77 3.2 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nội dung và hình thức thể hiện các tác phẩm thông tin về dịch bệnh truyền nhiễm trên báo điện tử.. Để đáp ứng nhu cầu thông tin của cộng đồng v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHÙNG THỊ HỒNG
THÔNG TIN PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH TRUYỀN NHIỄM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ
Hà Nội, 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung,
số liệu được sử dụng để phân tích luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tế hiện nay Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Tác giả
Phùng Thị Hồng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học với đề tài:
“Thông tin phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm trên báo điện tử” một cách
hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng không ngừng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình, bạn bè, và đồng nghiệp Qua trang viết này, tác giả xin gửi lời cảm ơn tới những người đã giúp đỡ tôi trong thời gian học tập, nghiên cứu vừa qua Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với Cô TS Phạm Thị
Mỵ người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông tin khoa học cần thiết cho luận văn này Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, cùng toàn thể quý thầy cô Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là Khoa Báo chí và Truyền thông đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành công việc nghiên cứu khoa học của mình
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp, các đơn vị được khảo sát đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ
Hà Nội, tháng 4 năm 2017 Học viên thực hiện
Phùng Thị Hồng
Trang 4DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 : Số lượng tác phẩm thông tin về dịch bệnh truyền nhiễm năm
2016 trên ba trang báo 46
Biểu đồ 2.2: Mức độ đánh giá chất lượng tác phẩm thông tin về dịch bệnh
truyền nhiễm trên báo điện tử của công chúng năm 2016 56
Biểu đồ 2.3: Số lượng tác phẩm theo nội dung và thể loại được thể hiện trong
năm 2016 của từng báo 58
Biểu đồ 2.4: Đánh giá tác động của việc thông tin về dịch bệnh truyền
nhiễm trên báo điện tử năm 2016 59
Biểu đồ 2.5: Số lượng tác phẩm thông tin về dịch bệnh do virut Zika và Sốt
xuất huyết trên 3 trang báo điện tử năm 2016 60
Biểu đồ 2.6: Mức độ quan tâm của công chúng về thông tin phòng chống dịch
bệnh truyền nhiễm trên các phương tiện truyền thông đại chúng năm 2016 65
DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Số lượng tác phẩm thông tin về dịch bệnh truyền nhiễm trung bình
một ngày trên ba trang báo năm 2016 55
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3 Đóng góp mới của luận văn 8
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
6 Phương pháp nghiên cứu: 11
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn: 13
8 Khung logic tiếp cận của luận văn: 14
9 Kết cấu của luận văn: 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THÔNG TIN PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH TRUYỀN NHIỄM TRÊN 15
BÁO ĐIỆN TỬ 15
1.1 Cơ sở lý luận 15
1.1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 15
1.2 Cơ sở thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu 35
1.2.1 Tổng quan về tình hình dịch bệnh truyền nhiễm 35
1.2.2 Vai trò của báo điện tử trong việc thông tin về dịch bệnh truyền nhiễm 37 1.3 Chính sách của Đảng, Nhà nước trong việc thông tin phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm 39
* Tiểu kết chương 1 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÔNG TIN VỀ 43
DỊCH BỆNH TRÊN BA TỜ BÁO ĐIỆN TỬ 43
2.1 Giới thiệu về ba tờ báo điện tử 43
2.1.1 Báo điện tử suckhoedoisong.vn (Sức khỏe và Đời sống) 43
2.1.2 Báo điện tử suckhoemoitruong.com.vn (Sức khỏe và Môi trường) 44
Trang 62.1.3 Báo điện tử dantri.com.vn (Dân trí) 44
2.2 Kết quả khảo sát 46
2.2.1 Số lượng tác phẩm thông tin về dịch bệnh 46
2.2.2 Tần suất thể hiện 46
2.2.3 Thực trạng nội dung các tác phẩm thông tin về dịch bệnh truyền nhiễm 48 2.2.4 Thực trạng về hình thức thể hiện 55
2.2.5 Thực trạng về ngôn ngữ thể hiện 63
2.3 Mức độ quan tâm của độc giả đối với các thông tin về dịch bệnh trên báo điện tử 64
2.3.1 Phân tích kết quả điều tra mẫu phiếu theo độ tuổi của công chúng 66 2.3.2 Phân tích kết quả điều tra mẫu phiếu theo khu vực địa lý 70
2.4 Đánh giá chung: 71
*Tiểu kết chương 2 76
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ THÔNG TIN PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH TRUYỀN NHIỄM TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 77
3.1 Vấn đề đặt ra 77
3.2 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nội dung và hình thức thể hiện các tác phẩm thông tin về dịch bệnh truyền nhiễm trên báo điện tử 80
3.2.1 Giải pháp về nội dung 80
3.2.2 Giải pháp về hình thức 83
3.3 Các giải pháp cụ thể 85
3.3.1 Nâng cao nhận thức của các cơ quan quản lý, cơ quan chủ quản và chủ thể tham gia thông tin phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm 85
3.3.2 Xây dựng chuyên mục riêng, dành ưu tiên và cập nhật liên tục thông tin phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm 87
Trang 73.3.3 Tăng cường bài viết chuyên sâu của các nhà khoa học, các chuyên
gia về các loại dịch bệnh truyền nhiễm 88
3.3.4 Phát triển nội dung các bài viết tư vấn, chỉ dẫn cho cộng đồng 89
3.3.5 Nâng cao hiệu quả công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe cho cộng đồng 90
3.3.6 Mở các lớp đào tạo, tập huấn, mở rộng đội ngũ phóng viên chuyên viết về mảng thông tin phòng chống dịch bệnh 91
*Tiểu kết chương 3 95
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 103
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chăm sóc sức khỏe cộng đồng là một trong những tiêu chí đánh giá mức
độ phát triển của mỗi quốc gia Một khi sức khỏe của người dân được bảo vệ
và chăm sóc tốt, con người sẽ có trí tuệ, sức khỏe để xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước Chính vì vậy, việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, trong đó có việc thông tin phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm là một việc làm hết sức quan trọng từ lâu đã được Đảng và Nhà nước quan tâm Điều đó không chỉ được thể hiện trong các chủ trương, chính sách, các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về công tác y tế mà còn thể hiện ở sự chung tay của
toàn xã hội đối với công tác này
Hiện nay, tình hình dịch bệnh trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang có những diễn biến hết sức phức tạp Cùng với các dịch bệnh cũ đang tái bùng phát như tiêu chảy, sởi, sốt xuất huyết, … trong những năm gan đây một số dịch bệnh mới đã phát sinh, có độc lực cao, tốc độ lây lan nhanh chóng và nguy cơ gây tử vong cao như dịch cúm A/ H7N9, cúm A /H5N1, cúm A/ H1N1 , rồi các dịch bệnh xuất hiện theo mùa, dịch bệnh do thời tiết, đại dịch H1V/AIDS Một số bệnh dịch trước kia chỉ lưu hành có tính chất rải rác ở khu vực như Ebola tại các nước Tây Phi, dịch MERS-CoV từ Trung Đông nay đã lan rộng ra nhiều quốc gia, kể cả các quốc gia phát triển và gần đây nhất là dịch bệnh do virut Zika Các bệnh truyền nhiễm đang đặt ra một mối đe dọa khẩn cấp tới sức khỏe cá nhân và có khả năng đe dọa sự an toàn của nhiều người Do đó, việc cung cấp kiến thức về phòng, chống dịch bệnh cho cộng đồng để người dân hiểu biết về dịch bệnh, từ đó nâng cao ý thức phòng, chống dịch bệnh nham bào vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng rất quan trọng Diều này đòi hỏi nguồn thông tin từ báo chí về dịch bệnh
Trang 9và các phòng, chống phái luôn mang tính thời sự, cập nhật nhanh nhất, chính xác về dịch bệnh thì thông tin mới đạt hiệu quả và có thể thay đổi nhận thức dẫn đến thay đổi hành vi của công chúng
