Giáo dục hướng nghiệp GDHN nhằm mục đích giúp cho học sinh THCS nói riêng và học sinh phổ thông nói chung có được sự hiểu biết cơ bản về các ngành nghề trong xã hội, hình thành hứng thú
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Người hướng dẫn: PGS, TS Trần Việt Dũng
Hà nội, tháng 10 năm 2016
Trang 2
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình tham gia khóa đào tạo tại Viện Sư phạm kỹ thuật – trường Đại học Bách khoa Hà Nội, bản thân tôi đã luôn nhận được sự hỗ trợ quý báu từ Lãnh đạo, quý thầy, quý cô của Viện và các anh chị cùng khóa Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cám ơn:
- Quý thầy, cô lãnh đạo trường ĐH Bách khoa Hà Nội,
- Quý thầy, cô lãnh đạo Viện Sư phạm kỹ thuật - ĐHBK Hà Nội,
- Quý thầy, cô đã trực tiếp giảng dạy lớp QLGD và NN khóa 2014B,
- Các anh, chị cùng lớp Quản lý GD và Nghề nghiệp
Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, chu đáo và sự động
viên quý báu của PGS TS Trần Việt Dũng trong suốt quá trình tôi nghiên cứu,
thực hiện đề tài Luận văn này
Cũng trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài này tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các đồng nghiệp tại Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Cẩm Xuyên tỉnh
Hà Tĩnh và tập thể sư phạm các trường THCS trên địa bàn huyện Xin được cảm ơn
sự giúp đỡ quý báu đó
Mặc dầu bản thân đã đầu tư nhiều thời gian và công sức để thực hiện đề tài luận văn nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót đáng tiếc, rất mong nhận được các ý kiến đóng góp, chỉ dẫn thêm của quý Thầy, Cô và bạn đọc để Luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2016
Tác giả luận văn
Đặng Quốc Hà
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 4
BẢNG DANH MỤC
Bảng 2.1: Thống kê số liệu đội ngũ giáo viên, nhân viên ngành GD&ĐT huyện 34
Bảng 2.2 Thống kê số học sinh THCS ba năm gần đây 37
Bảng 2.3 Thống kê lựa chọn về mục đích giáo dục hướng nghiệp 38
Bảng 2.4 Thống kê khảo sát về mức độ cần thiết của GDHN 39
Bảng 2.5 Thống kê khảo sát về tầm quan trọng của định hướng nghề nghiệp 40
Bảng 2.6 Bảng thống kê khảo sát về thái độ và hành vi của HS 40
khi tham gia GDHN 40
Bảng 2.7 Thống kê khảo sát về các khó khăn trong GDHN 41
Bảng 2.8 Thống kê kết quả khảo sát về các hoạt động GDHN 42
Bảng 2.9 Bảng thống kê khảo sát về hiệu quả GDHN 43
Bảng 2.10 Bảng thống kê khảo sát nguyên nhân hạn chế của GDHN 44
Bảng 2.11 Bảng thống kê khảo sát nguyện vọng phân luồng 44
Bảng 2.12 Bảng thống kê thực trạng phân luồng của HS THCS hai năm qua 46
Bảng 3.1 Đánh giá về mức độ cần thiết của các biện pháp 75
Bảng 3.2 Đánh giá về mức độ phù hợp của các biện pháp 76
Bảng 3.3 Đánh giá về mức độ khả thi của các biện pháp 77
Trang 5CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 5
1.1.1 Khái quát các quan điểm GDHN ở một số nước trên thế giới 5
1.1.2 Quan điểm giáo dục hướng nghiệp của UNESCO 9
1.1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục hướng nghiệp 10
1.1.4 Khái quát các nghiên cứu ở Việt Nam về GDHN 13
1.2 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 14
1.2.1 Giáo dục: 14
1.2.2 Hướng nghiệp: 16
1.2.3 Giáo dục hướng nghiệp 17
1.2.4 Chất lượng 18
1.2.5 Chất lượng giáo dục hướng nghiệp 18
1.3 LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GDHN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 19
1.3.1 Giáo dục phổ thông 19
1.3.2 Mục tiêu, nội dung giáo dục ở trường Trung học cơ sở 19
1.3.3 Vị trí, vai trò của hoạt động HN cho học sinh THCS 19
1.3.4 Mục tiêu của hoạt động GDHN học sinh 21
1.3.5 Nội dung, nhiệm vụ của hoạt động GDHN cho học sinh THCS 22
1.3.6 Các nguyên tắc, hình thức và giai đoạn GDHN cho học sinh THCS 24
1.3.7 Các yếu tố tác động tới quá trình GDHN 26
Kết luận chương 1 29
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH 31 2.1 MỘT SỐ TÌNH HÌNH CHUNG CỦA ĐỊA PHƯƠNG 31
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh 31
2.1.2 Một số dự án trọng điểm của quốc gia và khu vực trên địa bàn tỉnh 32
Trang 72.2 MỘT SỐ NÉT VỀ GIÁO DỤC HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH 33
2.2.1 Hệ thống trường học, các cơ sở giáo dục 33
2.2.2 Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học 34
2.2.3 Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục 34
2.2.4 Công tác chỉ đạo và chất lượng giáo dục 35
2.2.5 Công tác xã hội hoá giáo dục và chính sách xã hội 36
2.3 THỰC TRẠNG GDHN Ở CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN CẨM XUYÊN 36
2.3.1 Hệ thống các trường THCS 36
2.3.2 Các nội dung khảo sát, đánh giá 37
2.3.3 Kết quả khảo sát 37
2.3.4 Đánh giá chung về thực trạng công tác GDHN cho học sinh THCS hiện nay tại Cẩm Xuyên Hà Tĩnh 47
Kết luận chương 2 56
CHƯƠNG III ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH 57
3.1 CÁC CƠ SỞ PHÁP LÝ XÂY DỰNG HỆ THỐNG BIỆN PHÁP 57
3.2 CÁC NGUYÊN TẮC KHI XÂY DỰNG HỆ THỐNG BIỆN PHÁP 61
3.2.1 Đảm bảo tính mục đích của GDHN 61
3.2.2 Đảm bảo sự phù hợp với những đặc điểm tâm lý và nhân cách của HS THCS 61
3.2.3 Đảm bảo sự phân hoá, cá biệt hoá HS trong hoạt động hướng nghiệp 62 3.2.4 Đảm bảo tính hệ thống trong GDHN 62
3.2.5 Đảm bảo quan điểm tiếp cận hoạt động và nhân cách 62
3.2.6 Đảm bảo tính khả thi 63
3.2.7 Đảm bảo tính hiệu quả 63
3.3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GDHN Ở CÁC TRƯỜNG THCS HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH 63
Trang 83.3.1 Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức về công tác GDHN trong cấp uỷ Đảng chính quyền các cấp, trong ngành giáo dục, trong cộng đồng và
xã hội 63
3.3.2 Xây dựng bài học có nội dung về những lĩnh vực nghề nghiệp cụ thể 67
3.3.3 Đa dạng hóa các hình thức tổ chức GDHN 69
3.3.4 Nâng cao nguồn nhân lực GDHN 70
3.3.5 Khuyến khích huy động và tạo điều kiện cho toàn xã hội tham gia vào hoạt động giáo dục hướng nghiệp cùng với nhà trường 72
3.3.6 Tăng cường quản lý công tác GDHN 73
3.4 CÁC Ý KIẾN KHẢO NGHIỆM VỀ TÍNH KHẢ THI VÀ HIỆU QUẢ CỦA CÁC GIẢI PHÁP 74
3.4.1 Đánh giá về mức độ cần thiết của các biện pháp: 75
3.4.2 Đánh giá về mức độ phù hợp của các biện pháp: 76
3.4.3 Đánh giá về mức độ khả thi của các biện pháp: 77
Kết luận chương 3 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 86
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tàì
Bước vào thế kỷ XXI, thế giới đang hướng tới một nền kinh tế tri thức trong chiến lược phát triển bền vững Trong hoàn cảnh đó, đào tạo nguồn nhân lực là điều kiện then chốt, là chiến lược phát triển của các quốc gia
Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ Công nhiệp hóa – Hiện đại hóa (CNH – HĐH), với nền kinh tế mở, nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước Sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng của nền kinh tế trong những năm qua cùng với sự hội nhập sâu rộng với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới đã có nhiều tác động to lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội Vì vậy nó cũng đặt ra cho đất nước ta những cơ hội và thách thức mới, đòi hỏi chúng ta phải nhạy bén trong việc nắm bắt và tiếp thu, lĩnh hội các tri thức tiên tiến cũng như các thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới Bên cạnh đó, vấn đề phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH đã và đang trở thành một nhiệm vụ cấp thiết được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm
Vấn đề nguồn nhân lực thực chất là vấn đề con người Xây dựng nguồn nhân lực Việt Nam tức là xây dựng con người Việt Nam có đủ tầm vóc, tố chất, tiêu chuẩn, tài đức, đủ sức đảm đương công việc được giao
Theo Tiến sĩ Đặng Xuân Hoan - Tổng Thư ký Hội đồng quốc gia Giáo dục
và Phát triển nhân lực: hiện nay, Việt Nam có quy mô dân số trên 90 triệu người, đứng thứ 13 thế giới, thứ 7 châu Á và thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á Dân số phân bố không đều và có sự khác biệt lớn theo vùng Dân cư Việt Nam phần đông vẫn còn là cư dân nông thôn (khoảng 68 % - năm 2013) Trình độ học vấn của dân cư ở mức khá; tuổi thọ trung bình tăng khá nhanh (năm 2013 đạt 73,1 tuổi)
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, hằng năm nước ta có hơn 5 triệu học sinh THCS và gần 3 triệu học sinh THPT ra trường tạo ra cho nước ta một nguồn nhân lực dự trữ dồi dào, đó cũng là nguồn tuyển sinh lớn hằng năm cho các trường Cao đẳng, Đại học, các trường Trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề Vì vậy việc chuẩn
