Những đóng góp của Tăng, Ni trong Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định đối với Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội .... Công tác đối ngoại của Phật giáo đạt được
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÔN GIÁO HỌC
Người hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Hồng Dương
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các tư liệu, nguồn trích dẫn, ví dụ trong luận văn này đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận trong luận văn chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trương Văn Hưởng (Thích Giác Hưởng)
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Đến nay, trải qua hơn một năm học tập phấn đấu, luận văn đã hoàn thành Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã tận tình dạy bảo trong suốt thời gian theo học tại Bộ môn Tôn giáo học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Tác giả xin thành tâm tri ân công đức của Chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng, Ni trong Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung, tỉnh Nam Định Đặc
biệt được sự chỉ bảo tận tình của Thượng tọa Thích Thanh Giác – trưởng
Ban điều hành Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung đã giúp đỡ để tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình, đồng thời tác giả xin cảm ơn sự
giúp đỡ tận tình của Cô giáo Chủ nhiệm PGS TS Trần Thị Kim Oanh, cảm
ơn tập thể lớp Cao học khóa QH-2015-X-CH, ngành Tôn giáo học và bạn bè
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo hướng dẫn PGS
TS Nguyễn Hồng Dương Thầy đã trực tiếp định hướng nghiên cứu cho luận
văn này, đồng thời chỉ dạy tận tình cho tôi ngay từ cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu cho đến khi luận văn này hoàn thành
Do khả năng và thời gian học tập, nghiên cứu chưa nhiều, mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng, song cũng không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được sự chỉ dẫn và những ý kiến góp ý của chư tôn đức Tăng, Ni, các thầy, cô giáo, các nhà khoa học
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Tác giả luận văn
Trương Văn Hưởng
(Thích Giác Hưởng)
Trang 4MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 10
6 Đóng góp của luận văn 11
7 Kết cấu của luận văn 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA SƠN MÔN PHẬT GIÁO LINH QUANG – TRÀ LŨ TRUNG Ở TỈNH NAM ĐỊNH 12
1.1 Cơ sở hình thành của Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định 12
1.1.1 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo ở tỉnh Nam Định 12 1.1.2 Khái quát quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở tỉnh Nam Định 19
1.2 Quá trình ra đời và phát triển của Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định 26
1.2.1 Khái quát quá trình du nhập và phát triển của dòng thiền Lâm Tế ở Đàng Ngoài Việt Nam 26
1.2.2 Thời kỳ khai sáng và hệ thống truyền thừa của Sơn môn Phật giáo Linh Quang - Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định 33
Tiểu kết chương 1 41
CHƯƠNG 2 VAI TRÕ CỦA SƠN MÔN PHẬT GIÁO LINH QUANG - TRÀ LŨ TRUNG Ở TỈNH NAM ĐỊNH ĐỐI VỚI ĐẠO PHÁP - DÂN
Trang 5TỘC – CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN CỦA SƠN MÔN HIỆN NAY 42
2.1 Vai trò của Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định đối với Đạo pháp - Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội 42
2.1.1 Tư tưởng, phương pháp tu tập của Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định 42
2.1.2 Những đóng góp của Tăng, Ni trong Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định đối với Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội 54
2.2 Một số định hướng phát triển của Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định hiện nay 70
2.2.1 Hoàn thiện tổ chức của Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định hiện nay 70
2.2.2 Trong giai đoạn hiện nay Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định đặt ra những nội dung cơ bản để phát triển 79
Tiểu kết chương 2 95
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 106
PHỤ LỤC 107
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn, Phật giáo phân chia thành Thượng tọa
bộ, Đại chúng bộ Khi truyền sang các nước khác, Phật giáo với tinh thần
“khế lý, khế cơ”, “tùy duyên bất biến”, kết hợp với văn hóa tín ngưỡng bản địa, hình thành nên các tông phái mang bản sắc quốc gia dân tộc Các tông phái trên con đường xiển dương Phật pháp, lại phân ra thành các Sơn môn, hệ phái khác nhau Ở Việt Nam, Sơn môn ra đời sau khi Phật giáo du nhập vào Luy Lâu (Thuận Thành – Bắc Ninh), hình thành nên Sơn môn Dâu, tiếp theo
đà phát triển của lịch sử Phật giáo Việt Nam, hình thành nên các Sơn môn, tiêu biểu như Kiến Sơ và Yên Tử Từ trong lịch sử phát triển của Phật giáo dân tộc, Sơn môn luôn giữ vai trò “hạt nhân” của quá trình phát triển, là nhân
tố quyết định tạo dựng nên những trang sử huy hoàng của Phật giáo dân tộc Chính vì vậy, việc nghiên về các Sơn môn của Phật giáo Việt nam là rất cần thiết
Năm 1975 khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, đất nước ta Bắc – Nam thu về một mối, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Sự thống nhất của đất nước, đòi hỏi các tổ chức tôn giáo cũng phải thống nhất, Phật giáo cũng không ngoại lệ Tháng 11 năm 1981, tại Thủ đô Hà Nội, chín hệ phái Phật giáo trên cả nước hợp nhất thành một tổ chức, có một tên chung duy nhất đó là “Giáo hội Phật giáo Việt Nam”
Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời, là tất yếu của lịch sử phát triển cùng dân tộc Sự thống nhất Phật giáo trong cả nước là nguyện vọng tha thiết của các vị giáo phẩm Tăng, Ni và Phật tử Việt Nam, không phân biệt Sơn môn, hệ phái Mở ra một thời kỳ vàng son cho Phật giáo Việt Nam, chỉ có tìm thấy được trong Phật giáo thời nhà Trần với thiền phái Trúc Lâm Sau khi ra đời, Giáo hội Phật giáo Việt Nam lãnh đạo Phật giáo trên cả nước, đạt được những thành tựu to lớn, hệ thống các cơ sở thờ tự được khôi phục, nhiều cơ sở
Trang 7thờ tự được xây mới khang trang hơn, hệ thống giáo dục Phật giáo không ngừng mở rộng và hoàn thiện từ Trung ương đến các tỉnh thành trong cả nước Sứ mệnh hoằng dương Phật pháp được đẩy mạnh, phát triển cả ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới hải đảo Công tác đối ngoại của Phật giáo đạt được những thành tựu đáng khích lệ…
Hiện nay, với việc điều hành, tổ chức hành chính theo chiều dọc, bên cạnh sự thống nhất lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, vai trò của các Sơn môn, hệ phái lại dần bị mờ nhạt Nhất là vai trò của Sơn môn, hệ phái trong việc tổ chức nhân sự, giáo dục, tiếp Tăng độ chúng, truyền trao giới pháp, việc quản lý Tăng, Ni Trong khi đó, khối lượng công việc quản lý hành chính của các Ban, Ngành, Viện trực thuộc Giáo hội Phật giáo lại quá lớn, sự phát triển của Tăng đoàn không ngừng gia tăng, đội ngũ Tăng, Ni làm công tác quản lý hành chính của Giáo hội Phật giáo có hạn Chính từ những bất cập này, làm nảy sinh nhiều vấn đề bất ổn trong Tăng đoàn, Giáo hội không quản
lý, kiểm soát hết được mọi mặt đời sống sinh hoạt, cũng như quá trình tu tập của Tăng, Ni, từ đó làm ảnh hưởng đến hình ảnh của Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Đứng trước tình hình như vậy, các vị lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chủ trương củng cố lại tổ chức của các Sơn môn, hệ phái và giao nhiều quyền hạn cho các Sơn môn, hệ phái Về phía các Sơn môn, hệ phái cũng có mong muốn củng cố lại Sơn môn, hệ phái của mình để:
Giữ gìn tổ ấn, tông phong Tốt đời, đẹp đạo giữa lòng nhân gian Đây chính là một mong muốn hết sức chính đáng, là một con đường, một hướng đi mới, để Giáo hội Phật giáo Việt Nam khắc phục những hạn chế, phát huy những thế mạnh của mình, đưa con thuyền Phật giáo Việt Nam tiếp tục tiến lên phía trước, phù hợp với xu hướng phát triển và hội nhập cùng đất nước Tuy nhiên, việc củng cố các Sơn môn, hệ phái đang đứng trước nhiều
Trang 8khó khăn, thách thức như: lịch sử hình thành và phát triển, tư tưởng chủ đạo, Thanh quy của Sơn môn sau nhiều thế kỷ chiến tranh loạn lạc không còn hoặc còn rất ít Bên cạnh đó, những yếu tố về tổ chức, con người… phục vụ cho việc củng cố Sơn môn cũng rất hạn chế Để khắc phục những hạn chế này, nhất là khắc phục sự thiếu thốn về mặt tư liệu, rất cần những công trình nghiên cứu, thu thập tư liệu, phác họa lại lịch sử trong quá khứ Từ đó, đưa ra những biện pháp phát triển cho tương lai, đang trở thành một trong những yêu cầu bức thiết đối với việc củng cố lại các Sơn môn, hệ phái Phật giáo hiện nay
Như vậy, để đáp ứng nhu cầu khách quan của tồn tại xã hội, đồng thời cũng thể hiện tinh thần “Kế vãng khai lai, truyền đăng tục diệm” nên tôi quyết
định chọn đề tài: “Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định” làm luận văn nghiên cứu của mình
“Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định”, là một Sơn môn thuộc dòng thiền Lâm Tế, được du nhập vào Việt Nam giữa thế
kỷ thứ XVII, gắn liền với vai trò của Chuyết Công Hòa thượng, Người có công truyền bá dòng thiền Lâm Tế ở Đàng Ngoài Việt Nam Khi nghiên cứu
về dòng thiền Lâm Tế ở Đàng Ngoài Việt Nam có một số công trình tiêu biểu phân chia thành những nhóm sau đây:
Nhóm công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo:
Nguyễn Lang trong cuốn: Việt Nam Phật giáo sử luận (2013), Nxb
Phương Đông Nguyễn Lang viết về thiền phái Lâm Tế, chỉ dành dung lượng
Trang 9rất ngắn khoảng trong 7 trang với những nội dung cơ bản sau: Giới thiệu qua
về Thiền sư Chuyết Chuyết và hai đệ tử của Ngài là Thiền sư Minh Lương và Thiền sư Minh Hành Giới thiệu tổng quan về tư tưởng dòng thiền Lâm Tế Đàng Ngoài Việt Nam đó là sự kết hợp của ba yếu tố: Tư tưởng thiền Lâm Tế Trung Hoa; tư tưởng của thiền phái Trúc Lâm; tín ngưỡng bản địa
Nguyễn Hiền Đức trong cuốn: Lịch sử Phật giáo Đàng Ngoài, Đại học
Văn Khoa Sài Gòn (1973), là cuốn sách dầy dặn khi viết chuyên khảo về Phật giáo Đàng Ngoài Sách được chia làm XII chương, trong đó thiền phái Lâm
Tế ở Đàng Ngoài được viết trong chương thứ II và chương IV Chương II: Hòa thượng Chuyết Chuyết với phái thiền Lâm Tế Đàng Ngoài; Chương IV: Thiền sư Chân Nguyên với sự song hành của hai thiền phái Trúc Lâm và Lâm
Tế Trong cuốn sách này tác giả còn đề cập đến thiền phái Lâm Tế Đàng Ngoài trong một số chương khác Nội dung cơ bản tác giả đề cập đến chủ yếu dưới góc độ tư liệu lịch sử và một số phân tích cơ bản về nội dung tư tưởng dòng thiền này
Cuốn: Lịch sử Phật giáo Nam Định, tác giả Thế Tâm – Đồng Ngọc
Hoa, Nxb Tôn giáo (2012), là một công trình nghiên cứu về Phật giáo Nam Định rất công phu, kỹ lưỡng, với dung lượng hơn 700 trang và được chia làm tám chương Trong công trình nghiên cứu này tác giả làm rõ được nhiều vấn
đề như: Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo Nam Định; Giới thiệu tổng quan về những ngôi cổ tự tiêu biểu; Chỉ ra sự kết hợp giữa Phật giáo với văn hóa tín ngưỡng bản địa; Vai trò, vị trí của Phật giáo đối với sự phát triển kinh tế, xã hội – văn hóa trong lịch sử Mặc dù công trình nghiên cứu đề cập đến nhiều vấn đề của Phật giáo tỉnh Nam Định, nhưng không đề cập đến sự tồn tại và phát triển của các Sơn môn, hệ phái, có lẽ đây là một điều đáng tiếc với công trình này
Nhóm công trình nghiên cứu về tư tưởng của Phật giáo
Trang 10Tiêu biểu nhất là sách, Tư tưởng Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Duy
Hinh, Nxb Khoa học xã hội (1999) Khi trình bày về thiền phái Lâm Tế Đàng Ngoài Việt Nam ông trình bày trong chương Phật giáo thời kỳ Đàng Ngoài – Đàng Trong (thế kỷ XVII – XVIII), với dung lượng 49 trang, từ trang 650 –
699 Trong chương này, tác giả nêu ra những vấn đề cơ bản của Lâm Tế Đàng Ngoài như: Giới thiệu về vai trò của Thiền sư Chuyết Chuyết và các đệ tử; Nội dung của thiền Lâm Tế Đàng Ngoài, do có nền Trúc Lâm nên không quan tâm đến công án cũng như khái niệm phạm trù cơ sở Thiền tông, hướng vào khôi phục tông Trúc Lâm, Lâm Tế hóa tông này sâu đậm hơn trước, nhưng trước sau vẫn mang đậm tính chất giáo tông không sa đà vào đánh, hét Cơ bản thời kỳ này tông Lâm Tế chuyên về tín ngưỡng tôn giáo bản địa hơn nghĩa lý kinh điển
Nhóm công trình nghiên cứu về văn hóa Phật giáo
Tiêu biểu nhất là, Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam, tập 4, Nxb Thời
Đại (2012), tác giả Nguyễn Khắc Thuần trình bày khái quát về dòng thiền Lâm Tế Đàng Ngoài, trong mục: Phật giáo trong lòng xã hội Đại Việt, thế kỷ thứ XVI, XVII, XVIII Trong mục này tác giả giới thiệu phân tích sơ lược về
hệ thống truyền thừa của dòng thiền Lâm Tế và Tào Động Từ đó đưa ra những nhận xét sắc xảo về vai trò của Phật giáo nói chung đối với xã hội
“Trong đời sống tư tưởng của đông đảo xã hội Đàng Ngoài, những quy phạm
về đạo đức có nguồn gốc từ Phật giáo ngày càng được đề cao và chùa chiền
đã thực sự trở thành “những trung tâm sinh hoạt văn hóa” có sức cuốn hút mạnh mẽ với mọi tầng lớp Nói tới Phật giáo là nói đến chùa chiền với nhiều quy mô lớn nhỏ khác nhau, nhưng chùa không phải chỉ là nơi tu hành của các bậc xuất gia, nơi hành lễ của Phật tử Với xã hội người Việt, chùa chiền là của chung tất cả Bấy giờ, dẫu luôn luôn bộn bề lo toan bao nỗi trước cuộc đời bể dâu, nhiều điều buộc phải quên đi nhưng chẳng mấy ai vô tâm quên lễ hội tổ
Trang 11chức ở các chùa dẫu mình chẳng hề là Phật tử Khách thập phương lắng nghe một cách trân trọng lời thuyết giảng của các bậc tu hành và tiếp nhận ở đó những bài học lớn về đại đạo làm người, về phép ứng nhân xử thế, về đức nghiệp phải có của chính bản thân”[79, 136-137]
- Các công trình luận văn, luận án đã công bố
Đáng chú ý nhất là Luận án Tiến sĩ của Vũ Thị Hương có tên đề tài
“Phật giáo ở Nam Định hiện nay” Luận án được chia làm bốn chương
Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan đến luận án
Chương 2 Bối cảnh kinh tế - xã hôi và quá trình hình thành, phát triển Phật giáo ở Nam Định
Chương 3 Thực trạng và vai trò của Phật giáo đối với đời sống xã hội
ở tỉnh Nam Định hiện nay
Chương 4 Xu hướng vận động và những vấn đề đặt ra của Phật giáo Nam Định hiện nay
Từ kết cấu của luận án, tác giả khái quát quá trình du nhập, phát triển của Phật giáo ở tỉnh Nam Định, cũng như hiện trạng và xu hướng phát triển của nó Với nội dung bao quát như vậy, luận án cung cấp nhiều tài liệu, cũng như gợi mở nhiều ý tưởng để tôi hoàn thành luận văn của mình
Như vậy, trong những công trình nghiên cứu kể trên từ những công trình nghiên cứu lịch sử Phật giáo cả nước, đến những công trình nghiên cứu trên phạm vi vùng miền, và phạm vi nhỏ hơn là công trình nghiên cứu Phật giáo trong một tỉnh, “không hẹn mà gặp” khi không đề cập đến sự tồn tại và phát triển các Sơn môn, hệ phái Đây có lẽ là một thiếu sót rất lớn khi nghiên cứu
về lịch sử Phật giáo Việt Nam, và thiếu sót này cần được khắc phục kịp thời