Để đáp ứng nhu cầu thông tin của cộng đồng về lĩnh vực y tế, nhất là những thông tin phòng chống dịch bệnh hiện nay trên hầu hết các phương tiện truyền thông đại chúng như báo in, báo nói (đài phát thanh), báo hình (truyền hình), báo điện tử đều dành một vị trí nhất định để đăng tải, phát sóng những thông tin liên quan đến các kiến thức về y tế, trong đó có những thông tin về dịch bệnh Tùy theo tôn chỉ mục đích và quy mô của cơ quan truyền thông mà nội dung thông tin sẽ có dung lượng nhiều hay ít Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của internet, báo điện tử đang trở thành phương tiện truyền thông ưu việt và là lựa chọn của đại đa số công chúng, đặc biệt là khi nhu cầu cập nhật thông tin nhanh nhạy đang ngày càng trở nên cần thiết trong cuộc sống Báo điện tử đưa tin nhanh và cập nhật liên tục, vì thế tin tức mang tính thời sự cao Do không bị giới hạn về không gian, thời gian và dung lượng nên mọi tin tức đều có thể được thông tin xa, rộng khắp mọi nơi trên thế giới
Qua lượng giá kiến thức người dân, có thể thấy hiện nay tỷ lệ người dân nắm được những thông tin thiết yếu về dịch bệnh truyền nhiễm còn ở mức độ thấp Chính vì vậy, cần phải đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về dịch bệnh, đặc biệt phát huy ưu thế của báo điện tử để người dân có thể dễ dàng tiếp cận kịp thời những thông tin về dịch bệnh, từ đó tự nâng cao nhận thức và góp phần thay đổi hành vi
Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy đã có một số bài viết, đề tài nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực thông tin về y tế, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên, các nghiên cứu này, đa số mới chỉ đề cập đến những kiến thức chung về việc chăm sóc và bảo
Trang 10vệ sức khỏe nhân dân, chưa đi sâu vào những vấn đề về dịch bệnh Một số ít bài viết về vấn đề dịch bệnh trên báo chí mới chỉ tập trung vào dịch cúm AH5N1 và cúm AH1N1 ở người Với tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp như hiện nay, cần có một cái nhìn bao quát hơn về việc thông tin dịch bệnh nói chung Vì vậy, cần có một công trình nghiên cứu mang tính chuyên biệt hơn và hệ thống hơn về việc cung cấp thông tin phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt trên báo điện
tử tại Việt Nam
Là người đang công tác tại phòng Truyền thông- Giáo dục sức khỏe, Trung tâm Y tế huyện Thạch Thất, trong quá trình làm việc thực tế, tôi nhận thấy cần thiết phải đi sâu nghiên cứu để phát huy sức mạnh, hiệu quả của công tác truyền thông trong việc tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm Việc thực hiện đề tài này sẽ giúp tôi nâng cao kiến thức, kỹ năng truyền thông về sức khỏe cho cộng đồng
Chính vì những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Thông tin
phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm trên báo điện tử”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, đã có một số bài viết, đề tài liên quan đến vấn đề nghiên cứu như:
- Khóa luận: “Báo Sức khỏe và Đời sống với công tác chăm sóc sức
khỏe nhân dân” của Bùi Thị Hạnh Trong khóa luận tác giả đã nghiên cứu
đánh giá khái quát về việc thông tin công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân nói chung Tuy nhiên, phạm vi khảo sát của khóa luận mới chỉ giới
hạn trên báo Sức khỏe và Đời sống, chưa mở rộng, so sánh với các báo khác
và cũng không đề cập chuyên biệt tới thông tin về dịch bệnh truyền nhiễm
Trang 11- Khóa luận :“Báo chí với chủ đề chăm sóc sức khỏe sinh sản” của Trần
Xuân Thân Đề tài đã nghiên cứu về vấn đề chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân nhưng mang tính chuyên biệt về vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản
- Luận văn: “Tuyên truyền giáo dục sức khỏe trên các phương tiện
truyền thông đại chúng” của Đỗ Võ Tuấn Dũng Luận văn đã đề cập đến vấn
đề thông tin sức khỏe nói chung trên các phương tiện truyền thông đại chúng Chứ không chuyên biệt về việc phòng chống dịch bệnh
- Luận văn: “Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm trên báo chí hiện nay”,
của Chu Thúy Ngà Tuy đã nghiên cứu về vấn đề chăm sóc sức khỏe cộng đồng, nhưng luận văn chưa đề cập đến công tác phòng, chống dịch bệnh Mà chỉ đề cập đến một số bệnh liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm
- Luận văn: “Báo chí với việc thông tin, giáo dục sức khỏe sinh sản cho
lứa tuổi vị thành niên” của tác giả Vũ Thị Hường tập trung nghiên cứu
chuyên sâu về thông tin giáo dục sức khỏe sinh sản dành cho lứa tuổi vị thành niên Từ việc đưa ra thực trạng, qua đó tác giả cũng đề ra những khuyến nghị
và giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng thông tin về kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên
- Đề tài: “Báo chí với hoạt động truyền thông phòng, chống dịch cúm
A/H5N1 và cúm A/ H1N1 ở người” Đây là luận văn tốt nghiệp cao học của
Trần Thị Tuyết Vinh Luận văn đã khảo sát, nghiên cứu về hoạt động thông
tin phòng chống dịch bệnh trên 2 tờ báo in là Tuổi trẻ và Sức khỏe và Đời sống
và Đài Truyền hình Việt Nam Trong luận văn này, tác giả đã đi sâu nghiên cứu
về một loại dịch bệnh đó là dịch cúm A/H5N1 và cúm A/ H1N1 ở người
- Luận văn cao học “Thông tin sức khỏe trên báo chí Việt Nam hiện nay:
Vấn đề và thảo luận” của Bùi Thị Thu Thủy, nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh
Trang 12vực sức khỏe nói chung trên các loại hình báo chí, trong đó có đề cập đến thông tin về phòng, chống dịch bệnh nhưng chưa thực sự rõ nét
- Khảo sát trên 3 tờ báo của ngành y tế, luận văn cao học: “Thông tin về
kiến thức chăm sóc sức khỏe nhân dân trên báo chí ngành y tế hiện nay” của
Hoàng Nữ Thái Bình cũng nghiên cứu về vấn đề truyền thông sức khỏe Tuy nhiên cũng chưa có sự nghiên cứu chuyên biệt về thông tin phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm
3 Đóng góp mới của luận văn
Có thể nói, vấn đề sức khỏe nói chung đã được đề cập đến trong một số
đề tài nghiên cứu, với những góc độ tiếp cận khác nhau Một số đề tài bước đầu đã có sự nghiên cứu chuyên biệt về những lĩnh vực nằm trong vấn đề chăm sóc sức khỏe như: Chăm sóc sức khỏe sinh sản, an toàn vệ sinh thực phẩm và một khía cạnh nhỏ trong việc phòng chống dịch bệnh Tuy nhiên, hầu hết các đề tài này đều mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu tổng quan về lĩnh vực thông tin, truyền thông chăm sóc sức khỏe nói chung trên các phương tiện truyền thông đại chúng chưa đi sâu vào vấn đề truyền thông phòng, chống dịch bệnh Chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về việc thông tin phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Thông tin phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm trên báo điện tử” nhằm đi sâu nghiên cứu về vấn đề thông tin phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm Bởi vậy, luận văn của tác giả là công trình mới mẻ và thiết thực
Qua những nghiên cứu, khảo sát, điều tra, phân tích, so sánh luận văn đưa ra những nhận xét, đánh giá về thành công và hạn chế của việc thông tin
về dịch bệnh trên ba tờ báo điện tử hiện nay Đồng thời nêu một số giải pháp
có tính lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng thông tin về phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm trên báo điện tử hiện nay Chính vì vậy, việc đi
Trang 13sâu nghiên cứu về “Thông tin phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm trên báo
điện tử” là cần thiết, hữu ích đối với cộng đồng, với những nhà báo - những
người hoạt động trong lĩnh vực thông tin, truyền thông về lĩnh vực y tế, đặc biệt đối với những nhà quản lý trong lĩnh vực y tế và những người làm công tác chuyên biệt về truyền thông giáo dục sức khỏe
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu:
Dựa trên cơ sở khảo sát, phân tích và đánh giá về nội dung và hình thức thể hiện thông tin về dịch bệnh trên các trang báo điện tử, luận văn hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến thông tin về dịch bệnh và vai trò của báo chí trong việc truyền thông về dịch bệnh, từ đó đánh giá những ưu, khuyết điểm của mỗi báo, đưa ra những kiến nghị và một số giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả thông tin về dịch bệnh trên những trang báo được khảo sát nói riêng và báo điện tử Việt Nam nói chung
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, tác giả xác định những nội dung
trọng tâm sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về: Thông tin và dịch bệnh truyền nhiễm; báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng; vai trò của báo chí trong việc thông tin về dịch bệnh, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác phòng, chống dịch bệnh
