người GVDN phải tổ chức quá trình dạy học theo NLTH từng công việc để học sinh có thể thực hiện thành thạo mọi công việc của nghề.. Học để thành thạo các công việc của nghề, để có cơ hội
Trang 1Tôi xin cam đoan những gì viết trong luận văn là do sự tìm tòi, học hỏi của bản thân và sự hướng dẫn tận tình của GS.TSKH Nguyễn Minh Đường Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của tác giả khác, nếu có đều được trích dẫn cụ thể
Đề tài luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo
vệ luận văn thạc sĩ nào và cũng chưa hề được công bố trên bất kỳ một phương tiện nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên
Hà nội, ngày 09 tháng 05 năm 2012
Người cam đoan
Nguyễn Thị Châu Giang
Trang 2Để hoàn thành cuốn luận văn này, trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình đến GS.TSKH Nguyễn Minh Đường đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn
Tôi chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa, các Thầy Cô giáo Khoa Sư phạm
kỹ thuật trường Đại học Bách khoa Hà Nội
Tôi chân thành cảm ơn các bạn bè đồng nghiệp thuộc Bộ môn Khoa học cơ bản
và các bộ môn, phòng ban khác của trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả những người thân của tôi đã quan tâm động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Với khả năng nghiên cứu của bản thân còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi xin kính mong được sự chỉ dẫn và đóng góp của các chuyên gia, các Thầy Cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài này được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2012
Học viên
Nguyễn Thị Châu Giang
Trang 3GVDN Giáo viên dạy nghề
GVTT Giáo viên trung tâm
HS Học sinh
HSTT Học sinh trung tâm
LĐTB&XH Lao động thương binh và xã hội
Trang 4Bảng 2.1 Số lượng HSSV trong trường năm học 2009-2010 28
Bảng 2.2 Số lượng, trình độ chuyên môn của giảng viên cơ hữu, hợp
Bảng 2.5 Tiêu chuẩn chuyên môn của giảng viên 30
Bảng 2.6 Số lượng, trình độ chuyên môn của giảng viên cơ hữu, hợp
đồng
30
Bảng 2.8 Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của trường Cao đẳng
Y tế Ninh Bình
32
Bảng 2.11 Chương trình môn học tin học phần lý thuyết 34
Bảng 2.12 Chương trình môn học tin học phần thực hành 35
Bảng 2.13 Mức độ cần thiết của việc đổi mới PPDH 36
Bảng 2.14 Thực trạng về mức độ sử dụng các phương pháp dạy học
của GV tin học
36
Bảng 3.2 Các công việc về tin học trong nhiệm vụ 1 của nghề điều
dưỡng
40
Trang 5số
Bảng 3.3 Các năng lực tin học và các tiêu chí để thực hiện nhiệm vụ
1 của nghề điều dưỡng
41
Bảng 3.4 Chương trình môn học tin học được cấu trúc lại tích hợp
giữa lý thuyết và thực hành
42
Bảng 3.5 Các tiêu chuẩn đánh giá quy trình soạn thảo quyết định 65
Bảng 3.6 Các tiêu chuẩn đánh giá sản phẩm (Quyết định) 66
Bảng 3.7 Bảng kiểm tra đánh giá quy trình 67
Bảng 3.9 Kiểm tra các nhóm kiểm chứng và nhóm đối chứng 71
Bảng 3.10 Phiếu lấy ý kiến đánh giá của GV tham gia thực nghiệm 73
Bảng 3.11 Lấy ý kiến của HS tham gia thực nghiệm 74
Trang 6TT Tên sơ đồ, biểu đồ Trang
số
Sơ đồ 1.1 Các thành tố cơ bản của QTDH 10
Sơ đồ 1.2 Triết lý dạy học theo năng lực thực hiện 14
Sơ đồ 1.3 Sơ đồ phân tích nghề DACUM 24
Biểu đồ 2.1 Biểu diễn độ tuổi của giảng viên cơ hữu 30 Biểu đồ 2.2 Biểu diễn mức độ cần thiết của việc đổi mới PPDH 36
Hình 3.4 Hộp thoại Borders and Shading 49
Hình 3.5 Hộp thoại Page Setup, thẻ Pager 49
Hình 3.6 Hộp thoại Page Setup, thẻ Margins 50
Hình 3.8 Thanh công cụ Header and Footer 51
Hình 3.9 Hộp thoại Page Number 52
Trang 7NỘI DUNG TRANG
Mở đầu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Phạm vi nghiên cứu 4
8 Luân điể̉m của luận văn và đóng góp mới của tác giả 4
9 Phương pháp nghiên cứu 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY
1.2.3 Đặc điểm của dạy học theo quan điểm tích hợp 11
1.2.4 Nguyên tắc dạy học theo quan điểm tích hợp 12
1.3.2 Các nguyên tắc của dạy học theo năng lực thực hiện 14
1.3.3 Một số đặc trưng của dạy học theo NLTH 18
1.3.5 Ưu, nhược điểm của dạy học theo NLTH 23
1.3.6 Những điều kiện để dạy học theo NLTH 24
Trang 8Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ DẠY HỌC MÔN TIN HỌC TẠI
2.1 Sơ lược về lịch sử phát triển của trường 27
2.2 Các ngành nghề đào tạo và quy mô đào tạo 27
2.3 Các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy học 28
2.3.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học 31
2.5 Thực trạng dạy học môn học tin học tại trường Cao đẳng
Chương 3 DẠY HỌC MÔN TIN HỌC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG
3.1.1 Tên nghề, phạm vi hoạt động của nghề 39
3.2 Xác định các năng lực thực hiện về tin học đối với nghề
Trang 93.5 Thực nghiệm sư phạm 70
3.5.1 Phương pháp và quy trình thực nghiệm 70
3.5.3 Lấy ý kiến đánh giá của GV và HS tham gia thực nghiệm 72
Trang 10MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đất nước ta đang trên bước đường đổi mới nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Bước sang cơ chế thị trường, đào tạo theo “hướng cung” (suply driven) đã không còn phù hợp Ngày nay, với quy luật cung - cầu của thị trường lao động, đào tạo phải hướng tới đáp ứng tối đa được nhu cầu lao động kỹ thuật của khách hàng về chất lượng, số lượng cũng như cơ cấu ngành nghề và trình độ; Do vậy để tồn tại và phát triển, các trường cơ sở đào tạo phải chuyển sang đào tạo theo “hướng cầu” (demand driven) Để chuyển đổi đào tạo từ hướng cung sang hướng cầu, một vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải chuyển đổi phương thức đào tạo truyền thống với quy định về nội dung và thời lượng đào tạo cứng nhắc, nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành và tổ chức đào tạo theo niên chế sang phương thức đào tạo NLTH linh hoạt theo học chế tín chỉ
Đào tạo theo NLTH chú trọng vào kết quả đầu ra để sau khi học xong chương trình đào tạo, người học có NLTH được tất cả các công việc của nghề, đạt chuẩn quy định nên có nhiều cơ hội để tìm được việc làm Mặt khác, đào tạo theo NLTH, dạy học tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, thực hiện được nguyên lý giáo dục: “học đi đôi
với hành”, nhờ vậy nâng cao được chất lượng đào tạo Với những ưu điểm nêu trên, đào tạo theo NLTH đang ngày càng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới
Ở Việt Nam, đào tạo theo NLTH cũng đang được Nhà nước quan tâm Điều 35
của Luật Giáo dục 2005 đã nêu rõ: “Phương pháp giáo dục nghề nghiệp phải kết hợp rèn luyện kỹ năng thực hành với giảng dạy lý thuyết để giúp người học có khả năng hành nghề và phát triển nghề nghiệp theo yêu cầu của từng công việc” [14] Điều 4 của Luật Dạy nghề cũng khẳng định: “Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo” [15]
Thực tế dạy học tại các cơ sở dạy nghề (CSDN) đã có nhiều thay đổi Từ năm học 2007-2008 đến nay, Bộ LĐTB&XH phối hợp với Dự án Giáo dục Kỹ thuật và Dạy nghề đã xây dựng và ban hành được 150 chương trình đào tạo nghề với cấu trúc
mô đun theo phương pháp tiếp cận “đào tạo theo NLTH” để thực hiện trong các CSDN của cả nước bắt đầu từ năm học 2008-2009 Để dạy học theo các chương trình này,
