1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử việt nam

151 763 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 9,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

9 dụng các nguồn tin trên mạng xã hội để phát triển những nội dung phong phú, kịp thời, chất lượng, chính xác, đa chiều cho các trang báo điện tử, cũng như nghiên cứu về sự tác động của

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ CHÂU

SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI

ĐỂ PHÁT TRIỂN NỘI DUNG BÁO ĐIỆN TỬ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ

Hà Nội, 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THÀNH LỢI

Hà Nội, 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới

sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thành Lợi và chưa từng được công bố trong

bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Châu

Trang 4

Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của lãnh đạo, ban biên tập, phóng viên các báo điện tử VietnamPlus, VietNamnet, VnExpress trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn Mặc dù đã hoàn thành, nhưng luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý quý báu của các thầy cô giáo, các anh chị cũng như các bạn đồng môn

Hà Nội, ngày … tháng… năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Châu

Trang 5

1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9

2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 9

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 10

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13

3.1 Mục đích nghiên cứu 13

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 13

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 14

5 Phương pháp nghiên cứu 14

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 15

7 Cấu trúc của luận văn 15

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MẠNG XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN NỘI DUNG BÁO ĐIỆN TỬ VIỆT NAM 16

1.1 Lý luận chung về mạng xã hội và báo điện tử 16

1.1.1 Mạng xã hội 16

1.1.2 Báo điện tử 20

1.2 Tác động của mạng xã hội đến báo chí 26

1.2.1 Tác động tích cực 26

1.2.2 Tác động tiêu cực 28

1.3 Cách thức và quy trình sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử 31

1.3.1 Cách thức phát triển nội dung bài báo từ mạng xã hội 32

1.3.2 Quy trình xử lý nguồn tin từ mạng xã hội 34

Tiểu kết chương 1 36

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI ĐỂ PHÁT TRIỂN NỘI DUNG BÁO ĐIỆN TỬ 38

Trang 6

2

2.1 Vài nét về báo điện tử và mạng xã hội của 3 báo VietnamPlus.vn,

VietNamnet.vn, VnExpress.net 38

2.1.1 Báo điện tử VietnamPlus 38

2.1.2 Báo điện tử VietNamnet 40

2.1.3 Báo điện tử VnExpress.net 42

2.2 Phân tích việc phát triển nội dung qua mạng xã hội của VietnamPlus, VietNamnet, VnExpress 44

2.2.1 Chặt cây xanh hàng loạt ở Hà Nội 44

2.2.2 Sự kiện Formosa làm chết cá hàng loạt ở biển miền Trung 52

2.2.3 Chiến dịch “dọn dẹp vỉa hè” 65

2.3 Đánh giá chung về việc sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử qua các báo khảo sát 75

2.3.1 Một số kết quả nghiên cứu 75

2.3.2 Thành công 76

2.3.3 Hạn chế 83

2.3.4 Những bài học kinh nghiệm trong việc sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử 86

Tiểu kết chương 2 89

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ VIỆC SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI ĐỂ PHÁT TRIỂN NỘI DUNG BÁO ĐIỆN TỬ VIỆT NAM HIỆN NAY 90

3.1 Đề xuất các giải pháp sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử Việt Nam hiệu quả 90

3.1.1 Cách thức tăng tương tác, khai thác thông tin trên mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử 90

3.1.2 Đào tạo nâng cao kỹ năng của phóng viên, biên tập viên báo

điện tử 91

3.1.3 Luật pháp, chính sách quản lý 93

3.1.4 Tổ chức, hoạt động của tòa soạn báo điện tử 96

3.1.5 Nâng cao đạo đức nghề nghiệp của nhà báo 97

Trang 7

3

3.1.6 Kỹ thuật, công nghệ, cơ sở hạ tầng mạng Internet 99

3.2 Xu hướng sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử 102

3.2.1 Kinh nghiệm của các tờ báo, hãng thông tấn trên thế giới trong việc sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung 102

3.2.2 Xu hướng sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử Việt Nam 105

Tiểu kết chương 3 108

KẾT LUẬN 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

PHỤ LỤC 117

Trang 8

4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTV: Biên tập viên

CNTT: Công nghệ Thông tin

ĐHKHXH&NV: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn WWW: World Wide Web

PGS.TS: Phó Giáo sư.Tiến sĩ

PV: Phóng viên

UBND: Uỷ ban Nhân dân

STT: Số thứ tự

Trang 9

5

DANH MỤC HÌNH ẢNH, BẢNG BIỂU

Hình 2.1: Giao diện trang chủ báo điện tử VietnamPlus 39

Hình 2.2: Giao diện trang chủ kênh Youtube của VietNamnet 42

Hình 2.3: Bài viết “Việc chặt hạ cây xanh: Hà Nội thừa nhận thiếu sót, nóng vội” trên báo điện tử VietnamPlus ngày 20/3/2015 45

Hình 2.4: Bình luận của Facebooker Trường Nguyễn trên Fanpage báo điện tử VietnamPlus ngày 21/3/2015 46

Hình 2.5: Bài viết “Đình chỉ công tác hàng loạt cán bộ liên quan vụ chặt cây xanh ở Hà Nội” đăng trên báo điện tử VietnamPlus ngày 22/3/2015 47

Hình 2.6: Bình luận về bài viết “Đình chỉ công tác hàng loạt cán bộ liên quan vụ chặt cây xanh ở Hà Nội” đăng trên báo điện tử VietnamPlus ngày 22/3/2015 48

Hình 2.7: Bài viết “Phó Thủ tướng yêu cầu xử lý nghiêm vụ chặt hạ cây xanh ở Hà Nội” đăng trên báo điện tử VietnamPlus ngày 01/4/2015 48

Hình 2.8: Bình luận của độc giả trên VietNamnet ngày 19/3/2016 50

Hình 2.9: Bài báo đăng trên VietNamnet ngày 19/3/2015 51

Hình 2.10: Độc giả bình luận trên Fanpage VnExpress ngày 20/3/2015 52

Hình 2.11: Bài báo “Nguy cơ bệnh tật từ việc chặt cây dưới góc nhìn của một bác sĩ” đăng trên VnExpress ngày 23/3/2015 52

Hình 2.12: Bình luận của người dùng mạng xã hội về tin bài chưa có bằng chứng Formosa làm cá chết hàng loạt, 27/4/2016 53

Hình 2.13: Bài viết lấy mẫu chất thải mà Formosa đổ ra môi trường để xác định nguyên nhân cá chết đăng trên VietnamPlus ngày 12/7/2016 54

Hình 2.14: Bài viết “Bộ Công thương: Formosa được phép dùng hàng trăm tấn hóa chất” đăng trên VietnamPlus ngày 05/5/2016 55

Hình 2.15: Bình luận của Facebooker có Viet Thai lúc 23h00 ngày 05/5/2016: “Cần một lời xin lỗi và bồi thường thích đáng cho người dân” 56

Hình 2.16: VietnamPlus đăng tải bài viết “Formosa chính thức nhận lỗi vụ cá chết, hứa bồi thường 11.500 tỷ đồng” ngày 30/6/2016 57

Hình 2.17: Video “Formosa xin lỗi Nhà nước và nhân dân Việt Nam” đăng tải trên VietnamPlus ngày 30/6/2016 58

Trang 10

6

Hình 2.18: Bài viết “Cá bơi nhiều bị chuột rút nên chết hàng loạt” đăng tải

trên VnExpress ngày 27/6/2016 59

Hình 2.19: Bài viết “Chưa trả lời được bao giờ biển miền Trung trở lại như trước” đăng tải trên VnExpress ngày 23/8/2016 60

Hình 2.20: Bình luận của độc giả trên Fanpage VnExpress ngày 27/4/2016 62

Hình 2.21: Infogaphics trên VnExpress ngày 30/6/2016 62

Hình 2.22: Bình luận của độc giả trên Fanpage VietNamnet ngày 13/7/2016 63

Hình 2.23: Bài báo phát triển từ bình luận của độc giả Nam Đàm 64

Hình 2.24: Video “400 cán bộ, 800 con mắt sao không thấy, chỉ có thể là ông Đoàn Ngọc Hải” và bình luận của độc giả trên kênh Youtube VietNamnet 66

Hình 2.25: Bài viết “Chủ tịch TP.HCM: Dọn dẹp vỉa hè là thuận ý Đảng lòng dân” đăng trên VietNamnet 01/03/2017 67

Hình 2.26: Video “Đòi lại vỉa hè, làm sao để không thành đầu voi, đuôi chuột” trên Youtube của VietNamnet 67

Hình 2.27: “Cư dân” bình luận trên mạng xã hội Youtube của báo điện tử VietNamnet 23/03/2017 68

Hình 2.28: Bài viết “Dẹp vỉa hè: Cái tình lấn át cái lý thì khó” trên báo điện tử VietNamnet 25/03/2017 69

Hình 2.29 - 2.30: Video phát trực tiếp và bình luận trên mạng xã hội Facebook của báo VnExpress ngày 21-22/3/2017 71

Hình 2.31: Bài viết: “Chủ tịch TP HCM: Tôi nhắc anh Hải làm quyết liệt nhưng phải đúng luật” trên báo điện tử VnExpress 71

Hình 2.32: Bài viết và bình luận trên Fanpage báo điện tử VietnamPlus 73

Hình 2.33: Bài viết “Lập trật tự vỉa hè ở Hà Nội: Không để điệp khúc ồn ào rồi lại dịu êm” đăng trên VietnamPlus ngày 07/3/2017 74

Hình 2.34: Kết quả khảo sát về thể loại báo chí được phát triển nội dung từ mạng xã hội trên VietnamPlus, VietNamnet, VnExpress 80

Hình 2.35: Độc giả mạng xã hội đã phát hiện ra lỗi sai của bài báo “Trịnh Xuân Thanh – Xe biển xanh và khoản lỗ gần 3.300 tỉ đồng” 81

Hình 2.36: Độc giả mạng xã hội đã phát hiện ra lỗi sai của bài báo “Những vụ lún nứt, sạt lở đất gây kinh hoàng” 82

Hình 3.1: Video live stream của The New York Times về cuộc bầu cử Tổng thống Pháp đăng tải lên Fanpage ngày 25/4/2017 109