- Khảo sát thực trạng thông tin tuyên truyền của báo chí về dịch bệnh, vai trò của báo chí đối với công tác phòng, chống dịch bệnh bảo vệ sức khỏe nhân dân và vai trò của báo chí trong sự phát triển hệ thống y tế dự phòng Bằng phương pháp khảo sát các tin, bài thông tin về dịch bệnh trên 3 tờ báo
Trang 14điện tử suckhoedoisong.vn, suckhoemoitruong.com.vn, dantri.com.vn từ tháng
1 năm 2016 đến tháng 12 năm 2016 đánh giá về số lượng, tần suất các bài viết về dịch bệnh và nội dung tuyên truyền về dịch bệnh trên 3 tờ báo điện tử Đồng thời tập trung nghiên cứu cách sử dụng thể loại, ngôn ngữ, các biểu đồ, hình ảnh, vị trí sắp xếp những vấn đề thông tin về dịch bệnh trên ba tờ báo
- Phân tích, đánh giá chất lượng và hiệu quả của tác phẩm báo chí
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị phù hợp để nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động thông tin về dịch bệnh truyền nhiễm trên ba tờ báo được khảo sát nói riêng và báo điện tử nói chung
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của luận văn là nghiên cứu nội dung, hình thức (Thể loại, vị trí đăng tải, thời gian, bố cục tổ chức tin bài như: Tít, ảnh minh họa, bảng biểu, trích dẫn…) của các bài viết thông tin phòng, chống dịch bệnh truyền
nhiễm trên báo điện tử hiện nay
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát các bài báo được đăng tải trên 3 tờ báo
suckhoedoisong.vn, suckhoemoitruong.com.vn, dantri.com.vn từ tháng 1 năm
2016 đến tháng 12 năm 2016
Lý do lựa chọn 3 tờ báo này:
- Báo suckhoedoisong.vn (Sức khỏe và Đời sống): Là Cơ quan ngôn luận
của Bộ Y tế, là diễn đàn vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân
- Báo điện tử www.suckhoemoitruong.com.vn (Sức khỏe và Môi trường):
Là cơ quan ngôn luận của Tổng hội Y học Việt Nam, có chức năng tư vấn
Trang 15những vấn đề về y học, về môi trường ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, xã hội, sức khỏe của mọi tầng lớp trong xã hội
- Báo Dantri.com.vn: Là tờ báo điện tử thuộc Trung ương Hội Khuyến
học Việt Nam và là một trong những tờ báo điện tử tiếng Việt có lượng người đọc đông đảo nhất hiện nay
Trong quá trình nghiên cứu khảo sát, tác giả cũng tham khảo thêm những tài liệu có liên quan đến luận văn trên một số sách, báo, các hội thảo khoa học
để có những ví dụ trích dẫn phù hợp với nội dung nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở hệ thống lý luận và quan điểm nền tảng, từ đó, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu cụ thể, đưa ra những đánh giá khách quan về thực trạng và giải pháp cho việc nâng cao chất lượng của các tin, bài về phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm trên 3 tờ báo
6.1 Phương pháp luận
- Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm Chủ nghĩa Mác- Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về vai trò, nhiệm vụ của báo chí cách mạng và các quan điểm, lý thuyết cơ bản về chức năng thông tin của báo chí Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số lý thuyết về báo chí học và xã hội học truyền thông đại chúng của các tác giả trong và ngoài nước làm cơ sở nghiên cứu
- Mô hình Claude Shannon:
Nguồn - thông điệp - kênh - người nhận – hiệu quả (nhiễu + phản hồi)
6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu trên, các phương pháp được sử dụng trong luận văn gồm:
Trang 16- Phương pháp phân tích tư liệu : Dựa trên các tài liệu có sẵn và đã phát
hành trên các phương tiện truyền thông đại chúng có liên quan đến đề tài về mặt lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ cho vấn đề được nghiên cứu
- Phương pháp phân tích nội dung: Phân tích các đặc điểm, đặc trưng về nội dung của hơn 400 tác phẩm thông tin phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm trên ba tờ báo được khảo sát để thấy được ảnh hưởng của nội dung, thông điệp đó đối với công chúng tiếp nhận và đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng nội dung và hình thức thông tin
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Được thực hiện với những cán bộ là chuyên gia trong lĩnh vực truyền thông giáo dục sức khỏe, lãnh đạo quản lý các cơ quan báo chí và các biên tập viên, phóng viên các cơ quan báo chí được khảo sát, cụ thể tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu 10 người gồm:
+ Giám đốc Trung tâm y tế dự phòng Hà Nội
+ Cán bộ Truyền thông giáo dục sức khỏe Hà Nội;
+ Giám đốc, Trưởng phòng Truyền thông Giáo dục sức khỏe Trung tâm Y tế huyện Thạch Thất
+ Các Biên tập viên, phóng viên trực tiếp viết các tác phẩm báo chí về phòng chống dịch bệnh
Để phỏng vấn sâu, tác giả đã xây dựng bộ câu hỏi dựa trên các lý thuyết
về truyền thông và thông tin chuyên sâu về dịch bệnh Với kết quả thu được, tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích để đưa ra những nhận định khách quan về công tác đầu tư và chất lượng tác phẩm báo chí về thông tin phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm
- Phương pháp điều tra định lượng bằng bảng hỏi: Tác giả luận văn tiến hành điều 350 người là độc giả của các cơ quan báo chí được khảo sát, không
Trang 17phân biệt giới tính, trình độ học vấn, có độ tuổi từ 18 đến 50 tuổi Kết quả thu về
- Luận văn góp phần khẳng định tính ưu việt và sự lớn mạnh nhanh chóng của báo điện tử
7.2 Ý nghĩa thực tiễn:
- Luận văn góp phần làm rõ nội dung nhận thức về vấn đề thông tin về phòng, chống dịch bệnh trong tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp như hiện nay thông qua hoạt động báo chí truyền thông Qua đó khẳng định những đóng góp của báo điện tử trong việc thông tin về dịch bệnh đến với cộng đồng
- Luận văn là tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, đào tạo cho các nhà quản lý, nhà báo, cán bộ y tế làm công tác truyền thông giáo dục sức khỏe và những người quan tâm tới các nội dung liên quan
- Luận văn có ý nghĩa thiết thực đối với công việc của người làm đề tài này
Trang 188 Khung logic tiếp cận của luận văn:
Trong luận văn, tác giả nhấn mạnh đến vai trò của chủ thể truyền thông điệp (ở đây chủ thẻ truyền thông có thể chính là các cơ quan chuyên môn y tế, hay cơ quan báo chí), thông điệp chính là những thông tin cần thiết, những nội dung mà họ muốn cung cấp cho công chúng(thông tin về nguyên nhân, dấu hiệu, biện pháp phòng chống) Thông qua kênh chính là báo điện tử để thông điệp đến với công chúng, từ đó công chúng tiếp nhận thông tin để có thể chủ động phản hồi cũng như góp phần nâng cao nhận thức của mỗi cá nhân trong cộng đồng Dựa vào phản hồi nhu cầu của công chúng, cơ quan chủ quản có thể đưa ra những nội dung thông tin phù hợp, hiệu quả hơn
9 Kết cấu của luận văn:
Ngoài Phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn được triển khai trong 3 chương, gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về thông tin phòng chống dịch
bệnh truyền nhiễm trên báo điện tử
Chương 2: Thực trạng thông tin về dịch bệnh truyền nhiễm trên ba tờ báo
điện tử
Chương 3: Những giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu
quả thông tin phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm trên báo điện tử
Chủ
chúng Hiệu quả
Trang 19CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THÔNG TIN PHÒNG CHỐNG DỊCH BỆNH TRUYỀN NHIỄM TRÊN
BÁO ĐIỆN TỬ 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan
1.1.1.1 Khái niệm thông tin
“Thông tin” xuất phát từ tiếng La tinh “Information”: Được hiểu là thông báo, giải thích, tóm tắt Thông tin có thể là những thông báo về đối tượng và hiện tượng xảy ra xung quanh chúng ta, về những thông số, bản chất của chúng, những điều mà hệ thống thông tin (máy móc, con người) đã truyền tải lại trong công việc và cuộc sống
Từ điển Oxford English Dictionary cho rằng, thông tin là điều mà người
ta đánh giá hoặc nói đến; là tri thức, tin tức
Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa “thông tin” với ý
nghĩa: là động từ được hiểu là truyền tin, đưa tin báo cho nhau biết, danh từ nghĩa là tin tức được truyền đi cho biết
Trong cuốn sách “Cơ sở lý luận báo chí” của nhóm tác giả trường Đại
