1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Trường (field) và không khí (tenor) của hội thoại hàng ngày trong giao tiếp tiếng việt (trên tư liệu phim người hà nội)

181 447 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ hội thoại trong phim “Người Hà Nội” dữ liệu chưa từng được nghiên cứu trước đó theo hướng nghiên cứu ngữ pháp chức năng hệ thống nhằm hiện thực hóa đặc

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN

KHOA NGÔN NGỮ HỌC -

ĐỖ THỊ THU HIỀN

TRƯỜNG (FIELD) VÀ KHÔNG KHÍ (TENOR) CỦA HỘI THOẠI

HÀNG NGÀY TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT

(TRÊN TƯ LIỆU PHIM NGƯỜI HÀ NỘI)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN

KHOA NGÔN NGỮ HỌC -

ĐỖ THỊ THU HIỀN

TRƯỜNG (FIELD) VÀ KHÔNG KHÍ (TENOR) CỦA HỘI THOẠI

HÀNG NGÀY TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT

(TRÊN TƯ LIỆU PHIM NGƯỜI HÀ NỘI)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quả đƣợc trình bày trong khóa luận là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Học viên

Đỗ Thị Thu Hiền

Trang 4

Em rất mong sẽ nhận được sự góp ý và chỉ bảo của quý thầy (cô)!

Em xin trân trọng cảm ơn!

Học viên

Đỗ Thị Thu Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

1.1 Tổng quan 6

1.1.1 Ngoài nước 6

1.1.2 Trong nước 8

1.2 Cơ sở lý thuyết 13

1.2.1 Ngữ vực 13

1.2.1.1 Khái niệm ngữ vực 13

1.2.1.2 Phân biệt ngữ vực và những khái niệm có liên quan 14

1.2.1.3 Cấu trúc và phương pháp phân tích ngữ vực 17

1.2.2 Lý thuyết hội thoại 19

1.2.2.1 Khái niệm hội thoại 19

1.2.2.2 Vận động hội thoại 20

1.2.2.3 Cấu trúc hội thoại 21

1.2.3 Cú được giải thích theo quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống 23

1.3 Tiểu kết 23

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VỀ TRƯỜNG CỦA GIAO TIẾP HỘI THOẠI HÀNG NGÀY TRONG PHIM “NGƯỜI HÀ NỘI” 25

2.0 Dẫn nhập 25

2.1 Bối cảnh giao tiếp hội thoại trong phim 26

2.1.1 Bối cảnh chung 26

2.1.2 Bối cảnh riêng 26

2.2 Đặc điểm chủ đề giao tiếp 28

2.2.1 Các chủ đề được đề cập 28

2.2.2 Các phương tiện ngôn ngữ giúp hiện thực hóa các chủ đề giao tiếp 29

2.2.2.1 Các phương tiện ngôn ngữ hiện thực hóa chủ đề gia đình 29

2.2.2.2 Các phương tiện ngôn ngữ hiện thực hóa chủ đề nhân vật Thảo 32

2.2.2.3 Các phương tiện ngôn ngữ hiện thực hóa chủ đề chào hỏi 34

Trang 6

2.2.2.4 Các phương tiện ngôn ngữ hiện thực hóa chủ đề tình yêu và

hôn nhân 37

2.2.2.5 Các phương tiện ngôn ngữ hiện thực hóa chủ đề công việc 37

2.2.2.6 Các phương tiện ngôn ngữ hiện thực hóa chủ đề thế sự trong và ngoài nước 38

2.3 Đặc điểm mục đích giao tiếp 39

2.4 Thế giới kinh nghiệm 41

2.4.1 Phân tích mẫu 41

2.4.2 Kết quả khảo sát 45

2.4.3 Mô hình kinh nghiệm 46

2.5 Tiểu kết 47

CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM VỀ KHÔNG KHÍ CỦA GIAO TIẾP HỘI THOẠI HÀNG NGÀY TRONG PHIM “NGƯỜI HÀ NỘI” 49

3.0 Dẫn nhập 49

3.1 Sự thể hiện cá nhân của người nói 49

3.1.1 Thái độ 49

3.1.1.1 Nhóm thái độ tích cực 50

3.1.1.2 Nhóm thái độ tiêu cực 53

3.1.2 Chiến lược dấn thân 56

3.1.2.1 Chiến lược dấn thân của hai nhân vật Thảo – Loan 56

3.1.2.2 Chiến lược dấn thân của hai nhân vật Thảo – Nam 57

3.1.2.3 Chiến lược dấn thân của hai nhân vật ông Mạnh – Nam 58

3.1.2.4 Chiến lược dấn thân của hai nhân vật bà Mạnh – Thảo 58

3.1.2.5 Chiến lược dấn thân của hai nhân vật Nam – Bình 59

3.1.3 Chiến lược tăng giảm 59

3.2 Khoảng cách xã hội 60

3.2.1 Kết quả khảo sát vai giao tiếp 60

3.2.2 Sự thay đổi về từ ngữ xưng hô 62

3.2.2.1 Sự thay đổi từ ngữ xưng hô giữa vợ chồng 62

Trang 7

3.2.2.2 Sự thay đổi từ ngữ xưng hô giữa chị em 63

3.2.3 Sự thay đổi về không khí gia đình 64

3.3 Vị thế xã hội tương đối 65

3.4 Tiểu kết 66

KẾT LUẬN 68

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Một trong những xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ giao tiếp gần đây là

chú ý đến bình diện chức năng theo hướng tiếp cận của ngữ pháp chức năng Ngữ pháp chức năng được xây dựng dựa trên quan niệm triết học coi ngôn ngữ là một hệ thống giao tiếp của con người John Rupert Firth (1890-1960)

là người đặt nền móng cho lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống và M.A.K Halliday là người phát triển lý thuyết này Lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống (systemic functional theory) đã và đang thu hút sự quan tâm đáng kể của rất nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới, trong đó có các nhà ngôn ngữ học của Việt Nam

1.2 Nghiên cứu tìm hiểu chức năng của diễn ngôn trong hành chức là một

phạm vi nghiên cứu được ngôn ngữ hiện đại cả trên thế giới và Việt Nam hiện nay quan tâm, chú ý Để phân tích một diễn ngôn theo hướng tiếp cận của ngữ pháp chức năng hệ thống, người ta chú ý đến ba biến kiểm soát là trường (field), không khí (tenor) và phương thức (mode) Theo đó, trường hiện thực hóa siêu chức năng kinh nghiệm (ideational metafunction) Không khí hiện thực hóa siêu chức năng liên nhân (interpersonal metafunction) Phương thức hiện thực hóa siêu chức năng văn bản (textual metafunction)

1.3 Những năm gần đây, trong nghiên cứu tiếng Hà Nội với tư cách một

phương ngữ địa - xã hội, một số nghiên cứu có xu hướng hướng sự quan tâm vào ngôn ngữ giao tiếp của người Hà Nội Đối với ngôn ngữ giao tiếp, một trong những xu hướng gần đây là chú ý đến bình diện chức năng theo hướng tiếp cận của ngôn ngữ học chức năng Ở nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành tìm hiểu ngôn ngữ giao tiếp của người Hà Nội trong các hội thoại hàng ngày trên tư liệu phim “Người Hà Nội” Trong số những bộ phim nổi tiếng về Hà Nội, không thể không nhắc đến “Người Hà Nội” bởi lẽ sự thành công mà bộ phim mang lại trong việc tái hiện cuộc sống đời thường và rất đỗi bình dị của

Trang 10

những con người sinh sống trên mảnh đất thủ đô Việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ hội thoại trong phim “Người Hà Nội” (dữ liệu chưa từng được nghiên cứu trước đó) theo hướng nghiên cứu ngữ pháp chức năng hệ thống nhằm hiện thực hóa đặc điểm về trường cũng như đặc điểm về không khí của loại diễn ngôn này

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là trường (field) và không khí (tenor) trong giao tiếp hội thoại trên tư liệu phim Người Hà Nội Thông qua các cuộc hội thoại trong phim, chúng tôi muốn làm rõ hai phạm vi trường diễn ngôn và không khí diễn ngôn được thể hiện trong ngôn ngữ giao tiếp của người Hà Nội

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Như chúng ta biết, ngôn ngữ trong phim là ngôn ngữ điện ảnh Luận văn của chúng tôi nghiên cứu đặc điểm về trường và không khí trong các diễn ngôn hội thoại của người Hà Nội mà được hiện thực hóa bằng các chất liệu ngôn ngữ

Trong bộ phim “Người Hà Nội”, chúng ta thấy xuất hiện nhiều nhân vật với các câu chuyện khác nhau Nhiều người trong số họ không phải là người

Hà Nội vì họ là dân ở vùng khác vừa mới di cư đến hoặc là khách du lịch Vì vậy, chúng tôi chọn ra một gia đình tiêu biểu ở Hà Nội (gia đình Thảo – Nam) Các nhân vật trong gia đình người Hà Nội này xuất hiện xuyên suốt cả

bộ phim từ phần mở đầu cho đến khi kết phúc Bộ phim cũng tập trung phản ánh những diễn biến trong cuộc sống gia đình của họ Trên cơ sở lựa chọn một gia đình Hà Nội điển hình như vậy, chúng tôi tiến hành văn bản hóa các tập phim và lựa chọn phân tích 65 hội thoại của 7 nhân vật (ông Mạnh, bà Mạnh, Thảo, Nam, Niên Thảo, Loan và Bình) với 613 lượt lời và 443 cú chuyển tác (một đơn vị cơ sở của diễn ngôn, là khái niệm của ngữ pháp chức