Trang 11

Sự phát triển của khoa học công nghệ đã tác động đáng kể đến cuộc sống của con người ở nhiều mặt Trong lĩnh vực thông tin và truyền thông nói chung, sự phát triển của công nghệ đã và đang không ngừng tác động, làm thay đổi cách thức tiếp nhận, truyền tải, chia sẻ thông tin của các cá nhân, tổ chức Trong lĩnh vực báo chí nói riêng, về phía công chúng: Sự xuất hiện của các thiết bị di động và truyền thông xã hội, đã làm biến đổi thói quen tiếp nhận, chia sẻ thông tin của công chúng, thúc đẩy nhu cầu thông tin của công chúng ngày một cao, công chúng kỳ vọng tiếp nhận thông tin nhanh chóng, tức thì với khoảng cách thời gian từ khi xảy

ra sự việc cho đến khi thông tin được lan truyền xuống mức bằng 0 Bởi vậy, ngày càng nhiều người tìm đến các mạng xã hội để tiếp nhận và chia sẻ tin tức

Về phía các cơ quan báo chí, hãng thông tấn: Sự xuất hiện của các thiết bị

di động, mạng xã hội và nhu cầu tin tức của công chúng đã buộc các cơ quan báo chí, hãng thông tấn trên thế giới phải thay đổi cách thức sản xuất và đăng tải, lan truyền các tin tức của mình, với mục đích cuối cùng là để cạnh tranh với các tờ báo khác, giành độc giả về phía mình Nhiều cơ quan báo chí, hãng thông tấn đã tận dụng những tiện ích của truyền thông xã hội để thu thập và thẩm định các nguồn tin, kết nối với độc giả, thông qua đó để quảng bá nội dung tin bài, quảng bá thương hiệu của mình

Mạng xã hội được xem là hình thức truyền thông ưu việt cho phép tiếp nhận và chia sẻ thông tin một cách tức thì, thông qua các kênh truyền thông dựa trên nền tảng web 2.0 như mạng xã hội, blog, tiểu blog, các trang chia sẻ video,

Trang 12

8

hình ảnh, Hiện nay, rất nhiều cá nhân và tổ chức sử dụng mạng xã hội để tiếp nhận và chia sẻ thông tin cũng như tương tác với các nhóm công chúng của mình, các cơ quan báo chí cũng không nằm ngoài cuộc Trên thế giới, hiện có rất nhiều hãng thông tấn sử dụng khá hiệu quả các mạng xã hội như Facebook, Twitter, các Blog hay Youtube,… để chia sẻ thông tin của mình, thông qua đó thu hút thêm số lượng lớn công chúng quan tâm, phát triển mạng lưới công chúng rộng rãi Mặt khác, họ tận dụng những thông tin mà công chúng cung cấp trên mạng xã hội về các sự việc, hiện tượng tại hiện trường và cử phóng viên tới thẩm định, khai thác tin tức, sáng tạo nên tác phẩm báo chí

Tại Việt Nam trong những năm gần đây, một số cơ quan báo chí cũng đã bắt đầu tận dụng những ưu điểm của truyền thông xã hội để quảng bá, phát triển nội dung cho của tờ báo mình Đặc biệt là các mạng xã hội Facebook, Twitter, các Blog hay Youtube với số công chúng rất lớn và ở nhiều độ tuổi khác nhau Tháng 8 năm 2015, Facebook chính thức công bố “cán mốc” một tỷ tài khoản truy cập mỗi ngày, và đến cuối 2016 là 1,86 tỷ người dùng Đây thực sự là con số công chúng đáng mơ ước của tất cả các báo mạng điện tử hiện nay Để nội dung các bài báo đến được với số lượng công chúng khổng lồ này, tại nước ta đã

có nhiều báo mạng điện tử lập các trang Fanpage chính thức trên Facebook Trong

đó có VnExpress với khoảng 2,6 triệu lượt thích, VietnamPlus với 82 nghìn lượt thích, VietNamnet với 1,543 triệu (số liệu thống kê trên các Fanpage vào tháng 12 năm 2016) Tuy nhiên, không phải cơ quan báo chí nào cũng nhận thức, tận dụng được tính ưu việt cũng như hiệu quả của loại hình truyền thông này trong tác nghiệp báo chí nói chung và việc chia sẻ, phát triển nội dung tin bài nói riêng

Tại thời điểm tác giả khảo sát, trên thế giới có khá nhiều nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa truyền thông xã hội, mạng xã hội và báo chí Trong đó có việc sử dụng truyền thông xã hội, mạng xã hội của các cơ quan báo chí để tác nghiệp và quảng bá thông tin Tuy nhiên, tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về việc sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung cho báo điện tử, cách thức vận dụng sức ảnh hưởng của mạng xã hội, sử

Trang 13

9

dụng các nguồn tin trên mạng xã hội để phát triển những nội dung phong phú, kịp thời, chất lượng, chính xác, đa chiều cho các trang báo điện tử, cũng như nghiên cứu về sự tác động của nó đến môi trường báo chí nước nhà Bởi vậy, tác giả lựa

chọn đề tài nghiên cứu “Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện

tử Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình Qua đó đưa ra nhận xét, đánh giá

và khuyến nghị để góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động khai thác thông tin trên mạng xã hội, từ đó phát triển nội dung tin bài cho báo điện tử tại Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Cho đến nay, trên thế giới đã có khá nhiều cuốn sách và nghiên cứu đề cập đến công chúng báo chí, công chúng của truyền thông xã hội, truyền thông

xã hội, thói quen sử dụng truyền thông xã hội, các giải pháp nhằm quảng bá

thông tin thông qua truyền thông xã hội Cuốn sách “Social Media: Usage and Impact” (Truyền thông xã hội: Cách sử dụng và Tầm ảnh hưởng), của hai tác giả

Hana S Noor Al-Deen và John Allen Hendricks, xuất bản tháng 11-2012, đưa

ra phân tích toàn diện và mang tính học thuật về truyền thông xã hội Cuốn sách

đã nghiên cứu vai trò nổi bật và sự ảnh hưởng của truyền thông xã hội trong suốt quá trình phát triển của loại hình truyền thông này Các tác giả đã tiến hành khảo sát việc sử dụng và ảnh hưởng của truyền thông xã hội trong nhiều môi trường khác nhau, bao gồm cả giáo dục, truyền thông chiến lược, chính trị, pháp luật và các vấn đề đạo đức

Về mối quan hệ giữa báo chí và truyền thông xã hội, có thể kể đến cuốn

sách “ Social Media for Journalists: Principles and Practice” (Truyền thông xã

hội với nhà báo: Nguyên tắc và thực hành), của hai tác giả Megan Knight & Clare Cook, xuất bản tháng 5-2013 Trong cuốn sách này, hai tác giả đã đưa ra những chỉ dẫn cần thiết đối với việc hiểu và khai thác các công cụ của báo chí hiện nay Hai tác giả Meagan Knight và Clare Cook đã chỉ ra cho bạn đọc làm thế nào

để nắm vững những nguyên tắc thực hành thuần thục và những kỹ thuật mới

Trang 14

10

của truyền thông xã hội Cuốn sách đưa ra hướng dẫn chi tiết về những nguyên tắc và thực hành, bao gồm các hoạt động: Làm thế nào để tìm kiếm, viết và chia sẻ thông tin với truyền thông xã hội; các tận dụng các nguồn tin từ cộng đồng để tìm ra và theo đuổi các vấn đề, sự kiện; xây dựng thương hiệu cho cá nhân nhà báo,…

Ngoài ra, còn có rất nhiều nghiên cứu, bài viết khác về mối quan hệ giữa báo chí và mạng xã hội; Việc sử dụng mạng xã hội trong tác nghiệp báo chí nói chung cũng như khai thác thông tin nói riêng của nhiều tác giả trên thế

giới Có thể kể đến nghiên cứu “Who’s behind that tweet? Here’s how 7 news orgs manage their Twitter and Facebook accounts” (Ai là người đứng đằng sau các Tweet? Đây là cách mà 7 hãng thông tấn quản lý các tài khoản Twitter và Facebook của mình), của tác giả Joseph Lichterman Trong nghiên cứu này, tác

giả đã tiến hành phỏng vấn, khảo sát các biên tập viên phụ trách mạng xã hội của 7 hãng thông tấn lớn như: ABC News, the AP, CNN, NBC News, The New York Times, USA Today và The Wall Street Journal về việc họ quản lý, sử dụng các tài khoản trên Twitter và Facebook của mình như thế nào

“Ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến môi trường báo chí Việt Nam” –

Tác giả Nguyễn Khắc Giang – Đại học Aarhus (Đan Mạch) và Đại học Thành phố London (Anh Quốc) Tài liệu này nằm trong khuôn khổ bài báo đăng trên tạp chí khoa học, nội dung mang tính đại cương về ảnh hưởng của truyền thông xã hội tới môi trường báo chí nói chung, chứ chưa đi sâu phân tích, nghiên cứu về việc làm sao để khai thác, phát triển thông tin bài báo từ mạng xã hội

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu cũng thực hiện nhiều công trình nghiên cứu về mạng xã hội và sự tác động của công cụ truyền thông này đối với báo chí Có thể kể đến một số nghiên cứu như: Thạc sĩ Lê

Thu Hà, Sự gia tăng tính tương tác của công chúng – tương lai của báo chí, đăng

trên nghebao.org, ngày 0 2/01/2014 Nghiên cứu này bàn về sự tương tác của công chúng với báo chí Tác giả nhận định, với ảnh hưởng từ sự phát triển mạnh

Trang 15

11

mẽ toàn cầu hóa báo chí, của công nghệ truyền thông cũng như từ khả năng thu hút và đáp ứng nhu cầu thông tin cho công chúng của các cơ quan báo chí, cùng với sự nâng cao đời sống dân trí, khả năng tương tác báo chí với công chúng có thể ngày càng được cải thiện hơn so với hiện tại

Nhà báo Lê Quốc Minh (Tổng Biên tập VietnamPlus) với tham luận “Kinh nghiệm sử dụng truyền thông xã hội trong hoạt động thu thập thông tin, xuất bản

và quảng bá của VietnamPlus" Trong bản tham luận này, nhà báo Lê Quốc Minh

đã chia sẻ những kinh nghiệm của VietnamPlus trong việc sử dụng truyền thông xã hội để thu thập thông tin, sản xuất, phát triển nội dung trang báo điện tử VietnamPlus Đồng thời, bản tham luận cũng đưa ra những ưu điểm, hạn chế của vấn đề này Đây là kinh nghiệm quý giá cho nhiều nhà báo trong việc sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung trang báo điện tử của mình