học Khoa học xã hội và Nhân văn: “Thông tin” là công cụ chủ yếu để báo chí thực hiện mục đích của mình Thông tin trở thành môi giới giữa báo chí và công chúng Nó là “dụng cụ làm việc”, với sự giúp đỡ của dụng cụ đó, những công việc đó như một hệ thống xã hội đặc biệt Đó là lý do giải thích tại sao báo chí gồm tất cả các tổ chức thông tin thuộc loại hình khác nhau và ở những cấp độ khác nhau với ý nghĩa là tất cả các “phương tiện thông tin đại chúng”
Trong cuốn “Bùng nổ truyền thông” (Philipe Breton, Serge Proulx, Nxb
Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1996), Từ Latin “Informatio”, gốc của từ hiện
Trang 20đại “Information” (thông tin) cho rằng, thuật ngữ thông tin có thể hiểu theo hai hướng nghĩa: Thứ nhất, thông tin là nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình dạng; Thứ hai, thông tin là nói về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng Hai hướng nghĩa này cùng tồn tại, một nhằm vào sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt Tuy nhiên, cùng sự phát triển của xã hội, khái niệm thông tin cũng phát triển theo Hoạt động thông tin không chỉ có trong xã hội loài người Ngay trong thiên nhiên cũng có những hoạt động thông tin phức tạp, đa dạng của các loại động vật khác nhau Thông tin được dùng để chỉ chất lượng nội dung thông báo nói chung Theo quan niệm của nhóm tác giả trong cuốn sách “Cơ sở lý luận báo chí” của Học viện Báo chí và Tuyên truyền do PGS.TS Tạ Ngọc Tấn chủ biên năm 2005, từ “thông tin” được sử dụng với những ý nghĩa khác nhau trong tình huống cụ thể: “Thông tin là một loại hình hoạt động để chuyển đi các nội dung thông báo Trong trường hợp này người ta xem chất lượng nội dung thông báo bằng” “lượng thông tin” được chuyển đến đối tượng tiếp nhận
Trong luận văn Thạc sĩ Báo chí học về đề tài “Thông tin đối ngoại về
văn hóa trên báo chí”, tác giả Nguyễn Thị Thương Huyền khẳng định:
“Thông tin là tin tức, thông báo, tri thức về một sự vật hay một hiện tương chứa đựng trong các hình thức nhất định, được tiếp nhận, lựa chọn và sử dụng qua các phương thức thích hợp”
Theo nghĩa thông thường, thông tin là tất cả các sự kiện, sự việc, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: Một người có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh
Trang 21Theo quan điểm triết học, thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh…hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người,
Khi khoa học công nghệ phát triển đến trình độ cao, trong các lĩnh vực khoa học khác nhau, thuật ngữ thông tin cũng có những cách hiểu khác nhau khi sử dụng đến nó
Trong lĩnh vực viễn thông, thông tin là toàn bộ hoạt động nhằm mục đích vận chuyển, đảm bảo tính chính xác của các thông điệp
Trong lĩnh vực truyền thông đại chúng, thông tin hoạt động chủ yếu dựa trên nội dung của các thông điệp, nhất là khi tiếp xúc với công chúng
Trong lĩnh vực báo chí, thông tin được dùng để nói đến chất liệu ngôn ngữ sống, sự miêu tả câu chuyện, bằng chứng, chỉ cần nó thể hiện một nhân tố của thực tại Ví dụ khi ta sử dụng thông tin để nói về câu chuyện do nhà báo
kể lại bao gồm một hoặc một số sự kiện liên kết thành
Những người hoạt động trong lĩnh vực truyền thông đại chúng như: Phóng viên, biên tập viên, nhà báo… là những người được đào tạo chủ yếu về lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn Những vấn đề liên quan đến con người luôn là nguồn cảm hứng chính trong các hoạt động thông tin của họ Với họ, thông tin là mục tiêu để họ sáng tạo không ngừng
Như vậy, cùng sử dụng thuật ngữ thông tin, nhưng khái niệm thông tin
mà các nhà báo sử dụng hoàn toàn khác với những khái niệm thông tin mà các nhà kỹ thuật viễn thông xử lý hoặc thông tin mà các nhà tin học chế tạo
Trong thực tiễn báo chí hiện nay, khi đề cập tới thuật ngữ thông tin, các nhà báo cũng có nhiều cách sử dụng khác nhau Có trường hợp, các nhà báo
sử dụng nó để biểu thị tính chung nhất của các thông báo ngắn, không kèm
Trang 22theo lời phân tích, bình luận về một sự kiện mới (như tin vắn, tin ngắn) Trong trường hợp khác, nó được dùng để chỉ tất cả các thể loại được dùng để ghi chép những sự kiện, hiện tượng mới như: Tin tức, tường thuật, phỏng vấn…
Tất cả các tác phẩm báo chí (tin vắn, phim tài liệu, phóng sự…) đều chứa đựng một hàm lượng thông tin nhất định Mặc khác, các tiêu đề cũng hàm chứa các giá trị thông tin: Vị trí của tác phẩm trên trang báo, chương trình truyền hình, giọng đọc của phát thanh viên, các cỡ chữ hay cách xếp chữ trên các tờ báo… dường như chúng đều có chứa đựng thông tin
Chúng ta vẫn có thể gọi toàn bộ các tác phẩm, hay hệ thống tin tức… là thông tin Hiểu theo các gọi này, thuật ngữ thông tin là một danh từ tập hợp Nhiệm vụ của các tác phẩm báo chí là đem đến thông tin cho công chúng, nhưng tại sao họ lại không tìm thấy chúng trong các tác phẩm? Dường như thông tin trong các tác phẩm báo chí này không phản ánh được thực tế cuộc sống, không thỏa mãn nhu cầu của công chúng
Tác phẩm khi đưa lên báo chí, đối với công chúng, tác phẩm đó mới chỉ thể hiện qua chất lượng của thông tin tiềm năng Bởi vì những thông tin đó chưa chắc đã được công chúng tiếp nhận Có nhiều tác phẩm báo chí không thể đến được với công chúng, có thể do kỹ thuật, do công chúng không có thời gian, hay cũng có thể do bản thân các tác phẩm đó không hấp dẫn Điều này dẫn đến tình trạng thông tin tiềm năng không chuyển thành thông tin hiện thực
Việc đảm bảo sự ổn định trong mối quan hệ lẫn nhau giữa nhà báo và công chúng được thể hiện qua các tác phẩm và chương trình là cần thiết, đảm bảo cho thông tin tiềm năng trở thành thông tin hiện thực Vì thế, trong khoa học hiện đại có một cách định nghĩa về thông tin: Thông tin không chỉ là tác phẩm báo chí mà là những tác phẩm báo chí khi đã được công chúng tiếp nhận
Trang 23Tóm lại, thông tin là những thông điệp nhằm chia sẻ trí thức, kỹ năng, kinh nghiệm… giữa các đối tượng giao tiếp một cách tương đối bình đẳng, nhiều chiều, nhằm mục tiêu nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ tiến tới điều chỉnh hành vi theo hướng tích cực hóa hoạt động thực tiễn
1.1.1.2 Khái niệm bệnh truyền nhiễm
Bệnh truyền nhiễm được biết từ thời cổ xưa Thời Hypocrát bệnh truyền nhiễm đã được người ta biết đến với tên gọi là “Bệnh dịch” để nói lên tính chất nặng và phát triển rộng của bệnh Thời đó người ta cho rằng bệnh có liên quan đến “Khí độc” Vào thế kỷ XVI đã ra đời học thuyết về “Lây” thay cho quan niệm “Khí độc” Thuyết về sự lây bệnh từ người bệnh này sang người lành được D.S.Samoilovitra đề xuất vào năm 1784, với giả thuyết này tác giả cho rằng căn nguyên gây ra bệnh truyền nhiễm mà trong đó có bệnh dịch hạch
là cơ thể sống rất nhỏ bé Tuy vậy mãi cho tới đầu thế kỷ XIX, cùng với sự ra đời của kính hiển vi, những căn cứ khoa học về bệnh truyền nhiễm mới được chứng minhbởi việc tìm ra một số vi khuẩn mà công đóng góp thuộc về các nhà bác học đi đầu như L Pasteur, R Koch, I Mechnhicốp, G Minx, D Ivanôpski… Sự phát sinh và phát hiện ngày càng nhiều các vi sinh vật gây bệnh làm cho các mặt bệnh truyền nhiễm ngày càng phong phú
Bệnh truyền nhiễm đa số là những bệnh thường gặp ở tất cả các nước trên thế giới Tuỳ từng vùng địa lý, khí hậu, tuỳ trình độ dân trí và điều kiện sống của mỗi vùng mà tỷ lệ mắc bệnh và cơ cấu bệnh tật khác nhau (vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, vùng có điều kiện kinh tế xã hội nghèo nàn lạc hậu thì tỷ lệ mắc bệnh cao và có nhiều loại bệnh truyền nhiễm hơn)
Bệnh truyền nhiễm đều có khả năng lây từ người bệnh sang người lành, nhiều bệnh phát triển thành dịch (thậm chí là đại dịch) Do vậy số lượng bệnh nhân truyền nhiễm rất đông và số lượng tử vong cũng lớn
Trang 24Theo cuốn “Bệnh học Truyền nhiễm và nhiệt đới, TS Hoàng Vũ Hùng,
định nghĩa “Bệnh truyền nhiễm còn gọi là bệnh lây -là bệnh thường gặp ở tất
cả các châu lục nhưng đặc biệt là ở các nước có khí hậu nóng ẩm (nhiệt đới) Căn nguyên bệnh truyền nhiễm do vi sinh vật gây ra gọi là mầm bệnh, bệnh
có khả năng lây truyền trong cộng đồng bằng nhiều đường khác nhau và nhiều khi trở thành các vụ dịch với số lượng người mắc rất lớn Bệnh thường diễn biến theo các giai đoạn.”
