1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực hành dân chủ theo tư tưởng hồ chí minh nhằm phát huy vai trò của trí thức trong giai đoạn hiện nay

168 298 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 168
Dung lượng 2,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức và vận dụng trong giai đoạn hiện nay .... quan trọng là nghiên cứu, vận d

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG THỊ THUẬN

THùC HµNH D¢N CHñ THEO T¦ T¦ëNG Hå CHÝ MINH

NH»M PH¸T HUY VAI TRß CñA TRÝ THøC

TRONG GIAI §O¹N HIÖN NAY

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Luận án được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học tận tình của PGS TS Phạm Xuân Hằng và PGS.TS Lại Quốc Khánh Các tài liệu khoa học được sử dụng trong luận án

là chính xác, trung thực, bảo đảm tính khách quan, khoa học và có nguồn gốc xuất xứ

rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa được công bố trong bất kỳ công

trình nghiên cứu nào

Tác giả

Hoàng Thị Thuận

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội, được sự giúp đỡ của Nhà trường, các Phòng

và Khoa Khoa học Chính trị học, nay tôi đã hoàn thành chương trình học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn tới quý Thầy, Cô trong Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo, Khoa Khoa học Chính trị - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và bảo

vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh học

Với sự kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học: PGS TS Phạm Xuân Hằng, PGS TS Lại Quốc Khánh, GS TS Phùng Hữu Phú, GS TS Nguyễn Văn Huyên, GS TS Đỗ Quang Hưng, GS TS Phạm Ngọc Anh, GS TS Hoàng Chí Bảo, PGS TS Đinh Xuân Lý, PGS TS Ngô Thị Phượng,

TS Lưu Minh Văn, PGS TS Nguyễn Văn Thế, PGS TS Nguyễn Viết Thông, PGS

TS Trần Minh Trưởng và một số nhà khoa học khác đã trực tiếp tham gia đóng góp

ý kiến chuyên môn để tôi tiếp thu, chỉnh sửa và hoàn thiện luận án tiến sĩ

Tôi cũng vô cùng biết ơn sự động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện của gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện bản luận án tiến sĩ

Cuối cùng tôi xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 7 1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 10

1.2 Tình hình trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức và vận dụng trong giai đoạn hiện nay 21

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 21

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 23

1.3 Đánh giá khái quát tình hình nghiên cứu của các công trình liên quan đến luận án và những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu 28

1.3.1 Những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố liên

quan đến luận án 28 1.3.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu 29

VAI TRÒ CỦA TRÍ THỨC 31 2.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức 31

2.1.1 Cơ sở lý luận 31

2.1.2 Cơ sở thực tiễn 42

Trang 5

2.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ nhằm phát huy

vai trò của trí thức 50

2.2.1 Quan niệm về trí thức, phát huy vai trò của trí thức, thực hành dân chủ và thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức 50

2.2.2 Tác động của thực hành dân chủ đến phát huy vai trò của trí thức 60

2.2.3 Chủ thể và nội dung thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức 70

Tiểu kết chương 2 80

Chương 3: THỰC HÀNH DÂN CHỦ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA TRÍ THỨC VIỆT NAM TRONG 30 NĂM ĐỔI MỚI 81

3.1 Thực trạng thực hành dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phát huy vai trò của trí thức ở Việt nam trong 30 năm đổi mới 81

3.1.1 Thành tựu 81

3.1.2 Hạn chế 102

3.1.3 Nguyên nhân của thành tựu và hạn chế 106

3.2 Vấn đề đặt ra từ thực trạng thực hành dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phát huy vai trò của trí thức ở Việt Nam hiện nay 109

3.2.1 Nâng cao nhận thức của các chủ thể về thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức 109

3.2.2 Đẩy mạnh việc tổ chức thực hành dân chủ trong toàn bộ hệ thống chính trị 110

3.2.3 Làm cho cơ chế thực hành dân chủ thực sự trở thành động lực thúc đẩy hoạt động của trí thức 111

Tiểu kết chương 3 115

Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC THỰC HÀNH DÂN CHỦ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH NHẰM PHÁT HUY HƠN NỮA VAI TRÒ CỦA TRÍ THỨC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 116

4.1 Phương hướng đẩy mạnh thực hành dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phát huy hơn nữa vai trò của trí thức 116

Trang 6

4.1.1 Thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức phải gắn với mục

tiêu hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa 118

4.1.2 Thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức gắn với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế 120

4.1.3 Chú trọng phát huy hơn nữa vai trò của toàn hệ thống chính trị trong đẩy mạnh thực hành dân chủ đối với trí thức 122

4.1.4 Tăng cường tính tích cực, chủ động và sáng tạo của trí thức trong thực hành dân chủ 123

4.2 Giải pháp đẩy mạnh thực hành dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phát huy hơn nữa vai trò của trí thức trong giai đoạn hiện nay 125

4.2.1 Đối với sự lãnh đạo của Đảng 125

4.2.2 Đối với sự quản lý của Nhà nước 130

4.2.3 Đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội 139

4.2.4 Đối với bản thân trí thức 142

Tiểu kết chương 4 146

KẾT LUẬN 147 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dân chủ với nghĩa chính là quyền thuộc về nhân dân mãi luôn là giá trị cao quý mà loài người hướng đến Dưới góc độ chính trị học, việc xây dựng và thực hành dân chủ là một trong những phương thức quan trọng nhất để giải phóng hết năng lực và phát huy hết tiềm năng sáng tạo, sức mạnh trí tuệ của con người, trong

đó có trí thức Vì vậy, là “kiến trúc sư trưởng”, đồng thời là người lãnh đạo cao nhất của cách mạng Việt Nam, lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tới việc xây dựng chế độ dân chủ nhằm đảm bảo các quyền cơ bản của nhân dân với tư cách công dân từ pháp lý tới hành động Trong tư tưởng của Người, chế độ dân chủ

là chế độ trong đó: “Nhân dân là chủ Chính phủ là đầy tớ của nhân dân Nhân dân

có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm

phục lợi ích của nhân dân” [98, tr.90] - tức là nhân dân vừa “là chủ”, vừa “làm

chủ” đất nước Cùng với quá trình xây dựng chế độ dân chủ, Hồ Chí Minh cũng

luôn chú ý tới việc thực hành dân chủ rộng rãi trong xã hội Đối với Người, thực hành dân chủ chính là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn trong xã hội

và là phương thức quan trọng nhất nhằm phát huy tối đa vai trò của tất cả các giai cấp, tầng lớp Trong đó, đối với trí thức, thông qua thực hành dân chủ, vai trò tiếp biến, nghiên cứu, sáng tạo, truyền bá tri thức và đấu tranh, phản biện xã hội được khai thác hiệu quả Mặt khác, theo Người, phát huy vai trò của trí thức cũng góp phần quan trọng vào việc xây dựng các nền tảng chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội cho quá trình thực hành dân chủ Do đó, trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hành dân chủ và phát huy vai trò của trí thức luôn có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, với tư cách là Chủ tịch nước, thông qua chính sách thực hành dân chủ rộng rãi, Hồ Chí Minh đã tạo ra một môi trường dân chủ thực sự để trí thức phát huy vai trò, xứng đáng là người trí thức cách mạng chân chính của nhân dân Đây là bài học vô cùng quý giá cho Đảng, Nhà nước trong phát huy vai trò của trí thức Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Trang 8

Trong 30 năm đổi mới, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong đó, trên phương diện dân chủ và thực hành dân chủ, Đại hội XII (01/2016) của Đảng khẳng định: “Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt hơn trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực chính trị và kinh tế” [31, tr.167] Chính vì vậy, thông qua thực hành dân chủ, Đảng, Nhà nước đã khơi dậy và phát huy vai trò của các giai cấp, tầng lớp nhân dân Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với sự xuất hiện của robot

có trí tuệ nhân tạo đã tác động tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Vì vậy, đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc phải phát huy tối đa sức mạnh của nguồn lực trí tuệ để phát triển, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quyết định Trong đó, việc tạo điều kiện

và môi trường thực sự dân chủ đối với trí thức luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Nhìn vào thực tế, ở nước ta, vị trí và vai trò của trí thức trong xã hội đã ngày càng được nâng cao cả về lý luận và thực tiễn; trí thức trực tiếp tham gia xây dựng, góp ý các dự thảo luật quan trọng của đất nước; trí thức giám sát và phản biện các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước; trí thức hưởng dụng các điều kiện thuận lợi về mặt cơ chế, chính sách trong sáng tạo, nghiên cứu khoa học, học tập nâng cao trình độ chuyên môn ở trong và ngoài nước; v.v Tuy nhiên, việc phát huy vai trò của trí thức ở nước ta hiện nay vẫn còn đối mặt với nhiều thách thức Chẳng hạn, một bộ phận cán bộ và đảng viên vẫn còn định kiến với trí thức; chưa có sự công bằng về chính sách giữa trí thức trong nước và trí thức Việt kiều; phản biện của trí thức chưa thực sự được coi trọng, đặc biệt trong các vấn đề có tầm quan trọng chiến lược; v.v trong đó, đáng chú ý là thể chế dân chủ và việc thực hành dân chủ đối với trí thức vẫn còn khiếm khuyết Vì vậy, muốn phát huy vai trò của trí thức một cách hiệu quả trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, tất yếu phải hoàn chỉnh hơn nữa thể chế dân chủ và đẩy mạnh thực hành dân chủ đối với trí thức Để làm được điều đó, một trong những nhiệm vụ

Trang 9

quan trọng là nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ đối với phát huy vai trò của trí thức trong giai đoạn hiện nay

Trên phương diện khoa học, trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, thực hành dân chủ và vai trò của trí thức trong tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, có thể thấy một khoảng trống mà các nhà nghiên cứu đi trước chưa giải quyết thấu đáo là chỉ rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức và vận dụng trong giai đoạn hiện nay Từ thực tiễn cho thấy, đây cũng là một trong những vấn đề hệ trọng cần được quan tâm và giải quyết nhằm phát huy hơn nữa vai trò của trí thức trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế

Như vậy, nhìn từ phương diện lý luận và thực tiễn, việc nghiên cứu tư tưởng

Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức có ý nghĩa

thiết thực Do đó, tôi lựa chọn vấn đề: "Thực hành dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phát huy vai trò của trí thức trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài

luận án Tiến sĩ Chính trị học, chuyên ngành Hồ Chí Minh học

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Luận án nghiên cứu nội dung và làm sáng tỏ quá trình vận dụng tư tưởng Hồ

Chí Minh về thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức Việt Nam Từ đó,

đề xuất các phương hướng, giải pháp đẩy mạnh thực hành dân chủ theo tư tưởng Hồ

Chí Minh nhằm phát huy hơn nữa vai trò của trí thức ở nước ta giai đoạn hiện nay

2.2 Nhiệm vụ

- Nghiên cứu khái quát các công trình liên quan đến đề tài luận án, từ đó rút

ra nhận xét, đánh giá, xác định các vấn đề đặt ra mà luận án cần đi sâu nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở hình thành và nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh

về thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức

- Phân tích, đánh giá quá trình thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của