TS Huỳnh Văn Thông (Chủ nhiệm Khoa Báo chí - Truyền thông, Đại học

Khoa học xã hội & Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh) với tham luận "Nhận diện ảnh hưởng của truyền thông xã hội đến báo chí Việt Nam", tại Hội thảo

quốc tế “Truyền thông xã hội, Truyền thông cổ điển và dư luận xã hội” do Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Viện KAS (Đức) tổ chức ngày 24/10/2013 Trong bản tham luận của mình, tác giả đã chỉ rõ những đặc điểm của truyền thông xã hội

và những ảnh hưởng của nó đến báo chí Việt Nam Đặc biệt, TS Huỳnh Văn Thông đã đưa ra khái niệm “báo chí nhái”, “tin tức ký sinh” từ những thông tin thiếu kiểm chứng trên mạng xã hội, bởi những nhà báo “trá hình” Đồng thời, tác giả đã kiến nghị những giải pháp nhằm khắc phục tình trạng này

Tháng 6-2014, PGS.TS Nguyễn Thành Lợi cho ra mắt cuốn sách “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại” Trong chương I của cuốn sách,

tác giả đã đề cập đến quan niệm về truyền thông xã hội, lịch sử ra đời, phân loại

và đặc điểm của truyền thông xã hội Tác giả cũng chỉ ra những ảnh hưởng và vai trò của truyền thông xã hội đối với báo chí hiện đại; sự dịch chuyển từ truyền

Trang 16

12

thông in ấn sang truyền thông số; quảng bá thông tin cho các cơ quan báo chí qua truyền thông xã hội

Một nghiên cứu khác cũng được công bố trong tháng 6/2014 là cuốn

sách do TS Đỗ Chí Nghĩa (chủ biên), “Báo chí và mạng xã hội” Trong cuốn sách

này, tác giả đã đề cập đến khái niệm về mạng xã hội, đặc điểm mạng xã hội tại Việt Nam hiện nay; sự tác động của mạng xã hội đến đời sống cũng như việc quản lý mạng xã hội ở Việt Nam Đáng chú ý, tác giả đã phân tích về mối quan hệ, tác động qua lại giữa mạng xã hội và báo chí, trong đó đề cập đến tác động của mạng xã hội trong việc quảng bá, phát triển tin bài cho báo chí nói chung

“Tác động của mạng xã hội với việc xử lý thông tin của báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay” – Tác giả Dương Nam Hoàng – Luận văn Thạc sĩ khóa K17-

Học viện Báo chí và Tuyên truyền (Hà Nội) Luận văn này đề cập đến tác động của mạng xã hội với thông tin trên báo mạng điện tử, tập trung nghiên cứu ở khía cạnh phóng viên/nhà báo khai thác, xử lý thông tin từ các Facebooker, blogger để viết tin, bài cho báo chứ chưa đi sâu phân tích về việc làm thế nào để kích thích người dùng mạng xã hội cung cấp thông tin giá trị cho tòa soạn, từ đó nhà báo có “tài nguyên” để phát triển nội dung tin bài mới

“Báo điện tử với việc khai thác và sử dụng nguồn tin từ mạng xã hội” – Tác giả Nguyễn Thị Hằng – Luận văn Thạc sĩ năm 2014 – Khoa Báo chí và Truyền thông – Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn này đề cập đến việc phóng viên báo điện tử tìm kiếm, khai thác thông tin trên mạng xã hội để sáng tạo tác phẩm báo chí, chứ chưa tập trung vào khía cạnh khai thác thông tin công chúng phản hồi qua mạng xã hội của tờ báo đó để phát triển nội dung bài báo

Có thể nói, cho đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến công chúng báo chí, hoạt động quảng bá thông tin báo chí trong bối cảnh mạng xã hội phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, chưa có đề tài nào tập trung nghiên cứu chuyên sâu về việc sử dụng mạng xã hội của báo điện tử để phát triển

Trang 17

13

nội dung tin bài cho chính trang báo điện tử đó, thông qua việc khảo sát các mạng

xã hội hàng đầu và một số tờ báo điện tử hiện nay Bởi vậy, tác giả hy vọng, đề tài

“Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử Việt Nam” sẽ là tài

liệu tham khảo tốt cho các nhà báo và cơ quan báo chí

Qua việc nghiên cứu, khảo sát, đề tài sẽ làm rõ về cách thức của việc phát triển nội dung trên mạng xã hội, từ đó đưa ra cái nhìn sâu sắc về quy trình xử lý thông tin do công chúng cung cấp như thế nào để có thể phát triển thành những tin bài hay, đa chiều, độc đáo, nhanh chóng cho báo mạng điện tử, thu hút sự quan tâm thực sự của công chúng, tăng lượt theo dõi, lượt tiếp cận thông tin bài báo, lượt tương tác với trang báo Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong việc thu thập, xử lý thông tin của công chúng trên mạng xã hội

để phát triển nội dung cho các trang báo mạng điện tử, đồng thời cải tiến nội dung bài viết ra sao cho thực sự hữu ích đối với công chúng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ một số khái niệm công cụ, hệ thống hóa nghiên cứu, đánh giá thực trạng sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung tin bài tại các báo điện tử khảo sát, từ đó đề xuất giải pháp nhằm phát triển nội dung báo điện tử Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu kể trên, luận văn phải giải quyết được một số nhiệm vụ sau:

Làm rõ một số khái niệm, xây dựng khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu; Khảo sát, đánh giá thực trạng việc sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung tin bài tại một số báo điện tử trong diện khảo sát;

Đề xuất giải pháp sử dụng mạng xã hội hiệu quả để phát triển nội dung tin bài các báo điện tử tại Việt Nam

Trang 18

14

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Việc sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung tin bài các trang báo mạng điện tử Việt Nam hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn, tác giả lựa chọn mạng xã hội Facebook, Youtube của báo điện tử VietnamPlus.vn, VietNamnet.vn, VnExpress.net và 3 trang báo điện

tử này, thời gian từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 4 năm 2017 để khảo sát

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận: Vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư

tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về vấn đề Báo chí, mạng xã hội, vai trò, nhiệm vụ của báo chí, cũng như kết hợp với nhiều phương pháp nghiên cứu như: phương pháp nghiên cứu lịch sử và khai thác

tư liệu có sẵn, phương pháp hệ thống hóa, điều tra, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp Ngoài ra, luận văn sử dụng, kế thừa có chọn lọc kết quả, quan điểm,

phương pháp tiếp cận các công trình nghiên cứu và tư liệu có liên quan

5.2 Phương pháp nghiên cứu công cụ

Phương pháp phỏng vấn sâu lãnh đạo một số cơ quan báo chí, phóng viên

về cách thức sử dụng thông tin trên mạng xã hội để phát triển nội dung tin bài của báo điện tử

Phương pháp phân tích nội dung: Tác giả lựa chọn phân tích nội dung bình luận, chat, video, hình ảnh trên mạng xã hội; phân tích nội dung các bài đăng trên một số tờ báo khảo sát để phục vụ cho vấn đề nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả lựa chọn, nghiên cứu các tài liệu liên quan để phục vụ cho vấn đề nghiên cứu

Phương pháp khảo sát: Tác giả khảo sát các bài báo, thông tin phản hồi từ người dùng mạng xã hội theo đối tượng nghiên cứu để phục vụ cho đề tài

Trang 19

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì nội dung của luận văn gồm có 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về mạng xã hội và phát triển nội dung báo điện tử Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử

Chương 3: Một số giải pháp về việc sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử Việt Nam hiện nay

Trang 20

16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MẠNG XÃ HỘI

VÀ PHÁT TRIỂN NỘI DUNG BÁO ĐIỆN TỬ VIỆT NAM

1.1 Lý luận chung về mạng xã hội và báo điện tử

1.1.1 Mạng xã hội

1.1.1.1 Khái niệm mạng xã hội

Trong cuốn chuyên khảo “Mạng xã hội với sinh viên”, các tác giả Trần Hữu Luyến, Trần Thị Minh Đức và Bùi Hồng Thái đã phân tích: “Mạng xã hội là khái niệm mới được hình thành trong thập niên cuối của thế kỷ XX, bắt đầu bằng sự ra đời của Classmate.com (1995), SixDegrees (1997), kế đến là sự nở rộ của một loạt các trang mạng khác Một cách chung nhất, mạng xã hội là tập hợp các cá nhân với các mối quan hệ về một hay nhiều mặt được gắn kết với nhau” [8, tr 32]

Cơ bản nhất mạng xã hội được cấu thành từ hai bộ phận là con người và những mối liên hệ giữa họ Những người sử dụng mạng xã hội được gọi là cư dân mạng

Mạng xã hội trên Internet bao gồm các đặc điểm nổi bật: Tính liên kết cộng đồng, tính đa phương tiện, tính tương tác, khả năng truyền tải và lưu trữ lượng thông tin khổng lồ Các trang mạng xã hội có nhiều loại tính năng khác nhau trong

đó phổ biến là tạo hồ sơ cá nhân, kết bạn trực tuyến, tham gia nhóm trực tuyến, chia sẻ, bày tỏ ý kiến và tìm kiếm thông tin Các tiện ích đó cho phép người sử dụng tạo dựng các mối liên hệ mới, thể hiện sự sáng tạo, đổi mới phương thức giao tiếp truyền thống Trên thế giới, mạng xã hội ra đời đã thay đổi hoàn toàn phương thức giao tiếp của cư dân mạng qua cách kết nối với nhau nhờ yếu tố tích hợp đa tính năng vào cùng một trang mạng như chat, email, phim ảnh, chia sẻ file Mạng

xã hội nhanh chóng trở thành một hiện tượng phổ biến toàn cầu thu hút đông đảo người dùng, nhất là giới trẻ

Theo tác giả: Mạng xã hội (social networking) là trang web nối kết các thành viên trên Internet lại gần nhau với nhiều mục đích khác nhau, không phân

Trang 21

17

biệt không gian và thời gian Những người tham gia vào mạng xã hội được gọi là

“cư dân mạng”

1.1.1.2 Quá trình phát triển của mạng xã hội

Trong cuốn “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại”

[8, tr.11], PGS.TS Nguyễn Thành Lợi đã viết: Từ những email đầu tiên , vấn đề giao tiếp rộng rãi của con người qu a Internet đã có những bước tiến dài Bên cạnh

đó, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ là điều kiện đủ để hình thành nên những trang mạng xã hội đầu tiên trên thế giới

Năm 1994, mô ̣t trong những những ma ̣ng xã hô ̣i trực tuyến đầu t iên trên thế giới được ra đời : Geocities Ý tưởng thành lập của Geocities là cho phép người dùng tự xây dựng những website của riêng mình theo từng chủ đề nhất định Geocities sau đó được Yahoo mua la ̣i với giá 3,57 tỷ USD vào năm 1999 Dịch vụ này sau đó đã bị Yahoo “khai tử” vào năm 2009

