LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn “Một số giải pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, giáo viên dạy nghề tại Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội đá
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn thầy giáo, cô giáo, cán bộ và nhân viên Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Viện Sư phạm Kỹ thuật đã tạo điều kiện, giúp đỡ nhiệt tình tác giả trong quá trình học tập cũng như nghiên cứu đề tài này
Tác giả xin cảm ơn các lãnh đạo, chuyên viên Vụ Giáo viên và Cán bộ quản lý dạy nghề, Tổng cục Dạy nghề, các cán bộ quản lý đào tạo nghề ở một
số Bộ, ngành, Ban giám hiệu, cán bộ, giáo viên trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội và một số trường Cao đẳng nghề khác thuộc diện khảo sát của
đề tài đã giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập số liệu, đánh giá thực trạng
để hoàn thành luận văn
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với những người thân trong gia đình, đối với bạn bè đã kịp thời cổ vũ, động viên, giúp đỡ mọi mặt để tác giả chuyên tâm học tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến TS Nguyễn Đắc Trung đã hướng dẫn và chỉ bảo để tác giả hoàn thành bản luận văn
Dù đã có nhiều cố gắng song chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tác giả kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy giáo, cô giáo và các bạn./
Hà Nội, 22 tháng 3 năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Duy
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Một số giải pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, giáo viên dạy nghề tại Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội đáp ứng tiêu chí trường nghề chất lượng cao đến năm 2020” là công trình nghiên cứu độc lập do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Đắc Trung và giảng viên khác trong Viện Sư phạm Kỹ thuật - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Các nội dung và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và khách quan
Hà Nội, ngày 22 tháng 3 năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Duy
Trang 3BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
ASEAN: Tổ chức hiệp hội các nước Đông Nam Á
CNH – HĐH: Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
CP: Chính phủ
DN: Dạy nghề
ĐP: Địa phương
GD - ĐT: Giáo dục - đào tạo
GDKT và DN: Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
HSSV: Học sinh sinh viên
ILO: International Labour Organization - Tên tổ chức Lao động quốc tế KOIKA: Korea International Cooperation Agency - Tên dự án hỗ trợ dạy nghề của Hàn Quốc
LĐTBXH: Lao động Thương binh và Xã hội
ODA: Vốn vay ưu đãi
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Biểu 1.1: Các tiêu chí và tiêu chuẩn trong đánh giá giáo viên 24
Biểu 2.2 Số liệu đào tạo qua các năm theo các cấp đào tạo 42
Biểu 2.3 Thiết bị chuyên dùng dạy lý thuyết 43
Biểu 2.4 Thiết bị chuyên dùng dạy thực hành 44
Biểu 2.5 Số cán bộ, giáo viên qua các năm 50
Biểu 2.6 Tỷ lệ sinh viên/1giáo viên qua các năm học 51
Biểu 2.7 Trình độ chuyên môn được đào tạo của giáo viên 52
Biểu 2.8 Trình độ chuyên ngành của giáo viên năm học 2014 53
phân theo các khoa 53
Biểu 2.9 Đào tạo thạc sỹ của các khoa qua các năm 54
Biểu 2.10 Kỹ năng của đội ngũ giáo viên 56
Biểu 2.11 Đề tài nghiên cứu được giáo viên thực hiện qua các năm học 57
Biểu 2.14 Thâm niên giảng dạy của giáo viên tính đến năm 2014 61
Biểu 2.15 Số giáo viên phân theo tính chất định biên 62
Biểu 2.16 Cơ cấu đội ngũ giáo viên theo ngành nghề đào tạo 63
Biểu 2.19 Ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý về hiệu quả các khóa bồi dưỡng cho giáo viên dạy nghề đã thực hiện trong 3 năm 69
Bảng 2.20 Ý kiến đánh giá của đội ngũ giáo viên về hiệu quả các khóa đào tạo, bồi dưỡng cho giáo viên dạy nghề đã thực hiện trong 3 năm 70
Biểu 3.1 Kế hoạch phát triển trình độ cho đội ngũ giáo viên dạy nghề 84
Biểu 3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết của các giải pháp 99
Biểu 3.4 Khảo nghiệm tính khả thi của các giải pháp 100
Trang 5DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH
Sơ đồ 2.1 : Mô hình tổ chức bộ máy của trường Cao đẳng nghề Công nghiệp
Hà Nội 40
Hình 2.12 Thống kê tổng thu nhập/tháng của giáo viên 59
Hình 2.13 Cơ cấu đội ngũ giáo viên theo giới tính 60
Hình 2.17 Việc lập kế hoạch công tác của đội ngũ giáo viên 65
Hình 2.18 Công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên 68
Sơ đồ 3.2 Mối quan hệ giữa các giải pháp 98
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4
4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn 4
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 5
6 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY NGHỀ 6
1.1 Các khái niệm cơ bản 6
1.1.1 Giáo viên 6
1.1.2 Giáo viên dạy nghề 6
1.1.3 Chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề 7
1.1.4 Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề 7
1.2 Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề 10
1.2.1 Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề về số lượng 10
1.2.2 Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề về mặt chất lượng 12
1.2.3 Phát triển về cơ cấu đội ngũ giáo viên dạy nghề 17
1.3 Các tiêu chí phản ánh chất lượng giáo viên dạy nghề, tiêu chí về giáo viên đạt chuẩn trường nghề chất lượng cao 18
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên trường CĐN 25 1.5 Sự cần thiết phát triển chất lượng đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội 29
1.6 Kinh nghiệm phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề 31
1.6.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới 31
1.6.2 Kinh nghiệm rút ra 34
Tiểu kết chương 1 36
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 37
Trang 72.1 Khái quát về trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội 37
2.1.1 Quá trình phát triển của trường cao đẳng nghề công nghiệp Hà Nội 37
2.1.2 Về tổ chức và quản lý nhà trường 39
2.1.3 Về đào tạo 40
2.1.4 Về cơ sở vật chất trang thiết bị 42
2.2 Thực trạng đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội 48 2.2.1 Thực trạng về số lượng 48
2.2.2 Thực trạng về chất lượng 51
2.2.3 Thực trạng về cơ cấu 60
2.2.4 Kết quả khảo sát về chất lượng đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội 63
2.3 Đánh giá chung về thực trạng đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội 72
2.3.1 Ưu điểm 72
2.3.2 Hạn chế 73
2.3.3 Nguyên nhân 74
Tiểu kết chương 2 76
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NHẰM PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN, GIÁO VIÊN TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 77
3.1 Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên trường cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội 77
3.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển đội ngũ giáo viên để phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ thời kỳ 2011-2020 77
3.1.2 Định hướng phát triển đội ngũ giáo viên giai đoạn 2015-2020 80
3.2 Một số giải pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên tại trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội đáp ứng tiêu chí trường nghề chất lượng cao đến năm 2020 86
3.2.1 Giải pháp 1: Xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên đến năm 2020 86
3.2.2 Giải pháp 2: Đổi mới công tác tuyển dụng và sử dụng hợp lý đội ngũ giáo viên 88
Trang 83.2.3 Giải pháp 3: Tăng cường giáo dục, tuyên truyền thông tin nhằm
nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của đội ngũ giáo viên 90
3.2.4 Giải pháp 4: Tổ chức đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên 91
3.2.5 Giải pháp 5: Tăng cường kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên 95
3.2.6 Giải pháp 6: Xây dựng và thực hiện các chính sách đãi ngộ nhằm phát triển đội ngũ giáo viên 96
3.3 Mối liên hệ giữa các giải pháp 97
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp 98
KHUYẾN NGHỊ 101
1 Đối với Bộ Lao động Thương Binh và Xã Hội và Tổng cục Dạy nghề 101
2 Đối với Uỷ ban nhân dân TP Hà Nội 102
3 Đối với trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội 102
Tiểu kết chương 3 104
KẾT LUẬN 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC 109
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Có thể khẳng định rằng không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển nào đối với con người nói riêng và xã hội nói chung Do vậy, trong chiến lược phát triển đất nước Đảng ta luôn khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Tại Đại hội Đảng lần thứ IX đã định hướng với mục tiêu tổng quát
là “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đề đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại” [19]; Đại hội lần thứ X Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh, coi con người “vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển” và Đại hội lần thứ XI thì Đảng ta đã coi trọng việc “nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện”[18]