Trang 10bị cho thế hệ trẻ có được phẩm chất và năng lực nghề nghiệp vững chắc đi vào moi ngành nghề là một vấn đề đặc biệt quan trọng mang tính chiến lược Trong Văn
kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI cũng đã chỉ rõ: “Giáo dục và
Đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam”
Với ý nghĩa trên, hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường phổ thông giữ một vị trí, vai trò và nhiệm vụ rất quan trọng Đây là một trong những hoạt động giáo dục nhằm phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh Giáo dục hướng nghiệp (GDHN) nhằm mục đích giúp cho học sinh THCS nói riêng
và học sinh phổ thông nói chung có được sự hiểu biết cơ bản về các ngành nghề trong xã hội, hình thành hứng thú và năng lực nghề từ đó lựa chọn cho mình một hướng đi cụ thể trên cơ sở cân nhắc kỹ lưỡng phù hợp với nhu cầu, hứng thú, khả năng, năng lực sở trường, sức khoẻ của bản thân, sự lựa chọn một cách có ý thức,
có cơ sở khoa học
Trung học cơ sở là cấp học bản lề chuyển giao, kết nối giữa Tiểu học và THPT, bởi thế nâng cao chất lượng dạy học, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp và làm tốt công tác phân luồng học sinh sau THCS chính là góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và nâng cao chất lượng lao động qua đào tạo nói riêng
Hiện nay, qua thực tế khảo sát và nghiên cứu thấy rằng hoạt động GDHN ở các trường phổ thông còn bị xem nhẹ, đặc biệt đối với học sinh THCS học sinh chủ yếu được học các kiến thức để chuẩn bị bước lên THPT Bên cạnh đó, các bậc phụ huynh cũng xác định con đường cho con em mình học tiếp lên THPT rồi vào Cao đẳng, Đại học như một con đường tất yếu Mặc dù hiện nay sinh viên tốt nghiệp các trường Cao đẳng, Đại học không xin được việc làm ngày càng gia tăng trong khi đó các khu công nghiệp, các nhà máy, đang rất thiếu công nhân kỹ thuật hoặc lao động đã qua đào tạo Đại đa số phụ huynh học sinh chưa xác định giáo dục hướng nghiệp cho con em là một việc quan trọng, trong khi đó công tác tuyên truyền về
Trang 11định hướng nghề nghiệp cho học sinh chưa được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm Chính vì lẽ đó, so với các nước trên thế giới, kiến thức cơ bản của HS Việt Nam rất vững vàng nhưng khả năng vận dụng, kỹ năng thực hành còn rất nhiều hạn chế Theo số liệu mới công bố của Bộ Giáo dục và Đào Tạo, năm học 2015 –
2016 số học sinh tốt nghiệp THCS trong cả nước vào học THCN là 30.907 học sinh, chiếm 22%, tăng hơn 10.000 học sinh so với năm 2014, trong khi đó trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh con số này chỉ khoảng 12% đến 15%
Trước thực trạng đó, để nâng cao chất lượng giảng dạy nói chung và nâng cao chất lượng GDHN nói riêng nhằm góp phần tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng, đặc biệt là lao động qua đào tạo cho học sinh ở các trường THCS trên địa
bàn huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, tôi lựa chọn đề tài: “Biện pháp nâng cao
chất lượng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên tỉnh Hà Tĩnh”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề tài đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, từ đó đáp ứng tốt yêu cầu của cấp học này trong giai đoạn hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài được thực hiện với ba nhiệm vụ sau:
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục hướng nghiệp ở trường THCS 3.2 Khảo sát thực trạng giáo dục hướng nghiệp hiện nay tại các trường THCS trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
3.3 Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng GDHN tại các trường THCS huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
4 Đối tượng và khách thể
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp nâng cao chất lượng GDHN và làm tốt công tác phân luồng học
sinh ở các trường THCS huyện Cẩm Xuyên tỉnh, Hà Tĩnh
Trang 126 Giả thuyết khoa học
Công tác giáo dục ở các trường THCS huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận song vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định, đặc biệt trong công tác GDHN Nếu xác định được các điểm mạnh điểm yếu trong công tác giáo dục hướng nghiệp ở các trường THCS huyện Cẩm Xuyên và chỉ
ra các biện pháp thích hợp sẽ nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp của địa phương
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.3 Phương pháp thống kê
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, đề xuất, luận văn gồm 03 chương: + Chương 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục hướng nghiệp ở trường THCS
+ Chương 2: Khảo sát thực trạng giáo dục hướng nghiệp hiện nay tại các trường THCS trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
+ Chương 3: Đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng GDHN tại các trường THCS huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 13CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1 Khái quát các quan điểm GDHN ở một số nước trên thế giới
1.1.1.1 Quan điểm Giáo dục hướng nghiệp của nước Nga
Các nhà giáo dục Nga vẫn kế thừa, tiếp thu và phát triển lý luận về vai trò và
ý nghĩa của giáo dục tổng hợp Không tách giáo dục hướng nghiệp ra khỏi giáo dục đại cương và giáo dục lao động của trường Phổ thông, nhất là các cấp THPT Từ những năm học 1994 – 1995, Bộ giáo dục Liên Bang Nga chủ trương thí nghiệm rộng rãi, cuốn chiếu chương trình công nghệ học thay cho chương trình dạy lao động và kỹ thuật tổng hợp áp dụng từ thời Xô Viết Các nhà giáo dục Liên Bang Nga cho rằng, trong các tiêu chí đánh giá chất lượng học sinh thì “Sự thành đạt nắm vững nghề đã chọn có giá trị cao nhất’
Chương trình giáo dục công nghệ của nước Nga hiện nay bao gồm những nội dung có tính chất giáo dục kỹ thuật tổng hợp nhằm đào tạo một nghề cụ thể, mà theo nhóm công nghệ học, gắn sản xuất với kinh doanh, mang tính hướng nghiệp Nhờ thông qua giáo dục công nghệ, sinh học được làm quen, thử sức với từng loại hình sản xuất, đồng thời chú ý vai trò của công nghệ thông tin được sử dụng trong nền kinh tế hiện đại[27]
1.1.1.2 Nhà trường Pháp và vấn đề giáo dục lao động, nghề nghiệp
Nước Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục (năm 1975), để hiện đại hoá nền giáo dục nhằm vào các hướng: Tăng cường giáo dục tự nhiên và toán học, trong đó tăng kiến thức thực hành đối với khoa học tự nhiên, đưa giáo dục kỹ thuật vào để đảm bảo sự liên hệ giữa trường học với đời sống, đồng thời vẫn giữ ý nghĩa của các môn xã hội và nhân văn Đặc biệt chú trọng tới giảng dạy lao động và nghề nghiệp cho học sinh, khắc phục khuynh hướng và quan niệm coi giáo dục lao động là một loại giáo dục loại hai Để phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh, nhà trường Pháp đặt giáo dục lao động, thủ công và nghề nghiệp bình đẳng với các loại hình hoạt động khác của nhà trường Từ năm 1975, ở Pháp đã dạy các môn học về công
Trang 14nghệ học, khoa học kinh tế và những kiến thức xã hội học nhập môn trong trường phổ thông Nhà trường Pháp hiện nay đã giảm bớt tính hàn lâm trong việc cung cấp các kiến thức khoa học, tăng cường tỉ trọng kiến thức có ý nghĩa thực tiễn và hướng nghiệp để giúp học sinh trung học chuẩn bị di và đào tạo và cuộc sống nghề nghiệp[27]
Giáo dục phổ thông phải tạo điều kiện cho học sinh hình thành dần dần trong đầu xu hướng nghề nghiệp trong tương lai, độc lập với những ước muốn chủ quan của cha mẹ Đôi khi nó còn phải giúp học sinh thoát khỏi những ước mơ viễn vông không có cơ sở, cảm tính, và trở lại đúng thực chất của chúng về khả năng, điều kiện, sở thích…
1.1.1.3 Hiện đại hoá quá trình học tập của nhà trường Đức
Giáo dục phổ thông trong nhà trường của liên Bang Đức đang tiến tới “một nhà trường Châu âu thống nhất” nhưng vẫn giữ được những truyền thống tốt đẹp của nhà trường Đức Vì vậy, định hướng cải cách của nhà trường Đức đã đặt ra nhiệm vụ xem xét lại mục tiêu và nhiệm vụ của trường phổ thông, hiện đại hoá nội dung Cụ thể là:
- Chuyển từ nhà trường truyền thống với hệ thống 3 loại hình sang 02 loại hình;
- Giảm thời lượng học tập của trường THCS nhưng vẫn đảm bảo trình độ cao
Trang 15phân loại lần nữa: những học sinh khá được lên lớp 13 thi lấy bằng tú tài toàn phần
và vào học các trường đại học, số còn lại sẽ vào các cơ sở đào tạo nghề trung cấp Nhà nước không để thanh niên dù là người quốc tịch nước ngoài đang cư trú hợp pháp trên đất nước Đức bị thất học phổ thông mà mù nghề Xu hướng hiện đại hoá
