1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Dạy học môn trang bị điện tiếp cận năng lực thực hiện tại trường đại học công nghiệp việt hung

108 307 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết đại hội lần thứ IX của Đảng đã nêu rõ “Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng cao, đặc biệt là tr

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Ở nước ta trong những năm gần đây khoa học và kỹ thuật và công nghệ được đảng và nhà nước quan tâm, đầu tư và đang phát triển mạnh mẽ Để đáp ứng và kịp với tình hình phát triển khoa học và kỹ thuật trên thế giới Cụ thể hơn là trong lĩnh vực khoa học giáo dục và kỹ thuật công nghệ, các trường đào tạo nghề được mở ra

đa dạng và phong phú

Để đáp ứng nhu cầu nhân lực lao động kỹ thuật trong cả nước cũng như hợp tác lao động với nước ngoài Đảm bảo sự hợp lý về cơ cấu trình độ, cơ cấu nghành nghề, cơ cấu vùng miền Mở rộng quy mô trên cơ sở chất lượng và hiệu quả, kết hợp giữa đào tạo và sử dụng, gắn nhà trường với doanh nghiệp

Nghị quyết đại hội lần thứ IX của Đảng đã nêu rõ “Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy và phương thức đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng cao, đặc biệt là trong nghành kinh tế, kỹ thuật mũi nhọn, công nghệ cao…”

Để đáp ứng nhu cầu trên tại các trường đào tạo nghề, việc dạy và học các môn học kỹ thuật cơ sở nói chung và môn học Trang bị điện nói riêng vẫn đang là một vấn đề băn khoăn của người học và người dạy về phương diện tiếp thu kiến thức và ứng dụng kiến thức đó vào thực tiễn công tác

Như vậy trong giai đoạn tới, bước vào thời kỳ thúc đẩy mạnh mẽ Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước, nhu cầu về lao động kỹ thuật, đặc biệt là lao động trình

độ cao cho các vùng kinh tế mũi nhọn rất lớn Đòi hỏi hệ thống giáo dục kỹ thuật dạy nghề phải đổi mới mạnh mẽ

Một trong những biện pháp là vận dụng quan điểm là dạy học theo tiếp cận năng lực thực hiện (NLTH) (Com petency based training) nhằm giải quyết những vấn đề về nội dung chương trình, phương pháp, phương tiện giảng dạy Đảm bảo tạo ra nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn vững vàng, có kỹ năng thực hành nghề và tư duy khoa học tốt Dạy học theo phương pháp này đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng trong những thập niên trước

Trang 2

Tại Việt Nam chúng ta vấn đề này cũng được đưa ra từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước (đào tạo nghề theo mô đun) Tuy vậy chỉ dừng lại ở mặt lý luận mà chưa đi vào thực tiễn Sau khi luật giáo dục năm 1998 ra đời thì vấn đề này được đưa ra nhiều hơn, nhiều lớp tập huấn đã được tổng cục dạy nghề, các trường đào tạo giáo viên dạy nghề đưa vào bồi dưỡng và tập huấn giáo viên, cho đến khi luật giáo dục sửa đổi (2005) thì đào tạo nghề theo hướng này mới thành lý luận rộng rãi, dự án giáo dục được triển khai, các lớp bồi dưỡng đào tạo nhân rộng được mở

ra nhằm bồi dưỡng cho giao viên dạy nghề trên toàn quốc

Trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung trong những năm vừa qua cũng đã hết sức cố gắng nâng cao năng lực đào tạo của mình Nguồn lao động do nhà trường đào tạo ra hiện nay đã đáp ứng được phần cơ bản công việc mà họ được phân công vào cơ sở sản xuất Nhà trường đã thường xuyên đổi mới mục tiêu, chương trình đào tạo, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học, đưa sản xuất vào nhà trường nhằm nâng cao chất lượng cũng như số lượng đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề

Tuy nhiên mới có một số bộ phận có thể đáp ứng được nhu cầu cơ bản của nhà tuyển dụng, chưa có khả năng làm được những công việc có kỹ thuật cao, vận hành các thiết bị hiện đại còn yếu Để đáp ứng được điều đó nhà trường cần có nhưng biện pháp quản lý tích cực hơn nữa trong việc đào tạo nghề cho người lao động nhất

là việc đào tạo theo NLTH mà hiện nay hầu hết các nước trên thế giới dã thực hiện đúng đắn và có hiệu quả

Từ những lý do trên cho thấy việc đào tạo theo NLTH là rất cần thiết Vì vậy tác giả đã chọn và đưa ra ví dụ cụ thể cho một môn học được đào tạo theo NLTH

Với lựa chọn và nghiên cứu đề tài : Dạy học môn “Trang bị điện” tiếp cận NLTH

tại trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học theo tiếp cận NLTH để dạy môn trang bị điện trong chương trình đào hệ cao đẳng nghề, nghề điện công nghiệp tại trường Đại học Công nghiệp Việt – Hung

Trang 3

3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Khách thể nghiên cứu : Qúa trình dạy và học môn “Trang bị điện” tại trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung

- Đối tượng nghiên cứu : Đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn “Trang bị điện” của nghề Điện theo tiếp cận NLTH với sự tích hợp giữa lý thuyết và thực hành nghề

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài chỉ tập chung nghiên cứu đánh giá thực trạng dạy học cụ thể cho môn

“Trang bị điện” của nghề Điện trong chương trình nghề Điện công nghiệp ở trường Đại học Công nghiệp Việt – Hung

5 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nếu dạy học môn trang bị điện theo tiếp cận NLTH tại trường Đại học Công nghiệp Việt – Hung sẽ góp phần đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học nghề nói chung và nghề điện công nghiệp, môn trang bị điện nói riêng trong nhà trường

6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về dạy học theo tiếp cận NLTH của trường Đại học Công nghiệp Việt – Hung

- Khảo sát và đánh giá thực trạng đào tạo nghề điện cho môn học “Trang bị điện” theo tiếp cận NLTH tại trường Đại học Công nghiệp Việt – Hung

- Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy môn “Trang bị điện” theo NLTH nhằm phục vụ yêu cầu nguồn nhân lực góp phần phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phân tích, tổng hợp, tham khảo các tài liệu có liên quan về NLTH, dạy học theo tiếp cận NLTH, nội dung chương trình và phương pháp, phương tiện dạy học môn trang bị điện tại trường Đại học Công nghiệp Việt – Hung

Trang 4

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Sử dụng phiếu hỏi để khảo sát thực trạng đào tạo theo NLTH nghề, thăm dò ý kiến và rút ra kết luận

- Phương pháp quan sát: Quan sát thực tiễn quá trình dạy học theo NLTH

- Tổ chức thực nghiệm sư phạm để đối chứng, khẳng định hiệu quả của bài giảng được xây dựng

- Phương pháp chuyên gia: Nhằm thu thập thêm những thông tin, ý kiến cần thiết bổ sung cho những nhận xét và đánh giá của đề tài

- Phương pháp tọa đàm: Đàm thoại, thảo luận, trao đổi rút kinh ngiệm

- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý và đánh giá chính xác kết quả thực nghiệm, rút ra kết luận và khẳng định tính khả thi của đề tài

8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Phần mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận về dạy học theo tiếp cận năng lực thực hiện Chương 2: Thực trạng về dạy học môn “Trang bị điện” tại trường Đại học Công nghiệp Việt - Hung

Chương 3: Dạy học môn “Trang bị điện” theo tiếp cận năng lực thực hiện cho nghề điện tại trường Đại học Công nghiệp Việt – Hung

Kết luận và kiến nghị

Tài liệu tham khảo

Trang 5

1.1.2 Năng lực thực hiện

Thuật ngữ “Năng lực thực hiện” được nhiều tác giả sử dụng khi trình bày các quan điểm về “Giáo dục – Đào tạo dựa trên NLTH”

Hiện nay trên thế giới tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về NLTH:

Ở Anh thường dùng thuật ngữ (Competence) để chỉ NLTH Người ta hiểu NLTH- Phản ánh những mong đợi của việc làm và tập chung vào các vai trò của lao động hơn là công việc Các tiêu chuẩn hay NLTH được kết hợp tạo ra các đơn vị của sự đánh giá các hoạt động tại chỗ làm việc

Ở Mỹ thường được dùng thuật ngữ (Competency) NLTH được hiểu “Không phải là các công việc của nghề, nhưng mà nó là cái làm cho con người có thể làm được các nhiêm vụ của công việc đó” NLTH là thuộc tính tâm lý cơ bản của một con người, nó dẫn đến sự thực hiện một cách có hiệu quả trong một nghề Người ta

sử dụng các NLTH trong phạm vi quá trình học tập, sự học tập được ưu tiên chứ không phải đánh giá các hoạt động tại chỗ làm việc

Theo tác giả Bernd Meikr thì năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và

có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết kỹ năng, kỹ xảo và kinh

Trang 6

nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động

Theo kết quả nghiên cứu đề tài: “Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên NLTH về việc xây dựng tiêu chuẩn nghề” (Mã số B93 – 38 – 24), các nhà nghiên cứu đã đưa

ra định nghĩa về NLTH như sau:

+ Năng lực thực hiện là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra với công việc đó trong thực tiễn hoạt động nghề nghiêp

+ Năng lực thực hiện là các kiến thức, kỹ năng, thái độ đòi hỏi một người để thực hiện hoạt động có hiệu quả ở một công việc hay một nghề

Năng lực thực hiện bao gồm: Các kỹ năng thực hành, giao tiếp, giải quyết vấn

đề và các kỹ năng trí tuệ Thể hiện đạo đức lao động nghề nghiệp tốt, có khả năng thích ứng để thay đổi; có khả năng áp dụng các kiến thức của mình vào công việc;

có khát vọng học tập và cải thiện; có khả năng làm việc cùng người khác trong tổ, nhóm…

Tóm lại : Từ những phân tích, so sánh khái niệm về NLTH của các tác giả có thể khái quát về NLTH như sau: NLTH là khả năng thực hiện được các hoạt động (Nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng công việc nhiệm vụ đó Đó là quan niệm rộng bao gồm khả năng truyền tải kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, khả năng ứng sử các tình huống mới trong phạm vi nghề nghiệp Trên

cơ sở hiểu biết kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm và các chiến lược tư duy cũng như sẵn sàng hành động để tạo ra những sản phẩm đầu ra quan trọng

1.2 ĐÀO TẠO THEO NĂNG LỰC THỰC HIỆN

1.2.1 Một số nét về lịch sử đào tạo theo NLTH

Trên thế giới, đào tạo theo NLTH đã được xuất hiện từ những năm 60 của thế kỷ trước Năm 1970 trường Đại học Ohio của Mỹ đã có những nghiên cứu triển khai trong việc xây dựng các bộ mô đun đào tạo giáo viên dạy nghề dựa trên sự thực hiện Cuối của thế kỷ 20, đào tạo theo NLTH đã trở thành một xu thế phổ biến trong giáo dục nghề nghiệp trên thế giới và được nhiều nhà khoa học quan tâm Ở

Úc có công trình “Thiết kế chương trình đào tạo theo NLTH” của Bruce

Trang 7

Markenzie Ở Mỹ có công trình “Sổ tay thiết kế chương trình đào tạo theo NLTH” của W.E.Blank, ở Anh có công trình “Thiết kế đào tạo theo NLTH" của S Fletcher

Tổ chức Lao động thế giới đã khuyến cáo đào tạo nghề theo “Mô đun kỹ năng hành nghề” với gần 100 bộ chương trình đào tạo nghề ngắn hạn tích hợp giữa lý thuyết

và thực hành, học xong mỗi mô đun người học được cấp chứng chỉ để hành nghề

Tại Việt Nam, đào tạo nghề theo Mô đun tích hợp giữa lý thuyết và thực hành lần đầu tiên được Viện Khoa học Dạy nghề đề cập đến vào năm 1986, một số nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu như: Nguyễn Minh Đường đã có các công trình:

“Phương pháp tiếp cận và hướng dẫn sử dụng”(1993), “Phương pháp đào tạo nghề theo mô đun kỹ năng hành nghề”(1994), “Đào tạo nghề theo NLTH” (2004), Nguyễn Đức Trí đã có các công trình như: “Đào tạo nghề dựa trên NLTH - khái niệm và những đặc trưng cơ bản” (1995) ; “Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên NLTH

và việc xây dựng tiêu chuẩn nghề” (1996) Một số luận án Tiến sĩ và luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về đào tạo theo NLTH Tuy nhiên, dạy học theo NLTH ở nước

ta vẫn còn là vấn đề mới Năm 2005 luật giáo dục sửa đổi thì dạy học theo hướng NLTH đã trở thành lý luận rộng rãi

1.2.2 Triết lý và các nguyên tắc của đào tạo theo năng lực thực hiện

●Triết lý của đào tạo theo NLTH:

- Học để thành thạo các công việc của nghề, để có cơ hội tìm được việc làm Đào tạo theo NLTH chứa đựng trong nó yếu tố cải cách, thể hiện ở chỗ nó gắn với yêu cầu của chỗ làm việc, của người sử dụng lao động của các nghành kinh tế (gọi chung là nghành nghề)

- Chuẩn nghề nghiệp là thước đo của sợ thành thạo công việc của nghề, là cái đích cần đạt Có nghĩa là kết quả của quá trình đào tạo làm sao để khi kết thúc quá trình đào tạo từng người học đạt được (chuẩn đầu ra) làm được việc gì đó theo tiêu chuẩn đề ra và làm được tốt như mong đợi

- Để thành thạo những công việc cần có cũng như những điều kiện nhất định trong quá trình học tập

+ Người học phải có đủ điều kiện cần thiết cho học tập, như tiếp cận các

Trang 8

thực hiện nhưng nhiệm vụ cụ thể của mình

+ Chất lượng và thời lượng giảng dạy ứng với kiến thức lý thuyết được học ở mức độ cần thiết đủ để cho việc hỗ trợ hình thành và phát triển các NLTH, kết hợp

NGHỀ NGHIỆP TRƯỜNG LAO ĐỘNG ĐÀO TẠO CHO THỊ

NĂNG LỰC THỰC HIỆN MỤC TIÊU ĐÀO TẠO

CHUẨN CÔNG NGHIỆP CHUẨN CHƯƠNG TRÌNH

ĐÁNH GIÁ

CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP

THEO MỤC TIÊU ĐÀO TẠO

Sơ đồ 1.1 Triết lý của đào tạo theo năng lực thực hiện

● Nguyên tắc của đào tạo theo NLTH

- Nội dung chương trình phải đáp ứng nhu cầu cầu thị trường lao động, các NLTH phải được xác định từ yêu cầu của sản xuất và được công bố trước

Điều này có nghĩa là các NLTH của nghề phải được các chuyên gia trong nghề xác định, sau đó thẩm định lại cho phù hợp rồi công bố cho người học và cả những người có liên quan biết

- Xây dựng nội dung chương trình phải đảm bảo tính khoa học và hệ thống

Trang 9

Nguyên tắc này đòi hỏi phải cá thể hóa các chương trình đào tạo để mỗi người học có thể hình thành và phát triển từng NLTH quan trọng đối với bản thân

mà không phụ thuộc vào tiến độ dào tạo chung

- Ngưòi học thành thạo từng NLTH trước khi chuyển qua NLTH khác

Vì bản chất của đào tạo theo NLTH là khả năng làm được gì đó trong những điều kiện nhất định theo tiêu chuẩn cụ thể nào đó Nghĩa là khi người học học xong NLTH nào thì phải có khả năng làm thành thạo NLTH đó rồi mới chuyển sang

NLTH khác

- Chỉ quan tâm đến kết quả, ít quan tâm đến thời gian: Vì phương thức đào

tạo theo NLTH vận dụng quan “ niệm học thông thạo” Quan niệm này cho rằng hầu hết người học có trí tuệ phát triển bình thường đều có thể học được cái gì đó thành công đến mức độ nắm vững hay thông thạo nếu người học có đủ thời gian, người dạy có sự hướng dẫn tốt và thích hợp với người học

- Đánh giá kết quả học tập theo NLTH

Việc đánh giá theo NLTH bao gồm: Kiến thức, kỹ năng, thái độ của người

học Vì đào tạo theo NLTH hướng vào “ khả năng làm được” của người học nên

ngoài việc đánh giá kiến thức bằng phương pháp trắc nghiệm, bằng giấy bút, bằng việc theo dõi thái độ của người học đối với công việc, còn phải đánh giá kỹ năng thực hiện các công việc của nghề thông qua các sản phẩm hay quá trình thao tác

- Chương trình phải đảm bảo tính linh hoạt cho phép thay đổi một cách nhanh chóng các NLTH để đáp ứng những thay đổi của thị trường lao động (tức là chương trình phải được mô đun hoá)

- Các tiêu chí, chuẩn đánh giá và điều kiện thực hiện phải được công bố công khai trước cho người học Các tiêu chuẩn phải tiếp cận với các tiêu chuẩn của thế giới

Việc thực hiện nguyên tắc này thể hiện phương thức đánh giá theo tiêu chí nghĩa là những NLTH của người học được so sánh với những tiêu chí đã được xác định và công khai cho người học biết trước đó chứ không dựa vào chuẩn tương đối

so sánh thành tích giữa người học với nhau như phương thức đánh giá truyền thống

Trang 10

1.2.3 Một số đặc trưng của đào tạo theo năng lực thực hiện

» Về việc xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo

- Xác đinh mục tiêu đào tạo (MTĐT) phù hợp với cấp độ đào tạo: MTĐT là người học phải biết sẽ làm sau một quá trình học tập mà trước đó họ chưa có được Nói cách khác là mục tiêu đào tạo là cái đích đặt ra từ trước, người thực hiện phải đặt ra từ trước và cần phải tìm mọi phương pháp, phương tiện điều khiển để hành động vươn tới đích đó Vì vậy khi xác định mục tiêu đào tạo phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:

+ Tính tích hợp: MTĐT phải đáp ứng các nhu cầu và đòi hỏi của bản thân người học, của xã hội (nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực) của sản xuất và phải được chứa đựng tổng thể ở mục tiêu đào tạo

+ Tính chính xác: MTĐT phải đủ mứcđộcụ thể, các khái niệm dùng miêu tả phải đủ rõ cho người học và người dạy

+ Tính logic : MTĐT không được chứa đựng những mâu thuẫn nội tại

+ Tính khả thi: MTĐT đặt ra là có thể làm được có hiệu quả trong điều kiện

và phương tiện sẵn có của nhà trường và nơi người làm việc sẽ đến làm việc sau này

- Định hướng đầu ra: Là đặc trưng cơ bản nhất có ý nghĩa trung tâm của đào tạo theo NLTH Nó định hướng và chú trọng vào kết quả, vào đầu ra của quá trình đào tạo, người học đạt được các “chuẩn đầu ra” có nghĩa là : Từng người học có thể làm được gì đó theo tiêu chuẩn đề ra hay làm được việc gì dó tốt như mong đợi

- Để đáp ứng thị trường cạnh tranh trong thị trường lao động vấn đề đặt ra với các cơ sở đào tạo đội ngũ lao động công nhân kỹ thuật luôn gắn việc làm với thị trường lao động đáp ứng được đào tạo theo NLTH từ chuẩn công nghiệp thực hiện một cách chu đáo, triệt để sẽ đem lại kết quả cao hơn trong công việc

- Nội dung chương trình đào tạo được xác định trên cơ sở phân tích nghề theo phương pháp DACUM (DvelopA CurriculuM) có tính tới sự phát triển tương lai và được thể hiện qua sơ đồ phân tích nghề DACUM

Trang 11

Sơ đồ 1.2 Sơ đồ phân tích nghề DACUM

- Nội dung chương trình được xây dựng dựa vào các chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ của các hoạt động lao động nghề nghiệp, đồng thời đảm bảo khả năng hành nghề của người học sau khi tốt nghiệp

+ Chương trình phải có tính định hướng thị trường lao động đáp ứng nhu cầu của mọi thành phần kinh tế

+ Cơ cấu nội dung phù hợp đảm bảo thực hiện mục tiêu đào tạo

+ Đảm bảo tính khoa học

+ Đảm bảo tính ổn định

+ Đảm bảo tính tính liên thông dọc và liên thông ngang

+ Hướng tới các khu vực và quốc tế

- Cấu trúc của chương trình được thiết kế theo Mô đun:

+ Mô đun: Là một khái niệm rất rộng không có một định nghĩa thống nhất

Nó tùy thuộc vào từng nghề, môi trường hành nghề và môi trường xã hội

+ Theo luật dạy nghề: “Mô đun là đơn vị học tập liên kết tất cả các thành

NGHỀ

CÔNG VIỆC

CÔNG VIỆC CÔNG

VIỆC

Trang 12

phần kiến thức liên quan trong các môn học lý thuyết với các kỹ năng thực hành và

thái độ nghề nghiệp một cách hoàn chỉnh nhằm giúp đỡ cho người học có năng lực

thực hiện trọn vẹn một công việc nghề”

● Định hướng công việc cần định hướng chọn ven vấn đề nhằm giúp người

học thực hiện được một cách hoàn chỉnh, biết kết hợp thông qua việc tích hợp giữa

lý thuyết và thực hành cho một công việc cụ thể được một nghề

● Định hướng làm được: Nội dung chương trình phải là sự tích hợp giữa lý

thuyết và thực hành, tích hợp giữa các lĩnh vực khoa học và các môn khoa học (dạy theo nhịp độ người học)

● Định hướng đánh giá liên tục: Phải có chỉ tiêu đánh giá liên tục nhằm giúp

người học đánh giá mức độ thuần thục nghề nghiệp, đem lại hiệu quả giảm sức ép

tâm lý, gia tăng động cơ học tập

● Định hướng học tập theo nhóm nhỏ hoặc theo cá nhân

● Định hướng lắp ghép chuyển đổi, đào tạo liên thông Để phát triển độ hoàn

thiện nghề nghiệp

» Đặc trưng của công tác tuyển sinh trong đào tạo theo NLTH

- Phù hơp với cấp độ đào tạo nhiều trình độ đầu vào

- Có thể tuyển sinh vào nhiều thời điểm trong năm

- Phân loại và phân lớp đánh giá đầu vào theo năng lực của người học

» Về mặt tổ chức quản lý quá trình đào tạo dạy theo NLTH có các đặc

trưng sau :

- Người học được coi là hoàn thành chương trình đào tạo khi chứng tỏ là đã

thông thạo tất cả các năng lực thực hiện đã xác định trong chương trình đào tạo

không phụ thuộc vào thời lượng thực học

- Người học có thể học theo khả năng và nhịp độ riêng và không phụ thuộc

vào người khác Do vậy có thể vào học và kết thúc việc học ở những thời điểm khác

nhau

- Hồ sơ của người học được ghi chép lưu trữ, người học được phép chuyển

tiếp hoặc ra khỏi chương trình mà không cần học lại, nhưng NLTH mà họ đã thông

Trang 13

thạo, được công nhận và tích lũy bằng các chứng chỉ

- Mức độ đạt dược trong sự thông thạo NLTH, tốc độ học tập… là chỉ tiêu phân loại chính đối với người học

» Đánh giá và cấp văn bằng, chứng chỉ

Đánh giá trong đào tạo theo NLTH được thực hiện theo tiêu chí:

- Đánh giá từng cá nhân khi họ thực hiện và hoàn thành công việc

- Đánh giá NLTH tích hợp giữa lý thuyết và thực hành theo tiêu chí và chuẩn công nghiệp và năng suất lao động Để đạt được mức tối thiểu đảm bảo sau khi học xong người học có thể đáp ứng được việc làm và làm được

- Đánh giá và cấp chứng chỉ theo mô đun

- Cấp bằng tốt nghiệp khi hội đủ chứng chỉ

1.3 DẠY HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC THỰC HIỆN

1.3.1 Xây dựng mục tiêu và nội dung bài học:

● Về mục tiêu: Theo NLTH dựa vào các tiêu chuẩn về kiến thức, kỹ năng,

- Về thái độ: Thái độ cần thiết để hoàn thành công việc

● Về nội dung :

- Nội dung phải cụ thể hoá được mục tiêu bài giảng với 3 thành tố kiến thức,

kỹ năng và thái độ tích hợp thành các NLTH với chuẩn được quy định

- Trình bày theo trình tự từng công việc, phần việc và thao tác, thường được cấu trúc thành quy trình

- Nội dung phải gắn với phương pháp, phương tiện dạy học hiện đại

Trang 14

1.3.2 Tổ chức dạy học theo tiếp cận năng lực thực hiện

Chương trình đào tạo theo năng lực thực hiện phải thể hiện đực các đặc điểm

về mặt tổ chức quá trình học như sau :

- Trong quá trình dạy học phải phát huy tính chủ động sáng tạo của người học

- Dạy các năng lực mà người học cần, dạy theo từng NLTH (Tích hợp giữa lý thuyết và thực hành trong một bài dạy)

- Dạy theo nhịp độ hoặc theo nhóm, không đặt ra yêu cầu về thời gian vì người học có thể học theo khả năng và nhịp độ của riêng mình và thông thạo các NLTH cần thiết của công việc

1.3.3 Đánh giá kết quả dạy học theo tiếp cận năng lực thực hiện

Đánh giá kết quả theo năng lực thực hiên : Giáo dục đào tạo theo năng lực ( Competecy Based Education /Training) là đào tọa và đánh giá kết quả học tập theo những tiêu chuẩn năng lực quy định cho một khóa học, môn hoc… các chuẩn đầu ra (Chính là các năng lực) luôn luôn được sử dụng làm các cơ sở để lập kế hoạch thực hiện quá trình đào tạo và đánh giá kết quả học tập

» Các tiêu chí và chuẩn để dánh giá

- Biến hóa được : Hoàn thành được công việc và có sáng tạo

● Các tiêu chí và chuẩn để đánh giá kỹ năng

- Độ chính xác của công việc

- Tốc độ thực hiện công việc

Trang 15

- Độ bền

- So với một chuẩn đã được thừa nhận

- Mức độ sai sót hoặc mức độ hoàn thành của công việc

- Mức độ tuân thủ quy trình hoặc quá trình thực hiện công việc

● Các mức trình độ kiến thức

- Biết được quy trình làm việc

- Hiểu được công việc cần thực hiện

- Vận dụng được kiến thức học vào thực tế công việc

- Phân tích tổng hợp được các công việc cần làm

- Đánh giá được sản phẩm sau khi làm xong

- Có sự sáng tạo trong công việc

●Các phương pháp đánh giá kiến thức

Để đánh giá và xác nhận năng lực người ta thường sở dụng các loại năng lực chứng cứ trực tiếp, gián tiếp và phụ trợ trong một phạm vi rộng thu thập được trong quá trình đào tạo thông qua các hoạt động sau:

- Quan sát sự thực hiện tại chỗ làm việc hoặc ở những nơi có hoàn cảnh tương tự

- Đo lường các sản phẩm hoặc quan sát, theo dõi các dịch vụ, các quá trình được thực hiện trong thực tế

- Quan sát lượng giá các thái độ được thực hiện

- Kiểm tra trắc nghiệm kiến thức và hiểu biết

- Thu thập các chứng cứ phụ trợ bao gồm những thông tin về người học từ hồ

sơ, sổ sách giáo vụ, các báo cáo…

● Các yêu cầu khi đánh giá kiến thức:

- Đánh giá được chính xác kết quả học tập của người học

- Bao quát được các năng lực thực hiện cần đánh giá với nhiều trình độ khác nhau

- Đảm bảo tính khách quan, công khai và công bằng trong đánh giá

- Thuận lợi và tiết kiệm thời gian đánh giá

Trang 16

● Các phương pháp và công cụ trong đánh giá kiến thức

- Phương pháp vấn đáp: Sử dụng các câu hỏi

- Phương pháp nêu vấn đề: Đưa ra các tình huống

- Phương pháp làm bài tập: Sản phẩm đánh giá là bài tập

- Phương pháp thực hành: Người học thực hiện các bài thực hành

- Phương pháp trắc nghiệm: Sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm

- Ngoài ra còn sử dụng một số các phương pháp khác

● Đánh giá thái độ:

Thái độ là một lĩnh vực rất phức tạp và rất khó đánh giá Để đánh giá thái độ trong dạy học theo NLTH, người ta quan tâm đến thái độ lao động nghề nghiệp, với các tiêu chí đánh giá là: lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm, dám nghĩ dám làm, tính kỷ luật, tính trung thực, tác phong công nghiệp, tinh thần làm việc tập thể

Để đánh giá mức độ hình thành thái độ của người học trong quá trình học tập

có 5 mức độ:

- Chấp nhận: Thừa nhận một cách thụ động nhưng không phản kháng, chống đối

- Có phản ứng: Thừa nhận một cách tích cực, có quan tâm đến vấn đề

- Có ý kiến đánh giá: Đã nhập cuộc, có nhận xét về vấn đề được đặt ra

- Cam kết thực hiện: Thực hiện một cách chủ động, tự nguyện

- Thành thói quen: Đã trở thành tác phong lao động, lối sống của bản thân

Đánh giá theo tinh thần, thái độ thực hiện các công việc, đặc biệt cần quan tâm đến an toàn lao động cho người và thiết bị, vệ sinh môi trường làm việc, … 1.4 ƯU, NHƯỢC ĐIỂM CỦA DẠY HỌC THEO NĂNG LỰC THỰC HIỆN

Trang 17

- Người học có thể tham gia các khóa học cập nhật các NLTH mới, có thể di chuyển vị trí làm việc được phép chuyển sang công việc khác

- Hạn chế về năng lực sáng tạo trong công việc ngoài thực tế

1.5 NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ DẠY HỌC THEO NĂNG LỰC THỰC HIỆN

1.5.1 Cấu trúc chương trình đào tạo theo tiếp cận NLTH: tích hợp giữa lý thuyết và thực hành nghề

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động với hội nhập WTO lực lượng lao động của nghành điện công nghiệp nói riêng và các nghành nghề nói chung lại càng phải quan tâm hơn nữa nhất là công tác quản lý đào tạo theo NLTH

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, xu thế tích hợp với nhiều nghành nghề, nhiều môn khoa học như tự động hóa, điện, điện tử, vi xử lý, kỹ thuật số… để vận hành và hiệu chỉnh, bảo dưỡng thích ứng với sự thay đổi của khoa học kỹ thuật, người công nhân kỹ thuật cần phải nắm bắt kiến thức của nhiều nghành, nhiều lĩnh vực kỹ thuật

Bên cạnh đó chương trình đào tạo phải kết hợp liên thông, liên nghành giữa các cấp trình độ để đảm bảo tính mềm dẻo, linh hoạt tạo điều kiện cho người lao động có thể học suốt đời, không ngừng nâng cao năng lực nghề nghiệp, đạt được tiêu chí đưa ra

Đó cũng chính là nhờ áp dụng đổi mới phương pháp dạy học theo NLTH tích hợp giữa lý thuyết và thực hành

● Quan điểm tích hợp trong đào tạo nghề

- Khái niệm tích hợp:

+ Tích hợp được coi là một mặt của quá trình phát triển, thống nhất các phần

Trang 18

tử khác nhau (Có thể là các thành phần của một hệ thống trước đó) trong một hệ thống nhất, có đặc tính thống nhất và tổ chức cao hơn

+ Tích hợp trong dạy học là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc một vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học (Ví dụ: Tích hợp trong dạy học một nghề cụ thể là quá trình thống nhất các thành phần lý thuyết và thực hành thành một chỉnh thể thống nhất nhằm đạt được yêu cầu của mục tiêu đào tạo)

Ứng dụng quan điểm trên thực hiện tích hợp trong dạy học môn “Trang bị điện” trong nghề điện công nghiệp: Trang bị điện là một môn học được thống nhất

về các thành phấn kiến thức: Lý thuyết về nguyên lý hoạt động của các thiết bị hay nguyên lý làm việc của các mạch điện và được thực hiện thông qua quá trình kỹ năng nghề như thực hành lắp đặt, bảo dưỡng và sửa chữa mạch điện, ứng dụng cho các máy móc công nghiệp mà người CNKT khi vận hành phải hiểu rõ được nguyên

lý làm việc, hiểu được trình tự thao tác và biết sửa chữa, biết lắp đặt trong quá trình làm việc.Với công nghệ máy móc ngày càng hiện đại và phát triển thì đào tạo theo NLTH (Tích hợp trong môn học), Các thành phần trên thống nhất về lý thuyết và thực hành nhằm hiểu rõ bản chất của môn học từ đó người học có thể tiếp thu một cách hiệu quả và đạt được mục tiêu của quá trình đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo

- Phân loại tích hợp :

Theo quan điểm của D’HAINAUT, Tích hợp được chia làm 4 loại:

+ Quan điểm “Trong nội bộ môn” (Tích hợp trong môn học) ưu tiên các nội dung của môn học Quan điểm này duy trì một môn học riêng rẽ Ví dụ: Cập nhật các nội dung mới (Trong xu thế phát triển của tự động hóa thì điều khiển số, điều khiển PNC, CNC,… cho các máy công nghiệp) với xu thế đó để đáp ứng trong đào tạo nghề theo NLTH phục cho sự phát triển của khoa học cần được áp dụng phương pháp mới trong chương trình đào tạo thông qua sự tích hợp của môn học

+ Quan điểm “Đa môn”: Các môn học được tiếp cận riêng rẽ và chỉ gặp nhau

ở một số thời điểm trong quá trình nghiên cứu Như những đề tài có thể nghiên cứu

Trang 19

theo những quan điểm khác nhau Như vậy các môn học chưa thực sự được tích hợp Ví dụ: Người học được học 2 môn điện công nghiệp và điện dân dụng đều nhận thấy trong quá trình thực hành kỹ năng tháo lắp bảo dưỡng, lắp đặt động cơ với lắp đặt mạch điện sinh hoạt là khác nhau Vì mỗi môn học đều có kỹ năng riêng

+ Quan điểm “Liên môn”: Nhấn mạnh sự liên kết của nhiều môn học làm cho chúng tích hợp nhau để giải quyết một vấn đề Quá trình học tập sẽ không bị rời rạc mà được liên kết với nhau Ví dụ: Khi vận hành máy móc trong quá trình làm việc xảy ra sự cố hỏng hóc người công nhân kỹ thuật phải có kiến thức vận dụng của nhiều môn học để khắc phục sửa chữa và tìm phương án sử lý kỹ thuật như chuyên nghành cơ điện có thể vận dụng giữa nghành cơ khí, điện công nghiệp, điện

tử ứng dụng…

+ Quan điểm “Xuyên môn”: Những kỹ năng mà người học có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong việc giải quyết các vấn đề và được sử dụng trong tất

cả các công việc mà người công nhân kỹ thuật cần phải nắm bắt những kỹ năng đó

Ví dụ: Người học có thể kết hợp giữa môn học này với môn học khác trong nghành

kỹ thuật như kỹ năng học thực hành nghề điện công nghiệp thì người học có thể học

cả kỹ năng nghành cơ khí như nguội cơ bản…

Các chương trình tích hợp có thể thực hiện ở các mức độ khác nhau: Phối hợp, kết hợp và tích hợp hoàn toàn Ở mức độ thấp có sự kết hợp về nội dung, phương pháp của một số môn có liên quan nhưng mỗi môn cần đặt trong một phần hay một chương riêng

Tích hợp ở mức độ cao hơn có sự kết hợp chặt chẽ trong nội dung, đặc biệt là các phần giao nhau của các môn này

