiếp có tính lịch sử và rất phổ biến Loại
giao tiếp này cung cấp các phương tiện biểu diễn dòng lệnh cho máy tính một cách trực
Trang 36tiếp Người dùng đưa vào dòng lệnh để thực hiện yêu cầu của mình bằng cách nhần một phím chức năng Các lệnh thường là các động từ viết tắt hay chọn từ
Đối với loại hình giao tiếp này, yêu cầu người dùng bắt buộc phải nhớ các dòng lệnh chứ không được nhập tùy tiện Điều này là rất khó với người sử dụng, do vậy cần mất công đào tạo Unix, Dos là những hệ điều hành hay sử dụng giao tiếp kiểu dòng lệnh
Giao tiếp bảng chọn: Cách thức giao tiếp này cung cấp một tập các lựa chọn
cho người dùng và tập này thể hiện trên màn hình Người dùng lựa chọn một mục (tương ứng với công việc) bằng cách sử dụng các phím con trỏ, phím tắt hay nhấn vào một ký tự hoặc có thể dụng chuột để lựa chọn mục Khi các lựa chọn được quan sát trên màn hình, người dùng được gợi ý mà không đòi hỏi phải nhớ
Giao tiếp bằng ngôn ngữ tự nhiên: Đây là dạng giao tiếp hấp dẫn nhất giữa
người dùng và máy tính Việc hiểu ngôn ngữ tự nhiên bao gồm cả tiếng nói và chữ viết,
là một chủ đề được quan tâm và nghiên cứu của nhiều lĩnh vực Hiện nay đã có một số phần mềm máy tính nhận diện và điều khiển bằng giọng nói
Giao tiếp dạng hỏi đáp và truy vấn: Hỏi đáp là một cơ chế đơn giản nhằm cung
cấp dữ liệu cho một ứng dụng của một lĩnh vực riêng nào đó Người dùng được yêu cầu bời một loạt các câu hỏi Các câu hỏi được miêu tả trong nhiều dạng khác nhau như: dạng yes/no, dạng đa lựa chọn, dạng nhấn số, Kiểu giao tiếp này khá tự nhiên, dễ thiết kế và thích hợp người dùng mới và thiếu kinh nghiệm
Giao tiếp dạng Form điền: Hệ thống sẽ hiển thị một tập các trường văn bản trên
màn hình, người dùng có thể chọn một trường nào đó để nhập hoặc hiệu chỉnh nội dung.Thường các mẫu hiển thị dựa trên các mẫu thực tế mà người sử dụng quen thuộc nhằm tạo nên giao diện dễ dàng hơn cho người sử dụng Người sử dụng làm việc xuyên suốt mẫu, điền các giá trị thích hợp Dữ liệu nhập vào ứng dụng ở các vị trí xác định
Trang 37Dạng hội thoại này hữu ích cho các ứng dụng nhập dữ liệu Ở một chừng mực nào
đó, nó dễ cho việc học và sử dung đối với những người không sử dụng thành thạo
Giao tiếp dạng WIMP: Hiện nay hầu hết các tương tác máy tính là các dạng
giao diện WIMP, thường gọi là hệ thống các cửa sổ (Windows), các biểu tượng (Icons), các bảng chọn (Menus) và con trỏ (Pointers) và là dạng tương tác mặc định cho phần lớn hệ thống tương tác máy tính đang sử dụng hiện nay Ví dụ như Microsoft Window, MaxOS,
Các đặc trưng then chốt trong giao diện WIMP là : Windows, Icons,Menus và Pointers Đây là các phương tiện dùng cho tương tác người - máy
Cửa sổ: Mỗi cửa sổ chứa các đối tượng văn bản hoặc đồ họa và người sử dụng có
thể cùng một lúc làm nhiều công việc trên nhiều cửa sổ khác nhau
Biểu tượng: Là một hình ảnh, mỗi biểu tượng đều thể hiện được những đặc trưng
riêng cho ứng dụng mà nó đại diện
Bảng chọn: Đặc trưng của hệ thống cửa sổ là các bảng chọn, nó cung cấp các