ở đây là tạo điều kiện cho học sinh có thể học nghề ngay khi đang học phổ thông, cung cấp hệ thống kiến thức khoa học gắn với hướng đào tạo nghề một cách linh hoạt, giảm bớt tính hàn lâm của bậc trung học hoàn chỉnh
1.1.1.4 Nhà trường Ba Lan bước vào thế kỷ XXI:
Trong chiến lược hiện đại hoá “Con đường tới năm 2010” của Ba Lan chỉ rõ
“ Ưu tiên cao nhất cho 15 năm tới là sử dụng tiềm lực trí tuệ Ba Lan và nguồn lực
để rút ngắn và hiện đại hoá quá trình xã hội – Kinh tế Chúng ta theo đuổi chiến lược đưa giáo dục trong năm 2010 đạt những tiêu chuẩn giáo dục châu Âu” Báo cáo đã xác định một số nguyên tắc vàng chỉ đạo cải cách giáo dục đó là:
- Phân hoá rộng thay cho phân hoá hẹp trước đây, vì phân hoá rộng đảm bảo thay đổi nhanh chóng trình độ lành nghề cho người lao động và đào tạo cán bộ;
- Phát triển mọi mặt trí tuệ, tâm lí, nghề nghiệp – Xã hội, thể chất của học sinh, đảm bảo mục tiêu con người phát triển toàn diện
1.1.1.5 Chuẩn bị nguồn nhân lực và tinh thần hướng nghiệp ở nhà trường của Nhật Bản
Từ năm 1988, Nhật Bản công bố “sách trắng” và đã khẳng định: Nhật Bản đang đối mặt với mục tiêu cơ bản của cải cách giáo dục thế kỉ XXI, thực hiện một “
xã hội học tập suốt đời” Với mục tiêu là sự phát triển của chính học sinh, giúp các
em tự phát triển ngay từ nhỏ cho đến khi trưởng thành Sự kết hợp giữa nhà trường,
gia đình và cộng đồng trở thành một nguyên tắc cơ bản, trong đó vai trò chính của nhà trường phổ thông là phải tạo động cơ học tập cho học sinh, dạy cho các em cách học, phát triển khả năng tự học
Chương trình cải cách giáo dục được xây dựng trên cơ sở 2 luận điểm quan trọng:
- Tăng cường tính linh hoạt và đa dạng trong đánh giá hệ thống giáo dục;
Trang 16- Thực hiện cải cách giáo dục không chỉ đóng khung trong phạm vi nhà trường, trong hệ thống giáo dục mà còn phải mở rộng tầm nhìn ra phạm vi toàn xã hội theo quan điểm mở cửa, giao lưu, hội nhập quốc tế
Nội dung các môn học đa dạng, toàn diện, trong đó có giáo dục hướng nghiệp Với sự thay đổi toàn diện về nội dung, phương pháp giáo dục nhằm tăng cường năng lực thực tiễn của cá nhân học sinh, cần thiết cho vai trò của người lao động Theo quan điểm mới về chất lượng nguồn nhân lực, tương lai mỗi công dân cần phải có kỹ năng đa dạng, phong phú hơn là những kiến thức mà họ sẽ quên ngay sau khi thi Những kỷ năng này không chỉ được học trong nhà trường mà còn phải được luyện tập, thực hành hàng ngày trong cuộc sống Để đạt được mục tiêu này, phải kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng Phải vận dụng những kiến thức học trong nhà trường vào trong cuộc sống thực tế
Nhật Bản quan tâm đến việc rèn khả năng thích ứng của nhân lực đối với sự phát triển “nền công nghiệp hoá Nhật Bản” trong trường phổ thông thông qua các hoạt động như:
+ Hoạt động nhóm nhỏ và “tinh thần doanh nghiệp Nhật Bản”;
+ Giáo dục lòng trung thành của người lao động Nhật Bản tương lai trong trường phổ thông;
+ Giáo dục quan hệ lãnh đạo trong trường phổ thông;
+ Hình thành thói quen cần cù, tự giác của người lao động
1.1.1.6 Chương trình giáo dục trung học của Thái Lan
Giáo dục trung học của Thái Lan được chia thành hai cấp (Trung học cơ sở
và trung học phổ thông), mỗi cấp học trong 3 năm Chương trình trung học cơ sở đặt trọng tâm vào tri thức đạo đức và các kỹ năng cơ bản Chương trình này làm giúp cho học sinh tự khám phá về sở trường và sở thích của mình qua sự lựa chọn rộng rãi trong số các môn học kể cả về lý thuyết và hướng nghiệp theo sở thích và
sở trường của học sinh Những kiến thức và kỷ năng này sẽ có lợi cho học sinh để tiếp tục theo học chương trình cấp cao hoặc đi vào công việc lao động[32]
Trang 171.1.1.7 Giáo dục hướng nghiệp trong các trường phổ thông ở Hoa Kỳ
Giáo dục nghề nghiệp trong trường phổ thông ở Hoa Kỳ nhằm chuẩn bị cho người học những kiến thức và kỹ năng ở mức vào thị trường lao động trong những nghề đòi hỏi trình độ thấp hơn trình độ đại học Tuy nhiên, trong 15 năm qua mục tiêu này đã có những thay đổi nhằm chuẩn bị cho học sinh những kiến thức của một ngành sản xuất dịch vụ nào đó Tích hợp giáo dục văn hoá và giáo dục nghề đang là
xu hướng chính hiện nay ở bậc THPT Hoa Kỳ Các mô hình giáo dục THPT ở Hoa
Kỳ rất đa dạng nhằm làm cho quá trình giáo dục hợp lý hơn với nhu cầu, khả năng
cá nhân người học và lợi ích cộng đồng[2]
1.1.2 Quan điểm giáo dục hướng nghiệp của UNESCO
- Coi học tập là một quá trình liên tục, kéo dài suốt cả cuộc đời đòi hỏi các nhà giáo dục phải xem xét lại cả nội dung và cách thức tổ chức giáo dục, nhất là bậc trung học;
- Xác định nguyên tắc giáo dục suốt đời, tạo nhiều cơ hội học tập cho người học, và tự hoàn thiện sau khi hoàn thành giáo dục cơ sở
- Giáo dục thường xuyên, giáo dục trung học có thể gắn với phạm vi học suốt đời theo ba nguyên tắc: đa dạng hoá các khoá học, xen kẽ giữa chương trình học và hoạt động nghề nghiệp xã hội và nghiên cứu cải tiến chất lượng Việc đa dạng hoá
cơ cấu khoá học và chú ý hơn không chỉ nội dung mà cả việc chuẩn bị cho cuộc sống lao động là một trong những mục tiêu của mọi cuộc cải cách Hướng nghiệp tạo điều kiện cho học sinh lựa chọn một trong nhiều con đường khác nhau Các hệ thống giáo dục phải thiết kế đủ linh hoạt để tính đến sự khác biệt cá nhân trong việc
tổ chức các mô hình học tập, tạo cầu nối cho những người bị gián đoạn học tập có thể trở lại học theo hình thức chính quy
Tóm lại, qua nghiên cứu quan điểm giáo dục hướng nghiệp của một số nước trên thế giới và quan điểm giáo dục hướng nghiệp UNESCO có thể khẳng định: Chương trình giáo dục hướng nghiệp ở phổ thông ở mỗi nước đều có đặc trưng riêng nhưng xu thế hiện tại của giáo dục phổ thông và giáo dục nói chung trên thế giới là : Coi dạy nghề, bao gồm cả giáo dục tiền nghề nghiệp ở trường phổ thông có
Trang 18vai trò rất quan trọng, dù là cách diễn đạt khác nhau, nhưng tựu trung đều thống nhất với nhau ở chỗ: Giáo dục lao động gắn liền với giáo dục công nghệ và giáo dục hướng nghiệp
1.1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về giáo dục hướng nghiệp đã được xác định từ lâu thể hiện thông qua các văn bản quan trọng sau:
a) Quyết định số 126/CP ngày 19/3/1981 của Hội đồng Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng học sinh các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường
Có thể coi Quyết định này là một cột mốc quan trọng đối với sự phát triển giáo dục trong hệ thống nhà trường phổ thông, bởi từ thời điểm ấy, hướng nghiệp chính thức được coi như một môn học và đồng thời được bố trí các tiết dạy như các môn học khác Quyết định đã khẳng định, công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông được tiến hành theo 4 con đường mà mục tiêu chung là giúp học sinh định hướng chọn nghề sao cho vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, hoàn cảnh của cá nhân, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển ngành, nghề trong xã hội
Sau khi có quyết định 129/CP, trong những năm thuộc thập kỷ 80 (thế kỷ XX), công tác hướng nghiệp đã tạo ra một khí thế mới trong trường học Không khí học kỹ thuật, thực hành lao động sản xuất và học nghề tại các trung tâm khá sôi động
b) Quyết định số 25/2000/QĐ-BGDĐT, ngày 11/7/2000 của bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo về việc “Ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp” và đến năm 2008 có quyết định số 44/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 30/7/2008 thay thế quyết định nói trên
Quy chế về tổ chức và hoạt động của trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp ra đời đã thể hiện một bước chuyển biến quan trọng trên thực tế về công tác giáo dục kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp cho học sinh Quy chế đã tạo
Trang 19hành lang pháp lý về sự ra đời và động của một cơ sở giáo dục làm nhiệm vụ giáo dục kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp cho học sinh các cấp
Như vậy , sự ra đời của các Trung tâm kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp đã tạo ra điều kiện thuận lợi trong việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp cho học sinh THCS, THPT
c) Chỉ thị 33/2003/CT-BGDĐT, Ngày 23/7/2003 của Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành về tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông
Sau khi đánh giá tình hình về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông
cả nước thời gian qua, Chỉ thị đã chỉ rõ.:
“Trên cơ sở quán triệt các quan điểm cơ bản về giáo dục của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 9, Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội và chỉ thị số 14/2001/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên cần nâng cao hơn nữa nhận thức về ý nghĩa, mục đích, nội dung và những biện pháp thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông”
Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông nhằm mục đích bồi dưỡng, hướng dẫn học sinh, ngay từ trong nhà trường, chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội đồng thời phù hợp với năng lực cá nhân
Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông có nhiệm vụ : Giáo dục thái
độ lao động và ý thức đúng đắn với nghề nghiệp; cho học sinh làm quen với một số nghề phổ biến trong xã hội và các nghè truyền thống của địa phương; tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn
và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất; động viên học sinh đi vào những nghề, những nơi đang cần
Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông bằng các hình thức: tích hợp nội dung hướng nghiệp vào các môn học, lao động sản xuất và học nghề phổ thông, hoạt động sinh hoạt hướng nghiệp và các hoạt động ngoại khoá khác
d) Điều 28 Luật giáo dục (sửa đổi năm 2009) đã nêu yêu cầu về nội dung của giáo dục phổ thông như sau:
Trang 20“…Giáo dục phổ thông phải đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và có hệ thống, gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục ở mỗi cấp học
…Giáo dục trung học cơ sở phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp
Giáo dục trung học phổ thông phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở trung học cơ sở, hoàn thành nội dung giáo dục phổ thông; ngoài nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, toàn diện và hướng nghiệp cho mọi học sinh có nội dung nâng cao ở một số môn học để phát triển năng lực, đáp ứng nguyện vọng của học sinh”
Những năm gần đây, vấn đề đào tạo người lao động được Đảng ta rất coi
trọng Văn kiện Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ IX đã ghi rõ: “Coi trọng
công tác giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương” Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo yêu cầu: “Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9)
có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học
cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng” và “Nội dung giáo dục nghề nghiê ̣p được xây dựng theo hướng tích hợp kiến thức, kỹ năng, tác phong làm việc chuyên nghiệp
để hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học” Và cũng tại Đại hội Đảng
Cộng Sản Việt Nam lần thứ XII, Đảng ta tiếp tục xác định đổi mới toàn diện giáo dục – đào tạo trên cơ sở làm tốt công tác hướng nghiệp và phân luồng từ cấp THCS
Trang 211.1.4 Khái quát các nghiên cứu ở Việt Nam về GDHN
Quyết định 126/CP ngày 19-3-1981 của Chính phủ về Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh THCS, THPT tốt nghiệp ra trường đã nêu rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ công tác hướng nghiệp, phân công cụ thể chính quyền các cấp, các ngành kinh tế, văn hóa từ Trung ương đến địa phương tham gia vào hoạt động HN Tất cả các cấp, các ngành có nhiệm vụ tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ các trường phổ thông trong việc đào tạo, sử dụng hợp lý
và tiếp tục bồi dưỡng học sinh phổ thông sau khi ra trường Thông tư 31/TT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc Hướng dẫn thực hiện quyết định 126/CP của Chính phủ cũng nêu rõ mục đích, nhiệm vụ và hình thức hướng nghiệp cho học sinh phổ thông
Công tác GDHN cho học sinh phổ thông ở Việt Nam từ lâu đã được các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục quan tâm nghiên cứu như:
Trước năm 1987: Các tác giả Nguyễn Trọng Bảo, Đoàn Chi, Cù Nguyên Hanh, Hà Thế Ngữ, Tô Bá Trọng, Trần Đức Xước, Nguyễn Thế Quảng, Nguyễn Phúc Chỉnh đi sâu nghiên cứu việc tiến hành công tác GDHN trong các trường phổ thông và đề cập đến các hình thức GDHN, dạy nghề trong trường phổ thông và trung tâm KTTH-HN như tổ chức lao động sản xuất cho HS; tư vấn nghề nghiệp cho HS [9]
Từ năm 1996-2005: Nguyễn Viết Sự, Hà Thế Truyền đã đề cập các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kĩ thuật và hướng nghiệp ở trường phổ thông[26], [29]
Từ năm 2005 lại nay, khái quát các kinh nghiệm hướng nghiệp của một số nước trên trên giới, có những đánh giá về công tác hướng nghiệp cho HS ở trường phổ thông và đã đưa ra những giải pháp về công tác GDHN ở Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XXI có các tác giả Đặng Danh Ánh, Phạm Tất Dong, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Như Ất, Lưu Đình Mạc, Phạm Huy Thụ, Nguyễn Văn Lê, Trần Khánh Đức, Hà Thế Truyền, Bùi Văn Quân [14], [15], [17], [23], [24] Vũ Đình Chuẩn, Lê Trần Tuấn, Trần Thị Thu, Nguyễn Thị Châu [10]
Trang 22Một số luận văn trong những năm gần đây cũng đã tập trung nghiên cứu công tác GDHN dưới nhiều khía cạnh Có thể kể đến các luận án của các tác giả Nguyễn Thị Nhung (2009): “Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông miền núi Tây Bắc” ; Bùi Việt Phú (2009): “Tổ chức GDHN cho HS trung học phổ thông theo tinh thần xã hội hóa”; Huỳnh Thị Tam Thanh (2009): “Tổ chức hoạt động GDHN cho HS bổ túc trung học phổ thông tại các trung tâm giáo dục thường xuyên theo định hướng phát triển nhân lực”; Phạm Văn Khanh (2012): “GDHN trong dạy học các môn học khoa học tự nhiên ở trường trung học phổ thông KV Nam Trung Bộ” đã tập trung nghiên cứu những giải pháp để nâng cao chất lượng GDHN trong nhà trường phổ thông theo các hướng khác nhau.
Tuy vậy, hiện nay tại huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào đề cập đến thực trạng và các giải pháp nâng cao chất lượng GDHN cho học sinh THCS nên tác giả đã chọn nội dung này làm đề tài nghiên cứu của mình
1.2 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Giáo dục: là tác động có hệ thống để con người có thêm năng lực và
- Về mặt xã hội: Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất nó là
sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở
đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên
+ Chức năng của giáo dục: Gồm hai chức năng, đó là chức năng văn hoá xã hội và chức năng kinh tế
Trang 23+ Chức năng văn hoá xã hội: được thể hiện qua việc nâng cao dân trí, bồi dữơng nhân tài và giáo dục tư tưởng chính trị
+ Chức năng kinh tế: Giáo dục tham gia vào đào tạo nhân lực chính là tái sản xuất sức lao động xã hội, là tạo ra lực lượng trực tiếp sản xuất và quản lý xã hội Giáo dục làm phát triển năng lực trí tuệ và khả năng lao động sáng tạo của con người Trí tuệ là tiềm năng của con người Trí tuệ là tiềm năng của mọi tiềm năng, một tài sản quý nhất của mọi thời đại Đào tạo nhân lực chính là thực hiện chức năng kinh tế của giáo dục
- Các con đường giáo dục: giáo dục là quá trình tác động để hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ theo mục đích xã hội, quá trình này được thực hiện bằng các con đường:
+ Giáo dục thông qua dạy học: Nhà trường là một tổ chức giáo dục chuyên nghiệp, có nội dung chương trình, có phương tiện và phương pháp hiện đại, do một đội ngũ các nhà sư phạm đã được đào tạo chu đáo thực hiện Dạy dọc là con đường giáo dục chủ động, ngắn nhất và có hiệu quả, giúp thế hệ trẻ tránh được sự mò mẫm, vấp váp trong cuộc đời Dạy học là con đường quan trọng nhất trong tất cả các con đường giáo dục
+ Giáo dục thông qua các hoạt động phong phú và đa dạng: Toàn bộ cuộc sống của con người là một hệ thống liên tục các hoạt động và con người lớn lên cùng với các hoạt động đó Con người có nhiều dạng hoạt động như: vui chơi, lao động sản xuất và hoạt động xã hội… mỗi dạng hoạt động có những nét đặc thù và đều có tác dụng giáo dụng
+ Giáo dục thông qua hoạt động tập thể : Đây là một hoạt động giáo dục quan trọng của nhà trường Hai yếu tố quan trọng của tập thể có ý nghĩa giáo dục lớn là chế độ sinh hoạt và dư luận tập thể Tập thể vừa là môi trường, vừa là phương tiện giáo dục con người, tổ chức tập thể là con đường giáo dục đúng đắn
+ Tự tu dưỡng: Tự tu dưỡng là kết quả của quá trình giáo dục, là sản phẩm của nhận thức và sự tạo lập các thói quen hành vi, là bước tiếp theo quy định của quá trình giáo dục
Trang 24Các con đường giáo dục không phải là riêng rẽ, tách rời mà là một hệ thống gắn bó với nhau, chúng bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để đạt được mục tiêu giáo dục Phối hợp các con đường giáo dục chính là nguyên tắc giáo dục phức hợp và cũng là nghệ thuật giáo dục[31].