Năm 1995, mạng xã hội TheGlobe com ra đời , cho phép người dùng tự do chia sẻ những trải nghiê ̣m của cuô ̣c sống và cùng bàn luâ ̣n với những người có cùng sở thíc h TheGlobe.com bi ̣ đóng cửa vào năm 2008 Trước đó, trang web đã

đa ̣t được 1 kỷ lục đáng h ổ thẹn khi giá trị bị sụt giảm từ 850 triê ̣u USD xuống còn

4 triê ̣u USD chỉ trong vòng chưa đầy 3 năm

Năm 1997, phần mềm AOL Instant Messeng er, phần mềm chat đầu tiên trên thế giới được ra mắt và trở nên rất thông du ̣ng

Cũng trong năm nà y, dịch vụ SixDegrees com ra mắt Đây là ma ̣ng xã hô ̣i đầu tiên cho phép người dùng tự ta ̣o các profile và liên kết ba ̣n bè Hiê ̣n ma ̣ng xã

hô ̣i này vẫn còn hoa ̣t đô ̣ng những chỉ dành cho những thành viên cũ Những ai muốn tham gia phải nhâ ̣n được thư mời từ những thành viên này

Năm 2002, Friendster, mạng xã hội liên kết bạn bè thực ở cuộc sống bên ngoài được ra đời Friendster đã đa ̣t được 3 triê ̣u thành viên chỉ trong 3 tháng đầu tiên sau khi ra mắt Hiê ̣n nay, Friendster vẫn là ma ̣ng xã hô ̣i kết nối và tìm kiếm bạn bè lớn nhất thế giới

Trang 22

18

Năm 2003 đươ ̣c xem là năm bùng nổ của ma ̣ ng xã hô ̣i , khởi đầu với sự ra mắt của MySpace

Được xem như là một “bản sao” của Friendster , nhưng có sự đầu tư ma ̣nh

mẽ từ các công ty quảng cáo trực tuyến và công nghệ Phiên bản đầu tiên của MySpace đươ ̣c lâ ̣p trình và ra mắt chỉ trong… 10 ngày

Tiếp ngay sau đó , là sự ra mắt của các mạng xã hội khác như Tribe net, LinkEdin, Classmate.com, Jaiku, NetLog…

Năm 2004, Mark Zuckerberg , khi đó còn là sinh viên trường đa ̣i ho ̣c Harvard ra mắt TheFacebook (Facebook), là cổng liên lạc và giao tiếp dà nh cho sinh viên của trường Facebook đã có 19.500 thành viên chỉ trong tháng đầu tiên sau khi đươ ̣c giới thiê ̣u

Năm 2006, “tiểu” blog Twitter đươ ̣c ra mắt Được xem như cách thức đơn giản nhất để người dùng có thể dễ dàng chia sẻ trạng thái của mình với bạn bè và những ai quan tâm Kỷ lục của Twitter đạt được khi trận bóng đá giữa Nhật Bản

và Đan Mạch tại vòng chung kết World Cup 2010, đã có trung bình 3282 tweet đươ ̣c đăng tải trong 1 giây

Năm 2008, Facebook vươ ̣t qua MySpace để trở thành ma ̣ng xã hô ̣i lớn nhất thế giới, về cả lượng người dùng lẫn số lượng truy câ ̣p

Đặc biệt, cả Facebook lẫn MySpace đều vượt xa Friendster , mạng xã hội đã từng dẫn đầu trong mô ̣t thời gian dài Tuy nhiên, Friendster vẫn đang rất phát triển

ở khu vực châu Á Số người đến từ châu Á chiếm 90% lượng truy câ ̣p của ma ̣ng xã

hô ̣i này

Năm 2010, mạng xã hội chuyên về chia sẻ hình ảnh, video có tên Instagram được thành lập bởi Kevin Systrom và Mike Krieger Trong cuộc thâu tóm lịch sử, Facebook đã thâu tóm Instagram với giá 1 tỷ USD tiền mặt và cổ phiếu trong tháng 4/2012 Facebook có ý định để Instagram độc lập với Facebook Tạp chí Time của

Mỹ xếp hạng Instagram vào danh sách 50 ứng dụng tuyệt vời nhất chạy trên hệ điều hành Android vào năm 2013

Trang 23

19

Ngoài ra, còn rất nhiều các mạng xã hội khác đang dần chiếm ưu thế tại Việt Nam như Youtube, Google +, Snapchat, Zalo…

Theo số liệu thống kê thì Top 4 mạng xã hội lớn nhất hiện nay là:

+ Facebook (ra mắt từ 2004) với hơn 1,86 tỷ người dùng (2016)

+ MySpace (ra mắt từ 2003) với hơn 560 triê ̣u người dùng (2016)

+ Twitter (ra mắt từ 2006) với hơn 240 triê ̣u người dùng (2016)

+ Instagram (ra mắt từ 2010) với 600 triê ̣u người dùng (2016)

Có thể thấy hiện nay, mạng xã hội Facebook với hơn 1,86 tỷ người dùng, đang giữ vị trí thống trị trên thế giới Đây được xem là một môi trường chia sẻ, khai thác thông tin với lượng công chúng khổng lồ mà các trang báo điện tử không

nên bỏ lỡ trong công cuộc phát triển nội dung

1.1.1.3 Đặc điểm của mạng xã hội

Mạng xã hội có những đặc điểm nổi bật, bao gồm: tính liên kết cộng đồng, tính đa phương tiện, tính tương tác, khả năng truyền tải và lưu trữ lượng thông tin khổng lồ

Tính liên kết cộng đồng: Đây là đặc điểm nổi bật của mạng xã hội, cho phép

mở rộng phạm vi kết nối giữa người với người trong không gian đa dạng Người sử dụng có thể trở thành bạn của nhau thông qua việc gửi liên kết mời kết bạn mà không cần gặp gỡ trực tiếp Việc gửi liên kết này tạo ra một cộng đồng mạng với

số lượng thành viên lớn Những người chia sẻ cùng một mối quan tâm cũng có thể tập hợp lại thành các nhóm trên mạng xã hội, thường xuyên giao lưu, chia sẻ trên mạng thông qua việc bình luận hay dẫn các đường liên kết trên trang chung của nhóm

Tính đa phương tiện: Hoạt động theo nguyên lý của web 2.0, mạng xã hội

có rất nhiều tiện ích nhờ sự kết hợp giữa các yếu tố chữ viết, âm thanh, hình ảnh, hình ảnh động, video,… Sau khi đăng ký mở một tài khoản, người sử dụng có thể

tự do xây dựng một không gian riêng cho bản thân Nhờ các tiện ích và dịch vụ mà

Trang 24

20

mạng xã hội cung cấp, người dùng có thể chia sẻ đường dẫn, tệp âm thanh, hình ảnh, video,… Không những vậy, họ có thể tham gia vào các trò chơi trực tuyến đòi hỏi có nhiều người cùng tham gia, gửi tin nhắn, chat với bạn bè, từ đó tạo dựng các mối quan hệ mới trong một xã hội ảo Đặc điểm này được phản ánh trong cấu trúc phân lớp ứng dụng của mạng xã hội

Tính tương tác: Thể hiện không chỉ ở chỗ thông tin được truyền đi và sau đó phản hồi từ phía người nhận, mà còn phụ thuộc vào cách sử dụng của người dùng mạng xã hội Đặc điểm này thể hiện qua việc tương tác giữa người dùng, yêu cầu người dùng phải thao tác đọc, viết dữ liệu lên cơ sở dữ liệu

Khả năng truyền tải và lưu trữ lượng thông tin khổng lồ: Tất cả các mạng xã hội đều có những ứng dụng tương tự nhau như đăng trạng thái, đăng nhạc hoặc video clip, viết bài… nhưng được phân bổ dung lượng khác nhau Các trang mạng

xã hội lưu trữ thông tin và nhóm sắp xếp chúng theo trình tự thời gian, nhờ đó người sử dụng có thể truy cập và tìm lại lượng thông tin khổng lồ đã từng được đăng tải

1.1.2 Báo điện tử

1.1.2.1 Khái niệm báo điện tử

Khởi nguồn của Internet là các máy tính IBM dùng chung vào những năm

1960 tại Mỹ J.C.K Licklider được coi là người sinh ra khái niệm toàn cầu, với khái niệm “Mạng Thiên Hà” (Galatic Network) được công báo năm 1962 Ông tham gia vào quá trình kiến thiết mạng ARPNET - tiền thân của Internet ngày nay Năm 1990, Tim Berners - Lee là người sáng tạo ra cụm từ “World Wide Web” cụm từ này được viết tắt là www - luôn đi kèm với địa chỉ website Kể từ đó Internet thực sự hình thành và phát triển mạnh mẽ Nếu như Radio mất 38 năm để đạt đến con số 50 triệu người dùng, 13 năm cho Tivi thì Internet chỉ cần có 5 năm Theo ước tính của Liên minh Viễn thông thế giới (ITU) 40% dân số thế giới tương đương khoảng 2,7 tỷ người được sử dụng Internet vào cuối năm 2013 Mức truy cập Internet được dự báo sẽ vẫn còn tăng cao [34]

Trang 25

Đến tháng 10/1993, Khoa Báo chí Đại học Florida (Mỹ) tung ra tờ báo điện

tử đầu tiên Năm 1994, phiên bản online của tạp chí Hotwired chạy những banner quảng cáo đầu tiên và hàng loạt báo khác tại Mỹ ồ ạt mở website “Cơn sốt vàng” của thời thông tin trực tuyến bắt đầu Cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, số lượng các tờ báo điện tử cũng nở rộ khắp nơi trên thế giới Có thể coi báo điện tử hiện nay là sự hội tụ của cả báo giấy (text), báo tiếng (audio) và báo hình (video) Người lướt web không chỉ được cập nhật tin tức dưới dạng chữ viết mà còn có thể nghe rất nhiều kênh phát thanh và xem truyền hình ngay trên các website

Với sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng Internet, báo điện tử ra đời

đã, đang và sẽ phát triển nhanh chóng Thực tế tên gọi về loại hình báo điện tử đến nay vẫn chưa thống nhất và có nhiều tên gọi khác nhau: báo trực tuyến, báo online, báo chí Internet… Phổ biến nhất hiện nay là tên gọi báo điện tử, báo trực tuyến Trong luận văn này, tác giả xin phép được sử dụng thuật ngữ báo điện tử vì lý

do như sau: Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999 do Quốc hội ban hành trong đó Điều 3, Chương I của Luật sửa đổi, bổ sung một số

điều của Luật Báo chí quy định rõ: “Báo chí nói trong luật này là báo chí Việt Nam bao gồm: Báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe – nhìn thời sự được thực hiện bằng các biện pháp khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính), bằng Tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài” [ 10, tr.56]