Trang 11

năng hệ thống, xin xem thêm trong Chương 1, phần “Cơ sở lý thuyết” của luận văn)

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Thông qua hội thoại trong bộ phim “Người Hà Nội”, luận văn muốn làm

rõ đặc điểm trường diễn ngôn được thể hiện thông qua ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của những con người sống trên mảnh đất thủ đô Đồng thời cũng thông qua phạm vi ấy, với những biểu hiện của ngôn ngữ hội thoại, luận văn muốn làm rõ đặc điểm không khí diễn ngôn hội thoại của những nhân vật giao tiếp được thể hiện qua phim

3.2 Nhiệm vụ

- Tìm hiểu khái quát tình hình nghiên cứu đặc điểm về trường và không khí diễn ngôn nói riêng, đặc điểm ngữ vực nói chung của ngôn ngữ hội thoại dưới ánh sáng của ngữ pháp chức năng hệ thống trên thế giới và

- Phân tích và mô tả đặc điểm của trường hiện thực (bối cảnh đời sống) và trường ngôn ngữ (biểu hiện qua chất liệu ngôn ngữ)

- Phân tích và mô tả đặc điểm của không khí diễn ngôn trong giao tiếp hội thoại của các nhân vật được thể hiện qua các phương tiện ngôn ngữ trong phim “Người Hà Nội”

Trang 12

4 Ngữ liệu nghiên cứu

Nguồn ngữ liệu phân tích trong luận văn là rút ra từ ngôn ngữ hội thoại trong phim Để thu thập nguồn ngữ liệu nghiên cứu, luận văn đã ghi lại 65 hội thoại của bảy nhân vật trong gia đình người Hà Nội rút ra từ 8 tập phim Ngôn ngữ hội thoại trong 8 tập phim rất phong phú nhưng chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu đặc điểm trường diễn ngôn và không khí diễn ngôn được hiện thực hóa qua các phương tiện ngôn ngữ

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, để nghiên cứu một cách có kết quả, chúng tôi chọn một số phương pháp và thủ pháp sau đây:

- Phương pháp phân tích ngữ vực: Là một trong những phương pháp cơ bản của ngữ pháp chức năng hệ thống được áp dụng để phân tích diễn ngôn hội thoại nhằm tìm ra những đặc điểm ngữ vực, cụ thể là đặc điểm trường và không khí diễn ngôn (hai trong ba biến kiểm soát của một ngữ vực) được hiện thực hóa bằng những phương tiện ngôn ngữ cụ thể (các từ ngữ, các hành động ngôn ngữ…)

- Phương pháp miêu tả: Được sử dụng để miêu tả các phương tiện ngôn ngữ giúp làm rõ đặc điểm về trường diễn ngôn và không khí diễn ngôn trong phim

- Phương pháp định tính: Được sử dụng để phân tích, khái quát nhằm xác định các quá trình trong mô hình kinh nghiệm, qua đó thấy được đặc điểm của trường diễn ngôn

- Thủ pháp thống kê: Được sử dụng để thống kê số lượng hội thoại, lượt lời, cú chuyển tác cũng như các quá trình; từ đó có cơ sở xây dựng bảng biểu

và mô hình kinh nghiệm

Trang 13

6 Ý nghĩa của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần chứng minh rằng khung lý thuyết

của ngữ pháp chức năng hệ thống, lý thuyết và phương pháp phân tích ngữ vực theo đường hướng tiếp cận này hoàn toàn có thể ứng dụng vào việc phân tích các đặc điểm của diễn ngôn trên ngữ liệu tiếng Việt

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu đóng góp tư liệu cho một hướng tiếp cận ngữ pháp chức năng mới mà cụ thể là nghiên cứu đặc điểm ngữ vực nói chung, đặc điểm của trường và không khí diễn ngôn nói riêng trong ngôn ngữ điện ảnh

- Luận văn phần nào cung cấp nguồn tư liệu cho các công trình nghiên cứu ngữ pháp chức năng theo lý thuyết của Halliday

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có 3 chương:

Chương 1 Tổng quan và cơ sở lý thuyết

Chương 2 Đặc điểm về trường của giao tiếp hội thoại trong phim “Người Hà Nội” Chương 3 Đặc điểm về không khí của giao tiếp hội thoại trong phim “Người

Hà Nội”

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Tổng quan

Cho đến nay, trong ngôn ngữ học thế giới cũng như trong Việt ngữ học, các nhà ngôn ngữ học đã nghiên cứu nhiều về chức năng ngôn ngữ M.A.K.Halliday là người đề ra quan điểm ba siêu chức năng trong lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống: siêu chức năng tư tưởng (ideational metafunction), siêu chức năng liên nhân (interpersonal metafunction) và siêu chức năng văn bản (textual metafunction) Trong những năm gần đây, có một số công trình trong và ngoài nước đã vận dụng lý thuyết ngữ

pháp chức năng hệ thống (systemic functional grammar/SFG) của

Halliday để giải quyết các hiện tượng ngôn ngữ trong cả văn bản lẫn cuộc sống hàng ngày

1.1.1 Ngoài nước

Robyn Ewing (2001) đã lý giải ba thuật ngữ được sử dụng trong mô

hình ngữ pháp chức năng, bao gồm: trường, không khí và thức Đây là ba

thông số ảnh hưởng đến cách sử dụng ngôn ngữ Sau đó, tác giả chỉ ra ý nghĩa của hướng tiếp cận chức năng của ngôn ngữ vào việc dạy tiếng Anh

trong trường tiểu học (trường) Theo tác giả, các giáo viên cần tạo nhiều cơ

hội cho các học sinh được khám phá các dạng văn bản để hiểu hơn về quá trình vận hành tạo nghĩa theo nhiều cách và nhiều mức độ khác nhau của hệ

thống ngôn ngữ Văn bản đó được viết theo phong cách diễn ngôn (thức) của một giáo viên tiểu học và các học sinh (không khí, quan hệ liên nhân)

Mặc dù việc áp dụng hướng tiếp cận chức năng trong việc dạy ngôn ngữ nói chung và dạy chữ nói riêng còn gặp thử thách nhưng chắc chắn sẽ giúp các học sinh hiểu hơn về việc sử dụng ngôn ngữ một cách có ý nghĩa

Michal Boleslav Měchura (2005) đã phân tích các đặc điểm của văn bản tiếng Anh theo hướng tiếp cận chức năng của Halliday, cụ thể là dựa trên ba

Trang 15

thông số trường, thức, không khí và hiệu quả giao tiếp Tác giả tiến hành làm

rõ ba khái niệm trường, không khí và thức của một văn bản tiếng Anh từ quan

điểm siêu chức năng kinh nghiệm, siêu chức năng liên nhân và siêu chức năng

văn bản Theo tác giả, phân tích trường thực chất chỉ là trả lời câu hỏi: “Văn bản đó nói về cái gì?” (What is the text about?) Phân tích thức tức là làm rõ

cách thức mà văn bản đó được tạo ra và phát hành như thế nào Cũng theo

tác giả, phân tích không khí là phần dài nhất bởi vì không khí là yếu tố

phức tạp nhất Để làm rõ không khí, chúng ta phải đọc kỹ và hiểu chính xác nội dung của văn bản Ngoài việc làm rõ ba khái niệm trên, phần cuối của bài nghiên cứu bàn về hiệu quả giao tiếp mà cũng lại được tạo ra từ chính

ba thông số trên

Marcin Lewandowski (2010) đã tiến hành tìm hiểu rõ hai bình diễn của ngôn ngữ: phương ngữ học và ngữ vực Trong bài viết, tác giả đã dẫn chứng nhiều luận điểm của các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng trên thế giới về hai bình diện ngôn ngữ này.Về phương ngữ xã hội, tác giải đưa ra quan điểm của các nhà các nhà ngôn ngữ học như Trudgill, Wilkon, Grabias, Kolodziejek Về ngữ vực, tác giả trích dẫn quan điểm của các nhà ngôn ngữ học như J.R.Firth, Halliday, Hassan, Gregory, Zwicky, Ferguson, Biber và Conrad,… Trong đó, ngữ vực được các nhà ngôn ngữ học chức năng đặt trong sự đối lập với phương ngữ Trong đối lập này, ngữ vực là một loại biến thể ngôn ngữ xét theo cách sử dụng còn phương ngữ là biến thể xét theo người sử dụng Có thể nói, bài viết của Marcin Lewandowski đã đóng góp về mặt lý thuyết thông qua việc làm rõ các cuộc tranh luận còn tồn tại xung quanh hai phạm vi (ngữ vực và phương ngữ) và đề xuất giải pháp khắc phục

Elizabeth Armstrong và Alison Ferguson (2010) đã thảo luận về vai trò của ngôn ngữ trong cuộc sống xã hội mà ở đó người nói không chỉ truyền tải thông tin đến người khác mà còn duy trì mối quan hệ xã hội qua giao tiếp Trong khi lập luận, ngoài việc trích dẫn một số quan niệm trong lý

