1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thị xã quảng yên từ năm 1883 đến nay

206 178 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 4,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với một bề dày truyền thống và vai trò quan trọng trong lịch sử như vậy, nhưng trong suốt một thời gian dài kể từ sau giải phóng, do sự dịch chuyển trung tâm chính trị - văn hóa - xã hội

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

_

PHẠM THỊ THU HÀ

THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỪ NĂM 1883 ĐẾN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VIỆT NAM HỌC

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

_

PHẠM THỊ THU HÀ

THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỪ NĂM 1883 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Việt Nam học

Mã số: 62220113

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VIỆT NAM HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS TS Phan Phương Thảo

2 PGS TS Hoàng Anh Tuấn

HÀ NỘI – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả của luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

Hà Nội, tháng 12 năm 2016

Tác giả luận án

NCS Phạm Thị Thu Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận án này, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phan Phương Thảo, PGS.TS Hoàng Anh Tuấn Thầy cô không chỉ hướng dẫn khoa học mà còn luôn động viên, khuyến khích tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới tập thể giảng viên, cán bộ của Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển đã tận tình giúp đỡ tôi về chuyên môn trong quá trình tôi làm Nghiên cứu sinh

Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ, người dân thị xã Quảng Yên đã cung cấp nhiều tài liệu và tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành luận án này

Cuối cùng, xin gửi lời tri ân tới gia đình, bè bạn, những người luôn bên cạnh động viên, khích lệ, sẻ chia, gánh vác công việc để tôi có thể hoàn thành nhiệm vụ khoa học của mình

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất của tôi!

Tác giả luận án Phạm Thị Thu Hà

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VẼ 5

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9

4 Nguồn tư liệu 10

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 12

6 Đóng góp của luận án 12

7 Bố cục của luận án 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 14

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 14

1.2 Cơ sở lí thuyết 20

1.2.1 Một số khái niệm 20

1.2.2 Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 23

1.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 25

1.3.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 25

1.3.2 Cư dân thị xã Quảng Yên 38

Tiểu kết chương 1 48

CHƯƠNG 2 THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỪ NĂM 1883 ĐẾN 1955 50

2.1 Những điều kiện lịch sử tác động đến sự phát triển của thị xã Quảng Yên từ năm 1883 đến 1955 50

2.2 Những chuyển biến của thị xã Quảng Yên thời kì 1883-1955 55

2.2.1 Về bộ máy chính quyền 56

Trang 6

2.2.3 Về kinh tế 63

2.2.4 Về văn hóa - xã hội 73

Tiểu kết chương 2 79

CHƯƠNG 3 THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỪ NĂM 1955 ĐẾN 2015 81

3.1 Những điều kiện lịch sử tác động đến sự phát triển của thị xã Quảng Yên từ năm 1955 đến 2015 81

3.2 Những chuyển biến của thị xã Quảng Yên từ năm 1955 đến 2015 85

3.2.1 Về bộ máy chính quyền 85

3.2.2 Về xây dựng đô thị 88

3.2.3 Về kinh tế 89

3.2.4 Về văn hóa - xã hội 106

Tiểu kết chương 3 117

CHƯƠNG 4 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG THỊ XÃ QUẢNG YÊN 119

4.1 Định hướng phát triển thị xã Quảng Yên theo các quy hoạch của quốc gia, vùng và địa phương 119

4.2 Những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển của thị xã Quảng Yên 127

4.2.1 Vấn đề thể chế và quy hoạch 127

4.2.2 Vấn đề kinh tế 128

4.2.3 Vấn đề xã hội 128

4.2.4 Vấn đề môi trường 129

4.3 Đề xuất giải pháp phát triển bền vững thị xã Quảng Yên 130

4.3.1 Giải pháp về thể chế và quy hoạch 130

4.3.2 Giải pháp về kinh tế 133

4.3.3 Giải pháp về xã hội 138

4.3.4 Giải pháp về môi trường 140

Tiểu kết chương 4 142

KẾT LUẬN 143

Trang 7

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 148 TÀI LIỆU THAM KHẢO 149

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNH-HĐH: Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa KT-XH: Kinh tế - xã hội

NXB: Nhà xuất bản CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa UBND: Uỷ ban nhân dân

TTLTQG: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia GS: Giáo sư

PGS: Phó giáo sư TS: Tiến sĩ

TSKH: Tiến sĩ khoa học

Trang 9

Bảng 2.1b Năng suất lúa trung bình 1 mẫu trên một vụ ở Yên Hưng

năm 1897 (quy đổi)

Bảng 3.4 Diện tích, dân số, mật độ dân số năm 2014 của thị xã Quảng

Yên phân theo phường, xã

102

Bảng 3.5 Tỉ suất chết, tăng dân số tự nhiên và tỉ lệ sinh con thứ 3 trở

lên trên địa bàn thị xã Quảng Yên

Hình 3.1 Tình hình phát triển kinh tế xã hội thị xã Quảng Yên năm

2012

98

Trang 10

Hình 4.1 Sơ đồ vị trí thị xã Quảng Yên và mối quan hệ liên vùng 121 Hình 4.2 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội thị xã Quảng Yên theo

lãnh thổ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

123

Hình 4.3 Bản đồ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội thị xã

Quảng Yên đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

126

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thị xã Quảng Yên (tỉnh Quảng Ninh) đã từng có vai trò là trung tâm của một vùng lãnh thổ biên ải rộng lớn ở Đông Bắc Tổ quốc và là vùng đất có truyền thống văn hóa - lịch sử lâu đời Thời phong kiến, nơi đây đã tồn tại đô thị Quảng Yên - là một trong số ít những đô thị cổ của Quảng Ninh, những đô thị cổ khác

là Vân Đồn, Móng Cái - Vạn Ninh Trong khi Vân Đồn, Móng Cái - Vạn Ninh đơn thuần là đô thị - bến cảng phục vụ nhu cầu trao đổi hàng hóa thì Quảng Yên vừa là trung tâm thương mại, vừa là thủ phủ của một vùng Trong một thời gian dài, Quảng Yên từng là trung tâm chính trị của một vùng đất rộng lớn từ Móng Cái đến sông Bạch Đằng Sau đó, thời Pháp thuộc, quá trình cai trị cuả thực dân Pháp đã làm cho Quảng Yên biến đổi dần từ một đô thị cổ phong kiến thành một

đô thị thuộc địa Có thể nói, đô thị Quảng Yên thời thuộc địa chính là một trong những đô thị điển hình của khu vực Bắc Kì

Với một bề dày truyền thống và vai trò quan trọng trong lịch sử như vậy, nhưng trong suốt một thời gian dài kể từ sau giải phóng, do sự dịch chuyển trung tâm chính trị - văn hóa - xã hội của tỉnh Quảng Ninh mà trong suốt một thời gian dài, Quảng Yên hầu như đã bị lu mờ trong bức tranh phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc nói chung Tuy nhiên trong những năm gần đây, Quảng Yên đã có bước tăng trưởng khá tương xứng với tiềm năng và có sự hoà nhập về định hướng phát triển không gian đô thị, kinh tế, xã hội, văn hoá với Hạ Long và thành phố Hải Phòng Với những lợi thế về vị trí địa lý, quỹ đất, quỹ không gian, quỹ môi trường sinh thái, du lịch, các tuyến và công trình đầu mối của quốc gia đã và đang hình thành; quỹ nhân lực và tài nguyên giàu có… Quảng Yên chứa đựng nhiều tiềm năng để phát triển nhanh và bền vững, có thể liên kết không gian kinh tế với các thành phố Hạ Long, Hải Phòng để tạo thành trục kinh tế động lực ven biển Hải Phòng - Quảng

Trang 12

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn những khoảng trống chưa được nghiên cứu và cả những vấn đề cần được nghiên cứu, đánh giá lại đối với đô thị Quảng

Yên Do đó, trước đây tôi đã chọn đề tài “Đô thị Quảng Yên - quá trình hình

thành, thực trạng và định hướng phát triển” làm luận văn thạc sĩ Trên cơ sở

những nghiên cứu bước đầu của luận văn Thạc sĩ, tôi quyết định tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về thị xã Quảng Yên trong khuôn khổ luận án Tiến sĩ, với mong muốn có được một cái nhìn sâu sắc, toàn diện về khu vực này, đồng thời có sự đối sánh với những vùng xung quanh trong cái nhìn toàn cục khu vực Đông Bắc của Tổ quốc

Nghiên cứu về đô thị nói chung và lịch sử đô thị ở Việt Nam vẫn chưa nhiều Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi nước ta đang tiến nhanh trên con đường hội nhập và đô thị hóa thì việc có thêm những nghiên cứu về đô thị và lịch sử đô thị lại càng có ý nghĩa thực tiễn đặc biệt quan trọng Do đó, việc đặt vấn đề tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo định hướng khu vực học để nghiên cứu toàn diện về thị xã Quảng Yên là nhằm góp thêm cơ sở cho việc kế thừa những mặt tích cực và hợp lý của đô thị trong lịch sử, đồng thời khắc phục những mặt hạn chế của việc quản lý đô thị đương thời để xây dựng một đô thị phát triển bền vững