Trang 26

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang trong cuốn sách “Báo mạng

điện tử - Đặc trưng và phương pháp sáng tạo”: Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web, phát hành trên mạng Internet, có ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, tức thời, đa phương tiện và tương tác cao [13]

Sau khi báo điện tử được chính thức công nhận là một loại hình báo chí cùng với sự phát triển ngày càng nhanh của Internet hàng loạt các tờ báo điện tử, các website thông tin ra đời Việt Nam chính thức hòa mạng Internet ngày 19/11/1997

và ngay sau đó tạp chí Quê hương lần đầu ra mắt bạn đọc trên mạng Internet đây được coi như là “mốc son” đánh dấu những bước đi đầu tiên trong lịch sử của báo điện tử Việt Nam

Tiếp đó lần lượt các tờ: Nhân dân, Lao động, rồi đến Đài truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, các trang web như VnExpress, VDC Media, VASC (sau này là VietNamnet)… ra đời Giai đoạn 1997

Trang 27

23

- 2001, báo điện tử Việt Nam chỉ dừng ở phiên bản điện tử của báo in Công việc của người làm báo điện tử thời bấy giờ đơn thuần chỉ là thực hiện quy trình đưa tin lên mạng bằng cách thực hiện hai thao tác đơn giản đó là: "copy - paste" (cắt - dán) Mãi sau đó, hàng loạt các trang bắt đầu nở rộ giai đoạn 2001 - 2003 như TintucVietnam (tiền thân của trang Dân trí); 24h.com.vn; VnExpress hay VietNamnet, VietnamPlus Đặc biệt, VietNamnet, VnExpress được công nhận

là 2 trong số những báo điện tử ra đời sớm nhất tại Việt Nam, và ngày càng phát triển mạnh mẽ

Trong báo cáo tỷ lệ người dân sử dụng các phương tiện truyền thông, nghe nhìn do Bộ Thông tin - Truyền thông tiến hành cho thấy: Tỷ lệ người dùng Internet vượt qua tỷ lệ người đọc báo giấy, nghe radio để trở thành phương tiện thông tin được sử dụng hàng ngày và phổ biến nhất tại Việt Nam, với tỷ lệ 42% Thông qua kết quả nghiên cứu cộng với thực tế đời sống báo chí Việt Nam hiện nay, ai cũng có thể dễ dàng nhận thấy, báo điện tử đang chiếm ưu thế sau khi

“vượt mặt” báo nói, báo hình và đặc biệt là báo in Ngay từ khi ra đời, báo điện

tử đã nhanh chóng trở thành một trong những phương tiện truyền thông hiện đại, có nhiều ưu thế hơn so với các loại hình báo chí truyền thống về khả năng truyền tải thông tin Hiện nay, báo điện tử đang ngày càng phát triển mạnh, có một vị thế nhất định trong hệ thống các phương tiện truyền thông, ảnh hưởng đến mọi tầng lớp trong xã hội Đồng thời, báo điện tử có số lượng độc giả truy cập ngày càng tăng nhanh Trong khuôn khổ đề tài luận văn, đối tượng khảo sát của tác giả là các báo điện tử VnExpress, Vietnamnet, VietnamPlus và mạng xã hội của 3 trang báo này

Theo tác giả: Báo điện tử là loại hình báo chí được xây dựng theo hình

thức một trang web và phát hành dựa trên nền tảng Internet Báo điện tử cho phép mọi người trên khắp thế giới tiếp cận, chia sẻ tin tức nhanh chóng không phụ thuộc vào không gian và thời gian”

Trang 28

24

1.1.2.2 Đặc trưng của báo điện tử

Một trong những đặc trưng quan trọng nhất của báo điện tử so với các loại hình báo chí khác đó là khả năng đa phương tiện Đặc trưng này đã được nhiều tác giả, nhà nghiên cứu đề cập đến Trong quá khứ, người ta thường nhắc đến đặc trưng này của báo điện tử, thể hiện qua sự tích hợp giữa văn bản, âm thanh và hình ảnh Tuy nhiên, theo thời gian cùng sự phát triển của báo điện tử, đặc trưng này được bổ sung thêm những yếu tố khác như các chương trình tương tác, đồ họa thông tin (infographics) và đặc biệt trong xu thế phát triển của báo điện tử hiện nay là khả trực quan hóa dữ liệu (data visualization) trên báo điện tử

Đồ họa thông tin là việc sử dụng nhiều hình minh họa để giải thích cho các dữ liệu Trong đồ họa thông tin, thường xuất hiện những hình ảnh minh họa đẹp, được chau chuốt kỹ lưỡng để giải thích cho thông tin Đồ họa thông tin thường được thiết kế với mục đích là kể hay giải thích một câu chuyện cụ thể và

sẽ thường được dùng cho nhóm độc giả cụ thể Phương pháp đưa tin cho đồ họa thông tin này thì ít khi được sử dụng cho một đồ họa thông tin khác, các dữ liệu trong đồ họa thông tin thường là cố định Việc thiết kế đồ họa thông tin thường liên quan nhiều đến các hoạt động thủ công Có thể lấy ví dụ về đồ họa thông tin như hình ảnh về đường đi của một máy bay, tóm tắt tiểu sử của một nhân vật nào đó,…

Đặc trưng của trực quan hóa dữ liệu là có lượng dữ liệu và loại dữ liệu nhiều hơn, chú trọng nhiều hơn vào các con số so với đồ họa thông tin Dữ liệu trong trực quan hóa dữ liệu thay đổi thường xuyên để thể hiện sự thay đổi về tình trạng diễn biến sự kiện, sự việc, hiện tượng Bên cạnh đó, trực quan hóa dữ liệu bao gồm những con số có khả năng tương tác trong khi đó đồ họa thông tin thường ít bao gồm cả những con số có khả năng tương tác Trong một số trường hợp, một gói dữ liệu tổng thể được giới thiệu mà không qua biên tập, người đọc sẽ tự tìm hiểu và tự tiếp nhận thông tin mình cần Các sản phẩm trực quan hóa dữ liệu hiếm khi mất nhiều thời gian làm thủ công mà có thể được tạo ra bởi các chương trình máy tính sử dụng các thuật toán Có thể lấy ví dụ cho sản phẩm trực quan

Trang 29

25

hóa dữ liệu về kết quả bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2016 của hãng thông tấn CNN Bản đồ này được thiết kế bao gồm tất cả các bang của nước Mỹ, khi độc giả rê chuột vào bang nào thì kết quả bầu cử của bang đó sẽ hiện ra với tỷ lệ số phiếu của từng ứng cử viên giành được, ứng cử viên nào đang chiếm ưu thế

và những con số này được cập nhật liên tục từ khi bắt đầu kiểm phiếu cho đến khi 100% số phiếu được kiểm Cách làm này giúp độc giả dễ dàng theo dõi cập nhật trực tiếp, liên tục kết quả kiểm phiếu theo thời gian mà không nhất thiết phải chờ đến khi có kết quả kiểm phiếu cuối cùng

Có thể nói, đồ họa thông tin và trực quan hóa dữ liệu là những cách thể hiện nội dung thông tin khá hấp dẫn, ngắn gọn và dễ theo dõi, thay vì những tin bài nhiều chữ Những sản phẩm thông tin này dễ thu hút độc giả và dễ thúc đẩy họ chia sẻ trên các tài khoản cá nhân của mình trên các kênh xã hội

Ngoài đặc trưng đa phương tiện, báo điện tử còn có một số đặc trưng khác như: tính tức thời nhanh chóng và phi định kỳ, tính tương tác, khả năng lưu trữ và tìm kiếm thông tin

Là loại hình báo chí tích hợp nhiều tiện ích, song trên thực tế, các báo điện

tử của nước ta còn một số hạn chế, yếu kém Tính tư tưởng, tính định hướng trị, tính chiến đấu, tính khoa học, tính chuyên nghiệp ở một số tờ báo điện tử chưa cao Một số báo thiếu cân nhắc khi đưa tin, bài về các vấn đề trong nước

và thiếu chọn lọc khi khai thác tư liệu, bài viết ở bên ngoài; một số tin, bài chạy theo thị hiếu tầm thường, giật gân, câu khách Ở một số cơ sở dịch vụ Internet, còn để xảy ra tình trạng lưu hành, phát tán các thông tin phản động, đồi trụy, vu khống, bôi nhọ danh dự cá nhân, gây bất bình trong nhân dân Chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ở trong và ngoài nước lợi dụng mạng Internet và báo điện tử để chống phá cách mạng nước ta

Trang 30

26

1.2 Tác động của mạng xã hội đến báo chí

Sự bùng nổ của mạng xã hội trong môi trường truyền thông Việt Nam đã tạo

ra những ảnh hưởng rất đáng kể đến báo chí Việt Nam, thậm chí còn làm đảo lộn cảnh quan báo chí và làm biến dạng diện mạo báo chí Việt Nam

1.2.1 Tác động tích cực

1.2.1.1 Mạng xã hội là đối tác tích cực của báo chí truyền thống

Bên cạnh những thông tin sai hoặc ít giá trị, mạng xã hội có nhiều thông tin hữu ích có thể trở thành thông tin cho báo chí Nếu nhà báo sử dụng truyền mạng

xã hội như một nguồn tin nghiêm túc (có kiểm chứng trước khi khai thác) thì đây thực sự là môi trường lý tưởng cung cấp thông tin, gợi ý đề tài và nguồn dữ liệu để người làm báo có thể nhận diện, thu thập, tiếp cận và phát hiện thêm nhiều đề tài mới, nóng Thực tế, nhiều người hoạt động báo chí thường xuyên sử dụng mạng xã hội để phục vụ công việc, cập nhật tin tức

Từ mạng xã hội, với những thao tác, kỹ năng nghiệp vụ, các nhà báo nhận diện được những tin tức nào, vấn đề nào tạo ra được sự gắn bó với người đọc có thời gian tồn tại lâu hơn để tiếp tục cung cấp các tin tức khác liên quan cho độc giả Một chuyên gia nước ngoài đã thống kê, có tới 75% phóng viên thấy blog hữu ích để phát triển ý tưởng, giúp họ nhìn nhận đa chiều và sâu sắc hơn, 21% trong số

họ bỏ ra mỗi ngày 1 tiếng để đọc blog và 16% trong số họ có trang blog riêng

Không chỉ đề tài, nội dung của nhiều bài viết cũng dựa trên những thông tin

từ mạng xã hội khi có nhiều bài viết chứa các cụm từ như: “cư dân mạng chia sẻ”,

“blogger X cho biết”, Facebooker Y bày tỏ”… xuất hiện ngày càng nhiều trên báo chí truyền thống