Trang 16

thuyết ngữ pháp chức năng của Halliday, họ còn đồng tình với hướng tiếp cận chức năng trong giao tiếp của Audrey Holland cho rằng nghiên cứu và chữa trị lâm sàng cho những những bệnh nhân bị chứng mất ngôn ngữ có liên quan mật thiết đến nhu cầu giao tiếp hàng ngày của họ Tác giả cho rằng việc phân tích diễn ngôn cũng như phân tích hội thoại ngày càng được

áp dụng nhiều trong việc đánh giá bệnh mất chứng ngôn ngữ và đưa ra những chiến lược điều trị

1.1.2 Trong nước

Huỳnh Hữu Hiền (2003) đã chỉ ra một số đặc điểm ngữ vực trong diễn ngôn tiếng Anh quảng cáo Theo bài viết, ngôn ngữ tiếng Anh quảng cáo có những đặc điểm riêng biệt của mình và được thể hiện rõ nhất trong ngữ vực của nó Ngữ vực của tiếng Anh quảng cáo được xem xét dưới ba bình diện: từ vựng, cấu trúc và phân tích diễn ngôn Cụ thể, bình diện từ vựng được thể hiện qua việc sử dụng các tính từ có nghĩa tích cực và có tính nhấn mạnh, các động từ phổ biến thường gặp ở nhóm định hướng theo đối tượng người nghe/nhìn hoặc nhóm định hướng theo sản phẩm và một số từ được dùng theo nghĩa giảm nhẹ hoặc né tránh,… Ở bình diện cấu trúc, các cấu trúc thường được sử dụng với tần suất cao là cấu trúc nhấn mạnh, cấu trúc so sánh, các mệnh đề phụ,… Còn ở bình diện phân tích diễn ngôn, một số yếu tố ngôn ngữ tiêu biểu cho diễn ngôn quảng cáo thường được khai thác và sử dụng là phép lặp, phép tỉnh lược, phân tách cấu trúc đề-thuyết, phép đảo,… Việc nắm vững các đặc điểm ngữ vực đó giúp người học tiếng Anh hiểu tốt hơn ngôn ngữ quảng cáo về mặt ngữ nghĩa và ngữ dụng để sử dụng tốt hơn ngôn ngữ này trong môi trường kinh doanh

Diệp Quang Ban (2008) đã dựa vào lý thuyết chức năng hệ thống của Halliday để làm rõ ba khái niệm “mạng mạch”, “mạch lạc” và “liên kết” Ngoài ra, tác giả còn chỉ ra mối quan hệ giữa “mạng mạch”, “mạch lạc” và

“liên kết” trong việc phân tích văn bản/ diễn ngôn Việc phân biệt ba yếu tố

Trang 17

trên trong văn bản/diễn ngôn như vừa nêu có nhiều ý nghĩa về mặt thực tiễn

mà theo tác giả là giúp ích rất nhiều cho học sinh thuộc các cấp học khác nhau, giúp cho người học khắc phục được những thiếu sót thường gặp trong việc giải thuyết văn bản/diễn ngôn

Phan Văn Hòa và Phan Thị Thủy Tiên (2010) đã vận dụng mô hình kinh nghiệm của Halliday để tiến hành phân tích kinh nghiệm trong các bản tin và xã luận tiếng Việt Từ góc nhìn ngữ pháp chức năng, hai tác giả

đã chỉ ra thế giới kinh nghiệm trong bản tin và xã luận là thế giới hướng ra bên ngoài – thế giới của vật chất và các mối quan hệ trừu tượng được tạo dựng nên bởi các chu cảnh định vị Thế giới đó không phải thiên về ý thức hay nội tâm của con người Kết quả khảo sát còn cho thấy cách tổ chức và hoạt động của ngôn ngữ để trình bày kinh nghiệm của báo chí lại chuyển biến rất linh động và phức tạp Trong từng thể loại văn bản, cách thể hiện kinh nghiệm cũng khác nhau ở tỉ lệ các yếu tố thành phần được lựa chọn Bài viết cũng bước đầu mở rộng nghiên cứu kinh nghiệm từ cấp độ cụm từ,

cú hay câu sang văn bản

Lê Văn Canh (2011) đã miêu tả những nội dung cơ bản nhất của lý thuyết ngữ pháp chức năng – hệ thống của Halliday mà có thể vận dụng vào lĩnh vực giáo dục ngoại ngữ Theo tác giả, ưu điểm lớn nhất của ngữ pháp chức năng so với ngữ pháp tạo sinh là ở chỗ nó phản ánh được khía cạnh xã hội và tính chất động của ngôn ngữ Sau đó, bài viết đưa ra 7 gợi ý

về khả năng ứng dụng lý thuyết ngữ pháp chức năng vào lĩnh vực dạy ngoại ngữ: 1 Kết hợp dạy ngữ pháp với từ vựng như một nhất thể trong ngôn cảnh cụ thể; 2 Dạy ngữ pháp theo chức năng thay vì dạy các quy tắc trừu tượng; 3 Áp dụng phương pháp phân tích ngôn bản trong dạy đọc hiểu; 4 Vận dụng quan điểm mạch thông tin (flow of information) vào dạy viết; 5.Vận dụng phương pháp phân tích thể loại (genre analysis) để dạy ngoại ngữ cho các mục đích chuyên biệt (language for specific purposes),

Trang 18

đặc biệt là dạy viết thể loại khoa học/ học thuật (academic writing); 6 Phân tích diễn ngôn phê phán (critical discourse analysis); 7 Sử dụng lý thuyết của ngữ pháp chức năng để phân tích ngôn ngữ tương tác trong lớp học phục vụ mục đích nghiên cứu Tuy nhiên, tác giả cũng lưu ý rằng đây chỉ là những gợi ý mang tính lý thuyết và ý kiến chủ quan của tác giả Chúng chỉ

có tính thuyết phục khi được giáo viên thử nghiệm

Nguyễn Văn Hiệp (2015) đã tóm tắt một số điểm chính trong lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday và áp dụng lý thuyết này vào việc đánh giá ngôn ngữ “phi chuẩn” của giới trẻ hiện nay theo các đặc trưng ngữ

vực Cụ thể, tác giả đã chỉ ra các đặc trưng về trường, không khí và thức của

ngôn ngữ “phi chuẩn” hay ngôn ngữ thế hệ @ Sau đó, tác giả đưa ra những nhận định riêng của mình về vấn đề này Theo những phân tích của tác giả, cách nói “phi chuẩn” của lớp trẻ hiện nay có cả những mặt tích cực lẫn những mặt tiêu cực Vì đối với ngữ pháp chức năng thì ngôn ngữ “phi chuẩn” cũng

là một phần của hệ thống các chọn lựa và có tính sản sinh trong nhiều tình huống giao tiếp Chính vì vậy, những hiện tượng “phi chuẩn” tiêu cực có thể dần dần làm tha hóa và biến đổi hệ thống ngôn ngữ theo chiều hướng xấu Từ cách tiếp cận của ngữ pháp chức năng hệ thống, Nguyễn Văn Hiệp cho rằng thực trạng ngôn ngữ “phi chuẩn” tiêu cực của lớp trẻ hiện nay thật sự đáng báo động và cần có những biện pháp để giáo dục giới trẻ sử dụng ngôn ngữ một cách chuẩn mực

Trịnh Sâm (2015) đã dựa vào lý thuyết ngữ vực để chỉ ra một số đặc điểm chi phối cũng như đặc điểm ngôn ngữ của diễn ngôn viết Các đặc điểm chi phối bao gồm ngữ cảnh nhân tạo, giao tiếp gián tiếp, trung tính, trau chuốt trong biểu đạt và độ bền vững của câu chữ Về đặc điểm, diễn ngôn viết là phát ngôn với cấu trúc trường cú không chỉ xuất hiện trong giao tiếp chính trị

cả trong văn xuôi nghệ thuật Diễn ngôn viết còn thường xuyên xuất hiện các hình thức ẩn dụ ngữ pháp, tức là sử dụng danh ngữ cho việc định danh có tính

Trang 19

khái quát và trừu tượng Hơn nữa, tác giả còn nhận xét về chức năng của một

số ngữ đoạn liên kết, đúc kết được một số đặc điểm của tiêu đề và một số khung bố cục thường gặp trong tiếng Việt

Trịnh Cẩm Lan (2016), dựa theo cách tiếp cận ngữ pháp chức năng hệ thống và trên cơ sở lý thuyết cấu trúc và phương pháp phân tích ngữ vực,