Vì những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Thị xã Quảng Yên từ năm

1883 đến nay” làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Việt Nam học

2 Mục đích, nhiệm vụ của nghiên cứu

2.1 Mục đích

Luận án “Thị xã Quảng Yên từ năm 1883 đến nay” hướng đến những mục

đích nghiên cứu chính sau đây:

Thứ nhất: Phác họa bức tranh toàn cảnh về các phương diện hành chính, kinh tế, văn hóa và xã hội của Quảng Yên trong hơn một thế kỉ qua

Trang 13

Thứ hai: Làm rõ hơn vai trò của Quảng Yên trong lịch sử; đánh giá vị trí, vai trò quan trọng của Quảng Yên trong phát triển kinh tế xã hội của vành đai kinh tế biển và tam giác kinh tế phía bắc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh

Thứ ba: Nghiên cứu cụ thể về chính sách và hoạt động quản lý đô thị của Quảng Yên để từ đó có thể đưa ra một số đề xuất, kiến nghị và những giải pháp xây dựng một đô thị Quảng Yên hiện đại, phát triển bền vững

Thứ ba: Nghiên cứu phải có giá trị tư vấn, phản biện chính sách, trực tiếp

có những đóng góp vào chiến lược phát triển bền vững của khu vực

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình phát triển với tư cách là một không gian lịch sử - văn hóa của thị xã Quảng Yên từ năm 1883 đến 2015 theo các phương diện chủ yếu như: thể chế; xây dựng đô thị; hoạt động kinh tế,

xã hội, văn hóa

3.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Về không gian: Không gian nghiên cứu của luận án là không gian lịch

sử - văn hóa Quảng Yên với trung tâm là thị xã Quảng Yên hiện nay Quảng Yên

là thị xã ven biển nằm ở phía đông nam của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích tự nhiên 314,2km2 Vị trí toạ độ từ 20045’06” đến 21002’09” độ vĩ Bắc và từ

106045’30”đến 10600’59” độ kinh Đông Phía Bắc giáp thành phố Uông Bí và huyện Hoành Bồ Phía Nam giáp đảo Cát Hải và cửa Nam Triệu Phía đông giáp thành phố Hạ Long Phía tây giáp huyện Thủy Nguyên của thành phố Hải Phòng Thị xã Quảng Yên gồm 19 đơn vị hành chính xã, phường, trong đó khu vực nội thị bao gồm các phường Quảng Yên, Yên Giang, Cộng Hoà, Đông Mai, Minh Thành, Hà An, Tân An, Nam Hoà, Yên Hải, Phong Cốc, Phong Hải Khu vực ngoại thị gồm các xã Tiền An, Sông Khoai, Hiệp Hoà, Hoàng Tân, Cẩm La, Liên

Trang 14

Trong từng giai đoạn cụ thể, thuật ngữ “thị xã Quảng Yên” sẽ được thay thế bằng những tên gọi tương ứng được sử dụng trong các văn bản hành chính của chính quyền đương thời Trong một số nội dung cụ thể, phạm vi nghiên cứu

có thể được mở rộng ra các khu vực lân cận hoặc trong địa bàn tỉnh Quảng Ninh

để thấy được mối liên hệ giữa đô thị Quảng Yên với các khu vực này

+ Về thời gian: Luận án có khung thời gian chính từ năm 1883 (từ khi

Pháp chiếm thành tỉnh Quảng Yên) cho đến nay (năm 2015) Tuy nhiên, để đảm bảo tính liên tục cũng như cái nhìn tổng thể, đối sánh, thời gian nghiên cứu của luận án có sự mở rộng cả về thời kì trước đó, hoặc kéo dài về sau (phần định hướng phát triển)

4 Nguồn tƣ liệu

Nguồn tư liệu thứ nhất, là các thư tịch cổ, các tài liệu viết về Quảng Yên

trong thời kì phong kiến, gồm các bộ chính sử như: Đại Việt sử kí toàn thư, Đại

Nam thực lục…; sách địa chí như Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Đại Nam nhất thống chí (tỉnh Quảng Yên), Đồng Khánh địa dư chí lược (tỉnh Quảng Yên) ;

các địa bạ lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Căn cứ vào các công trình này, có thể phác họa được lịch sử hình thành cũng như phát triển của Quảng Yên trong thời kì phong kiến

Nguồn tư liệu thứ hai, là các ghi chép bằng tiếng Pháp về Quảng Yên như

Notice sur la province de Quang Yen (Tiểu dẫn về tỉnh Quảng Yên năm 1932)

trình bày về vị trí, giới hạn, điều kiện tự nhiên – xã hội; tình hình chính trị, giáo

dục, y tế, giao thông, kinh tế của Quảng Yên; A.S d’une notice descritive de

Quang Yen (Về bản chỉ dẫn địa hình của tỉnh Quảng Yên); A.S de la situation de

la sureté à Quang Yen (Về tình hình an ninh ở Quảng Yên); A.S des digues de la province de Quang Yen (Về đê điều của tỉnh Quảng Yên); Approvisionnement en timbres de la perception de Quang Yen en 1905 (Cung cấp tem thuế của Quảng

Yên năm 1905); Etat sanitaire à Quang Yen (Tình hình y tế tại Quảng Yên); La

Métallurgie du Zinc au Tonkin viết về nhà máy kẽm Quảng Yên (1921); cùng

một số tài liệu khác nói về cảng ở Quảng Yên – Hải Phòng; các bản đồ Quảng Yên thời kì Pháp thuộc… Bên cạnh đó là các văn bản hành chính của chính

Trang 15

quyền thuộc địa (sắc lệnh, nghị định, công văn, thư từ trao đổi, báo cáo, chỉ thị, hợp đồng ); các tài liệu thống kê, bản đồ Nguồn tư liệu này hiện được lưu trữ tại các trung tâm lưu trữ, các thư viện trung ương và địa phương Đây là nguồn

tư liệu đa dạng, phong phú, cung cấp thông tin về về nhiều lĩnh vực của Quảng Yên trong thời kì thuộc địa Nguồn tư liệu này hiện nay cũng chưa được giới nghiên cứu khai thác nhiều

Nguồn tư liệu thứ ba, là các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước,

hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh có liên quan đến các vấn đề phát triển đô thị, kinh tế, xã hội Bên cạnh đó là các văn bản, báo cáo, quy hoạch, các tài liệu thống kê của địa phương qua các năm Nguồn tư liệu này cung cấp cho luận án các thông tin, số liệu thực tế của Quảng Yên qua các năm, đồng thời cho thấy vị thế của Quảng Yên trong góc độ quan tâm của chính quyền tỉnh Quảng Ninh tại các thời kì, các giai đoạn phát triển

Nguồn tư liệu thứ tư là các tài liệu thu thập được trong quá trình điền dã tại địa phương, bao gồm cả tài liệu chữ viết, tài liệu truyền miệng và tài liệu vật chất Về tài liệu chữ viết, hiện nay ở thị xã Quảng Yên còn lưu giữ được nhiều thư tịch cổ như sắc phong, hương ước cổ, kết hợp với những tài liệu như văn bia, câu đối, đại tự, gia phả của các dòng họ… Các tư liệu này được lưu giữ và bảo tồn khá tốt Về tài liệu vật chất, chủ yếu dựa trên các hiện vật như các công trình kiến trúc đền, chùa, miếu, nhà thờ họ, di tích cách mạng, nhà ở… Tất cả các công trình đó đều là căn cứ để chúng tôi tìm hiểu về thị xã Quảng Yên quá khứ cũng như hiện tại Về tài liệu truyền miệng, có các truyền thuyết dân gian, các làn điệu dân ca, các cách thức làm nghề thủ công truyền thống… được sưu tập trong quá trình điền dã tại địa phương Các tư liệu này được bổ sung làm cho nghiên cứu của chúng tôi được toàn diện hơn

Tất cả các tài liệu trên đều được so sánh, đối chiếu và kiểm chứng trên thực tế, đồng thời có sự tham vấn của các chuyên gia cả ở trung ương và địa phương

Trang 16

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng cách tiếp cận liên ngành để nhận diện một cách tổng quan, chính xác, khách quan về đặc trưng kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội của thị xã Quảng Yên Cách tiếp cận liên ngành sẽ đặt thị xã Quảng Yên trong mối tương tác, quan hệ đa chiều với địa lý - tự nhiên, môi trường - sinh thái, lịch

sử - xã hội… Đây là cách tiếp cận của khu vực học Cách tiếp cận này sẽ góp phần làm rõ diện mạo, tính chất, tiềm năng của đô thị hiện tại, trên cơ sở đó vạch

ra định hướng phát triển bền vững cho thị xã Quảng Yên trong những giai đoạn tiếp theo