Hiện nay, Giáo dục đào tạo đang phát triển mạnh mẽ cùng quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước, do vậy Đại hội lần thứ XI của Đảng đã khẳng định chất lượng nguồn lực của quá trình giáo dục đào tạo nói chung phụ thuộc vào năng lực của đội ngũ giáo viên nhất là phụ thuộc vào tính hữu ích của môn học; thời gian của chủ đề, bài giảng; phương pháp giảng dạy; quan hệ Thầy – trò… có thể nói, chủ trương “phát triển đội ngũ giáo viên là khâu then chốt” trong chiến lược “đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đào tạo” [18] đã và đang đi vào cuộc sống
Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đang có những bước chuyển biến phát triển mạnh mẽ Cùng với quá trình này thì những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới cũng được áp dụng một cách rộng rãi hơn vào các quá trình sản xuất Điều đó càng đòi hỏi nguồn nhân lực phải có đủ trình độ tay nghề, muốn vậy thì đào tạo nghề cần có những đột phá mới, giảm thiểu sự mất cân đối giữa cung và cầu của thị trường lao động
Đào tạo nghề không những cần tăng cường về quy mô, đa dạng hóa các loại hình, mà còn cần đặc biệt chú trọng đến nâng cao chất lượng đào tạo Muốn vậy phải đồng thời thực hiện đồng bộ hệ thống các giải pháp về quy
mô, cơ cấu ngành nghề, chất lượng đào tạo, thì điều quan trọng trước hết là xây dựng nâng, cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề
Trang 10Chỉ thị 40-CT/TW cũng đã xác định nhiệm vụ giáo dục giai đoạn mới rất cụ thể là nhằm xây dựng và kiện toàn đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý ngang tầm với yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục, đào tạo
Bên cạnh đó, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 – 2020 tại Quyết định 630/QĐ-TTg ngày 29/5/2012với mục tiêu đến năm 2020, dạy nghề đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu nghề và trình độ đào tạo; chất lượng đào tạo của một số nghề đạt trình độ các nước phát triển trong khu vực ASEAN và trên thế giới; hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; phổ cập nghề cho người lao động, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập, giảm nghèo vững chắc, đảm bảo an sinh xã hội Để đạt được mục tiêu chiến lược, cần thực hiện đồng bộ 09 giải pháp mà trong đó, giải pháp “Phát triển đội ngũ giảng viên, giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề” là một trong hai giải pháp đột phá Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 761/QĐ-TTg ngày 23/5/2014 duyệt danh “Đề án phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm 2020, trong đó có Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội
Đối với Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội, trong những năm qua, đã có những bước phát triển đáng kể Là một trường công lập ngày được thành lập vào ngày 22 tháng 11 năm 1974 và đến ngày 29 tháng 12 năm 2006 chính thức nâng cấp thành trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội Tính đến nay đã có 40 năm hoạt động Hiện nay nhà trường có 4 hệ đào tạo, 20 ngành nghề đào tạo với hơn 3.500 sinh viên và hơn 200 cán bộ giáo viên Nhà trường đã có bề dày lịch sử và truyền thống trong thi đua dạy tốt, học tốt, sinh viên ra trường có tỷ lệ việc làm cao Trong 20 ngành nghề đào tạo hiện nay của trường thì có 2 nghề đào tạo được Nhà nước lựa chọn đầu tư thành nghề trọng điểm cấp độ quốc tế và 3 nghề đào tạo cấp độ khu vực ASEAN (Quyết định số 854/QĐ-BLĐTBXH ngày 06/6/2013 của Bộ Lao động – Thương binh
và Xã hội phê duyệt nghề trọng điểm và trường được lựa chọn nghề trọng điểm giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020)
Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển thành trường dạy nghề chất lượng cao và đòi hỏi phát triển nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu cầu công
Trang 11nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước, Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội đang có những hạn chế, bất cập về nhiều mặt Riêng đối với công tác phát triển đội ngũ giáo viên của Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội còn thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng; Kỹ năng sư phạm của một số giáo viên còn hạn chế, giáo viên dạy thực hành nghề còn thiếu kinh nghiệm thực tế sản xuất, khả năng tiếp cận và cập nhật những kỹ thuật tiên tiến, công nghệ mới còn nhiều hạn chế Năng lực bổ trợ (ngoại ngữ, tin học ) của giáo viên chưa đáp ứng tốt nhu cầu đổi mới và phát triển dạy nghề tại cơ sở dạy nghề
Sự hạn chế này do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, trong đó có nguyên nhân là do công tác phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề của trường còn nhiều bất cập
Để thực hiện được các mục tiêu phát triển Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội thành trường dạy nghề chất lượng cao, bên cạnh những giải pháp đổi mới mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo và đánh giá kết quả đào tạo; tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo; cần phải phát triển ĐNGV nhà trường đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo về chất lượng đáp ứng tiêu chí về giáo viên của trường nghề chất lượng cao và yêu cầu đổi mới đào tạo của nhà trường, góp phần thực hiện thành công Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 – 2020 cũng như Chiến lược phát triển nguồn nhân lực nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020 Đó là
lý do để chúng tôi chọn đề tài: "Một số giải pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, giáo viên dạy nghề tại Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội đáp ứng tiêu chí trường nghề chất lượng cao đến năm 2020" để nghiên cứu
2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Nhiệm vụ:
Vận dụng những kiến thức đã được học trong chương trình thạc sỹ quản lý giáo dục vào thực tiễn phát triển đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội
Trang 12Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng đội ngũ giáo viên trường cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội, đóng góp một số kiến nghị nhằm phát triển đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội
Hệ thống cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề
Phân tích đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội
- Mục đích: Đề xuất các giải pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề và tiến tới đạt chuẩn trường nghề chất lượng cao đến năm 2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu mà đề tài tập trung nghiên cứu là công tác phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề của Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội, bao gồm cả giáo viên kiêm chức và giáo viên thỉnh giảng có vai trò nhất định trong công tác giảng dạy của trường
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Đề tài nghiên cứu vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội Trong đó, tập trung vào giáo viên dạy trình độ cao đẳng nghề tại một số nghề được đầu tư trọng điểm cấp
độ quốc tế, khu vực ASEAN Ngoài ra, có nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề của Tổng cục Dạy nghề
và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội
+ Về thời gian: Năm 2013-2014 và những đề xuất kế hoạch giai đoạn 2015-2020
4 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Nguồn thông tin
+ Dữ liệu thứ cấp: các văn bản liên quan đến công tác tuyển dụng, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ giáo viên như: báo cáo tổng kết về công tác tuyển sinh, phân bổ giáo viên tới các khoa, đào tạo nâng cao trình độ qua các năm 2012, 2013, 2014, văn bản về kế hoạch tuyển sinh, công tác đào tạo nguồn nhân lực năm 2015…
Trang 13+ Dữ liệu sơ cấp: số liệu thống kê, khảo sát
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp bảng hỏi: bảng hỏi sẽ được xây dựng riêng cho 2 nhóm đối tượng: Nhóm đối tượng quản lý, và nhóm cán bộ là các giáo viên dạy nghề
Mỗi bảng hỏi bao gồm 2 dạng câu hỏi: câu hỏi đóng và câu hỏi mở xoay quanh vấn đề về thực trạng phát triển ĐNGV của trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội và giải pháp có thể sử dụng để phát triển ĐNGV của trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội
+ Phương pháp phân tích số liệu: các số liệu được cung cấp bởi nguồn thông tin sơ cấp sẽ được thống kê lại và phân tích Công cụ sử dụng để phân tích số liệu là Excel
+ Phương pháp so sánh: so sánh các số liệu được cung cấp bởi nguồn thông tin thứ cấp để thấy được sự tăng giảm về chất lượng và số lượng, cơ cấu nguồn nhân lực sau khi đã tiến hành triển khai kế hoạch phát triển đội ngũ
giáo viên qua các năm 2011 - 2012 - 2013 - 2014
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội trong giai đoạn hiện nay nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng với tình hình mới đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo của trường
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có ba chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề
- Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên của trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội
- Chương 3: Một số giải pháp đào tạo, bồi dưỡng nhằm phát triển đội ngũ giảng viên, giáo viên dạy nghề tại trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội đáp ứng tiêu chí trường nghề chất lượng cao đến năm 2020