1.2.1.2 Góp phần quảng bá thông tin báo chí

Mạng xã hội là một công cụ giúp báo chí “nối dài” cánh tay Rất nhiều công chúng có thói quen là sau khi tiếp nhận thông tin từ báo chí, nếu thấy thông tin hay, hấp dẫn sẽ nhanh chóng chia sẻ những thông tin ấy trên mạng xã hội Với

Trang 31

sẻ lên các trang mạng xã hội Facebook, Twitter, Google+… Điều này đã giúp cho tên tuổi của các trang báo này trở nên phổ biến đối với cư dân mạng xã hội

1.2.1.3 Là kênh tương tác giữa báo chí với công chúng

Thực tế hiện nay cho thấy, mạng xã hội là môi trường cung cấp, truyền bá

và tương tác thông tin Phóng viên báo chí và cư dân mạng xã hội sẽ có điều kiện nắm bắt, cập nhật thông tin; tòa soạn tương tác, thiết lập những mối quan hệ và lắng nghe ý kiến của công chúng Rất nhiều nhà báo đồng thời là thành viên của các mạng xã hội có điều kiện theo dõi, cập nhật phản hồi của độc giả, tham khảo ý kiến cộng đồng mạng, nắm bắt chiều hướng dư luận về những nội dung mà báo chí

đề cập Sự tương tác giữa báo chí và công chúng trên mạng xã hội diễn ra nhanh chóng và phổ biến

Một số báo điện tử ở Việt Nam lập Fanpage (trang dành cho người hâm mộ) trên Facebook để tiện giao lưu với độc giả như: VnExpress, VietnamPlus, VietNamnet…

Trên mạng xã hội cũng xuất hiện các hội, nhóm của những người làm báo, nhà báo vừa chia sẻ, trao đổi, thảo luận dưới góc độ đồng nghiệp vừa phản hồi dưới góc độ là độc giả của nhau Nhiều nhà báo nổi tiếng có mạng lưới “bạn bè”,

“người theo dõi” (subscribers, followers) khá rộng, điều này giúp họ và tòa soạn

Trang 32

28

tiếp nhận ý kiến, bình luận của độc giả nhanh, nhiều, đa dạng và công khai hơn Rõ ràng, mạng xã hội mà báo chí đã gần gũi hơn với công chúng, có nhiều cơ hội hiểu và tham khảo ý kiến từ công chúng

1.2.1.4 Mạng xã hội “bù đắp” không gian công cộng cho báo chí truyền thống

Mạng xã hội với sự tương tác thông tin khá tự do của các cá nhân đã tạo nên một không gian công cộng của công chúng có thể tự do bàn luận, trao đổi, thể hiện quan điểm và ý kiến trước các vấn đề của xã hội Đây cũng là điều mà báo chí truyền thống hiện nay đang còn hạn chế Sự bù đắp này của mạng xã hội với báo chí truyền thống thể hiện ở các dạng như:

- Bài báo chính thức có thể được viết với quan điểm rất chính thống và chịu nhiều áp lực kiểm soát nội dung, nhưng các nội dung phản hồi của công chúng trực tiếp lên bài viết đó thì có thể tự do hơn, vì được phát biểu dưới dạng ý kiến công chúng, nhất là những ý kiến đó là ẩn danh, nặc danh

- Ngay trong trường hợp tòa soạn hạn chế, việc đăng tải các phản hồi của bạn đọc kèm bài viết để phản ánh quan điểm đa chiều thì các phản hồi ấy sẽ chuyển sang môi trường mạng xã hội thông qua các hoạt động đánh dấu (tag) trên mạng xã hội hoặc đăng lại trên các diễn đàn trực tuyến Khi đó các ý kiến người đọc và dư luận sẽ tự do và thoát khỏi sàng lọc của “hàng rào” biên tập ở tòa soạn báo chí Thực tế này hiện nay đã phổ biến

- Đây là một sự tương tác tích cực giữa mạng xã hội và báo chí truyền thống, giúp giữ cho báo chí truyền thống không khí sôi nổi cần thiết để công chúng tiếp nhận thông tin đa chiều và các thành viên xã hội có cơ hội đồng tham gia vào các quyết định chung của xã hội

1.2.2 Tác động tiêu cực

1.2.2.1 Tin tức xã hội và sự biến đổi của báo chí truyền thống

Báo chí truyền thống trong bối cảnh gần như giữ vai trò độc tôn trong việc cung cấp tin tức có quyền lựa chọn tin tức để đăng tải và làm chủ cuộc chơi truyền

Trang 33

29

thông Báo chí truyền thống tạo ra sự khác biệt về giá trị tin tức bằng cách tập trung vào những vấn đề thời sự có tác động kinh tế - xã hội quan trọng và ít sa quá nhiều vào việc đưa tin về người nổi tiếng, giải trí, bạo lực, sinh hoạt cá nhân, địa phương hay còn được coi là “phi tin tức” (non-news)

Nhưng sự tham gia của mạng xã hội vào cảnh quan báo chí hiện đại đã làm thay đổi đáng kể cục diện này Công chúng, với sự hậu thuẫn của trào lưu mạng xã hội

đã có thêm những lựa chọn mới Trên môi trường mạng xã hội, những loại mà báo chí gọi là “phi tin” đang trở thành một làn sóng mới về nhu cầu tin tức, chi phối sự lựa chọn biên tập và xuất bản của tòa soạn Thông qua kết nối, phát tán thông tin trên diện rộng qua Internet, cộng với tăng cường khả năng theo dõi và giám sát mọi hoạt động

xã hội trên phạm vi toàn cầu nhờ các thiết bị di động, mạng xã hội còn tạo ra khối lượng các tin tức khổng lồ được chia sẻ mà phần lớn trong số đó là những tin tức kiểu

“phi tin” mà giờ đây được gọi với tên là tin tức xã hội (social news)

Các tin tức xã hội có một số đặc tính cơ bản như:

Được phát hiện ngẫu nhiên bởi các cá nhân

Được đăng tải tự do trong môi trường truyền thông xã hội

Thường tập trung vào những chủ đề mang tính giải trí, sinh hoạt cá nhân của giới ngôi sao, các tai nạn, sự cố, vụ án nhỏ lẻ trong đời sống thường ngày

Thường đính kèm các thông tin cảm xúc và đánh giá chủ quan của người đăng

Thường được viết bằng văn phong sinh hoạt, ngẫu hứng, lệch chuẩn

Các tin tức xã hội có hai lợi thế mà tin tức báo chí truyền thống không thể

và cũng không muốn có đó là: đăng ngay tức thời và biên tập hậu kiểm

Trước sự phát triển rầm rộ của tin tức xã hội, báo chí truyền thống cũng được hưởng nhiều lợi ích, đó là nhờ tốc độ truyền tải và số lượng thành viên đông đảo mà tin tức xã hội đem đến cho báo chí truyền thống một nguồn tin đa dạng và nhanh nhạy Mặt khác, sự thay đổi nhu cầu thông tin của người đọc trong bối cảnh truyền thông mới cũng tạo nên sự cạnh tranh, yêu cầu báo chí truyền thống phải vận động, chuyển mình Nhiều tin tức xã hội được đăng tải dưới các vỏ bọc ẩn

Trang 34

30

danh, nặc danh mà người đăng không phải chịu trách nhiệm về đạo đức truyền thông, trách nhiệm pháp lý, cũng không bị cản trở bởi một hàng rào biên tập nào còn báo chí truyền thống thì ngược lại Điều này đang tạo một áp lực lên báo chí truyền thống và là nguyên nhân dẫn đến việc báo chí truyền thống lợi dùng truyền thông xã hội để đăng tải các tin tức thiếu trách nhiệm thông qua một vài cách xử lý như: “Blogger X đã viết ”, “Facebooker cho biết…” Đây là một cách làm “tự sát” của báo chí truyền thống khi báo chí truyền thống tự đánh mất chỗ đứng danh giá của mình và tự xóa nhòa đi ranh giới giá trị của báo chí

1.2.2.2 Mạng xã hội hậu thuẫn “tin tức ký sinh” và “báo chí nhái”

Cảnh quan báo chí Việt Nam hiện nay còn ghi nhận một thực tế mà nguyên nhân cũng có liên quan đến sự ảnh hưởng của mạng xã hội đến báo chí truyền thống Đó

là hiện tượng nhiều trang thông tin điện tử tổng hợp “lấn sân” sang lĩnh vực sản xuất tin tức nhưng lại thu hút hơn nhiều so với báo chí chính danh, cho dù thứ tin tức được sản xuất ở trang này là kiểu tin tức khai thác “ký sinh” từ tin tức báo chí [24, tr 59]

Các trang thông tin điện tử tổng hợp không có chức năng báo chính danh (ví dụ: Kênh 14, 24h.com.vn…) đang ở giữa ranh giới của báo chí và mạng xã hội Chúng vừa khai thác nguồn tin tự do từ mạng xã hội lại vừa khai thác nguồn thông tin từ báo chí chính thức để tạo các giá trị tin bài riêng cho mình

Nhìn dưới góc độ báo chí thì những trang này là một loại “báo chí nhái” chuyên khai thác tin tức báo chí theo kiểu “ký sinh”, tạo ra một khu vực tin tức

“thứ cấp” so với nguồn tin tức gốc từ báo chí Thiếu tin tức gốc từ báo chí thì các trang này sẽ hụt tin bài trông thấy Nhưng nghịch lý là nếu báo chí bị truy cứu trách nhiệm về tin gốc đến mức phải gỡ bỏ bài đã đăng hoặc phải đính chính, xin lỗi thì các trang này lại phải mặc nhiên không phải làm điều tương tự Những nghịch lý như thế đã tạo nên một cạnh tranh không lành mạnh và làm thiệt hại đáng kể cho báo chí truyền thống Đây là một thách thức thiếu công bằng đối với

Trang 35

Thứ hai là về nguồn tin, “báo chí nhái” vừa sử dụng những nguồn tin tức báo chí chính thức lại vừa trộn chúng với các nguồn tin từ môi trường truyền thông

xã hội Ranh giới tin đồn – dư luận xã hội – tin được kiểm chứng trở nên khó xác định và làm cho độ tin cậy báo chí – một chỗ dựa xã hội quan trọng của báo chí truyền thống – bị lung lay một cách rõ ràng

Một ảnh hưởng lớn nữa của truyền thông xã hội đối với báo chí truyền thống diễn ra ở địa hạt kinh tế Quảng cáo và dịch vụ PR doanh nghiệp luôn là một nguồn thu sống còn của báo chí truyền thống Tuy nhiên sự phát triển của Internet nói chung và truyền thông xã hội nói riêng đã đem lại những giải pháp quảng cáo

và PR theo hướng “phi báo chí”, khiến thị trường quảng cáo và PR tái cấu trúc lại rất nhanh