Bên cạnh những công trình nghiên cứu ở trên còn có các công trình nghiên cứu của Giáo hội và của Sơn môn: Về phía Giáo hội Phật giáo Việt
Trang 12Nam cũng như một số học giả, trực tiếp hoặc gián tiếp bước đầu nói đến vấn
đề Sơn môn, hệ phái Trong: Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt
Nam,tu chỉnh lần thứ V, tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII,
ban hành ngày 30 tháng 01 năm 2013, trong phần nói đầu: “Sự thống nhất Phật giáo Việt Nam được xây dựng trên nguyên tắc: Thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức, đồng thời vẫn tôn trọng và duy trì truyền thống hệ phái cũng như các pháp môn và phương tiện tu hành chính pháp”[27, 1] Như vậy, về nguyên tắc, hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, gián tiếp nói đến vấn đề Sơn môn, hệ phái, tôn trọng cũng như duy trì truyền thống của các Sơn môn, hệ phái Tuy nhiên, mức độ đề cập đến vẫn còn tương đối mờ nhạt, chưa có định hướng rõ ràng Về phía Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung, do nhận thấy những hạn chế, khó khăn và thách thức trong quá trình hoạt động của Sơn môn, những năm vừa qua, Thượng tọa Thích Thanh Giác cùng với Tăng, Ni trong Sơn môn họp bàn, tiến hành Hội nghị toàn Sơn môn vào ngày 16 tháng 05 năm 2015 Trong Hội nghị nêu ra những vấn đề sau: Củng cố Tăng, Ni trong Sơn môn để phụng sự Đạo pháp và Dân tộc theo tinh thần “Hộ quốc an dân”; Tăng cường tinh thần đoàn kết trong Sơn môn, đoàn kết với các Sơn môn khác để xây dựng ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng vững mạnh, động viên Tăng, Ni trong Sơn môn tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội
Hội nghị chỉ rõ, để đạt được những nội dung trên, nhiệm vụ trước mắt phải sưu tầm, hệ thống lại lịch sử của Sơn môn, tìm ra được những tư tưởng cốt lõi của Sơn môn Trong nhiệm vụ này, bước đầu Tăng, Ni trong Sơn môn, lược khảo được lịch sử hình thành của Sơn môn mình Tuy nhiên, Hội nghị mới dừng ở những nét đại cương, còn rất nhiều sự kiện cần được làm rõ, vấn
đề tư tưởng chưa thấy được đề cập đến
Nhóm công trình nghiên cứu đã được công bố trên báo và tạp chí
Trang 13Công trình nghiên cứu đáng chú ý nhất, trực tiếp nói đến Sơn môn là công trình của Cư sĩ Lê Minh công bố trên trang:
http://www.phattuvietnam.net Công trình có tiêu đề: Giáo hội Phật giáo Việt
Nam nên lấy hệ phái Sơn môn làm nền tảng Trong bài viết với dung lượng
khoảng chín trang A4, tác giả chỉ ra được những nội dung cơ bản sau: Sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là sự phản ánh nhu cầu bức thiết của tồn tại xã hội; Tổng kết những thành tựu to lớn mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam đạt được sau 30 năm hoạt động (1981 – 2012); Nêu ra những hạn chế cũng như khó khăn còn tồn tại Từ đó tác giả nêu ra những yêu cầu bức thiết phải củng cố lại các Sơn môn, hệ phái Trong bài viết, tác giả nêu rõ “Hệ phái, Sơn môn là nền tảng và cơ sở của Giáo hội Phật giáo Việt Nam chứ không phải là cấp hành chính đạo như hiện nay
Giáo hội Phật giáo Việt Nam với vai trò điều hòa các hoạt động Phật sự của sơn môn hệ phái Phật giáo trong phạm vi cả nước, mỗi sơn môn hệ phái
cử người đại diện của mình, tham gia ban lãnh đạo của tổ chức Giáo hội, để bảo đảm hài hòa các lợi ích chung của Đạo pháp trong phạm vi cả nước, lấy Hiến chương (điều lệ) làm nền tảng, pháp luật của Nhà nước làm cơ sở để thực hiện tư cách công dân và điều hành Phật sự của tổ chức đúng quy định
Sơn môn, hệ phái căn cứ vào giới luật, thanh quy của sơn môn hệ phái
để duy trì các hoạt động Phật sự đúng chính pháp từ nuôi người, độ đệ tử xuất gia, tổ chức đại giới đàn, trao truyền giới châu tuệ mệnh cho đệ tử, tổ chức thuyết pháp, hướng dẫn Phật tử, thực hiện nghi lễ tín ngưỡng, trùng tu tôn tạo, kinh tế tài chính và từ thiện xã hội cũng như giới thiệu nhân sự đại diện tham gia ban lãnh đạo của Giáo hội cũng như hiệp thương đại biểu tham gia cơ quan dân cử trong phạm vi ở địa phương”[51]
Trong bài viết trên, Cư sĩ Lê Minh nhận thấy vai trò của Sơn môn, hệ phái đồng thời giải quyết mối quan hệ hài hòa giữa Sơn môn, hệ phái và Giáo
Trang 14hội, chỉ ra trách nhiệm, quyền hạn cụ thể của Sơn môn, hệ phái Bài viết đưa
ra những hướng giải quyết mới, nắm bắt được xu hướng vận động phát triển của Phật giáo Việt Nam hiện nay cũng như trong tương lai
Tóm lại, với những công trình nghiên cứu kể trên, với mục đích khắc phục những thiếu sót trong lịch sử, bổ sung thêm hướng đi mới trong nghiên cứu Phật giáo, đồng thời cũng là làm tròn trọng trách đối với Sơn môn của
mình, tôi quyết định chọn đề tài “Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định” làm đề tài nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung tỉnh Nam Định, luận văn chỉ ra xu hướng vận động để phát triển Sơn môn này hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để hoàn thành mục đích đề ra luận văn cần giải quyết được những nhiệm vụ sau:
Một là, Chỉ ra quá trình hình thành và phát triển của Sơn môn Phật giáo
Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định
Hai là, phân tích tư tưởng, phương pháp tu tập, vai trò của Sơn môn Phật
giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định đối với Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội và những định hướng để phát triển Sơn môn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về mặt thời gian: Từ khi Sơn môn Phật giáo Linh Quang –
Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định ra đời vào đầu thế kỷ thứ XIX (1815) đến nay
Trang 15- Phạm vi về mặt không gian: Sự truyền thừa và phát triển của Sơn môn
Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định
- Về nội dung: Nghiên cứu tư tưởng, phương pháp tu tập, vai trò của Sơn
môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định đối với Đạo pháp - Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội và những định hướng để phát triển Sơn môn hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận:
Đề tài được thực hiê ̣n dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh , đường lối, chính sách của Đảng C ộng sản Việt Nam
và pháp lu ật của Nhà nước C ộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo Bên cạnh đó luận văn còn tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng của các công trình khoa học đã được công bố có nội dung liên quan, đồng thời sử dụng các tài liệu sẵn có của sơn môn như: văn bia, câu đối, các
khoa cúng Tổ sư của Sơn môn, thanh quy…
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử nhằm chỉ ra quá trình vận động và phát triển cũng như vai trò của Sơn môn trong lịch sử Phật giáo Việt Nam
- Phương pháp cấu trúc chức năng, nhằm xác định các yếu tố cấu thành của Sơn môn, cũng như xác định vai trò chức năng của từng yếu tố trong chỉnh thể thống nhất (Sơn môn)
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tôi còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành như: Phương pháp nghiên cứu của Triết học, phương pháp nghiên cứu của Sử học, phương pháp nghiên cứu cũa Xã hội học… nhằm chỉ ra được sự phụ thuộc của Sơn môn vào đời sống xã hội, quy luật ra đời, tồn tại và niềm tin tôn giáo…
Trang 166 Đóng góp của luận văn
Về mặt học thuật: Qua luận văn này, bước đầu tác giả nghiên cứu về
lịch sử hình thành và phát triển của Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định Từ đó chỉ ra được những tư tưởng, phương pháp tu hành nổi bật và những đóng góp của Tăng, Ni trong Sơn môn đối với Đạo pháp - Dân tộc, cũng như làm sáng tỏ được vai trò, vị trí của Sơn môn trong lịch sử Phật giáo Việt Nam Bước đầu phân tích những nội dung này dưới góc