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY NGHỀ
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Giáo viên
Giáo viên là nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục
phổ thông, giáo dục nghề nghiệp [33, tr.380]
Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và
thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học [11, tr.31]
1.1.2 Giáo viên dạy nghề
Giáo viên dạy nghề: Giáo viên dạy nghề là người dạy lý thuyết, dạy
thực hành hoặc vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành trong các cơ sở dạy nghề
Giáo viên dạy nghề gồm có: Giáo viên dạy lý thuyết nghề, giáo viên dạy thực hành nghề và giáo viên dạy cả lý thuyết và thực hành nghề Số giáo viên này chiếm 70% tổng số giáo viên của các trường dạy nghề
Theo tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức ngành giáo dục và đào tạo quy định giáo viên dạy nghề có 2 cấp trình độ: Giáo viên dạy nghề và giáo viên cao cấp dạy nghề.[11; tr.31]
Đội ngũ giáo viên dạy nghề: là tập thể những người làm công tác dạy
nghề trong các cơ sở dạy nghề Họ có cùng chức năng nghề nghiệp được tập hợp thành một lực lượng cùng họat động trong một hệ thống theo một nguyên tắc và cùng chung một mục đích và lý tưởng, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần
Cơ sở dạy nghề: Cở sở dạy nghề là cơ sở được xây dựng với các điều
kiện cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định với đội ngũ giáo viên dạy nghề và Ban quản lý để thực hiện các chức năng dạy nghề cho lao động xã hội
Cơ sở dạy nghề theo Luật Dạy nghề gồm:
a Cơ sở dạy nghề trình độ sơ cấp gồm:
- Trung tâm dạy nghề;
Trang 15- Trường Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề có đăng ký dạy nghề trình độ
sơ cấp nghề
- Doanh nghiệp, Hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ khác, trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học, cơ sở giáo dục khác có đăng ký hoạt động dạy nghề trình độ sơ cấp
b Cơ sở dạy nghề trình độ trung cấp gồm:
c Cơ sở dạy nghề trình độ Cao đẳng nghề gồm:
- Trường Cao đẳng nghề có đăng ký hoạt động dạy nghề;
- Trường Cao đẳng, trường Đại học có đăng ký hoạt động dạy nghề
1.1.3 Chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề
Chất lượng là khái niệm khó định nghĩa Thuật ngữ chất lượng dùng để nói về thứ tuyệt hảo, hoàn mỹ Theo từ điển Tiếng Việt: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc”.[33, tr 144]
Chất lượng ĐNGV là một khái niệm rộng, nó bao hàm nhiều yếu tố:
- Trình độ được đào tạo: đạt chuẩn hay vượt chuẩn, đào tạo chính qui hay không chính qui, chất lượng và uy tín của cơ sở đào tạo
- Sự hài hoà giữa các yếu tố trong đội ngũ giáo viên:
+ Hài hoà giữa chức vụ, ngạch bậc và trình độ được đào tạo; giữa phẩm chất đạo đức, kiến thức, năng lực và kỹ năng sư phạm
+ Sự hài hoà giữa nội dung công việc và vị trí phù hợp với năng lực mà nhân viên đang đảm nhận, thâm niên công tác và trách nhiệm của nhân viên
Như vậy, chất lượng đội ngũ giáo viên được thể hiện ở phẩm chất, năng lực và trình độ chuyên môn của giáo viên
1.1.4 Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề
Phát triển đội ngũ giáo viên là: “Nhằm mục đích tăng cường hơn nữa đến sự phát triển toàn diện của người giáo viên trong hoạt động nghề nghiệp”
Trang 16- Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề: Là sự vận động theo chiều hướng đi lên của đội ngũ giáo viên dạy nghề, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn,….Là quá trình chuẩn bị và cung cấp đội ngũ giáo viên cần thiết cho tổ chức dạy nghề hoàn thành chức năng nhiệm vụ đào tạo nhân lực cho xã hội
- Quan niệm về phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề tiếp cận trên góc
độ phát triển nguồn nhân lực:
+ Quan điểm của các nhà nghiên cứu UNDP:
Phát triển nguồn nhân lực nói chung và giáo viên dạy nghề nói riêng thường chịu sự tác động của 5 yếu tố: Giáo dục và đào tạo, sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường và sự giải phóng con người Trong quá trình tác động đến
sự phát triển nguồn nhân lực nói chung, những yếu tố này luôn gắn bó hỗ trợ
và phụ thuộc lẫn nhau, trong đó giáo dục đào tạo là nhân tố nền tảng là cơ sở của tất cả các nhân tố khác Nhân tố sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường làm việc và giải phóng con người là những nhân tố thiết yếu nhằm duy trì và đáp ứng sự phát triển bền vững nguồn nhân lực
+ Quan niệm sử dụng năng lực con người của ILO:
Phát triển nhân lực bao hàm không chỉ sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề
mà bên cạnh phát triển năng lực là làm cho con người có nhu cầu sử dụng năng lực đó để tiến đến có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân
+ Theo GS-TSKH Nguyễn Minh Đường:
“Phát triển nguồn nhân lực là sự gia tăng giá trị cho con người trên các mặt: trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, đạo đức, tâm hồn … để họ có thể tham gia vào lực lượng lao động làm giàu cho đất nước, góp phần tô điểm thêm bức tranh muôn màu của nhân loại Do vậy phát triển nguồn nhân lực phải được tiến hành trên cả 3 mặt: Phát triển nhân cách, phát triển sinh thể, đồng thời tạo
ra môi trường xã hội thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển” [25, tr.20]
- Kế thừa và phát huy những quan niệm trên, dưới góc độ nghiên cứu tổng thể thì “Phát triển đội ngũ giáo viên của trường cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội” là phát triển nguồn lực con người dưới dạng tiềm năng thành
“ Vốn con người, vốn nhân lực giáo viên dạy nghề” còn về góc độ cá nhân, đó
Trang 17là nâng cao tri thức, thể lực, kỹ năng thực hành, nhân cách nhà giáo để tăng hiệu suất làm việc, tạo cho xã hội những sản phẩm đào tạo hữu ích, làm tăng thu nhập và cải thiện chất lượng sống Xét góc độ xã hội, đó là quá trình tạo dựng một lực lượng lao động đặc thù cả về số lượng, chất lượng và sử dụng
nó có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu và mục tiêu đào tạo nghề cho đất nước, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội
Phát triển nguồn nhân lực nói chung và đội ngũ giáo viên nói riêng, nhìn nhận dưới góc độ là một yếu tố của lực lượng sản xuất, một nguồn lực của xã hội, mục đích là gia tăng sự đóng góp có hiệu quả của nó cho quá trình tái sản xuất để phát triển kinh tế xã hội, còn nhìn nhận dưới góc độ con người thì là chủ thể của tự nhiên và xã hội Vì thế, phát triển con người là trung tâm của sự phát triển và cũng không ngoài mục đích là hướng tới sự phát triển toàn diện con người.Đó cũng chính là xác lập các quyền và tạo điều kiện thuận lợi để con người thực hiện các quyền và phát huy tiềm năng vốn có của mình Có nghĩa là, phát triển con người nói chung và giáo viên dạy nghề nói riêng không chỉ xem xét dưới các góc độ là nguồn lực đóng góp cho sự phát triển xã hội, mà còn là sự thỏa mãn các nhu cầu để con người sớm có điều kiện phát triển toàn diện Đây chính là cơ sở giúp chúng ta lý giải vì sao nhiều quốc gia có chỉ số phát triển con người (HDI) tương đối cao (như Việt Nam) nhưng lại đang được xếp vào nhóm nước đang hay chậm phát triển
Như vậy, phát triển ĐNGV dạy nghề thực chất là phát triển nhân lực trong giáo dục đào tạo cho các CSDN Trong phạm vi trường CĐN, phát triển ĐNGV dạy nghề nhằm đạt được các mục tiêu sau:
- Phát triển GVDN đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn, đồng bố về cơ cấu, thực hiện tốt kế hoạch đào tạo của nhà trường
- Tạo được môi trường làm việc với sự hòa hứng, lành mạnh trong tập thể GVDN để mọi người hài long, gắn bó với nhà trường, đóng góp công sức của cá nhân một cách tốt nhất
- Có chính sách đãi ngộ về vật chất, tinh thần đối với GVDN có trình
độ cao, năng lực nghề nghiệp giỏi, tạo điều kiện để GVDN an tâm ổn định nghề nghiệp và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Trang 181.2 Nội dung phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề
Xuất phát từ quan niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực giáo viên dạy nghề nói riêng nêu trên, nội dung cơ bản của phát triển nguồn nhân lực giáo viên dạy nghề (phát triền đội ngũ giáo viên dạy nghề) gồm: Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề về số lượng; phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề về chất lượng
1.2.1 Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề về số lượng
Nguồn nhân lực nói chung, đội ngũ giáo viên dạy nghề nói riêng của một quốc gia, một vùng lãnh thổ của một cơ sở đào tạo… về mặt số lượng thể hiện ở quy mô số lượng, cơ cấu về giới, độ tuổi, nghề nghiệp và trình độ chuyên môn
Dưới góc độ phát triển, chúng ta không thể không xét đến tỷ lệ gia tăng giáo viên hàng năm Nghĩa là, về mặt số lượng, nguồn nhân lực giáo viên chịu ảnh hưởng trực tiếp và mục tiêu, chính sách đào tạo nguồn nhân lực của quốc gia, vùng lãnh thổ và nhiệm vụ đào tạo được giao cho từng ngành, từng cơ sở
Đối với các quốc gia đang phát triển, nền kinh tế còn đang trong thời
kỳ khởi động chưa định hình, xu hướng hội nhập và đầu tư nước ngoài đang diễn ra mạnh mẽ dẫn đến tình trạng nhu cầu lao động ngày càng cao, đa dạng