Trang 11người GVDN phải tổ chức quá trình dạy học theo NLTH từng công việc để học sinh
có thể thực hiện thành thạo mọi công việc của nghề
Những năm gần đây trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình (CĐYTNB) đã mạnh dạn đổi mới phương pháp giảng dạy như đưa tin học hoá vào nhà trường, ứng dụng CNTT trong dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập bằng phần mềm máy tính Nhà trường
đã đào tạo ra những đội ngũ nhân viên Y tế lành nghề phục vụ cho ngành Y tế của tỉnh cũng như đội ngũ nhân viên Y tế phục vụ cho các tỉnh khác trong toàn quốc Tuy vậy việc áp dụng phương pháp dạy học theo NLTH vẫn chưa được ứng dụng trong trường
Với những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Dạy học môn tin học cho hệ điều
dưỡng tại trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình theo năng lực thực hiện” làm đề tại luận
văn thạc sĩ của mình nhằm góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học của
trường Môn Tin học có tên đầy đủ là "Tin học đại cương" Sau đây tác giả xin gọi tắt
sự thực hiện (Performance Based Teachers’ Education Modules - PBTE Modules) [22] Cuối thế kỷ 20, đào tạo đào tạo theo NLTH (Competency Based Training - CBT)
đã trở thành một xu thế phổ biến trong giáo dục nghề nghiệp trên thế giới và được nhiều nhà khoa học quan tâm Năm 1980, tổ chức lao động quốc tế ILO đã khuyến cáo đào tạo nghề theo “Mô đun kỹ năng hành nghề” (MES), đã biên soạn gần 100 bộ chương trình đào tạo nghề ngắn hạn theo MES tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, học xong mỗi mô đun người học được cấp chứng chỉ để hành nghề [21] Ở Pháp, những khoá học tương tự ở các hãng General Motor và Ford đã được tổ chức trong thời gian sau chiến tranh thế giới lần thứ II tại các vùng mỏ than Hệ thống đào tạo theo Unites Capitalisables, trong đó toàn bộ kiến thức, kỹ năng nghề được phân chia
Trang 12thành 6 khối (lĩnh vực) Nội dung mỗi khối được chia thành 4 hạng (tương đương với
4 cấp trình độ), mỗi hạng có một nội dung tương đối độc lập và được gọi là các đơn vị (Unites) Trừ khối kỹ thuật nghề luôn yêu cầu người học phải đạt hạng tối đa, còn tuỳ thuộc yêu cầu các ban khác nhau, người học phải học (hoặc không) các khối khác nhau, với các hạng khác nhau
Ở Úc, đào tạo theo mô đun được áp dụng rộng rãi từ năm 1975, đặc biệt, trong
hệ thống giáo dục kỹ và nâng cao (hệ thống TAEE) Trong hệ thống này, các mô đun đào tạo và các khoá học theo mô đun ngày càng được hoàn thiện và phổ biến rộng rãi
Năm 1995 Bruce Markenzie đã xuất bản công trình: “Đào tạo theo NLTH ở các
cơ sở GDNN” [19]
2.2 Ở trong nước
Đào tạo theo NLTH xuất hiện ở nước ta chưa lâu Khái niệm về đào tạo nghề theo Mô đun và NLTH lần đầu tiên được Viện Khoa học Dạy nghề đề cập đến vào năm 1986 Sau đó, đào tạo nghề ngắn hạn theo Mô đun kỹ năng hành nghề (MES) và NLTH đã được một số nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu Nguyễn Minh Đường đã có các công trình: “Mô đun kỹ năng hành nghề - Phương pháp tiếp cận và hướng dẫn sử dụng” (1993) [6], “Phương pháp đào tạo nghề theo mô đun kỹ năng hành nghề” (1994) [8], “Đào tạo nghề theo NLTH” (2005) [7], Nguyễn Đức Trí đã có các công trình như:
“Đào tạo nghề dựa trên NLTH - khái niệm và những đặc trưng cơ bản” (1995) [17]
“Tiếp cận đào tạo nghề dựa trên năng lực thực hiện và việc xây dựng tiêu chuẩn nghề” (1996) [17]
Cũng đã có một số luận án Tiến sĩ và luận văn Cao học nghiên cứu về đào tạo theo NLTH như: Luận án tiến sĩ “Các giải pháp đổi mới quản lý dạy học thực hành theo tiếp cận NLTH cho sinh viên sư phạm kỹ thuật” của Nguyễn Ngọc Hùng (2005) [9]; Luận văn thạc sĩ “Đổi mới dạy học thực hành nghề kỹ thuật điện tại trường Cao đẳng công nghiệp dệt may thời trang Hà nội theo NLTH” của Vũ Văn Thảo, v.v
Tuy nhiên, dạy học theo NLTH ở nước ta còn là vấn đề mới mẻ và chưa có đề tài nào nghiên cứu về dạy học môn Tin học cho hệ điều dưỡng tại trường CĐYTNB theo NLTH
Trang 133 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Vận dụng cơ sở lý luận dạy học theo NLTH để xây dựng giáo án và dạy học môn
Tin học cho hệ điều dưỡng tại trường CĐYTNB nhằm nâng cao chất lượng dạy học
4 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
4.1 Khách thể nghiên cứu
Dạy học môn tin học cho hệ điều dưỡng tại trường CĐYTNB
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Ứng dụng phương pháp dạy học theo NLTH vào dạy học môn tin học cho hệ điều dưỡng tại trường CĐYTNB
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Tổng quan cơ sở lý luận về dạy học theo NLTH;
- Vận dụng lý luận dạy học theo NLTH để biên soạn bài giảng môn tin học theo NLTH cho hệ điều dưỡng tại trường CĐYTNB
- Thực nghiệm sư phạm để minh chứng cho giả thuyết khoa học và tính khả thi của việc dạy học môn học tin học theo NLTH
6 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Hiện nay chất lượng dạy học môn tin học cho hệ điều dưỡng tại trường CĐYTNB chưa cao do chưa vận dụng được những phương pháp dạy học hiện đại vào quá trình dạy học Nếu xây dựng bài giảng và thực hiện dạy học theo NLTH thì sẽ nâng cao được chất lượng dạy học môn tin học cho hệ điều dưỡng tại trường Cao đẳng
8 LUẬN ĐIỂM CỦA LUẬN VĂN VÀ ĐÓNG GÓP MỚI CỦA TÁC GIẢ
8.1 Luận điểm của luận văn
- Học nghề không phải học để “biết” mà học để “làm” Thực hiện nguyên lý
“học đi đôi với hành”, cần đổi mới dạy học từ kiểu dạy học truyền thống sang dạy học theo NLTH
Trang 14- Để dạy học theo NLTH, chương trình đào tạo cần được cấu trúc theo NLTH tích hợp giữa lý thuyết và thực hành
8.2 Đóng góp mới của tác giả
Về lý luận: Tác giả đã hệ thống hoá được cơ sở lý luận về dạy học theo NLTH
9 Cấu trúc lại chương trình môn tin học theo NLTH
9 Đã xác định được các NLTH về tin học đối với nghề điều dưỡng
9 Soạn được bài giảng và giáo án bài “Định dạng văn bản” tích hợp giữa lý thuyết và thực hành để minh họa cho việc dạy học môn tin học theo NLTH
9 Biên soạn được bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan gồm 80 câu và thiết kế các công cụ đánh giá quy trình, đánh giá sản phẩm cho một bài học cụ thể trong chương trình đào tạo môn Tin học
9 Đã dạy học thực nghiệm bài “Định dạng văn bản” và lấy ý kiến đánh giá của GV và HS tham gia thực nghiệm để minh chứng cho tính đúng đắn
và tính khả thi của việc dạy học môn tin học theo NLTH cho nghề Điều dưỡng ở trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình
9 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tác giả đã sử dụng các phương pháp sau đây để nghiên cứu luận văn:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các văn kiện, tài liệu có liên quan đến đề tài
để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
- Phương pháp điều tra, khảo sát bằng phiếu hỏi
Trang 15Tác giả đã sử dụng phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi lấy ý kiến CBQL,
GV, HS để đánh giá thực trạng về dạy học môn tin học và khả năng vận dụng phương thức dạy học theo NLTH tại trường CĐYTNB theo NLTH
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm dạy học các giáo án được biên soạn theo NLTH để minh chứng cho giả thuyết khoa học được đề ra và tính khả thi của việc thực hiện dạy học môn tin