đã phân tích rõ những đặc điểm ngữ vực của tầng lớp tiểu thương Hà Nội Các phương tiện ngôn ngữ đặc trưng cho ngữ vực của tầng lớp này là những từ ngữ, hành động ngôn ngữ thể hiện rõ mục đích và chủ đề mua bán (thuộc trường diễn ngôn mua bán) Ngoài ra, nghiên cứu còn chỉ ra những chiến lược ứng xử ngôn ngữ thể hiện cá nhân của người bán, khoảng cách

và vị thế xã hội tương đối giữa người bán và người mua (thuộc không khí diễn ngôn mua bán) Đó còn là những phương tiện và cách thức giao tiếp đặc trưng bởi kênh giao tiếp khẩu ngữ và phương thức giao tiếp trực diện (thuộc phương thức diễn ngôn mua bán) Như vậy, trong nghiên cứu này, đặc trưng ngữ vực của tầng lớp tiểu thương Hà Nội đã được xác định thông

qua ba biến kiểm soát: trường (field), phương thức (mode) và không khí

(tenor) của diễn ngôn

Cũng trong một nghiên cứu gần đây, Trịnh Cẩm Lan (2017), theo cách tiếp cận ngữ pháp chức năng hệ thống, trên tư liệu một số buổi phát thanh trực tiếp chương trình “Giờ cao điểm” trên kênh VOV giao thông quốc gia, trên cơ sở lý thuyết về cấu trúc và phương pháp phân tích ngữ vực, đã phân tích những đặc điểm ngữ vực của các phát thanh viên trên kênh VOV giao thông quốc gia Các phương tiện ngôn ngữ nổi bật, đặc trưng cho ngữ vực của họ là những từ ngữ, hành động ngôn ngữ được lựa chọn thể hiện rõ mục đích và chủ đề của chương trình Giờ cao điểm (thuộc trường diễn ngôn) Đó còn là những phương tiện, những chiến lược ứng

xử ngôn ngữ giúp hiện thực hóa sự thể hiện cá nhân của các phát thanh viên, khoảng cách xã hội và vị thế xã hội tương đối giữa phát thanh viên

Trang 20

và thính giả (thuộc không khí diễn ngôn) Ngoài ra, nghiên cứu còn chỉ ra những phương tiện và cách thức giao tiếp đặc trưng của kênh giao tiếp khẩu ngữ và phương thức giao tiếp qua sóng phát thanh (thuộc phương thức diễn ngôn)

Tóm lại, tiếp thu những tri thức từ các nghiên cứu đi trước, nghiên cứu của chúng tôi có sự học hỏi, tham khảo nhưng cũng có những điểm khác biệt nhất định do tùy vào bối cảnh của mỗi quốc gia cũng như mục đích khác nhau của nhà nghiên cứu Thứ nhất, các nghiên cứu tiêu biểu ở trên đã vận dụng hướng tiếp cận ngữ pháp chức năng để phân tích cũng như lý giải một số hiện tượng ngôn ngữ trong văn bản hoặc trong cuộc sống hàng ngày Còn nghiên cứu của chúng tôi, trên cơ sở lý thuyết ngữ

pháp chức năng, làm rõ đặc điểm của trường và không khí của diễn ngôn

hội thoại trong phim – dữ liệu chưa từng được khai thác trước đó Thứ hai, do mong muốn của tác giả là có thể khai thác triệt để đối tượng nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung miêu tả và làm rõ hai thông số chính

của ngữ vực: trường (field) và không khí (tenor) thay vì ba thông số như

các nghiên cứu trước Thứ ba, phạm vi nghiên cứu của chúng tôi khác với nghiên cứu trước đó nên dẫn đến các kết quả nghiên cứu khác là điều tất yếu Dựa trên những kiến thức có được từ việc đọc các tư liệu trong và ngoài nước, chúng tôi tiến hành thống kê các cuộc giao tiếp giữa các thành viên của một gia đình Hà Nội tiêu biểu trong phim “Người Hà Nội”

và phân tích đặc điểm về trường cũng như đặc điểm về không khí có trong

các cuộc hội thoại đó Có thể nói, đây là thử thách cho người nghiên cứu, tuy nhiên cũng là bước khởi đầu quan trọng cho chúng tôi để tiếp tục thực hiện những nghiên cứu về sau

Trang 21

1.2 Cơ sở lý thuyết

1.2.1 Ngữ vực

1.2.1.1 Khái niệm ngữ vực

Khái niệm ngữ vực lần đầu tiên được Thomas B Reid đề cập đến vào

năm 1956 trong bài báo “Linguistics, structuralism and philology” [30, 403] Sau đó, vào những năm 60, lý thuyết về ngữ vực ngày càng được nghiên cứu nhiều theo hướng tiếp cân ngôn ngữ học chức năng hệ thống như công trình của Halliday (1964), Gregory (1967), Ure (1968), David (1969),… Hướng nghiên cứu ngữ vực của các nhà ngôn ngữ ở giai đoạn này cho rằng ngữ vực được đặc trưng bởi ba thông số: trường (field), không khí (tenor) và phương thức (mode)

Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đưa ra quan điểm của mình về khái

niệm ngữ vực Trong cuốn “The five clocks” (1967), Joos định nghĩa ngữ vực

như là “phong cách và coi ngữ cảnh là một thông số chính” [30, 403]

Theo quan điểm của Ferguson (1994), ngữ vực được xem như là “một

tình huống giao tiếp xảy ra thường xuyên trong xã hội” [21, 43]

Crystal cho rằng ngữ vực có thể được xem như “loại biến thể ngôn ngữ được xác định theo cách thức sử dụng trong những tình huống giao tiếp hay bối cảnh xã hội nhất định, chẳng hạn như ngữ vực khoa học, ngữ vực tôn giáo hay ngữ vực tiếng Anh chính thức (formal English)” [21, 41]

Nói mô ̣t cách khái quát nhất , ngữ vực được xem như là tổng thể của

những đặc trưng liên quan đến trường (field) gắn với chức năng kinh nghiệm;

không khí (tenor) gắn với chức năng liên nhân và thức (mode) gắn với chức

năng văn bản Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn này, chúng tôi nhất trí

với cách định nghĩa ngữ vực của M.A.K Halliday Thuật ngữ này lần đầu tiên

được Halliday sử dụng trong bài viết “The users and uses of language” (1964)

[19,190] Halliday cho rằng ngữ vực là một loại biến thể ngôn ngữ được xác

Trang 22

định bởi việc quy chiếu đến bối cảnh xã hội Chức năng của nó là cho biết

chúng ta đang làm gì ở thời điểm đó Hơn nữa, ngữ vực còn được xem như là

một cấu hình ngữ nghĩa và bao gồm các nét nghĩa gắn liền với tình huống

1.2.1.2 Phân biệt ngữ vực và những khái niệm có liên quan

ta biết mình là ai (Halliday 1978) Do sự khác biệt là được xác định theo cách

sử dụng hay người sử dụng mà ngữ vực và phương ngữ có một số điểm phân biệt rất cơ bản Sự phân biệt phương ngữ và ngữ vực theo quan điểm của Halliday được thể hiện cụ thể như sau:

- Thể hiện sự đa dạng cấu trúc xã hội

(các mô hình về tôn ti xã hội)

Biến thể được xác định theo cách sử dụng

* Ngữ vực cho biết:

- Chúng ta đang nói về vấn đề gì ở thời điểm đó

- Được xác định bởi việc bạn đang làm gì (bản chất của hoạt động xã hội)

- Thể hiện sự đa dạng của tiến trình

Trang 23

thể tiểu văn hóa (chuẩn/ phi chuẩn)

* Các biến kiểm soát chính: tầng lớp

xã hội, tầng lớp, nguồn gốc (nông

thôn/thành thị), thế hệ, lứa tuổi, giới

tính

* Đặc trưng bởi: Sự hướng tới các

phương ngữ xã hội khác như là một

biểu tượng về sự đa dạng xã hội

xã hội (phân công lao động xã hội)

 Nguyên tắc trong các ngữ vực: nói

về những đối tượng khác nhau và có

xu hướng khác nhau về ngữ nghĩa (và

có thể cả trong ngữ pháp, từ vựng)

* Các trường hợp khác: ngôn ngữ thu hẹp, ngôn ngữ cho mục đích đặc biệt

* Các trường hợp điển hình: biến thể nghề nghiệp (chuyên môn, bán chuyên môn)

* Các biến kiểm soát chính: Trường (loại hành động xã hội); không khí (mối quan hệ giữa người nói và người nghe), phương thức (cách thể hiện bằng ngôn ngữ)

* Đặc trưng bởi: Sự phân biệt giữa ngôn ngữ nói và viết, ngôn ngữ hành động, ngôn ngữ phục hồi

Nguồn: Halliday 1978, tr 35 (Dẫn theo Lewandowski 2010)