Luận án chủ yếu sử dụng các phương pháp: liên ngành, điền dã, thống kê, phân tích, tổng hợp Ngoài ra, trong từng nội dung cụ thể, luận án còn kết hợp sử dụng các phương pháp so sánh, định tính, định lượng… để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

- Luận án góp phần nghiên cứu về Quảng Yên theo cách tiếp cận khu vực học và làm phong phú thêm những nghiên cứu về các khu vực/vùng trên lãnh thổ Việt Nam theo cách tiếp cận mới này Nội dung luận án và hệ thống tư liệu tham khảo được sưu tầm trong quá trình nghiên cứu sẽ là nguồn tài liệu có giá trị phục

vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy Đồng thời, thông qua kết quả nghiên cứu, luận án cũng góp phần giáo dục truyền thống yêu quê hương đất nước cho các thế hệ nhân dân Quảng Yên nói riêng và tỉnh Quảng Ninh nói chung

Trang 17

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án

“Thị xã Quảng Yên từ năm 1883 đến nay” bao gồm 4 chương, với nội dung

chính như sau:

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu, cơ sở lí thuyết và địa bàn nghiên cứu

Chương 2: Thị xã Quảng Yên từ năm 1883 đến 1955

Chương 3: Thị xã Quảng Yên từ năm 1955 đến 2015

Chương 4: Một số giải pháp phát triển bền vững thị xã Quảng Yên

Trang 18

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ

THUYẾT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Quảng Yên là một vùng đất có bề dày lịch sử và có ý nghĩa lớn về quốc phòng an ninh, nên từ lâu đã có các công trình của các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về vùng đất này, mặc dù số lượng thưa thớt, không nhiều, và cũng chưa có công trình nào nghiên cứu về Quảng Yên tiếp cận theo góc độ Khu vực học, mà mới chỉ tồn tại những nghiên cứu về từng mặt, từng vấn đề của Quảng Yên Trên bình diện đó, có thể tổng quan tình hình nghiên cứu về các vấn

đề có liên quan đến đề tài của Luận án như sau:

Quảng Yên đã được nghiên cứu sơ lược trong một số công trình của người phương Tây cuối thế kỉ XVII Mặc dù xuất phát từ những mục đích chính trị, những ý định về quân sự, kinh tế, nhưng họ đã có những tìm hiểu khám phá cụ thể về địa hình, địa mạo nơi đây, đặc biệt là những tìm hiểu về đường bờ biển,

cửa sông và hệ thống đường sông Trong đó, có thể kể đến Một chuyến du hành

đến Đàng Ngoài của William Dampier năm 1688 [152] Theo Dampier, trong số

8 tỉnh chính của xứ Đàng Ngoài (bao gồm các tỉnh Đông, Tây, Nam, Bắc, Kẻ

Chợ, Tenan, Teneboa và Ngeam), vùng Yên Quảng “là xứ duyên hải, diện tích

lớn, đất đai rất trũng, phần lớn là cù lao, nhất là miền phía đông nam giáp biển, biển xâm thực vào trong tạo thành một cái vịnh, tập trung nhiều dân chài sống ở gần biển, sản phẩm nhiều nhất là gạo” [152, tr.106] Sang thế kỷ XVIII, giáo

sĩ Richard trong Lịch sử tự nhiên, dân sự và chính trị xứ Đàng Ngoài cũng nghiên cứu sơ lược 11 trấn của vương quốc Đàng Ngoài, trong đó “trấn Yen

Quàng (Yên Quảng) là một phần của trấn Đông, dẫu cho nó có một cái tên hoàn toàn riêng biệt” [53] Nghiên cứu này không chỉ giúp hình dung về Quảng

Yên thế kỉ XVII, XVIII mà còn góp phần giải thích vì sao Pháp lại quyết định chọn Quảng Yên để xây dựng đô thị

Trang 19

Sau đó, thời Pháp thuộc, quá trình cai trị cuả thực dân Pháp đã làm cho Quảng Yên biến đổi dần từ một đô thị phong kiến thành một đô thị thuộc địa Có thể nói, đô thị Quảng Yên thời thuộc địa chính là một trong những đô thị điển hình của khu vực Bắc Kì Về vấn đề này, đã có một số tác phẩm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập ít nhiều trên những khía cạnh và từ những góc độ khác nhau

Cuối thế kỉ XIX, xuất phát từ yêu cầu của công cuộc cai trị và khai thác thuộc địa, đã có một số nghiên cứu của các học giả người Pháp, tiêu biểu nhất là

“La question des ports du Tonkin: Hải Phòng, Quảng Yên, Hòn Gai” (Vấn đề ở

cảng bắc Kỳ: Hải Phòng, Quảng Yên, Hòn Gai) của tác giả J Renaud năm 1886,

in trong “Bulletin de la Société des études géogaphiques de l’Indochine” (Tập

san của Hội nghiên cứu địa lý Đông Dương), trong đó tác giả đã phân tích rõ trong tương quan so sánh lợi thế cũng như hạn chế của 3 địa phương trên, làm cơ

sở để chính quyền lựa chọn vị trí xây dựng cảng chính

Sang thế kỉ XX, Quảng Yên đã được Pháp xây dựng thành một đô thị chức năng, do đó các tài liệu nghiên cứu về vùng đất này, chủ yếu được tiến hành bởi các quan chức (người Pháp và người Việt) của chính quyền thuộc địa

tại Quảng Yên, có thể kể đến “Notice sur la province de Quang Yen” (Tiểu dẫn

về tỉnh Quảng Yên) năm 1932 của Công sứ tỉnh Quảng Yên [166] Nội dung bản

Tiểu dẫn đã thể hiện những kết quả nghiên cứu khá kĩ về tỉnh Quảng Yên trên nhiều phương diện về vị trí, giới hạn, điều kiện tự nhiên – xã hội; tình hình chính trị, giáo dục, y tế, giao thông, kinh tế của Quảng Yên Một công trình khác là

Notice sur la province de Quang yen établie par un mandarin provincial, le Bo Chanh (Tiểu dẫn về tỉnh Quảng Yên do quan Bố Chánh lập) [167] cũng nghiên

cứu về đặc điểm hành chính, những nét nổi bật của địa phương và các điều kiện phát triển kinh tế

Luận án tiến sĩ của Gilles Raffi người Pháp: “Hải Phòng – nguồn gốc,

Trang 20

của người nước ngoài về đô thị ở khu vực phía Bắc Việt Nam Quảng Yên đã được đề cập đến thông qua quá trình tác giả tóm lược diễn biến của “Cuộc thảo luận về địa điểm xây dựng cảng lớn ở Bắc Kì” của người Pháp Tác giả đã trình bày rõ nét trong luận án những ý kiến của các nhà nghiên cứu, nhà quân sự người Pháp về tương quan so sánh vị thế địa lý của các cửa cảng Bắc Kì (Quảng Yên, Hải Phòng, Đồ Sơn, Hòn Gai) để lựa chọn địa điểm thích hợp xây dựng cảng lớn

Sau năm 1945, do những biến động của tình hình đất nước, đã có một thời gian khá dài ít có những nghiên cứu về tình hình Quảng Yên Từ cuối những năm 80 của thế kỉ XX trở lại đây, công tác nghiên cứu và biên soạn lịch sử của tỉnh Quảng Ninh nói chung và Quảng Yên nói riêng mới được quan tâm và chú trọng hơn nên đã có thêm những công trình nghiên cứu về Quảng Yên được xuất bản Có thể kể tới một số công trình nghiên cứu sau:

Năm 1986, Ban chấp hành Đảng bộ huyện Yên Hưng đã xuất bản cuốn

“Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Yên Hưng 1930 - 1986” (2

tập) Đến năm 2002 Ban chấp hành Đảng bộ huyện Yên Hưng xuất bản cuốn

“Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam huyện Yên Hưng (1930-2000)”

Ngoài nội dung chính phản ánh về các phong trào đấu tranh cách mạng và phong trào công nhân, các tác phẩm này đều dành một phần khái quát về sự ra đời, các giai đoạn phát triển của huyện Yên Hưng (thị xã Quảng Yên ngày nay); chính sách cai trị, bóc lột của chính quyền phong kiến, thực dân; chính sách của chính quyền cộng sản và đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân nơi đây thời kì từ trước cách mạng tháng Tám đến năm 2000 Đây là những tác phẩm đầu tiên chứa đựng những thông tin, sự kiện phản ánh tương đối cụ thể và toàn diện về tình hình Quảng Yên từ khi thành lập Đảng cho đến thời điểm năm 2000

Vùng đất Quảng Yên gắn liền với chiến thắng Bạch Đằng lịch sử đã được

ghi lại trong nhiều công trình nghiên cứu, tiêu biểu là cuốn “Chiến thắng Bạch

Đằng 938 và 1288” (Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc, 1988)