học cho hệ điều dưỡng tại trường CĐYTNB theo NLTH
- Phương pháp thống kê toán học
Tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu khảo
sát và thực nghiệm
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC THEO NĂNG LỰC THỰC HIỆN 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Dạy học
Dạy là hoạt động của giáo viên – người dạy, trong quá trình dạy học Dạy là
cách thức truyền đạt kinh nghiệm đã được tích lũy của một người đi trước cho thế hệ
đi sau trong một tiến trình giáo dục Dạy là sự tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn người học phương pháp học, cách thức tìm hiểu, phát hiện và lĩnh hội kiến thức, hình thành kỹ năng và thái độ để thay đổi nhân cách của mình
Học là hoạt động của học sinh – người học, là sự tự giác, tích cực, huy động
mọi chức năng tâm lý từ cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy, ngôn ngữ đến tình cảm ý chí và hoạt động để tìm tòi, khám phá và lĩnh hội kiến thức, hình thành kỹ năng và thái độ, dẫn đến sự biến đổi bền vững về nhân cách dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của người dạy Hoạt động học tập của học sinh học nghề phải kết hợp chặt chẽ giữa học tập với lao động sản xuất, thực hành nghề nghiệp của mình để chuẩn bị trở thành công nhân, người thợ có tay nghề cao, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Dạy học là một thuật ngữ kép, bao gồm hai hoạt động dạy và học Hai hoạt
động này gắn liền với nhau một cách biện chứng Dạy kiểu gì, bằng phương pháp nào thì học sẽ được tiến hành bằng phương pháp đó Bởi vậy, dạy học là một quá trình tương tác thống nhất, biện chứng giữa người dạy và người học qua đó, các nhiệm vụ
và mục đích của giáo dục được thực hiện
Trong lý luận dạy học có những quan niệm khác nhau về vai trò của GV và vai trò của HS trong quá trình dạy học, nhưng tựu trung lại có hai xu hướng là:
- Dạy học “lấy GV làm trung tâm (GVTT)” tập trung vào vai trò hoạt động của
GV, ít quan tâm đến học sinh GV chủ yếu thuyết trình không quan tâm đến học sinh
tiếp thu bài đến đâu Cũng từ đó hình thành kiểu học thụ động, thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ Tình trạng này ngày càng phổ biến, đã hạn chế chất lượng, hiệu quả dạy học,
không đáp ứng được yêu cầu của xã hội đối với sản phẩm của giáo dục nhà trường
- Dạy học lấy HS làm trung tâm (HSTT), trong quá trình dạy học người dạy chỉ
tổ chức, hướng dẫn và chỉ đạo quá trình học tập cho người học và người học giữ vai
Trang 17trò chủ động, tích cực trong việc tìm hiểu, khám phá và lĩnh hội kiến thức Trong quá
trình dạy học, người học vừa là đối tượng vừa là chủ thể của hoạt động dạy học Với kiểu dạy học này, phát huy được tính tích cực chủ động học tập của HS, và do vậy, phương pháp dạy học này còn được gọi là phương pháp “dạy học tích cực”
Những năm gần đây các tài liệu giáo dục và dạy học ở nước ngoài và trong nước thường nói tới việc cần thiết phải chuyển từ dạy học GVTT sang dạy học HSTT
1.1.2 Năng lực thực hiện (Competency)
- Năng lực thực hiện (NLTH) là một thuật ngữ được dùng trong đào tạo, đặc biệt
là đào tạo nghề “Năng lực thực hiện” hay “năng lực hành nghề” trong một số tài liệu tiếng Việt hiện nay được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh là “Competence” hoặc
“Competency” Có nhiều khái niệm khác nhau về NLTH
- Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp của Mehicô: NLTH là khả năng sản xuất của một cá nhân, khả năng đó được đo lường và xác định trong việc thực hiện một nội dung lao động xác định
- Theo học viện quốc gia Empleo - Tây Ban Nha: NLTH là sự thực thi có hiệu quả nhiệm vụ của một nghề nghiệp có liên quan đến yêu cầu các cấp trình độ của vị trí làm việc NLTH không chỉ là khả năng thực hiện các hoạt động chuyên môn đơn thuần
mà còn bao hàm cả khả năng phân tích, khả năng ra quyết định, xử lý thông tin và những phẩm chất tâm lý đạo đức được xem là cần thiết cho sự thực hiện hoàn hảo các nhiệm vụ của nghề
- Nguyễn Đức Trí cho rằng “Năng lực thực hiện là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ, công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm
vụ công việc đó” [16]
- Theo Nguyễn Minh Đường [6], “Năng lực thực hiện là những kiến thức, kỹ năng
và thái độ cần thiết để người lao động có thể thực hiện được công việc của nghề đạt chuẩn quy định trong những điều kiện cho trước”
Như vậy, NLTH có cấu trúc với 3 thành tố là: kiến thức, kỹ năng và thái độ có liên quan mật thiết với nhau để có thể thực hiện một công việc cụ thể của một nghề Chính vì vậy mà nó được gọi là năng lực thực hiện hoặc năng lực hành nghề NLTH
một công việc của nghề có nhiều mức trình độ khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu của sản xuất và trình độ nghề nghiệp của người lao động Để khẳng định mức trình độ này,
Trang 18NLTH được đánh giá theo chuẩn quy định cho mỗi công việc cụ thể của nghề Để đào
tạo đáp ứng được yêu cầu của sản xuất, chuẩn này cần được căn cứ vào yêu cầu của sản xuất Mặt khác, để thực hiện được công việc đạt chuẩn quy định, người lao động
cần có những điều kiện cần thiết như máy móc, công cụ, vật liệu, … và các điều kiện lao động như ánh sáng, vệ sinh, môi trường …
1.1.3 Quá trình dạy học (QTDH)
Có nhiều quan điểm khác nhau về QTDH, song có thể nói một cách tổng quát QTDH như sau:
Quá trình dạy học là tiến trình của hoạt động dạy và học được người dạy thiết
kế, tổ chức và chỉ đạo người học thực hiện để hoàn thành mục tiêu giáo dục đã đề ra
Đó là quá trình tương tác giữa người dạy, người học và môi trường dạy học theo phương pháp dạy học được người dạy thiết kế, người học thực hiện theo nội dung được quy định để phát hiện và lĩnh hội kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ và phát triển năng lực của mình, chuẩn bị cho nghề nghiêp tương lai Như vậy, QTDH là tổ hợp cách thức hoạt động của thầy và trò, trong đó thầy đóng vai trò chủ đạo, trò đóng vai trò tích cực chủ động nhằm đạt tới mục đích dạy học
Các thành tố cơ bản của QTDH: Với khái niệm như trên, các thành tố cơ bản
của QTDH bao gồm hai bộ 3 sau đây: Mục tiêu - Nội dung - Phương pháp và Người dạy - Người học – Môi trường
Với bộ 3 thứ nhất: Căn cứ vào mục tiêu dạy học đã đề ra, người dạy cần thiết kế nội dung và phương pháp dạy học cho phù hợp Nội dung dạy học cần được lựa chọn sao cho sau khi kết thúc quá trình dạy học, người học có thể đạt được mục tiêu đề ra Một mặt khác, tùy thuộc vào nội dung dạy học, người dạy cần lựa chọn phương pháp dạy học cho phù hợp để quá trình dạy học đạt chất lượng và hiệu quả mong muốn
Với bộ 3 thứ hai: Quá trình dạy học là quá trình tương tác giữa người dạy, người học và với môi trường dạy học, trong đó có phương tiện kỹ thuật dạy học, điều kiện cơ sở vật chất, vệ sinh, ánh sáng … và môi trường sư phạm trong lớp học
Hai bộ 3 này cũng gắn với nhau chặt chẽ và ảnh hưởng trực tiếp đến nhau trong quá trình dạy học, vì dạy học là quá trình mà người dạy và người học đều phải căn cứ vào mục tiêu, nội dung dạy học được quy định để cùng hoạt động theo phương pháp dạy học đã được thiết kế và cùng phấn đấu để đạt được mục tiêu đã đề ra