Tích hợp ở mức cao nhất được thực hiện khi nội dung của môn học được kết hợp với nhau hoàn toàn thành một chỉnh thể mới Đạt mục tiêu đề ra một cách hiệu quả tiết kiệm về nội dung và thời gian cho người học

● Đặc điểm của dạy học theo quan điểm tích hợp

- Tính khoa học, ứng dụng thực tiễn: Vận dụng đúng quan điểm duy vật biến

chứng đối với quá trình nhận thức các sự vật, hiện tượng

Trang 20

- Tính đa chức năng, đa phương án: Chỉ rõ phạm vi ứng dụng, các cách khai

thác những chức năng của mỗi đối tượng kỹ thuật và hướng dẫn người học lựa chọn công nghệ hợp lý trong mỗi điều kiện cụ thể

- Tính tiêu chuẩn hoá: Giáo dục học sinh coi trọng vả tuân thủ các tiêu chuẩn

kĩ thuật, quy trình thao tác thực hành Dạy học sinh hiểu và biết cách tra cứu các thông số tiêu chuẩn kỹ thuật và ứng dụng ngay vào thực tập sản xuất theo đúng quy trình

- Tính kinh tế: Mối tương tác giữa lý thuyết và thực hành sẽ củng cố kiến

thức và hình thành kỹ năng vững chắc, tiết kiệm thời gian đào tạo Chọn và sử dụng hợp lý vật tư, năng lượng, công cụ lao động…

- Tính cụ thể và tính trừu tượng: Tính cụ thể biểu hiện ở nội dung phản ánh

những đối tượng cụ thể, sẽ giúp học sinh có thể trực tiếp tri giác được ngay trên đối tượng nghiên cứu thông qua các phương tiện trực quan hoặc thao tác mẫu của giáo viên… Tính trừu tượng biểu hiện thông qua hệ thống các khái niệm kỹ thuật, nguyên lý kỹ thuật…

- Tính tổng hợp và tích hợp: Nội dung hàm chứa những phần tử kiến thức

gồm nhiều môn học khác nhau từ khoa học cơ bản đến những kỹ thuật cơ sở và chuyên môn… nhưng lại liên quan và thống nhất với nhau để phản ánh tích cực và hiệu quả những đối tượng kĩ thuật cụ thể…

●Nguyên tắc xây dựng phương pháp dạy học theo quan điểm tích hợp

a) Dạy học theo quan điểm tích hợp là một chỉnh thể thống nhất trong nội dung chương trình đào tạo nhằm thực hiện từng bước mục tiêu của đối tượng cần đào tạo:

- Hình thành kiến thức, kỹ năng cơ bản nhất để trên cơ sở đó học sinh sẽ

thích nghi được với những vấn đề khác nhau trong thực tiễn sản xuất

- Khai thác mối quan hệ hữu cơ giữa kiến thức cơ sở với chuyên ngành để lĩnh hội vững chắc tri thức, hình thành kỹ năng chuyên ngành cho học sinh

- Vận dụng các kiến thức, kỹ năng vào thực tế sản xuất, hình thành năng lực

tư duy kỹ thuật và khả năng vận dụng lý thuyết khoa học vào thực tiễn

Trang 21

b) Dạy học theo quan điểm tích hợp phải thoả mãn nguyên tắc sư phạm của quá trình dạy học:

- Kết hợp tính giáo dục với giáo dưỡng hình thành kiến thức, kỹ năng

và phát triển tư duy kỹ thuật cho học sinh

- Kết hợp tính khoa học với tính vừa sức

- Kết hợp tính lý luận với tính thực tiễn

loại hình đào tạo)

1.5.2 Nâng cao đội ngũ giáo viên về dạy học theo tiếp cận năng lực thực hiện

Phát triển một chương trình đào tạo đó chính là quá trình thiết kế, tổ chức dạy học Như vậy mục tiêu “học được cái gì” không quan trọng bằng “học cái ấy như thế nào”, nghĩa là cách học cánh suy nghĩ, cách giải quyết vấn đề trong một chương trình đào tạo ngày nay Muốn người học học được cách học, cách suy nghĩ, cách giải quyết vấn đề thì phải tạo điều kiện tối đa cho họ làm và vận dụng Đó là cách học không như hiện nay vì không phải lên lớp nghe giảng nhiều, chủ yếu là học nhóm, học bằng cách làm dự án, làm bài tập, có sự thắc mắc là hỏi thầy cô Như vậy đó chính là một chương trình mới dạy học theo tiếp cận NLTH, muốn vậy thì đội ngũ giáo viên cũng cần được nâng cao bồi dưỡng chât lượng giảng dậy Chất lượng hướng dẫn của giáo viên là điều kiện quan trọng nhất trong việc hình thành kỹ năng ở người học Để đạt được điều này thì sự chuẩn bị kỹ lưỡng của giáo viên là yếu tố quyết định mức độ tích cực hóa hoạt động học tập của người học Để một bài dạy nhất là dạy kỹ năng nghề trong đó có sự hoạt động tích cực của người học trong suốt quá trình, người giáo viên cần luôn luôn nhớ và trả lời đầy đủ các câu hỏi: Vì sao dạy, dạy cái gì, dạy ai, dạy ở đâu, dạy khi nào?

Trang 22

Thực chất của việc trả lời các câu hỏi trên chính là việc lập kế hoạch cho bài dạy Vì vậy việc đào tạo nâng cao bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên trở thành một vấn đề rất cần thiết trong quá trình đào tạo nâng cao nghiệp vụ giảng dạy bằng cách thường xuyên mở các lớp học nâng cao bồi dưỡng cho giáo viên, người giáo viên phải luôn có tinh thần tự học để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Giỏi cả mặt lý thuyết cũng như thực hành kỹ năng

Để có thể tích hợp trong giảng dạy Ngoài ra các cơ sở đào tạo cần cho giáo viên xâm nhập thực tế để dạy kỹ thuật và công nghệ sát với nhu cầu của thị trường lao động thường xuyên được tham gia các khóa tập huấn phương pháp giảng dạy mới và làm các đề tài nghiên cứu khoa học nhằm đổi mới thực tiễn thực tiễn dạy học trong quá trình đào tạo

1.5.3 Phương tiện và cơ sở vật chất cần thiết để dạy học theo tiếp cận năng lực thực hiện

Hiện nay hầu hết các cơ sở đào tạo nghề đều dạy thực hành với máy móc lạc hậu, cũ kỹ nên năng nghề của học sinh không đáp ứng được với yêu cầu của nơi làm việc

Như vậy cần phải có một hệ thống thiết bị phù hợp yêu cầu thực tế về sản xuất và công việc, giúp học sinh sau khi học xong có thể làm việc, cập nhật ngay trên thiết bị mới mà không bị bỡ Phương pháp học kết hợp lý thuyết với thực hành ngay tại xưởng

Vì vậy cần thiết phải xây dựng phòng học đa năng để có thể giúp cho quá trình học được thuận lợi học sinh cũng có thể tiếp thu kiến thức nhanh đem lại một cách hiệu quả

Phòng học chuyên môn phải đảm bảo đủ phương tiện dạy và học cần thiết để

có thể thực hiện tốt phương pháp dạy học mới Vì vậy phương tiện dạy học là một yếu tố cần thiết và quan trọng, đặc biệt trong quá trình dạy học tích hợp, phương tiện dạy học hiện đại sẽ hỗ trợ tốt cho việc truyền tải, tiếp thu kiến thức đảm bảo cho quá trình dạy cũng như quá trình học đạt được hiệu quả cao

Trang 23

Các phương tiện trang bị cho các phòng học để có thể giảng dạy tích hợp lý thuyết và thực hành bao gồm:

- Máy tính, máy chiếu

- Các phần mềm phục vụ cho dạy và học chuyên nghành

- Tivi, đầu video

- Trang thiết bị phục vụ việc luyện tập kỹ năng thực hành cho học sinh

Trang 24

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Dạy học theo năng lực thực hiện là một lĩnh vực mới hiện nay được vận dụng

để thực hiện đào tạo nghề Vì nó thực hiện được nguyên lý giáo dục: “Học kết hợp với hành, thực tập kết hợp với lao động sản xuất”, nhờ vậy nâng cao được chất lượng đào tạo Đây là phương pháp dạy học đáp ứng được kỹ năng nghề nghiệp cũng như đáp ứng được nhu cầu lao động của xã hội

Trong chương này tác giả đề cập đến một số vấn đề sau:

- Phân tích rõ mục tiêu đào tạo và quan điểm dạy học theo tiếp cận NLTH và phân tích rõ cho người học thấy được ưu và nhược điểm của quá trình dạy học theo tiếp cận NLTH

- Đưa ra những khái niệm, nguyên tắc đặc trưng, điều kiện áp dụng vào quan điểm dạy học theo tiếp cận NLTH

Qua những nhận định trên cho thấy việc xây dựng chương trình đào tạo dạy học theo tiếp cận NLTH sẽ nâng cao được chất lượng dạy và học Là cơ sở lý luận