Cụ thể hơn, một số nhà ngôn ngữ học khác còn bàn đến sự phân biệt giữa

ngữ vực với phương ngữ xã hội Theo Grabias (1994), cả hai loại biến thể

này đều là những tập hợp con của ngôn ngữ nhưng chúng lại được sử

dụng để làm rõ những khía cạnh khác nhau của ngôn ngữ Phương ngữ xã

hội là loại biến thể ngôn ngữ do các nhóm xã hội tạo ra để giúp định hình

nhóm, liên kết các cá nhân đồng nhóm, trao uy tín cho nhóm và được xem

là một dấu hiệu nhận dạng quan trọng để phân biệt nhóm này với nhóm

Trang 24

khác Còn ngữ vực, ngược lại, được xem như một biến thể liên quan đến tình huống sử dụng và vì vậy, người ta thường liên kết nó với một tình

huống cụ thể (Dẫn theo Trịnh Cẩm Lan 2017) Chẳng hạn, ngôn ngữ của

người dẫn chương trình trên truyền hình, ngôn ngữ của các giáo viên tại lớp học, ngôn ngữ của những người ở chợ,… Ở đây, sự lựa chọn ngôn ngữ được xác định phần lớn là nhờ các ngữ cảnh tình huống hơn là nhờ sự xác định nhóm nghề nghiệp của họ

b Ngữ vực và phong cách

Để làm rõ hơn khái niệm ngữ vực, các nhà ngôn ngữ học còn đặt nó trong

sự đối lập với phong cách

Trong mối quan hệ với phong cách, “Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng” định nghĩa ngữ vực là: (1) Phong cách (style) và (2) Một biến thể ngôn ngữ được sử dụng bởi một nhóm người có cùng nghề nghiệp (ví dụ: bác sĩ, luật gia) Từ điển giải thích: một ngữ vực cụ thể thường được phân biệt với các ngữ vực khác nhờ hệ thống các thuật ngữ chuyên ngành và các cấu trúc ngữ pháp (ví dụ như ngôn ngữ luật) Từ điển cũng nói rõ, phong cách là: (1) Biến thể ngôn ngữ trong hoạt động nói hoặc viết của một người nào đấy Phong cách thường biến đổi từ suồng sã sang trang trọng tùy theo loại ngữ cảnh, loại người hay cử tọa được tiếp xúc, địa điểm, chủ đề được thảo luận, v.v Một phong cách nhất định nào đó, ví dụ phong cách trang trọng hay phong cách khẩu ngữ, đôi khi còn được gọi là biến thể phong cách (stylistic variety); (2) Cách thức sử dụng ngôn từ của một người cụ thể nào đấy ở mọi nơi mọi lúc hay cách thức nói năng dưới dạng khẩu ngữ hay bút ngữ tại một thời điểm hay giai đoạn nào đấy, ví dụ phong cách của Dickens, phong cách của Shakespeare, phong cách viết thế kỷ XVIII Từ điển cũng nói rõ một số nhà ngôn ngữ dùng thuật ngữ ngữ vực để chỉ biến thể phong cách trong khi một số nhà ngôn ngữ học khác phân biệt rất rạch ròi giữa phong cách và ngữ vực

(Dẫn theo Nguyễn Xuân Thơm 2008)

Trang 25

Trong cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ” (Fromkin & Rodman 1998), phong cách và ngữ vực được phân biệt như sau: “Trong khi phong cách (style) là các biến thể ngôn ngữ bị quy định chủ yếu bởi cách xử lý ngôn ngữ của người nói đối với người nghe/người đọc, đối với chủ đề hoặc đối với mục đích của giao tiếp, ngữ vực (register) là thuật ngữ được dùng cho một biến thể ngôn ngữ bị quy định bởi chủ đề Thông thường, việc chuyển sang một ngữ vực nào đó bao giờ cũng liên quan đến việc chuyển sang một hệ thống các thuật ngữ liên quan đến chủ đề đang bàn, và có thể, cả các cấu trúc cú pháp, như trong ngôn ngữ luật”

Như vậy, một ngữ vực có thể được phân biệt với một ngữ vực khác bằng

hệ thống thuật ngữ chuyên ngành và một số kiểu cấu trúc ngữ pháp Còn

phong cách thì có xu hướng liên quan nhiều đến: (1) Biến thể ngôn ngữ nói

hoặc viết của một cá nhân và nó thường biến đổi từ trang trọng tới suồng sã tuỳ theo các yếu tố ngữ cảnh như người nói/viết, người nghe/đọc, không gian

và chủ đề giao tiếp; và (2) Cách sử dụng ngôn ngữ của một cá nhân trong mọi hoàn cảnh giao tiếp và mọi hình thức giao tiếp (nói hay viết) Về bản chất thì hai thuật ngữ này cũng không thể coi “là một”

1.2.1.3 Cấu trúc và phương pháp phân tích ngữ vực

a Cấu trúc ngữ vực

Halliday là người đầu tiên phát triển mô hình về những yếu tố thuộc ngữ

cảnh tình huống (situational context) từ nghiên cứu năm 1978 Theo ông, mỗi

ngữ vực được đặc trưng bởi ba biến kiểm soát: trường, không khí và phương thức của diễn ngôn Nói cách khác, ngữ vực được quyết định bởi những gì đang xảy ra (field), ai tham gia vào quá trình ấy (tenor) và hình thức ngôn ngữ tham gia thế nào (mode) Chính vì vậy, ba biến kiểm soát trường, không khí

và phương thức càng được phân tích rõ bao nhiêu thì ngữ vực càng được hình dung cụ thể bấy nhiêu

Trang 26

Trường diễn ngôn phản ánh những gì xảy đang thực sự xảy ra trong

diễn ngôn (what is actually taking place), là tính chủ động xã hội được thực hiện, là sự kiện tổng quát mà các tham thể tham dự vào với một mục đích nhất định Trường thể hiện bản chất tương tác xã hội thông qua đề tài – chủ đề (subject – matter nhưng như nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra, không nên lẫn lộn trường diễn ngôn với đề tài – chủ đề của văn bản, bởi trường có tầm bao quát hơn nhiều) và mục đích của diễn ngôn Trường thể hiện sự lựa chọn của

người nói/ người viết nhằm hiện thực hóa siêu chức năng kinh nghiệm

Không khí diễn ngôn chỉ ra mối quan hệ giữa các vai giao tiếp, quan hệ

xã hội và vị thế xã hội của các vai trong một ngữ cảnh tình huống cụ thể Không khí có thể được hiện thực hóa thông qua sự thể hiện cá nhân của người nói, khoảng cách xã hội và vị thế xã hội tương đối của người nói và người

nghe (Dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp 2015) nhằm thực hiện siêu chức năng liên

nhân của ngôn bản Đó là ba yếu tố cơ bản tạo nên cấu trúc của một ngữ vực,

cũng là ba yếu tố giúp hiện thực hóa ba chức năng quan yếu của một diễn ngôn theo quan điểm của ngôn ngữ học chức năng

Phương thức diễn ngôn phản ánh vai trò mà ngôn ngữ đảm nhiệm trong

diễn ngôn (what role language is playing), là phương thức hoạt động của các phương tiện ngôn ngữ và các kênh giao tiếp mà con người có thể sử dụng như nói hoặc viết, giao tiếp qua mạng internet, giao tiếp qua điện thoại (email, facebook, zalo, ) Phương thức là sự lựa chọn ngôn ngữ của người nói/viết

nhằm hiện thực hóa siêu chức năng ngôn bản

b Phương pháp phân tích ngữ vực

Theo Biber và Conrad (2009), quá trình phân tích một ngữ vực bao gồm ba bước: (1) miêu tả các đặc điểm tình huống của ngữ vực, (2) phân tích các đặc điểm ngôn ngữ tiêu biểu và (3) nhận diện các tính năng về chức năng giúp giải thích tại sao các đặc điểm ngôn ngữ đó lại có liên quan đến những đặc điểm tình huống Hai tác giả cũng cung cấp một danh sách hoàn thiện các đặc điểm ngôn ngữ được khảo sát trong nghiên cứu

Trang 27

ngữ vực Danh sách này gồm có: đặc điểm từ vựng (các từ chuyên ngành,

sự phân bố từ vựng), các loại từ chức năng (đại từ, giới từ, các từ đánh dấu diễn ngôn), dạng thức (bị động, chủ động), cụm danh từ (các phạm trù ngữ nghĩa, mạo từ xác định, hậu tố), các đặc điểm đặc biệt của hội thoại (kênh phản hồi và những hồi đáp đơn giản),… Tùy theo từng loại ngữ vực, từng ngôn ngữ mà có thể phân tích thêm nhiều loại phương tiện khác nữa [26, 73-74]

Có thể nói, đây là một khung phân tích ngữ vực hiệu quả và có khả năng ứng dụng rộng rãi để nghiên cứu đặc điểm của diễn ngôn ở nhiều ngôn ngữ trong hành chức Mặc dù phương pháp phân tích ngữ vực đầu tiên được ứng dụng để phân tích ngôn ngữ giao tiếp của các cộng đồng phương Tây nhưng

nó hoàn toàn có thể được sử dụng một cách hiệu quả trong việc phân tích ngữ vực của nhiều cộng đồng khác nhau trên thế giới

1.2.2 Lý thuyết hội thoại

Lý thuyết hội thoại là một phạm vi rộng lớn gồm nhiều vấn đề Chính vì vậy, bài luận văn chỉ xin trình bày một số vấn đề lý thuyết có liên quan đến việc triển khai đề tài

1.2.2.1 Khái niệm hội thoại

Hội thoại là hoạt động giao tiếp cơ bản, thường xuyên và phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ Giao tiếp hội thoại là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, xảy ra trong xã hội loài người, giữa người với người Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Hội thoại là sử dụng một ngôn ngữ để nói chuyện với nhau” [12, 597] Một số nhà ngôn ngữ học khác cũng đưa ra quan điểm của mình về khái

niệm hội thoại Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “Hội thoại là hình thức giao tiếp

thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [4, 201]

Trang 28

Nguyễn Đức Dân cho rằng: “Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói bên kia nghe và phản hồi trở lại Lúc đó, vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó là hội thoại” [5, 76] Trong cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ học”, Vũ Đức Nghiệu quan niệm rằng:

“Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời giữa những người tham gia giao tiếp nhằm những mục đích nào đó” [12, 377]