Trang 19Sơ đồ 1.1 Các thành tố cơ bản của QTDH
Các thành tố cơ bản của QTDH có thể hình dung như ở sơ đồ 1.1 Trong quá trình dạy học, GV cần quan tâm đến sự tương tác của cả 6 yếu tố này để có thể thực
hiện một bài giảng có chất lượng và hiệu quả
1.2 Dạy học theo quan điểm tích hợp
1.2.1 Khái niệm tích hợp
Theo Từ điển giáo dục học thì tích hợp là “hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy”
Trong dạy học, tích hợp có thể được coi là sự liên kết các đối tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự thống nhất, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học tốt nhất
Ví dụ, trong dạy nghề, mục tiêu của hệ thống dạy nghề là năng lực mà người học đạt được sau quá trình học tập Bởi thế mọi loại, mọi nội dung tích hợp trong dạy nghề đều nhằm đạt được sự trọn vẹn năng lực nghề nghiệp Sự trọn vẹn ấy được quyết định bởi sự kết hợp hài hòa giữa kiến thức – kỹ năng – thái độ mà người học đạt được
Theo quan điểm của D’HAINAUT, tích hợp được chia làm 4 loại:
- Quan điểm “nội môn” (Tích hợp trong một môn học): ưu tiên các nội dung của môn học
- Quan điểm “Đa môn”: Các môn học được tiếp cận riêng rẽ và chỉ gặp nhau ở
Nội dung
Người học Người dạy
Môi trường Mục tiêu
Phương pháp
Trang 20một số thời điểm trong quá trình nghiên cứu
- Quan điểm “Liên môn”: Nhấn mạnh sự liên kết của nhiều môn học làm cho chúng tích hợp nhau để giải quyết một vấn đề Quá trình học tập sẽ không bị rời rạc
mà được liên kết với nhau
- Quan điểm “Xuyên môn”: Những kỹ năng mà người học có thể sử dụng trong tất cả các môn học, trong việc giải quyết các vấn đề
1.2.2 Dạy học tích hợp (Integrated Teaching/Instruction)
Ngành dạy nghề Việt Nam hiện đang phát triển chương trình và tổ chức hệ thống đào tạo nghề dựa trên tiếp cận năng lực thực hiện (competency – based training approach), trong đó, năng lực thực hiện được coi như sự tích hợp của ba thành phần
kiến thức – kỹ năng – thái độ nghề nghiệp Do vậy, để dạy học theo NLTH, điều quan trọng đầu tiên là phải thực hiện dạy học tích hợp
Dạy học tích hợp là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dạy kiến thức, dạy thực hành
và hình thành thái độ để hình thành cho người học năng lực có thể hoàn thành được những công việc cụ thể của một nghề đạt chuẩn quy định
1.2.3 Đặc điểm của dạy học theo quan điểm tích hợp
- Tính khoa học, ứng dụng thực tiễn: Vận dụng đúng quan điểm duy vật biện
chứng đối với quá trình nhận thức các sự vật, hiện tượng
- Tính đa chức năng, đa phương án: Chỉ rõ phạm vi ứng dụng, các cách khai
thác những chức năng của mỗi đối tượng kỹ thuật và hướng dẫn người học lựa chọn công nghệ hợp lý trong mỗi điều kiện cụ thể
- Tính tiêu chuẩn hoá: Giáo dục học sinh coi trọng vả tuân thủ các tiêu chuẩn
kỹ thuật, quy trình thao tác thực hành
- Tính kinh tế: Mối tương tác giữa lý thuyết và thực hành sẽ củng cố kiến thức
và hình thành kỹ năng vững chắc, tiết kiệm thời gian
- Tính cụ thể và tính trừu tượng: Tính cụ thể biểu hiện ở nội dung phản ánh
những kiến thức về công cụ lao động, dụng cụ máy móc, quy trình kỹ thuật, các thao tác cụ thể, sẽ giúp học sinh có thể trực tiếp tri giác được ngay trên đối tượng nghiên cứu thông qua các phương tiện trực quan hoặc thao tác mẫu của giáo viên … Tính trừu tượng biểu hiện thông qua hệ thống các khái niệm kỹ thuật, nguyên lý kỹ thuật …
Trang 21- Tính tổng hợp và tích hợp: Môn học được xây dựng dựa trên nguyên tắc kỹ
thuật tổng hợp Nội dung hàm chứa những phần tử kiến thức gồm nhiều môn khoa học khác nhau từ khoa học cơ bản đến những kỹ thuật cơ sở và chuyên môn … tích hợp giữa lý thuyết và thực hành Các môn này liên quan và thống nhất với nhau để phản ánh tích cực và hiệu quả những đối tượng kỹ thuật cụ thể
1.2.4 Nguyên tắc dạy học theo quan điểm tích hợp
1.2.4.1 Dạy học theo quan điểm tích hợp là một chỉnh thể thống nhất trong nội dung chương trình đào tạo nhằm thực hiện từng bước mục tiêu cần đào tạo
- Hình thành kiến thức, kỹ năng cơ bản nhất để trên cơ sở đó học sinh sẽ thích
nghi được với những vấn đề khác nhau trong thực tiễn sản xuất
- Khai thác mối quan hệ hữu cơ giữa kiến thức cơ sở với kiến thức chuyên ngành để lĩnh hội vững chắc tri thức, hình thành kỹ năng
- Vận dụng các kiến thức, kỹ năng vào thực tế sản xuất, hình thành năng lực tư duy kỹ thuật và khả năng vận dụng lý thuyết khoa học vào thực tiễn
1.2.4.2 Dạy học theo quan điểm tích hợp phải thoả mãn nguyên tắc sư phạm của quá trình dạy học
- Kết hợp tính giáo dục với giáo dưỡng hình thành kiến thức, kỹ năng và phát triển tư duy kỹ thuật cho học sinh
- Kết hợp tính khoa học với tính vừa sức: Nội dung dạy học phải chính xác, cơ bản, hiện đại, phản ánh được các thành tựu lớn nhất của khoa học Tính vừa sức thể hiện ở việc không dễ quá cũng không khó quá Đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức và yêu cầu phát triển trí tuệ của học sinh
- Kết hợp tính lý luận với tính thực tiễn: học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với đời sống, với những nhiệm vụ phát triển bền vững của đất nước
Quá trình dạy học nắm vững tri thức, nắm vững cơ sở khoa học, kỹ thuật, văn hoá khi kết hợp hai điều kiện:
+ Tri thức là những điểm có hệ thống, quan trọng và then chốt hơn cả
+ Tri thức đó phải được vận dụng trong thực tiễn để cải tạo hiện thực, cải tạo
bản thân
Thông qua đó giúp học sinh ý thức rõ tác dụng của tri thức lý thuyết đối với đời sống, với thực tiễn, hình thành cho họ những kỹ năng vận dụng chúng ở những mức độ
Trang 22khác nhau mà mức độ cao nhất là góp phần phát triển kinh tế - xã hội và văn hoá -
khoa học của đất nước
- Kết hợp củng cố và phát triển khoa học
- Kết hợp dạy và học
1.2.4.3 Nội dung tích hợp phải đảm bảo tính hiệu quả đạt tới mục tiêu đào tạo (tiết
kiệm thời gian và nâng cao chất lượng đào tạo theo mục tiêu đã đề ra)
1.2.4.4 Dạy học theo quan điểm tích hợp phải có cấu trúc mềm dẻo, linh hoạt và tạo khả năng đa dạng hoá quá trình đào tạo nghề; tạo được sự liên thông giữa các loại hình đào tạo
1.3 Dạy học theo năng lực thực hiện
1.3.1 Triết lý của dạy học theo NLTH
Dạy học theo NLTH được xuất phát từ triết lý sau đây:
1.3.1.1 Học để thành thạo các công việc của nghề, để có cơ hội tìm được việc làm
Theo triết lý này, mục tiêu của dạy học trong quá trình đào tạo nghề là làm sao
để người học sau khi học xong khóa đào tạo sẽ có cơ hội để tìm được việc làm Điều này có thể hiểu là học nghề không phải chỉ để biết mà cái chính là để làm, người học phải có được những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết với mức độ thành thạo các công việc của nghề phù hợp với yêu cầu của nhà tuyển dụng lao động thì mới có cơ hội tìm được việc làm
1.3.1.2 Chuẩn nghề nghiệp là thước đo của sự thành thạo công việc của nghề
Triết lý này đề ra yêu cầu về sự thành thạo công việc của nghề là phải đạt được những tiêu chuẩn quy định, thường được gọi là chuẩn nghề nghiệp Những chuẩn này được xây dựng dựa trên đặc thù của công việc, của nghề theo yêu cầu của sản xuất và