để đổi mới phương pháp dạy học nói chung và day học môn trang bị điện nói riêng

ở trường ĐHCN Việt-Hung từ dạy học truyền thống sang dạy học theo tiếp cận NLTH

Trang 25

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ DẠY HỌC MÔN TRANG BỊ ĐIỆN

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP VIỆT- HUNG

2.1 KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP VIỆT- HUNG

Thành lập năm 1977, xuất phát là Trường Công nhân kỹ thuật Việt Nam Hungary Qua nhiều năm phát triển và nâng cấp lên trung cấp, cao đẳng và nay là Trường Đại học Công nghiệp Việt – Hung Là một trường công lập trực thuộc Bộ Công Thương có truyền thống 34 năm hoạt động đào tạo Trường được sự quan tâm đặc biệt của hai nhà nước Việt Nam và Hungary Trong giai đoạn phát triển mới, nhà trường đang hội nhập sâu rộng với giáo dục châu Âu mà hạt nhân là các trường đại học Hungary Là trường đại học thứ hai ở Việt Nam mang tên Việt Nam và một quốc gia nước ngoài, nhà trường có sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao đủ sức cạnh tranh quốc tế, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế

Hiện nay nhà trường có 02 cơ sở đào tạo:

Cơ sở 1: diện tích 06 ha ở Phường Xuân Khanh, Sơn Tây, Hà Tây

Cơ sở 2: diện tích 05 ha ở Bình Phú, Huyện Thạch Thất, Hà Tây

Là một trường đa cấp, đa ngành, Trường có nhiệm vụ đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực đa dạng từ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp đến cao đẳng nghề, cao đẳng chuyên nghiệp và đại học phục vụ cho ngành công nghiệp và cho sự phát triển kinh tế - xã hội Ngoài ra nhà trường còn liên kết với các trường Đại Học, Cao đẳng trong và ngoài nước để mở các lớp Đại Học, Cao đẳng, đào tạo ngắn hạn và đào tạo xuất khẩu lao động tại địa điểm nhà trường

Mục tiêu của nhà trường là xây dựng nhà trường thành trường đại học với cơ

sở khoa học công nghệ tiên tiến, không ngừng đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao trình độ giáo viên và chất lượng đào tạo, tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng,

mở rộng diện tích mặt bằng hiện có, đầu tư trang thiết bị hiện đại, đồng bộ đáp ứng nhu cầu đào tạo với qui mô lớn

Trang 26

Đội ngũ giảng viên cơ hữu của Trường giàu kinh nghiệm, có trình độ cao, tận tâm với người học Tổng số cán bộ, giáo viên, công nhân viên của trường hiện nay là 320 người Trong đó giáo viên cơ hữu là: 265 người với 16 Tiến sỹ, 112 Thạc

sĩ, 92 Đại học Tỷ lệ giáo viên có trình độ đại học và sau đại học là: 100% trong đó

tỷ lệ giáo viên có trình độ sau đại học chiếm: 58,2%

Tuy nhiên đội ngũ giảng viên có kinh nghiệm đã bắt đầu nghỉ chế độ, để lại cho nhà trường một đội ngũ giảng viên trẻ nhiệt huyết, năng động, tư duy sáng tạo, luôn theo kịp với những yêu cầu của thời đại, nhưng lại chưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy

Hội hữu nghị Việt - Hung với 4000 hội viên và hàng trăm giáo sư, tiến sỹ là những nhà khoa học đầu ngành luôn kề vai sát cánh với nhà trường trong giảng dạy

và nghiên cứu khoa học

Hàng trăm doanh nghiệp có quan hệ mật thiết với nhà trường là nơi thực tế cho sinh viên trong quá trình học tập, đồng thời là nơi tiếp nhận sinh viên đến làm việc sau khi tốt nghiệp

2.2 CHỦ TRƯƠNG VÀ BIỆN PHÁP CỦA NHÀ TRƯỜNG VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

2.2.1 Chủ trương của nhà trường về đổi mới phương pháp dạy học

- Năm 2008, Bộ LĐTB&XH đã ban hành chương trình khung áp dụng cho đào tạo nghề ở trình độ Cao đẳng nghề và Trung cấp nghề theo mô đun và chủ trương dạy học theo tiếp cận NLTH Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai dạy học theo NLTH

- Lãnh đạo trường rất quan tâm và tạo mọi điều kiện cho giáo viên đổi mới phương pháp dạy học và thực hiện phương thức đào tạo theo tiếp cận NLTH Chủ trương này đang được nhà trường chỉ đạo triển khai thực hiện ở các khoa, bộ môn của trường

Nhà trường đã và đang khuyến khích sự đổi mới trong công tác giảng dạy ở tất cả các môn học nói chung và môn trang bị điện nói riêng

Trang 27

2.2.2 Một số biện pháp của nhà trường về đổi mới phương pháp dạy học

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động nhất là trong lĩnh vực của ngành Điện, đòi hỏi cần nâng cao chất lượng dạy và học của HS, nhà trường luôn chú trọng việc đầu tư trang thiết bị phục vụ cho thực tập đáp ứng yêu cầu đặt ra, trang thiết bị được bổ xung mới tiên tiến cơ bản đáp ứng phục vụ cho thực tập cơ bản và thực tập sản xuất

Trường đang tiến hành xây dựng khu nhà đa năng trong đó các phòng học chuyên môn cho các môn học có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành như:Trang

bị điện, Điện tử công nghiệp, Đo lường điện, Máy điện… với đầy đủ các thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy

Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và sự bùng nổ của Internet,

sự ra đời của nhiều phần mềm hỗ trợ việc soạn giáo án và giảng dạy bằng giáo án điện tử Hiện nay nhà trường đang khuyến khích việc soạn giáo án điện tử và giáo

án tích hợp để dạy theo tiếp cận NLTH

2.3 MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ ĐIỆN CÔNG NGHIỆP (Trình độ Cao đẳng nghề)

2.3.1 Mục tiêu đào tạo

Đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, có ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng đáp ứng thị trường lao động, dễ dàng tìm kiếm việc làm Cụ thể như sau:

a) Kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp:

Trang 28

+ Vận dụng được các nguyên tắc trong lắp ráp và sửa chữa các thiết bị điện + Phân tích được phương pháp xác định các dạng hư hỏng thường gặp của các thiết bị điện

+ Nắm vững các kiến thức về quản lý kỹ thuật, quản lý sản xuất, điều khiển các trạm điện, lưới điện,

+ Vận dụng được những kiến thức cơ sở và chuyên môn đã học để giải thích các tình huống trong lĩnh vực điện công nghiệp

+ Đạt trình độ A Tiếng Anh , trình độ B Tin học hoặc tương đương

+ Lắp đặt và vận hành được các thiết bị điện đảm bảo an toàn

+ Hướng dẫn, giám sát kỹ thuật được các tổ, nhóm lắp đặt mạng điện hạ áp

và mạch điện điều khiển trong hệ thống điện

+ Tự học tập, nghiên cứu khoa học theo đúng chuyên ngành đào tạo

+ Có kỹ năng giao tiếp, tổ chức và làm việc nhóm

b) Chính trị, đạo đức, thể chất và quốc phòng:

- Chính trị, đạo đức:

+ Nhận thức: Có hiểu biết một số kiến thức phổ thông về Chủ nghĩa Lênin, Hiến pháp, Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Có hiểu biết về đường lối phát triển kinh tế của Đảng, thành tựu và định hướng phát triển công nghiệp của địa phương, khu vực, vùng miền

Trang 29

Mác-+ Đạo đức - tác phong: Có phẩm chất đạo đức tốt, có thái độ hợp tác với đồng nghiệp, tôn trọng pháp luật và các quy định tại nơi làm việc, trung thực và có tính kỷ luật cao, tỷ mỷ chính xác, sẵn sàng đảm nhiệm các công việc được giao ở các nhà máy, xí nghiệp sản xuất hoặc công ty kinh doanh về lĩnh vực điện Trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Thực hiện đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ của người công dân; sống và làm việc theo Hiến pháp - Pháp luật Yêu nghề, có ý thức cộng đồng và tác phong làm việc của một công dân sống trong xã hội công nghiệp Có thói quen lao động nghề nghiệp, sống lành mạnh phù hợp với phong tục, tập quán và truyền thống văn hóa dân tộc Luôn

có ý thức học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ đáp ứng nhu cầu của công việc

c) Cơ hội việc làm: Sau khi tốt nghiệp, người học trở thành Kỹ thuật viên chuyên

ngành Điện công nghiệp

- Làm việc được ở các Công ty Điện lực: Tổ vận hành và quản lý đường dây,

tổ bảo trì và sửa chữa đường dây

- Làm việc trong các trạm truyền tải và phân phối điện năng

- Làm việc trong các công ty xây lắp công trình điện

- Làm việc trong các công ty, xí nghiệp sản xuất công nghiệp trong các thành phần kinh tế xã hội

Trang 30

2.3.2 Nội dung chương trình

Thời gian đào tạo (giờ)