Theo Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO), “Bệnh truyền nhiễm hay bệnh lây
là bệnh phát sinh do sự lan truyền của một tác nhân bệnh đặc thù tới cơ thể cảm nhiễm Các tác nhân truyền nhiễm có thể truyền sang người trực tiếp, từ người hay động vật bị nhiễm khác, hoặc gián tiếp, thông qua véc tơ, các vật thể trong không khí hay vật chuyên chở.”
Véc tơ là những côn trùng hay động vật mang tác nhân truyền nhiễm từ người này sang người khác Vật chuyên chở là những đồ vật hay phần tử trong môi trường bị nhiễm (chẳng hạn như quần áo, dao kéo, nước, sữa, thức
ăn, máu, huyết thanh, dịch ruột hay các dụng cụ phẫu thuật) Các bệnh lây truyền qua tiếp xúc là những bệnh có thể được lan truyền từ người này sang người khác mà không có véc tơ hay vật chuyên chở trung gian
Ví dụ như sốt rét là một bệnh truyền nhiễm nhưng không phải lây truyền qua tiếp xúc, còn sởi và bệnh giang mai là hai bệnh truyền nhiễm qua tiếp xúc Một số tác nhân gây bệnh không chỉ thông qua sự nhiễm trùng mà còn thông qua độc tố của các hợp chất hóa học tạo ra Ví dụ Staphylococcus aureus là một vi khuẩn có thể gây bệnh trực tiếp cho con người, nhưng ngộ độc thức ăn có chứa staphylococcal gây ra bởi việc tiêu hóa thức ăn có nhiễm độc tố mà vi khuẩn sản sinh ra
Trang 25Theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm: “Bệnh truyền nhiễm là
bệnh lây truyền trực tiếp hoặc gián tiếp từ người hoặc từ động vật sang người
do tác nhân gây bệnh truyền nhiễm”
Những đặc điểm chung của bệnh truyền nhiễm:
- Bệnh truyền nhiễm là bệnh do vi sinh vật gây ra, gọi là mầm bệnh Thông thường mỗi một bệnh truyền nhiễm do một loại mầm bệnh gây nên, trong trường hợp cá biệt có thể do hai hoặc nhiều mầm bệnh gây nên (sốt rét
do P.falciparum + P.vivax kết hợp…)
Bệnh truyền nhiễm có thể được gây ra bởi:
+ Vi khuẩn: Những sinh vật chịu trách nhiệm cho các bệnh như viêm họng, nhiễm trùng đường tiết niệu và bệnh lao
+ Virus: Thậm chí nhỏ hơn so với vi khuẩn, virus là nguyên nhân của vô
số bệnh khác nhau, từ cảm lạnh thông thường đến AIDS
+ Nấm: Nhiều bệnh ngoài da, chẳng hạn như bàn chân do nấm Các loại nấm có thể lây nhiễm phổi hoặc hệ thần kinh
+ Ký sinh trùng: Sốt rét là do một ký sinh trùng rất nhỏ được truyền đi bằng muỗi cắn Ký sinh trùng khác có thể được truyền cho con người từ phân động vật
- Bệnh truyền nhiễm có khả năng lây truyền từ người bệnh sang người khoẻ bằng nhiều đường khác nhau Bệnh có thể lây bằng một đường, nhưng
có thể lây bằng nhiều đường
- Bệnh truyền nhiễm phát triển có chu kỳ mà trong lâm sàng gọi là các giai đoạn của bệnh diễn ra kế tiếp nhau: Nung bệnh(ủ bệnh), khởi phát, toàn phát, lui bệnh và hồi phục
* Thời kỳ nung bệnh (Thời kỳ ủ bệnh)
Trang 26Từ lúc mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể người cho tới trước khi xuất hiện những triệu chứng đầu tiên Trong thời kỳ này, người bệnh không cảm thấy
có triệu chứng gì Thời kỳ nung bệnh dài hay ngắn phụ thuộc vào loại bệnh,
số lượng và độc tính của mầm bệnh, sức đề kháng của cơ thể Thời kỳ này có thể rất ngắn (hàng giờ) nhưng có thể rất dài (hàng tháng) Có không ít trường hợp người nhiễm bệnh mang mầm bệnh kéo dài (thể tiềm tàng hoặc thể người lành mang khuẩn)
ở nhiều cơ quan khác nhau
* Thời kỳ lui bệnh
Do sức chống đỡ của cơ thể người bệnh tốt, mặt khác do tác động của điều trị, mầm bệnh và các độc tố của chúng dần dần được loại trừ ra khỏi cơ thể Người bệnh sẽ cảm thấy đỡ dần Những triệu chứng của bệnh ở thời kỳ toàn phát cũng dần dần mất đi Một số bệnh diễn biến kéo dài, tái phát hoặc
để lại hậu quả nghiêm trọng
* Thời kỳ hồi phục (lại sức)
Trang 27Sau khi mầm bệnh và độc tố của chúng được loại trừ ra khỏi cơ thể người bệnh thì những cơ quan bị tổn thương dần dần bình phục và trở lại hoạt động hầu như bình thường, chỉ còn những rối loạn không đáng kể Bệnh nhân
có thể ra viện về nghỉ ngơi hoặc có thể tiếp tục lao động, chiến đấu được tuỳ theo khả năng bình phục tuy vậy cần phải được tiếp tục theo dõi bởi vì một số trường có tái phát
- Sau khi mắc các bệnh truyền nhiễm, cơ thể người có đáp ứng miễn dịch dịch thể và đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào Quá trình đó gọi là miễn dịch bảo vệ Tuỳ theo bệnh, thể bệnh và tuỳ theo cơ thể người mà miễn dịch được hình thành với mức độ khác nhau, thời gian tồn tại miễn dịch bảo vệ cũng khác nhau
Việc phân loại bệnh truyền nhiễm khác nhau giữa các tác giả tuỳ theo mục đích
Trong lâm sàng người ta hay áp dụng cách phân loại bệnh theo đường lây với mục đích dự phòng để tiện cách ly, quản lý và đồng thời cũng tiện cho săn sóc điều trị Cách phân loại theo đường lây là phân loại theo Gramaxépski (Nga) và chia ra 5 nhóm bệnh là:
- Bệnh lây truyền theo đường tiêu hoá
- Bệnh lây truyền theo đường hô hấp
- Bệnh lây theo đường máu
- Bệnh lây truyền theo đường da và niêm mạc
- Bệnh truyền nhiễm có thể lây bằng nhiều đường
Hoặc có thể phân loại qua hai loại là tiếp xúc trực tiếp và gián tiếp Có
ba cách khác nhau bệnh truyền nhiễm có thể lây lan qua tiếp xúc trực tiếp là:
Trang 28- Người sang người Cách phổ biến nhất cho các bệnh truyền nhiễm lây lan là thông qua việc chuyển giao trực tiếp của vi khuẩn, virus hoặc vi trùng khác từ người này sang người khác Điều này có thể xảy ra khi một cá nhân chạm với vi khuẩn hoặc virus, ho hoặc một ai đó hôn những người không bị nhiễm bệnh Các vi trùng này cũng có thể lây lan thông qua việc trao đổi các chất dịch cơ thể từ hệ tình dục hoặc truyền máu
- Động vật sang người Vật nuôi trong gia đình có vẻ vô hại, nhưng con vật nuôi có thể mang nhiều mầm bệnh Bị cắn, cào bởi một con vật bị nhiễm bệnh có thể gây bệnh, thậm chí có thể gây tử vong Xử lý chất thải động vật
có thể độc hại Ví dụ, có thể nhiễm toxoplasmosis bởi mèo
- Mẹ sang con chưa sinh Một phụ nữ mang thai có thể truyền vi trùng gây bệnh truyền nhiễm cho thai nhi Một số vi trùng có thể đi qua nhau thai
Vi trùng trong âm đạo có thể lây truyền sang con trong quá trình sinh nở
Tiếp xúc gián tiếp:
Nhiều mầm bệnh có thể kéo dài trên một vật vô tri vô giác, chẳng hạn như tay nắm cửa, bàn hoặc vòi nước Khi chạm vào tay nắm cửa cùng nắm bởi người bị bệnh cúm hoặc cảm lạnh, ví dụ, có thể các vi trùng mà họ bỏ lại Nếu sau đó chạm vào mắt, miệng hoặc mũi trước khi rửa tay có thể bị nhiễm
- Côn trùng cắn
Một số vi trùng dựa vào côn trùng - như muỗi, bọ chét, chấy hay ve để di chuyển Được gọi là vectơ Muỗi có thể mang ký sinh trùng sốt rét hay virus West Nile và ve hươu có thể mang vi khuẩn gây bệnh Lyme
- Thực phẩm nhiễm bẩn
Một cách khác vi trùng gây bệnh có thể lây nhiễm là thông qua ô nhiễm thực phẩm và nước Cơ chế này cho phép truyền vi trùng được lây lan cho
Trang 29nhiều người thông qua một nguồn duy nhất E coli là vi khuẩn trong hoặc trên các loại thực phẩm nhất định - chẳng hạn như hamburger chưa nấu chín hoặc trái cây hoặc rau chưa rửa
Tùy vào mức độ nguy hiểm và khả năng lây lan, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm chia bệnh truyền nhiễm thành các nhóm khác nhau, bao gồm:
Bệnh truyền nhiễm nhóm A gồm các bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh như: Bại liệt; cúm A-H5N1; dịch hạch; đậu mùa; sốt xuất huyết do vi rút Ebola…
Nhóm B gồm các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm có khả năng lây truyền nhanh và có thể gây tử vong như: HIV/AIDS; bạch hầu; cúm; bệnh dại; ho gà; lao phổi; bệnh do liên cầu lợn ở người; sốt rét; sốt phát ban; sởi; tay-chân-miệng; bệnh than; thủy đậu; thương hàn; uốn ván…
Nhóm C gồm các bệnh truyền nhiễm ít nguy hiểm, khả năng lây truyền không nhanh như: Mắt hột; phong; viêm họng, viêm miệng
1.1.1.3 Khái niệm dịch
Theo Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm: “Dịch là sự xuất hiện bệnh
truyền nhiễm với số người mắc bệnh vượt quá số người mắc bệnh dự tính bình thường trong một khoảng thời gian xác định ở một khu vực nhất định”
Thuật ngữ dịch dùng để mô tả những bệnh gây ra bởi vi sinh vật truyền nhiễm mà thỉnh thoảng lại xảy ra với số lượng lớn người mắc Một khi được đưa vào cộng đồng cảm nhiễm, vi sinh vật truyền nhiễm như virus và vi khuẩn có thể lây lan từ người này sang người khác Và nếu mỗi một người truyền bệnh cho hơn một người khác, số ca bệnh sẽ tăng theo cấp số nhân dẫn đến sự lây lan mạnh đặc trưng một bệnh dịch
Trang 30Bên cạnh khái niệm về bệnh truyền nhiễm và dịch bệnh, Luật phòng
chống bệnh truyền nhiễm còn đưa ra khái niệm về Vùng có dịch là khu vực được cơ quan có thẩm quyền xác định có dịch và Vùng có nguy cơ dịch là khu
vực lân cận với vùng có dịch hoặc xuất hiện các yếu tố gây dịch
Theo WHO, dịch được định nghĩa là khi các trường hợp mắc bệnh vượt quá con số kỳ vọng của một cộng đồng hoặc một khu vực Khi mô tả một vụ dịch, phải mô tả rõ về thời gian xuất hiện bệnh, về địa dư và các đặc tính cụ thể của quần thể nơi xuất hiện bệnh
Việc đánh giá số lượng trường hợp bệnh thế nào là một vụ dịch thay đổi tùy thuộc vào tác nhân, kích thước và loại quần thể phơi nhiễm, và thời gian
và địa điểm xuất hiện bệnh Việc xác định một vụ dịch còn phụ thuộc vào tần
số thông thường của bệnh trong cùng khu vực ở quần thể xác định trong cùng một mùa của năm Chỉ một số rất ít trường hợp bệnh từ trước đến nay chưa thấy có trong một khu vực, nhưng có mối liên hệ với nhau về thời gian và địa điểm, cũng đủ để kết luận về một vụ dịch
Động lực của một vụ dịch được quyết định bởi các đặc tính như tác nhân, phương thức lây truyền, và tính mẫn cảm của vật chủ con người Ba nhóm tác nhân gây bệnh chính tương tác với nhau một cách rất khác nhau ở các bệnh khác nhau Một số ít vi khuẩn, vi rút và ký sinh trùng gây ra hầu hết các vụ dịch và việc hiểu rõ đặc điểm sinh học của chúng có thể cải thiện các biện pháp dự phòng Vắc xin, biện pháp dự phòng các bệnh truyền nhiễm hiệu quả nhất cho đến nay mới chỉ được phát triển cho một số bệnh do vi rút và vi khuẩn gây ra Vắc xin không chỉ phòng bệnh tốt trên cơ sở cá nhân, thông qua việc phòng hoặc làm giảm bệnh ở cá nhân có phơi nhiễm với mầm bệnh, mà còn trên cơ sở quần thể bằng việc tác động đến miễn dịch quần thể
Theo Wikipedia: Dịch bệnh (tiếng Anh: epidemic, trong tiếng Hy Lạp, từ dịch bệnh có nghĩa là ἐπί epi "upon or above" và δῆμος demos "people" ) là
Trang 31sự lây lan nhanh chóng của một bệnh truyền nhiễm với số lượng lớn những người bị nhiễm trong một cộng đồng hoặc một khu vực trong vòng một thời gian ngắn, thường là hai tuần hoặc ít hơn Ví dụ, nhiễm não mô cầu, tỷ lệ mắc vượt quá 15 trường hợp trên 100.000 người trong hai tuần liên tiếp được coi
là một vụ dịch
Dịch bệnh truyền nhiễm thường được gây ra bởi một số yếu tố trong đó
có một sự thay đổi trong sinh thái của số lượng vật chủ (ví dụ như sự gia tăng hoặc tăng mật độ của một loài vector), một sự thay đổi di truyền trong các ổ mầm bệnh hoặc bắt đầu của một tác nhân gây bệnh mới nổi (do sự biến đổi các tác nhân gây bệnh hoặc vật chủ) Nói chung, dịch bệnh xảy ra khi hệ miễn dịch vật chủ hoặc là một tác nhân gây bệnh mới xuất hiện hoặc một mầm bệnh mới nổi đột nhiên giảm xuống dưới đó được tìm thấy trong trạng thái cân bằng đặc hữu và ngưỡng truyền được vượt quá
Một dịch bệnh có thể được giới hạn trong một không gian; Tuy nhiên, nếu nó lây lan sang các quốc gia hoặc châu lục khác và ảnh hưởng đến số lượng lớn người dân mắc bệnh, nó có thể được gọi là một đại dịch
Các tuyên bố về một dịch bệnh thường đòi hỏi dựa trên cơ sở về số lượng hay tỷ lệ mới mắc của một bệnh; dịch bệnh xảy ra do các bệnh nhất định, chẳng hạn như cúm, được định nghĩa là gia tăng đáng kể các trường hợp
bị nhiễm, cũng được xác định dựa trên cơ sở này Vài trường hợp của một bệnh rất hiếm có thể phân loại là một dịch bệnh, còn những trường hợp của các bệnh phổ biến như cảm lạnh thông thường không được coi là dịch bệnh Tuy vậy, khái niệm về dịch ngày nay không chỉ giới hạn trong các bệnh truyền nhiễm nữa Các bệnh ung thư phổi, tai nạn giao thông, tác dụng có hại của thuốc như thalidomide ma túy cũng có thể là những bệnh dịch, mà tác nhân gây bệnh không phải là vi sinh vật Để làm rõ hơn về dịch bệnh, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 02/2016/QĐ-TTg : Quy
Trang 32định điều kiện công bố dịch, công bố hết dịch bệnh truyền nhiễm Theo Quyết định, việc công bố dịch bệnh truyền nhiễm được thực hiện khi đáp ứng các điều kiện sau:
Thứ nhất, đối với bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A: Có ít nhất một người bệnh được chẩn đoán xác định
Thứ hai, đối với bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B và nhóm C: Một xã, phường, thị trấn (gọi tắt là xã) được coi là có dịch khi có số người mắc bệnh vượt quá số mắc trung bình của tháng cùng kỳ 03 năm gần nhất; Một huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi tắt là huyện) được coi là có dịch khi có
từ 2 xã có dịch trở lên; Một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là tỉnh) được coi là có dịch khi có từ 2 huyện có dịch trở lên
Quyết định quy định rõ trình tự công bố dịch bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, B, C Đối với bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, ngay sau khi nhận được thông tin về người nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A, cơ quan được Bộ Y tế phải chỉ định thực hiện việc điều tra xác minh
Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi xác định có người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, cơ quan xác minh dịch có trách nhiệm thông báo cho
Sở Y tế tại nơi có dịch xảy ra, đồng thời báo cáo Bộ Y tế Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được thông báo của cơ quan xác minh dịch, Sở Y tế có trách nhiệm báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được báo cáo của Sở Y tế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm đề nghị Bộ trưởng Bộ Y tế công bố dịch
Bộ trưởng Bộ Y tế sẽ công bố dịch trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; thông báo trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được báo cáo của cơ quan xác minh dịch đối với trường hợp người nhập cảnh