Trang 21

[64] Cuốn sách đã trình bày diễn biến hai chiến thắng trên sông Bạch Đằng trong lịch sử Việt Nam: chống quân Nam Hán năm 938 và chống quân Nguyên năm 1288 Nghiên cứu cũng đã làm sáng tỏ vai trò, vị trí trọng yếu của vùng đất cửa sông Bạch Đằng đối với đất nước

Về vấn đề ruộng đất, kinh tế nông nghiệp của thị xã Quảng Yên từ đầu thế

kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX đã có một số công trình được công bố Có thể kể đến

bài “Thông báo về cuộc điều tra, nghiên cứu các làng xã thuộc khu Hà Nam, tỉnh

Quảng Yên” của hai tác giả Huy Vu, Trần Lâm, in trong Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, tập 1, Nxb KHXH Hà Nội, 1977, tr 354-371 Trong bài viết này,

các tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề của làng xã khu Hà Nam: phương thức khai hoang lập làng, tình hình ruộng đất, hệ thống nghề phụ, tổ chức bộ máy hành chính… Tuy nhiên, như nhan đề bài viết “Thông báo về cuộc điều tra…”, các vấn đề nói trên được trình bày sơ lược, có tính chất của những phác thảo Năm 1999, tác giả Bùi Việt Hùng đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ chuyên

ngành lịch sử Việt Nam cổ đại và trung đại với đề tài “Tình hình ruộng đất và

kinh tế nông nghiệp huyện Yên Hưng từ đầu thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX” [49]

Không gian nghiên cứu của luận án là huyện Yên Hưng trùng khớp với địa giới hành chính của thị xã Quảng Yên ngày nay Dựa trên nguồn tư liệu địa bạ, hương ước và văn bia, cùng với các tài liệu điền dã, luận án đã nêu lên những nét chính về sở hữu ruộng đất của huyện Yên Hưng ở các thời điểm 1805, 1837-

1838, 1901: các bộ phận hợp thành, đặc điểm, quy mô sở hữu, nguyên nhân tồn tại cũng như ảnh hưởng của chúng đối với các quan hệ cộng đồng làng xã, giữa các cộng đồng làng xã với nhau, và giữa làng xã với Nhà nước Luận án là công trình đầu tiên tập hợp một cách có hệ thống các nguồn tài liệu và các kết quả nghiên cứu về tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp của huyện Yên Hưng giai đoạn từ đầu thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX Đồng thời, tác giả cũng đã phân tích một cách có hệ thống và đưa ra một số nhận xét về đặc điểm tình hình sở

Trang 22

một số địa bàn khai hoang lấn biển vùng ven biển Bắc Bộ, hoặc địa bàn trung tâm đồng bằng Bắc Bộ

Năm 2000, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy – Hội đồng nhân dân - Ủy ban

nhân dân tỉnh Quảng Ninh, bộ sách Địa chí Quảng Ninh [113-115] gồm 3 tập đã

được xuất bản Đây là công trình tập thể của các nhà khoa học từ các viện, các trường đại học, các cơ quan nghiên cứu, quản lý ở trung ương, và các nhà khoa

học địa phương Địa chí Quảng Ninh là một công trình khoa học tổng hợp, là

kho tri thức bách khoa về tỉnh Quảng Ninh Trong bộ sách này, phần nghiên cứu

về thị xã Quảng Yên chỉ chiếm dung lượng rất nhỏ, mang tính khái quát, sơ lược song cũng là những thông tin rất cần thiết để tham khảo cho luận án

Các nghiên cứu của tác giả Lê Đồng Sơn – với vai trò là trưởng phòng Văn hóa huyện Yên Hưng – đã tập hợp và hệ thống các tư liệu về di tích văn hóa – lịch sử, cũng như các phong tục tập quán độc đáo nhằm bảo tồn vốn văn hóa lâu đời của địa phương Bên cạnh đó, tác giả cũng đã dày công nghiên cứu về lịch sử hình thành các làng xã của huyện Yên Hưng và trấn lỵ Quảng Yên, thể

hiện qua hai tác phẩm: Văn hoá Yên Hưng - lịch sử hình thành và phát triển (Lê Đồng Sơn chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia 2008) [100] và Văn hoá Yên Hưng

– di tích văn bia, câu đối, đại tự (Lê Đồng Sơn chủ biên, NXB Chính trị Quốc

gia 2008) [101]

Cuốn sách “Đô thị Quảng Yên - truyền thống và định hướng phát triển”

[144] (Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, NXB Thế giới 2011) gồm 27 bài viết của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau, nằm

trong hội thảo khoa học “Đô thị Quảng Yên - truyền thống và định hướng phát

triển” do Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Hội khoa học lịch sử Việt Nam,

Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển đồng tổ chức Các bài viết đã phân tích khá sâu các vấn đề về lịch sử, văn hóa cũng như các điều kiện và nguồn lực

tự nhiên, kinh tế, xã hội cho phát triển đô thị Tuy nhiên, do Hội thảo được tổ chức với mục đích kỉ niệm 210 năm thành lập trấn lỵ Quảng Yên và phục vụ cho

Trang 23

việc công nhận thị trấn Quảng Yên là đô thị loại IV nên phần lớn các bài viết tập trung nghiên cứu về thị trấn Quảng Yên (nay là phường Quảng Yên, thuộc thị xã Quảng Yên) chứ không nghiên cứu toàn diện về thị xã Quảng Yên ngày nay Vì vậy, xét trên cả hai phương diện thời gian và không gian, nghiên cứu trên không trùng với đề tài luận án

Bên cạnh những nghiên cứu về Quảng Yên thì một số công trình nghiên cứu khác về lịch sử đô thị cũng đã giúp tác giả luận án lựa chọn được cách tiếp cận phù hợp nhất khi nghiên cứu Quảng Yên với tư cách là một khu vực

Bộ sách “Lịch sử Thăng Long – Hà Nội” [65] do Phan Huy Lê chủ biên đã

được biên soạn theo một quan điểm mang tính hiện đại trên cơ sở phát triển của lịch sử xã hội và quan điểm về tính toàn bộ và toàn diện của lịch sử Quan điểm này nhìn lịch sử Thăng Long – Hà Nội không phải chỉ là lịch sử chính trị, lịch sử của các vương triều hay bộ máy chính quyền, mà bên cạnh vai trò rất quan trọng của nhà nước, còn phải làm thế nào để phản ánh được đời sống của cộng đồng cư dân Thăng Long - Hà Nội, nhất là vai trò của các tầng lớp thị dân như thợ thủ công, thương nhân, vai trò của các phố, phường, bến cảng, vốn là đặc trưng của Thăng Long - Hà Nội mà các tỉnh thành khác không có hoặc chỉ có được phần nào Đây cũng chính là một hướng tiếp cận mà chúng tôi sẽ tiếp thu để làm sâu sắc hơn cho nghiên cứu về đô thị Quảng Yên

Trong những vấn đề về đô thị thì lịch sử đô thị là một vấn đề quan trọng bởi nó phản ánh sự thay đổi của đô thị qua chiều dài lịch sử, từ thời cổ đại, trung đại cho tới cận đại và hiện đại Nghiên cứu và tìm hiểu về lịch sử đô thị là rất cần thiết nhằm so sánh, đối chiếu các đô thị trong quá khứ và hiện tại để rút ra những kinh nghiệm và giải pháp cần thiết cho quá trình đô thị hóa hiện nay ở Việt Nam

Hội thảo quốc tế “Tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu lịch sử đô thị Việt Nam”

do trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Đại học Justus Liebig Giesen (Cộng hòa liên bang Đức) đồng tổ chức đã thảo

Trang 24

gian địa lý tới kiến trúc đô thị, đô thị hóa và quan hệ giao lưu giữa các đô thị Những tư liệu trên tuy không nghiên cứu trực tiếp về đô thị Quảng Yên nhưng rất có giá trị tham khảo cho luận án, đặc biệt là về phương pháp, cách tiếp cận nghiên cứu

Như vậy có thể thấy rằng: các tác phẩm, bài viết kể trên đã nghiên cứu về Quảng Yên song lại tiếp cận về từng khía cạnh hay một số vấn đề Chưa có nghiên cứu nào đặt vấn đề tiếp cận Quảng Yên như một Khu vực để nghiên cứu một cách tổng hợp, toàn diện về khu vực này Kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôi vận dụng phương pháp liên ngành trong nghiên cứu khu vực học để làm rõ quá trình phát triển của không gian lịch sử - văn hóa Quảng Yên; từ đó đưa ra một số đề xuất, kiến nghị và những giải pháp xây dựng một đô thị Quảng Yên hiện đại, phát triển bền vững

Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí

và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển gồm: phát triển kinh tế, phát triển xã hội

và bảo vệ môi trường Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp

lí, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và nâng cao được chất lượng môi trường sống [47]

Đô thị và đô thị hóa

Theo Khoản 1, Điều 3 Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực

Trang 25

kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn [147]