Trong đời sống có nhiều kiểu hội thoại khác nhau tùy vào tình huống, mục đích hội thoại, vị thế của các nhân vật hội thoại và cả số lượng người tham gia giao tiếp Ví dụ: Hội thoại trong công ty khác với hội thoại ở chợ, hội thoại trong đàm phán hợp đồng khác với hội thoại trong bữa cơm gia đình, hội thoại giữa nam giới khác với hội thoại giữa nữ giới,… Căn cứ vào

số lượng người tham gia có thể có song thoại (hai người tham gia hội thoại), tam thoại (ba người tham gia hội thoại), đa thoại (trên ba người tham gia hội thoại) Nhưng dạng cơ bản của hội thoại là dạng song thoại, tức là dạng diễn

ra giữa hai nhân vật đối đáp (đối thoại)

1.2.2.2 Vận động hội thoại

Bàn về sự vận động trong hội thoại, Đỗ Hữu Châu nhận định: “Trong bất

cứ cuộc hội thoại nào cũng có ba vận động cơ bản: trao lời, trao đáp và tương tác” [4, 205] Trước khi chỉ ra đặc điểm của ba sự vận động này, tác giả diễn

giải khái niệm lượt lời như sau: “Chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật

hội thoại nói ra, kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuỗi của mình là một lượt lời (turn at talk)” [4, 205]

Như vậy, lượt lời là một chuỗi lời nói của một cá nhân Khi lượt lời của người này kết thúc, nó báo hiệu cho sự tiếp nối lượt lời của người kia Khi một người A nói lượt lời của mình ra và hướng lượt lời của mình về phía người B nhằm làm cho B nhận biết được rằng lượt lời được nói ra đó là dành

cho B thì người A đang đồng thời thực hiện hành động trao lời

Trang 29

Tuy nhiên, vận động trao lời chỉ là vận động từ một phía Cuộc hội thoại mới chính thức được hình thành khi người B nói ra lượt lời đáp lại

lượt lời của người A Vận động này được gọi là vận động trao đáp, nghĩa

là có cả sự trao lời lẫn sự hồi đáp Vận động trao đáp sẽ diễn ra liên tục và tùy vào từng trường hợp mà có thể được thực hiện bằng các yếu tố bằng lời hoặc phi lời Hội thoại càng dài thì vận động trao đáp càng được thực hiện nhiều

Trong hội thoại, các nhân vật tham gia hội thoại tác động qua lại để nhằm biến đổi lẫn nhau Không phải hai người cứ thay nhau nói là thành một cuộc thoại Cả người nói và người nghe phải có sự tương tác với nhau và có ý thức dấn thân để duy trì cuộc thoại Họ sử dụng lượt lời của mình để tạo ra lời nói và lời nói sẽ tác động đến tâm sinh lý của chính người nghe Sự vận động

này trong hội thoại được gọi là tương tác

1.2.2.3 Cấu trúc hội thoại

Trong cuốn “Đại cương ngôn ngữ học (tập 2)”, tác giả Đỗ Hữu Châu đã

đề cập đến mô hình lý thuyết hội thoại Thụy Sĩ – Pháp Theo tác giả, mô hình

lý thuyết này có thể được sử dụng “để định ra các vấn đề và xử lý các vấn đề trong nghiên cứu hội thoại” [4, 344]

Theo lý thuyết hội thoại Thụy Sĩ – Pháp, hội thoại là “một tổ chức tôn

ti như tổ chức một đơn vị ngữ pháp” Các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu về hội thoại ở Thụy Sĩ tiêu biểu là Eddy Roulet và ở Pháp tiêu biểu là Catherine Kerbrat Orecchioni đã xây dựng cấu trúc hội thoại gồm có các

đơn vị sắp xếp từ nhỏ đến lớn lần lượt là: Hành vi ngôn ngữ, tham thoại,

cặp thoại, đoạn thoại và cuộc thoại Có thể hình dung cấu trúc hội thoại

bằng sơ đồ sau:

Trang 30

Sơ đồ 1.1 Cấu trúc hội thoại

cuộc thoại

đoạn thoại 1 đoạn thoại 2 đoạn thoại n

cặp thoại 1 cặp thoại 2 cặp thoại n

tham thoại 1 tham thoại 2 tham thoại n

hành vi 1 hành vi 2 hành vi n

Trong đó, hành vi ngôn ngữ và tham thoại có đặc điểm là do một người nói ra Ba đơn vị còn lại thì được hình thành do vận động trao đáp của các nhân vật hội thoại Ở đây, chúng tôi đặc biệt lưu ý đến đơn vị tham thoại Bởi

lẽ, một lượt lời có thể gồm nhiều tham thoại Nếu một tham thoại là cú chuyển tác thì nó chính là đối tượng mà chúng tôi phân tích để nhận diện quá trình trong mô hình kinh nghiệm Tuy nhiên, cả năm đơn vị này đều được chúng tôi xét đến khi làm rõ các đặc trưng về trường cũng như mô tả đặc điểm không khí hội thoại trong phim “Người Hà Nội”

Tóm lại, hội thoại là dạng thức giao tiếp bằng khẩu ngữ (ngôn ngữ nói) giữa các nhân vật tham gia giao tiếp nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng và tình cảm,… Các nhân vật trong hội thoại liên tục thực hiện hành động trao đáp thông qua lượt lời của mình Vận động trao đáp được thực hiện một lần sẽ tạo ra một cặp thoại Các cặp thoại tạo ra đoạn thoại Cuộc thoại được hình thành từ các đoạn thoại Để có một cuộc thoại dài, sự tương tác giữa các bên là rất quan trọng Trong hội thoại, ngoài ngôn ngữ là công cụ

Trang 31

chính ra, cả người nghe lẫn người nói có thể sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ như cử chỉ, ánh mắt, điệu bộ, nét mặt,… để đạt được mục đích giao tiếp Trong quá trình vận động của hội thoại, người nói phải luôn chú

ý tạo cơ hội cho người nghe được nói lượt lời của mình Sự phối hợp nhịp nhàng kết hợp với việc luân phiên lượt lời được vận hành tốt thì cuộc hội thoại mới có kết quả

1.2.3 Cú được giải thích theo quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống

Trong mô hình ngữ pháp chức năng hệ thống, cú là một đơn vị ngữ pháp cao nhất: (a) giải thích kinh nghiệm của người nói về thế giới bên ngoài cũng như thế giới nội tâm của ý thức, (b) diễn đạt sự xen chen của người nói vào một tình huống giao tiếp nào đó, vai diễn lời nói mà họ chấp nhận trong tình huống, do đó giao các sự lựa chọn vai diễn cho người nghe và (c) thể hiện một thông điệp trong toàn bộ sự kiện giao tiếp [17, 121]

Ở tầng ngữ pháp – từ vựng, cú có thể được nhận diện là đơn vị duy nhất có khả năng hiện thực hóa những sự lựa chọn từ các hệ thống chuyển tác,

mở rộng, phóng chiếu, thức và đề ngữ

Hệ thống chuyển tác được cho là hiện thực hóa các ý nghĩa kinh nghiệm Cú thuộc hệ thống chuyển tác hay còn gọi là cú chuyển tác có chức năng điển hình là diễn đạt sự kiện đang diễn ra Trong nghiên cứu ngữ pháp chức năng, cú chuyển tác là đơn vị cơ bản của diễn ngôn Sự kiện đang diễn

ra này được biết đến như là một quá trình Vì vậy, quá trình là một khái niệm cực kì quan trọng để xác định cú tiếng Việt

1.3 Tiểu kết

Tóm lại, trong chương một chúng tôi đã trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hướng tiếp cận ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday để giải quyết các vấn đề ngôn ngữ nói chung và các vấn

đề thuộc phạm vi ngữ vực nói riêng

Trang 32

Hơn nữa, chúng tôi còn xác định những tri thức lý luận làm tiền đề cho việc triển khai luận văn Đó là những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài như ngữ vực (khái niệm, cấu trúc và phương pháp phân tích), trường, không khí, phương thức và lý thuyết hội thoại (khái niệm, vận động và cấu trúc) Ở mỗi vấn đề, chúng tôi cố gắng đưa ra cái nhìn khái quát nhất

về những quan niệm khác nhau hiện đang tồn tại trong giới nghiên cứu trong và ngoài nước cũng như đưa ra một cách hiểu mà theo chúng tôi là phù hợp nhất với nghiên cứu

Có thể khẳng định rằng, ngữ pháp chức năng nói chung và ngữ vực nói riêng đã trở thành đề tài thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trên thế giới Ở Việt Nam, vấn đề này cũng đang được chú trọng nghiên cứu vì nó giúp chúng ta lý giải được nhiều hiện tượng ngôn ngữ trong đời sống không chỉ ở dạng viết mà còn ở cả dạng nói Nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề về cả ý nghĩa lý thuyết và ý nghĩa thực tiễn, chúng tôi mạnh dạn thực hiện theo hướng nghiên cứu này thông qua việc tham khảo nhiều nghiên cứu, bài báo có liên quan Với mục tiêu ban đầu tìm hiểu về đặc trưng của hai thông số trong ngữ vực (trường và không khí) được thể hiện qua giao tiếp hội thoại hàng ngày trong phim

“Người Hà Nội”, nghiên cứu hi vọng sẽ góp phần bổ sung và hoàn thiện những luận điểm đang còn tồn tại cũng như các nghiên cứu về ngữ vực theo hướng ngữ pháp chức năng hệ thống

Trang 33

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM VỀ TRƯỜNG CỦA GIAO TIẾP HỘI THOẠI