là yêu cầu mà mọi người lao động và học sinh học nghề phải đạt được
1.3.1.3 Để thành thạo công việc cần có những điều kiện nhất định
Học nghề chủ yếu là học sản xuất, do vậy, cũng như trong sản xuất, người học cần có những điều kiện cần thiết như: máy móc, thiết bị, công cụ, điện, ánh sáng, … để
có thể thực hiện được các công việc của nghề đạt chuẩn quy định và phát triển năng lực của mình trong quá trình học tập Những điều kiện này cũng cần đảm bảo đầy đủ
về chất lượng và số lượng cần thiết theo yêu cầu của từng công việc của nghề thì người lao động người học mới có thể thực hiện được những công việc đạt chuẩn quy
Trang 23định Triết lý này đã đề ra một yêu cầu đối với dạy học theo năng lực thực hiện là phải
có đầy đủ cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết thì việc dạy học mới có kết quả Theo Nguyễn Đức Trí, triết lý của dạy học theo NLTH được mô tả như ở hình 1.2 [17]
Sơ đồ 1.2 Triết lý dạy học theo năng lực thực hiện
1.3.2 Các nguyên tắc của dạy học theo năng lực thực hiện
Dạy học theo NLTH cần tuân thủ các nguyên tắc sau đây [6]:
1.3.2.1 Các năng lực thực hiện phải được xác định từ yêu cầu sản xuất và công bố trước cho người học
Tiêu chuẩn
Tốc độ
Sự chính xácChất lượng
ĐÀO TẠO NGHỀ THEO NLTH
Hoạt động Điều kiện Tiêu chuẩn
ĐÁNH GIÁ THEO CÁC TIÊU
MỤC TIÊU ĐÀO TẠO Thế giới lao động Thế giới đào tạo cho LĐ
Trang 24Điều này có nghĩa rằng khi xây dựng chương trình đào tạo nghề theo NLTH cần xác định chuẩn đầu ra của các chương trình đào tạo để xác định mục tiêu đào tạo của các nghề theo yêu cầu của sản xuất Để làm được điều này, chương trình đào tạo cần được tiến hành theo phương pháp phân tích nghề để xác định được các năng lực thực hiện các công việc của từng nghề theo yêu cầu của thị trường lao động Nguyên tắc này cũng nói lên rằng chương trình đào tạo cần được thường xuyên cải tiến để đáp ứng được yêu cầu của sản xuất luôn phát triển
Mục tiêu đào tạo của mỗi nghề hay chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo cần được công bố với người học và người sử dụng lao động trước khi tiến hành thực hiện
các khóa đào tạo Đây là một yêu cầu bức thiết để đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội
1.3.2.2 Các tiêu chí, chuẩn đánh giá và điều kiện thực hiện phải được công bố công khai trước cho người học
Nguyên tắc này đòi hỏi người dạy phải công bố rõ ràng, cụ thể mục tiêu của bài học và các tiêu chí đánh giá kết quả học tập cũng như các điều kiện cần thiết cho người học trước khi thực hiện quá trình dạy học để người học có định hướng rõ ràng mục tiêu cần đạt và phấn đấu để đạt được trong quá trình học tập
Điều đó có nghĩa là phải cho người học biết cụ thể và chính xác những năng lực nào họ cần đạt? đạt tới chuẩn nào? trong điều kiện nào? và kết thúc mỗi bài học sẽ được đánh giá như thế nào? để họ không bị động mà ngược lại, có thể phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo trong quá trình học tập để đạt kết quả mong muốn Việc thực hiện nguyên tắc cơ bản này đòi hỏi GV phải đổi mới phương pháp dạy, đặc biệt là phương pháp đánh giá, không được đánh giá theo phương pháp truyền thống không theo chuẩn hoặc dựa vào chuẩn tương đối, so sánh thành tích giữa những người học với nhau Thay vào đó, phải đánh giá theo tiêu chí và chuẩn NLTH từng công
việc của nghề
1.3.2.3 Học thành thạo từng NLTH trước khi qua NLTH khác
Bản chất của dạy và học theo năng lực thực hiện là học đến đâu thành thạo công việc đến đó, không phải học theo kiểu “cưỡi ngựa xem hoa” Điều này đòi hỏi
GV phải học thực hiện từng công việc một, học cho đến khi có năng lực làm thành thạo công việc đó đạt chuẩn quy định, nếu chưa thành thạo thì chưa chuyển sang học công việc khác Như vậy, sau khi học hết chương trình khóa học người học sẽ có khả
Trang 25năng thực hiện thành thạo mọi công việc của nghề để có thể tìm được việc làm
Nguyên tắc này cũng đòi hỏi phải thay đổi chương trình đào tạo từ cấu trúc môn học sang cấu trúc mô đun theo NLTH từng nhiệm vụ, từng công việc của nghề Mặt khác, dạy học cũng phải chuyển từ dạy học theo môn học sang dạy học theo NLTH từng công việc của nghề
1.3.2.4 Quan tâm đến kết quả cuối cùng, ít quan tâm đến thời gian
Trong dạy học theo NLTH, người ta quan tâm đến kết quả mà người học cần
đạt được, kết quả cuối cùng là năng lực cần thiết mà mà người học cần có để thực hiện thành thạo từng công việc của nghề Tùy thuộc vào điều kiện dạy học và năng lực của người học mà thời gian dạy học để HS thành thạo công việc có thể thay đổi cho phù hợp Thời gian học tập cho từng công việc được thiết kế ban đầu chỉ mang tính kế hoạch, tùy thuộc điều kiện cụ thể của từng lớp học, thời gian dạy học từng NLTH có
thể thay đổi cho phù hợp
1.3.2.5 Tạo điều kiện cho người học học theo nhịp độ riêng và bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện các công việc
Nguyên tắc này đề ra yêu cầu đối với dạy nghề là mỗi người học cần có đủ phương tiện, thiết bị cần thiết để có thể học tập, đặc biệt là để thực hành từng công việc của nghề cho đến khi thành thạo Nói một cách khác, dạy nghề không thể “dạy chay” Nguyên tắc cơ bản này cũng đòi hỏi phải phân hóa trong dạy học, dạy học theo nhóm nhỏ và tiến tới cá thể hóa trong dạy học
1.3.2.6 Đánh giá kết quả học tập theo NLTH
Nguyên tắc này đòi hỏi dạy học theo NLTH phải đánh giá kết quả học tập theo chuẩn NLTH, không thể đánh giá theo phương pháp truyền thống: Lý thuyết tách rời thực hành và thái độ, không có chuẩn cụ thể, rõ ràng Nói một cách khác, dạy học theo NLTH đòi hỏi phải đổi mới cách đánh giá
Đánh giá kết quả học tập theo NLTH phải đồng thời đánh giá cả 3 mục tiêu đó là: kiến thức - kỹ năng - thái độ cần thiết để thực hiện công việc Trong 3 mục tiêu này thì mục tiêu kỹ năng là quan trọng nhất Nó quyết định tay nghề của người lao động Mục tiêu kiến thức, thái độ là những mục tiêu cần có để đạt được mục tiêu về kỹ năng
- Mục tiêu kiến thức [7]:
Trang 26Bảng 1.1 Các mức độ nắm vững kiến thức
1 Biết Nhắc lại các sự kiện
2 Hiểu Trình bày hoặc hiểu ý nghĩa của các sự kiện
3 Vận dụng Vận dụng các nguyên lý vào các trường hợp phức hợp
4 Phân tích,
tổng hợp
Vận dụng các nguyên lý vào các trường hợp phức hợp để trình bày mội giải pháp mới
5 Đánh giá Vận dụng các nguyên lý vào các trường hợp để đưa ra các giải
pháp mới và so sánh nó với các giải pháp đã biết trước
6 Sáng tạo Vận dụng những kiến thức đã học để sáng tạo ra cái mới
- Mục tiêu kỹ năng [7]:
Bảng 1.2 Các mức độ hình thành kỹ năng
1 Bắt chước Quan sát và làm theo rập khuôn
2 Làm được Quan sát và thực hiện được như hướng dẫn
3 Làm chính xác Quan sát và thực hiện một các chính xác như hướng dẫn
4 Làm thuần thục Làm thành thạo đạt chuẩn quy định, không cần sự hướng dẫn
5
Làm biến hoá Thực hiện công việc trong các hoàn cảnh và tình huống khác
nhau, có cải tiến
2 Có phản ứng Thừa nhận một cách tích cực, có quan tâm đến vấn đề
3 Có ý kiến đánh giá Đã nhập cuộc, có nhận xét về vấn đề vừa đặt ra
4 Cam kết thực hiện Thực hiện một cách chủ động, tự nguyện
5 Thành thói quen Đã trở thành tác phong lao động và lối sống của bản thân