Trang 10

- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, đề xuất các phương hướng và giải pháp tiếp tục đẩy mạnh thực hành dân chủ nhằm phát huy hơn nữa vai trò của trí thức trong giai đoạn hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án nghiên cứu tư tưởng của Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức Việt Nam và quá trình vận dụng trong 30 năm đổi mới; phương hướng và giải pháp đẩy mạnh thực hành dân chủ nhằm phát huy hơn nữa vai trò của trí thức trong giai đoạn hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: luận án nghiên cứu khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về thực

hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức Việt Nam nói chung Do đó, tác giả luận án chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu vai trò và tác động của thực hành dân chủ đối với trí thức hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể

- Về không gian: thực hiện nghiên cứu các vấn đề trên lãnh thổ Việt Nam

- Về thời gian: việc đánh giá thực trạng thực hành dân chủ đối với phát huy

vai trò của trí thức được tiến hành từ năm 1986 đến nay, trong đó tập trung vào thực

tế đang diễn ra hiện nay Bên cạnh đó, luận án cũng nhìn xuyên suốt lịch sử để có những đánh giá toàn diện và khách quan về đối tượng nghiên cứu

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận nghiên cứu: dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ

nghĩa Mác – Lênin

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Luận án được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp lịch sử và lôgic, ngoài ra còn kết hợp với các phương pháp khác như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tài liệu Cụ thể:

Phương pháp logic và phương pháp lịch sử được sử dụng nhằm làm rõ cơ sở

hình thành và quá trình thực hành dân chủ đối với trí thức mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện trong quá trình trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam Mặt

Trang 11

khác, thông qua việc nghiên cứu thực hành dân chủ trong 30 năm đổi mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh để xác định những yêu cầu đặt ra, đề xuất các phương hướng và giải pháp đẩy mạnh thực hành dân chủ nhằm phát huy hơn nữa vai trò của trí thức trong giai đoạn hiện nay

Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp được sử dụng nhằm phân

tích quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ, thực hành dân chủ và vai trò của trí thức Đồng thời, đánh giá quá trình thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức trong 30 năm đổi mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Phương pháp so sánh được sử dụng nhằm làm rõ sự kế thừa và phát triển của

Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức so với quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê nin, các nhà yêu nước tiền bối ở Việt Nam và thế giới Mặt khác, sử dụng phương pháp so sánh để thấy rõ được quá trình thực hành dân chủ đối với trí thức Việt Nam trong cách mạng giải phóng dân tộc và trong 30 năm tiến hành đổi mới của đất nước

Phương pháp phân tích tài liệu góp phần vào việc nghiên cứu, đánh giá các

công trình khoa học, quan điểm của Đảng, Nhà nước và các chuyên gia về thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Thông qua nghiên cứu tác động của thực hành dân chủ đối với phát huy vai trò của trí thức, luận án đã góp phần phát triển một hướng nghiên cứu mới về dân chủ, thực hành dân chủ từ góc tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh, cụ thể:

- Từ việc làm rõ cơ sở hình thành, luận án đã xác định nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức Việt Nam

- Luận án đánh giá khái quát quá trình thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức Việt Nam trong 30 năm đổi mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh

- Luân án đề xuất phương hướng và các nhóm giải pháp cơ bản theo tư tưởng

Hồ Chí Minh nhằm đẩy mạnh thực hành dân chủ phát huy hơn nữa vai trò của trí thức Việt Nam hiện nay

Trang 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Ý nghĩa lý luận: luận án có thể góp phần cung cấp luận cứ cho việc xây dựng các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về thực hành dân chủ đối với phát huy vai trò của trí thức Việt Nam hiện nay

- Ý nghĩa thực tiễn: luận án có thể là tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành Hồ Chí Minh học, các môn khoa học xã hội và nhân văn có liên quan đến thực hành dân chủ, phát huy vai trò của trí thức

7 Kết cấu luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được bố cục làm 4 chương, 9 tiết

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Để xác định đúng và có cơ sở giải quyết thành công các nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi tiến hành khảo sát hai nhóm công trình đề cập trực tiếp đến các nội dung khoa học thuộc phạm vi đề tài nghiên cứu Cụ thể như sau:

1.1 Tình hình nghiên cứu về dân chủ, thực hành dân chủ với phát huy vai trò của trí thức

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Đề cập tới tác động của dân chủ và thực hành dân chủ đối với phát huy vai trò của trí thức, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trên thế giới như:

Samuel Huntington, “Democaracy ‟ s third wave” (Làn sóng dân chủ hóa lần thứ ba) [153]; Robert Dahl, Ian Shapiro, Jose Antonio,“The democracy sourcebook” (sách nguồn về dân chủ) [150]; Albert Enstein, “Thế giới như tôi thấy” [37]; v.v Trong

đó, phải kể tới những công trình chuyên sâu có giá trị lý luận và thực tiễn sau đây:

John Dewey: “Democracy and Education” [20] Công trình đã đi sâu phân tích mối quan hệ giữa giáo dục và dân chủ Tác giả khẳng định: “Nền dân chủ là cái

còn hơn cả một hình thái chính quyền; trên hết, nó là một phương thức của đời sống liên kết, của kinh nghiệm chung được truyền đạt” [20, tr 113] Đó là một xã hội dân chủ lấy bình đẳng về lợi ích làm nền tảng để xác lập các quan hệ xã hội Trong đó, giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc giúp con người trở thành những thành viên có ảnh hưởng trong xã hội dân chủ Vì vậy, theo tác giả, vai trò của người trí thức hoạt động trên lĩnh vực giáo dục là vô cùng quan trọng trong việc xóa bỏ hình thức ban phát một chiều và thay vào đó cần hình thành những kinh nghiệm giáo dục mang tính cách dân chủ cho người học Nói cách khác, tác giả chỉ rõ sự cần thiết phải thực hiện dân chủ trong giáo dục để người dạy và người học được trân trọng, bình đẳng và có trách nhiệm đối với xã hội

Trang 14

“Về trí thức Nga” [111] là tập hợp 12 bài viết của nhiều tác giả (Nga) về đề

tài trí thức Công trình đã phản ánh những trăn trở, dồn nén, bức xúc của trí thức

trước chính sách “cào bằng giá trị” và “đồng nhất xã hội” của Nhà nước Xô Viết trước đây đã làm thủ tiêu môi trường dân chủ - nền tảng cho sự “nổi loạn” và thăng

hoa sáng tạo của giới trí thức Kết quả là nước Nga thời kỳ hậu Xô Viết đã mất đi một nguồn nhân lực có chất lượng cao, do bị thui chột hoặc ra nước ngoài tìm môi

trường thích hợp để phát triển Đặc biệt, trong bài viết “Trí thức và nhận thức pháp

quyền”[111], tác giả B.A.Kistiakovski đã phân tích sâu sắc những nguyên nhân dẫn

tới sự yếu kém trong nhận thức về làm chủ và pháp quyền của giới trí thức Nga Theo tác giả, điều đó làm cho quyền tự do cá nhân trong xã hội không được coi trọng, pháp luật không chỉ bất lực mà còn chẳng cần thiết Từ đó, tác giả đã kêu gọi:

“chúng ta phải đấu tranh với cái nguyên nhân đang hủ hóa con người của ta ở chính trong ta” [111, tr.107] Tức là, bản thân người trí thức phải tự phóng năng lực, phát huy vai trò phản biện của mình trong nhận thức và đấu tranh để dân chủ và pháp quyền được thực hiện một cách cụ thể

Alvin Toffle: “Powershift” (Thăng trầm quyền lực) [135] Công trình tập

trung bàn về vị trí, vai trò và nội dung của 3 loại quyền lực (quyền lực bạo lực, quyền lực của cải, quyền lực tri thức) trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại Trong đó, theo Alvin Toffle thì quyền lực tri thức tất yếu sẽ giữ địa vị thống trị với tư cách là loại quyền lực có phẩm chất cao nhất: “Tri thức mới là chìa khóa để

mở cổng bá quyền kinh tế thế kỷ XXI” [135, tr.30] và “tri thức là cội nguồn quyền lực có tính cách dân chủ hơn cả” [135, tr.48] Trong tương lai, theo Alvin Toffle thì nguồn lực tri thức của con người, đặc biệt là của trí thức sẽ là yếu tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia Vì vậy, cần phải có những chiến lược, biện pháp để phát triển và phát huy tối đa tiềm năng trí tuệ của đội ngũ trí thức

David Held: “Models of democracy” (Các mô hình quản lý nhà nước hiện

đại) [43] Trên cơ sở trình bày một cách có hệ thống về các mô hình dân chủ trong

lịch sử, tác giả đã đưa ra gợi mở về một mô hình dân chủ quốc tế với nguyên tắc tự

trị Bản chất của nguyên tắc này là:

Trang 15

Mọi người phải được hưởng quyền ngang nhau và vì vậy phải

có trách nhiệm như nhau trong khuôn khổ của các tổ chức chính trị tạo

ra và hạn chế những cơ hội của họ; nghĩa là họ phải được tự do và bình đẳng trong quá trình thảo luận về điều kiện sống của chính họ và trong việc quyết định những điều kiện này chừng nào họ không sử dụng tổ chức này nhằm phủ nhận quyền của những người khác [43, tr 445]

Theo tác giả, mô hình dân chủ mới sẽ tạo ra sự bình đẳng thực sự về chính trị chứ không chỉ là bình đẳng về mặt đạo đức hoặc bình đẳng trước pháp luật Dân chủ thực chất phải đảm bảo các cá nhân được bình đẳng tham gia vào quá trình tranh luận và thảo luận công khai về các vấn đề cấp bách của xã hội Nói cách khác, mỗi cá nhân sẽ được hưởng dụng các quyền cơ bản với tư cách công dân Do đó, với tư cách là công dân của xã hội dân chủ, nếu nguyên tắc tự trị được thực hiện, tất yếu trí thức có đầy đủ điều kiện thuận lợi để phát huy vai trò giám sát, tư vấn và phản biện

Thẩm Vinh Hoa - Ngô Quốc Diệu (chủ biên): “Tôn trọng trí thức, tôn trọng

nhân tài, kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước” [47] Qua công trình, các tác giả đã

khẳng định được tầm nhìn chiến lược của Đặng Tiểu Bình trong đề xuất và thực

hiện chủ trương “hai tôn trọng” đối với trí thức, nhân tài của Trung Quốc Theo các

tác giả thông qua việc tôn trọng và đãi ngộ xứng đáng đã góp phần phát huy tối đa tính tích cực và năng lực sáng tạo của trí thức trong môi trường thực sự tự do dân chủ Đây là những kinh nghiệm quý báu, không chỉ đối với Trung Quốc mà còn là bài học tham khảo có giá trị đối với Việt Nam trong thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức Việt Nam

Qua các công trình nghiên cứu, có thể nhận thấy, còn nhiều quan điểm khác nhau về quan niệm, nội dung, vai trò của dân chủ và trí thức Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra vai trò vô cùng quan trọng của thực hành dân chủ trong

xã hội nói chung và đối với phát huy vai trò của trí thức nói riêng Đây chính là một

cơ sở quan trọng để triển khai nghiên cứu các nội dung nghiên cứu của luận án Mặc

dù, dân chủ còn mang tính lịch sử cụ thể, vì thế sẽ mang những nét đặc thù; nhưng