Trang 33Việt Nam được xác định mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A; đề nghị Thủ tướng Chính phủ công bố dịch đối với trường hợp dịch lây lan nhanh từ tỉnh này sang tỉnh khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng con người
1.1.1.4 Khái niệm báo điện tử
Ngày 22/7/2005, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị 52-CT/TW về “phát triển và quản lý báo điện tử ở Việt Nam hiện nay” Đây là văn kiện đầu tiên của Đảng về báo điện tử, thể hiện đầy đủ quan điểm của Đảng trong lãnh đạo báo điện tử, có ý nghĩa định hướng chiến lược, lâu dài trong sự phát triển của báo điện tử
Trên thế giới và ở Việt Nam đang tồn tại nhiều cách gọi khác nhau đối với loại hình báo chí này: Báo điện tử (Electronic Journal), báo trực tuyến (Online Newspaper), báo mạng (Cyber Newspaper), báo chí Internet (Internet Newspaper) và báo mạng điện tử
Tuy nhiên, khái niệm báo điện tử có nghĩa rất chung, không giúp hiểu rõ đặc điểm của loại hình báo chí phát hành trên mạng: Tờ báo được sản xuất trong vòng khép kín trên mạng LAN của tòa soạn hay tờ báo được “chạy” trên môi trường mạng toàn cầu Internet Đồng thời, đã có thời gian chúng ta sử dụng cách gọi này để chỉ phát thanh và truyền hình nên nếu dùng lại rất dễ gây nhầm lẫn Báo trực tuyến là khái niệm được sử dụng đầu tiên tại Mỹ và đã trở thành cách gọi quốc tế Đây là cách gọi dựa vào đặc trưng nổi trội của loại hình truyền thông này Thuật ngữ trực tuyến (online) trong các từ điển tin học được dùng để chỉ trạng thái của một máy tính khi đã kết nối với mạng máy tính và sẵn sàng hoạt động Tuy nhiên cách gọi báo trực tuyến gắn liền với tin học nhiều hơn và chưa được Việt hóa
Báo mạng là cách gọi tắt của báo mạng Internet Đây là cách gọi không mang tính khoa học vì nó không rõ nghĩa, không đầy đủ, dễ gây hiếu sai bản
Trang 34chất của thuật ngữ Bởi Internet là mạng của các mạng, dưới nó còn rất nhiều loại mạng Gọi tắt như vậy sẽ không xác định rõ ràng ranh giới giữa khái niệm mạng và mạng Internet
Báo Internet cũng là thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi Cách gọi này
là sự kết hợp tên gọi của Internet với một tờ báo: Internet cung cấp không gian với đầy đủ tiện nghi cho một tờ báo hoạt động, lấy các khả năng ưu việt của Internet làm lợi thế và hoạt động đọc lập trên Internet Tuy nhiên cách gọi này cũng có hạn chế dễ gây nhầm lẫn: Tất cả các trang web có mặt trên Internet đều là báo mạng điện tử
Năm 2003, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã có cuộc thảo luận giữa các cán bộ nghiên cứu giảng dạy ngành truyền thông đại chúng và thống nhấ tên gọi là báo mạng điện tử
Trong cuốn Cơ sở lí luận báo chí, tác giả Nguyễn Văn Dững định nghĩa
“Báo mạng điện tử là loại hình báo chí - truyền thông tồn tại, phát triển mạng internet toàn cầu”
Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí mới nhưng tích hợp trong nó
là những ưu điểm vượt trội so với các loại hình báo chí truyền thống
Ở Việt Nam, thuật ngữ báo mạng điện tử được sử dụng khá phổ biến,
chẳng hạn báo Nhân dân điện tử, Lao động điện tử… ngoài ra còn nhiều người
gọi chúng bằng cái tên khác như: báo mạng, báo chí internet, báo trực tuyến… Báo điện tử hay báo mạng là loại báo mà người ta đọc nó trên máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng khi có kết nối internet (theo Wikipedia) Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí mới, có khả năng cung cấp thông tin sống động bằng chữ viết và âm thanh chỉ trong vài phút đến vài giây, với số trang không hạn chế
Trang 35Báo mạng điện tử là hình thức báo chí được sinh ra từ sự kết hợp những ưu thế của báo in, báo nói, báo hình, sử dụng yếu tố công nghệ cao như một nhân tố quyết định, qui trình sản xuất và truyền tải thông tin dựa trên nền tảng mạng Internet toàn cầu (Hoạt động tương tác trên báo mạng điện tử - Nguyễn Quang Huy)
Báo điện tử: “Online Newspaper” được dịch là báo điện tử hay báo trực tuyến Báo điện tử là một loại hình báo chí ra đời sau báo in, phát thanh, truyền hinh, báo ảnh, nhờ sự xuất hiện của Internet Khác với báo in, báo điện
tử tin tức được cập nhật thường xuyên, tin ngắn và thông tin có được từ nhiều nguồn khác nhau Nó cũng khác so với trang thông tin điện tử về tần suất cập nhật Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Trường Giang, “Báo điện tử” là khái niệm thông dụng nhất ở nước ta Nó gắn liền với tên gọi của nhiều tờ báo điện tử thuộc cơ quan báo in “Quê hương điện tử”, “Nhân dân điện tử”, “Lao động điện tử” Ngay trong các văn bản quy định của Nhà nước cũng dùng thuật ngữ “báo điện tử”
Ở Việt Nam, thuật ngữ “báo điện tử” đã được sử dụng trong Luật Báo chí năm 1992 Theo định nghĩa tại Luật này, “Báo điện tử là loại hình báo chí được thực hiện trên hệ thống máy tính” Thuật ngữ báo điện tử đang được sử dụng từ các thuật ngữ “Online newspaper’’ (báo trực tuyến), “Internet Newspaper” (báo Internet) hoặc “”Electronic Newspaper” (báo điện tử) Do quan niệm còn chưa hoàn toàn thống nhất, cả ba thuật ngữ tiếng Anh này vẫn được dùng song song trên các báo điện tử
“Báo điện tử là sự hội tụ báo giấy (text), báo tiếng (audio) và báo hình (video) Với báo điện tử, người đọc (lướt web) không chỉ cập nhật tin tức dưới dạng chữ viết mà còn có thể nghe phát thanh và xem truyền hình ngay trên các website báo chí Sự phát triển mạnh của công nghệ kết nối giúp đẩy
Trang 36nhanh tốc độ truyền tải, tăng số lượng mạnh mẽ của báo chí điện tử, tạo điều kiện cho độc giả tìm kiếm thông tin ngày càng dễ dàng hơn”
Từ điển Tin học định nghĩa báo điện tử là loại báo mà người ta có thể
đọc trên máy tính khi kết nối với đường truyền qua Internet qua modem
(dial-up hoặc ADSL) có dây hoặc không dây (Wi- Fi và Wimax)
Trong cuốn “Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản”, Tiến sĩ Nguyễn
Thị Trường Giang định nghĩa: Báo điện tử là một loại hình báo chí được xây dưng dưới hình thức một trang web và phát hành trên mạng Internet
Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm báo điện tử theo định nghĩa trong Điều 6, Chương 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 05 tháng 4 năm 2016 đề cập đến thuật ngữ : Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử
1.1.1.5 Đặc trưng, đặc điểm của loại hình báo điện tử
Việt Nam chính thức tham gia mạng thông tin toàn cầu năm 1997 và hiện nay đang phát triển với tốc độ chóng mặt Hiện nay, báo mạng điện tử ở Việt Nam có quy mô ngày càng lớn
“Báo mạng điện tử là kết quả của sự tích hợp giữa công nghệ, Internet
và ưu thế của các loại hình báo truyền thống đã tạo ra bước ngoặc, làm thay đổi cách truyền tin và tiếp nhận thông tin.” (TS Nguyễn Thị Trường Giang)
Từ đó báo điện tử tạo ra cho bản thân nó những nét đặc trưng riêng, tạo sự thu hút độc giả đến với mình