độ Tôn giáo học
Về mặt thực tiễn:Tác giả hy vọng sẽ tạo cơ sở lý luận cho việc đề ra
phương hướng nghiên cứu về Sơn môn, hệ phái Phật giáo Việt Nam cũng như phương hướng củng cố lại các Sơn môn, hệ phái Phật giáo trong cả nước làm hạt nhân vững chắc cho sự phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong hiện tại cũng như tương lai, làm cơ sở tài liệu cho Tăng, Ni hiểu được lịch sử hình thành và phát triển của Sơn môn Phật giáo Ngoài ra còn là tư liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu khoa học về Sơn môn, hệ phái Phật giáo
sau này
7 Kết cấu của luận văn
Luâ ̣n văn gồm: phần mở đầu, nô ̣i dung chính, kết luận và danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo Nô ̣i dung chính gồm có: 2 chương và 4 tiết
Trang 17CHƯƠNG 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA SƠN MÔN PHẬT GIÁO LINH QUANG – TRÀ LŨ TRUNG Ở TỈNH NAM ĐỊNH
1.1 Cơ sở hình thành của Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định
1.1.1 Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo ở tỉnh Nam Định
Vị trí địa lý: Nước ta nằm ở ngã ba Đông Dương, tiếp giáp giữa lục địa
và đại dương Với vị trí địa lý thuận lợi, ngay từ đầu Công nguyên Phật giáo
du nhập vào nước ta theo đường biển, sau đó nhanh chóng hình thành trung tâm Phật giáo Luy Lâu (Thuận Thành – Bắc Ninh) Từ trung tâm Luy Lâu Phật giáo tiếp thu, biến đổi, chuyển hóa, sau đó lan tỏa ra các vùng xung quanh hình thành những trung tâm Phật giáo mới, trong đó có trung tâm Phật giáo Thiên Trường (phủ Thiên Trường – Nam Định) Để phủ Thiên Trường trở thành trung tâm Phật giáo của nước ta, ngoài yếu tố chủ quan (quê hương của nhà Trần), vị trí địa lý cũng như điều kiện tự nhiên, xã hội, văn hóa, tín ngưỡng nơi đây tạo thuận lợi cho Phật giáo du nhập và phát triển
Sách Địa chí Nam Định cho biết, Nam Định là một tỉnh ven biển phía
Đông Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, diện tích tự nhiên 1.671,5 km2 Toàn tỉnh hiện có 10 đơn vị hành chính gồm thành phố Nam Định và 9 huyện
từ Bắc xuống Nam là Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng với 225 xã, phường và thị trấn
Nam Định là vùng đất hai mặt giáp biển, Đông Nam và Nam, có đường
bờ biển dài rất thuận lợi cho giao thông hai miền Bắc – Nam, cũng như khu vực và quốc tế Phía Đông giáp tỉnh Thái Bình, vốn là vùng đất thuộc tỉnh Nam Định Từ xưa Phật giáo xuất hiện từ rất sớm, hình thành nên những ngôi
cổ tự nổi tiếng của cả nước như: chùa Bụt Mọc, chùa Keo, chùa Ngàn…
Trang 18Phía Bắc giáp tỉnh Hà Nam, một địa phương có nền văn hóa dân gian phong phú, thể hiện qua các làn điệu chèo, hát chầu văn, hầu bóng, ả đào Đây
là nơi có nhiều lễ hội truyền thống và di tích lịch sử Đặc biệt, lễ hội chùa Đọi Sơn ở xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Thờ Phật, thờ Lê Đại Hành, Nguyên phi
Ỷ Lan và Lê Thánh Tông Với những chứng tích này, khẳng định đây là nơi Phật giáo sớm có mặt và thể hiện được vai trò quan trọng trong đời sống xã hội
Phía Tây giáp tỉnh Ninh Bình, có trung tâm Phật giáo thời Ngô, Đinh, tiền Lê Nơi đây nhà nước quân chủ phong kiến Ngô, Đinh, tiền Lê tập trung xây dựng thành một trung tâm Phật giáo mới của cả nước Từ đây, Phật giáo
có ảnh hưởng đến Nam Định nói riêng và các nơi khác trong cả nước nói chung[83, 19-20]
Với những điều kiện địa lý thuận lợi, giáp ranh với những vùng đất có nền văn hóa lâu đời, có nền Phật giáo phát triển từ rất sớm, giúp cho vùng đất Nam Định trở thành nơi giao thoa gặp gỡ các luồng văn hóa vùng của nhiều trung tâm Phật giáo Đây chính là các điều kiện tạo ra những đặc trưng về văn hóa lịch sử và tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo Dựa theo lý thuyết văn hóa, phân vùng văn hóa, những đặc điểm này là cơ sở, điều kiện để Phật giáo du nhập vào vùng đất Nam Định từ rất sớm, cùng với các tỉnh lân cận, do đó mới
có thể tạo nên một trung tâm Phật giáo Thiên Trường phát triển rất mạnh vào thời đại nhà Trần cho đến tận ngày nay
Về mặt hành chính: Nam Định là vùng đất có lịch sử được hình thành
từ rất sớm; đời Hùng Vương, vùng đất này thuộc bộ Lục Hải, đến đời Hán, Nam Định thuộc đất Giao Chỉ Thời Tam Quốc, Nam Định thuộc Giao Châu Thời thuộc Lương, Nam Định thuộc quận Ninh Hải Thời thuộc Tùy, Nam Định lại thuộc quận Giao Chỉ Đời nhà Đường tỉnh Nam Định được đặt làm châu Tống, đến thời Lý thuộc lộ Hoàng Giang Thời nhà Trần lập phủ Thiên Trường ở nơi đây Thời thuộc Minh, năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), đổi phủ
Trang 19Thiên Trường thành phủ Phụng Hóa Đến thời Lê Sơ, Nam Định thuộc Nam Đạo Đến giữa thời Hồng Đức đổi thành Sơn Nam Tên Nam Định được chính thức gọi vào năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), thời bấy giờ còn gọi là trấn Nam Định Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) đổi trấn thành tỉnh.Từ năm 1832 –
1996, sau nhiều lần sáp nhập và chia tách địa giới hành chính với các tỉnh Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, tỉnh Nam Định về cơ bản ổn định địa giới như hiện nay
Về dân cư: Nam Định là địa bàn từ rất sớm có người Việt cư trú, gắn
liền với quá trình chinh phục và khai phá của cư dân Việt ở châu thổ sông Hồng góp phần hình thành nên nền văn minh sông Hồng Theo thống kê dân
số năm 2013, Nam Định có 1.839.946 người, với mật độ trung bình 1.113 người/km2 Hiện nay dân số tỉnh Nam Định đứng thứ 8 trên toàn quốc Với dân số đông như vậy, tạo ra nguồn lực rất quan trọng để tỉnh Nam Định phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội
Tóm lại, với vị trí địa lý thuận lợi, dân cư đông đúc, tỉnh Nam Định là
cơ sở cho sự du nhập, phát triển của Phật giáo nói riêng và các tôn giáo khác nói chung Sự phát triển nhanh chóng, tạo cho tỉnh Nam Định trở thành một trung tâm tôn giáo, tín ngưỡng như thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Dầy, thờ Trần Hưng Đạo ở đền Trần với lễ hội đền Trần, và nhiều nhà thờ Công giáo, đặc biệt là giáo phận Bùi Chu
Về kinh tế - xã hội:
Nông nghiệp: Nam Định thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, có hệ
thống sông ngòi dày đặc, đất đai màu mỡ, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Với những lợi thế này, tỉnh Nam Định sớm trở thành nơi chuyên canh trồng lúa, cho năng suất cao Bên cạnh trồng lúa nước, nông dân còn trồng dâu nuôi tằm, nghề này có giai đoạn phát triển phồn thịnh, nhưng đến nay phát triển kém hơn
Trang 20Ngư nghiệp: Do giáp với biển lại có nhiều sông lớn nên ngư nghiệp
phát triển từ sớm “Cá biển; Giao Thủy có Quất Lâm, Hải Huyệt, Sa Châu thường dùng vôi trát vào thuyền để ra biển Đại An có hai phường Thuận Hậu Hải Hậu có Xuân Hà, Thượng Điền, Quần Phương, Hạ Trại hay làm thuyền đan lưới ra biển bắt cá
Cá sông, Giao Thủy có Hoành Nha, An Phú, Kiên Lao thường ở trên thuyền làm nghề đánh lưới Trực Ninh có Tân Lác Lý, Lác Môn, Trung Hòa, Cát Trử Nội”[93, 158-159]
Về tiểu thủ công nghiệp: Tại Nam Định tiểu thủ công nghiệp tương đối
phát triển và trải khắp các địa phương như: nghề bạc, thiếc, chạm khắc, thêu vẽ
Về công nghiệp: Thời Pháp, Nam Định là một trung tâm công nghiệp ở
miền Bắc Hiện nay, Nam Định đang phát triển mạnh về công nghiệp với các khu công nghiệp như: Hòa Xá, An Xá, Hải Thịnh…
Về văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo: Tỉnh Nam Định là địa phương có