Trong phát triển đô thị, quá trình biến đổi có ý nghĩa quan trọng nhất là đô thị hóa Đô thị hóa là quá trình biến đổi xã hội về mặt hình thái cư trú và sản xuất xã hội, từ xã hội ít văn minh đến hình thái xã hội văn minh hơn, từ sản xuất phân tán, nông nghiệp là chủ yếu lên hình thái tập trung và sản xuất công nghiệp, dịch vụ là chủ yếu Đô thị hóa mang tính xã hội và phụ thuộc vào trình

độ phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất [108, tr 23]

Có nhiều quan điểm cho rằng đô thị hóa càng nhanh càng tốt, càng thúc đẩy được sự phát triển của xã hội Nhưng chúng ta đều biết rằng đô thị hóa là một tiến trình rất phức tạp, bao gồm những đổi thay cơ bản trong lực lượng sản xuất, trong sự phân bố dân cư, dân số, trong kết cầu nghề nghiệp, trong lối sống, trong văn hóa Về khía cạnh sinh thái nhân văn thì đô thị hóa là một quá trình chuyển động làm thay đổi lối sống và cảnh quan của một hệ thống quần cư từ hệ sinh thái nông thôn sang hệ sinh thái kinh tế xã hội đô thị Về khía cạnh văn hóa thì đô thị hóa là quá trình chuyển đổi văn hóa nông thôn thành văn hóa đô thị Về khía cạnh kinh tế thì đô thị hóa là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp

Đô thị hóa và phát triển kinh tế xã hội có quan hệ biện chứng với nhau Phát triển kinh tế là điều kiện cần để đô thị hóa, trong đó phát triển công nghiệp được coi là tiền đề của đô thị hóa Trong thời đại hiện nay, đô thị hóa có tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến việc tăng trưởng và phát triển kinh tế Đô thị hóa làm tăng hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở đô thị và nền kinh tế quốc dân Quá trình đô thị hóa phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó phát triển kinh tế là yếu tố cơ bản (đặc biệt là sự phát triển

Trang 26

công nghiệp và dịch vụ) Cơ chế chính sách cho phát triển đô thị, năng lực quản

lí đô thị là những yếu tố rất quan trọng

về kinh tế, xã hội, môi trường và trong quan hệ bền vững với vùng ngoại vi của

Có thể xem phát triển đô thị bền vững như là sự phát triển cân đối, hài hoà giữa các ngành, các lĩnh vực và lãnh thổ Các nhà sinh thái xem xét vấn đề phát triển bền vững trên theo khía cạnh bảo tồn, tiết kiệm tài nguyên, duy trì hệ sinh thái tự nhiên Các nhà xã hội học coi trọng vấn đề phát triển ổn định vì con người, vì công bằng xã hội và giảm bớt khoảng cách chênh lệch giữa nông thôn

và thành thị Phát triển đô thị bền vững có liên quan đến các mô hình đô thị với các hướng tiến bộ khác nhau

Trong một đô thị, có ba loại hình môi trường khác nhau cùng tồn tại: môi trường vật chất (tự nhiên và xây dựng), môi trường kinh tế và môi trường xã hội

Cả ba loại hình này cần phải cùng được xem xét, bởi vì chúng quan hệ rất chặt chẽ với nhau, hoặc đại diện hoặc cùng lúc biểu thị các mục tiêu, phương tiện và khó khăn tới các hoạt động của con người trong đô thị Một đô thị được coi là bền vững khi tổng hiệu quả tốt của ba hình thái môi trường lớn hơn tổng của các hậu quả xấu

Trang 27

1.2.2 Cơ sở lí thuyết nghiên cứu

Khu vực học (area studies) ra đời tại Hoa Kỳ khoảng trước và trong Chiến tranh Thế giới II, phát triển không ngừng để trở thành một phương pháp nghiên cứu ưu việt trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn nửa cuối của thế kỷ

XX Vượt ra khỏi biên giới nước Mỹ, Khu vực học được giảng dạy và áp dụng trong nghiên cứu ở nhiều trung tâm học thuật trên thế giới và được đánh giá là thành công lớn trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn hiện đại [123, tr 35]

Khu vực học, trước hết với tính chất là một phương thức tổ chức nghiên cứu đa ngành (multi-disciplinary studies), sau đó đã phát triển thành một định hướng nghiên cứu liên ngành (inter-disciplinary studies) Từ định hướng mục tiêu chung của một khoa học liên ngành nhằm đưa lại những nhận thức tổng quát

về một khu vực/ một không gian lịch sử - văn hóa xác định, Khu vực học đã phát triển thành những trường phái khác nhau như: khu vực học gắn với đất nước học, khu vực học dựa trên lý thuyết địa - chính trị, trường phái không gian lịch sử - văn hóa…

- Khu vực học gắn với đất nước học: Đây thực chất là một bước phát triển

mới của môn đất nước học nhằm đưa lại nhận thức tổng quát về một quốc gia – dân tộc cụ thể Hướng phát triển này khá thịnh hành bởi nó trực tiếp phục vụ cho mục đích quảng bá hình ảnh của các quốc gia; là cách tổ chức nghiên cứu tổng hợp về nước ngoài của một số nước; cao hơn cả là tạo nền tảng để hình thành môn quốc học tại một số nước Các trụ cột của môn đất nước học là lịch sử, địa

lý nhân văn, ngôn ngữ, văn hóa và du lịch học

- Khu vực học dựa trên lý thuyết địa – chính trị: Trường phái nàu chủ yếu

phát triển ở Tây Âu và một số cơ sở ở Bắc Mỹ Theo đó, thế giới được chia thành những khu vực địa – chính trị rộng lớn, như Tây Âu, Đông Âu, Bắc Mỹ, Đông Nam Á, Đông Á Các nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các tiếp cận địa

Trang 28

đồng trong văn hóa, dân cư và nhất là định hướng phát triển Trường phái này, ở những thập kỉ cuối cùng của thế kỉ XX phát triển thành hai xu hướng khá thịnh hành: chính trị học quốc tế dựa trên nghiên cứu so sánh và toàn cầu học

- Trường phái không gian lịch sử - văn hóa: Trường phái này cho rằng

“khu vực” chính là những không gian văn hóa – lịch sử có chủ thể xác định là những cộng đồng người cụ thể, với những đặc trưng và một bản thể/bản sắc văn hóa nào đó Vì vậy, mục tiêu của Khu vực học là thông qua các nghiên cứu liên ngành, có tính thực chứng cao, làm sáng tỏ những đặc trưng văn hóa – lịch sử và bản sắc văn hóa đặc trưng của không gian nghiên cứu Trường phái này sớm hình thành ở Mỹ và phát triển rất mạnh ở Nhật Bản, trở thành một mô hình nghiên cứu dựa trên cách tiếp cận liên ngành, với sự hỗ trợ của nhiều kĩ thuật nghiên cứu, phân tích hiện đại Trường phái này có ưu điểm nổi bật là đưa lại nhận thức vừa tổng quát, vừa cụ thể, thực chứng về những vùng, tiểu vùng và không gian phát triển cụ thể Kết quả nghiên cứu, vì vậy có tính thuyết phục và ứng dụng cao hơn

Đến cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, Khu vực học đã phát triển lên một tầm cao mới Bước chuyển này trước hết xuất phát từ mục tiêu của Khu vực học Nếu như trước đây, Khu vực học đặt mục tiêu là đưa lại nhận thức tổng quát về một không gian lịch sử - văn hóa nào đó thì bây giờ hướng tới mục tiêu hàng đầu

là ứng dụng những nhận thức tổng quát đó vào việc giải quyết hàng loạt các vấn

đề có độ phức hợp cao đang đặt ra trong thực tiễn phát triển bền vững của các khu vực Khu vực giờ đây không còn chỉ là một không gian lịch sử - văn hóa mà còn là, và trước hết là một không gian phát triển Vì vậy, Khu vực học phải hướng tới đích cuối cùng là đánh giá các nguồn lực, tiềm năng, cơ hội phát triển của không gian xác định nào đó Trên cơ sở đó, các nghiên cứu phải có giá trị tư vấn, phản biện chính sách, và cuối cùng là trực tiếp có những đóng góp vào chiến lược phát triển bền vững của khu vực, tức là cung cấp đầu vào (input) cho quá trình chính sách Đòi hỏi này vừa là một thách thức lớn, nhưng cũng là một

Trang 29

cơ hội mới đối với Khu vực học, bởi nó mở đường cho Khu vực học trở thành một khoa học cơ bản, liên ngành, định hướng ứng dụng Không chỉ có các chuyên gia trong các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn mà cả những nhà nghiên cứu kinh tế, môi trường, công nghệ môi trường hay công nghệ truyền thông cũng có thể và cần được tham gia vào các nhóm nghiên cứu liên ngành

về Khu vực học

Một trong những đặc trưng cơ bản của Khu vực học là: trong khi tập trung nghiên cứu làm rõ bản sắc, đặc trưng nhằm mang lại nhận thức tổng hợp, liên ngành của các không gian lịch sử - văn hóa và không gian phát triển, trên cơ sở