Trang 271.3.3 Một số đặc trưng của dạy học theo NLTH
1.3.3.1 Định hướng đầu ra
Đặc điểm cơ bản nhất có ý nghĩa trung tâm của đào tạo nghề theo NLTH là nó
định hướng và chú trọng vào kết quả, vào đầu ra của quá trình đào tạo, điều đó có nghĩa là: Từng người học có thể làm được cái gì trong một tình huống lao động nhất định theo tiêu chuẩn đề ra
Trong đào tạo nghề theo NLTH, một người có NLTH là người:
- Có khả năng làm được cái gì đó (điều này có liên quan tới nội dung chương
trình đào tạo)
- Có thể làm được những cái đó tốt như mong đợi (điều này có liên quan tới
việc đánh giá kết quả học tập của người học dựa vào tiêu chuẩn nghề)
Theo định hướng đầu ra, mỗi người học làm được thông thạo công việc nào đó sau một thời gian học tập dài, ngắn khác nhau tuỳ thuộc chủ yếu vào khả năng, nhịp độ học của người đó Người học thực sự được coi là trung tâm và có cơ hội phát huy tính tích cực, chủ động của mình Với quan điểm của thuyết “Học thông thạo” (Mastery Learning) thì trong phương thức đào tạo theo NLTH, người ta không quy định cứng nhắc về thời gian học Đây là sự khác biệt cơ bản so với triết lý đào tạo truyền thống định hướng vào chương trình học tập theo niên chế cố định về thời gian Do vậy, tổ chức quá trình dạy học cần được thay đổi, chuyển từ dạy cho cả lớp sang dạy theo nhóm nhỏ và tiến tới cá nhân hóa trong dạy học Ở phương thức đào tạo theo NLTH, người học được phép tích luỹ tín chỉ về những gì đã học trước đó, không phải học lại những điều đã học một khi đã được công nhận là đã thông thạo, có khả năng thực hiện chúng theo tiêu chuẩn quy định
1.3.3.2 Mục tiêu dạy học
Với định hướng đầu ra, mục tiêu dạy học theo năng lực thực hiện đóng vai trò hết sức quan trọng đối với việc xác định nội dung học tập cũng như năng lực của người học Xây dựng một mục tiêu đúng có ảnh hưởng lớn đến người học và chất lượng dạy học Việc xác định đúng mục tiêu dạy học sẽ giúp:
• Xác định đúng được những NLTH cần được hình thành cho người học sau khi học xong bài học, mô đun hoặc toàn chương trình đào tạo;
• Giới hạn được nội dung dạy và học, hạn chế được những nội dung không
Trang 28cần thiết làm cho bài học được tinh giản;
• Cho phép GV và học sinh lựa chọn phương án “dạy” và “học” tối ưu;
• Giúp thiết kế công cụ đánh giá đúng kết quả học tập của người học;
• Định hướng cho người học biết mình sẽ được đánh giá như thế nào để tập trung vào học những vấn đề cốt lõi, không đi lan man trong quá trình học tập;
• Dễ dàng trong giám sát và quản lý chất lượng đào tạo
Các tiêu chí của mục tiêu
Mục tiêu phải đạt các tiêu chí sau đây:
• Cụ thể (Specific)
• Đo lường được (Measurable)
• Có thể đạt được (Achievable)
• Định hướng kết quả (Results - Oriented)
• Có giới hạn về thời gian (Time bound)
Cấu trúc của mục tiêu
Khi xây dựng mục tiêu bài học, cần xây dựng mục tiêu bao gồm đầy đủ 3 thành
tố của NLTH là kiến thức – kỹ năng – thái độ với các chuẩn cần đạt và các điều kiện cần thiết để người học có thể thực hiện quá trình học tập và đạt được mục tiêu sau khi kết thúc bài học
Các mục tiêu học nhận thức (kiến thức) được đạt bằng “đầu” Chúng liên quan đến các khả năng trí tuệ như việc tiếp nhận tri thức và kiến thức và phát triển tư duy logic [20]
Các động từ điển hình trong phần hành vi của một mục tiêu học nhận thức là:
Trang 29Các động từ điển hình trong phần hành vi của một mục tiêu học tâm lý vận động là:
Các động từ điển hình trong phần hành vi của một mục tiêu học cảm xúc là:
1.3.3.3 Nội dung dạy học
Để dạy học theo NLTH, việc lựa chọn nội dung bài giảng được tiến hành sau khi đã xác định rõ ràng được mục tiêu và các tiêu chí đánh giá kết quả học tập Việc thiết kế nội dung bài giảng là lựa chọn những nội dung sao cho vừa đủ, không thiếu, cũng không thừa để cụ thể hóa mục tiêu bài học và để sau khi học xong bài học thì người học có khả năng hoàn thành tốt các nội dung và tiêu chí đánh giá của bài giảng Nội dung dạy học không được chọn tùy tiện, thích gì dạy nấy, đi lan man, đề cập đến những vấn đề không cần thiết cho bài học Nói một cách khác, mục tiêu, tiêu chí đánh giá và nội dung dạy học phải là một thể thống nhất theo tiếp cận NLTH các công việc của nghề với những chuẩn được quy định trong điều kiện cho trước
Một vấn đề cần lưu ý là nội dung dạy học theo NLTH phải tích hợp giữa lý thuyết và thực hành theo từng công việc của nghề Do vậy, để dạy học theo NLTH, nội dung bài giảng cần được trình bày theo trình tự từng công việc, phần việc, những kiến
Trang 30thức, kỹ năng và thái độ cần thiết phải được hình thành để người học có thể học thực hiện thành thạo từng công việc của nghề trong những điều kiện nhất định
Mặt khác, khi thiết kế nội dung bài học phải chú ý đến việc gắn bó giữa nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học và việc áp dụng tối đa phương pháp dạy học tích cực và công nghệ dạy học hiện đại vào bài giảng
1.3.3.4 Đánh giá kết quả học tập theo NLTH
Trong giáo dục và đào tạo nói chung, đặc biệt là trong đào tạo theo NLTH nói riêng, đánh giá và xác nhận kết quả học tập (NLTH) là thành phần cực kỳ quan trọng,
là một trong những khâu có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và hiệu quả đào tạo
Việc đánh giá trong đào tạo theo NLTH phải được thực hiện theo Tiêu chí (Criteria Referenced Assessment), nghĩa là nó đo sự thực hiện hay thành tích của người học trong mối liên hệ so sánh với các tiêu chí, tiêu chuẩn chứ không có liên hệ so sánh
gì với sự thực hiện hay thành tích của người khác Các tiêu chí đánh giá NLTH được xác định từ các tiêu chuẩn nghề quốc gia và một số quy định, tiêu chuẩn riêng khác [17]
Sự thông thạo các NLTH của người học được đánh giá theo các quan điểm sau:
• Người học phải thực hiện các công việc theo cách thức giống như của người lao động thực hiện trong thực tế lao động nghề nghiệp;
• Đánh giá riêng rẽ từng cá nhân người học khi họ thực thi và hoàn thành công việc;
• Kiến thức liên quan và thái độ cần có đều là những bộ phận cấu thành cần được kiểm tra đánh giá;
• Các tiêu chuẩn dùng trong việc đánh giá là những yêu cầu đặt ra ở mức độ tối thiểu để đảm bảo rằng sau khi học xong thì người học bước vào làm việc được chứ không phải là để đem so sánh với những người học khác Trên cơ sở đó, người ta có thể công nhận các kỹ năng hoặc các kiến thức đã được thông thạo trước đó;
• Các tiêu chí và chỉ số dùng cho đánh giá được công bố cho người học biết trước khi kiểm tra đánh giá
• Đánh giá kết quả học tập của người học theo năng lực thực hiện không phải là đánh giá xem người học đã thu nhận được những gì trong quá trình học tập mà
là đánh giá người học đã có những năng lực gì để có thể hoàn thành được những công
Trang 31việc nào của nghề đến mức độ thành thạo nào so với chuẩn quy định
Như vậy, đánh giá kết quả học tập theo NLTH phải đồng thời đánh giá cả 3 thành tố là: Kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để thực hiện từng công việc Tuy nhiên, trong 3 thành tố của NLTH thì kỹ năng là quan trọng nhất, là cốt lõi để người lao động có thể hành nghề, kiến thức và thái độ là những thành tố hỗ trợ cho việc hình thành và phát triển kỹ năng nghề nghiệp