tín ngưỡng, tôn giáo lâu đời Trong lịch sử hình thành và phát triển tỉnh Nam
Định, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo biểu hiện phong phú, đa dạng Nam Định
là vùng đất có sự du nhập của các tôn giáo lớn như: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có ba tôn giáo được công nhận hoạt động đó
là Phật giáo, Công giáo, Tin Lành Theo số liệu thống kê của Sở Nội Vụ tỉnh Nam Định năm 2010, Phật giáo có 812 ngôi chùa; 912 Tăng, Ni và khoảng 20 vạn tín đồ (chưa kể những người ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo) Công giáo gồm trọn vẹn giáo phận Bùi Chu và một phần giáo phận Hà Nội; có 141 nhà
xứ, 521 nhà thờ họ, 513 nhà thờ nguyện, 01 Giám mục, 191 Linh mục, 134 chủng sinh đang học Đại chủng viện, trên 47 vạn giáo dân (chiếm 25% dân số toàn tỉnh) Đạo Tin Lành, có hai hội thánh Tin Lành thuộc tổng hội thánh Tin
Lành Việt Nam (miền Bắc), có 02 Mục sư, 02 nhà thờ và 670 tín đồ
Trang 21Cùng với các tôn giáo là hệ thống lễ hội tôn giáo diễn ra hàng năm phong phú và đa dạng Đối với lễ hội trong các chùa Phật giáo, bên cạnh những lễ hội quan trọng như: Phật đản, Vu Lan, Phật thành đạo, ngày Rằm, mồng Một và giỗ Tổ sư tại các chùa, còn diễn ra nhiều lễ hội làng truyền thống của người dân, ngôi chùa trở thành nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh Nhiều hội làng thành hội chùa được nhân dân Phật tử tổ chức trang trọng, góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa địa phương Đáng kể là một số lễ hội tiêu biểu:
Lễ hội chùa Keo - Hành Thiện, được tổ chức vào ngày Rằm tháng Chín
âm lịch hàng năm, tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường
Lễ hội gồm có: lễ dâng hương, cầu cúng, tụng kinh, múa rồng, đua thuyền trên sông Hồng Đối tượng thờ cúng là Đức Phật và Thiền sư Không Lộ
Lễ hội chùa Cổ Lễ, Trực Ninh diễn ra từ ngày 13 - 16 tháng Chín âm lịch hàng năm, để tưởng nhớ Đức Thánh tổ Nguyễn Minh Không hóa thân, Pháp sư Nguyễn Minh Không là tổ sư nghề đúc đồng, nhân dân trong vùng có câu:
“Dù ai buôn bán trăm nghề Mười Tư tháng Chín thì về hội Ông”
Hội chùa Cổ Lễ là một trong những hội chùa nổi tiếng khắp miền Bắc, với những hoạt động văn hóa cổ truyền như: lễ rước Phật, đấu vật, đánh cờ người, hát rối chầu Thánh…
Bên cạnh lễ hội Phật giáo, Nam Định còn có lễ hội tại các giáo xứ Công giáo và nhà thờ Tin Lành Những ngày lễ trọng của Tin Lành và Công giáo ở Nam Định, là những ngày lễ bắt buộc tín đồ phải tham dự Lễ Giáng sinh hay còn gọi là lễ Noel, đây là một trong những ngày lễ quan trọng nhất của người Công giáo, lễ được tổ chức vào đêm ngày 24 và sáng ngày 25 tháng
12 hàng năm, thu hút rất nhiều tín đồ theo đạo Công giáo, Tin Lành và cả những người không theo đạo cùng tham gia Lễ Phục sinh (Chúa Giêsu sống lại) vào tháng 4 Đây là lễ kỷ niệm ngày Chúa Giêsu sống lại sau 3 ngày bị
Trang 22đóng đinh và chết trên cây Thánh giá Lễ Chúa Giêsu về trời, một số nơi gọi
là lễ Thăng thiên, là ngày lễ trọng của người theo đạo Công giáo, được diễn ra sau lễ Phục sinh 40 ngày…[43, 18-24]
Các ngày lễ của Công giáo làm phong phú thêm bức tranh lễ hội trên địa bàn tỉnh Nam Định, đồng thời thúc đẩy sự giao lưu văn hóa Kitô với văn hóa tín ngưỡng bản địa Giúp cho văn hóa tỉnh Nam Định tiếp thu nhiều yếu tố văn hóa tiến bộ của phương Tây, đại diện là Công giáo và Tin Lành Thông qua các
lễ hội góp phần củng cố tinh thần đoàn kết trong đồng bào lương, giáo, thấu hiểu chia sẻ, tôn trọng niềm tin tôn giáo của nhau, cùng nhau phát triển
Bên cạnh các lễ hội Phật giáo, Công giáo và Tin Lành, Nam Định còn được xem là trung tâm tín ngưỡng của cả nước Nơi đây diễn ra những lễ hội dân gian rất phong phú và đa dạng Trên địa bàn tỉnh Nam Định hội tụ đầy đủ những tín ngưỡng truyền thống của người Việt như: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ Thành Hoàng làng, thờ Đức Thánh Trần (đền Trần) và tín ngưỡng thờ Mẫu với trung tâm là các điện thờ Mẫu tại Phủ Dầy (xã Kim Thái, huyện
Vụ Bản) Với những tín ngưỡng truyền thống của tỉnh Nam Định nêu trên, người nghiên cứu sẽ tập trung tìm hiểu tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần và tín ngưỡng thờ Mẫu
Về lễ hội đền Trần: Lễ hội đền Trần được tổ chức từ ngày 15 đến ngày
20 tháng Tám âm lịch hàng năm, tại phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, nhằm tri ân công đức của 14 vị vua nhà Trần Theo truyền thống dân gian vào các năm; Tý, Ngọ, Mão, Dậu đúng ngày Rằm tháng Giêng, trước sân đền Thượng tổ chức nghi lễ khai ấn, với sự tham gia của bảy làng; Vọc, Lốc, Hậu Bồi, Bảo Lộc, Kênh, Bái, Tức Mặc Các làng rước kiệu các vị thần về tụ tập ở đền Thượng, tế các vua Trần, nghi lễ này phản ánh một tập tục nghi lễ
cổ, sau những ngày nghỉ tết, từ Rằm tháng Giêng triều đình trở lại làm việc bình thường “Khai ấn” là ngày mở đầu làm việc của năm mới Đến nay, nghi
Trang 23lễ khai ấn vẫn được giữ nguyên với những lễ nghi truyền thống, thu hút hàng vạn người từ nhiều tỉnh thành trong cả nước trở về tham dự xin ấn mỗi năm, với mong muốn một năm mới thành đạt phát tài Lễ hội đền Trần được cử hành trang nghiêm, phần nghi lễ được diễn ra với các lễ rước từ các đình, đền xung quanh về dâng hương, tế tự ở đền Thượng thờ 14 vị vua nhà Trần Lễ dâng hương có 14 cô gái đồng trinh, đội 14 mâm hoa đi vào đền trong tiếng lễ nhạc dâng lên 14 ngai vua Nghi lễ này mô phỏng lại cung cách triều đình phong kiến xưa
Lễ hội Phủ Dầy: Đây là lễ hội tôn vinh thánh Mẫu Liễu Hạnh “Mẫu
nghi thiên hạ” Vị thần chủ của tín ngưỡng thờ Mẫu và là một vị thánh trong
tứ bất tử của dân tộc Chúa Liễu Hạnh được thờ phụng ở nhiều nơi; phủ Dầy, phủ Tây Hồ, phủ Sòng và rất nhiều đền phủ khác Lễ hội phủ Dầy là lễ hội lớn nhất và có tính quy mô nhất
Thánh Mẫu Liễu Hạnh là nhân vật trung tâm được thờ phụng ở di tích phủ Dầy, cũng như trong lễ hội phủ Dầy Đây là nhân vật được kết hợp giữa Nhân thần, Thiên thần, được bao phủ bởi những huyền thoại mang đậm màu sắc kỳ bí huyền ảo Ngoài tư liệu về Bà Chúa Liễu Hạnh rất phong phú bao gồm; truyền thuyết, thần tích, gia phả, ngọc phả của các dòng họ sinh sống tại phủ Dầy
Lễ hội phủ Dầy kéo dài 10 ngày, từ mùng Một đến mùng Mười tháng
Ba âm lịch hàng năm Đồ lễ phổ biến là hương hoa đặt tại cung đệ nhất thờ Mẫu Đồ lễ mặn đặt tại ban công đồng và ban thờ các quan Ngoài những hình thức lễ thông thường còn có thêm hình thức đặc biệt là hầu đồng[43, 25-29]
Hầu đồng gắn liền với hát văn và múa thiêng là hình thức phổ biến nhất
ở phủ Dầy Hát văn cùng với múa thiêng tạo ra sức hấp dẫn đặc biệt cho nghi
lễ hầu đồng Nghi lễ hầu đồng diễn ra liên tục trong năm, nơi đây không chỉ đáp ứng nhu cầu của những người có “căn quả” tại Nam Định, còn ở khắp mọi miền của đất nước, thậm chí là người Việt ở nước ngoài Thông qua việc
Trang 24hầu đồng, những người có “căn quả” có thể tương thông với Thánh Mẫu tứ phủ công đồng… từ đó có thể ban phúc, ban lộc cho con nhang đệ tử cùng bách gia trăm họ
Khi nhắc đến văn hóa tín ngưỡng ở Nam Định, không thể không nhắc đến chợ Viềng Đây là phiên chợ rất đặc biệt, một năm chỉ diễn ra vào một ngày duy nhất đó là ngày mùng Tám tháng Giêng âm lịch Ngoài việc đến chợ
để trao đổi hàng hóa, những người tham gia còn mong muốn được may mắn, tiền tài về cho gia đình Vì là phiên chợ của cư dân làm nông nghiệp, nên hàng hóa chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp và phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