Báo điện tử có sự tổng hợp của công nghệ đa phương tiện Nghĩa là trên một tờ báo không những có văn bản, hình ảnh tĩnh động mà còn có âm thanh
Trang 37video và các tương tác khác Sự tích hợp này giúp cho báo mạng điện tử hấp dẫn hơn so với các loại hình báo chí khác
Báo điện tử cho phép cập nhật thông tin tức thời thường xuyên, liên tục
và có tính phi định kỳ Với tốc độ đường truyền nhanh, thậm chí các nhà báo
có thể đưa tin cùng lúc với sự kiện
Không chỉ nhất thời báo mạng điện tử còn cho phép nhà báo thường xuyên update thông tin Các nhà báo có thể đăng tải tin bất cứ lúc nào mà không bị cột vào múi giờ, chờ đến giờ lên khuôn, hay sắp xếp chương trình giống như các loại hình báo chí khác Chính những đặc điểm này cho ta thấy được tính phi định kỳ của báo mạng Đặc điểm này giúp báo mạng vượt trội hơn so với các loại hình báo chí khác về tốc độ thông tin, lượng thông tin, tính thời sự và sự thuận tiện cho độc giả
Báo điện tử còn có khả năng tương tác cao Không dừng lại ở sự tương tác giữa độc giả với tòa soạn, ở báo mạng điện tử, chúng ta còn có thể thấy sự tương tác nhiều chiều giữa độc giả với nhà báo, độc giả với độc giả, hay độc giả với nhân vật trong tác phẩm báo chí
Đặc trưng cuối cùng của báo điện tử đó là khả năng truyền thông tin không hạn chế Lượng lưu trữ thông tin trên báo mạng cũng là một lượng thông tin khổng lồ mà các loại hình báo chí khác không có được
Tuy có những ưu điểm vượt trội, song báo điện tử vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định như:
Để đọc được báo điện tử thì yêu cầu đầu tiên và tiên quyết nhất là độc giả phải có máy tính truy cập được mạng Và tất nhiên, không phải ai cũng có máy tính cá nhân để truy cập mạng đọc báo điện tử hàng giờ, hàng ngày Do
đó việc đọc báo mạng và sử dụng những tính năng ưu việt của nó cũng gặp rất nhiều hạn chế Đặc biệt, báo điện tử với tích hợp đa phương tiện yêu cầu sử
Trang 38dụng công nghệ hiện đại thì đối tượng tiếp nhận thông tin đa phần chỉ giới hạn trong độ tuổi thanh niên và trung niên (những người có thể sử dụng máy tính truy cập mạng) Trong khi các thể loại báo chí khác như truyền hình và phát thanh thì có phạm vi đối tượng rộng hơn, mà hầu hết là tất cả mọi người,
tất cả mọi lứa tuổi, trình độ học vấn
Vì chưa có chính sách thắt chặt an toàn thông tin với báo mạng nên thông tin trôi nổi và không được xác thực là rất nhiều Những tin giật gân, câu khách, không chính xác là hạn chế lớn nhất của báo mạng điện tử Nếu như phát thanh, truyền hình hay báo in có độ thông tin chính xác cao thì báo mạng lại hầu như thả trôi chuyện này Do đó, thông tin trên báo mạng chưa được bạn đọc tin tưởng so với các phương tiện truyền thông đại chúng khác
Mặt hạn chế tiếp theo là phạm vi thông tin của báo điện tử chỉ chủ yếu ở đồng bằng và những thành phố lớn Ở nông thôn và miền núi thì báo mạng điện tử còn chưa phát triển hay thực tế là chưa đến được với độc giả Nếu như phát thanh hay truyền hình đã có khả năng tiếp cận công chúng ở những vùng
xa xôi thì báo mạng điện tử còn gặp rất nhiều khó khăn
Với những điều kiện thuận lợi như hệ thống hạ tầng công nghệ đang được đầu tư mạnh mẽ, Đảng và Nhà nước đã có chính sách trong việc phát triển báo điện tử, loại hình báo chí mới mẻ này đang hứa hẹn phát triển và song song tồn tại với báo chí truyền thống, bổ sung cho những khiếm khuyết
mà các loại hình báo chí truyền thống chưa khắc phục được và khắc phục chính những nhược điểm còn tồn tại ở báo điện tử
Trang 391.2 Cơ sở thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu
1.2.1 Tổng quan về tình hình dịch bệnh truyền nhiễm
* Trên thế giới
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong những thập kỷ cuối của thế kỷ 20, có hơn 30 bệnh truyền nhiễm trước đây chưa từng biết hoặc những bệnh được kiểm soát tốt đã xuất hiện và tái xuất hiện với những hậu quả nghiêm trọng Trong những bệnh đó, HIV/AIDS có tác động lớn nhất Sốt xuất huyết vi rút bao gồm: Ebola, Marburg, Crimean-Congo, sốt vàng da, West Nile và Dengue Các vi rút nghiêm trọng khác bao gồm: poliomyelitis (vi rút gây bại liệt), Conronavirus SARS, và cúm A Một dịch nhỏ biến thể mới của bệnh Creutzfeldt-Jakob ở người đã xảy ra tiếp theo một
vụ dịch bệnh bò điên ở gia súc (bonvine spongiform encephalopathy) Trong
số các bệnh do vi khuẩn gây ra, bệnh than, bệnh tả, thương hàn, dịch hạch, borelliosis, brucellosis (bệnh gây ra cho trâu bò), Buruli ulcer là những bệnh cho thấy rất khó kiểm soát Về mặt gánh nặng bệnh tật, sốt rét dẫn đầu các bệnh do ký sinh trùng gây ra, nhưng các bệnh trùng mũi khoan (trypanosomiasis), leishmaniasis và dracunculiasis cũng đang thách thức những nỗ lực thanh toán chúng
Ước tính gánh nặng bệnh truyền nhiễm toàn cầu đứng đầu là HIV/AIDS, lao và sốt rét Các bệnh như sốt xuất huyết vi rút, bệnh Creutzfeld-Jakob và Hội chứng hô hấp cấp nặng (SARS), cũng như những bệnh tái xuất hiện bao gồm bạch hầu, sốt vàng da, bệnh than, dịch hạch, sốt dengue và cúm đã làm tăng gánh nặng lên hệ thống chăm sóc sức khỏe, đặc biệt ở những nước có thu nhập thấp Các bệnh truyền nhiễm chiếm đến 14,2 triệu cái chết trong một năm Khoảng 3,3 triệu trường hợp tử vong khác có liên quan với các điều kiện khi mang thai và làm mẹ và thiếu dinh dưỡng Tổng hợp lại các vấn đề trên chiếm
Trang 40đến 30% ca tử vong trên toàn thế giới và 39% gánh nặng về khuyết tật trên toàn cầu Sáu nguyên nhân chịu trách nhiệm cho gần một nửa số trường hợp chết non, chủ yếu là ở trẻ em và người trẻ tuổi và chịu trách cho gần 80% trong tổng số tử vong do các bệnh truyền nhiễm là: Nhiễm khuẩn đường hô hấp (3,76 triệu) HIV/AIDS (2,8 triệu) Các bệnh tiêu chảy (1,7 triệu) Lao (1,6 triệu) Sốt rét (1 triệu) Sởi (0,8 triệu)(WHO) Hầu hết các trường hợp tử vong xảy ra ở các nước có thu nhập thấp Các bệnh truyền nhiễm đang đặt ra một mối đe dọa khẩn cấp tới sức khỏe cá nhân và có khả năng đe dọa sự an toàn của nhiều người Trong khi các nước có thu nhập thấp vấn phải đương đầu với những vấn đề bệnh truyền nhiễm, thì tại các nước có thu nhập cao, tử vong do các bệnh mãn tính cũng đang tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là ở các
đô thị Mặc dù các nước có thu nhập cao có tỷ lệ tử vong do các bệnh truyền nhiễm thấp hơn một cách đáng kể, nhưng những nước này vẫn phải chi phí cho một tỷ lệ lớn người mắc một số bệnh truyền nhiễm
Ví dụ ở các nước có thu nhập cao thì các nhiễm khuẩn đường hô hấp trên gây ra tử vong đáng kể chỉ ở trẻ em và người già
Ngày nay nhờ sự phát triển của khoa học nói chung và y học nói riêng, nhiều bệnh truyền nhiễm đã được đẩy lùi, có những bệnh vĩnh viễn bị xoá bỏ (như bệnh đậu mùa) Tuy vậy, một số bệnh truyền nhiễm còn lan tràn và còn
là mối đe doạ cho nhân loại như bệnh sốt rét, viêm gan virut, sốt xuất huyết Dengue, sốt xuất huyết do virut Ebola, nhiễm HIV/AIDS Một số mầm bệnh trong quá trình phát triển đột biến gây nên những trạng tháI bệnh lý mới, rất nặng và khó chẩn đoán (SARS, cúm A H5N1- ); gần đây nhất là sự bùng phát của dịch bệnh do virut Zika…