1.3.4 Tổ chức dạy học theo NLTH
Dạy học theo NLTH trước hết cần phải bám vào mục tiêu của bài học là phải hình thành cho người học năng lực gì để có thể thực hiện được công việc nào của nghề sau khi kết thúc bài học Do vậy, quá trình dạy học phải được tổ chức dạy học theo từng công việc một cho đến mức thành thạo mới dạy học sang công việc khác Bộ 3 Kiến thức - Kỹ năng - Thái độ để thực hiện từng công việc của nghề phải gắn chặt với nhau trong quá trình dạy học, nói một cách khác phải dạy tích hợp lý thuyết với thực hành, trong đó thực hành là cốt lõi để hình thành được kỹ năng thực hiện được công
việc Tuy nhiên để có kỹ năng, người học cần được trang bị những kiến thức cần thiết với mức độ vừa đủ, không thừa cũng không thiếu để hiểu được phải thực hiện công
việc đó như thế nào và cần có thái độ gì để hoàn thành tốt được công việc đó
Nói một cách khác, dạy học theo NLTH là dạy việc thực hiện từng công việc, từng nhiệm vụ của nghề, tích hợp giữa lý thuyết và thực hành không phải dạy một
chương hoặc một mục nào đó của môn học tách rời các bài học thực hành riêng rẽ mà phải tích hợp được lý thuyết chuyên môn nghề với thực hành nghề và thái độ cần thiết để thực hiện thành thạo đạt chuẩn quy định một công việc nào đó của nghề Phải
triệt để tuân thủ nguyên tắc dạy học là người học phải "Học thành thạo từng NLTH trước khi qua NLTH khác"
Bên cạnh đó, với triết lý "Để thành thạo công việc cần có những điều kiện nhất định trong quá trình học tập", dạy học theo NLTH không thể dạy chay mà phải có những điều kiện cần thiết như máy, vật tư, nhiên liệu để học thực hành, các phương tiện kỹ thuật dạy học, điện, nước, ánh sáng, … để việc dạy học đạt kết quả
Như vậy, dạy học theo NLTH có những khác biệt sau đây so với dạy học truyền thống:
Trang 32Bảng 1.4 Sự khác biệt giữa dạy học theo NLTH và dạy học truyền thống
- Hướng tới việc làm
- Theo chuẩn nghề nghiệp
2 Nội dung dạy
học
- Theo chương trình khung
- Cấu trúc theo môn học
- Chương trình cấu trúc theo
mô đun NLTH của nghề
- Theo chuẩn nghề nghiệp
1.3.5 Ưu, nhược điểm của dạy học theo NLTH
1.3.5.1 Ưu điểm
Ưu điểm nổi bật của dạy học theo NLTH là đáp ứng được nhu cầu của cả người học lẫn người sử dụng lao động qua đào tạo Với người học, sau khi tốt nghiệp chương trình đào tạo theo NLTH sẽ có năng lực thực hiện thành thạo được các công việc của nghề đạt chuẩn quy định để có cơ hội tìm được việc làm, nhấn mạnh năng lực vận dụng của học sinh Với người sử dụng lao động, sẽ có được những công nhân lành
nghề đáp ứng được yêu cầu của sản xuất để lao động có chất lượng và hiệu quả
Tuy nhiên cần lưu ý rằng chất lượng giáo dục không chỉ thể hiện ở kết quả đầu
ra mà còn phụ thuộc nội dung đầu vào cũng như quá trình thực hiện
Trang 331.3.6 Những điều kiện để dạy học theo NLTH
1.3.6.1 Chương trình được thiết kế theo phương pháp phân tích nghề DACUM
DACUM là cụm từ viết tắt của Development A Curriculum (phát triển chương
trình) Thực chất DACUM là phương pháp phân tích nghề thực tiễn trong sản xuất/ dịch vụ để xây dựng một chương trình đào tạo Bản chất của DACUM là một phương pháp hay kỹ thuật phân tích nghề (Occupational Analysis) là sự phối hợp hoạt động của một nhóm các chuyên gia đang hoạt động trong nghề cụ thể (họ được coi là những chuyên gia nội dung) dưới sự điều hành của một chuyên gia phương pháp trong một hội thảo phân tích nghề
Kết quả của phân tích nghề là sơ đồ DACUM, sơ đồ này chỉ rõ trong lao động nghề nghiệp, người công nhân phải hoàn thành bao nhiêu nhiệm vụ, mỗi nhiệm vụ có bao nhiêu công việc phải làm như ở sơ đồ 1.3
Sơ đồ 1.3 Sơ đồ phân tích nghề DACUM
Như vậy để thiết kế một chương trình đào tạo nghề, việc đầu tiên là phải xác định được nội dung nghề đó bao gồm bao nhiêu công việc để thiết kế nội dung đào tạo sao cho khi học xong chương trình thì người học có khả năng làm thành thạo tất cả các công việc của nghề
Tiếp theo phân tích nghề theo DACUM là phân tích từng công việc (Tasks Analysis) để biết được người lao động cần có những kiến thức, kỹ năng và thái độ gì
để có thể thực hiện được công việc đó của nghề để đạt chuẩn quy định Tập hợp tất cả các bộ 3 kiến thức - kỹ năng - thái độ có được sau khi phân tích các công việc chính là chương trình đào tạo nghề theo NLTH
Như vậy, để đào tạo nghề theo NLTH, HS cần học khoảng 75-125 NLTH tùy
Trang 34thuộc vào mức độ phức tạp của mỗi nghề để có thể hoàn thành được tất cả các công việc của nghề và để có cơ hội tìm được việc làm
1.3.6.2 Nội dung chương trình đào tạo được cấu trúc theo mô đun tích hợp giữa lý
thuyết và thực hành nghề
Chương trình dạy học theo NLTH là dạy hoàn thành từng công việc và từng nhiệm vụ của nghề Do vậy yêu cầu tiên quyết là nội dung đào tạo phải được cấu trúc thành từng mô đun tích hợp giữa lý thuyết và thực hành nghề, không xây dựng theo các môn học truyền thống bao hàm quá nhiều kiến thức lý thuyết riêng biệt và tách rời thực hành mà phải được cấu trúc thành mô đun tích hợp giữa lý thuyết và thực hành
Chương trình đào tạo cần được thiết kế sao cho kiến thức lý thuyết vừa đủ và liên quan với thực hành nghề ngay sau đó Chỉ có như vậy mới có thể đáp ứng được các mục tiêu của dạy học theo NLTH
1.3.6.3 Giáo viên được bồi dưỡng về dạy học theo NLTH
Dạy học theo NLTH đòi hỏi giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng,
có kỹ năng thực hành, năng lực sư phạm để có thể vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành GV một mặt phải nắm vững nội dung khoa học của môn học, mặt khác phải có
kỹ năng nghề nghiệp cao đồng thời có khả năng sử dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực và có khả năng tổ chức quá trình dạy học, tổ chức các hoạt động học tập của HS một cách có hiệu quả
Với chương trình đào tạo được thiết kế tiếp cận NLTH, giáo viên cần nắm vững phương pháp dạy học theo NLTH để thực hiện tổ chức dạy học có hiệu quả
1.3.6.4 Có đầy đủ các phương tiện dạy học và cơ sở vật chất cần thiết để dạy học
theo NLTH
Trong dạy học theo NLTH, điều kiện phương tiện, trang thiết bị dạy học là yếu
tố rất quan trọng, không thể thiếu để HS có thể học theo NLTH Với mỗi chủ đề dạy học mỗi công việc của nghề, cần có những phương tiện dạy học và cơ sở vật chất cần thiết để dạy học, đặc biệt là dạy học thực hành Nếu không có những phương tiện dạy
học và cơ sở vật chất cần thiết thì HS không thể hình thành được NLTH các công việc
của nghề đồng thời không thể chủ động và sáng tạo trong học tập
Nói một cách khác, để dạy học theo NLTH cần có đầy đủ các phương tiện dạy học và cơ sở vật chất cần thiết để có thể dạy và học tất cả các công việc của nghề
Trang 35Kết luận chương 1
Đào tạo theo NLTH đang là một xu thế ngày càng được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới và cũng đang là một chủ trương về đổi mới đào tạo nhân lực ở nước ta Dạy học theo NLTH tích hợp giữa lý thuyết và thực hành thực hiện được nguyên lý học đi đôi với hành, nhờ vậy nâng cao được chất lượng đào tạo và người học sau khi kết thúc khóa đào tạo có nhiều cơ hội để tìm được việc làm Mặt khác, các doanh nghiệp có được những người lao động đáp ứng được yêu cầu của sản xuất, nhà nước có điều kiện để thực hiện các mục tiêu phát triển KT-XH