Trang 16

nhìn chung, các quốc gia đều hướng tới một nền văn hóa dân chủ mà mọi công dân, trong đó có trí thức đều được hưởng dụng các quyền cơ bản

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu tiêu biểu về dân chủ, thực hành dân chủ

với phát huy vai trò của trí thức được xuất bản thành sách

Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về dân chủ, thực hành dân chủ, vai trò và phát huy vai trò của trí thức được xuất bản thành sách như: Hồ Bá

Thâm, Nguyễn Tôn Tường Thị Vân (đồng chủ biên), “Phản biện xã hội và phát huy

dân chủ pháp quyền” [129]; Vũ Khiêu, “Người trí thức Việt Nam qua các chặng đường lịch sử” [71]; Phạm Quốc Bảo, Đoàn Thị Lịch, “Trí thức trong công cuộc đổi mới đất nước” [10]; v.v Trong đó, có những công trình trực tiếp liên quan đến

nội dung nghiên cứu của luận án về dân chủ và thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa, vai trò của trí thức gắn với công cuộc đổi mới của đất nước, tiêu biểu như:

Hồ Bá Thâm: “Dân chủ hóa và phát triển nội lực”[128] Từ quan niệm

“Dân chủ và phát huy nội lực có quan hệ gắn bó với nhau, bao hàm nhau tuy không phải hoàn toàn là một” [128, tr.6], tác giả đã khẳng định sự cần thiết phải phát huy vai trò động lực của dân chủ trong việc nâng cao tính độc lập, tự do, sáng tạo của mỗi cá nhân Đó là việc đảm bảo sự phát huy một cách hài hòa dân chủ từ bên trên xuống và dân chủ từ bên dưới lên Có như vậy, mới tạo ra môi trường thực sự dân chủ cho cá nhân phát huy vai trò trong xây dựng và phát triển đất nước Do đó, với

tư cách là một động lực cơ bản của đất nước, việc thực hiện dân chủ hóa góp phần phát huy hơn nữa vai trò của trí thức trong xây dựng và bảo vệ đất nước

Vũ Hoàng Công: “Xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [19] Tác giả tập

trung làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn về dân chủ trên thế giới và Việt Nam trong nền kinh tế thị trường Từ việc phân tích 3 mô hình dân chủ trên thế giới hiện nay: mô hình dân chủ tự do (tiêu biểu là Mỹ và Tây Âu), mô hình dân chủ ở các nước Bắc Âu, mô hình xã hội chủ nghĩa cũ (Liên Xô, Đông Âu và Trung Quốc trước cải cách), tác giả đã đưa ra 5 tiêu chí đánh giá dân chủ của các mô hình này

Trang 17

như: (1) Mô hình hệ thống chính trị và các thể chế đại diện; (2) Thể chế giám sát và kiểm soát quyền lực nhà nước; (3) Thể chế bầu cử và vấn đề quyền của người dân trong việc xây dựng nhà nước; (4) Thể chế bảo đảm ý chí của người dân; (5) Vai trò của báo chí, phương tiện thông tin đại chúng đối với việc giám sát quyền lực nhà nước và định hướng chính sách theo ý chí của công chúng Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra quan điểm, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm xây dựng, phát triển

dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Lê Minh Quân: “Về dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện

nay”[116] Tác giả đã phân tích lịch sử phát triển của quá trình dân chủ hóa trên thế

giới với nhiều quan điểm khác nhau Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra nội dung, đặc điểm và kinh nghiệm của dân chủ hóa ở Việt Nam trong quá trình đổi mới Theo tác giả: “Dân chủ giờ đây không chỉ là năng lực mà còn là phẩm chất người, không chỉ là nếp sống mà còn là lối sống người” [116, tr.340] Nói cách khác, với việc thực hiện dân chủ hóa thì dân chủ không chỉ còn là nhà nước, là quyền và nghĩa vụ, mà đã trở thành giá trị mang tính phổ quát được thực hành trong đời sống Dân chủ không dừng

ở nhận thức mà đi sâu vào hành động, thâm nhập vào tất cả các mối quan hệ trong xã hội Vì vậy, quá trình dân chủ hóa càng đẩy mạnh, càng đảm bảo tối đa quyền lợi của nhân dân cũng như trí thức trong thực hiện vai trò đối với đất nước

Đồng Văn Quân: “Thực hiện dân chủ trong các trường đại học nước ta hiện

nay” [115] Tác giả khẳng định: “Thực hành dân chủ trong nhà trường là một trong

những nội dung của đổi mới giáo dục ở nước ta, gắn liền với quá trình dân chủ hóa,

xã hội hóa giáo dục” [115, tr.75] Trong đó, mọi thành viên của nhà trường cần hiểu

và thực hiện quyền và nghĩa vụ trong học tập, giảng dạy và quản lý Tuy chỉ dừng ở việc khảo sát việc thực hành dân chủ trong đơn vị các trường đại học, nhưng những kết quả nghiên cứu của công trình chính là một mảnh ghép quan trọng trong bức tranh tổng thể về thực hành dân chủ ở Việt Nam đối với trí thức hiện nay

Phạm Văn Đức (chủ biên): “Thực hành dân chủ trong điều kiện một Đảng

duy nhất cầm quyền, xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” [34] Từ việc xác định nội hàm của khái niệm dân

chủ, công trình đã đưa ra khái niệm thực hành dân chủ:

Trang 18

Thực hành dân chủ là việc triển khai trên thực tế (làm) những điều

đã nói (lý luận) về dân chủ … Nói cách khác, thực hành dân chủ chính là cơ chế, chính sách, những quy định, nguyên tắc … để đảm bảo cho mọi người dân thực hiện quyền dân chủ của mình, là hiện thực hóa phương châm mà Đảng ta đã xác định: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra [34, tr.52]

Trên cơ sở đó, công trình xác định các nội dung cơ bản của thực hành dân chủ trong điều kiện vừa xây dựng nhà nước pháp quyền vừa phát triển kinh tế thị trường Trên cơ sở đó, công trình đã đánh giá thực trạng và xác định nguyên nhân dẫn tới hạn chế của hành dân chủ ở Việt Nam trong 30 năm đổi mới Đồng thời, công trình cũng đưa ra dự báo xu hướng, yêu cầu và giải pháp thực hành dân chủ trong những năm tiếp theo Nếu khảo cứu toàn bộ các công trình nghiên cứu về dân chủ và thực hành dân chủ trong 30 năm đổi mới, có thể khẳng định, đây là công trình trực tiếp đi sâu vào nghiên cứu thực hành dân chủ ở Việt Nam

Do đó, những kết quả nghiên cứu của công trình được kế thừa trong nội dung

nghiên cứu của luận án

Đỗ Mười: “Trí thức Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước“

[107] Công trình là tập hợp những bài phát biểu của tác giả về trí thức trong sự

nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Tác giả khẳng định:“Trí thức là đại diện

cho trí tuệ của dân tộc, luôn nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình đối với tiền đồ của Tổ quốc Những trí thức chân chính bao giờ cũng nặng lòng yêu nước, thương dân, dám rũ bỏ tị hiềm, mặc cảm để làm tròn trách nhiệm của mình với dân, với nước“ [107, tr.237] Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, trí thức đã có những đóng góp to lớn trong cách mạng Việt Nam Vì vậy, trong sự nghiệp đổi mới và xây dựng đất nước, theo tác giả, Đảng và Nhà nước cần có những giải pháp thiết thực để phát huy vai trò và tạo điều kiện cho trí thức làm tròn trách nhiệm công dân

Hoàng Chí Bảo: “Xây dựng cơ chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã

hội - nhân văn ở nước ta hiện nay” [5] Công trình đề cập tới vai trò của cơ chế dân

chủ và chính sách tạo động lực đối với hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội - nhân

văn Theo tác giả: “Đối với người nghiên cứu khoa học, dân chủ vừa là điều kiện để

Trang 19

triển khai hoạt động sáng tạo trong nghiên cứu, vừa là nhu cầu thuộc về đời sống

tinh thần của họ, nhu cầu được thể hiện mình như một nhân cách trung thực” [5,

tr.91] Do đó, tác giả nhấn mạnh đến sự cần thiết phải xây dựng cơ chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn, coi đó là điều tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu và giải phóng năng lực sáng tạo trong nghiên cứu của đội ngũ trí thức trên mọi phương diện của đời sống xã hội

Nguyễn Đắc Hưng: “Trí thức Việt Nam tiến cùng thời đại”[55], “Trí thức

Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước” [56] Hai công trình đã khái quát lịch

sử ra đời và phát triển cũng như vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam đối với dân tộc Trong đó, tác giả chỉ rõ: “Trí thức là người không chỉ có trình độ học vấn cao, nhưng điều quan trọng nhất là họ thực sự lao động bằng trí tuệ có tính sáng tạo và

đã có những cống hiến nhất định hữu ích cho xã hội” [56, tr.16] Trước những đòi hỏi của thực tiễn đất nước, tác giả đã khẳng định sự cần thiết phải thực hiện đổi mới

hệ thống chính sách đối với đội ngũ trí thức theo hướng phát huy sâu rộng tính dân chủ trong đào tạo, tuyển dụng, bổ nhiệm, chính sách tiền lương Đây chính là động lực thúc đẩy trí thức nhận thức và hành động vì lợi ích của dân tộc

Ngô Huy Tiếp (chủ biên): “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với

trí thức nước ta hiện nay” [134] Giá trị của công trình là đã xác định rõ tính tất yếu

trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức Trong đó, công trình nhấn mạnh: “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức phải hướng tới hình thành phương pháp lãnh đạo dân chủ đảm bảo vừa phát huy cao nhất nội lực của đội ngũ trí thức trong nước vừa thu hút được trí thức - nhân tài Việt kiều tham gia xây dựng đất nước” [134, tr.69] Trong quá trình đổi mới, tác giả khẳng định việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng dân chủ có ý nghĩa quan trọng nhằm phát huy tối đa vai trò của trí thức

Đức Vượng (chủ biên):“Thực trạng và giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức

Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước” [149] Thông qua khảo cứu, điều tra

về số lượng và chất lượng đội ngũ trí thức trên 18 lĩnh vực của đời sống xã hội, công trình đã xác định các giải pháp mang tính tổng thể trong xây dựng và phát huy

Trang 20

vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam Đối với sự lãnh đạo của Đảng, công trình đã chỉ rõ, cần chú trọng tới vấn đề dân chủ với tư cách là đặc trưng của công tác tư tưởng; còn đối với sự quản lý của Nhà nước, cần quán triệt thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trên mọi lĩnh vực Đây là những gợi mở quan trọng trong việc xác định các biện pháp thực hành dân chủ nhằm phát huy hơn nữa vai trò của trí thức

Nguyễn Văn Khánh: “Trí thức Việt Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc”

[69] Tác giả đã khái quát vai trò của trí thức trong 30 năm đổi mới của đất nước:

(1), Đội ngũ trí thức là những người đầu tiên và trực tiếp nghiên cứu, đề xuất các luận cứ khoa học cho các quyết sách chính trị nói chung và các quyết sách về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng của Đảng và Nhà nước; (2), Đội ngũ trí thức là lực lượng trực tiếp bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước; (3), Đội ngũ trí thức là những người chủ động nghiên cứu, đề xuất và hướng dẫn tổ chức triển khai thực hiện các đề tài, công trình khoa học, công nghệ của đất nước; (4), Bộ phận trí thức tham gia công tác lãnh đạo, quản lý đã phát huy tốt vai trò và khả năng, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các hệ thống chính trị; (5), Trí thức là lực lượng chủ yếu trong xây dựng nền văn hóa dân tộc Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra 3 hạn chế trong hoạt động của đội ngũ trí thức Việt Nam và xác định 6 giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng và tiếp tục phát huy vai trò của đội ngũ trí thức Trong đó, dưới góc độ dân chủ, theo tác giả cần xây dựng môi trường với bầu không khí dân chủ, tự do tư tưởng, công bằng hơn nữa khi đánh giá, đãi ngộ trí thức Qua đó, tạo động lực thúc

đẩy trí thức không ngừng sáng tạo, nghiên cứu đóp góp cho cho đất nước

Như vậy, vấn đề xây dựng và thực hành dân chủ, phát huy vai trò của trí thức

ở Việt Nam là nội dung thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Các tác giả không chỉ lý giải quá trình ra đời, quan niệm và vai trò của dân chủ, trí thức, mà còn từng bước làm rõ sự cần thiết phải thực hành dân chủ đối với trí thức thông qua việc thực hiện cơ chế dân chủ, xây dựng môi trường dân chủ và vai trò của từng thành tố trong hệ thống chính trị

Trang 21

Thứ hai, các đề tài khoa học tiêu biểu nghiên cứu về dân chủ, thực hành dân

chủ với phát huy vai trò của trí thức

Có rất nhiều đề tài khoa học cấp Nhà nước đi sâu nghiên cứu trí thức trên các

phương diện khác nhau như: Đức Vượng (chủ nhiệm): “Xây dựng đội ngũ trí thức

Việt Nam giai đoạn 2011-2020” [147]; Nguyễn Thị Việt Thanh (chủ nhiệm): “Phát huy nguồn nhân lực nữ trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế” [125]; Phạm Tất Dong (chủ nhiệm): "Luận cứ khoa học cho các chính sách nhằm phát huy năng lực sáng tạo của giới trí thức và sinh viên” [23]; v.v Tiếp cận từ góc độ dân chủ, thực hành dân chủ đối với trí thức có những

công trình cơ bản sau đây:

Nguyễn Hữu Tăng (chủ nhiệm): “Đổi mới chính sách đối với trí thức khoa

học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [123]

Công trình đã chỉ rõ chất nhân văn của người trí thức là vị tha chứ không vị kỷ, là khát vọng tự do và sáng tạo để tự biểu hiện, tự khẳng định mình như một nhân cách, được đem hiểu biết và vốn học vấn, văn hóa của mình phụng sự Tổ quốc và nhân dân, không tính toán vụ lợi Do đó, để trí thức nói chung và trí thức hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ phát huy tối đa vai trò, đòi hỏi phải có chính sách

và cơ chế phù hợp Trên cơ sở đó, công trình đã xác định các nhóm giải pháp cơ bản

theo hướng ngày càng dân chủ từ quản lý, bổ nhiệm, đầu tư tài chính, tăng quyền tự chủ để phát huy hiệu quả vai trò của trí thức khoa học và công nghệ

Lê Thị Thanh Hương (chủ nhiệm): “Nhân cách văn hóa trí thức Việt Nam

trong tiến trình mở cửa và hội nhập quốc tế” [58] Tiếp cận dưới góc độ tâm lý,

trên cơ sở phân tích thực trạng thông qua điều tra xã hội học, công trình đã xác định

8 nhóm giải pháp cơ bản để phát triển nhân cách văn hóa trí thức Trong đó, nhóm giải pháp tạo môi trường thuận lợi để trí thức có thể thực hiện tốt các chức năng xã hội của mình, đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của đất nước được lý giải ở sự cần thiết phải thực hành dân chủ đối với trí thức từ góc độ pháp lý Đồng thời, cần xây dựng các diễn đàn, cơ chế thực hiện và chú trọng đến các tiêu chuẩn về đạo đức

trong thực tiễn để trí thức được tranh luận, phản biện và sáng tạo

Trang 22

Nguyễn Văn Khánh (chủ nhiệm): “Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ

Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước” [67] Qua nghiên cứu, công trình

khẳng định: “Một trong những cội nguồn làm nên sức mạnh vô địch cho dân tộc ta trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đó chính là trí tuệ Việt Nam” [67,

tr.7] Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, nguồn lực trí tuệ tiếp tục được

coi trọng và phát huy Trong đó, trí thức giữ vai trò đặc biệt gắn với việc phát triển kinh tế thị trường, khoa học công nghệ và hội nhập quốc tế Đồng thời, công trình

đã xác định các giải pháp về dân chủ và thực hành dân chủ nhằm phát huy tối đa

nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước

Có thể khẳng định, các công trình nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước đã cung cấp một nguồn tư liệu phong phú, đa dạng với các góc tiếp cận khác nhau về trí thức Các công trình không chỉ đề cập đến vai trò của trí thức trên nhiều phương diện khác nhau của đời sống xã hội; mà còn xác định hệ thống các giải pháp nhằm phát huy vai trò của trí thức, trong đó có xây dựng các cơ chế dân chủ và môi trường dân chủ

Thứ ba, các công trình luận án tiêu biểu nghiên cứu về dân chủ, thực hành

dân chủ với phát huy vai trò của trí thức

Nghiên cứu về dân chủ, thực hành dân chủ, trí thức và phát huy vai trò của trí thức đã có nhiều công trình luận án tiến sĩ tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau

như: Nguyễn Quốc Bảo,“Đảng Cộng sản cầm quyền và vấn đề trí thức trong thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” [7]; Phan Thanh Khôi, “Động lực của trí thức trong lao động sáng tạo ở nước ta hiện nay” [72]; Trần Thị Lan, “Chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam hiện nay” [74]; v.v Trong đó,

dưới góc độ thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức phải kể tới các công trình nghiên cứu cơ bản sau:

Đỗ Thị Thạch: “Trí thức nữ Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước –

tiềm năng và phương hướng xây dựng” [124] Trong đó, tác giả đã phân tích quá

trình hình thành và những đóng góp của đội ngũ nữ trí thức Việt Nam trong lịch

sử dân tộc Đồng thời, phân tích những tiềm năng trí tuệ và những nguyên nhân

Trang 23

làm hạn chế vai trò của đội ngũ nữ trí thức Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm xây dựng và phát huy có hiệu quả vai trò của đội ngũ nữ trí thức trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc

tế của đất nước Dưới góc độ dân chủ, thực hành dân chủ, tác giả đề cập tới việc thực hiện bình đẳng giới và dân chủ trong đào tạo, tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ đối với nữ trí thức

Ngô Thị Phượng: “Vai trò của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn

Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới”[114] Qua nghiên cứu, tác giả khẳng định vai

trò và tính tất yếu của việc phát huy vai trò của trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong việc tham gia xây dựng các chương trình và giải pháp phát triển đất nước Mặt khác, tác giả còn nhấn mạnh đến sự cần thiết phải đổi mới chính sách của Đảng, Nhà nước trong việc xây dựng cơ chế dân chủ để trí thức khoa học xã hội và nhân văn phát huy được vai trò một cách hiệu quả

Nguyễn Thắng Lợi: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo xây dựng đội ngũ

trí thức từ 1991 đến 2005” [84] Giá trị của công trình là đã khái quát được quá

trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng về trí thức nhằm đáp ứng yêu cầu của lịch sử Dưới góc độ dân chủ, thực hành dân chủ, tác giả đã đánh giá khách quan việc thực hiện các chính sách nhằm tạo điều kiện dân chủ thuận lợi của Đảng đối với đội ngũ trí thức Đồng thời, khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo, linh hoạt của Đảng trong phát huy vai trò của trí thức thời kỳ đổi mới đất nước

Nguyễn Thị Giáng Hương: “Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất

lượng cao ở Việt Nam hiện nay” [59] Tác giả khẳng định, nguồn nhân lực nữ chất

lượng cao ở Việt Nam đó là những con người không ngừng say mê nghiên cứu, sáng tạo và đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, giải phóng phụ

nữ Vì vậy, cần có những giải pháp để phát huy hơn nữa vai trò của nguồn nhân lực

nữ chất lượng cao ở nước ta hiện nay Trong đó, tác giả cũng chỉ rõ sự cần thiết phải đảm bảo cơ chế dân chủ khi tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ để nữ trí thức có thể tiếp tục phát huy vai trò trong xã hội

Trang 24

Nguyễn Công Trí: “Trí thức Việt Nam trong phát triển kinh tế tri thức”

[137] Công trình đã xác định 4 vai trò của trí thức đối với việc phát triển kinh tế tri

thức: xây dựng các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối; lực lượng chủ yếu trong sáng tạo, tiếp thu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; xây dựng và phát triển văn hóa; góp phần trực tiếp vào đào tạo nguồn nhân lực Đồng thời, chỉ rõ vai trò của phát triển kinh tế tri thức với tư cách là môi trường cho trí thức trưởng thành và phát triển Qua đó, tác giả đã đề xuất 7 nhóm giải pháp, trong

đó, giải pháp thứ 5 là tạo môi trường và điều kiện thuận lợi nhằm phát huy tính sáng tạo của trí thức Việt Nam trong phát triển kinh tế tri thức thông qua phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa đi đôi với tăng cường dân chủ trong hoạt động của trí thức

Nguyễn Cẩm Ngọc: “Vai trò của trí thức tinh hoa Việt Nam trong thời kỳ đổi

mới” [109] Qua nghiên cứu, tác giả đã khẳng định: trí thức tinh hoa là những

người ưu tú, nổi trội nhất trong đội ngũ trí thức, tiêu biểu cho tinh thần và trí tuệ của dân tộc, có những đóng góp xuất sắc vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, được xã hội thừa nhận và đánh giá cao Từ đó, tác giả đã chỉ ra con đường hình thành, đặc điểm, vai trò và đánh giá thực trạng vai trò của trí thức tinh hóa trong 30 năm đổi mới ở các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội Trên cơ sở đó, tác giả cũng

đề xuất một số giải pháp để phát huy vai trò của trí thức tinh hoa Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo của quá trình đổi mới Trong đó, tác giả nhấn mạnh tới sự cần thiết phải xây dựng thể chế dân chủ nhằm đảo bảo các điều kiện thuận lợi cho trí thức tinh hoa phát huy hiệu quả vai trò

Qua nghiên cứu, điểm chung của các công trình luận án là đều khẳng định vai trò của trí thức trong tiến trình phát triển đất nước Mặt khác, các công trình cũng đã chỉ rõ việc thực hiện cơ chế hay môi trường dân chủ chính là một giải pháp quan trọng để phát huy vai trò của trí thức Đồng thời, các công trình cũng chỉ rõ nhiệm vụ của các chủ thể trong hệ thống chính trị đối với việc phát huy vai trò của trí thức và thực hành dân chủ