1.2.2 Hướng nghiệp: Là một hoạt động trong nhà trường phổ thông, giúp học
sinh có những hiểu biết thông thường về hướng nghiệp để có thể định hướng phát triển, lựa chọn nghề phù hợp với hứng thú cá nhân, năng lực bản thân và nhu cầu xã hội
Viện sĩ C.Ia.Batưsép xác định: “ Hướng nghiệp là một hoạt động hợp lý gắn với sự hình thành ở thế hệ trẻ hứng thú và sở thích nghề nghiệp vừa phù hợp với những năng lực cá nhân, vừa đáp ứng đòi hỏi của xã hội đối với nghề này hay nghề khác ”[20]
- Xét về bình diện xã hội, hướng nghiệp là một hệ thống tác động của xã hội
về giáo dục học, y học, xã hội học, kinh tế học… nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, qua đó đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân Có thể nói rằng, hướng nghiệp là công việc mà toàn xã hội có trách nhiệm tham gia Hướng nghiệp là quá trình dẫn dắt thế hệ trẻ đi vào thế giới nghề nghiệp, giúp họ phát huy được hết năng lực lao động trong thế giới đó, có cuộc sống thoã mãn với lao động nghề nghiệp
- Trên bình diện giáo dục ở trường phổ thông, hướng nghiệp là một hình thức hoạt động dạy của thầy, hoạt động học của trò Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, hướng nghiệp được coi như là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm
có mục đích giáo dục học sinh trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về năng lực, hứng thú của bản thân và nhu cầu nhân lực của các ngành sản xuất trong xã hội Như vậy hướng nghiệp trong trường phổ thông được thể hiện như một hệ thống tác động sư phạm nhằm làm cho các em học sinh chọn được nghề một cách hợp lý
Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông chỉ là một bộ phận của công tác hướng nghiệp trong toàn xã hội Vì vậy, công tác HN trong trường phổ thông
Trang 25phải thống nhất với công tác hướng nghiệp trong xã hội Hai bộ phận này có quan
hệ mật thiết với nhau, bổ sung lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau
Tính chất hướng nghiệp của nhà trường phổ thông: Thể hiện toàn diện từ chương trình, nội dung, kế hoạch, phương pháp đào tạo, đến việc xây dựng cơ sở vật chất… Trong quá trình đào tạo, học sinh đều chịu tác động hướng nghiệp, đều được chuẩn bị để sẵn sàng tham gia lao động nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp
Hướng nghiệp là một bộ phận không thể thiếu trong nhà trường Hướng
nghiệp là biện pháp thực hiện nguyên lý giáo dục: Học đi đôi với hành, giáo dục kết
hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội Trong giáo dục hướng
nghiệp, học sinh được tìm hiểu về vấn đề nghề nghiệp, có cơ hội tiếp cận, thử sức với nghề, đồng thời được thực hành lao động nghề nghiệp để kiểm chứng nguyện vọng và sở thích cá nhân cũng như củng có những lý luận khoa học đã được học Nhờ đó có thể nâng cao chất lượng giáo dục, làm cho nhà trường gắn liền với thực
tế xã hội[27]
Hướng nghiệp là bước khởi đầu quan trọng cho sự phát triển nguồn nhân lực Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, giáo dục học,
xã hội học và nhiều khoa học khác để cho học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu
xã hội, đồng thời thoả mãn tối đa nguyện vọng, thích hợp với năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh lý cá nhân cũng như điều kiện gia đình để người học có thể phát triển đến đỉnh cao nghề nghiệp, cống hiến cho xã hội, tạo lập cuộc sống tốt đẹp cho bản thân.
Quan niệm mới về hướng nghiệp: “Hướng nghiệp là một quá trình liên tục giúp đỡ mọi người suốt cả cuộc đời để họ thực hiện được dự án cá nhân cũng như nghề nghiệp của mình bằng cách xác định những mong muốn và năng lực của mình thông qua thông tin và tư vấn về thực tế thế giới công việc, sự phát triển của nghề nghiệp, thị trường lao động, thực tiễn kinh tế và nhu cầu đào tạo”[3].
1.2.3 Giáo dục hướng nghiệp
GDHN là hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội, trong đó tập thể sư phạm nhà trường giữ vai trò quyết định nhằm giúp học sinh chọn nghề trên
Trang 26cơ sở khoa học Khi ấy tập thể sư phạm phải sử dụng các biện pháp giáo dục mang tính chất hướng dẫn, tính thuyết phục cao không áp đặt, bảo đảm nguyên tắc hình thành hứng thú, điều chỉnh, uốn nắn động cơ chọn nghề của thế hệ trẻ sao cho có sự nhất trí cao giữa nguyện vọng của cá nhân với yêu cầu nhân lực của các thành phần kinh tế, giữa năng lực của cá nhân với đòi hỏi của nghề[8]
Như vậy, giáo dục hướng nghiệp có thể hiểu là: Quá trình tác động có tính hệ thống đến đối tượng những kiến thức khoa học, công nghệ ở một số nghề đồng thời giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề phù hợp hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân
Theo ISO 9000:2005, chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có
1.2.5 Chất lượng giáo dục hướng nghiệp
Qua nghiên cứu các khái niệm về hướng nghiệp, hoạt động giáo dục, chất lượng giáo dục, và khái niệm về chất lượng, người nghiên cứu nhận thấy:
Chất lượng giáo dục hướng nghiệp: là mức độ đạt được sau khi thực hiện hoạt động giáo dục này so với mục tiêu giáo dục đề ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của học sinh
là định hướng được nghề nghiệp tương lai của bản thân và đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực cho xã hội hiện tại và tương lai
Trang 271.3 LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GDHN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1.3.1 Giáo dục phổ thông
Điều 30 Luật giáo dục năm 2005 đã ghi rõ: Cơ sở giáo dục phổ thông bao gồm:
1 Trường Tiểu học
2 Trường Trung học cơ sở
3 Trường Trung học phổ thông
4 Trung tâm kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp
Hệ thống trung tâm KTTH-HN trong toàn cơ sở giáo dục phổ thông đã trở thành một kênh đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu bổ sung lực lượng lao động để phát triển sản xuất ở địa phương cũng như ở các ngành khoa học – kinh tế của đất nước
1.3.2 Mục tiêu, nội dung giáo dục ở trường Trung học cơ sở
Luật Giáo dục năm 2005 quy định:
- Mục tiêu của giáo dục THCS: giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
- Nội dung giáo dục THCS: củng cố, phát triển những nội dung đã học ở bậc Tiểu học, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết phổ thông cơ bản về tiếng Việt, toán, lịch sử dân tộc; kiến thức khác về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật, tin học, ngoại ngữ; có những hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp
1.3.3 Vị trí, vai trò của hoạt động HN cho học sinh THCS
1.3.3.1 Thực hiện GDHN ở trường THCS là xu thế tất yếu của thời đại
Ở nước ta, hoạt động GDHN trong nhà trường phổ thông cấp THCS có vị trí đặc biệt quan trọng nhằm đảm bảo những yêu cầu sau:
- Về mặt kiến thức: Giúp cho học sinh có được những hiểu biết cần thiết về thế giới nghề nghiệp, các lĩnh vực sản xuất chủ yếu trong xã hội như công nghiệp,
Trang 28nông nghiệp và dịch vụ Trong mỗi lĩnh vực, tuỳ trình độ học vấn và khả năng của học sinh ở từng cấp mà giúp cho các em tiếp cận và có được những kiến thức cần thiết về khoa học - công nghệ hiện đại
- Về mặt kỹ năng: Hoạt động GDHN giúp cho học sinh có được những kỹ năng, kỹ thuật tổng hợp để phát triển khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng vào việc xử lý các tình huống trong thực tế và tham gia có hiệu quả vào cuộc sống lao động hoặc học tiếp lên bậc học cao hơn
- Về mặt năng lực: Từng bước hình thành cho học sinh những kiến thức cần thiết của người lao động, có đủ kiến thức, kỹ năng để sử dụng một số máy móc, thiết bị kỹ thuật hiện đại, biết ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, biết tự đánh giá bản thân để có sự lựa chọn hướng đi sau tốt nghiệp THCS