Tổng

số

Lý thuyết

Thực hành

Kiểm tra

Trang 31

MĐ32 Điều khiển điện khi nén 120 45 70 5

MĐ33 Quấn dây máy điện nâng cao 90 10 77 3

2.4 VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT, ĐẶC ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG CHƯƠNG

TRÌNH MÔN HỌC TRANG BỊ ĐIỆN

¾ Vị trí môn học: Môn học này cần phải học sau khi đã học xong các môn

học: Máy điện, Cung cấp điện, Truyền động điện, Điện tử cơ bản

¾ Tính chất môn học: Là môn học quan trọng của nghành Điện công

nghiệp, là môn học bắt buộc vì nó cung cấp cho học sinh các kiến thức cơ bản về

tính chọn, điều khiển, bảo vệ các thiết bị điện Môn học này giúp học sinh có thể

vận hành máy móc, thiết bị đúng quy trình, có thể sửa chữa được hư hỏng xảy ra

trong quá trình vận hành

¾ Đặc điểm môn học:

+ Tính cụ thể: biểu hiện ở chỗ nội dung môn học phản ánh những đối tượng

cụ thể: Sự làm việc của động cơ, công tắc tơ, rơ le…những tri thức này học sinh có

thể trực tiếp tri giác được ngay trên các mô hình trực quan

Trang 32

+ Tính trừu tượng: Thể hiện qua các nguyên lý như: Nguyên lý làm việc của

các sơ đồ mạch điện, nguyên lý về sự thay đổi tốc độ của động cơ… Để tiếp thu được tri thức này đòi hỏi phải có sự tư duy, hình dung, tưởng tượng

+ Tính thực tiễn: Trong môn trang bị điện, tính thực tiễn thể hiện ở nhu cầu

điều khiển các thiết bị điện, vận hành máy móc hợp lý và sửa chữa được mạch điện khi có sự cố xảy ra

+ Tính tổng hợp: Môn học được xây dựng trên nguyên tắc kỹ thuật tổng hợp,

kết hợp kiến thức của nhiều môn khoa học khác nhau như: máy điện, khí cụ điện, truyền động điện, vẽ điện…Tính tổng hợp cũng được thể hiện ở chố môn học là môn học kỹ thuật ứng dụng, bao gồm lý thuyết và thực hành gắn kết với nhau, với thời lượng 60 tiết lý thuyết và 30 giờ học thực hành

Với tính thực tiễn của môn học và với cấu trúc lý thuyết gắn với thực hành như trên, môn học này thuận lợi cho việc áp dụng dạy học theo tiếp cận NLTH

¾ Mục tiêu môn học:

Sau khi học xong môn học này người học có khả năng :

- Phân tích được nguyên lý, cách thực hiện, phạm vi ứng dụng của các phương pháp điều chỉnh tốc độ động cơ 3 pha, động cơ một chiều

- Đọc, vẽ và phân tích được các sơ đồ mạch điều khiển dùng rơle, công tắc tơ dùng trong khống chế động cơ 3 pha, động cơ một chiều

- Đọc, vẽ và phân tích được qui trình làm việc và yêu cầu về trang bị điện cho máy cắt gọt kim loại (máy khoan, tiện, phay, bào, mài ); cho các máy sản suất (băng tải, cầu trục, thang máy, lò điện )

- Tính chọn được công suất động cơ điện dùng trang bị cho máy sản xuất

- Lắp đặt, sửa chữa được các mạch mở máy, dừng máy cho động cơ 1 pha, 3 pha, động cơ một chiều

- Phân tích được nguyên lý làm việc của sơ đồ điện làm cơ sở cho việc phát hiện hư hỏng và chọn phương án cải tiến mới

- Lắp ráp và sửa chữa được các mạch điện máy cắt gọt kim loại như: mạch điện máy khoan, máy tiện, phay, bào, mài

Trang 33

- Vận hành và sửa chữa được hư hỏng trong các máy sản suất như băng tải,

cầu trục, thang máy, lò điện

- Vận hành được mạch theo nguyên tắc, theo qui trình đã định Từ đó sẽ vạch

ra kế hoạch bảo trì hợp lý, đảm bảo an toàn và vệ sinh công nghiệp

¾ Nội dung môn học (đã được cấu trúc thành mô đun):

+ Nội dung tổng quát và phân bố thời gian:

Số

TT Tên các bài trong mô đun

Thời gian Tổng

số

Lý thuyết

Thực hành

Kiểm tra*

1 Mở đầu: Khái quát chung về trang bị điện 3 3

2 Điều chỉnh tốc độ động cơ điện 30 10 18 2

7 Tự động khống chế động cơ điện một chiều 44 3 38 3

8 Trang bị điện cho máy cắt gọt kim loại 36 4 30 2

Trang 34

2.5 THỰC TRẠNG VỀ ĐIỀU KIỆN, PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC MÔN TRANG

BỊ ĐIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP VIỆT - HUNG

2.5.1 Năng lực của giáo viên:

Hiện nay khoa điện của trường Đại học Công nghiệp Việt – Hung có tổng số

28 giáo viên

- Trình độ chuyên môn:

+ Thạc sĩ: 10 người + Đang theo học cao học: 17 người

+ Đại học: 01 người (chuẩn bị nghi hưu)

- Tuổi đời:

+ Dướí 30 tuổi: 02 người + 41- 50 tuổi: 02 người + 31- 40 tuổi: 23 người + Trên 50 tuổi: 01 người

- Thâm niên giảng dạy:

+ Dưới 5 năm: 02 người + Trên 25 năm: 00 người + 6 - 15 năm: 23 người + 16 - 25 năm: 03 người Nhận xét: Các giáo viên trong khoa tuổi đời trung bình còn rất trẻ, các thầy

cô đều rất nhiệt tình trong công tác giảng dạy, chịu khó tìm tòi, ứng dụng công nghệ dạy học và các phương pháp mới vào công tác giảng dạy

Tất cả đều đã từng tham gia giảng dạy cả các môn học lý thuyết và thực hành nên rất thuận lợi khi triển khai giảng dạy theo tiếp cận NLTH

Mặt khác hàng năm các giáo viên đều được tham gia các lớp tập huấn nhằm nâng cao kiến thức chuyên môn nghiệp vụ để có thể tiếp cận các phương pháp dạy học tích cực và công nghệ dạy học hiện đại

Tuy nhiên, vẫn cần phải có thêm các khoá bồi dưỡng cho giáo viên về phương pháp dạy học theo tiếp cận NLTH để giáo viên có thể nâng cao trình độ và năng lực đối với phưong pháp mới này

- Giáo viên dạy môn trang bị điện:

Tất cả giáo viên trong khoa đều được đào tạo về nghiệp vụ sư phạm và được nhà trường tạo điều kiện để cập nhật kiến thức về tin học Trong khoa có 26 giáo

Trang 35

viên có thâm niên dạy học từ 6 năm trở lên Tất cả số giáo viên này đều có thể dạy môn học trang bị điện theo tiếp cận NLTH vì đã từng tham gia giảng dạy cả lý thuyết và thực hành Còn 2 giáo viên mới tham gia giảng dạy dưới 5 năm, do chưa

có kinh nghiệm trong giảng dạy thực hành vì vậy chưa tham gia giảng dạy môn học trang bị điện theo năng lực thực hiện được

2.5.2 Điều kiện cơ sở vật chất để dạy học môn trang bị điện

Hiện tại trường trang bị cho khoa Điện 6 xưởng thực hành, 4 phòng thí nghiệm điện (cho các môn Truyền động điện, Trang bị điên, Máy điện, Cung cấp điện và Đo điện) và 2 phòng máy với 84 máy tính, đồng thời các phòng học nhà trường đang tiến hành xây dựng cũng được thiết kế theo hướng đa phương tiện phục

vụ cho việc đào tạo theo tin chỉ Tất cả những phòng này rất thuận tiện cho việc dạy học theo tiếp cận NLTH

Hàng năm dựa theo kế hoạch mua sắm vật tư thiết bị, nhà trường đã đầu tư

và mua sắm các phương tiện day học cần thiết cho từng khoa như: máy tính xách tay, máy chiếu, phông chiếu và các phương tiện nghe nhìn khác Chi hàng trăm triệu động để mua sắm bổ xung vật tư, trang thiết bị phục vụ cho quá trình thực tập của học sinh sinh viên

2.6 THỰC TRẠNG VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TRANG BỊ ĐIỆN TẠI NHÀ TRƯỜNG

Để có thể dạy học theo tiếp cận NLTH trong nhà trường thì trước tiên giáo viên phải có hiểu biết hay nhận thức đúng đắn về vấn đề này Tìm ra những ưu nhược điểm của dạy học theo tiếp cận NLTH để phối hợp với các phương pháp dạy học khác nhằm nâng cao chất lượng dạy học Để tìm tiểu thực trạng về phương pháp dạy học các môn học nói chung và môn trang bị điện nói riêng ở trường Đại học Công nghiệp Việt – Hung, chúng tôi tiến hành điều tra thăm dò ý kiến của một

số lãnh đạo, cán bộ quản lý và giáo viên trong nhà trường Hầu hết họ là những người có trình độ đại học trở lên, có kiến nhất về lý luận dạy học và giáo dục Một

số đang trực tiếp đứng lớp giảng dạy, một số đã qua giảng dạy (cán bộ quản lý), do