đó đánh giá tiềm năng và cơ hội phát triển của các không gian đó, thì việc đặt các không gian đó trong mối tương tác vùng và tương tác liên vùng là vô cùng quan trọng Điều này càng trở nên quan trọng hơn trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa đang tác động ngày càng mạnh mẽ và toàn diện tới tất cả các dân tộc, các cộng đồng ở tất cả các không gian phát triển khác nhau [124, tr 102, 103]

1.3 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

1.3.1.1 Vị trí địa lý

Quảng Yên là thị xã ven biển nằm ở phía tây nam của tỉnh Quảng Ninh,

có diện tích tự nhiên 314,2km2 Vị trí toạ độ từ 20045’06” đến 21002’09” độ vĩ Bắc và 106045’30”đến 10600’59” độ kinh Đông Phía Bắc giáp thành phố Uông

Bí và huyện Hoành Bồ Phía Nam giáp đảo Cát Hải và cửa Nam Triệu Phía đông giáp thành phố Hạ Long Phía tây giáp huyện Thủy Nguyên của thành phố Hải Phòng [113, tr.94]

Thị xã Quảng Yên gồm 19 đơn vị hành chính xã, phường, trong đó khu vực nội thị bao gồm các phường Quảng Yên, Yên Giang, Cộng Hoà, Đông Mai, Minh Thành, Hà An, Tân An, Nam Hoà, Yên Hải, Phong Cốc, Phong Hải Khu vực ngoại thị gồm các xã Tiền An, Sông Khoai, Hiệp Hoà, Hoàng Tân, Cẩm La,

Trang 30

Với vị trí địa lý như vậy, Quảng Yên đã sở hữu được một tài nguyên vị thế thuận lợi đối với mối quan hệ trong và ngoài khu vực Vùng cửa sông Bạch Đằng được hình dung là một tổng thể không gian gồm lục địa ven bờ, hệ thống sông lạch, vùng triều và vùng cửa biển nằm ở vị trí bản lề giữa vùng ven bờ biển Đông Bắc và châu thổ sông Hồng, trong đó Quảng Yên nằm ở vị trí trung tâm Khu vực này cộng đồng cư dân Việt đã hình thành và phát triển từ rất sớm và cũng sớm hội được các lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh

tế, chính trị, quân sự và văn hóa

Thị xã Quảng Yên nằm trong vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; trên tuyến Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ và nằm ở giữa hai thành phố lớn là Hạ Long và Hải Phòng; sau khi tuyến đường đấu nối Hạ Long - Hải Phòng với đường cao tốc 5B Hải Phòng - Hà Nội (dài 25 km, 4 làn xe chạy) được hoàn thành (dự kiến chậm nhất vào ngày 31/12/2016) thì từ thị xã Quảng Yên đến sân bay Cát Bi (Hải Phòng) chỉ mất khoảng 15 phút bằng phương tiện cơ giới nên rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội, giao lưu thương mại cũng như quốc phòng - an ninh Trên địa bàn Thị xã có các tuyến giao thông quan trọng đi qua như: trục đường Quốc lộ 18A, tuyến Biểu Nghi - Bến Rừng (Tỉnh lộ 331); tuyến cầu Chanh – Uông Bí (Tỉnh lộ 338), tuyến đường sắt Kép – Bãi Cháy; tuyến đường biển hàng hải ven biển đi trong nước Bắc – Nam, gần các tuyến hàng hải quan trọng đi quốc tế từ cảng Hải Phòng và Quảng Ninh Mặt khác, với điều kiện khá thuận lợi để khai thác cảng cửa ngõ Lạch Huyện, các khu công nghiệp, khu du lịch và dịch vụ nghỉ mát ven biển nên thị xã Quảng Yên có điều kiện thuận lợi để phát triển, đặc biệt là tiềm năng lớn mở cửa giao lưu thương mại với các địa phương trong nước cũng như quốc tế bằng đường biển và liên kết không gian kinh tế với các thành phố Hạ Long, Hải Phòng để tạo thành trục kinh tế động lực ven biển Hải Phòng - Quảng Yên - Hạ Long của vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ

Trang 31

Hình 1.1 Bản đồ hành chính thị xã Quảng Yên

Trang 32

1.3.1.2 Điều kiện tự nhiên

a) Địa hình

Thị xã Quảng Yên nằm giáp ranh giữa vùng núi cánh cung Đông Triều Móng Cái và vùng đồng bằng ven biển có nhiều sông lạch nên địa hình đa dạng, phức tạp, địa hình đồi - núi thấp và đồng bằng thấp trũng chiếm ưu thế Theo đặc điểm nguồn gốc hình thành, địa hình thị xã được phân loại như sau [113, tr 95]:

Địa hình đồi núi thấp: gồm 11 phường, xã: Quảng Yên, Cộng Hòa, Hiệp Hòa, Yên Giang, Minh Thành, Đông Mai, Sông Khoai, Tân An, Tiền An,

Hà An, Hoàng Tân với diện tích tự nhiên chiếm 60% diện tích của Thị xã Nhóm đất đỏ vàng thuận lợi cho trồng hoa màu, cây công nghiệp và lâm nghiệp là đặc trưng của khu vực này

- Vùng đồng bằng thấp trũng: Bao gồm các xã, phường còn lại thuộc vùng cửa sông ven biển, địa hình chủ yếu trong khu vực là các đồng bằng tích tụ có nguồn gốc hỗn hợp sông - biển được bao bọc bởi hệ thống đê biển Hà Nam

Với địa hình thuộc vùng cửa sông ven biển chiếm ưu thế tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông đường thủy và neo đậu tàu thuyền Ngoài ra, với chiều dài hơn 30 km bờ biển với nhiều cửa sông và bãi triều kết hợp với vùng vịnh kín gió là nơi trú ngụ của nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao góp phần nâng cao giá trị kinh tế biển trong cơ cấu kinh tế của thị xã

Bờ biển của thị xã Quảng Yên có đặc điểm địa mạo tích tụ sông - biển, có nhiều cửa sông, đáy biển kiểu delta nông, nhiều bồi tích bở rời, độ nghiêng nhỏ, trong đó có một số lạch sâu là các lòng sông cũ Vịnh tương đối kín sóng gió do được che chắn bởi một số đảo nhỏ nên thuận lợi cho tàu thuyền qua lại và trú đậu

Đặc biệt khu vực cửa Nam Triệu, trong đó có cảng Lạch Huyện nằm ngoài cửa sông Bạch Đằng, là cánh cửa phía tả ngạn vùng cửa sông, có độ mở hướng biển lớn và thông thoáng; luồng lạch sâu và ít bị bồi tích hơn bên trong khu vực cảng Hải Phòng; mực nước sâu bình quân 8 mét, sâu nhất đến 10 mét;

Trang 33

sóng nhỏ dưới 1 mét, luồng lạch rộng đáp ứng được yêu cầu vào - ra của các tàu

có trọng tải lớn trên 50.000 DWT Mặt bằng không gian rộng rãi với diện tích hàng nghìn ha, thuận tiện cho xây dựng cảng bến bãi, kho hàng và các khu công nghiệp, dịch vụ Đây là khu vực có tiềm năng lợi thế rất lớn của thị xã Quảng Yên để xây dựng cảng nước sâu kết hợp với phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất và hình thành khu kinh tế tổng hợp của Thị xã cũng như của cả tỉnh Tuy nhiên việc phát huy tiềm năng cánh cửa phía tả ngạn vùng cửa sông Bạch Đằng hiện nay chưa tương xứng với tiềm năng do những hạn chế trong phân định hành chính [128]

b) Khí hậu

Theo số liệu của Trạm dự báo khí tượng Quảng Ninh thì thị xã Quảng yên

có các đặc trưng về khí hậu như sau: Nhiệt độ trung bình hàng năm của Quảng Yên là 23-240C, biên độ nhiệt theo mùa trung bình 6-70C, biên độ nhiệt ngày - đêm khá lớn, trung bình 9-110C Số giờ nắng khá dồi dào, trung bình 1700–1800 giờ/năm, số ngày nắng tập trung nhiều vào tháng 5 đến tháng 12, tháng có số giờ nắng cao nhất là tháng 2, tháng 3 Lượng mưa trung bình hàng năm của Quảng Yên đạt 1537 mm Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung 88% tổng lượng mưa cả năm Độ ẩm không khí hàng năm khá cao, trung bình 81%, cao nhất vào tháng 3, 4 lên tới 86%, và thấp nhất 70% vào tháng 10, tháng 11

Nhìn chung, chế độ khí hậu và thời tiết ở Quảng Yên có đặc điểm chung của khí hậu miền bắc Việt Nam nhưng do nằm ven biển nên ôn hoà hơn, thuận lợi cho sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp và phát triển du lịch Tuy nhiên, khó khăn nhất về điều kiện thời tiết là chịu ảnh hưởng mạnh của bão Bão xuất hiện

từ tháng 5-10, nhiều nhất vào tháng 7-8, gây ra mưa lớn tác động xấu đến sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt của nhân dân, nhất là đối với ngư dân Thời tiết mùa đông lạnh gây ảnh hưởng phần nào đến sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt nhưng cũng tạo điều kiện cho sản xuất vụ đông, đa dạng hoá