HÀNG NGÀY TRONG PHIM “NGƯỜI HÀ NỘI”

2.0 Dẫn nhập

Trong chương này, chúng tôi sẽ đề cập đến bối cảnh chung của bộ phim

“Người Hà Nội” Xuất phát từ bối cảnh chung của bộ phim, chúng tôi chọn ra một gia đình Hà Nội tiêu biểu – gia đình Thảo Nam Như vậy, các hội thoại được xét đến trong nghiên cứu là hội thoại của các nhân vật: ông Mạnh (bố Thảo), bà Mạnh (mẹ Thảo), Thảo, Nam (chồng Thảo), Niên Thảo (con gái Thảo), Loan (em gái Thảo) và Bình (bạn của Thảo và Nam) Lý do chúng tôi chọn bảy nhân vật này là họ đều có đặc điểm chung là người Hà Nội và có mối quan hệ thân tộc, bạn bè thân thiết với nhau Hơn nữa, chủ đề bộ phim cũng chủ yếu xoay quanh cuộc sống diễn ra hàng ngày của bảy nhân vật này

Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát

đặc điểm trường của 65 hội thoại với 613 lượt lời được xây dựng từ 7 nhân vật người Hà Nội như đã nói ở trên Đặc điểm về trường được thể hiện thông

qua ba nguồn dữ liệu: thứ nhất là đặc điểm chủ đề giao tiếp; thứ hai là đặc điểm mục đích giao tiếp và thứ ba là thế giới kinh nghiệm của các hội thoại được xét đến trong phim Kết quả thứ nhất sẽ cho biết các chủ đề chính được

đề cập đến trong giao tiếp hội thoại hàng ngày của gia đình người Hà Nội Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra mục đích giao tiếp của các nhân vật trong các hội thoại đó Kết quả thứ nhất và thứ hai sẽ được chỉ ra thông qua các phương tiện ngôn ngữ hiện thực hóa chủ đề cũng như mục đích giao tiếp của các hội thoại Để có được kết quả thứ ba, nghiên cứu đã vận dụng những tri thức mô hình kinh nghiệm theo hướng ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday Chúng tôi tiến hành phân tích 443 cú tiếng Việt bao gồm cả các cú phóng chiếu trong các hội thoại đó rồi phân loại thành 6 kiểu quá trình Bằng cách này, nghiên cứu có thể xây dựng được mô hình kinh nghiệm và làm nổi

Trang 34

bật được đặc trưng thế giới kinh nghiệm của giao tiếp hội thoại hàng ngày trong phim “Người Hà Nội”

2.1 Bối cảnh giao tiếp hội thoại trong phim

2.1.1 Bối cảnh chung

Bộ phim “Người Hà Nội” xoay quanh cuộc sống đời thường của người

Hà Nội vào những năm đầu đổi mới (cuối thập niên 1980, đầu những năm

1990) Nội dung bộ phim chia thành ba phần lớn: Trở gió, Giấc mơ vàng và

Người đàn bà xa lạ Bộ phim giống như một bức tranh thu nhỏ về Hà Nội Ở

đó, có những gia đình công chức, những người sống bằng nghề buôn bán, những người phải đi làm ăn xa, công an giữ trật tự an ninh đường phố, những

em bé ăn xin và cả những người nước ngoài, Tất cả đã tạo nên hình ảnh về một Hà Nội vừa bước qua thời kỳ bao cấp và chuyển sang giai đoạn đổi mới chưa được bao lâu Hà Nội khi đó vừa bình yên vừa nhộn nhịp với những con người đang tất bật cho cuộc sống mưu sinh Trong những cuộc hội thoại hàng ngày của người Hà Nội và của những người đang sinh sống ở Hà Nội, chủ đề giao tiếp thường liên quan đến chào hỏi, chỗ ăn chỗ ở, công việc, phí sinh hoạt (tiền điện nước, tiền ăn, tiền học của con), thời chiến tranh, bạn bè, tình yêu, đám cưới, đón Tết, cách làm giàu,… Những chủ đề đó luôn là một phần không thể thiếu mỗi khi nhắc đến một Hà Nội đã từng bình dị, gần gũi và rất đỗi quen thuộc

2.1.2 Bối cảnh riêng

Nổi bật lên trong bộ phim là một gia đình nhỏ sống ở Hà Nội – gia đình của Thảo và Nam Gia đình của Thảo Nam là kiểu gia đình hạt nhân tiêu biểu gồm có bố mẹ và một đứa con gái tên là Niên Thảo Nếu coi gia đình Thảo là một vòng tròn nhỏ thì có một vòng tròn khác bao ở bên ngoài Trên vòng tròn lớn này có bốn điểm tương ứng với bốn người: ông Mạnh, bà Mạnh, Loan –

em gái Thảo và Bình - một người bạn rất thân của cả hai vợ chồng và đồng

Trang 35

thời là bố nuôi của Niên Thảo Tâm điểm của cả hai vòng tròn trên chính là Thảo Tất cả các thành viên trong đại gia đình của Thảo đều là người Hà Nội

và đang sinh sống ở Hà Nội Có thể nói, hai vòng tròn trên thể hiện cho hai

mô hình gia đình kiểu mẫu ở Việt Nam: gia đình hạt nhân và gia đình nhiều thế hệ Bộ phim đã đi sâu khắc họa gia đình của Thảo cũng như những diễn biến liên quan đến Thảo và các thành viên khác trong gia đình

Trong những năm đầu đổi mới, giống như bao gia đình Hà Nội khác, gia đình Thảo cũng gặp nhiều khó khăn với bao lo toan trong cuộc sống thường ngày từ câu chuyện “cơm ăn áo mặc” đến tiền học hành của con và cả tương lai sau này Sự việc bắt đầu diễn biến cao trào từ khi Thảo quyết định đi lao động ở Đức Nút thắt của câu chuyện về gia đình Thảo là sau khi Thảo từ Đức trở về Những biến cố cũng từ đó xảy ra với gia đình Thảo Nam đến mức hai

vợ chồng phải đứng trước bờ vực của li hôn

Ba phần lớn của bộ phim chính là khắc họa ba giai đoạn chuyển biến của gia đình Thảo

Phần 1 – “Trở gió” phản ánh cuộc sống còn không ít khó khăn và thiếu thốn của gia đình Thảo

Phần 2 – “Giấc mơ vàng” phản ánh việc Thảo quyết định đi xuất khẩu lao động ở Đức để kiếm thật nhiều tiền với mong muốn gia đình của mình sẽ

có một cuộc sống đầy đủ hơn

Phần 3 – “Người đàn bà xa lạ” phản ánh việc cuộc sống hôn nhân của hai

vợ chồng rạn nứt Sau khi trở về từ một đất nước giàu có, Thảo đã biến thành một người xa lạ đối với tất cả mọi người trong gia đình

Có thể nói, bộ phim “Người Hà Nội” không chỉ khắc họa đời sống thường ngày của người Hà Nội mà còn đọng lại trong lòng người xem bài học về hạnh phúc gia đình Đây quả thực là một phim hay, ý nghĩa và đầy xúc động

Trang 36

2.2 Đặc điểm chủ đề giao tiếp

2.2.1 Các chủ đề được đề cập

Nghiên cứu đã ghi lại 65 hội thoại, 613 lượt lời của 7 nhân vật và được hiện thực hóa dưới dạng văn bản với 42 trang (cỡ chữ 13) và 14.652 chữ Trong tổng cộng 65 hội thoại chúng tôi ghi lại được của một gia đình người

Hà Nội tiêu biểu – gia đình Thảo Nam, các hội thoại của khách thể nghiên

cứu có thể phân định thành 6 chủ đề lớn: chào hỏi, gia đình, công việc, tình

yêu và hôn nhân, thế sự trong và ngoài nước, nhân vật Thảo Một hội thoại

của các thành viên trong gia đình người Hà Nội có thể gồm nhiều cuộc thoại

và đề cập đến hơn một chủ đề Vì vậy, tần số xuất hiện từ cao xuống thấp của

6 chủ đề trên trong các hội thoại cụ thể như sau:

- Chủ đề gia đình có 26 cuộc thoại

- Chủ đề nhân vật Thảo có 20 cuộc thoại

- Chủ đề chào hỏi có 16 cuộc thoại

- Chủ đề tình yêu và hôn nhân có 13 cuộc thoại

- Chủ đề công việc có 11 cuộc thoại

- Chủ đề thế sự trong và ngoài nước có 6 cuộc thoại

Nghiên cứu đã tiến hành làm rõ 6 chủ đề giao tiếp chính của các hội thoại hàng ngày trong phim “Người Hà Nội” thông qua các phương tiện ngôn ngữ: Từ ngữ (danh từ, động từ, tính từ), đại từ nhân xưng, lối nói, phát ngôn,… Nếu coi bộ phim là một bức tranh khắc họa cuộc sống thường ngày của một gia đình Hà Nội nói riêng và của những con người đang sinh sống trên mảnh đất thủ đô nói chung thì 6 chủ đề ở trên giống như 6 hình vẽ chính được họa sĩ sử dụng để để khái quát lên nội dung bao trùm của toàn bức tranh đó