đó có điều kiện để áp dụng và xem xét tính đúng đắn của việc dạy học theo tiếp cận NLTH các môn học nói chung, môn trang bị điện nói riêng

Trang 36

Mặt khác, chúng tôi cũng thăm dò ý kiến của một số học sinh đã và đang học nghề tại nhà trường để đảm bảo tính toàn diện, khách quan và chất lượng

Với nội dung và phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi giới hạn khảo sát thông qua phiếu điều tra, trao đổi và dự lớp một số giáo viên trong nhà trường

Với tổng số phiếu điều tra là 75 phiếu, trong đó: Lãnh đạo và cán bộ quản lý

5 phiếu (Phụ lục 2); Giáo viên 40 phiếu (Phụ lục 3); Học sinh 30 phiếu (Phụ lục 4) Kết quả được thể hiện theo từng nội dung dưới đây

2.6.1 Nhận thức của lãnh đạo, cán bộ quản lý (CBQL), giáo viên và học sinh về NLTH

Bảng 2.1

Các quan điểm

Lãnh đạo, CBQL Giáo viên Học sinh Tổng hợp

Số phiếu

Tỉ lệ

%

Số phiếu

Tỉ lệ

%

Số phiếu

Tỉ lệ

%

Số phiếu

Tỉ lệ

% Khả năng thực hiện được

các hoạt động, các công

việc trong nghề theo tiêu

chuẩn đặt ra với công việc

đó trong thực tiễn hoạt

Đối tượng

Trang 37

Kết quả điều tra cho thấy hầu hết lãnh đạo, cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh đều đã có nhận thức đúng đắn về NLTH, điều này cho thấy những ảnh hưởng của xu thế dạy học theo tiếp cận NLTH là rất lớn Hầu hết các giáo viên đã quan tâm đến vấn đề này Tuy nhiên, muốn dạy học theo tiếp cận NLTH có hiệu quả đòi hỏi phải biết kết hợp khéo léo giữa các phương pháp dạy học Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (2000-2020), sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu trên con đường tiến vào kỷ nguyên tri thức bằng cạnh tranh trí tuệ đòi hỏi phải đổi mới giáo dục, trong đó sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy học đã trở thành yêu cầu và bắt buộc đối với các trường Đổi mới phương pháp dạy học dựa trên những phương hướng tiếp cận khác nhau Tiếp cận theo quan điểm tâm lý giáo dục

học là “Tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh”, theo quan điểm điều chỉnh mối quan hệ thầy trò là “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”, tiếp cận theo quan điểm công nghệ là “Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học” và theo quan điểm tiếp cận mục tiêu là “dạy học theo tiếp cận NLTH” trong đào tạo nghề

Luật giáo dục 2005 đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục nghề nghiệp phải kết hợp rèn luyện kỹ năng thực hành với giảng dạy lý thuyết để giúp người học có khả năng hành nghề và phát triển nghề nghiệp theo yêu cầu của từng công việc”

Như vậy, một lần nữa khẳng định việc đổi mới phương pháp dạy học theo NLTH trong đào tạo nghề là rất phù hợp và có tính khả thi

2.6.2 Thực trạng về mức độ sử dụng các phương pháp dạy học

Khảo sát về mức độ sử dụng các phương pháp dạy học, tác giả đã tiến hành qua phiếu điều tra với 15 giáo viên đã và đang giảng dạy môn trang bị điện Kết quả

được thể hiện trong bảng 2.2

Kết quả cho thấy đa số các giáo viên thường xuyên sử dụng phương pháp thuyết trình để lên lớp, đôi khi có sử dụng phương pháp trực quan

Các phương pháp dạy học tích cực như: phương pháp đàm thoại gợi mở, phương pháp nêu vấn đề, thảo luận nhóm, mô phỏng, chương trình hoá, angorit hoá,

dự án, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học chưa được vận dụng thường

xuyên, thậm chí không thực hiện

Trang 38

Bảng 2.2

xuyên

Thỉnh thoảng

Không thực hiện

5 Phương pháp dạy học thảo luận theo nhóm 0 6 9

7 Phương pháp chương trình hoá 0 0 15

10 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 5 8 2

Điều đó chứng tỏ rằng các giáo viên vẫn chưa thực sự quan tâm nhiều đến

việc đổi mới phương pháp dạy học mặc dù đã xác định việc đó là rất quan trọng

Hầu hết giáo viên đều chưa thực hiện dạy học theo tiếp cận NLTH Mặc dù chương

trình khung trình độ cao đẳng nghề của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã

cấu trúc thành mô đun trang bị điện, nhưng theo tiến độ dào tạo của nhà trường, mỗi

bài học đều được dạy hết phần nội dung lý thuyết ở lớp có khi kéo dài cả một kỳ,

sau khi kết thúc phần lý thuyết thì học sinh mới xuống xưởng để học thực hành

Như vậy trước khi học thực hành giáo viên thường phải nhắc lại nội dung lý

thuyết vì học sinh đã quên Do vậy, lãng phí thời gian và chất lượng dạy học không

cao

Trang 39

2.6.3 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc dạy học theo NLTH

Để tìm hiểu về vấn đề này chúng tôi tiến hành điều tra, trao đổi trực tiếp với lãnh đạo, cán bộ quản lý và giáo viên đã tham gia giảng dạy các mô đun nghề Kết quả thu được trong bảng 2.3

Bảng 2.3

Nguyên nhân

Lãnh đạo, CBQL Giáo viên Tổng hợp

Số phiếu

Tỉ lệ

%

Số phiếu

Tỉ lệ

%

Số phiếu

Tỉ lệ

% Phương tiện và cơ sở vật chất chưa phù

hợp, chưa trang bị đầy đủ 3 60 40 100 43 95.6Năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư

phạm của giáo viên còn hạn chế 5 100 15 37.5 20 44.4Cấu trúc chương trình môn học chưa tích

hợp được giữa lý thuyết với thực hành 3 60 37 92.5 40 88.9Trình độ học sinh thấp, không có khả

năng vừa học lý thuyết vừa thực hành 1 20 32 80 33 73.3Thói quen sử dụng các phương pháp dạy

Kết quả cho thấy, một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc dạy học theo tiếp cận NLTH là do giáo viên có thói quen sử dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học truyền thống

Hầu hêt các ý kiến của giáo viên cho rằng họ có sẵn kỹ năng sử dụng phương pháp dạy học truyền thống như: phương pháp thuyết trình (thầy giảng trò nghe, kèm theo vài ví dụ minh hoạ, liên hệ với thực tiễn) hoặc phương pháp trực quan bản vẽ,

mô hình, vật mẫu kết hợp với giảng giải và đàm thoại Nguyên nhân thứ hai mà phần lớn các giáo viên đề cập đến là phương tiện và cơ sở vật chất chưa phù hợp cho việc tích hợp lý thuyết và thực hành, cần xây dựng thêm và cải tạo các xưởng thành phòng học chuyên môn

Kết quả Đối tượng

Trang 40

Sau khi trao đổi với lãnh đạo nhà trường chúng tôi thấy rằng: với những khó khăn chung của khu vực, nhà trường đã khắc phục và từng bước thay thế cơ bản về

cơ sở vật chất và dần hiện đại cho phù hợp với cấp trình độ đào tạo, phù hợp với đòi hỏi của xã hội

Những nguyên nhân khác được mọi người cho rằng ảnh hưởng không nhỏ đến dạy học theo tiếp cận NLTH đó là chương trình môn học chưa phù hợp, cần cấu trúc lại theo các NLTH để có thể tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, bỏ bớt một

số nội dung lý thuyết không cần thiết, vì dạy học theo tiếp cận NLTH thì dạy những điều mà người học cần nhất để có thể tìm được việc làm hoặc để lao động tốt hơn Nhiều giáo viên đổ lỗi cho rằng học sinh có trình độ thấp, không có khả năng vừa học lý thuyết vừa thực hành Nhưng dưới góc độ lãnh đạo và quản lý họ cho rằng trình độ học sinh không quan trọng, vấn đề ở đây là năng lực của giáo viên về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm đã đạt chuẩn hay chưa

Để khẳng định tính cấp thiết của đề tài về dạy học theo tiếp cận NLTH các

mô đun nghề nói chung và mô đun trang bị điện nói riêng, chúng tôi tiến hành tham khảo ý kiến của lãnh đạo, cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về mong muốn của

họ đối với việc dạy học theo tiếp cận NLTH trong đào tạo nghề Kết quả thể hiện

Mức độ

Lãnh đạo, CBQL Giáo viên Học sinh Tổng hợp

Số phiếu

Tỉ lệ

%

Số phiếu

Tỉ lệ

%

Số phiếu

Tỉ lệ

%

Số phiếu

là góp phần đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học, đề tài có tính

Kết quả Đối tượng

Ngày đăng: 18/07/2017, 20:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w