Trang 34

c) Nước

Hệ thống sông ở Quảng Yên phần lớn là sông nhỏ, diện tích lưu vực khoảng 300km2 Bạch Đằng là sông lớn nhất, là chi lưu của sông Thái Bình, ngăn cách thị xã với Hải Phòng Đến Phà Rừng, sông Bạch Đằng chia thành 2 nhánh lớn là sông Chanh và sông Rút bao lấy đảo Hà Nam rồi đổ ra biển Cát Bà, Cát Hải (Hải Phòng), nhánh còn lại của Bạch Đằng đổ ra cửa biển Nam Triệu (Hải Phòng) Phía Đông có một số sông nhỏ như sông Khoai, sông Hốt, sông Bến Giang và Bình Hương Sông Chanh chia thị xã Quảng Yên thành 2 vùng rõ rệt, vùng Hà Bắc gồm 11 xã, phường nằm bên tả ngạn sông, vùng Hà Nam gồm

8 xã, phường còn lại nằm bên hữu ngạn sông Vùng Hà Nam là đảo Hà Nam được bao bọc bằng 34km đê biển cao 5,5m với địa hình thấp hơn mực nước biển

Nguồn nước ngầm khá phong phú, mạch nước ngầm thường nằm ở độ sâu 5-6 m, vùng Hà Nam và ven biển nước bị nhiễm mặn ít sử dụng được, vùng Hà Bắc nước ngọt đủ để khai thác sử dụng cho sinh hoạt Nguồn nước ngọt lớn nhất

để phục vụ cho nhân dân trong thị xã là hồ thủy lợi Yên Lập (phường Minh Thành), đây là hồ lớn của tỉnh có dung tích thường xuyên 127,5 triệu m3, dung tích hữu ích 113,2 triệu m3 với kênh chính dẫn nước cho thị xã dài 28,4 km Nguồn cấp nước từ hồ Yên Lập dồi dào và hiện là nguồn nước chủ yếu cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư trong thị xã và các xã, phường giáp ranh địa bàn thành phố Hải Phòng và Uông Bí

Bờ biển thị xã Quảng Yên nằm trong vịnh Hạ Long, đáy biển nông và thoải Độ sâu trung bình từ 4-6m, sâu nhất 25m Thủy triều lên xuống hàng ngày

là nhật triều, biên độ thủy triều từ 3-4m Độ lớn thủy triều tại đây thuộc loại lớn

ở nước ta, trung bình 3m Tại các cửa sông, tốc độ dòng chảy khi triều rút có thể đạt 100-200m3/s nên đáy các cửa sông khó được bồi đắp, thậm chí còn bị xâm thực và mang vật liệu bồi ra phía ngoài [111, tr.402]

Trang 35

Nhìn chung, mạng lưới dòng chảy mặt ở Quảng Yên khá dày hầu hết chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam rồi đổ ra biển qua các cửa sông, thuận lợi cho phát triển vận tải đường thuỷ và khai thác, nuôi trồng thủy sản, nhưng ít phù hợp đối với sản xuất nông nghiệp do nước bị nhiễm mặn

d) Đất

Đất là nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, thị xã Quảng Yên có diện tích đất tự nhiên là 31.420 ha, được chia thành 05 nhóm đất sau [132, tr 17]:

Nhóm đất cát: 629,21 ha, chiếm 2,21% diện tích đất tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các phường, xã ven biển, ven sông Nhóm đất này nghèo dinh dưỡng, phản ứng chua yếu, khả năng trao đổi cation thấp

Nhóm đất mặn: chiếm 6.956,48 ha bằng 22,19% diện tích đất tự nhiên, được hình thành từ phù sa sông, biển lắng đọng trong môi trường nước biển do trầm tích biển hoặc do ảnh hưởng của nước mặn tràn hoặc do mạch nước ngầm ven biển cửa sông Phần lớn đất đang được sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản, phần còn lại là đất rừng ngập mặn sú, vẹt và đất hoang hóa

Nhóm đất phèn: diện tích 4.908,65 ha (15,66% diện tích đất tự nhiên), thành phần cơ giới là thịt nặng, nhão dẻo khi ướt, cứng rắn, nứt nẻ khi khô, thường xuyên có một lớp bột màu vàng bám trên mặt hoặc trong các khe nứt nẻ

Nhóm đất phù sa: được hình thành từ sự bồi tụ của các con sông chảy qua địa bàn Diện tích nhóm đất này là 1.008,73 ha (chiếm 3,2% diện tích đất tự nhiên) được nhân dân trồng lúa 02 vụ và cây rau màu với năng suất khá cao Trong nhóm này được chia thành 3 loại: (1) Đất phù sa không được bồi, trung bình, ít chua với 663,74 ha phân bố chủ yếu ở các xã ven sông; (2) Đất phù sa không được bồi, chua có diện tích 344,99 ha, phân bố ở khu vực địa hình đồng bằng bằng phẳng; (3) Đất phù sa glây xuất hiện tại đồng bằng nguồn gốc tích tụ sông biển có trầm tích hỗn hợp sông - biển, phản ứng chua, dinh dưỡng thấp

Trang 36

Nhóm đất đỏ vàng: hình thành trên địa hình đồi núi thấp, được chia thành

3 loại đất là: (a) vàng nâu trên phù sa cổ, (b) vàng nhạt trên đá cát, (c) nâu vàng trên đá vôi

Đất nông nghiệp ở thị xã Quảng Yên chiếm 61,17% diện tích đất tự nhiên, trong đó đất dành cho trồng cây hàng năm chiếm tới 87,2% diện tích đất sản xuất nông nghiệp Với diện tích đất lúa như hiện nay đã đáp ứng được nhu cầu lương thực trong Thị xã Tuy nhiên, khi bước vào quá trình phát triển đô thị và hạ tầng giao thông thì tất yếu diện tích đất nông nghiệp hiện nay sẽ bị giảm mạnh

Diện tích đất rừng của Quảng Yên không lớn, chiếm khoảng 14,66% (năm 2012) đất sản xuất nông nghiệp và giảm mạnh qua các năm, nếu diện tích rừng hiện có không được cải tạo hoặc trồng mới (đặc biệt là những cánh rừng ngập mặn ven biển) thì trong tương lai diện tích đất tự nhiên của thị xã sẽ bị giảm do hiện tượng nước biển dâng

Đặc điểm địa hình và đất đai của một đồng bằng cửa sông ven bển phần lớn quỹ đất được tạo thành bởi phù sa bồi nguồn gốc sông - biển và chịu ảnh hưởng của biển với mức độ khác nhau tạo cho thi xã Quảng Yên có tiềm năng lớn phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản

đ) Rừng

Rừng ở Quảng Yên chiếm diện tích không lớn, phân bố tập trung ở khu vực đồi núi cao phía Bắc giáp với huyện Hoành Bồ nhưng có vai trò quan trọng đến phát triển kinh tế của thị xã, đặc biệt là trong bảo vệ nguồn nước hồ Yên Lập, chống xói mòn, ngăn sự bồi lắng lòng sông, lòng hồ, hạn chế lũ lụt, điều tiết nguồn nước cho các dòng chảy, tạo cảnh quan sinh thái đa dạng phục vụ cho phát triển du lịch

Là một thị xã ven biển nên rừng phòng hộ ven biển có vai trò rất quan trọng đối với Quảng Yên như chống gió hạn, chắn cát bay, ngăn chặn sự xâm mặn của biển, chắn sóng lấn biển, chống sạt lở, bảo vệ các công trình ven biển

Trang 37

e) Khoáng sản

Theo Niên giám thống kê thị xã Quảng Yên năm 2015 [134], nguồn

khoáng sản của thị xã Quảng Yên gồm có các loại sau:

Đá vôi: phân bố chủ yếu trên đảo Hoàng Tân trữ lượng trên 1 triệu m3, hiện đang được khai thác với quy mô 50 – 60 nghìn m3/năm, tuy nhiên việc khai thác đá vôi ở đây cần quản lý tốt để bảo vệ môi trường cảnh quan cho phát triển

du lịch

Đất sét: được phân bố rộng rãi ở Minh Thành, Đông Mai, Tiền An, Cộng Hòa, Sông Khoai tổng trữ lượng khoảng 1 triệu m3, nhưng chất lượng không cao, chỉ có thể khai thác để sản xuất gạch ngói phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ

Cát, sỏi xây dựng: phân bố rải rác ven các sông trong Thị xã, trữ lượng khoảng vài triệu m3, chất lượng khá tốt chịu được áp lực cao Ngoài ra tại khu vực Minh Thành còn có mỏ cát xây dựng với trữ lượng khá lớn (ước tính hàng triệu m3), cường độ chịu lực cao có thể khai thác đáp ứng một phần nhu cầu xây dựng ở địa phương