thông tin về chức năng, danh sách tuần tự các thao tác Có nhiều kiểu thiết kế bảng chọn trong các cửa sổ, tuy nhiên không nên có quá nhiều mục chọn trong một bảng chọn làm cho người sử dụng khó sử dụng khi chọn
Con trỏ: Là một thành phần rất quan trọng trong giao tiếp WIMP bởi vì nó được
dùng để định vị và chọn lựa các chức năng thiết bị trỏ có nhiều loại như: chuột, cần điều khiển, cảm ứng, bóng xoay, nhưng tất cả để thể hiện dưới dạng hình dáng con trỏ trên màn hình Con trỏ cũng có nhiều dạng khác nhau để phân biệt trạng thái làm việc của ứng dụng hay vị trí làm việc của con trỏ
Qua nghiên cứu về các hình thức tương tác Người - máy, tác giả nhận thấy để đáp ứng nhu cầu tương tác Người - máy và máy - Người trong dạy học hiện đại thì tương tác dạng WIMP là thiết thực và đem lại hiệu quả cao Con người và máy tính tương tác qua lại bằng các menu, biểu tượng thông qua việc sử dụng các thao tác Và đặc biệt là các dạng tương tác qua các thao tác di chuyển chuột kết hợp với các thao tác trên tạo
Trang 38nên tính năng động của hệ thống tương tác Nó giúp cho người sử dụng tiếp cận hệ thống được thuận lợi và nhanh chóng hơn Người dùng hệ thống sẽ ít phải sử dụng các thao tác trong khi hiệu quả thao tác thì nhiều
• Phần mềm dạy học tương tác
Nhờ các ngôn ngữ lập trình thích hợp, những phần mềm dạy học kiểu trò chơi tương tác, ngày càng đa dạng, tiện dụng và hấp dẫn, cho phép tạo dựng và thực hiện tức thì những thao tác ảo "như thật" trên đối tượng khảo sát (tương tác ảo) Những
phần mềm này rất có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong Lý luận và công nghệ dạy học hiện đại:
Trong dạy học, một trong những cách phát triển tính tích cực và tư duy sáng tạo ở người học ( thường thấy ở nhiều xuất bản phẩm và luận án khoa học trong nước hiện nay) là xây dựng tiến trình dạy học phỏng theo tiến trình tìm ra tri thức tương ứng trong nghiên cứu khoa học Con đường khái quát hóa các kết quả thực nghiệm để xây dựng lý thuyết khoa học cho một mô hình nào đó của thế giới khách quan như trong
Nhiệt học, Điện học, , (hệ phương pháp quy nạp, trong phương pháp luận nghiên cứu khoa học) là một ví dụ về tiến trình này, Những thí nghiệm và thực hành ảo được thực
hiện với phần mềm dạy học tương tác giúp tái hiện tiến trình đó một cách dễ dàng, sinh động
Việc ứng dụng công nghệ dạy học hiện đại vào giáo dục và đào tạo, đã tạo ra sự thay đổi mang tính đột phá về mối quan hệ tương tác giữa người dạy và người học trong quá trình dạy học, tạo ra những khả năng tương tác mới mà trong tác phẩm [26] còn chưa được làm rõ, như:
- Môi trường trong lớp học là môi trường ảo, thực nghiệm ảo, tương tác ảo nhờ ứng dụng các phần mềm dạy học, công nghệ thông tin và truyền thông Như vậy, trong quá trình dạy học, người học vừa được học “lý thuyết” vừa được “thực hành”
Trang 39- Thời gian tương tác diễn ra ngay trên lớp, người học không những hiểu mà còn làm được, tuỳ theo yêu cầu của bài học
- Cơ cấu cứng nhắc theo truyền thống về mối quan hệ “không gian – thời gian – trật tự thang bậc” sẽ bị phá vỡ Sự tương tác giữa người dạy và người học không nhất thiết phải “giáp mặt” mà có thể “gián tiếp” thông qua các hình thức đạo tạo từ xa nhờ ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông Mối quan hệ giữa người dạy và người học là mối quan hệ cộng tác: người học chủ động, sáng tạo; người dạy hướng dẫn, định hướng