- Về phẩm chất đạo đức: Vấn đề hình thành phẩm chất của người lao động mới ngay từ khi học sinh đang còn ngồi trên ghế nhà trường là rất cần thiết Vì vậy, với chức năng nhiệm vụ được giao, hoạt động GDHN góp phần đắc lực vào việc giáo dục cho học sinh những phẩm chất cần thiết của người lao động mới như: có ý thức vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật, yêu quý lao động, năng động sáng tạo trong lao động, có ý thức trách nhiệm và tận tâm với công việc, có tinh thần hợp tác xây dựng và phát triển đất nước Xuất phát từ những nội dung trên, việc GDHN cho học sinh là một xu thế tất yếu phù hợp với tình hình đất nước đang trong thời kỳ đổi mới
1.3.3.2 GDHN góp phần tạo ra sự phù hợp nghề cho từng học sinh trong tương lai
Hiện nay ở nước ta, phần đông học sinh cuối cấp THCS và THPT đều chưa
có phương hướng học tập và nghề nghiệp một cách rõ ràng Các em thường không biết chọn nghề gì cho tương lai, hoặc các em đi theo một nghề nào đó là do ý muốn của cha mẹ, người thân hoặc bạn bè mà không hiểu nghề đó có phù hợp với mình hay không Vì vậy, người làm công tác hướng nghiệp có nhiệm vụ tư vấn và tuyên truyền định hướng cho các em, giúp các em gắn bó với nghề mình yêu thích Từ đó, các em sẽ phấn đấu để đạt được nguyện vọng làm đúng với nghề mình đã chọn Sự
Trang 29phù hợp nghề của một con người bao giờ cũng được bộc lộ bởi 2 yếu tố: năng lực
và phẩm chất trong lao động nghề nghiệp theo yêu cầu của nghề đó đặt ra Chúng luôn thống nhất với nhau, chuyển hóa lẫn nhau, thiếu một trong hai yếu tố trên thì không thể coi là phù hợp nghề
1.3.4 Mục tiêu của hoạt động GDHN học sinh
Luật giáo dục năm 2005 đã chỉ rõ: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp
học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng
cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng
tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc” Để thực hiện mục tiêu
đó, chương trình giáo dục ở trường phổ thông được xây dựng bao gồm hệ thống các môn học bắt buộc và tự chọn, các hoạt động trong và ngoài giờ lên lớp, các hoạt động khác của đoàn thể và cộng đồng xã hội Hệ thống các hoạt động giáo dục đồng
bộ, phong phú diễn ra ở trong và ngoài nhà trường, thực hiện phương châm học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội; coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương Mục tiêu công tác GDHN học sinh THCS cũng là một bộ phận trong mục tiêu giáo dục phổ thông, phải bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, toàn diện, hướng nghiệp và hệ thống, gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh
Hoạt động GDHN ở trường phổ thông có vai trò quan trọng trong việc tổ chức, hình thành các kỹ năng kỹ thuật tổng hợp, các kỹ năng sống cho thế hệ trẻ như: kỹ năng thu thập và xử lý thông tin, kỹ năng lập kế hoạch và triển khai công việc, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tổ chức cuộc sống khoa học v.v…Đồng thời, thông qua các hoạt động hướng nghiệp giúp cho học sinh hiểu biết về thế giới nghề nghiệp phong phú mà xã hội yêu cầu, hiểu được năng lực và
xu hướng nghề nghiệp của bản thân, nắm được điều kiện và cơ sở học tập nghề nghiệp để từ đó lựa chọn đúng hướng đi và nghề nghiệp tương lai Đây cũng là xu
Trang 30thế toàn cầu hóa với sự đổi mới và phát triển kinh tế xã hội Việt Nam, đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
1.3.5 Nội dung, nhiệm vụ của hoạt động GDHN cho học sinh THCS
1.3.5.1 Nội dung của hoạt động GDHN cho học sinh THCS
Ở cấp THCS, nội dung chương trình hoạt động GDHN được thực hiện với thời lượng 3 tiết/tháng theo quy định của Bộ GD&ĐT Nội dung bao gồm:
9 Ý nghĩa, tầm quan trọng
của việc chọn nghề có cơ
sở khoa học
- Ý nghĩa của việc chọn nghề
- Cơ sở khoa học của việc chọn nghề
- Những nguyên tắc chọn nghề
10 Tìm hiểu năng lực bản thân
và truyền thống nghề
nghiệp của gia đình
- Một số khái niệm: năng lực, phù hợp nghề
-Tự đánh giá năng lực bản thân theo yêu cầu nghề nghiệp
- Phát triển và bồi dưỡng năng lực
11 Thế giới nghề nghiệp
quanh ta
- Tính đa dạng và phong phú của thế giới nghề nghiệp
- Phân loại nghề theo đối tượng lao động
- Bản mô tả nghề
12 Tìm hiểu thông tin một số
nghề phổ biến ở địa
phương
- Phương pháp tìm hiểu thông tin nghề
- Tìm hiểu thông tin một số nghề phổ biến ở địa phương
1
Tìm hiểu hệ thống giáo dục
phổ thông và giáo dục
nghề nghiệp của Trung
ương và địa phương (tuyển
-Thông tin cơ bản về các trường Dạy nghề của Trung ương và địa phương
- Phương pháp tìm hiểu thông tin về cơ sở đào tạo
- Các hướng đi sau khi tốt nghiệp THCS
- Lựa chọn hướng học tập và nghề sau khi tốt nghiệp THCS: thuận lợi, khó khăn và cách khắc phục
3 Tư vấn hướng nghiệp
- Khái niệm, sự cần thiết phải tư vấn định hướng học tập
và chọn nghề nghiệp phù hợp với hứng thú, năng lực bản thân và nhu cầu xã hội
Trang 31- Những sai lầm thường mắc phải khi chọn nghề
- Quy trình tư vấn cho học sinh
4 Định hướng phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước và
địa phương
- Một số đặc điểm của quá trình phát triển kinh tế - xã hội
ở nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Sự phát triển của các lĩnh vực kinh tế -xã hội trong giai đoạn tới
- Nhu cầu việc làm hiện tại của địa phương
5 Tìm hiểu thông tin về thị
trường lao động
- Một số khái niệm về việc làm, nghề, thị trường lao động
- Đặc điểm và yêu cầu của thị trường lao động ở nông thôn và thành phố trong giai đoạn hiện nay
- Một số thông tin về thị trường lao động
Tuy nhiên, thực hiện Nghị định 75/2006/NĐ-CP ban hành ngày 02/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ, bắt đầu từ năm học 2008-2009, Bộ GD&ĐT đã ra văn bản hướng dẫn việc thực hiện nội dung chương trình hoạt động GDHN ở cấp THCS Theo đó, ở lớp 9 chương trình hoạt động GDHN chỉ còn 9 tiết/năm học, một
số nội dung GDHN được tích hợp sang hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và môn Công nghệ Nội dung điều chỉnh như sau:
8 Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc chọn nghề có cơ sở khoa học 1
9 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và địa
Phương
1
11 Tìm hiểu thông tin về một số nghề ở địa phương 1
12 Thông tin về thị trường lao động 1
1 Tìm hiểu năng lực bản thân và truyền thống nghề nghiệp của
gia đình
1
2 Hệ thống giáo dục trung học chuyên nghiệp và đào tạo nghề của
trung ương và địa phương (tuyển sinh trình độ THCS trở lên)
1
3 Các hướng đi sau khi tốt nghiệp THCS 1
Trang 321.3.5.2 Nhiệm vụ của hoạt động GDHN cho học sinh THCS
Nhiệm vụ của hoạt động GDHN học sinh phổ thông được ghi rõ trong quyết định 126/CP ngày 19-3-1981 của Chính phủ Công tác GDHN ở các trường phổ thông gồm các nhiệm vụ:
- Giáo dục thái độ lao động cho học sinh
- Tổ chức cho học sinh thực tập làm quen với một số nghề
- Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất
Về lâu dài trên bình diện xã hội, để làm tốt nhiệm vụ GDHN cho học sinh cấp THCS cần thực hiện cả ba nội dung: tuyên truyền định hướng về nghề nghiệp,
tư vấn nghề nghiệp và tuyển chọn nghề nghiệp
Đối với học sinh THCS, các nhà quản lý GDHN cần thiết kế, tổ chức các hoạt động GDHN chủ yếu là tìm hiểu, định hướng nghề và một phần tư vấn nghề thông qua các hoạt động dạy học nghề phổ thông, tham quan học tập theo chương trình GDHN, HN qua các môn học tích hợp, qua môn công nghệ, góp phần vào việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội
1.3.6 Các nguyên tắc, hình thức và giai đoạn GDHN cho học sinh THCS
1.3.6.1 Các nguyên tắc hướng nghiệp
- Nguyên tắc hình thành giáo dục: Sự định hướng nghề dẫn đến chọn nghề
được hình thành dần dần trong các hoạt động giáo dục và hướng nghiệp Do đó, vấn
đề đặt ra là phải giáo dục, đào tạo để học sinh có khả năng định hướng và đi đến quyết định chọn nghề
- Nguyên tắc tôn trọng như nhau đối với các loại lao động: Nguyên tắc này