về ngành nghề và trình độ tay nghề đòi hỏi ngày càng tinh xảo thì nhu cầu đào tạo ngày một lớn và vì thế đội ngũ giáo viên dạy nghề cũng đòi hỏi phát triển
để thỏa mãn các yêu cầu thiết yếu đó
Tóm lại, phát triển số lượng giáo viên dạy nghề ở mỗi cơ sở dạy nghề
là việc tăng số lượng giáo viên dạy nghề trên cơ sở phát triển quy mô của sự nghiệp dạy nghề Phát triển số lượng giáo viên dạy nghề không phải là tăng số lượng giáo viên đơn thuần mà phải trên cơ sở nhu cầu về các loại cơ cấu của giáo viên mà cơ sở dạy nghề cần như: Cơ cấu về độ tuổi và thâm niên nghề nghiệp, cơ cấu về giới, cơ cấu về trình độ đào tạo, cơ cấu về chuyên môn
- Cơ cấu về chuyên môn: tức là số người có trình độ chuyên môn về một loại ngành nghề nhất định được tuyển dụng hay đưa đi đào tạo để bố trí làm giáo viên giảng dạy chuyên môn đó
- Cơ cấu trình độ đào tạo: tức là số người có những trình độ đào tạo nhất định như: Đại học, Thạc sỹ hay Tiến sỹ… về một loại chuyên môn (hay
Trang 19chuyên ngành) cần tuyển hay đưa đi đào tạo để làm giáo viên giảng dạy môn học thuộc chuyên ngành nào đó, đảm bảo chất lượng giảng dạy của mục tiêu đào tạo
- Cơ cấu thâm niên: là thâm niên kinh nghiệm cần có của người cần tuyển để bố trí giáo viên nhằm đảm bảo tỷ lệ số giáo viên có kinh nghiệm của đơn vị thực hiện nhiệm vụ đào tạo Trong thâm niên, khi phát triển còn phải tính đến thâm niên công tác, thâm niên nghề nghiệp hoặc kết hợp cả hai
- Cơ cấu về độ tuổi: là sự phân chia đội ngũ giáo viên của đơn vị ra từng độ tuổi (hay nhóm tuổi) nhất định Trong phát triển đội ngũ giáo viên người ta quan tâm đến cơ cấu này nhằm đảm bảo lực lượng kế tiếp hoặc quy hoạch bố trí sử dụng
- Cơ cấu theo giới tính: Nhằm đảm bảo sự phát triển nguồn lực hài hòa
và bố trí sử dụng hợp lý đội ngũ giáo viên
Để phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề về số lượng người ta thường
sử dụng các phương thức sau:
a Kế hoạch hóa đội ngũ giáo viên dạy nghề
Đây là quá trình đánh giá, xác định nhu cầu số lượng giáo viên trên cơ
sở quy mô và mục tiêu đào tạo mà cấp có thẩm quyền giao cho trường, trên
cơ sở đó đề ra các giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên nhằm thực hiện thành công mục tiêu đào tạo của cơ sở
Kế hoạch hóa đội ngũ giáo viên là một nội dung rất quan trọng của phát triển đội ngũ giáo viên, là căn cứ và là cơ sở để thực thi các bước của phát triển đội ngũ
Kế hoạch hóa đội ngũ giáo viên phải được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích khoa học, có như vậy kế hoạch mới hiện thực
Kế hoạch hóa đội ngũ giáo viên được xác định và trình bày dưới hình thức tổng quan Nó chỉ ra điều gì sẽ xảy ra nếu những giả định khác nhau tỏ ra đúng đắn và các đề xuất được thực hiện…
b Tuyển dụng đội ngũ giáo viên dạy nghề
Đây được coi là bước quan trọng, quyết định chất lượng đội ngũ giáo viên Nói cách khác, chất lượng của người thầy phụ thuộc rất nhiều vào việc
Trang 20tuyển dụng Muốn thực hiện tốt hoạt động này cần căn cứ và thực hiện các nguyên tắc sau:
+ Xuất phát từ yêu cầu công việc mà tuyển người phù hợp
+ Đảm bảo tiêu chuẩn theo chức danh cần tuyển
+ Đảm bảo tính công khai, dân chủ, bình đẳng và khách quan
Việc tổ chức tuyển dụng cần căn cứ vào mục tiêu tuyển dụng giáo viên của cơ sở dạy nghề và phải có quy chế tuyển dụng Nội dung quy chế tuyển dụng giáo viên bao gồm:
+ Xây dựng bộ tiêu chuẩn của từng vị trí công việc, từng loại giáo viên tuyển vào cơ sở
+ Xây dựng quy trình tuyển dụng
+ Xây dựng các quy định trong thời gian thử việc
c Bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên dạy nghề
Bố trí, sử dụng nguồn lực giáo viên trong mỗi cơ sở dạy nghề là một nội dung quan trọng phát triển nguồn lực giáo viên Việc xây dựng kế hoạch
và tổ chức tuyển dụng mới chỉ là cơ sở cần thiết tạo khả năng hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ của cơ sở dạy nghề, còn việc sử dụng tốt nguồn lực giáo viên mới là yếu tố quyết định đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của mỗi cơ sở
Bố trí, sử dụng nguồn lực giáo viên là một công việc phức tạp vì nó luôn dụng chạm đến lợi ích và tâm lý của giáo viên Bố trí sử dụng nguồn lực hợp lý sẽ tạo động lực để mỗi người yên tâm phấn khởi làm việc, tích cực học tập, rèn luyện nâng cao trình độ và cống hiến hết mình
Sử dụng nguồn lực bao gồm nhiều nội dung, nhiều khâu: xây dựng tiêu chuẩn chức danh, bố trí, bổ nhiệm, đề bạt, luân chuyển, điều động giáo viên… Các nội dung, các khâu, các bước này luôn có tác động qua lại, đan xen và gắn kết với nhau
1.2.2 Phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề về mặt chất lượng
Thực tế đã chỉ ra rằng: trong bất kỳ cơ sở giáo dục – đào tạo nào, tập thể giáo viên (hay giảng viên) cũng là nhân tố quan trọng quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục – đào tạo Chất lượng của sản phẩm đào tạo trong mỗi cơ sở đào tạo cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều vấn
đề, song yếu tố chất lượng đội ngũ giáo viên (hay giảng viên) là một trong
Trang 21những yếu tố có vai trò quyết định, họ chính là chủ thể của quá trình đào tạo, quá trình biến đổi các yếu tố đầu vào, kết hợp với các yếu tố có liên quan để tạo sản phẩm đầu ra – là những học sinh được tốt nghiệp với những chuyên môn, đạo đức ở những mức độ khác nhau
Theo Chiến lược phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011-2020 được phê duyệt tại Quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ, để đạt được mục tiêu chiến lược cần thực hiện đồng bộ chín giải pháp, trong đó giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên, giáo viên dạy nghề là giải pháp đột phá, cần ưu tiên đầu tư phát triển
Lý luận và thực tiễn đã khẳng định: với chất lượng đội ngũ giảng dạy khác nhau, các cơ sở giáo dục - đào tạo sẽ có một chất lượng giáo dục - đào tạo khác nhau và tương ứng và cơ sở có thể nâng cao chất lượng đào tạo của mình dựa trên một trong những cơ sở quan trọng, quyết định đó là phát triển đội ngũ giáo viên
Phát triển chất lượng đội ngũ giáo viên là phạm trù đề cập đến những vấn đề cơ bản, cốt yếu trong phẩm chất nghề nghiệp của đội ngũ những người làm nghề dạy học
Cụ thể hơn thì: Chất lượng đội ngũ giáo viên là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mức độ hội tụ về chuẩn mực các phẩm chất về chính trị, trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm, các kỹ năng cần thiết của toàn đội ngũ giáo viên giảng dạy trong mỗi nhà trường
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu về khoa học giáo dục thì chất lượng đội ngũ giáo viên trước hết, chủ yếu phụ thuộc vào tư chất nghề nghiệp của mỗi người thầy Tư chất của người thầy được thể hiện qua:
+ Trình độ được đào tạo, trình độ kỹ năng, kiến thức chuyên môn chính
và các chuyên môn lân cận (trình độ chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ), qua những phương pháp, kinh nghiệm giảng dạy và phẩm chất, đạo đức của mỗi người thầy
+ Ngoài ra, tư chất của người thầy giáo còn được thể hiện qua các tiêu chí khác như: Khả năng tự học tập nâng cao trình độ nghiên cứu khoa học, trình độ ngoại ngữ, tin học, sức khỏe, sự năng động, khả năng thích ứng, với yêu cầu mới, biến động của nhiệm vụ, của mỗi người giáo viên
Trang 22Những vấn đề phẩm chất cá nhân của người thầy được các nhà nghiên cứu về khoa học giáo dục- đào tạo mọi thời đại, mọi quốc gia trên thế giới quan tâm, đã được thể chế hóa trong cơ chế pháp luật của mỗi nước và thường xuyên được bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu cụ thể của sự nghiệp giáo dục - đào tạo thực tiễn ở mỗi giai đoạn lịch sử của mỗi quốc gia Luật Giáo dục nước ta đã quy định những tiêu chuẩn của người Thầy như sau:
+ Có phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt, cụ thể:
Trước hết giáo viên phải có lòng yêu nước nồng nàn, yêu chế độ XHCN sâu sắc, có lý tưởng nghề nghiệp: yêu nghề, yêu người Do vậy, họ , phải tu dưỡng thường xuyên để tạo ra những phẩm chất khác nhau như sự tận tâm, tính mẫu mực khoan dung, liêm khiết, tinh thần trách nhiệm, kiên trì, nhẫn nại, lạc quan…
+ Đạt trình độ chuẩn nghề nghiệp giáo viên dạy nghề về chuyên môn, nghiệp vụ Theo quy định hiện hành thì trình độ chuẩn được đào tạo của đội ngũ giáo viên các trường đào tạo chuyên nghiệp cụ thể như sau: Giáo viên giảng dạy cần phải có “Bằng tốt nghiệp đại học trở lên đối với giáo viên dạy cao đẳng hoặc đại học”
Trong điều kiện ngày nay, với đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, việc cập nhật các kiến thức về tiến bộ khoa học công nghệ của nền kinh tế tri thức đòi hỏi kiến thức tri thức, trí tuệ của người thầy không những phải cao hơn và rộng hơn rất nhiều
Muốn giảng dạy có hiệu quả, người thầy phải có học vấn, tri thức ngày một sâu, rộng có kỹ năng ngày một thành thục, tinh xảo
Về tri thức khoa học người Thầy phải có những kiến thức cơ bản về các mặt chính trị, kinh tế, xã hội, theo sát những biến đổi hàng ngày diễn ra trong đời sống trong nước và thế giới Người Thầy cũng phải có những kiến thức cần thiết về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và tùy theo chuyên môn đảm nhận, người Thầy cần phải có những kiến thức khoa học có liên quan và có kiến thức sâu về chuyên ngành giảng dạy của mình