Như vậy, với những điều kiện địa lý tự nhiên cũng như kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo tiền đề cho sự phát triển của các tôn giáo, tín ngưỡng tại Nam Định diễn ra rất sôi động Là nơi gặp gỡ giao thoa giữa Phật giáo, Công giáo, Tin Lành và văn hóa tín ngưỡng bản địa Với tình hình tín ngưỡng, tôn giáo như vậy, Phật giáo với tư cách là một tôn giáo lớn ngay từ khi du nhập đã hòa quyện với văn hóa tín ngưỡng bản địa, không ngừng nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu đời sống tâm linh của tín đồ, Phật tử
1.1.2 Khái quát quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo ở tỉnh Nam Định
Để xác định thời gian cụ thể, Phật giáo du nhập vào Nam Định là rất khó, bởi không có tư liệu nào ghi lại để các nhà nghiên cứu căn cứ vào đó để đưa ra nhận định Các nhà nghiên cứu chỉ có thể thống nhất với nhau quan điểm Phật giáo xuất hiện từ lâu đời tại tỉnh Nam Định, đến thời Trần nơi đây trở thành một trung tâm Phật giáo “Vùng đất Nam Định thời Trần, đặc biệt là dưới ảnh hưởng của chính các vị Vua Trần ham nghiên cứu Phật học, trở thành một trung tâm Phật giáo lớn ở châu thổ sông Hồng với không ít những hoạt động Phật pháp lớn”[83, 680]
Trang 25Về vấn đề du nhập của Phật giáo vào Việt Nam, đến nay còn có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng khoảng thế kỷ thứ I ở nước ta hình thành nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu Luy Lâu không chỉ là nơi truyền dẫn, hấp thu chuyển phát, còn là nơi tích tụ cải biến, nhào nặn rồi mới trao truyền Từ nơi đây, Phật giáo lan tỏa ra khắp vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Với vị trí, địa
lý thuận lợi, giao thông về đường thủy, đường bộ đều phát triển, Nam Định nhanh chóng tiếp nhận sự du nhập của Phật giáo Tuy nhiên, để trở thành trung tâm Phật giáo lớn của cả nước thì phải đến thời Lý – Trần khi cơ duyên đầy đủ Thời Lý – Trần, ở Nam Định có trung tâm Phật giáo Chương Sơn (Ý Yên) và trung tâm Phật giáo Thiên Trường, nổi tiếng với tháp Phổ Minh là một trong những An Nam tứ khí của nước Đại Việt
Theo nhiều tài liệu lịch sử có ghi, thế kỷ thứ X, vùng đất Hoa Lư – Ninh Bình, vùng đất giáp ranh với Nam Định, trở thành trung tâm quốc gia của nước Đại Cồ Việt Thời Ngô, Đinh, tiền Lê, xuất hiện những Thiền sư kiệt xuất như Pháp Thuận, Khuông Việt… những Thiền sư này đều thông hiểu Tam giáo, trở thành chỗ dựa cho nhà nước Chính sự phát triển của Phật giáo Hoa Lư là tiền đề, nền tảng cho sự phát triển rực rỡ của Phật giáo thời Lý – Trần, trong đó có Phật giáo Nam Định “Đạo Phật xuất hiện ở Nam Định từ rất sớm, thịnh hành nhất vào thời Lý – Trần, nhiều nhà sư rất nổi tiếng như: Dương Không Lộ, Nguyễn Giác Hải Vua Trần Nhân Tông quê ở Tức Mặc (xã Lộc Vượng ngoại thành Nam Định) đã có công lớn trong việc Việt hóa đạo Phật, được mệnh danh là ông tổ phái Trúc Lâm thiền tông Người Nam Định phần lớn theo đạo Phật (khoảng 67% dân số và hầu như làng, xã nào cũng có một ngôi chùa thờ Phật, tiêu biểu là tháp Phổ Minh (xã Lộc Vượng), chùa tháp Cổ Lễ (huyện Trực Ninh) vừa là trung tâm đạo Phật, vừa là nét đẹp dân tộc độc đáo”[70, 30]
Trang 26Nam Định thời nhà Lý, có những ngôi chùa nổi tiếng, là danh thắng của
cả vùng: chùa Cổ Lễ (Thần Quang tự), ở thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh Chùa được xây dựng từ thế kỷ thứ XII vào thời Lý là một danh lam thắng cảnh linh ứng tiêu biểu nhất Chùa Tháp (Phổ Minh tự), phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, là công trình chùa tháp, vạc Phổ Minh, chùa được xây dựng từ thời Lý, được mở rộng vào thời Trần Sau khi vua Lý Thái Tổ băng
hà vào năm 1028, Vũ Đức Vương, Dực Thánh Vương, Đông Chinh Vương đem quân làm loạn Ngô Quốc Quận Vương Trần Tự Mai, ra công giúp vua
Lý Thái Tổ (1028 – 1054) định loạn Khi đi ngang quê nhà, làng Tức Mặc, cho xây một ngôi chùa đặt tên là Phổ Minh, để cầu phúc cho mẹ Hai Thiền
sư Minh Không, Đạo Hạnh cho đặt bia, đúc vạc Vạc mang tên Phổ Minh, phía ngoài vạc có hình rồng quấn xung quanh, hình chim lạc đang bay về tượng trưng cho con Lạc cháu Hồng Bên cạnh chùa Phổ Minh còn có chùa Chương Sơn ở hành cung Ứng Phong, có vai trò quan trọng không chỉ đối với Nam Định, còn quan trọng đối với quốc gia Đại Việt Chùa Chương Sơn quay mặt về hướng Nam, gần sông Sắt Đây là con đường thuận tiện để triều đình
từ Thăng Long theo vua về hành cung Đến nay, do chiến tranh loạn lạc, thời gian tàn phá, chùa Chương Sơn chỉ còn lại một số dấu tích Tuy nhiên, giá trị văn hóa, lịch sử của chùa vẫn còn rất lớn
Kế thừa tinh hoa Phật giáo thời Lý, Phật giáo thời Trần ở Nam Định bước vào thời kỳ phát triển rực rỡ nhất Từ những ngôi chùa quốc tự, đến những ngôi chùa ở làng xã, đều được quy hoạch thiết kế, trùng tu tôn tạo Đến những nơi đình trạm, điểm dừng chân tránh nắng mưa của khách lữ hành, cũng được Thái Thượng Hoàng Trần Cảnh ban sắc lệnh tô tượng Phật để thờ Bên cạnh các Thiền sư trí thức, ở Nam Định thời Trần tích cực “nhập thế” tham gia “hộ quốc- an dân” Chính vì thế ca dao có câu:
“Bất sinh, bất diệt chân truyền
Trang 27Bảo dân – hộ quốc sở nguyền tòng tâm”
Trong suốt chiều dài lịch sử Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Nam Định đóng góp rất nhiều danh Tăng cho Phật giáo Thời Đinh – Lê – Lý – Trần có Nam thiên tam Thánh Tổ: Không Lộ, Giác Hải, Từ Đạo Hạnh đại pháp thiền
sư Triều đại nhà Trần nơi trấn Sơn Nam phát tích, mở ra một thời kỳ dài hơn
200 năm phát triển rực rỡ của đạo Phật.Trong khoảng thời gian này Phật giáo Nam Định sản sinh được những vị danh Tăng xuất chúng, những công trình văn hóa đặc sắc Đạo Phật không những ở hành cung Thiên Trường, nơi ở của các bậc vua quan hoàng tộc, còn có cả ở những vùng đất mới lập do nhân dân khai hoang phục hóa, quai đê lấn biển Tinh thần cố kết cộng đồng chẳng dừng lại ở địa phận lũy tre làng, Phật giáo làm cho nhân dân Nam Định đoàn kết trong đạo đức Thích tử, chùa chiền dù nguy nga rực rỡ chốn thị thành hay khiêm nhường yên tĩnh ở thôn quê cũng là nơi để cho người dân quy ngưỡng
Đệ nhất Trúc Lâm Tịnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Trần Nhân Tông là bậc danh Tăng làm xương minh Phật pháp Nhìn chung, các thiết kế, di sản vật thể
và phi vật thể, triều đại nhà Trần để lại rất phong phú và giá trị[70, 104-106]
Phật giáo Việt Nam sau thời gian phát triển cực thịnh vào thời Lý – Trần, đến thời Lê cũng không thoát khỏi biến đổi của quy luật vô thường, bước vào giai đoạn thoái trào Phật giáo bước ra khỏi vũ đài chính trị tiếp tục
đi sâu vào nhân gian, đi sâu vào đời sống xóm làng trở thành tín ngưỡng quan trọng nhất của những người dân lao động “Phật giáo bắt đầu suy yếu từ giữa thế kỷ XIV, suy đồi ở đây không có nghĩa là giảm thiểu số lượng tự viện và Tăng sĩ Số lượng tự viện và Tăng sĩ trong thời đại mà ta gọi là suy đồi vẫn tiếp tục lớn lên, suy đồi ở đây cũng không có nghĩa là mất ảnh hưởng trong quần chúng Cuối đời Trần và trong suốt đời Lê nữa, những chiếc rễ đạo Phật cũng ngày càng ăn sâu thêm trong nếp sống tình cảm và tín ngưỡng của giới đại chúng bình dân, suy đồi ở đây có nghĩa là đánh mất vai trò lãnh đạo trí
Trang 28thức, văn hóa và chính trị Thực vậy, trong suốt thời gian hai trăm năm, từ khi nhà Trần bắt đầu suy đồi, đạo Phật không còn chỉ đạo được đường hướng văn hóa và chính trị nữa Giới trí thức hướng về đạo Nho như phương châm cứu nước dựng nước Những vị cao Tăng không thấy xuất hiện, có thể đã có một
số cao Tăng ẩn dật không liên hệ gì tới chính trị và văn hóa Nhưng một phần