Để dạy học theo NLTH, cần nắm vững các triết lý của dạy học theo NLTH là:
- Học để thành thạo các công việc của nghề, để có cơ hội tìm được việc làm;
- Chuẩn nghề nghiệp là thước đo của sự thành thạo công việc, là cái đích cần đạt;
- Để thành thạo công việc cần có những điều kiện nhất định trong quá trình học tập Dạy học theo NLTH cần tuân thủ các các nguyên tắc:
- Các NLTH phải được xác định từ yêu cầu sản xuất và công bố trước cho người học;
- Các tiêu chí, chuẩn đánh giá và điều kiện thực hiện phải được công bố công khai trước cho người học;
- Học thành thạo từng NLTH trước khi qua NLTH khác;
- Quan tâm đến kết quả cuối cùng, ít quan tâm đến thời gian;
- Tạo điều kiện cho người học học theo nhịp độ riêng và bảo đảm các điều kiện cần thiết để thực hiện;
- Đánh giá kết quả học tập theo NLTH
Dạy học theo NLTH mang lại nhiều lợi ích, tuy nhiên, để dạy học theo NLTH cần một số điều kiện thiết yếu như: Chương trình đào tạo được thiết kế theo phương pháp phân tích nghề DACUM; Nội dung chương trình đào tạo được cấu trúc theo mô đun tích hợp giữa lý thuyết và thực hành nghề; Giáo viên được bồi dưỡng về dạy học theo năng lực thực hiện; Có đầy đủ các phương tiện dạy học và cơ sở vật chất cần thiết để
dạy học theo NLTH
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ DẠY HỌC MÔN TIN HỌC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ NINH BÌNH 2.1 Sơ lược về lịch sử phát triển của trường
Trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình được thành lập 08/10/2008, tiền thân là trường Cán bộ Y tế Ninh Bình(1963), sau chuyển đổi thành trường Trung cấp Y tế Ninh Bình
và hiện nay trường có tên: Cao Đẳng Y tế Ninh Bình Với bề dày lịch sử hơn 49 năm thành lập và phát triển, gắn liền với những thăng trầm của dân tộc, trải qua muôn vàn khó khăn Hiện tại, trường có 3 cơ sở đào tạo; Có 3 khu giảng đường gồm 32 phòng học hiện đại, trong đó 22 phòng có máy chiếu Projector cố định, 5 phòng thực tập Điều dưỡng, 4 phòng thực tập Dược, 1 phòng thực tập Đông y, một phòng tiền Lâm sàng, 5 phòng thực tập Mô phôi, Giải phẫu, 3 phòng thực tập Tin học trong đó một phòng có đủ số máy để học sinh thi kết thúc các môn trên máy, 1 Phòng có các cabin học ngoại ngữ và 1 Phòng đọc của Thư viện đang được ứng dụng phần mềm thư viện điện tử Các phòng thực tập đều được trang bị phương tiện hiện đại đạt chuẩn Quốc gia Nhà trường đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giảng dạy và học tập, đồng thời xây dựng thư viện điện tử mã nguồn mở, phấn mềm kiểm tra, đánh giá chất lượng học sinh, sinh viên bằng máy
Nhà trường đặc biệt chú trọng không chỉ chất lượng đầu vào mà còn chú trọng chất lượng đầu ra Lớp lớp học sinh ra trường với chuyên môn được đào tạo đã khẳng định mình, được xã hội chấp nhận, công tác làm việc tại các cơ sở khám chữa bệnh phòng bệnh của tỉnh Ninh Bình và khu vực Sau ba năm chuyển đổi từ hệ Trung cấp lên Cao đẳng, trường đã có những bước chuyển mình cả về chiều rộng lẫn chiều sâu,
có nhiều kết quả trong công tác học tập và giảng dạy
2.2 Các ngành nghề đào tạo và quy mô đào tạo
Những năm gần đây nhà trường luôn tăng chất lượng cũng như số lượng đào tạo Học sinh năm sau cao hơn năm trước bình quân /năm Từ chỗ đào tạo 2 ngành nghề thuộc lĩnh vực y tế (y sĩ, điều dưỡng), hiện nay trường đào tạo 4 ngành nghề trung cấp
và 1 ngành nghề cao đẳng:
+ Trung cấp: Y sĩ; Điều dưỡng; Hộ sinh; Dược trung
+ Cao đẳng: Điều dưỡng
Trang 37Đào tạo liên thông Cao đẳng
Đào tạo liên kết với cơ sở ở: Vĩnh Phúc; Nga Sơn; Ngọc Lặc; trường H13 Tam
Điệp; trường H14 Tam Điệp
Bồi dưỡng tay nghề cho y tế thôn bản
Hiện đang dự tính mở thêm 2 ngành nghề nữa là: Kỹ thuật viên xét nghiệm; Y sĩ
cộng đồng
Trong những năm gần đây nhà trường đã đào tạo được số lượng lớn học sinh:
Năm 2007 tuyển sinh chỉ tiêu 640
Năm 2008 tuyển sinh chỉ tiêu 1500
Năm 2009 tuyển sinh chỉ tiêu 2497
Năm học 2009 – 2010 Số sinh viên trong trường như ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Số lượng HSSV trong trường năm học 2009-2010
Năm thứ nhất Năm thứ hai
2.3 Các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy học
2.3.1 Đội ngũ cán bộ, giáo viên
2.3.1.1 Về số lượng và trình độ
Giảng viên cơ hữu là 79, trong đó có 12 giảng viên trình độ thạc sĩ và 8 giảng
viên trình độ chuyên khoa I, tỷ lệ trình độ trên đại học chiếm 25,3%
Giảng viên hợp đồng có 41, trong đó có 1 giảng viên trình độ thạc sĩ, 2 giảng
viên chuyên khoa II, 19 giảng viên chuyên khoa I Tỷ lệ trình độ trên đại học chiếm
63,6%
Giảng viên thỉnh giảng có 44, trong đó có 9 giảng viên trình độ thạc sĩ, 6 giảng
viên chuyên khoa II, 25 giảng viên chuyên khoa I Tỷ lệ trình độ trên đại học chiếm
53,3%
Trang 38Bảng 2.2 Số lượng và trình độ của giảng viên
Giảng viên thỉnh giảng Tổng
Trong đó đội ngũ giáo viên tổ Tin học:
Bảng 2.3 Số lượng, trình độ chuyên môn của giảng viên tin học
STT Trình độ
chuyên môn
Giảng viên cơ hữu Giảng viên hợp đồng Tổng
2.3.1.2 Về lĩnh vực chuyên môn
Giảng viên cơ hữu giảng dạy phân theo chuyên môn được đào tạo theo chương
trình giáo dục đại cương có 26 giảng viên, cơ sở có 23 giảng viên, chuyên ngành có 30
giảng viên và được biên chế sinh hoạt chuyên môn theo 5 bộ môn của trường
Bảng 2.4 Cơ cấu đội ngũ giảng viên cơ hữu theo chuyên môn đào tạo
Độ tuổi từ 51 – 60 tuổi chiếm tỷ lệ ít nhất, chỉ có 10,1%, cao nhất là độ tuổi từ 41
– 50 tuổi có 26 người, chiếm tỷ lệ 32,9% Nam giảng viên có 26 người chiếm 32,9%,
nữ giảng viên có 53 người chiếm 67,1%
Trang 39Bảng 2.5 Độ tuổi của giảng viên cơ hữu
Trong đó đội ngũ giáo viên tổ Tin học:
Bảng 2.6 Độ tuổi của giảng viên tin học cơ hữu
Biểu đồ 2.1 Biểu diễn độ tuổi của giảng viên tin học cơ hữu
2.3.1.4 Về kinh nghiệm công tác, nghiệp vụ sư phạm và trình độ khác
- Chứng chỉ ngoại ngữ trình độ B trở lên đạt 86% (68/79 giảng viên)
- Chứng chỉ tin học trình độ B trở lên đạt 89,9% (71/79 giảng viên)
- Thâm niên giảng dạy: Dưới 5 năm: 5 người; Dưới 10 năm: 1 người
Trang 40Bảng 2.7 Tiêu chuẩn chuyên môn của giảng viên
Stt Tiêu chuẩn chuyên môn Theo yêu cầu Thực tế có được
- 10 Thạc sĩ y khoa
2 Kinh nghiệm công tác
bệnh viện
- 24 tháng làm việc trong bệnh viện đối với Điều dưỡng
- 12 tháng đối với Bác sĩ
100%
100%
4 Chứng chỉ ngoại ngữ Trình độ B trở lên 86% (68 người)
5 Chứng chỉ tin học Trình độ B trở lên 89,9% (71 người)
Nhận xét: Dựa vào các số liệu trên cho thấy trình độ giáo viên trong trường có
trình độ đại học và trên đại học có tỷ lệ cao Tuổi đời lại rất trẻ, thâm niên công tác còn
ít do đó trong quá trình công tác các thầy cô trong tổ rất nhiệt tình trong công tác, chịu khó tìm tòi sáng tạo, ứng dụng phương pháp, công nghệ dạy học hiện đại Tuy nhiên trong việc đổi mới phương pháp dạy học còn gặp nhiều khó khăn, nhất là dạy học theo NLTH là một vấn đề còn mới mẻ
2.3.2 Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
Bảng 2.8 Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của trường Cao đẳng Y tế Ninh Bình