Ngoài tri thức khoa học kể trên, người thầy còn cần phải có tri thức về công vụ và kỹ năng sư phạm ngày một thành thục Tri thức công vụ bao gồm
Trang 23những vấn đề về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, nhất là thấu hiểu khoa học giáo dục (tâm lý học, giáo dục học, phương pháp bộ môn), về
hệ thống các kỹ năng sư phạm bao gồm các kỹ năng nền tảng (thiết kế, tổ chức, giao tiếp), các kỹ năng chuyên biệt (giáo dục, nghiên cứu khoa học, hoạt động xã hội), kiến thức về logic và các kiến thức về ngoại ngữ, tin học…
đó là những kiến thức rất hữu ích cho việc nâng cao kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp
Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp, sức khỏe cho phép người Thầy
có phong thái đĩnh đạc, tự tin , giọng nói chuẩn xác, lôi cuốn, nó có tác dụng lôi cuốn sự tiếp thu và tính thuyết phục người học
Lý lịch bản thân rõ ràng: Thể hiện sự minh bạch, chính xác, trung thực
về lai lịch và quá trình của bản thân về sự phấn đấu, ngạch bậc, địa vị giáo dục, xã hội, số và chất lượng bằng cấp, chứng chỉ, học hàm, học vị… là dấu hiệu tin cậy, phản ánh chừng mực về độ tin cậy về trình độ, năng lực và sự tín nhiệm thừa nhận của xã hội đối với người thầy
Như vậy, chất lượng đội ngũ giáo viên ở mỗi cơ sở đào tạo, trước hết được tạo bởi các yếu tố về tư chất nghề nghiệp của mỗi cá nhân trong đội ngũ
Đó là yếu tố có tính chất quyết định nhất của chất lượng đội ngũ Tuy nhiên đây mới chỉ là điều cần Để có được đội ngũ giáo viên có chất lượng tốt, trong
sự phát triển không thể là một phép cộng đơn thuần các tư chất cá nhân tốt mà phải đạt được đồng bộ về chất lượng ngày một nâng cao hơn của đội ngũ giáo viên đặt trong điều kiện ở trạng thái động của sự phối hợp khoa học, hợp lý và hiệu quả
Như vậy, để tạo ra đội ngũ giáo viên có chất lượng thì trước hết phải thực hiện các giải pháp phát triển tư chất về nghề nghiệp của cá nhân mỗi giáo viên Bên cạnh đó phải chú ý đến sự phát triển đồng đều của cả đội ngũ
Để phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề về mặt chất lượng, ngoài các phương thức như tuyển chọn, bố trí sắp xếp sử dụng hợp lý và sự nỗ lực của các cá nhân, người ta còn sử dụng các phương thức sau:
a Đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy nghề
Đây là một phương thức có vai trò tích cực và quan trọng trong phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề về mặt chất lượng, nhất là trong điều kiện
Trang 24ngày nay, khoa học công nghệ tiến bộ phát triển như vũ bão, tiến trình đổi mới, CNH-HĐH và hội nhập đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao và như vậy có nghĩa là sự đòi hỏi về kiến thức, kỹ năng của người học cũng đòi hỏi ngày càng cao… nếu chất lượng của người thầy không được đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật thường xuyên thì không thể đáp ứng được yêu cầu của người học, của xã hội
Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy nghề sẽ đem lại tác dụng kép,
nó không chỉ nhằm mục đích giáo dục, nâng cao kỹ năng chuyên môn, năng lực giảng dạy cho đội ngũ giáo viên mà trên một nghĩa nào đó còn đem lại kiến thức, kỹ năng, cho người học mà người giáo viên đảm nhiệm,Việc đào tạo bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ giáo viên dạy nghề có thể sử dụng các hình thức thích hợp với từng giáo viên như: Đào tạo tập trung, tại chức, từ xa, dài hạn, ngắn hạn hoặc hỗ trợ tự học tập nghiên cứu
Công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên dạy nghề hiện nay cần tập trung vào những nội dung cơ bản sau:
- Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn đáp ứng nhu cầu giảng dạy, nhất là chú ý đến các chuẩn nghề nghiệp quy định về năng lực chuyên môn và
kỹ năng nghề nghiệp
- Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức về lý luận chính trị và hiều biết pháp luật của nhà nước
- Đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức và các
kỹ năng ứng xử của giáo viên, đặc biệt trên các mặt: Đạo đức nghề nghiệp, lối sống tác phong, sự trung thành với CNXH
- Đào tạo bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học, năng lực tổng kết thực tiễn, năng lực tham gia các hoạt động xã hội
b Đầu tư cho phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề
Phát triển năng lực của đội ngũ giáo viên dạy nghề là vấn đề đáng quan tâm trong phát triển nguồn nhân lực cho đất nước Để nâng cao năng lực và chất lượng giảng dạy cho giáo viên đòi hỏi phải có những đầu tư thỏa đáng các điều kiện cho giáo viên dạy nghề và cho cơ sở dạy nghề, cần tập trung vào các hướng:
- Xây dựng cơ sở dạy nghề sao cho trường ra trường, lớp ra lớp
Trang 25- Đầu tư các xưởng trường, các phòng thí nghiệm để khắc phục tình trạng thầy dạy chay - trò học chay
- Trang bị đầy đủ các thiết bị giảng dạy trên lớp học, phòng học (máy chiếu, bàn phím…)
- Xây dựng các công trình bổ trợ trong cơ sở dạy nghề
- Liên kết chặt chẽ với các Doanh nghiệp trong và ngoài nước trong lĩnh vực đào tạo
c Tạo động lực đối với việc phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề
Tạo động lực cũng là một phương thức quan trọng trong việc phát triển
và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề Để tạo được động lực cho đội ngũ giáo viên dạy nghề cần tập trung vào các hướng:
- Quan tâm giải quyết các vấn đề có liên quan đến thu nhập của nhà giáo như: tiền lương, các loại bảo hiểm, phúc lợi, chế độ vượt giờ, thưởng …
- Chế độ khen thưởng, vinh danh nhà giáo
- Chăm sóc sức khỏe, phát triển thể lực cho đội ngũ giáo viên, chú ý đầu tư cải thiện môi trương giảng dạy và các hoạt động ngoại khóa cho cả thầy và trò
1.2.3 Phát triển về cơ cấu đội ngũ giáo viên dạy nghề
Cơ cấu giáo viên dạy nghề: Là cách thức tổ chức (hay sự hình thành), các thành phần của đội ngũ giáo viên dạy nghề nhằm thực hiện chức năng đào tạo nghề của trường cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội
Cơ cấu đội ngũ giáo viên dạy nghề của trường cao đẳng nghề Hà Nội được thể hiện qua các tiêu chí sau:
- Cơ cấu giáo viên dạy nghề trong tổng số nhân lực của trường;
- Cơ cấu giáo viên dạy nghề theo giới tính, độ tuổi;
- Cơ cấu giáo viên dạy nghề theo trình độ chuyên môn đào tạo;
- Cơ cấu giáo viên dạy nghề theo nghề nghiệp (hay ngành đào tạo)
- Cơ cấu giáo viên dạy nghề theo trình độ ngoại ngữ, tin học
- Cơ cấu giáo viên dạy nghề theo ngành nghề chuyên môn
- Cơ cấu giáo viên dạy nghề theo thâm niên giảng dạy
- Cơ cấu giáo viên dạy nghề theo tính chất định biên
Trang 26Cơ cấu đội ngũ giáo viên dạy nghề phản ánh qua nhiều hay ít tiêu chí phụ thuộc vào mục đích của việc phân tích cơ cấu Tuy nhiên, nếu cơ cấu giáo viên dạy nghề của một cơ sở dạy nghề hợp lý nó sẽ đảm bảo được sự cân đối hài hòa trong việc tổ chức, bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên, phát huy được nội lực của đội ngũ giáo viên vào việc thực hiện nhiệm vụ đào tạo của nhà trường
Bởi vậy, để phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề ở một trường hay một
cơ sở dạy nghề, người ta phải chú ý đến việc phát triển về mặt cơ cấu của đội ngũ giáo viên
Phát triển cơ cấu đội ngũ giáo viên phụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ
và chuyên ngành đào tạo của trường hay của cơ sở dạy nghề quyết định Khi chức năng, nhiệm vụ và ngành nghề đào tạo thay đổi thì cơ cấu của đội ngũ giáo viên dạy nghề cũng thay đổi cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và ngành nghề đào tạo mới
1.3 Các tiêu chí phản ánh chất lượng giáo viên dạy nghề, tiêu chí về giáo viên đạt chuẩn trường nghề chất lượng cao
a Tiêu chí phản ánh số lượng
Để có được sản phẩm của đào tạo là các học sinh, sinh viên tốt nghiệp
ra trường đòi hỏi phải có quá trình đào tạo, thực hiện quá trình đào tạo này phải có một đội ngũ giáo viên với các trình độ chuyên môn, các kỹ năng thành thạo và các kiến thức khác nhau Đội ngũ giáo viên này nhiều hay ít, trình độ của họ cao hay thấp và thuộc các chuyên môn gì …phụ thuộc vào quy mô, chức năng nhiệm vụ và mục tiêu đào tạo của từng cơ sở đào tạo và trên quy định của Luật giáo dục, Luật Dạy nghề, về phát triển sức đảm nhận số học sinh trên 1 giáo viên, số lượng của đội ngũ này cao hay thấp được phản ánh qua một hệ thống các tiêu chí gồm:
+ Số giáo viên của toàn cơ sở đào tạo qua các năm học <hay thường kỳ> + Số giáo viên của toàn cơ sở phân theo trình độ được đào tạo
+ Số giáo viên của toàn cơ sở phân theo trình độ và chuyên môn
+ Số giáo viên của toàn cơ sở phân theo độ tuổi, giới tính…
+ Số giáo viên đạt trình độ chuẩn và chưa đạt trình độ chuẩn
+ Số giáo viên còn thiếu hoặc thừa của chuyên ngành đào tạo
Trang 27b Các tiêu chí phản ánh chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề
Nếu sản phẩm của các quá trình đào tạo là học sinh, sinh viên và chất lượng của đào tạo được phản ánh qua trình độ kiến thức lý luận và thực tiễn, qua mức độ thành thạo các kỹ năng, sức khỏe, khả năng vận dụng sáng tạo các kiến thức được học vào thực tiễn… của người học, thì chất lượng đội ngũ giáo viên được phản ánh và đánh giá thông qua hệ thống các tiêu chí cơ bản là: năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, khả năng tự học tập nâng cao trình độ, sức khỏe đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao… Chất lượng đội ngũ này cao hay thấp được phản ánh thông qua mức độ đạt được tương ứng với một số hệ thống tiêu chí Hệ thống tiêu chí quy định chuẩn giáo viên, giảng viên dạy nghề được quy định tại Thông tư số 30/2010/TT-BLĐTBXH ngày 29/9/2010 của Bộ trưởng Bộ LĐTBXH, bao gồm 04 tiêu chí và 16 tiêu chuẩn
về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên Các tiêu chí cụ thể như sau:
- Tiêu chí 1: Phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, lối sống (gồm 3 tiêu chuẩn)
+ Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị
+ Tiêu chuẩn 2: Đạo đức nghề nghiệp
+ Tiêu chuẩn 3: Lối sống, tác phong
- Tiêu chí 2: Năng lực chuyên môn (gồm 2 tiêu chuẩn)
+ Tiêu chuẩn 1: Kiến thức chuyên môn
+ Tiêu chuẩn 2: Kỹ năng nghề
- Tiêu chí 3: Năng lực sư phạm dạy nghề (gồm 9 tiêu chuẩn)
+ Tiêu chuẩn 1: Trình độ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề, thời gian tham gia giảng dạy
+ Tiêu chuẩn 2: Chuẩn bị hoạt động giảng dạy
+ Tiêu chuẩn 3: Thực hiện hoạt động giảng dạy
+ Tiêu chuẩn 4: Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học
+ Tiêu chuẩn 5: Quản lý hồ sơ dạy học
+ Tiêu chuẩn 6: Xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy
+ Tiêu chuẩn 7: Xây dựng kế hoạch, thực hiện các hoạt động giáo dục
Trang 28+ Tiêu chuẩn 8: Quản lý người học, xây dựng môi trường giáo dục, học tập + Tiêu chuẩn 9: Hoạt động xã hội
- Tiêu chí 4: Năng lực phát triển nghề nghiệp, nghiên cứu khoa học (gồm 2 tiêu chuẩn)
+ Tiêu chuẩn 1: Trao đổi kinh nghiệm, học tập, bồi dưỡng, rèn luyện + Tiêu chuẩn 2: Nghiên cứu khoa học
Căn cứ vào hệ thống các tiêu chí đánh giá các quy định tại Thông tư 30/2010/TT-BLĐTBXH có thể tổ chức kiểm tra, đánh giá thực trạng đội ngũ nhà giáo về tình hình tư tưởng, đạo đức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phương pháp dạy học, năng lực quản lýcác hoạt động giáo dục Từ kết quả kiểm tra, đánh giá đội ngũ giáo viên nhà trường có thể sàng lọc giáo viên yếu kém, giáo viên thừa để bố trí sang việc khác Sàng lọc đội ngũ là một yếu tố
có tác động tích cực tới việc phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
Việc rà soát, sàng lọc, bố trí, sắp xếp lại đội ngũ giảng viên không đáp ứng yêu cầu bằng những biện pháp: Đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ,
bố trí công việc khác thích hợp hoặc giải quyết nghỉ hưu trước tuổi theo chế
độ của Nhà nước
Công tác đánh giá đội ngũ giảng viên cần phải được thực hiện công khai, minh bạch, công bằng, khách quan và phải xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá phù hợp Vì vậy, Tổng cục Dạy nghề đã ban hành Công văn số 1329/TCDN-GV ngày 11 tháng 8 năm 2011 về việc Hướng dẫn đánh giá xếp loại giáo viên, giảng viên dạy nghề theo chuẩn giáo viên, giảng viên dạy nghề, cụ thể như sau:
“1 Việc đánh giá, xếp loại giảng viên, giáo viên dạy nghề được thực hiện hàng năm vào cuối năm học
2 Việc xếp loại giáo viên, giảng viên dạy nghề theo các mức, loại như sau:
Trang 293 Đánh giá, xếp loại giáo viên, giảng viên dạy nghề căn cứ vào tổng số điểm đạt được của các tiêu chí, tiêu chuẩn và chỉ số so với điểm tối đa Điểm tối đa của mỗi tiêu chí tuỳ thuộc vào số lượng tiêu chuẩn của tiêu chí Điểm tối đa của mỗi tiêu chuẩn tuỳ thuộc vào số lượng chỉ số của tiêu chuẩn
4 Đánh giá, xếp loại giáo viên, giảng viên dạy nghề theo cấp trình độ đào tạo được quy định cụ thể như sau:
a) Đối với giáo viên sơ cấp nghề: Có 4 tiêu chí, bao gồm 15 tiêu chuẩn (trong đó: 9 tiêu chuẩn có 4 chỉ số, 6 tiêu chuẩn có 2 chỉ số), tổng số điểm tối
đa đạt được là 96
- Đạt chuẩn:
+ Loại tốt: Tất cả các tiêu chuẩn có 4 chỉ số phải đạt từ 6 điểm trở lên, trong đó có ít nhất 5 tiêu chuẩn đạt 7 điểm trở lên (trong đó có Tiêu chuẩn 1, Tiêu chuẩn 2 của Tiêu chí 2); các tiêu chuẩn có 2 chỉ số đạt 3 điểm trở lên và
có tổng số điểm từ 77 đến 96 điểm
+ Loại khá: Tất cả các tiêu chuẩn có 4 chỉ số đạt từ 5 điểm trở lên, trong đó có ít nhất 5 tiêu chuẩn đạt 6 điểm trở lên (trong đó chỉ số thứ nhất Tiêu chuẩn 1 và chỉ số thứ nhất Tiêu chuẩn 2 của Tiêu chí 2 phải đạt điểm tối đa); các tiêu chuẩn có 2 chỉ số đạt 2 điểm trở lên (trong đó chỉ số thứ nhất Tiêu chuẩn 1 của Tiêu chí 3 phải đạt điểm tối đa) và có tổng số điểm từ 62 điểm trở lên
+ Loại trung bình: Tất cả các tiêu chuẩn có 4 chỉ số đạt từ 4 điểm trở lên (trong đó chỉ số thứ nhất Tiêu chuẩn 1 hoặc chỉ số thứ nhất Tiêu chuẩn 2 của Tiêu chí 2 phải đạt điểm tối đa); các tiêu chuẩn có 2 chỉ số đạt 2 điểm trở lên (trong đó chỉ số thứ nhất Tiêu chuẩn 1 của Tiêu chí 3 phải đạt điểm tối đa)
và có tổng số điểm từ 48 điểm trở lên
- Không đạt chuẩn: Giáo viên dạy nghề không đạt chuẩn khi thuộc một trong các trường hợp sau:
- Tổng số điểm dưới 48 điểm;
- Đạt từ 48 điểm trở lên nhưng có tiêu chuẩn không điểm;
- Đạt từ 48 điểm trở lên nhưng chỉ số thứ nhất Tiêu chuẩn 1 và chỉ số thứ nhất Tiêu chuẩn 2 của Tiêu chí 2 đều không điểm;
Trang 30- Đạt từ 48 điểm trở lên nhưng chỉ số thứ nhất Tiêu chuẩn 1 của Tiêu chí 3 không điểm
b) Đối với giáo viên trung cấp nghề, giảng viên cao đẳng nghề: Có 4 tiêu chí, bao gồm 16 tiêu chuẩn (trong đó: 9 tiêu chuẩn có 4 chỉ số, 7 tiêu chuẩn có 2 chỉ số), tổng số điểm tối đa đạt được là 100
- Đạt chuẩn:
+ Loại tốt: Tất cả các tiêu chuẩn có 4 chỉ số phải đạt từ 6 điểm trở lên, trong đó có ít nhất 5 tiêu chuẩn đạt 7 điểm trở lên (trong đó có Tiêu chuẩn 1, Tiêu chuẩn 2 của Tiêu chí 2); các tiêu chuẩn có 2 chỉ số đạt 3 điểm trở lên và
có tổng số điểm từ 80 - 100 điểm
+ Loại khá: Tất cả các tiêu chuẩn có 4 chỉ số đạt từ 5 điểm trở lên, trong đó có ít nhất 5 tiêu chuẩn đạt 6 điểm trở lên (trong đó chỉ số thứ nhất Tiêu chuẩn 1 và chỉ số thứ nhất Tiêu chuẩn 2 của Tiêu chí 2 phải đạt điểm tối đa); các tiêu chuẩn có 2 chỉ số đạt 2 điểm trở lên (trong đó chỉ số thứ nhất Tiêu chuẩn 1 của Tiêu chí 3 phải đạt điểm tối đa) và có tổng số điểm từ 64 điểm trở lên
+ Loại trung bình: Tất cả các tiêu chuẩn có 4 chỉ số đạt từ 4 điểm trở lên (trong đó chỉ số thứ nhất Tiêu chuẩn 1 hoặc chỉ số thứ nhất Tiêu chuẩn 2 của Tiêu chí 2 phải đạt điểm tối đa); các tiêu chuẩn có 2 chỉ số đạt 2 điểm trở lên (trong đó chỉ số thứ nhất Tiêu chuẩn 1 của Tiêu chí 3 phải đạt điểm tối đa)
và có tổng số điểm từ 50 điểm trở lên
- Không đạt chuẩn: Giảng viên, giáo viên dạy nghề không đạt chuẩn khi thuộc một trong các trường hợp sau:
- Tổng số điểm dưới 50 điểm;
- Đạt từ 50 điểm trở lên nhưng có tiêu chuẩn không điểm;
- Đạt từ 50 điểm trở lên nhưng chỉ số thứ nhất Tiêu chuẩn 1 và chỉ số thứ nhất Tiêu chuẩn 2 của Tiêu chí 2 đều không điểm;
- Đạt từ 50 điểm trở lên nhưng chỉ số thứ nhất Tiêu chuẩn 1 của Tiêu chí 3 không điểm
5 Quy trình đánh giá, xếp loại giảng viên, giáo viên dạy nghề
Bước 1: Giảng viên, giáo viên tự đánh giá, xếp loại
Bước 2: Tổ bộ môn hoặc khoa/ phòng chuyên môn đánh giá, xếp loại
Trang 31Bước 3: Người đứng đầu cơ sở dạy nghề đánh giá, xếp loại
- Thông qua tập thể Lãnh đạo cơ sở dạy nghề, đại diện Đảng bộ/Chi bộ, Công đoàn, Đoàn Thanh niên để đánh giá, xếp loại;
- Thông báo kết quả đánh giá, xếp loại cho giảng viên, giáo viên, khoa/phòng chuyên môn, tổ bộ môn và báo cáo lên cơ quan quản lý cấp trên”
Các tiêu chí và tiêu chuẩn
TC1 Phẩm chất chính trị,
đạo đức, lối sống
Điểm tối đa
TC3 Năng lực sư phạm nghề
Điểm tối đa
+ tc1 Phẩm chất chính trị 8
+ tc1 Trình độ nghiệp vụ SPDN, thời gian tham gia giảng dạy
TC2 Năng lực chuyên môn
+ tc4 Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học
8
+ tc1 Trao đổi kinh nghiệm,
học tập, bồi dưỡng, rèn luyện 8
+ tc8 Quản lý người học, xây dựng môi trường giáo dục, học tập
4
+ tc2 Nghiên cứu khoa học 4 + tc9 Hoạt động xã hội 4
Trang 32Biểu 1.1: Các tiêu chí và tiêu chuẩn trong đánh giá giáo viên
(Đối với việc đánh giá giáo viên sơ cấp nghề thì không sử dụng tiêu chí
2 –“Nghiên cứu khoa học” của tiêu chuẩn 4)
c Tiêu chí về giáo viên của trường nghề chất lượng cao
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 761/QĐ-TTg ngày 23 tháng 5 năm 2014 phê duyệt “Đề án phát triển trường nghề chất lượng cao đến năm 2020” với quan điểm và mục tiêu như sau:
- Quan điểm: Phát triển trường nghề chất lượng cao để đào tạo nhân lực
kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp cao, nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của người lao động và của quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế, góp phần thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Trên cơ sở kế thừa, phát huy thành tựu và những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm về đào tạo nghề của thế giới; bảo đảm tính hệ thống, dài hạn với các giải pháp đồng
bộ, khả thi, có lộ trình, bước đi phù hợp; Phát triển trường nghề chất lượng cao theo hướng “mở” Nhà nước có cơ chế, chính sách đặc thù và hỗ trợ đầu
tư đồng bộ cho các trường nghề được lựa chọn để đạt các tiêu chí của trường nghề chất lượng cao; đồng thời có cơ chế, chính sách khuyến khích, đẩy mạnh