họ không sáng tác để lại và một phần vì lửa binh thiêu đốt sử liệu cho nên ta không được biết nhiều đến họ Vào thế kỷ thứ XV, ta chỉ nghe thấy một tác
giả Phật giáo đó là Lương Thế Vinh, người viết cuốn; Thiền môn khoa giáo
và đề tựa cho sách Nam Tông tự pháp đồ Về thế kỷ thứ XVI, ta chỉ nghe nói
đến Thiền sư Chân Nghiêm, người san khắc Thánh Đăng lục”[47, 393]
Trước bức tranh chung của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XV, XVI Phật giáo Nam Định cũng bước vào giai đoạn suy yếu Trung tâm Phật giáo Thiên Trường bị triều đình phong kiến nhà Lê độc tôn Nho giáo, lãng quên Do không được trợ giúp từ phía chính quyền Phật giáo dần mất đi ảnh hưởng với chính trị, văn hóa Phật giáo lại đi sâu vào lớp bình dân nơi thôn dã Phật giáo Việt Nam thế kỷ thứ XVII, XVIII chứng kiến sự phục hưng của môn phái Trúc Lâm, cũng như sự truyền bá của hai phái thiền Lâm Tế và Tào Động từ Trung Hoa sang Việt Nam Vào khoảng giữa thế kỷ thứ XVII, nhiều cao Tăng
từ Trung Hoa, qua Đại Việt hành đạo, đây là yếu tố quan trọng giúp Phật giáo nước ta phục hưng Những vị cao Tăng này sang nước ta vào thời kỳ Nam – Bắc phân tranh, Trịnh – Nguyễn bắt đầu đánh nhau ở Quảng Bình và Hà Tĩnh
Sau hơn một thế kỷ đất nước luôn ở tình trạng chiến tranh loạn lạc, làm cho đời sống của người dân khổ cực Hiện thực đất nước làm cho niềm tin vào
hệ tư tưởng Nho giáo trong xã hội bị lung lay Trong nỗi đau khổ cùng cực con người bắt đầu quay trở về với Phật giáo tìm chỗ nương tựa cho tinh thần, trong đó có cả tầng lớp quý tộc Các chúa Trịnh, Nguyễn không phải là những người học Phật uyên thâm, không có ý chí tu học như các vua nhà Trần, họ
Trang 29chỉ là những tín đồ Phật giáo, lấy sự ủng hộ Phật giáo để tạo dựng công đức Trong lúc Phật giáo dần lấy lại vị thế trong xã hội thì Thiền phái Lâm Tế lại được truyền vào nước ta một lần nữa, Đàng Ngoài do thiền sư Chuyết Chuyết, Đàng Trong do thiền sư Nguyên Thiều
Phật giáo Nam Định thế kỷ thứ XVII, XVIII với tư cách là một bộ phận của Phật giáo Việt Nam cũng có những bước phát triển khởi sắc mới, trước hết về mặt chính quyền cũng như tầng lớp quý tộc chú trọng đến sự phát triển của Phật giáo Bên cạnh sự truyền bá của dòng thiền Lâm Tế ở Đàng Ngoài, trực tiếp thúc đẩy Phật giáo Nam Định phát triển nhất là việc hình thành nên các Sơn môn, hệ phái (vấn đề này sẽ làm rõ ở phần sau)
Cuối thế kỷ thứ XIX, đầu thế kỷ thứ XX dưới sự đô hộ của thực dân Pháp và sự truyền bá của đạo Công giáo, Phật giáo gặp nhiều khó khăn để phát triển Nhưng bằng sức sống mãnh liệt trong lòng dân tộc, Phật giáo lại quật cường đứng dậy thực hiện cuộc chấn hưng trước thế lực ngoại bang, thời
kỳ này xuất hiện nhiều danh Tăng xả thân vì sự nghiệp “Hoằng dương Phật pháp” Trên địa bàn tỉnh Nam Định phát huy truyền thống trong lich sử, Phật giáo ở Nam Định tiếp tục là nơi nuôi dưỡng, đào tạo ra nhiều bậc cao Tăng cho Phật giáo Việt Nam, có thể kể đến chư tôn Hòa thượng như: Phạm Quang Tuyên, Hòa thượng Thích Tâm Thi, Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Hòa thượng Thích Thế Long, Hòa thượng Thích Tâm Thông, Hòa thượng Thích Thuận Đức… Bước vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thần thánh của dân tộc ta, Phật giáo Nam Định tích cực nhập thế cứu đời Truyền thống nhập thế được tiếp nối “Công thành thân thoái” Nghĩa là sau khi cứu nước, cứu dân lại trở về với đời sống tu hành[70, 106-107]
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ năm 1975, đất nước được độc lập, Bắc – Nam thống nhất, giang sơn thu về một mối Trước sự đổi thay của đất nước, nhất là đáp ứng nhu cầu của tồn tại xã hội, Phật giáo Việt
Trang 30Nam tiến hành cuộc vận động thống nhất ba tổ chức Phật giáo trên cả nước Trong cuộc vận động này có sự đóng góp mạnh mẽ của đội ngũ Tăng, Ni và Phật tử tỉnh Nam Định Tháng 11 năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời trên cơ sở thống nhất chín hệ phái Sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một tất yếu lịch sử, mở ra một giai đoạn phát triển mới của Phật giáo nước nhà Từ đây tất cả các Tăng, Ni Phật tử trên mọi miền Tổ quốc được sống chung dưới mái nhà của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, dưới sự lãnh đạo trực tiếp và duy nhất từ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời, được sự quan tâm giúp đỡ của trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Nam Định có những bước phát triển mạnh về chất, đội ngũ Tăng, Ni không ngừng được nâng cao về trình độ Phật pháp, còn nâng cao về trình độ thế học, tổ chức được kiện toàn, các cơ sở thờ tự được tôn tạo, tu bổ, xây dựng mới…
Như vậy, qua khảo sát quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo tỉnh Nam Định, có thể hình dung được diện mạo của Phật giáo tỉnh Nam Định Đồng thời thấy rằng lịch sử Phật giáo tỉnh Nam Định là một bộ phận cấu thành của Phật giáo Việt Nam Tuy nhiên, dù có phát triển huy hoàng rực
rỡ hay âm thầm nương tựa nơi thôn dã để phát triển, Phật giáo vẫn luôn thể hiện tấm lòng yêu nước son sắt với dân tộc, luôn đồng cam cộng khổ, động viên, tiếp sức cho dân tộc vượt qua những giai đoạn lịch sử ngặt nghèo Với tinh thần “từ bi – trí tuệ” Phật giáo tỉnh Nam Định, hiến trọn trái tim khối óc cho những tín đồ Phật tử, đưa những giáo lý Phật đà đầy tính nhân văn ngấm vào tâm hồn người dân Nam Định, trở thành những suy nghĩ, những hành động của họ
Trang 311.2 Quá trình ra đời và phát triển của Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định
1.2.1 Khái quát quá trình du nhập và phát triển của dòng thiền Lâm
Tế ở Đàng Ngoài Việt Nam
Phật giáo ra đời ở Ấn Độ, sau đó được truyền đi nhiều nơi Với tinh thần “tùy duyên” Phật giáo đi đến đâu cũng kết hợp với văn hóa tín ngưỡng bản địa, hình thành nên Phật giáo mang bản sắc quốc gia dân tộc Phật giáo khi truyền tới Trung Quốc kết hợp với Đạo Nho, Đạo Lão cùng với tín ngưỡng bản địa hình thành nên Phật giáo Trung Quốc với nhiều tông phái khác nhau như: Tịnh Độ tông, Thiền tông, Hoa Nghiêm tông, Mật tông… Trong đó có Thiền tông do Bồ Đề Đạt Ma sáng lập vào năm 520, cũng là người đầu tiên mang tư tưởng thiền từ Ấn Độ sang Trung Hoa Thiền tông phát triển rất nhanh chóng trên đất nước Trung Hoa, đến thời lục tổ Huệ Năng, Thiền tông ở Trung Hoa phát triển rất rực rỡ, phân chia ra thành nhiều nhánh, trong đó có nhánh thiền Lâm Tế do Thiền sư Nghĩa Huyền sáng lập, sau đó được thiền sư Chuyết Chuyết truyền vào Việt Nam
Thiền là gì? Theo Từ điển Phật học Huệ Quang: “Trạng thái định huệ
đồng đều, tâm chuyên chú vào một đối tượng nào đó, vắng lặng tư duy Thiền
là pháp tu chung Đại thừa, Tiểu thừa, ngoại đạo, phàm phu nhưng mục đích
và đối tượng tư duy thì khác nhau Thiền và các thứ định khác gọi chung là thiền định, có thuyết cho thiền là một loại định nên gọi tu thiền trầm tư là thiền tư”[11, 5507]
Từ điển Phật học Huệ Quang cho rằng “Một phái thiền tông Trung
Quốc, do ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền (?- 867) thuộc pháp hệ ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng khai sáng vào đời Đường, một trong Ngũ gia Thất tông của thiền tông, một trong mười ba tông của Nhật Bản”[11, 2395]
- Khái quát về tư tưởng dòng Thiền Lâm Tế
Trang 32Trong Ngũ gia thiền (Quy Ngưỡng, Tào Động, Lâm Tế, Vân Môn, Pháp Nhãn) thì phái thiền Lâm Tế phát triển mạnh nhất với thiền pháp độc đáo, ảnh hưởng rộng lớn, trở thành tông phái lớn mạnh nhất của Thiền tông Trung Hoa Cho đến ngày nay, trong Ngũ gia Thất tông còn lại Lâm Tế tông