1.3 Cách thức và quy trình sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử

Trang 36

32

1.3.1 Cách thức phát triển nội dung bài báo từ mạng xã hội

Một tác phẩm báo chí dù được thể hiện ở bất kỳ hình thức nào thì điều quan trọng nhất đó là tác phẩm báo chí đó phải có thông tin Đặc biệt, báo điện tử có ưu thế hơn các loại hình báo chí khác là không có giới hạn về dung lượng thông tin, thời lượng, và hơn thế nữa là thế mạnh cập nhật thông tin liên tục để đáp ứng nhu cầu của độc giả Sự ra đời và phát triển của Internet đã tạo tiền đề cho sự ra đời của báo điện tử - loại hình báo chí mới mẻ với những đặc điểm mà ít loại hình báo chí

có thể cạnh tranh được như: khả năng đa phương tiện, tính tương tác cao, khả năng truyền tải thông tin không hạn chế, tính thời sự và tính phi định kỳ, khiến cho thông tin trên báo mạng điện tử là thông tin sống động, nóng nhất, tươi mới nhất vì

có thể cập nhật từng giờ, từng phút thậm chí từng giây [23] Chính những lợi thế này đã đòi hỏi báo điện tử phải có một khối lượng thông tin vô cùng phong phú, đa dạng và hấp dẫn độc giả Để đáp ứng được nhu cầu thông tin ngày càng cao, càng nhiều, càng kỹ của độc giả đặt ra yêu cầu đối với báo điện tử phải đặc biệt chú trọng đến phương thức khai thác nguồn tin để thu hút, hấp dẫn bạn đọc

Với ưu thế cập nhật thông tin liên tục, tức thời đã và đang làm thay đổi thói quen tìm kiếm, chia sẻ và sử dụng các phương tiện truyền thông của công chúng Từng giây, từng phút trôi qua trong đời sống hàng ngày, các thành viên mạng xã hội chia sẻ các thông tin với nhau qua nhiều cách thức thể hiện như: trò chuyện, nhắn tin (messenger chat), chia sẻ tập tin (send file), gửi thư điện tử (Email), xem phim, hình ảnh, điện thoại (voice chat), diễn đàn (forum), trò chơi (game)… Chính điều này đã khiến cho hàm lượng thông tin trên truyền thông xã hội trở nên vô cùng đa dạng và phong phú [21, tr.59]

Hiện nay, báo điện tử VnExpress, VietNamnet, VietnamPlus đều có các Fanpage của mình Việc này vừa để phát triển thương hiệu tờ báo, truyền tải, quảng bá những bài báo “hot” hàng ngày, vừa để tương tác với độc giả, thu thập thông tin Các bài báo hay vấn đề được chia sẻ trên Fanpage của báo điện tử thường có những lời bình luận, có thể là ủng hộ quan điểm của nhà báo, có thể là trái chiều, và cũng có thể là cung cấp thêm tình tiết mới về vấn đề mà bài báo đề

Trang 37

từ các trang mạng xã hội

Hiện nay, theo tác giả tìm hiểu, có những cách thức sử dụng thông tin từ mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử như sau:

- Từ bình luận (comment) trực tiếp của người dùng mạng xã hội dưới bài viết

mà Fanpage của báo điện tử chia sẻ;

- Từ hình ảnh mà người dùng mạng xã hội chia sẻ với nhà báo;

- Từ video quay lại hiện trường sự việc;

- Live stream (quay và phát video trực tiếp) chia sẻ với tòa soạn qua mạng xã hội;

- Người dùng mạng xã hội chat/video call trực tiếp với nhà báo

Với những thông tin mà người dùng mạng xã hội cung cấp, cơ quan báo chí

cử phóng viên liên lạc với nguồn tin, gửi phóng viên xuống hiện trường thẩm định thông tin và phát triển tin bài mới theo chủ đề đó

Từ mạng xã hội bằng những thao tác, kỹ năng nghiệp vụ các nhà báo sẽ nhận diện được những tin tức nào, vấn đề nào tạo ra được sự gắn bó với người đọc

có thời gian tồn tại lâu hơn để tiếp tục cung cấp các tin tức khác liên quan cho độc giả Và bằng nhạy cảm nghề nghiệp, khả năng thâu tóm và xử lý thông tin, mỗi nhà báo có thể tìm thấy trong hàng triệu triệu tin tức, chia sẻ trên mạng xã hội sẽ có không ít những chủ đề, đề tài nào đó cho bài báo của mình Tuy nhiên vấn đề ở đây

là phải khai thác và sử dụng nguồn tin đó như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất và đảm bảo nội dung thông tin được truyền tải một cách chân thực nhất

Trang 38

Đối với báo điện tử bên cạnh đội ngũ phóng viên trực tiếp viết tin còn hàng trăm cộng tác viên trên khắp các miền của đất nước và thậm chí ngay cả đối tượng bạn đọc cũng chính là người cung cấp nguồn tin để báo điện tử này có thể khai thác tối đa nguồn tin nhằm nâng cao sức hấp dẫn của tờ báo đối với độc giả

Như vậy, theo tác giả, có thể khái quát phương thức khai thác thông tin từ mạng xã hội để phát triển nội dung của điện tử như sau: Từ đường dẫn bài viết chia

sẻ trên mạng xã hội của báo => Người dùng mạng xã hội cung cấp thêm thông tin

về chủ đề đó => Phóng viên tương tác lại để thẩm định, xác nhận thông tin theo tôn chỉ, mục đích của tờ báo, phù hợp với quy định của pháp luật, các nguyên tắc hoạt động của báo chí, đạo đức nhà báo => Sáng tạo tác phẩm báo chí mới

Tóm lại, theo tác giả: Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện

tử là việc phóng viên sử dụng những nguồn thông tin trên mạng xã hội để thẩm định, thực hiện theo quy trình tác nghiệp, khai thác sâu hơn về khía cạnh độc giả cung cấp và phát triển nội dung thành tác phẩm báo chí

1.3.2 Quy trình xử lý nguồn tin từ mạng xã hội

Xử lý nguồn tin trên báo chí đặc biệt đối với báo điện tử càng trở nên quan trọng bởi tính cập nhật, thời sự, nóng hổi, đòi hỏi quy trình báo điện tử phải nhanh chóng để chạy đua với tin tức từ mạng xã hội sớm nhất

Thông tin nhanh vẫn là một trong những yếu tố cạnh tranh hàng đầu đối với các báo điện tử hiện nay Vì thế đã đặt ra vấn đề làm thế nào để có thể có được thông tin sớm nhất, nhanh nhất Ngoài lượng phóng viên theo dõi từng lĩnh vực, các báo điện tử còn dựa vào mạng lưới cộng tác viên và cộng đồng bạn đọc thân thiết để có cơ hội tiếp cận, khai thác nguồn tin một cách nhanh nhất có thể

Trang 39

35

Những nhà báo hiện đại đều có ít nhất một tài khoản mạng xã hội, hàng ngày họ thường lướt web, truy cập các trang mạng xã hội để nắm bắt thông tin, tâm trạng và những vấn đề mà cư dân mạng đang quan tâm Họ có thể trao đổi trực tiếp với các thành viên mạng và hình thành trong đầu những ý tưởng cho nhiều bài báo mới của mình Từ đó, các tin tức mà báo chí đề cập càng trở nên nhanh hơn, cụ thể hơn, sát thực hơn và đáp ứng nhu cầu công chúng tốt hơn so với thời kỳ làm báo trước đây Để làm được điều này, quy trình xử lý nguồn tin trên báo điện tử cũng phải diễn ra nhanh chóng, chính xác, kịp thời

Các nhà báo chuyên nghiệp đều phải tuân thủ các bước tiến hành cơ b ản trong quy trình sáng tạo một tác phẩm báo chí là: “Nghiên cứu, thâm nhập thực tiễn, phát hiện đề tài ; Thu thập thông tin, dữ liệu; Thể hiện tác phẩm; Tự biên tập tác phẩm; Tổ chức tác phẩm trên sản phẩm báo chí , phát tán thông tin ; Theo dõi, nắm bắt và x ử lý thông tin phản hồi” [16] Trong đó, bước thu thập thông tin, dữ liệu hết sức quan trọng, làm sao để có thể thu thập đầy đủ, chính xác và nhanh nhất điều đó còn phụ thuộc vào tính chuyên nghiệp, nhạy bén của phóng viên

Nhiều tòa soạn báo điện tử trước những vấn đề “nóng”, thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận xã hội có thể tập hợp đội ngũ nòng cốt để lên ý tưởng và triển khai đề tài, viết bài Qua đó cho thấy, công chúng đã được quan tâm và ở khía cạnh nhất định, công chúng có khả năng “định hướng” thông tin cho báo chí, tham gia vào quá trình cung cấp thông tin cho ra đời một sản phẩm báo chí

Chia sẻ về quy trình xử lý nguồn tin khi khai thác được từ mạng xã hội Biên tập viên Nguyễn Thị Thu Phương (Ban Đời Sống, Báo điện tử VietNamnet.vn) cho biết: “Với những nguồn tin nóng, mang tính thời sự cao thì tòa soạn sẽ cử phóng viên đi xác minh, kiểm chứng, xử lý thông tin và dựng thành bài viết Với những thông tin không mang tính thời sự, đôi khi chỉ là những ý kiến, nhưng câu chuyện thì phóng viên có thể xử lý theo cách trích dẫn thông tin Tuy nhiên, trích dẫn cũng cần đặc biệt lưu ý: Nếu ghi cả địa chỉ người thật, việc thật phải xin phép họ đồng ý mới được sử dụng và đăng; nếu trích dẫn không nêu rõ tên tuổi, có thể là giấu tên hoặc nêu tên tắt hoặc đổi tên thì thường phóng viên viết tin bài đó không xin phép vẫn sử dụng vào tin bài và vẫn được đăng tải”

Trang 40

36

Phóng viên Kim Anh (Ban Du lịch, Báo điện tử VnExpress.net) cho biết:

“Nhiều khi, mình phát hiện những tin tức từ mạng xã hội, rồi khai thác, phát hiện

đề tài, hoặc phát triển nội dung bài báo mới từ đề tài trước, nhưng ở góc độ mới mà độc giả cung cấp Mình thấy họ nói vấn đề gì hay thì mình chat lại, liên lạc lấy thông tin chính thức hoặc đăng tải được luôn thì xin”