Thứ tư, các công trình nghiên cứu tiêu biểu về dân chủ với phát huy vai trò

của trí thức được công bố trên các tạp chí khoa học

Trong thời kỳ đổi mới, có rất nhiều công trình nghiên cứu về dân chủ, thực hành dân chủ, trí thức và phát huy vai trò của trí thức được công bố trên các tạp chí

Trang 25

khoa học như: Dương Phú Hiệp, Trần Văn Đông, “Thực hành dân chủ trong công

tác lý luận và tư tưởng của Đảng”[44]; Nguyễn Ngọc Hà, Luyện Thị Hồng Hạnh,

“Dân chủ và tính đặc thù của việc thực hành dân chủ ở Việt Nam” [39]; Nguyễn

Thanh Sơn,“Phát huy tiềm năng trí thức ở nước ngoài vào sự nghiệp công nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế” [121]; v.v Liên quan đến nội dung

nghiên cứu của đề tài, có thể kể tới các công trình nghiên biểu sau:

Phan Huy Lê: “Vấn đề dân chủ trong truyền thống Việt Nam [77] Thông

qua việc nghiên cứu các tư liệu lịch sử, tác giả đã khẳng định: Việt Nam không có truyền thống dân chủ, nhưng có một số tư tưởng và hình thức dân chủ nông dân nảy sinh trong cuộc đấu tranh xã hội Về mặt chính trị, theo tác giả, tư tưởng dân chủ cao nhất của nông dân là bạo động chống lại chế độ chuyên chế, lật đổ bọn bạo chúa, tham quan, cường hào với ước mơ một xã hội công bằng có vua sáng tôi hiền Đồng thời, tác giả cũng đề cập tới những hình thức dân chủ mà các triều đại phong kiến Việt Nam đã thực hiện nhằm phát huy vai trò của tầng lớp sĩ phu của đất nước Đây là cơ sở để đánh giá sự tiếp biến tư tưởng và giá trị truyền thống dân tộc của

Hồ Chí Minh khi xây dựng các quan điểm về thực hành dân chủ đối với trí thức

Vũ Công Giao: “Về thực hành dân chủ trực tiếp ở nước ta hiện nay” [38]

Công trình đã phân tích bản chất của thực hành dân chủ trực tiếp và những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện ở nước ta Tuy không đi sâu vào nội dung dân chủ với trí thức, nhưng với 7 giải pháp cơ bản mà tác giả đề xuất nhằm thực hiện có

hiệu quả chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, có thể thấy được

sự cần thiết của việc thực hành dân chủ đối với trí thức - với tư cách là một công dân trong xã hội

Võ Thế Thắng: “Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong thời kỳ công

nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [127] Công trình đã chỉ rõ đặc điểm

của trí thức về các mặt: tri thức, thái độ, hành động, những giá trị do họ tạo ra hoặc dấn thân và quá trình dấn thân cho những mục tiêu cao cả của cộng đồng Do đó, theo tác giả, muốn phát huy vai trò của trí thức, bên cạnh các chính sách thu hút, trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh, cần tạo môi trường thuận lợi trong nghiên cứu, làm

Trang 26

việc, đặc biệt là môi trường dân chủ, tự do thực sự trong sáng tạo khoa học và tham gia giải quyết các vấn đề xã hội Đây chính là giải pháp hiệu quả để khắc phục và ngăn chặn tình trạng dịch chuyển và chảy máu chất xám ở Việt Nam hiện nay

Bên cạnh các công trình nghiên cứu về trí thức nói chung, còn có các nghiên cứu chuyên sâu về bộ phận trí thức tinh hoa của dân tộc (Think Tank) ở các góc tiếp

cận khác nhau Trong công trình “Tìm hiểu về Think Tank”[50], tác giả Nguyễn

Hải Hoành đã lý giải nhiều nội dung liên quan đến Think Tank cả về mặt lý luận và thực tiễn Tác giả khẳng định: Think Tank không nghiên cứu quy luật phát triển của

xã hội hoặc thiên nhiên mà tập trung nghiên cứu hình thành các giải pháp, quyết

sách có tính khả thi nhằm đối phó tình hình trong một thời kỳ nhất định Do đó,

chức năng chính của Think Tank là đề xuất ý tưởng; giáo dục, hướng dẫn dư luận; tập hợp nhân tài nhằm hạn chế những quyết sách sai lầm trong chiến lược phát triển của quốc gia Đây là cơ sở để xây dựng các thiết chế dân chủ trong phát huy vai trò của Think Tank

Ở phạm vi nghiên cứu hẹp hơn, với công trình“Think tank ở Việt

Nam”[119], tác giả Phạm Bích San đã đi sâu nghiên cứu lịch sử của Think Tank ở

phương Đông thông qua lịch sử sử dụng trí thức Theo tác giả, ở Việt Nam chỉ có bốn tổ chức giống với Think Tank hiện đại nhưng chưa đầy đủ là: Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (1976 -1986); Ban tư vấn của thủ tướng (1992-2007); Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) và Văn phòng Tư vấn, phản biện và giám định xã hội (OSEC) (2002-2011) Tính đến thời điểm hiện nay thì chỉ còn Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) hoạt động với vai trò Think tank Vì vậy, để Việt Nam ngày càng phát triển, tất yếu phải phát triển các nhóm Think Tank hoạt động đa dạng trên nhiều lĩnh vực Dưới góc độ dân chủ, theo tác giả cần có thiết chế cụ thể cho việc thành lập, hoạt động của các tổ chức hội của trí thức trong tương lai

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu tiêu biểu về dân chủ, thực hành dân chủ, trí thức và phát huy vai trò của trí thức công bố trên các tạp chí khoa học được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Trong đó, các công trình đều khẳng định tầm

Trang 27

quan trọng và sự cần thiết của việc thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức, đặc biệt là trí thức tinh hoa Đây chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Đảng, Nhà nước cần phải thực hiện để khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn

lực trí tuệ của đất nước trong giai đoạn hiện nay

1.2 Tình hình trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức và vận dụng trong giai đoạn hiện nay

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Hồ Chí Minh luôn là nội dung thu hút

sự quan tâm của nhiều học giả trên thế giới Do đó, dân chủ, thực hành dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phát huy vai trò của trí thức đã được các học giả

tiếp cận cận khác nhau như: Stein Tonesson, “The Vietnamese revolution of 1945:

Roosevelt, Ho Chi Minh and de Gaulle in a World at War” (Cách mạng Việt Nam năm 1945: Rudơven, Hồ Chí Minh và Đờ Gôn trong một thế giới chiến tranh) [155]; Hellmut Kapfenberger, “Ho Chi Minh -A Chronicle” (Hồ Chí Minh – một biên niên sử)[61]; v.v Trong đó, có những công trình nghiên cứu cơ bản liên

quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, thực hành dân chủ và phát huy vai trò

của trí thức sau:

David Halberstam: “Ho” [152] Tác giả khẳng định, Chủ tịch Hồ Chí Minh

là hiện thân của cách mạng, đổi mới và sáng tạo của dân tộc Việt Nam Với những cống hiến trong cách mạng, chiến tranh và phát triển đất nước, Hồ Chí Minh đã phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong xây dựng, thực hiện nền dân chủ kiểu mới ở Việt Nam Đó một phần là kết quả của việc thực hành dân chủ thông qua chính sách dùng người khéo léo, tôn trọng và dân chủ đối với trí thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau Cách mạng tháng Tám năm 1945

“Hội thảo Quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh” (trích tham luận của đại biểu quốc tế” [140] là tập hợp những bài viết của các học giả nước ngoài nhân kỷ niệm

100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh Cùng với những đánh giá về đạo đức, trí tuệ, các học giả đã khẳng định công lao to lớn của Hồ Chí Minh trong xây

Trang 28

dựng, thực hành dân chủ ở Việt Nam và đấu tranh cho dân chủ trên thế giới Thông qua việc Hồ Chí Minh khởi động “chính sách chìa bàn tay đối với tất cả các tầng lớp xã hội (công nhân, trí thức, các nhóm tôn giáo, các dân tộc thiểu số…) đã cho phép đảm bảo những quyền tự do, dân chủ và củng cố sự đoàn kết dân tộc” [139,

tr.69] Vì vậy, nền dân chủ ở Việt Nam từng bước được xác lập và thực hiện, mang lại quyền làm chủ cho tất cả các giai cấp trong xã hội, trong đó có trí thức

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I: “Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong

thời đại ngày nay (qua sách báo nước ngoài)”[138] Công trình đã tập hợp những

bài trích dẫn về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở các góc độ khác nhau Dưới góc độ nhà tư tưởng, công trình đã khẳng định những cống hiến vĩ đại của Hồ Chí Minh vào di sản cách mạng thế giới Trong đó, có tư tưởng về dân chủ được thể hiện qua lý luận

về dân chủ và thực hành dân chủ trên cơ sở thực tiễn Việt Nam trong thời đại mới Đây là một trong những đóng góp của Hồ Chí Minh nhằm làm phong phú lý luận về dân chủ và thực hành dân chủ của nhân loại

Lê Khánh Soa: “Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh (Trích phát biểu của

nhân dân và thanh niên thế giới về Chủ tịch Hồ Chí Minh)” [120] là những bài viết

chứa đựng tình cảm sâu sắc của các nhà chính trị, nhà cách mạng, nhà báo, nhà văn hóa dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh Công trình một lần nữa khẳng định những đóng góp vĩ đại của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới Đồng thời, cũng thể hiện sự tôn trọng trí thức của Hồ Chí Minh qua việc tiếp

và trả lời nội dung phỏng vấn các nhà báo trên tinh thần dân chủ và bình đẳng

W Duiker: “Ho Chi Minh a life” (Hồ Chí Minh một cuộc đời) [151]; Sophia

Quinn – Judge: “Ho Chi Minh – The missing years” (Hồ Chí Minh - Những năm tháng

chưa hề biết đến) [154] Điểm chung của hai công trình nghiên cứu là đã phác họa lại

toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi tìm đường cứu nước đến trực tiếp lãnh đạo cách mạng Với vốn tư liệu phong phú được tập hợp từ nhiều nguồn khác nhau, hai công trình đã mang những góc nhìn đa chiều về Chủ tịch Hồ Chí Minh Qua phân tích những sự kiện lịch sử, tuy không đề cập trực tiếp đến dân chủ và trí thức, nhưng ẩn sau đó lại là nhận thức, ứng xử và hành động mang tính chất dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với trí thức Việt Nam

Trang 29

Như vậy, thông qua nghiên cứu, các học giả nước ngoài đã chỉ rõ, cùng với việc xây dựng và thực hành nền dân chủ mới ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chú trọng tới chính sách dân chủ và thực hành dân chủ đối với trí thức Điều đó được thể hiện qua nhận thức, ứng xử, hành động và cách giải quyết mang tính dân chủ của Người trong việc sử dụng và đãi ngộ nhằm tạo điều kiện cho trí thức cũ và trí thức cách mạng phát huy vai trò trong cách mạng