xã hội hóa để những trường nghề khác xây dựng đạt các tiêu chí của trường nghề chất lượng cao và được đánh giá, công nhận
- Mục tiêu: Phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 40 trường nghề chất lượng cao đủ năng lực đào tạo một số nghề được các nước tiên tiến trong khu vực ASEAN hoặc quốc tế công nhận, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện đào tạo nghề ở Việt Nam và đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Theo đó, trường được công nhận là trường nghề chất lượng cao khi được cơ quan kiểm định chất lượng dạy nghề đánh giá đáp ứng đủ 06 tiêu chí về: Quy mô đào tạo, Việc làm sau đào tạo; Trình độ học sinh, sinh viên sau đào tạo; Kiểm định chất lượng; Giáo viên, giảng viên; quản trị nhà trường Tại khoản 5 mục III của Quyết định đã nêu rõ tiêu chí đối với đội ngũ giáo viên, giảng viên như sau: “Về giáo viên, giảng viên: 100% giáo viên đạt
Trang 33chuẩn quy định, có trình độ tin học IC3 hoặc tương đương trở lên, trình độ ngoại ngữ tiếng Anh đạt 350 điểm TOEIC hoặc tương đương trở lên Trong
đó, giáo viên dạy các nghề trọng điểm được chuyển giao có trình độ ngoại ngữ tiếng Anh đạt 450 điểm TOEIC hoặc tương đương trở lên”
Như vậy, các tiêu chí về giáo viên để công nhận trường nghề chất lượng cao vẫn tập trung vào chuẩn giáo viên theo quy định, ngoài ra có bổ sung thêm tiêu chí về trình độ ngoại ngữ tiếng Anh và trình độ tin học Do đó, việc phát triển đội ngũ giáo viên đạt các tiêu chí trường nghề chất lượng cao còn đòi hỏi thêm việc đạt chuẩn về ngoại ngữ tiếng Anh và tin học
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên trường CĐN
Ý kiến của các nhà nghiên cứu về khoa học giáo dục và đào tạo trên thế giới cũng như ở nước ta, thì về vấn đề này tuy có những ý kiến không hoàn toàn trùng hợp nhưng có sự thống nhất với nhau ở những vấn đề cơ bản
Theo ý kiến của TS Phạm Hồng Quang muốn phát triển đội ngũ giáo viên (về chất lượng) mỗi trường cần phải bằng các biện pháp tương ứng phù hợp để đảm bảo bảy điều kiện cơ bản, gồm: Đội ngũ cán bộ giảng dạy đủ về
số lượng, có chất lượng, có cơ sở vật chất tối thiểu cho việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ, nội dung chương trình, tài liệu giảng dạy phù hợp, đối tượng đào tạo tuyển chọn phù hợp, nề nếp giảng dạy học tập tốt, có sự chỉ đạo sát sao của
Bộ Giáo dục và Đào tạo và gắn nhà trường với người sử dụng [30, tr 24]
Ý kiến của TS Phạm Hồng Quang và các ý kiến của các nhà nghiên cứu khác của Việt Nam và thế giới, qua thực tiễn ở một số trường, Luận văn rút ra một số nhân tố cơ bản tác động, ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ giáo viên về số lượng và chất lượng, gồm:
a Nhân tố về số lượng của đội ngũ giáo viên dạy nghề
Có thể nói số lượng của toàn đội ngũ giáo viên cũng có ảnh hưởng nhất định, trực tiếp, lâu dài nhất là đến chất lượng đội ngũ Tình trạng thiếu giáo viên đặc biệt là những giáo viên (số được đào tạo cơ bản và trên đại học, có kinh nghiệm nghề nghiệp và kinh nghiệm giảng dạy tốt, thông qua thực tế) là nguyên nhân dẫn đến tình trạng quá tải và hạn chế hiệu quả thực thi nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên, ngoài ra còn hạn chế đến khả năng tham gia các hoạt
Trang 34động khác rất cần thiết cho nâng cao trình độ của giáo viên trên các lĩnh vực: Nghiên cứu, khoa học, đi xâm nhập thực tế, ứng dụng kết quả nghiên cứu …
b Các nhân tố về cơ sở vật chất phục vụ cho việc nâng cao trình độ giáo viên dạy nghề
Những nhân tố vật chất tối thiểu phục vụ cho việc nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên như: Thư viện với mức độ phong phú hay nghèo nàn của cơ sở
về số đầu sách, chủng loại sách, phòng đọc với các tiện nghi phục vụ nghiên cứu, học tập; các phương tiện và công cụ trợ giúp giảng dạy học tập theo công việc hiện đại … có tác động và đóng góp không nhỏ trong hoạt động chuyên môn, ngoài ra còn ảnh hưởng tới khả năng và mức độ tự hoàn thiện năng lực chuyên môn kỹ năng và phương pháp giảng dạy, các hoạt động tự học tập, nghiên cứu từ đó ảnh hưởng tới việc nâng cao trình độ của cá nhân mỗi giáo viên cũng như toàn đội ngũ giáo viên của trường
Để có điều kiện cho giáo viên trong nghiên cứu, học tập, nâng cao trình
độ, cơ sở đào tạo cần chú trọng các giải pháp tạo ra điều kiện cơ sở vật chất cho giáo viên qua việc nâng cấp cơ sở vật chất một cách kịp thời đầy đủ để tạo điều kiện tiền đề phát triển đội ngũ giáo viên về chất lượng
c Các nhân tố về chế độ sử dụng đối với đội ngũ giáo viên dạy nghề
Chế độ sử dụng đội ngũ giáo viên trong cơ sở đào tạo gồm rất nhiều vấn đề như: Phân công, sắp xếp chuyên môn giảng dạy phù hợp khả năng, trình độ của người thầy, tổ chức lao động khoa học… nhằm tạo động lực vật chất tinh thần để động viên, kích thích lao động, học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ của giáo viên thông qua thu nhập, đánh giá thành quả lao động, khen thưởng, kỷ luật… những vấn đề trọng yếu gồm:
- Thu nhập của đội ngũ giáo viên
Để sử dụng tốt lao động của Thầy giáo theo quan điểm của Matrayca - một nhà nghiên cứu về lao động sư phạm Nga cho rằng: “Một trong những vấn đề cơ bản của tổ chức lao động khoa học là những biện pháp kích thích đối với lao động sư phạm” [27, tr.192]
- Sử dụng các kích thích tinh thần đối với lao động giáo viên
Sự cần thiết phải xây dựng quá trình học tập và giáo dục có nhân tố cảm xúc đã đạt được khoa học chứng minh Pavlop I.P đã nhận thấy trong các
Trang 35cảm xúc tốt đẹp có một nguồn tư duy sáng tạo to lớn, cho nên bên cạnh những kích thích bằng lợi ích vật chất, cần sử dụng tốt các kích thích tinh thần đối với lao động giáo viên, một trong những biện pháp để tạo cảm xúc tốt cho các hoạt động của đội ngũ giáo viên trong các trường là tạo ra một bầu không khí tâm lý thoải mái, thuận lợi trong tập thể giáo viên
- Áp dụng tổ chức khoa học đối với lao động giáo viên:
Giảng dạy ở bất kỳ cấp nào, bậc nào đều có những điểm giống nhau đó
là nghề lao động nghiêm túc, không được phép có phế phẩm, là nghề lao động trí óc nặng nhọc
Nhiều nghiên cứu trong những năm gần đây đã cho thấy tình hình sử dụng thời gian lao động của thầy giáo trong nhiều năm nay bộc lộ không ít điều bất hợp lý nhất là từ khi đất nước chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế “Cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước”, là
cơ chế mang lại rất nhiều khởi sắc, phát triển lớn lao, đáp ứng khích lệ về phương diện kinh tế nhưng cũng mang lại nhiều thay đổi về vấn đề xã hội cả tốt lẫn xấu
Về phương diện xã hội học, vấn đề đặt ra ở đây là: Lao động của người thầy phải được tổ chức như thế nào để họ có thời gian tự do cần thiết để học tập, tự học tập, đọc sách báo, cập nhật thông tin nâng cao trình độ và tham gia các hoạt động khác
Muốn có chế độ sử dụng đội ngũ giáo viên một cách khoa học, đúng đắn, các trường cần dựa trên những quy định của nhà nước về sử dụng lao động sư phạm, đồng thời căn cứ vào điều kiện cụ thể để đưa ra những quy định phù hợp trong việc sử dụng lao đội ngũ giáo viên của mình
d Các nhân tố về đối tượng và tính nề nếp của môi trường truyền thụ kiến thức
Đối tượng truyền thụ cùng môi trường truyền thụ kiến thức có quan hệ mật thiết đến phát triển đội ngũ giáo viên nhất là phát triển nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng dạy
Trước một tập thể đông đảo học sinh đăng ký và được tuyển chọn vào trường hay tập trung đăng ký vào một ngành học nào đó sẽ tác động trực tiếp đến việc tăng lực lượng giáo viên của trường hay ngành học đó
Trang 36Trước một tập thể học sinh có động cơ học tập đúng đắn, cầu thị kiến thức, say mê học tập, tìm tòi, sáng tạo, thông minh, lễ độ, các giáo viên không thể bằng lòng với vốn kiến thức lý luận thực tiễn hạn hẹp, viển vông, thiếu tính cập nhật, nhất là không thể bằng lòng với những phương pháp lạc hậu, ít hiệu quả
Trong một nhà trường có điều kiện, nề nếp và có truyền thống giảng dạy và học tập tốt, việc học tập và tự học, trau dồi vươn lên tự hoàn thiện mình của các giáo viên cũng như toàn đội ngũ giáo thường được rất chú trọng
và được thực hiện một các tự giác, hiệu quả
Như vậy có thể nói, đối tượng truyền thụ và nề nếp giảng dạy học tập trong mỗi nhà trường cũng là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp, đặt ra yêu cầu cao, thấp tương ứng đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, kích thích hoặc hạn chế mức độ hiệu quả của hoạt động
e Các nhân tố về mục tiêu đào tạo
Lý luận và thực tiễn về giáo dục – đào tạo đã chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa mục tiêu đào tạo và phát triển đội ngũ giáo viên Mục tiêu đào tạo quyết định số lượng, cơ cấu ngành nghề, trình độ… đội ngũ giáo viên Mặt khác, chất lượng đội ngũ giáo viên quyết định kết quả mục tiêu đào tạo, ngược lại mục tiêu đào tạo quy định nội dung, chuẩn mực của chất lượng của đội ngũ giáo viên
Số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên nhiều hay ít, cao hay thấp, sẽ được thể hiện tương ứng qua khả năng thực hiện các nhiệm vụ của người giáo viên, từ đó dẫn đến kết quả thực hiện các mục tiêu đào tạo có hiệu quả hay không? Ở chừng mực nào?