Trang 37

2.2.2 Các phương tiện ngôn ngữ giúp hiện thực hóa các chủ đề giao tiếp

2.2.2.1 Các phương tiện ngôn ngữ hiện thực hóa chủ đề gia đình

Có thể nhận thấy chủ đề gia đình là chủ đề được phản ánh nhiều nhất

trong các hội thoại sinh hoạt hàng ngày của người Hà Nội thời ấy Điều này

rõ ràng là đúng đối với một đất nước coi trọng văn hóa gia đình như Việt Nam Từ trước đến nay, theo quan niệm của người Việt, gia đình vẫn luôn được coi là tế bào của xã hội Gia đình yên ấm, hạnh phúc thì xã hội phát triển Trong bộ phim, chủ đề gia đình của các hội thoại được thể hiện thông qua 5 tiểu chủ đề: con cái, chi phí sinh hoạt, bữa cơm gia đình, nhà cửa và ly hôn

Gia đình

a Các phương tiện ngôn ngữ hiện thực hóa tiểu chủ đề con cái

- Những từ ngữ liên quan đến tình hình sức khỏe của con cái mà thường

xuất hiện trong những gia đình có con nhỏ: sốt, ốm, đỡ, khỏi, bác sĩ, uống

thuốc, chóng khỏe, ca cấp cứu, suy nhược toàn thân,…

- Một vài lối nói cho thấy con cái luôn luôn là ưu tiên hàng đầu trong cuộc

sống của bố mẹ: -Tương lai của con là trên hết; - Tất cả dành cho con em à!;

- Nó là hồn sống của đời chị; - Hai bạn có phải đi ăn xin ăn mày, đứng đường đứng chợ cũng không được để cho thiên thần bé nhỏ của tôi phải đói khổ, học hành dang dở đâu đấy nhé!;…

b Các phương tiện ngôn ngữ hiện thực hóa tiểu chủ đề chi phí sinh hoạt

Bữa cơm gia đình

sinh hoạt

Trang 38

- Những từ ngữ thể hiện các khoản chi tiêu của gia đình trong một

tháng: tiền điện; tiền học thêm của con; ăn, uống, quà cáp, sách vở của

con;…

- Những từ ngữ thể hiện số tiền mà gia đình phải trả cho các khoản chi tiêu

trong tháng: trăm mười ngàn, 70 ngàn, 40 ngàn

- Những từ ngữ chỉ nguồn thu nhập hàng tháng của một gia đình công

chức người Hà Nội được xét đến trong nghiên cứu: lương tháng, đồng lương

trung tá, tiền lương thiếu tá, tiền vẽ thêm, đồng lương nghệ sĩ,…

- Lối nói thể hiện cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, khó khăn của gia đình

người Hà Nội khi đất nước vừa bước sang thời kỳ đổi mới: bóp mồm bóp

miệng, bớt cái này nhịn cái kia, hết xoẹt đồng lương trung tá, lương tháng không đủ nuôi nổi một mụn con,…

- Động từ chỉ các giải pháp mang tính chất tạm thời nhằm có thể trang trải

đủ cho các chi phí sinh hoạt hàng ngày: vẽ thêm, bớt các khoản tiền, không ăn

sáng, cai thuốc lá, bỏ trà, uống nước lọc,… Các giải pháp khắc phục khó

khăn này được Nam - người chồng đưa ra và thực hiện để chia sẻ nỗi lo lắng vất vả cho người vợ của anh Qua đó, nhân vật Nam hiện lên như là một người chồng có trách nhiệm, yêu thương vợ con hết mực Gia đình nhỏ của

Thảo Nam tuy nghèo về vật chất nhưng không nghèo về tình cảm

c Các phương tiện ngôn ngữ hiện thực hóa tiểu chủ đề bữa cơm gia đình

- Danh từ hiện thực hóa chủ đề bữa cơm gia đình thông qua các từ ngữ

rất quen thuộc: món, cơm, trứng, bữa, bữa ăn, ba bát, đại tiệc, khẩu vị,

thức ăn,…

- Động từ hiện thực hóa hành động trong bữa cơm gia đình: nấu

nướng, dọn cơm, ăn, bồi dưỡng,… Trong đó, động từ ăn xuất hiện nhiều

nhất với 10 lần

- Tính từ thường được sử dụng trong bữa cơm gia đình: đói, ngon, tươi,…

Trang 39

d Các phương tiện ngôn ngữ hiện thực hóa tiểu chủ đề nhà cửa

- Một loạt các danh từ và ngữ danh từ chỉ cấu trúc ngôi nhà mà gia đình

Nam Thảo dự định xây: ngôi nhà, tầng 1, tầng 2, tầng 3, phòng khách, bếp,

phòng ăn, công trình phụ, sân thượng, sân con, căn hộ, tầng dưới, cầu thang riêng, gian nhà,…

- Động từ hoặc ngữ động từ chỉ các hành động trong mối liên hệ đến nhà

cửa: xây, thiết kế, chia đôi, thuê, cho thuê, đổi nhà, tiến ra mặt đường, thi

công, trông nom công trình, bàn giao công trình, khánh thành,…

- Danh từ chỉ người và vật liệu xây dựng: thợ, xi măng, sắt thép

- Từ ngữ được sử dụng để miêu tả nhà cửa: 30m, 16m 2 , 14m 2 , chật, tươm tất, tiện nghi, tòa biệt thự trắng, lạnh lẽo,…

e Các phương tiện ngôn ngữ hiện thực hóa tiểu chủ đề ly hôn

Khi nhân vật Thảo từ Đức trở về, cô gặp lại người đàn ông mà cô đã quen bên Đức Người đàn bà ấy đã không thể làm chủ được những phút yếu lòng và nảy sinh một mối tình ngang trái Do vậy, tình cảm của vợ chồng của Thảo Nam đã đứng trước bờ vực tan vỡ Đây cũng chính là nguyên cơ dẫn đến những hội thoại về chủ đề ly hôn Mặc dù chủ đề này là điều không ai mong muốn nhưng thực tế thì nó vẫn xảy ra, vẫn hiện diện và là một phần trong cuộc sống

- Các từ ngữ mang tính chất pháp lý được sử dụng trong hội thoại nhằm

hiện thực hóa việc giải quyết vấn đề ly hôn của hai vợ chồng: ly hôn, tòa, bên

nguyên đơn xin ly dị, giấy ly hôn, pháp luật, quyền lợi,

- Phát ngôn thể hiện sự bàn bạc cũng như ý kiến của những người trong

cuộc giao tiếp liên quan đến chủ đề này: - Em sẽ không đòi hỏi ở anh bất cứ

điều kiện gì miễn là đứng trước toà anh đồng ý cho em nuôi con; - Nếu con nói thích ở với anh, em cũng đành chấp nhận như thế; - Chúng con sẽ giải quyết êm thấm; - Đã có pháp luật bảo vệ quyền lợi cho mỗi người,…

Trang 40

2.2.2.2 Các phương tiện ngôn ngữ hiện thực hóa chủ đề nhân vật Thảo

Có thể nói, nhân vật Thảo là tâm điểm của bộ phim “Người Hà Nội” Bộ phim xoay quanh các vấn đề liên quan đến cuộc sống hàng ngày của gia đình người Hà Nội nói chung và của Thảo nói riêng Chính vì vậy, có tới 20/65 hội thoại nhắc đến Thảo cùng với các câu chuyện liên quan đến Thảo Nói cách khác, nhân vật Thảo là chủ thể được đề cập đến trong nhiều hội thoại của các nhân vật

a Tần số xuất hiện các đại từ nhân xưng quy chiếu đến nhân vật Thảo

Trong 20 hội thoại, có 15 cuộc đối thoại mà các nhân vật nói chuyện về Thảo (14 hội thoại là của các nhân vật khác và 1 hội thoại là giữa hai nhân vật Loan – Thảo) Tần số các đại từ nhân xưng quy chiếu đến nhân vật Thảo xuất hiện dày đặc Theo kết quả thống kê, có tới 108 đại từ nhân xưng trong 15 hội thoại quy chiếu đến Thảo – nhân vật chính của bộ phim (73 đại từ nhân xưng ngôi thứ ba, 27 đại từ nhân xưng ngôi thứ hai và 8 đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất) Các đại từ nhân xưng ngôi thứ ba rất đa dạng do tùy thuộc vào mối quan hệ của các nhân vật cũng như hoàn cảnh giao tiếp Còn đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và thứ hai xuất hiện trong các hội thoại có sự xuất hiện trực tiếp của Thảo

- Tần số xuất hiện các đại từ nhân xưng ngôi thứ ba quy chiếu đến nhân

vật Thảo ở 15 hội thoại trong phim “Người Hà Nội” cụ thể là: Thảo (17 lần),

chị Thảo (11 lần), mẹ (7 lần), nó (7 lần), cái Thảo (4 lần), mẹ Thảo (3 lần), chị

em (2 lần), bà chủ (2 lần), con (2 lần), con Thảo (2 lần), con gái ông (1 lần), chị (1 lần), cô Thảo (1 lần), bà nữ hoàng (1 lần), nàng Thảo (1 lần), bà vợ (1

lần), vợ (1 lần), cô ta (1 lần), bà chị tôi (1 lần), chị tôi (1 lần), cháu Thảo (1 lần), đứa con hư hỏng (1 lần), chị ấy (1 lần), thứ con cái ấy (1 lần), đồ mất

dạy (1 lần), đồ bất hiếu (1 lần)

Ngày đăng: 18/07/2017, 20:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w