Trong quá trình dạy học thì máy tính là phương tiện trung gian được dùng trong quá trình tương tác giữa người dạy và người học với sự trợ giúp của các phần mềm dạy học và các phần mềm ứng dụng
Mục đích của tính tương tác với sự trợ giúp của đa phương tiện là hỗ trợ khả năng tự học của người học Khi đó ngoài việc học và được sự hướng dẫn trực tiếp của người dạy trên lớp, thì khi ở nhà máy tính và các phần mềm dạy học sẽ đóng vai trò như một người dạy thực hiện chức năng điều khiển việc học của người dạy, truyền đạt kiến thức và tiến hành kiểm tra đánh giá Người học có điều kiện chọn lựa mức độ kiến thức (nhiều, ít, dễ khó, sâu, rộng,…) với tốc độ hay tiến độ (nhanh, chậm,…) tùy thuộc
vào trình độ (cao, thấp, trung bình,…) của bản thân
Vậy, về cơ bản tương tác sư phạm hiện đại với sự trợ giúp của đa phương tiện (máy tính, máy chiếu, internet, ) cùng với các phần mềm dạy học đã làm cho tính tương tác trong quá trình dạy học được nâng lên nhiều, tương tác giữa người dạy, người học và môi trường không chỉ tại những giờ học trên lớp mà tại mọi nơi, mọi lúc
và với mọi độ
Ngoài ra, theo [14] trong luận điểm sư phạm tương tác sự tương tác giữa ba tác nhân người dạy (ND), người học (NH), môi trường (MT) được biểu diễn bởi một đa-
graph có hướng (hình 1.9a), gồm ba đỉnh và ba cặp cạnh, không có khuyên Từ lí luận
và thực tiễn dạy học (truyền thống, hiện đại) đã có thể thấy đó phải là một đa-graph có
Trang 40hướng, có khuyên ở các đỉnh ND, NH và MT (hình 1.9b), vì ngay với những lớp học chỉ do một giáo viên dạy thì quan hệ giữa học viên với nhau qua vấn đáp, giúp nhau làm bài tập,…, liên hệ giữa nhà trường và gia đình,…, đều là những ví dụ thường thấy
về tương tác giữa các phần tử trong nội bộ tác nhân
hình 1.9a hình 1.9b
Thực vậy, trong những phương pháp dạy học như: Theo dự án, làm việc (theo) nhóm hay cộng tác nhóm (groupwork),…, về hướng đào tạo gắn với thị trường lao động hoặc về những liên kết đa dạng khác trong và ngoài trường,…, là những tương tác giữa các phần tử trong nội bộ tác nhân Nhưng thực tiễn thì khuyên ND ít được quan tâm hơn các khuyên khác, nó chỉ dừng lại ở vài hình thức truyền thống, như với một môn học nào đó, có thể có sự cộng tác giữa giảng viên với trợ lí (bài tập, thí nghiệm,…), còn thì nói chung hiếm có sự làm việc nhóm giữa những giáo viên dạy các học phần khác nhau, thậm chí có cả trường hợp thiếu nhất quán, thiếu phối hợp
Như vậy là trong khi dạy cách làm việc nhóm cho học viên, bản thân giáo viên lại không quan tâm tự tạo cơ hội làm việc nhóm cho mình (?!)
Hiện nay, những đề tài nghiên cứu tình huống (case study), tiểu luận, đồ án v.v…,
ở các cơ sở đào tạo giáo viên kỹ thuật còn khá đơn giản, thiếu tính tổng hợp, thường ở
mức một thày một trò đã đủ đáp ứng, chất lượng vì thế không cao Ví dụ cuộc thi Robocon(robot), cộng tác đội (khuyên ND) – tương tự như cộng tác nhóm (khuyên