Ngược lại mục tiêu đào tạo cao hay thấp, sẽ đặt ra yêu cầu tương ứng với các điều kiện thực hiện, trong đó có điều kiện về số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên – điều kiện tiên quyết trong thực hiện mục tiêu đào tạo Cụ thể hơn là mục tiêu đào tạo quy định phải xây dựng đội ngũ giáo viên cả về số lượng và chất lượng đến đâu?
f Sự quan tâm, đầu tư thích đáng của lãnh đạo cấp có thẩm quyền vào việc phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề
Trang 37Sự quan tâm của lãnh đạo các Bộ, ngành có liên quan, nhất là của Bộ, Ngành chủ quản, của Ban lãnh đạo nhà trường đối với các hoạt động đầu tư cho trường và sự hoạt động của cán bộ, giáo viên nói chung và trong phát triển đội ngũ nhất là nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên nói riêng, luôn là vấn đề cần thiết có ảnh hưởng trực tiếp, sâu sắc tới kết quả phát triển đội giáo viên
Sự quan tâm đó cần được thực hiện qua việc nhận thức, quan điểm và những định hướng đúng đắn, những triển khai thiết thực đối với phát triển đội ngũ giáo viên như: Chế độ tuyển dụng, sử dụng hợp lý lao động giáo viên, có các chính sách đãi ngộ, khuyến khích giáo viên học tập, nghiên cứu khoa học,
tổ chức đào tạo, bồi dưỡng giáo viên… thưc sự là những biện pháp có tác dụng thúc đẩy mạnh mẽ đối với việc phát triển đội ngũ giáo viên
1.5 Sự cần thiết phát triển chất lượng đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội
Trong sự nghiệp đổi mới nền kinh tế đất nước, xúc tiến mạnh mẽ quá trình CNH-HĐH và hội nhập quốc tế đã có những tác động mạnh mẽ, làm chuyển đổi mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội Thực tế đó đã đặt sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực của trường cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội trước những nhiệm vụ và thử thách lớn đầy khó khăn, phức tạp Đòi hỏi phải đẩy mạnh sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển và phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường trong những điều kiện mới vì vậy cần phải phát triển số lượng, chất lượng và cơ cấu chuyên môn ngành nghề cơ cấu trình độ của đội ngũ giáo viên nhằm đáp ứng:
a Yêu cầu nhiệm vụ công tác đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH – HĐH và hội nhập quốc tế, trước mắt cho thời kỳ từ nay tới năm 2020
Trong thời kỳ CNH – HĐH, hội nhập quốc tế, đưa nước ta trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước đối với trường cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội là khá nặng nề Đảng
và Nhà nước ta đã xác định mục tiêu tổng quát của cả nước là “đến năm 2020
ra sức phấn đấu để biến nước ta về cơ bản thành một nước công nghiệp: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, đẩy nhanh nhịp độ tăng
Trang 38trưởng kinh tế đi đôi với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, an ninh quốc phòng” [19]
Thực hiện mục tiêu, phương hướng mới cụ thể của mình, trường cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội cần quán triệt những quan điểm, mục tiêu, phương hướng mới của việc phát triển nguồn nhân lực của thời kỳ từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo để tiếp tục đẩy mạnh, đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo công nhân của trường, khắc phục những yếu kém, những mất cân đối giữa nhu cầu đào tạo và đội ngũ giáo viên, giữa nhu cầu về ngành nghề cần đào tạo với cơ cấu chuyên môn và trình độ của đội ngũ giáo viên
b Khắc phục tình trạng bất cập giữa nhu cầu về đào tạo liên thông với đội ngũ ngành nghề và cơ cấu, trình độ chuyên môn của giáo viên dạy nghề
Nhu cầu đào tạo hiện nay để đáp ứng nguồn nhân lực cho thị trượng lao động là rất lớn, đòi hỏi phát triển đôi ngũ giáo viên ở môi trường mới, mọi cấp đào tạo là tất yếu khả quan, là xu hướng của cả thế giới và khu vực để đào tạo, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao về nguồn nhân lực
Kinh nghiệm của các nước cho thấy sự phát triển của nền kinh tế thị trường, song song với những thành tựu đáng khích lệ về phương diện kinh tế
là sự phát triển phức tạp, mạnh mẽ của những vấn đề khoa học công nghệ và
cả những vấn đề xã hội… Thực tế đó đặt ra những thách thức mới về chuyên môn và đặc biệt là bản lĩnh chính trị trong nghề nghiệp: Những giáo viên không những phải đạt được trình độ chuyên môn cao hơn trước mà còn phải
có độ sâu sắc, nhuần nhuyễn… đến nghệ thuật trong xử lý các vấn đề về khoa học công nghệ về con người để truyền thụ cho học sinh mà còn phải là tấm gương sáng cho học sinh
So với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội của trường cả hiện tại và tương lại, có thể nói: Cả số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên của trường đang có những hạn chế, bất cập Giải pháp đúng đắn để khắc phục sự bất cập giữa năng lực hiện tại của đội ngũ giáo viên trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội với yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ, chính là sự phát triển đội ngũ giáo viên của trường cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu
Chỉ có trên cơ sở có một đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, chất lượng
và cơ cấu, có phẩm chất chính trị, có chuyên môn cập nhật yêu cầu của thời
Trang 39đại mới có thể cung cấp cho xã hội những sản phẩm đào tạo có chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực ở lĩnh vực trường có nhiệm vụ đào tạo cho đất nước trong thời kỳ CNH-HĐH và hội nhập quốc tế
1.6 Kinh nghiệm phát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề
1.6.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới
Trong xã hội hiện đại, nguồn lực giáo viên có vai trò quan trọng nhất đối với sự phát triển nguồn nhân lực của bất kỳ một quốc gia nào mà nguồn nhân lực lại có vai trò quyết định sự phát triển của quốc gia đó Chính vì lẽ
đó, nhiều nước trên thế giới đã có những chính sách phát triển đội ngũ giáo viên để phát triển nguồn nhân lực khác nhau
Nước Mỹ với một chiến lược dài hạn, tài chính cho giáo dục chuyên nghiệp (nhất là cho đại học) được vận động từ các nguồn khác nhau như các công ty, tổ chức nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, tôn giáo, từ thiện… Song nguồn chủ yếu nhất là sự đóng góp của người học (thông qua học phí) Nguồn tài chính này được sử dụng vào việc xây dựng quỹ hỗ trợ học sinh, sinh viên học giỏi
- Mỹ rất coi trọng nguồn lực giáo viên, coi trọng môi trường sáng tạo
và khuyến khích phát triển nhân tài, bồi dưỡng và thu hút nhân tài Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã mang lại cho Mỹ - nước duy nhất trên thế giới cơ hội thu hút nhân tài, thu hút chất xám rất lớn, đó là rất nhiều nhà khoa học, bác học từ các nước khác, nhất là Châu Âu đã nhập cảnh vào Mỹ Nước Mỹ
đã rộng mở để chào đón tiếp nhận họ Và chính vì thế, hiện nay Mỹ là một quốc gia có nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới và ít nhiều hầu hết họ cũng tham gia giảng dạy, tham gia công tác đào tạo Mỹ thực hiện chủ trương trả lương cao để thu hút nhân tài vào làm giáo viên, giảng viên cơ hữu tham gia thỉnh giảng cho các trường…
- CHLB Đức là một trong số ít nước có truyền thống và nhiều kinh nghiệm trong việc đào tạo bồi dưỡng ĐNGV nói chung và giáo viên kỹ thuật nói riêng một cách bài bản với chất lượng cao Công tác phát triển ĐNGV dạy nghề ở CHLB Đức rất được chú trọng Đây là một trong các yếu tố đảm bảo cho mô hình đào tạo nghề kép được thành công Việc đào tạo giáo viên kỹ thuật cho các trường dạy nghề ở CHLB Đức theo một mô hình thống nhất Toàn bộ giáo viên dạy lý thuyết nghề đều được đào tạo ở trình độ đại học theo
Trang 40qui chế đào tạo và thi lấy bằng giáo viên dạy nghề quốc gia Thời gian đào tạo
ở trường đại học là 4,5 năm Sau kỳ thi quốc gia lần 1, giáo sinh phải đi tập sự
2 năm ở một cơ sở giáo dục nghề nghiệp Khi kết thúc hai năm tập sự, giáo sinh phải thi quốc gia lần 2 mới được công nhận danh hiệu giáo viên dạy nghề
ở trình độ đại học
- Vào đầu những năm 1970, Phần Lan có một hệ thống giáo dục bị xuống cấp trầm trọng và một nền kinh tế lâm nghiệp dựa vào một sản phẩm duy nhất đó là gỗ, và họ cứ thế chặt cây xuống với một tốc độ chóng mặt Lúc
đó họ nhận ra rằng chặt gỗ chẳng thể đưa họ đi tới đâu nên họ đã quyết định thay đổi hoàn toàn hệ thống giáo dục của mình nhằm tạo ra một nền kinh tế tri thức thực sự
Bắt đầu từ những năm 1970, người Phần Lan đã tiến hành đổi mới việc tuyển chọn và đào tạo những giáo viên tương lai của họ Đây là một bước căn bản trong quá trình cải cách giáo dục bởi vì nó đã cho phép họ có được mức độ chuyên nghiệp cao hơn giữa các giáo viên Tất cả giáo viên đều phải có bằng thạc sĩ và tất cả phải được đào tạo trong cùng một chương trình đào tạo chất lượng cao
Và cũng kể từ đó, dạy học trở thành một nghề được tôn trọng nhất trong
xã hội – không được trả lương cao nhất nhưng cao quý nhất Kết quả Chương trình quốc tế đánh giá học sinh (PISA) do Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) khởi xướng, Phần Lan đã liên tục xếp trên tất cả các nước phương Tây
- Cộng hòa Séc sau khi ra nhập liên minh Châu Âu đã xây dựng và thực hiện hàng loạt các chiến lược, trong đó nổi trội lên là chiến lược phát triển nguồn nhân lực (tháng 2 -2000) nằm trong chương trình thị trường lao động
và phát triển nguồn nhân lực Trong các chiến lược thành phần, đáng chú ý là chương trình phổ cập tiếng Anh, chương trình cải thiện nhân lực hành chính công, chương trình giáo dục đại học, cao đẳng liên kết với hoạt động nghiên cứu, chiến lược phát triển đội ngũ giáo viên, chiến lược học tập suốt đời
- Nhật Bản cũng là một nước đi đầu trong phát triển nguồn nhân lực và
vì thế cũng rất chú trọng phát triển đội ngũ giáo viên Xuất phát từ việc xác định: Nhật là một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên, để phát triển chỉ có thể trông chờ vào chính mỗi con người Nhật Bản hay nói cách khác là trông chờ vào nguồn nhân lực của Nhật vì thế ngay sau khi chiến tranh thế giới kết thúc