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Thứ nhất, những công trình nghiên cứu tiêu biểu về dân chủ và thực hành

dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng trong giai đoạn hiện nay

Dân chủ và thực hành dân chủ là một trong những tư tưởng quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam Do đó, có rất nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trực tiếp đề cập đến vấn đề này như: Phạm Hồng

Chương, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ“ [16]; Võ Văn Lộc, “Hồ Chí Minh

với việc chữa bệnh làm mất dân chủ”[82]; Đỗ Thị Kim Hoa, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và sự vận dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới hiện nay” [46]; v.v Đặc biệt, phải kể tới các công trình tiêu biểu nghiên cứu về dân chủ và

thực hành dân chủ của Hồ Chí Minh sau đây:

Nguyễn Khắc Mai:“Dân chủ di sản văn hóa Hồ Chí Minh” [88] Tác giả đã

khái quát 100 câu nói và 6 phạm trù về dân chủ của Hồ Chí Minh: (1), Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân; (2), Địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ; (3), Nhiệm vụ của chính quyền dân chủ là phục vụ nhân dân; (4), Đảng cũng ở trong xã hội, Đảng từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên; (5), Đoàn thể là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực quyền lợi của dân, liên lạc mật thiết giữa dân với chính quyền; (6), Thực hiện những cải cách xã hội để nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ thực sự Sáu phạm trù cơ bản mà tác giả vạch ra chính là những nội dung cốt lõi trong tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Phạm Văn Bính:“Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh”[12] Tác giả đã

khẳng định: “có hệ thống phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh, không chỉ là hệ phương pháp nhận thức dân chủ mà còn và chủ yếu còn là hệ phương pháp thực

Trang 30

hành dân chủ nhằm hiện thực hóa tư tưởng dân chủ trong xã hội Việt Nam” [13,

tr.21] Hệ phương pháp thực hành dân chủ đó bao gồm nhiều nguyên tắc xây dựng

thể chế và thiết chế dân chủ Việt Nam của Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực Đây chính là những luận cứ khoa học quan trọng của thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức trong giai đoạn hiện nay

Phạm Hồng Chương, Doãn Thị Chín (đồng chủ biên): “Tư tưởng dân chủ

Hồ Chí Minh” [17] Công trình đã phân tích nguồn gốc, quá trình hình thành tư

tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ qua các giai đoạn, bản chất và đặc điểm của dân chủ Trên cơ sở đó, công trình đã làm rõ nội dung dân chủ Hồ Chí Minh trên tất cả các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội Vận dụng vào giai đoạn hiện nay, công trình đã làm sáng tỏ vai trò của Đảng trong lãnh đạo thực hành dân chủ và các nhóm giải pháp nhằm góp phần xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Lại Quốc Khánh: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chế độ dân chủ nhân dân“ [62] Tác giả chỉ rõ, hạt nhân của tư tưởng Hồ Chí Minh về chế độ dân chủ nhân dân là tư tưởng dân chủ Trong đó, dân chủ là dân “là chủ“ và dân “làm chủ“ về chính trị, kinh

tế, văn hóa và xã hội, trong đó có trí thức Việc thực hiện chế độ dân chủ nhân dân theo tác giả chính là quá trình tự cải tạo của các giai cấp để dần dần không còn quan hệ đối kháng giai cấp Do đó, thực hành chế độ dân chủ nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh theo tác giả chính là bước quá độ để chuẩn bị những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cần thiết để chuyển sang chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Trần Đình Huỳnh:“Thực hành dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [54]

Theo tác giả, giá trị của dân chủ chỉ được khẳng định khi đưa vào trong thực tế,

đảm bảo cho nhân dân biết hưởng và biết dùng quyền dân chủ Do đó, tác giả đã chỉ

5 công việc cần phải thực hiện trong thực hành dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh: (1), Thực hiện dân chủ trong bầu cử và ứng cử; (2), Tổ chức bộ máy nhà nước thực thi luật pháp là công cụ đảm bảo thực hành dân chủ; (3), Phải có chính sách dùng người đúng, tạo cơ hội như nhau; (4), Có Hiến pháp và pháp luật đúng và đủ; có cơ quan công quyền trong sạch, vững mạnh; (5), Giáo dục pháp luật và nâng cao văn

Trang 31

hoá dân chủ cho tất cả mọi người Đây chính là những biện pháp thực hành dân chủ

mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện trong quá trình trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam

Qua nghiên cứu, các công trình đã tập trung làm rõ nội hàm khái niệm dân

chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh là dân “là chủ“ và dân “làm chủ“; dân chủ có nội

dung phong phú, được thực hiện trên mọi lĩnh vực, trong đó dân chủ trên lĩnh vực chính trị là quan trọng nhất Đồng thời, các tác giả cũng chỉ ra các điều kiện, biện pháp cơ bản để thực hành dân chủ trong xã hội và trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Thứ hai, những công trình nghiên cứu về trí thức và phát huy vai trò của trí

thức theo tư tưởng Hồ Chí Minh và vận dụng trong giai đoạn hiện nay

Với tư cách là một bộ phận quan trọng của cách mạng, trí thức và vai trò của trí thức đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Tiếp cận từ tư tưởng Hồ Chí Minh, có thể kể tới các công trình được xuất bản thành sách hoặc được công bố

trên các tạp chí khoa học như: Phan Hoàng, “Sáng ngời Hồ Chí Minh những bài viết

tâm đắc” [49]; Mạch Quang Thắng, “Về vấn đề trí thức hiện nay” [126]; Nguyễn

Quốc Bảo, “Chủ tịch Hồ Chí Minh và vấn đề xây dựng đội ngũ trí thức” [8]; Thành Đức, “Những trí thức Việt kiều theo bước Bác Hồ“[35]; v.v Trong đó, có những

công trình trực tiếp đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức như:

Trần Đương: “Bác Hồ với nhân sỹ trí thức”[36]; Văn Thị Thanh Mai:“Hồ

Chí Minh trong trái tim trí thức và văn nghệ sĩ” [89] Nội dung chính của hai công

trình là những bài viết cảm động về tình cảm giữa lãnh tụ Hồ Chí Minh với các nhân sỹ, trí thức Việt Nam trong giai đoạn đầu khi đất nước mới giành được độc lập

và trong kháng chiến chống Pháp Với niềm tin mãnh liệt vào trí thức và thông qua chính sách thực hành dân chủ rộng rãi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thuyết phục và tập hợp được nhiều sĩ phu, trí thức Tây học tin và đi theo cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Từ đó, các tác giả đã khẳng định, chính sách thực hành dân chủ của Chủ

tịch Hồ Chí Minh đã làm cho tài năng của họ được phát triển như “diều gặp gió”

trong sự nghiệp cách mạng của đất nước

Trang 32

Đinh Xuân Lâm: “Hồ Chí Minh với trí thức”(trích Sáng ngời Hồ Chí Minh

những bài viết tâm đắc) [trích 49] Đây là công trình đi sâu nghiên cứu vào nguồn

gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Đồng thời, tác giả đã lý giải hiện tượng đông đảo trí thức đi theo cách mạng trên hai khía cạnh: (1), Tinh thần yêu nước, độc lập dân tộc vốn có của trí thức với tư cách là một bộ phận của con Lạc cháu Hồng; (2), Sức hấp dẫn mạnh mẽ, khả năng chinh phục lớn lao của Hồ Chí Minh đối với trí thức bằng sự chân thành, cảm thông, tin tưởng và không một chút định kiến Do đó, giữa trí thức với Hồ Chí Minh không dừng lại ở mối quan hệ của Chủ tịch nước với nhân dân, mà đó còn là mối quan hệ giữa những người bạn, người đồng chí có cùng mục tiêu cách mạng đó

là giải phóng dân tộc và xây dựng, thực hành chế độ dân chủ nhân dân

Nguyễn Khánh Bật, Trần Thị Huyền: “Xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ

đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh” [11]

Công trình đã nghiên cứu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về chăm lo xây dựng đội ngũ trí thức; tìm kiếm, trọng dụng trí thức và nhân tài Đồng thời, công trình

đã làm nổi bật các chính sách về dân chủ và thực hành dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với trí thức Qua đó, công trình đã đánh giá sự vận dụng của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ đổi mới nhằm tìm ra các giải pháp có hiệu quả nhằm xây dựng và phát huy vai trò của trí thức theo tư tưởng Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Nguyễn Văn Khánh, Vũ Quang Hiển: “Hồ Chí Minh với trí thức” [70]

Công trình đã lý giải quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vị trí và vai trò của trí thức trong lịch sử dân tộc nói chung và cách mạng giải phóng dân tộc nói riêng Đồng thời, công trình cũng chỉ rõ những quan điểm và chính sách của Hồ Chí Minh

trong xây dựng, tập hợp, vận động, cải tạo trí thức với phương châm: cải tạo trí

thức cũ, xây dựng trí thức mới nhằm phát huy vai trò của trí thức trên tinh thần dân

chủ và bình đẳng, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo

Phạm Tất Dong:“Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề trọng dụng trí thức và

nhân tài” [22] Tác giả chỉ rõ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi đội ngũ trí thức là

Trang 33

động lực thúc đẩy sự nghiệp cách mạng của dân tộc Nhìn về lịch sử của giới trí thức Việt Nam, Hồ Chí Minh đã thấy rõ giới trí thức của dân tộc luôn gắn mình với tiến trình đấu tranh giữ gìn độc lập, phát triển văn hóa, hun đúc những truyền thống dân tộc Vì vậy, Hồ Chí Minh không chỉ đề ra quan điểm, chủ trương thiết thực trong trọng dụng nhân tài, trí thức; mà còn thực hiện phương châm: đào tạo trí thức mới; cải tạo trí thức cũ; công nông trí thức hóa và trí thức công nông hóa trên tinh thần dân chủ

Có thể nhận thấy, nội dung cơ bản mà các công trình đề cập tới là mối quan

hệ gắn bó giữa trí thức với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam Trong đó, Hồ Chí Minh đã nhận thức đúng đắn về vai trò của trí thức trong cách mạng và đề ra được các chính sách dân chủ nhằm phát huy vai trò Điều đó được thể hiện qua phong cách làm việc dân chủ của Hồ Chí Minh đã có sức cảm hóa mạnh mẽ đối với trí thức và tập hợp họ về phía cách mạng

Thứ ba, những công trình nghiên cứu khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về

thực hành dân chủ với tư cách là một giải pháp nhằm phát huy vai trò của trí thức

Qua khảo cứu, có rất nhiều công trình đề cập tới dân chủ, thực hành dân chủ, trí thức và phát huy vai trò của trí thức theo tư tưởng Hồ Chí Minh Tuy nhiên, lại chưa có một công trình trực tiếp trình bày và phân tích nội dung thực hành dân chủ đối với trí thức dưới góc độ tư tưởng Hồ Chí Minh, mà mới chỉ dừng lại ở việc xác định thực hành dân chủ là một giải pháp Có thể kể tới các công trình tiêu biểu sau:

Phạm Văn Đồng: “Hồ Chí Minh quá khứ, hiện tại và tương lai” (tập II)