yêu cầu chống việc tuyên truyền cho một ngành nghề này lại coi thường hạ thấp giá trị một ngành nghề khác
- Nguyên tắc kết hợp công tác hướng nghiệp của nhà trường, gia đình, xã hội,
các cơ quan đoàn thể, công tác giáo dục theo nhóm với công tác cá nhân nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng hướng nghiệp
Trang 33- Nguyên tắc bảo đảm quyền độc lập tự chủ, tự giác tích cực lựa chọn nghề
của mỗi HS, gắn liền với việc đánh giá thực tế điều kiện cụ thể của cuộc sống xã hội
- Nguyên tắc giáo dục toàn diện của công tác GDHN cho học sinh
1.3.6.2 Các con đường GDHN cơ bản cho học sinh THCS
- Hướng nghiệp qua hoạt động dạy học các môn văn hóa khoa học cơ bản
- Hướng nghiệp qua việc dạy học các môn kỹ thuật, công nghệ, tích hợp liên môn, nghề phổ thông, lao động sản xuất
- Hướng nghiệp qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp
- Hướng nghiệp qua các hoạt động tham quan, ngoại khóa, các phương tiện thông tin đại chúng, gia đình và các tổ chức xã hội
1.3.6.3 Các giai đoạn của công tác GDHN
Công tác GDHN trong nhà trường phổ thông đối với từng học sinh được tiến hành qua các giai đoạn sau:
+ Tìm hiểu về thế giới nghề nghiệp: Học sinh được tìm hiểu, làm quen với các ngành, nghề, các dạng lao động phổ biến trong các lĩnh vực sản xuất, kinh tế, xã hội, nhất là các ngành nghề đang có nhu cầu lao động ở địa phương nhằm tạo cơ sở
để quyết định về hướng phát triển sự nghiệp của mình
+ Tập dượt, thử sức mình qua học tập các bộ môn văn hóa, kỹ thuật, nghề phổ thông, qua thực hành, lao động sản xuất; học về cách đánh giá bản thân trong mối liên quan đến công việc; tự đánh giá những khả năng, điều kiện của bản thân mình trong việc đáp ứng những yêu cầu của nghề (kể cả điều kiện về kinh tế cho chi phí đào tạo)
+ Học cách làm kế hoạch và quyết định lựa chọn con đường học một nghề, một lĩnh vực lao động phù hợp nhất Đây là nhiệm vụ cơ bản nhất của công tác GDHN, chứng tỏ học sinh được chuẩn bị cả về mặt tư tưởng, tâm lý, tri thức, kỹ năng…hay không, khi quyết định chọn nghề Các em sẽ thoải mái tự quyết định lựa chọn nghề nghiệp tương lai khi đã am hiểu, tập dượt thử sức mình Lúc đó mới có thể nói là việc chọn nghề đã dựa trên các cơ sở khoa học cần thiết
Trang 341.3.7 Các yếu tố tác động tới quá trình GDHN
1.3.7.1 Sự đổi mới kinh tế – xã hội và giáo dục đào tạo
Đây chính là yếu tố dẫn đến sự cần thiết phải có sự đổi mới tổ chức hoạt động GDHN cho học sinh THCS Nước ta đang trên bước đường đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp, sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Đây là sự đổi mới có tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội, trong đó có giáo dục đào tạo nói chung và HN cho học sinh THCS nói riêng Điều này khiến hàng loạt khái niệm, quan điểm về giá trị phương thức quản lý sản xuất, đào tạo … đều phải thay đổi Cơ chế thị truờng cũng đã tác động mạnh mẽ đến đội ngũ lao động Sức lao động trở thành hàng hóa đã dẫn đến việc chấp nhận sự cạnh tranh trong thị trường sức lao động và thị trường việc làm Sự cạnh tranh gay gắt trong việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của nhiều thành phần kinh tế trong cơ chế thị trường đòi hỏi người lao động phải hết sức năng động, sáng tạo để đáp ứng được với nhu cầu thị trường đang không ngừng biến đổi Người lao động lúc này không chỉ cần
có kiến thức, kỹ năng lao động nghề nghiệp mà còn phải có tư duy kinh tế, phải biết
“cách làm ăn” và phải tự tìm lấy, tự tạo ra công ăn việc làm Sự phát triển của nhiều thành phần kinh tế ngoài kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể đang ngày càng mạnh mẽ Chủ trương “mở cửa” đã làm cho kinh tế hợp tác đầu tư nước ngoài phát triển mạnh, quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp làm xuất hiện một số ngành nghề mới đòi hỏi những phẩm chất, năng lực mới tương ứng Mặt khác, trong thực tiễn đa số học sinh sau khi tốt nghiệp THCS không muốn vào luồng THCN và dạy nghề vì các lý do:
- Không tìm được hoặc khó tìm được việc làm
- Nếu có việc làm thì thu nhập thấp
- Khả năng phát triển ít so với tốt nghiệp THPT để thi vào đại học
Trước những yêu cầu của viêc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh và yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, ngành GD-ĐT đã đề ra mục tiêu của GDPT đến những năm sau 2020 Một trong
Trang 35những nhiệm vụ được đặt ra là phải tổ chức quản lý hoạt động GDHN cho học sinh phổ thông nhằm góp phần hình thành ở học sinh nhân cách của người lao động mới, người công dân mới; giáo dục ý thức sẵn sàng tham gia lao động sản xuất và đi vào đào tạo nghề để chuẩn bị một thế hệ lao động mới có trình độ cao, thích ứng với những yêu cầu mới
1.3.7.2 Yếu tố về nhận thức của xã hội đối với hoạt động GDHN cho học sinh THCS
+ Đối với CBQL và giáo viên:
Để tổ chức hoạt động hướng nghiệp cho học sinh THCS, trước hết phải đổi mới, nâng cao về mặt nhận thức của lực lượng CBQL-GV nhất là lực lượng giáo viên chủ nhiệm Cần thiết phải làm cho CBQL-GV có nhận thức đúng đắn về HN,
về giáo dục KTTH-HN; làm cho các cấp chính quyền địa phương quan tâm đúng mức hơn nữa về mặt hoạt động này Trên cơ sở đó, ngành giáo dục cần có sự chỉ đạo tích cực xuyên suốt, huy động mọi lực lượng xã hội cùng tham gia vào việc giải quyết những khó khăn trong quá trình thực hiện công tác HN, xây dựng các quy chế đảm bảo cho việc thực hiện công tác HN có hiệu quả, nhất là việc xây dựng đề án phân luồng học sinh sau THCS phải mang tính đồng bộ và được sự chỉ đạo xuyên suốt đối với tất cả các cấp lãnh đạo ở từng địa phương
+ Đối với cha mẹ học sinh:
Đa số cha mẹ HS đều muốn các em học để “làm thầy”, không thích “làm thợ” Xã hội thường coi trọng người có chữ, có học, có bằng cấp; thang đo giá trị con người dựa trên bằng cấp mà người đó đạt được Đa số các gia đình có con đi học đều muốn cho con mình học lên đại học, xem đại học là con đường tươi sáng nhất để lập thân
+ Yếu tố giáo dục:
Từ lâu giáo dục nhà trường và xã hội ít đề cập tới lẽ sống: lao động ở bất cứ cương vị nào cũng đều vinh quang, cũng đều được tôn trọng nếu người lao động có tay nghề cao, làm việc hết mình Nhiều chế độ chính sách, nhiều cách đối xử xem thường những người có bằng cấp thấp Xã hội, gia đình và người học chưa được
Trang 36giáo dục đầy đủ về vai trò nguồn nhân lực đối với sự phát triển cá nhân và sự hưng thịnh của đất nước
1.3.7.3 Xu hướng học tập và nghề nghiệp của học sinh THCS
Đối với lứa tuổi học sinh sau THCS, phần đông còn rất mơ hồ về nghề nghiệp, lý tưởng sống Trước sự phát triển kinh tế đất nước cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, một số ngành nghề đã và đang có thời gian chiếm vị trí cao trong xã hội, thu hút học sinh chen chân tìm một chỗ đứng trong giảng đường như: Bưu chính viễn thông, quản trị kinh doanh, ngoại thương, tài chính, ngân hàng, hải quan…Điều đó phản ánh tâm lý học tập trong học sinh và cha mẹ các em là
“thích làm thầy hơn làm thợ”, một dạng biểu hiện tâm lý nghề nghiệp trong xã hội nước ta suốt các thập kỷ qua, không thể một sớm một chiều thay đổi được, nhất là trong thời kỳ quá độ thay đổi cơ cấu kinh tế nước nhà Chính vì thế, học sinh xem đích đến của việc học là tốt nghiệp Đại học, và hầu hết đều có thái độ thờ ơ đối với hoạt động HN Do đó, phần lớn học sinh sau THCS đều mong muốn học tiếp lên bậc THPT, mặc dù có những em có hạn chế về điều kiện kinh tế cũng như năng lực tiếp thu, nhưng vẫn không muốn chuyển qua học nghề, hoặc học tiếp vào các trường Trung cấp chuyên nghiệp (TCCN)
1.3.7.4 Môi trường pháp lý cho công tác GDHN