Như vậy, theo tác giả, quy trình xử lý nguồn tin từ mạng xã hội: Từ thông tin người dùng mạng xã hội cung cấp, tòa soạn cử phóng viên xác minh lại thông tin qua chat, gọi điện với nguồn tin Sau đó trực tiếp xuống hiện trường để kiểm chứng, thu thập thêm thông tin và sáng tạo tác phẩm báo chí

Tiểu kết chương 1

Độ phủ rộng của Internet ngày càng nở rộ cùng với đó báo điện tử, mạng

xã hội - một phương thức truyền thông mới xuất hiện trong xã hội hiện đại đang ngày phát triển mạnh mẽ Các mạng xã hội lớn như Facebook, Youtube, Tiwtter, Instagram, Google +… đang làm thay đổi quá trình tiếp nhận thông tin của công chúng Rất nhiều thông tin, sự kiện, sự việc, vấn đề liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến đời sống xã hội được công chúng tiếp nhận thông qua các trang mạng xã hội

Trong chương 1 này tác giả đã khái quát những vấn đề lý luận chung về báo điện tử, mạng xã hội Từ đó đưa ra những đặc điểm cơ bản, những tác động qua lại giữa mạng xã hội và báo điện tử Bên cạnh đó, tác giả cũng đã khái quát những điểm cơ bản ba cơ quan báo điện tử tiêu biểu là VnExpress, VietNamnet, VietnamPlus, cũng như những nét cơ bản về các trang mạng xã hội phổ biến hiện nay: Facebook, Google +, Instagram, Tiwtter

Ngày nay, mạng xã hội đang được ví như là “kho” thông tin, một nơi sản xuất và cung cấp những “nguồn tin mới” cho báo chí đặc biệt là báo điện tử khai thác góp phần làm đa dạng hóa nguồn tin, phục vụ nhu cầu ngày càng cao của độc giả Trước sự phát triển của mạng xã hội và nhu cầu đa dạng của công chúng nhiều báo điện tử, trong đó có ba báo điện tử tiêu biểu là VnExpress.net và VietNamnet.vn, VietnamPlus đã chọn cách coi mạng xã hội như là một trong

Ngày đăng: 18/07/2017, 20:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bùi Thị Bông (2014), Sử dụng truyền thông xã hội quảng bá thông tin cho báo điện tử Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng truyền thông xã hội quảng bá thông tin cho báo điện tử Việt Nam hiện nay
Tác giả: Bùi Thị Bông
Năm: 2014
5. PGS.TS Nguyễn Văn Dững, TS Đỗ Thị Thu Hằng (2012), Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.13-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Văn Dững, TS Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2012
6. Nguyễn Hải Đăng (2014), Sự “bùng nổ” của Facebook và một số vấn đề đặt ra, Báo Nhân Dân, (số ra ngày 6-2), tr.24-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự “bùng nổ” của Facebook và một số vấn đề đặt ra
Tác giả: Nguyễn Hải Đăng
Năm: 2014
7. Đỗ Anh Đức (2005), Xu hướng truyền thông trong kỷ nguyên web, Báo chí – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tập 6, tr. 78 – 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng truyền thông trong kỷ nguyên web, Báo chí – Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đỗ Anh Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
8. Đinh văn Hường (2013), Tổ chức và hoạt động toà soạn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội (tái bản, bổ sung) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và hoạt động toà soạn
Tác giả: Đinh văn Hường
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2013
9. Nguyễn Thị Hằng (2014), Báo điện tử với việc khai thác và sử dụng nguồn tin từ mạng xã hội, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo điện tử với việc khai thác và sử dụng nguồn tin từ mạng xã hội
Tác giả: Nguyễn Thị Hằng
Năm: 2014
10. Thanh Hải, Những con số đáng kinh ngạc về mạng xã hội toàn cầu, báo điện tử VnEconomy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những con số đáng kinh ngạc về mạng xã hội toàn cầu
11. Hồng Hạnh, Khi Facebook là nguồn tin, Tuổi trẻ, http://tuoitre.vn/van- hoa-giai-tri/548043/khi-facebook-la-nguon-tin.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi Facebook là nguồn tin
12. Ngô Lan Hương (2010), Mạng xã hội với việc truyền tải thông tin trong lĩnh vực văn hóa – giải trí, Khóa luận tốt nghiệp, Khoa Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạng xã hội với việc truyền tải thông tin trong lĩnh vực văn hóa – giải trí
Tác giả: Ngô Lan Hương
Năm: 2010
13. Đặng Thị Thu Hương, Công nghệ truyền thông và đạo đức làm báo trong kỷ nguyên số, Lý luận chính trị và truyền thông số tháng 4 – 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệ truyền thông và đạo đức làm báo trong kỷ nguyên số
16. Nguyễn Minh Huế (2014), Một số vấn đề đặt ra từ sự tương tác giữa mạng xã hội và báo chí, Tạp chí Tuyên giáo, (số 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đặt ra từ sự tương tác giữa mạng xã hội và báo chí
Tác giả: Nguyễn Minh Huế
Năm: 2014
17. Nguyễn Thế Kỷ (2011), Báo điện tử, trang tin điện tử và mạng xã hội: Định hướng phát triển và quảng lý, Tạp chí Cộng sản, (số 12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo điện tử, trang tin điện tử và mạng xã hội: "Định hướng phát triển và quảng lý
Tác giả: Nguyễn Thế Kỷ
Năm: 2011
18. TS Nguyễn Thành Lợi (2014), Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại
Tác giả: TS Nguyễn Thành Lợi
Nhà XB: NXB Thông tin và Truyền thông
Năm: 2014
19. Trần Hữu Luyến - Trần Thị Minh Đức - Bùi Thị Hồng Thái (2015), Mạng xã hội với sinh viên, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạng xã hội với sinh viên
Tác giả: Trần Hữu Luyến - Trần Thị Minh Đức - Bùi Thị Hồng Thái
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
20. Luật báo chí sửa đổi nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1999), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật báo chí sửa đổi nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Luật báo chí sửa đổi nước Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
21. TS Đỗ Chí Nghĩa (Chủ biên), TS Đinh Thị Thu Hằng (2014), Mạng xã hội và báo chí, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạng xã hội và báo chí
Tác giả: TS Đỗ Chí Nghĩa (Chủ biên), TS Đinh Thị Thu Hằng
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2014
22. TS Đỗ Chí Nghĩa (2014), Cảnh giác với những nguy cơ từ mạng xã hội, Tạp chí Người làm báo, (số 76), tr.52-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảnh giác với những nguy cơ từ mạng xã hội
Tác giả: TS Đỗ Chí Nghĩa
Năm: 2014
1. Chỉ thị 52 – CT/TW, ngày 22/7/2005 của Ban Bí thư về Phát triển và quản lý báo điện tử ở nước ta hiện nay Khác
3. Chính phủ (2013), Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng Khác
4. Chính phủ (2002), Nghị định số 51/2002/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2: Giao diện trang chủ kênh Youtube của VietNamnet - Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử việt nam
Hình 2.2 Giao diện trang chủ kênh Youtube của VietNamnet (Trang 46)
Hình 2.6: Bình luận về bài viết “Đình chỉ công tác hàng loạt cán bộ liên quan - Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử việt nam
Hình 2.6 Bình luận về bài viết “Đình chỉ công tác hàng loạt cán bộ liên quan (Trang 52)
Hình 2.8: Bình luận của độc giả trên VietNamnet ngày 19/3/2016 - Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử việt nam
Hình 2.8 Bình luận của độc giả trên VietNamnet ngày 19/3/2016 (Trang 54)
Hình 2.12: Bình luận của người dùng mạng xã hội về tin bài chưa có bằng - Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử việt nam
Hình 2.12 Bình luận của người dùng mạng xã hội về tin bài chưa có bằng (Trang 57)
Hình 2.13: Bài viết lấy mẫu chất thải mà Formosa đổ ra môi trường để xác định - Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử việt nam
Hình 2.13 Bài viết lấy mẫu chất thải mà Formosa đổ ra môi trường để xác định (Trang 58)
Hình 2.14: Bài viết “Bộ Công thương: Formosa được phép dùng hàng trăm tấn - Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử việt nam
Hình 2.14 Bài viết “Bộ Công thương: Formosa được phép dùng hàng trăm tấn (Trang 59)
Hình 2.15: Bình luận của Facebooker có Viet Thai lúc 23h00 ngày 05/5/2016: - Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử việt nam
Hình 2.15 Bình luận của Facebooker có Viet Thai lúc 23h00 ngày 05/5/2016: (Trang 60)
Hình 2.16: VietnamPlus đăng tải bài viết “Formosa chính thức nhận lỗi - Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử việt nam
Hình 2.16 VietnamPlus đăng tải bài viết “Formosa chính thức nhận lỗi (Trang 61)
Hình 2.17: Video “Formosa xin lỗi Nhà nước và nhân dân Việt Nam” đăng tải - Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử việt nam
Hình 2.17 Video “Formosa xin lỗi Nhà nước và nhân dân Việt Nam” đăng tải (Trang 62)
Hình 2.18: Bài viết “Cá bơi nhiều bị chuột rút nên chết hàng loạt” đăng tải trên - Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử việt nam
Hình 2.18 Bài viết “Cá bơi nhiều bị chuột rút nên chết hàng loạt” đăng tải trên (Trang 63)
Hình 2.22: Bình luận của độc giả trên Fanpage VietNamnet ngày - Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử việt nam
Hình 2.22 Bình luận của độc giả trên Fanpage VietNamnet ngày (Trang 67)
Hình 2.25: Bài viết “Chủ tịch TP.HCM: Dọn dẹp vỉa hè là thuận ý Đảng lòng - Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử việt nam
Hình 2.25 Bài viết “Chủ tịch TP.HCM: Dọn dẹp vỉa hè là thuận ý Đảng lòng (Trang 71)
Hình 2.29 - 2.30: Video phát trực tiếp và bình luận trên mạng xã hội - Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử việt nam
Hình 2.29 2.30: Video phát trực tiếp và bình luận trên mạng xã hội (Trang 75)
Hình 2.33: Bài viết “Lập trật tự vỉa hè ở Hà Nội: Không để điệp khúc ồn - Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử việt nam
Hình 2.33 Bài viết “Lập trật tự vỉa hè ở Hà Nội: Không để điệp khúc ồn (Trang 78)
Hình 2.36: Độc giả mạng xã hội đã phát hiện ra lỗi sai của bài báo “Những vụ - Sử dụng mạng xã hội để phát triển nội dung báo điện tử việt nam
Hình 2.36 Độc giả mạng xã hội đã phát hiện ra lỗi sai của bài báo “Những vụ (Trang 86)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w