[32] Khi đi sâu phân tích cơ chế nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý và Đảng lãnh

đạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả đã đề cập tới việc cụ thể hóa quyền dân chủ của các tầng lớp nhân dân Đối với trí thức, theo tác giả, Hồ Chí Minh nhấn

mạnh: “trí thức phải làm chủ lao động trí óc với tinh thần tự do tư tưởng đi đôi với

tự do phục tùng chân lý” [32, tr.47] Nói cách khác, dưới góc độ thực hành dân chủ, trí thức phải được hưởng các quyền tự do, bình đẳng thực sự Đặc biệt, cần thực hiện tự do tư tưởng để phát huy tiềm năng trí tuệ và vai trò của trí thức một cách tự nguyện, tự giác trong quá trình tìm tòi và chinh phục chân lý

Trang 34

Nguyễn Khắc Mai:“Dân chủ di sản văn hóa Hồ Chí Minh”[88] Giá trị của

công trình là đã đi sâu phân tích địa vị và quyền dân chủ của nhân dân trong xã hội Trong đó, đối với trí thức, công trình khẳng định: Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến sắc

thái “Tự do tư tưởng“ trong thực hiện quyền làm chủ Người coi đây là một trong

những biện pháp cơ bản để trí thức đi tới “quyền tự do phục tùng chân lý“ và “đề cao đến vô cùng bản lĩnh và nhân cách của trí thức, biết gắn mình với nhân dân, với

sự nghiệp tự do, dân chủ và hạnh phúc của nhân dân” [88, tr.35] Tự do tư tưởng chính là biện pháp thúc đẩy nhận thức và hoạt động của trí thức trong thực hiện nhiệm vụ cách mạng Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, thực hiện tự do tư tưởng theo quan điểm của Hồ Chí Minh sẽ tạo ra môi trường dân chủ thực sự giúp trí thức thăng hoa về trí tuệ

Đức Vượng: “Một số vấn đề về trí thức và nhân tài” [148] Giá trị của công

trình là đã xác định được 10 nội dung quan trọng từ việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức, nhân tài Trong đó, tác giả khẳng định: “Hồ Chí Minh hiểu vấn đề tự do, dân chủ đối với trí thức, nhân tài có vai trò rất quan trọng” [148, tr.15] Do đó, Người yêu cầu, đối với trí thức thì tự do và dân chủ phải được đặt lên hàng đầu để phát huy tối đa vai trò, để có các sản phẩm khoa học thực sự, để tư duy được thông hanh Trong chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ, Hồ Chí Minh đã thực hiện một cách linh hoạt và khéo léo tinh thần dân chủ đối với trí thức Công trình đã mang lại những tư liệu nhất định về đánh giá vai trò của trí thức và biện pháp thực hành dân chủ đối với trí thức trong xã hội

1.3 Đánh giá khái quát tình hình nghiên cứu của các công trình liên quan đến luận án và những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

1.3.1 Những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố liên quan đến luận án

Thứ nhất, có thể khẳng định, dân chủ là vấn đề được nghiên cứu sâu rộng ở

trong và ngoài nước Do đó, hiện nay đã có nhiều công trình đưa ra những quan niệm khác nhau về dân chủ và các yếu tố đảm bảo cho một nền dân chủ thực sự Tiếp cận dưới góc nhìn tư tưởng Hồ Chí Minh, các công trình đã khẳng định, dân

Trang 35

chủ là dân “là chủ” và dân “làm chủ” Đồng thời, các công trình cũng đã từng

bước khái quát được cơ sở hình thành và nội dung của dân chủ trên mọi lĩnh vực trong tư tưởng Hồ Chí Minh Đây là cơ sở để luận án nhìn nhận và đánh giá quá trình thực hành dân chủ trong xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Thứ hai, hiện nay chỉ có một số ít các công trình đề cập trực tiếp tới thực

hành dân chủ Dưới góc tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hành dân chủ, chủ yếu được đề cập theo từng lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa hay trong Đảng Do đó, chưa có một công trình cụ thể nào nghiên cứu nội dung, điều kiện hay giải pháp về thực hành dân chủ nói chung trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thứ ba, trí thức và phát huy vai trò của trí thức được nghiên cứu dưới nhiều

góc độ khác nhau như từ vai trò đối với sự phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh, từ mục tiêu phát triển kinh tế tri thức, từ yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hay đòi hỏi của công cuộc đổi mới, v.v Các công trình không chỉ xác định khái niệm trí thức, đặc điểm; mà thông qua việc

sử dụng phương pháp điều tra xã hội học đã chỉ rõ vai trò của trí thức trên nhiều phương diện Đây là nguồn tư liệu quan trọng để luận án đánh giá vai trò của trí thức trong 30 năm đổi mới thông qua thực hành dân chủ

Thứ tư, các nhà nghiên cứu trong nước đã bước đầu tiếp cận đến mối quan hệ

giữa thực hành dân chủ với phát huy vai trò của trí thức Tuy mới chỉ dừng lại ở việc xác định thực hành dân chủ là biện pháp để phát huy vai trò của trí thức, nhưng

đó là những gợi mở quan trọng cho tác giả luận án trong việc đi sâu nghiên cứu nội dung của đề tài

Những kết quả của các công trình nghiên cứu đã công bố là cơ sở cho việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức và sự vận dụng trong giai đoạn hiện nay mà chúng tôi lựa chọn làm đề tài luận án

1.3.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Từ việc đánh giá kết quả của các công trình đã công bố, cho thấy vẫn còn một khoảng trống lớn mà luận án cần nghiên cứu để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Cụ thể như sau:

Trang 36

Thứ nhất, luận án cần chỉ ra cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về thực

hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức

Có thể khẳng định, đây là vấn đề mà các công trình đi trước chưa khái quát

cụ thể và đầy đủ Vì vậy, luận án cần xác định được cách tiếp cận về dân chủ và thực hành dân chủ của Hồ Chí Minh đối với trí thức Qua đó, thấy được dân chủ, thực hành dân chủ chính là mục tiêu và là động lực để phát huy vai trò của nhân dân nói chung và trí thức nói riêng trong cách mạng Việt Nam Khi chỉ ra các cơ sở lý luận và thực tiễn góp phần hình thành tư tưởng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức, luận án cần phải nhấn mạnh vai trò của bản thân Hồ Chí Minh Bởi trên thực tế, Người không chỉ đề ra lý luận dân chủ mà còn tích cực thực hành dân chủ trong xã hội

Thứ hai, luận án cần làm rõ quan niệm của Hồ Chí Minh về trí thức, phát huy

vai trò của trí thức, dân chủ, thực hành dân chủ, thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức Đây là cơ sở để luận án xác định tác động của thực hành dân chủ đến phát huy vai trò của trí thức trong tư tưởng Hồ Chí Minh Đồng thời, luận

án cần chỉ rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của chủ thể và nội dung thực hành dân chủ nhằm phát huy vai trò của trí thức

Thứ ba, luận án cần đánh giá thực trạng quá trình thực hành dân chủ với phát

huy vai trò của trí thức theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam trong 30 năm đổi mới Trong đó, tập trung đánh giá vai trò và nội dung mà các chủ thể trong hệ thống chính trị đã thực hành dân chủ đối với trí thức Trên cơ sở vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, luận án chỉ ra các vấn đề đặt ra đối với thực hành dân chủ trong phát huy vai trò của trí thức Việt Nam

Thứ tư, dưới góc tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở phân tích tình

hình trong nước và thế giới, luận án phải đề xuất phương hướng và giải pháp đẩy mạnh thực hành dân chủ nhằm phát huy hơn nữa vai trò của trí thức Việt Nam giai đoạn hiện nay Có như vậy, luận án mới nhấn mạnh được giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong phát huy vai trò của trí thức

Trang 37

trách nhiệm của nhân dân đối với quốc gia, dân tộc Thời kỳ chiến tranh, tư tưởng

thân dân được các triều đại phong kiến Việt Nam thực hiện trong việc tập hợp và phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc nhằm đánh đuổi quân xâm lược Điều đó được chứng minh một cách sinh động qua chính sách của nhà Trần Khi đối mặt với quân Nguyên Mông, Thái Thượng hoàng Trần Thánh Tông đã triệu tập Hội nghị Diên Hồng (1/1285), bao gồm các bô lão đại diện cho quyền và nghĩa vụ của nhân dân, tham gia trực tiếp vào việc giải quyết vấn đề trọng đại của đất nước Dưới góc

độ thực hành dân chủ, Hội nghị Diên Hồng chính là hội nghị mang tính chất dân chủ trực tiếp đầu tiên trong lịch sử nước ta nhằm phát huy cao độ sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, đưa tới thắng lợi vẻ vang của quân và dân nhà Trần trong cuộc kháng chiến lần thứ 2 chống quân Nguyên (1285) Trong thời bình, tư tưởng thân dân của các triều đại phong kiến Việt Nam lại hướng tới mục đích ổn định chính trị

- xã hội, đảm bảo các quyền lợi cơ bản và thiết thực của nhân dân Do đó, khi tổng

kết cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, trong Binh thư yếu lược, Hưng

Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn khẳng định: “Khoan dung cho sức dân được dồi dào, làm kế để cỗi ăn sâu gốc bám chặt ấy là sách lược giữ nước ở trên hết vậy” [14, tr.13] Tư tưởng đó tiếp tục được các triều đại phong kiến sau kế thừa và phát triển

Trang 38

Tuy nhiên, tư tưởng thân dân của các triều đại phong kiến Việt Nam cũng không vượt qua được lập trường giai cấp Vì vậy, thân dân nhưng mục đích vẫn là bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, dân chưa thực sự là chủ đất nước, chưa được hưởng

dụng đầy đủ các quyền công dân Do đó, kế thừa tư tưởng thân dân của dân tộc,

trong thời đại mới, Hồ Chí Minh luôn đề cao vai trò của nhân dân Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh

bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [99, tr.453] Chính vì vậy, thân dân trong tư

tưởng của Hồ Chí Minh không dừng lại ở việc gần dân, tin dân, lắng nghe ý kiến hay vì dân hy sinh mà điều cốt lõi là vượt qua lập trường giai cấp hướng tới đảm bảo cho nhân dân thực sự là người “là chủ“ và “làm chủ“ đất nước Nói cách khác

thân dân trong lịch sử dân tộc đã được Hồ Chí Minh phát triển và nâng lên tầm cao

mới thành dân chủ và thực hành dân chủ Thông quan thực hành dân chủ, vai trò và sức mạnh của nhân dân, trong đó có trí thức sẽ được phát huy hiệu quả Điều đó, thể hiện tư duy biện chứng, trí tuệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi tiếp biến các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam trong xây dựng tư tưởng về dân chủ và thực hành dân chủ

Thứ hai, tiếp thu truyền thống trọng dụng nhân tài trong lịch sử của dân tộc

Việt Nam

Trọng dụng nhân tài là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam được

Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển nhằm góp phần xây dựng đội ngũ trí thức cách mạng Thực tế lịch sử Việt Nam đã chứng minh, các triều đại phong kiến Việt Nam luôn đề cao vai trò của nhân tài, trí thức Điều đó được thể hiện qua chủ trương phát triển giáo dục mang tính hệ thống từ nhà Lý và chú trọng đến hình thức tuyển chọn nhân tài thông qua thi tuyển, tiến cử với những quy định chặt chẽ được thể chế hóa

bằng pháp luật Chẳng hạn, trong thi tuyển, Quốc triều hình luật đã quy định:

“Những cử nhân vào thi hội mà mượn người làm hộ bài thi, cùng người làm hộ đều phải biếm ba tư; thi hương thì phải biếm hai tư Người giấu sách vở đem vào trường thi phạt 80 trượng” (Điều 99) [145, tr.66] Vì vậy, khi đánh giá về nền khoa cử nước

Trang 39

nhà, trong Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ (1924), Hồ Chí Minh khẳng định: “Trước hết, quan lại được tuyển chọn theo con đường dân chủ: con đường thi

cử mở rộng cho mọi người và mọi người có thể chuẩn bị thi mà chẳng tốn kém gì Hơn nữa quyền lực của quan lại được cân bằng bằng tính tự trị của xã thôn” [90, tr.509] Đây là chính sách tiến bộ, mang tính dân chủ của các triều đại phong kiến Việt Nam trong việc tuyển chọn quan lại phục vụ đất nước Cùng với thi tuyển, để huy động nhân tài, trí thức trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, các vị vua sáng còn thực hiện hình thức tiến cử và tự tiến cử, không phân biệt giàu nghèo, địa

vị xuất thân Ngoài ra, để không bỏ sót người tài, vua còn ban chiếu cầu hiền thể hiện tâm sáng, chân thành của vua Tiểu biểu trong lịch sử dân tộc Việt Nam đó là thái độ trân trọng cầu hiển của vua Quang Trung đối với La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp Bên cạnh đó, các triều đại phong kiến Việt Nam còn thực hiện chế độ đãi ngộ xứng đáng với tài năng và cống hiến của người tài

Trong quá trình tổ chức và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã

kế thừa và vận dụng khéo léo truyền thống trọng dụng nhân tài của cha ông trong xây dựng, phát huy vai trò của trí thức Từ quan điểm “đã là con Lạc cháu Hồng thì

ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc” [103, tr.280], trên tinh thần dân chủ, Hồ Chí

Minh đã phát triển truyền thống trọng dụng nhân tài của dân tộc từ chỗ quý trọng trí

thức lên thành tin, yêu và đưa họ vào vị trí “là chủ”, “làm chủ” đất nước, tạo môi

trường, điều kiện để phát huy tối đa tài năng Do vậy, sau Cách mạng tháng Tám

năm 1945, Hồ Chí Minh đã mời các bậc sĩ phu, đức cao vọng trọng trước đây đã làm việc cho chế độ cũ tham gia Chính phủ lâm thời như cụ Bùi Bằng Đoàn, cụ Phan Kế Toại, v.v Qua đó, góp phần phát huy đức và tài của các sĩ phu trong giải quyết các khó khăn trước mắt của đất nước Đồng thời, Hồ Chí Minh còn đưa ra các chính sách đãi ngộ phù hợp nhằm động viên, khích lệ trí thức đấu tranh, cống hiến cho dân tộc

Thứ ba, tiếp thu tư tưởng của các sĩ phu yêu nước tiến bộ Việt Nam cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX

Trang 40

Bắt đầu từ thế kỷ XIX, ảnh hưởng của cách mạng tư sản ở phương Tây càng lan rộng ra phạm vi toàn thế giới, trong đó có Việt Nam Lực lượng sĩ phu yêu nước cấp tiến ở nước ta đã tích cực tiếp nhận ánh sáng của cách mạng tư sản mà tiêu biểu

là cụ Phan Bội Châu (1867-1940) và cụ Phan Châu Trinh (1872 – 1926) với tinh

thần trời đã mới, người càng thêm đổi mới

Từ thực trạng xã hội hiện thời, cụ Phan Bội Châu nhận thức một trong những nguyên nhân đưa đến sự đau khổ của nhân dân là do không có dân quyền, vì mọi quyền hành đều nằm trong tay vua Theo Cụ, dân quyền chính là cốt lõi của quốc quyền và đảm bảo dân quyền là cơ sở để đất nước phát triển Để thực hiện được dân quyền, Cụ chỉ rõ cần phải nâng cao dân trí: "Sau khi duy tân rồi, thì dân trí sẽ mở mang, dân khí sẽ lớn mạnh, dân quyền sẽ phát đạt; vận mệnh nước ta do dân ta nắm

giữ" [13, tr.255] Đây chính là cơ sở để nhân dân không chỉ đòi lại mà còn thực hiện

được quyền lực của mình trong xã hội một cách tự giác Con đường để phát triển dân trí theo Cụ là phát triển giáo dục nhằm tạo điều kiện cho mọi người được đi học Điều đó, được Cụ thực hiện qua phong trào Duy Tân và Đông Du nhằm đào tạo một lực lượng trí thức cách mạng tiến bộ Mặc dù, tư tưởng dân quyền của Cụ chưa được hiện thực hóa trong thực tiễn, nhưng nó đã vượt qua hạn chế của lịch sử,

thể hiện tầm nhìn cách mạng

Cùng xuất thân trong giai cấp phong kiến, cùng tiếp thu các tư tưởng mới của thời đại, trên nền tảng tinh thần yêu nước, yêu dân, nhưng cụ Phan Châu Trinh lại

có cách giải quyết khác cho hiện thực xã hội đương thời Cụ đưa ra khẩu hiệu: Khai

dân trí - Chấn dân khí - Hậu dân sinh trong việc lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi

dân quyền Tư tưởng của Cụ là khi trình độ dân trí của nhân dân còn thấp kém thì việc cần thiết bấy giờ là phải khai dân trí nhằm nâng cao nhận thức về quyền dân Bởi theo Cụ, khi dân đã có quyền, lúc đó họ mới có thể làm việc lớn được Do đó, trong quá trình hoạt động cách mạng Cụ đã tham gia thành lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) nhằm nâng cao tinh thần dân tộc, truyền bá nếp sống mới và phối hợp chặt chẽ với phong trào Duy Tân và Đông Du Tuy nhiên, con đường và cách thức đòi lại dân quyền cho nhân dân của Cụ cũng không vượt qua được hạn chế của lịch sử và yêu cầu bức thiết của cách mạng Việt Nam

Ngày đăng: 18/07/2017, 20:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (Đồng chủ biên) (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (Đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2003
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2012), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) về phát triển khoa học và công nghệ,http://dangcongsan.vn/thoi-su/nghi-quyet-hoi-nghi-trung-uong-6-khoa-xi-ve-phat-trien-khoa-hoc-va-cong-nghe-156023.html, 07/11/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) về phát triển khoa học và công nghệ
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2012
4. Ban Tuyên giáo Trung ương (2011), Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức XI của Đảng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thức XI của Đảng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
5. Hoàng Chí Bảo (2006), Xây dựng cơ chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng cơ chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn ở nước ta hiện nay
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
6. Hoàng Chí Bảo (2009), “Thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Xây dựng Đảng (9), tr. 7-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, "Tạp chí Xây dựng Đảng
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Năm: 2009
7. Nguyễn Quốc Bảo (1992), Đảng Cộng sản cầm quyền và vấn đề trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Luận án Phó tiến sĩ Lịch sử, Học viện Nguyễn Ái Quốc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản cầm quyền và vấn đề trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Nguyễn Quốc Bảo
Năm: 1992
8. Nguyễn Quốc Bảo (2009), “Chủ tịch Hồ Chí Minh và vấn đề xây dựng đội ngũ trí thức”, Tạp chí Tuyên giáo (2), tr. 30-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh và vấn đề xây dựng đội ngũ trí thức”, "Tạp chí Tuyên giáo
Tác giả: Nguyễn Quốc Bảo
Năm: 2009
9. Nguyễn Thị Báo, Nữ trí thức và bình đẳng giới ở Việt Nam,http://lyluanchinhtri.vn/home/index.php/thuc-tien/item/1430-nu-tri-thuc-va-binh-dang-gioi-o-viet-nam.html, 24/5/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nữ trí thức và bình đẳng giới ở Việt Nam
11. Nguyễn Khánh Bật, Trần Thị Huyền (2012), Xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Khánh Bật, Trần Thị Huyền
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
12. Phạm Văn Bính (2008), Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dân chủ Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Văn Bính
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
13. Phan Bội Châu (1990), Toàn tập, T. 2, NXB Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 1990
14. Phan Huy Chú (2006), Lịch triều hiến chương loại chí, T. 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
15. Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Sắc lệnh số 282/SL ngày 14 tháng 12 năm 1956 kèm theo Luật về chế độ báo chí,http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Sac-lenh-282-SL-che-do-bao-chi-36794.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 282/SL ngày 14 tháng 12 năm 1956 kèm theo Luật về chế độ báo chí
16. Phạm Hồng Chương (2004), Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, NXB Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
Tác giả: Phạm Hồng Chương
Nhà XB: NXB Lý luận Chính trị
Năm: 2004
17. Phạm Hồng Chương, Doãn Thị Chín (Đồng chủ biên) (2016), Tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Hồng Chương, Doãn Thị Chín (Đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
19. Vũ Hoàng Công (2009), Xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Vũ Hoàng Công
Nhà XB: NXB Chính trị - Hành chính
Năm: 2009
20. Jonh Dewey (2010), Dân chủ và giáo dục, NXB Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và giáo dục
Tác giả: Jonh Dewey
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2010
21. Phạm Tất Dong (2009), Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức nước ta hiện nay, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức nước ta hiện nay
Tác giả: Phạm Tất Dong
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
22. Phạm Tất Dong (2015), Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề trọng dụng trí thức và nhân tài, http://www.dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/c-mac-angghen-lenin-ho-chi-minh/ho-chi-minh/nghien-cuu-hoc-tap-tu-tuong-ho-chi-minh/doc210720154320156.html,07/10/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề trọng dụng trí thức và nhân tài
Tác giả: Phạm Tất Dong
Năm: 2015
23. Phạm Tất Dong (Chủ nhiệm) (2016), Luận cứ khoa học cho các chính sách nhằm phát huy năng lực sáng tạo của giới trí thức và sinh viên, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số KX.04.06, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học cho các chính sách nhằm phát huy năng lực sáng tạo của giới trí thức và sinh viên
Tác giả: Phạm Tất Dong (Chủ nhiệm)
Năm: 2016

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Tỷ lệ phụ nữ là đại biểu quốc hội qua các khóa - Thực hành dân chủ theo tư tưởng hồ chí minh nhằm phát huy vai trò của trí thức trong giai đoạn hiện nay
Bảng 3.1. Tỷ lệ phụ nữ là đại biểu quốc hội qua các khóa (Trang 99)
Bảng 3.2. Tỷ lệ hội viên của Hội Nữ trí thức Việt Nam theo ngành nghề - Thực hành dân chủ theo tư tưởng hồ chí minh nhằm phát huy vai trò của trí thức trong giai đoạn hiện nay
Bảng 3.2. Tỷ lệ hội viên của Hội Nữ trí thức Việt Nam theo ngành nghề (Trang 104)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w