Hệ thống các văn bản pháp quy để vận hành cơ cấu tổ chức hoạt động GDHN cho học sinh THCS bao gồm các nghị quyết, quyết định, chỉ thị, thông tư… của Đảng và Nhà nước là điều kiện ắt có và đủ cho hoạt động HN Vấn đề còn lại là thể chế hóa, cụ thể hóa nó trong tổ chức thực hiện Điều 27 luật giáo dục năm 2005 nêu rõ mục tiêu giáo dục phổ thông trong đó nhấn mạnh “Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học; có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” (12)
Trang 37Kết luận chương 1
Qua tìm hiểu tổng quan về vấn đề nghiên cứu và tìm hiểu cơ sở lí luận của vấn đề người nghiên cứu nhận thấy Hướng nghiệp cho học sinh đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình giáo dục, bên cạnh đó, hướng nghiệp cũng chính là tiền
đề để đào tạo nguồn nhân lực lao động có chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển
xã hội Đặc biệt là trong thời đại ngày nay, khi đất nước ta đang đẩy mạnh việc thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với những đòi hỏi ngày càng cao, càng tăng thì chất lượng lao động càng được chú trọng Và điều đó phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả của hoạt động Hướng nghiệp trong nhà trường Hướng nghiệp là một quá trình lâu dài với nhiều tác động tổng hợp để đem lại hiệu quả cao nhất Các đối tượng tham gia vào hoạt động giáo dục hướng nghiệp cũng như người được hướng nghiệp cần có nhận thức đúng, khoa học để tránh những quan điểm chưa chính xác về hoạt động này
Để có thể hướng nghiệp cho học sinh lựa chọn ngành nghề phù hợp trong thế giới nghề nghiệp rộng lớn là nhiệm vụ không chỉ của những người làm giáo dục
mà phải có sự cộng tác của toàn xã hội Hướng nghiệp cho học sinh có hiệu quả phải dựa vào cơ sở khoa học, căn cứ vào những đặc điểm tâm lý, năng lực của học sinh và nhu cầu xã hội về ngành nghề đó Nền tảng của hướng nghiệp là phải dựa trên năng lực, sở thích cá nhân và nhu cầu xã hội, đây là 3 yếu tố chủ đạo trong hoạt động hướng nghiệp cho học sinh cần phải làm rõ, đây cũng chính là cơ sở để tránh những sai lầm trong việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai của học sinh
Thế giới nghề nghiệp rất phong phú và đa dạng, do đó, để hướng nghiệp cho học sinh hiệu quả thì không chỉ sử dụng một hình thức hướng nghiệp mà ta phải kết hợp nhiều hình thức hướng nghiệp khác nhau như thông qua các môn văn hóa, các môn kỹ thuật, nghề phổ thông, lao động sản xuất, hoạt động tham quan, ngoại khóa, các phương tiện thông tin, truyền thông, gia đình, xã hội…
HN đã được biết đến và thực hiện từ rất lâu trong hệ thống giáo dục của các quốc gia phát triển trên thế giới, ở nước ta, HN đã được quan tâm từ những năm đầu thống nhất đất nước, tuy nhiên hoạt động này đến nay vẫn chưa thật sự thể
Trang 38hiện được vai trò của nó trong việc định hướng NN cho tầng lớp trí thức trẻ Chúng
ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, những hội thảo chuyên đề mang tầm quốc
tế, quốc gia đã có nhiều biện pháp cho HN trong từng giai đoạn cụ thể nhưng việc thực hiện vẫn chưa toàn diện, chưa có sự kiểm tra, giám sát hay các thông tin phản hồi để hoạt động khả thi và thống nhất
Trong điều kiện hiện nay, hàng loạt các yêu cầu đặt ra cho nền giáo dục Việt Nam là giáo dục, đào tạo con người phát triển toàn diện, trong trường phổ thông có nhiệm vụ chuẩn bị cho HS bước vào hệ thống ngành nghề trong XH Thực tế HS khi học xong chương trình phổ thông vẫn chưa xác định được ngành nghề nào phù hợp với bản thân và theo nhu cầu của XH Nguyên nhân chủ yếu là công tác HN trong nhà trường chưa hiệu quả
Trên cơ sở lý luận về mặt khoa học hướng nghiệp, tâm lý học, nghề nghiệp của đối tượng HSPT, người nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực trạng về hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh được trình bày ở Chương 2 tiếp theo
Trang 39CHƯƠNG II THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh
Với diện tích tự nhiên 63.554,37 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 12.985,53 ha Phía Đông Bắc giáp biển Đông, phía Tây- Tây Nam giáp huyện Hương Khê, phía Đông Nam giáp huyện Kỳ Anh, phía Tây Bắc giáp thành phố Hà Tĩnh và huyện Thạch Hà, có đường Quốc lộ 1 chạy qua suốt chiều dài của huyện
Cẩm Xuyên có cấu trúc tự nhiên (cảnh quan, địa hình, khí hậu thời tiết ) trong suốt lịch sử và hiện đại là một cấu thành bền vững, là huyện thuộc vùng Bắc Trung Bộ, nằm về phía phía Đông Nam của Tỉnh Hà Tĩnh, thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa.Thời tiết trong một năm luôn thay đổi thất thường Nhìn chung, địa hình Cẩm Xuyên phức tạp và đa dạng, với một diện tích 628,9km2, hội tụ đây đủ của mọi biểu hiện địa hình Có đủ các loại: Núi đồi, sông suối, đồng bằng, ao hồ…
Núi chiếm khoảng 60% diện tích tự nhiên, được phân bố về phía nam huyện Bắt đầu từ xã Cẩm Thạch - Cẩm Mỹ- Cẩm Quan và xã Cẩm Thịnh- Cẩm Lạc – Cẩm Minh Cùng với hệ thống đó là hệ thống các sơn khối lẻ, nằm chen giữa đồng bằng
và ven bờ biển, đó là Núi Thành (xã Cẩm Thạch), núi Nhược Thạch ở xã (Cẩm Quang), núi Troóc xã Cẩm Huy, núi Trộn (Cẩm Dương), núi Hội (thị trấn Cẩm Xuyên), núi Thiên Cầm (thị trấn Thiên Cầm) và một số núi thuộc xã Cẩm Lĩnh (Ba Côi, Núi Chai…)
Vùng đất huyện Cẩm Xuyên ngoài núi đồi thì sông - hồ (gồm khe, suối , hói đồng, bàu nước ) chằng chịt và dày đặc trên địa bàn
Ngoài hệ thống sông lớn và các khe suối đổ nước vào các hồ nước lớn: Kẻ
Gỗ, Thượng Tuy, sông Rác…thì trên vùng đất Cẩm Xuyên, từ khi khai thiên lập địa đến nay, tồn tại hàng trăm khe, hói, quanh co dài ngắn và hàng trăm bàu nước hồ to, nhỏ, nông sâu Đó là hệ thống thoát nước cục bộ rất tự nhiên, làm cho làng mạc,
Trang 40ruộng đồng bớt ngập úng khi mưa và cũng là nguồn nước tự nhiên cho sinh hoạt quanh năm của dân chúng
Địa hình đồng bằng của Cẩm Xuyên chỉ chiếm 2/5 tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, nằm thành một vệt dài chạy từ tây sang đông Được phân chia thành nhiều loại và được phân bố khắp nơi trên địa bàn các xã
Cẩm Xuyên có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, vừa có rừng, vừa có biển Biển nằm về phía đông bắc, có chiều dài 28km Có khu du lich Thiên Cầm nổi tiếng Cẩm Xuyên là huyện có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, một số ít dựa vào đánh bắt hải sản
Nền văn hóa Cẩm Xuyên được hình thành và phát triển cùng văn hóa và con người Nghệ Tĩnh Trong đó, dân ca ví giặm được xem là biểu tượng văn hóa đặc sắc của con người nơi đây Chính vì những giá trị đó, ngày 27/11/2014, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh đã được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại[13]
2.1.2 Một số dự án trọng điểm của quốc gia và khu vực trên địa bàn tỉnh
Tỉnh Hà Tĩnh đã và đang xây dựng các khu kinh tế và khu công nghiệp, trong
đó có một trung tâm công nghiệp nặng lớn nhất Việt Nam và khu vực:
- Khu kinh tế Vũng Áng: Được Thủ tướng chính phủ phê duyệt là 1 trong 5 khu kinh tế trọng điểm quốc gia, có vai trò tạo sự liên kết, phát triển của vùng với
cả nước, là điểm thông thương quan trọng trên tuyến hành lang kinh tế Đông Tây và tiểu vùng sông Mê công, và được xác định là nền tảng động lực thúc đẩy kinh tế của tỉnh và khu vực Từ tháng 11/2012, Khu kinh tế Vũng Áng đã có 205 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, thu hút 70
dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký hơn 16 tỉ USD, trong đó 27 dự án có vốn đầu
tư nước ngoài với số vốn đăng ký đầu tư đăng ký hơn 14 tỷ USD; 43 dự án đầu tư trong nước với dố vốn đầu tư đăng ký gần 40 nghìn tỷ đồng Với các dự án lớn như:
Dự án Khu liên hợp luyện cán thép và cảng nước sâu Sơn Dương của tập đoàn Formosa - Đài Loan với công suất giai đoạn I là 7,5 triệu tấn/năm, tổng mức đầu tư
12 tỉ USD Vào tháng 6/2014 đã có sản phẩm thép ra lò Hiện nay nhà đầu tư đang tiếp tục đẩy mạnh nâng cao sản lượng; Cầu cảng số 1 và số 2 Vũng Áng cũng đã đi