Than đá: Có một vỉa nhỏ nằm ở khu vực Đá Chồng, xã Minh Thành với trữ lượng khoảng 20-30 vạn tấn, trước đây đã được nhân dân khai thác thủ công

để làm chất đốt cho sản xuất và sinh hoạt tại chỗ

Đất san nền: Tập trung các xã phường vùng trung du khu vực phía bắc thị

xã, trữ lượng tương đối lớn thuận lợi cho tôn tạo san gạt mặt bằng phục vụ các

dự án đầu tư xây dựng hạ tầng

Tóm lại, nguồn tài nguyên khoáng sản của thị xã Quảng Yên hạn chế cả

về số lượng, chất lượng, và chủng loại Các khoáng sản chủ yếu là vật liệu xây dựng với trữ lượng nhỏ chỉ phục vụ cho nhu cầu sản xuất trên địa bàn thị xã Đây

là khó khăn đối với sự phát triển kinh tế của thị xã, đặc biệt là phát triển công nghiệp hiện tại và trong tương lai

Trang 38

g) Cảnh quan tự nhiên

Quảng Yên đư ợc thiên nhiên ưu đãi có điều kiện cảnh quan sinh thái đa dạng bao gồm đầy đủ các cảnh quan sinh thái núi rừng, bờ biển và biển đảo, khí hậu trong lành, có nhiều loài thủy hải sản là đặc sản trong vùng như sò, ngán, ruốc, hà cồn, hà sú, cua bể, tôm ; nhiều loại hình ẩm thực đa dạng, phong phú phù hợp cho phát triển các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, du lịch

về cội nguồn, du lịch di tích và lễ hội, du lịch đồng quê

Tại Quảng Yên có nhiều di tích như: cây lim Giếng Rừng, đảo Hoàng Tân với núi đá vôi và một số hạng động cổ; có những nơi có thể xây dựng thành các điểm du lịch sinh thái, tắm biển, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí hấp dẫn khách

du lịch trong nước và quốc tế như đảo Hoàng Tân, đầm Nhà Mạc, đầm Quả Xoài, thác Mơ, rừng thông Bác Hồ và khu hồ Yên Lập… Bên cạnh đó, với vị trí liền

kề với các địa điểm du lịch nổi tiếng như vịnh Hạ Long, khu du lịch Tuần Châu, đảo Cát Bà, Đồ Sơn, Yên Tử, Quảng Yên sẽ có điều kiện thuận lợi để phát triển

du lịch kết hợp Với nguồn tài nguyên du lịch sẵn có và xu thế phát triển du lịch của các vùng phụ cận, nếu được tổ chức khai thác hợp lý kết hợp với xây dựng

hạ tầng du lịch tốt, Quảng Yên có cơ hội trở thành một điểm du lịch hấp dẫn trong tour du lịch Quảng Ninh - Hải Phòng - Cát Bà, phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng

1.3.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội

Dân số của thị xã Quảng Yên năm 2014 là 137.222 người Mật độ dân số trung bình là 437 người/km2 và phân bố không đều Tại các phường như Quảng Yên, Cộng Hoà, Hiệp Hoà, Tiền An, Cẩm La, Phong Hải dân cư tập trung đông, với mật độ trên 700-1.000 người/km2 Ngược lại, ở các xã phường như Minh Thành, Đông Mai, Tân An, Hà An, Liên Hoà, Liên Vị mật độ dân số là 500 người/km2, đặc biệt như xã Hoàng Tân, Tiền Phong mật độ dân số đạt 100 người/km2 Cơ cấu dân số thay đổi theo hướng tăng tỷ lệ dân số nội thị, tỷ lệ dân

số ngoại thị giảm Tỷ lệ tăng dân số năm 2014 là 1,1% [134, tr.9]

Trang 39

Về tôn giáo - tín ngưỡng, cư dân Quảng Yên có tục thờ Tiên công và cúng gia tiên ở gia đình và từ đường dòng họ; tục thờ thành hoàng của các làng xã ở đình, đền, nghè, miếu; tục thờ Mẫu Liễu Hạnh; tục thờ thần Biển và một số nhân thần, thần núi, thần sông khác Các vị thần được thờ ở các đình, đền, miếu của các làng xã ởQuảng Yên đa số là các nhân thần như: Đức thánh Trần Hưng Đạo Đại vương; Đức thánh Niệm (Phạm Tử Nghi); các vị thần khác khi còn sống có công đánh giặc cứu nước phò vua giúp dân; các vị Tiên công (có công đầu tiên quai đê lấn biển lập làng) khi mất đều được suy tôn làm thần thờ ở đình làng, ở đền, miếu của làng xã, ở từ đường của các dòng họ Ở Quảng Yên mỗi làng có một chùa, ngày nay hiện còn 23 ngôi chùa làng Chùa làng được xây dựng từ khá sớm, đa số vào khoảng giữa thế kỷ XVI

Cư dân ở Quảng Yên rất coi trọng tục thờ cúng tổ tiên dưới các hình thức thờ cúng ở từ đường (nhà thờ dòng họ), thờ cúng ở nhà trưởng của mỗi chi và ở mỗi gia đình Hiện ở Quảng Yên có 104 từ đường, các từ đường được xây dựng

từ thế kỷ XVII tới XX, thờ thủy tổ tới các thế tổ và các đời, đến nay đa số các họ

có từ 15 đến 25 đời [101, tr 22] Cho đến nay, các tập tục tang ma, cưới xin, hội

hè, đình đám, phong tục tập quán của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ cơ bản được bảo lưu khá nguyên vẹn ở Quảng Yên

Toàn thị xã có trên 15.000 ha đất nông nghiệp, bình quân 0,27 ha/lao động nông nghiệp [134, tr 67] Hiện nay trên địa bàn đã hình thành nhiều khu vực trồng lúa có năng suất cao, vùng rau màu tập trung có giá trị lớn phục vụ cho chế biến và xuất khẩu Đây được coi là vùng nông nghiệp sinh thái đảm bảo môi trường Việc chăn nuôi gia súc gia cầm chủ yếu dưới hình thức hộ gia đình, mô hình trang trại còn rất ít, do vậy năng suất chưa cao

Quảng Yên có nhiều ưu thế về biển, diện tích bãi triều rộng trên 12.000 ha, trong đó đang khai thác gần 8 nghìn ha nhưng chủ yếu ở dạng quảng canh nên tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản công nghiệp còn rất lớn Nuôi trồng và

Trang 40

hướng sản xuất hàng hóa, đặc biệt trong điều kiện tăng diện tích nuôi thâm canh

và bán thâm canh nhằm nâng cao giá trị và hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích

Quảng Yên còn có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các khu công nghiệp, các cụm công nghiệp với vị trí thuận lợi gần các cảng biển quốc tế và liền kề thành phố Hạ Long, nguồn nhân lực tương đối dồi dào và quỹ đất xây dựng còn lớn

Quảng Yên có các nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, đa dạng, trong đó có những di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, cấp tỉnh có giá trị độc đáo, tạo ra sức hấp dẫn lớn đối với khách du lịch Về tài nguyên du lịch tự nhiên, Quảng Yên có nhiều cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn như Thác Mơ,

hồ Yên Lập, hai cây lim Giếng Rừng, rừng thông tưởng niệm Bác Hồ, đảo Hoàng Tân với núi đá vôi và một số hang động cổ, hàng trăm ha rừng thông nhựa trồng trên núi đất, có bãi biển trải dài từ phía Đông sang phía Tây đảo Một

số tài nguyên du lịch nhân văn có thể kể đến như bãi cọc Bạch Đằng, đình Phong Cốc, miếu Tiên Công, đình Trung Bản, đã được xếp hạng quốc gia Đô thị Quảng Yên có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời và nơi đây còn giữ lại những nét xưa của một đô thị cổ trung đại, hòa cùng với những nét kiến trúc hiện đại như các di tích thành cổ Quảng Yên, bến Ngự bên bờ sông Chanh, các công

sở, dinh thự của người Pháp (dinh Tuần phủ, Bố chánh, Án sát Quảng Yên, dinh Tỉnh trưởng, các nhà cổ…) Bên cạnh đó thị xã Quảng Yên còn có nhiều lễ hội truyền thống, phong tục tập quán trong lao động, sinh hoạt hội hè của dân cư vùng châu thổ Sông Hồng đi khai phá đất mới như lễ hội Bạch Đằng, lễ hội Tiên Công, lễ hội xuống đồng (lễ Hạ Điền) Đây là nguồn tài nguyên to lớn, không những có ý nghĩa du lịch mà còn có ý nghĩa giáo dục, quảng bá truyền thống văn hoá lịch sử của địa phương và dân tộc

Ngoài ra, do lợi thế về mặt vị trí tương quan với thành phố Hải Phòng và thành phố Hạ Long cũng như vịnh Hạ Long - di sản thiên nhiên thế giới, các tài

Ngày đăng: 18/07/2017, 20:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w