và Tào Động tông
Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền (? – 867) Ngài Nghĩa Huyền họ Hình, quê ở Nam Hoa, Tào Châu (nay là Hà Trạch, Sơn Đông), không rõ năm sinh, tịch năm 867, vua ban tên Thụy là Tuệ Chiếu thiền sư Nhân duyên khai ngộ của Lâm Tế ở chỗ Hoàng Bá và những tư tưởng của dòng thiền Lâm Tế và chịu ảnh hưởng rất lớn của Hoàng Bá
Những tư tưởng cơ bản của dòng thiền Lâm Tế: Phật tính luận của Phật giáo Đại thừa là cơ sở lý luận trọng yếu của Thiền tông Tư tưởng Phật tính này cho rằng tất cả mọi người đều có Phật tính, các thiền sư khi thuyết pháp thường dùng nhiều kiểu biểu đạt rất đặc biệt, tránh tất cả những khái niệm ngôn ngữ chính xác Trong Ngữ lục Lâm Tế rất ít nói đến “Phật tính”, mà thường dùng chữ “Tâm” với các góc độ khác nhau để diễn tả khái niệm này
và hình tượng hóa gọi là “Vô vị chân nhân” (chân nhân không ngôi vị)
Điểm đặc sắc chủ yếu của tư tưởng thiền pháp Lâm Tế là yêu cầu người học đạo đầu tiên cần phải có “Kiến giải chân chính” đối với Phật pháp, giải thoát và tu hành, phải xác lập tự tín, tin rằng bản tâm của mình không khác biệt với Phật và tu hành không tách rời cuộc sống thường ngày
Kiến giải chân tính: Bộ phận chính của Lâm Tế lục là những lời khai
thị, trong đó có những đoạn Lâm Tế dạy đồ chúng phải xác lập được kiến giải chân chính “Kiến giải chân chính là kiến giải chính xác đối với Phật pháp Điều này không ngoài sự xác lập kiến giải thống nhất với tông chỉ của Thiền tông đối với những vấn đề như thế gian và xuất thế gian, phiền não và Bồ đề, không và hữu, sắc và tâm… Lâm Tế không yêu cầu thông hiểu kinh, luận,
Trang 33không xét trí tuệ người học đạo, mà chỉ yêu cầu sự kiến giải chân chính Lâm
Tế cho rằng; có được kiến giải chân chính mới có thể xác lập được lòng tin đạt được giải thoát, minh xác hành vi chuẩn tắc, tuy ở trong hoàn cảnh thế tục cũng không bị ảnh hưởng trói buộc mà tự do tự tại không bị người khác, học thuyết khác mê hoặc”[12, 223]
Quan niệm “kiến giải chân chính” của thiền Lâm Tế có hai điểm chủ
yếu là sự phát huy học thuyết Phật tính của Phật giáo Đại thừa và tư tưởng tính không Bát nhã Lâm Tế cho rằng: Phật ở ngay tự tâm, không phải tìm cầu bên ngoài và tất cả sự vật hiện tượng đều là không, vô tự tính Vì vậy, không chỉ đừng chấp trước vào sự vật, luôn cả tự tính và cảm nhận của bản thân cũng không được chấp trước Lâm Tế yêu cầu phải dựa vào hai quan điểm trên để xác lập nguyên tắc tu hành, truyền pháp và xử thế
Vô vị chân nhân: Là một tư tưởng trọng tâm của thiền Lâm Tế, là một
công án thiền tông, công án này nói về cơ duyên vấn đáp giữa thiền sư Lâm
Tế Nghĩa Huyền với một vị Tăng, trong lúc thiền sư đang thượng đường dạy chúng “Sư thượng đường nói trong khối thịt đỏ có một vị chân nhân thường
ra vào nơi mặt mũi của các ông, người chưa chứng hãy khán! Hãy khán! lúc
ấy có một vị Tăng bước ra hỏi: “Thế nào là vô vị chân nhân?” “Sư bước xuống giường thiền, nắm ngực vị Tăng bảo: “Nói mau! Nói mạnh”, vị Tăng suy nghĩ, sư xô ra bảo: “Vô vị chân nhân là cứt khô gì?”, rồi quay về phương trượng”[11, 2393]
Theo Lâm Tế thì “vô vị chân nhân” chính là tinh thần của con người, bao quát ý thức, cảm giác và tất cả tác dụng của tinh thần Lâm Tế dùng hình tượng để biểu thị, vô vị chân nhân chính là tự tính tất cả mọi người đều có, chính là Phật tính Đối với Phật tính thì không thể dùng ngôn ngữ văn tự để biểu đạt, đối với câu hỏi của vị Tăng kia chỉ có thể tránh mà không đáp Công
Trang 34án này nói lên mỗi người đều có sẵn Phật tính, không cần phải hướng ra ngoài tìm cầu chỉ do bị nhiễm ô nên không hiển lộ
Vô tu vô chứng: Theo quan niệm của thiền phái Lâm Tế; tâm chính là
Phật, Phật ở tự thân không phải tìm cầu bên ngoài, phản đối việc tìm cầu giải thoát từ bên ngoài, chủ trương vô tu vô chứng Thiền phái này cho rằng Phật pháp không tách rời cuộc sống hiện thực, tự do tự tại cũng chính là Phật đạo Trong quá trình tu hành người tu lúc nào, ở đâu cũng không bị ràng buộc bởi ngoại giới, phải tự chủ, phải tin rằng chính bản thân mình là Phật Mọi hành
sự trong cuộc sống hàng ngày đều thể hiện Phật tính, đều là khế cơ để giải thoát thành Phật Tu hành chính là ngưng nghỉ thân tâm, chẳng có truy cầu, đừng cầu bên ngoài vì cầu thì tất sẽ khổ
Tứ liệu giản: Đây là bốn pháp giảm biệt do ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền
lập ra, tức bốn quy tắc có năng lực thích ứng theo thời cơ, tùy nghi cho hay đoạt tự tại, giết chết hay cứu sống để giáo hóa người học
“1 Đoạt nhân bất đoạt cảnh: Tức đoạt chủ quan chỉ còn khách quan, ngoài vạn pháp không thừa nhận chính mình để phá trừ chấp trước đối với nhân kiến, ngã kiến
2 Đoạt cảnh bất đoạt nhân: Tức đoạt khách quan chỉ còn chủ quan, quán thế giới cảnh hiện trong tâm mình để phá trừ quan điểm cho pháp là thật có
3 Nhân cảnh câu đoạt: Tức phủ định kiến chấp chủ quan, khách quan, phá luôn cả ngã chấp và pháp chấp
4 Nhân cảnh câu bất đoạt: Tức khẳng định sự tồn tại của chủ quan lẫn khách quan”[11, 4798]
Tứ chiếu dụng: Tương ứng với Tứ liệu giản, một phương pháp để tiếp
dẫn người học đạo của Lâm Tế là Tứ chiếu dụng
“Ta có lúc chiếu trước dụng sau
Có lúc dụng trước chiếu sau
Có lúc chiếu dụng không đồng thời”[12, 238]
Trang 35“Chiếu” là quán chiếu chỉ nhận thức đối với khách thể “Dụng” chỉ nhận thức đối với chủ thể Tứ chiếu dụng căn cứ vào nhận thức khác nhau đối với khách thể của người tham thiền để chọn phương pháp dạy khác nhau, mục đích là phá trừ ngoại niệm thế tục, xem chủ thể và khách thể đều là thực tại
Tứ hét: Tiếng hét của Lâm Tế từng gây rung chuyển núi đồi chập trùng,
làm rung động thiền môn Kẻ nào nghe phải khiếp đảm đầu óc như vỡ tung ngay Lâm Tế sử dụng nó như một tuyệt tác phi thường, âm ba tựa muôn ngàn
âm thanh quái đảm, khủng khiếp trỗi lên cùng lúc đẩy lùi khoảng không đến tận cùng sự vật Tiếng hét có bốn tác dụng mà Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền lập ra để tiếp dẫn người học “Sư nói với một vị Tăng: có khi tiếng hét như kiếm báu kim cương vương, có khi một tiếng hét như sư tử lông vàng ngồi xổm trên đất, có khi tiếng hét như cần câu, bóng cỏ, có khi một tiếng hét không có tác dụng của một tiếng hét Ông có hiểu không? Vị tăng suy nghĩ sư bèn hét.”
Tiếng hét thứ nhất là tiếng hét phát ra đại cơ khi người học chấp trước vào tri giải tình lượng, câu nệ vào danh tướng câu cú thì dùng tiếng hét này, bấy giờ tiếng hét giống như có kiếm báu chém vật Tiếng hét thứ hai là tiếng hét đại cơ đại dụng, khi người học muốn suy lường chỗ thấy của bậc thầy để trình kiến giải nhỏ hẹp của mình thì bậc thầy hét này để phá trừ, như khi sư tử rống thì đầu dã can bị vỡ Tiếng hét thứ ba dùng để trắc nghiệm người học hoặc người học dùng tiếng hét này để trắc nghiệm gia sư Tiếng hét thứ tư là tiếng hét hướng thượng, gồm thâu cả ba tiếng hét trước”[11, 2396]
- Quá trình truyền bá của dòng thiền Lâm Tế ở Đàng Ngoài Việt Nam
Quá trình truyền bá, phát triển của dòng thiền Lâm Tế ở Đàng Ngoài Việt Nam thế kỷ thứ XVII, gắn liền với vai trò của Thiền sư Chuyết Chuyết Thiền sư Viên Văn – Chuyết Chuyết, thường được gọi là Hòa thượng Chuyết Công, tên tục là Lý Thiên Tộ, sinh năm 1590, tại Tiệm Sơn, quận Thanh Chương, tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa Thiền sư Viên Văn còn có pháp hiệu là
Trang 36Hải Trừng thuộc phái thiền Lâm Tế đời thứ 34 Thuở nhỏ, Thiền sư Viên Văn rất thông minh, đĩnh ngộ, theo học Nho giáo, thông hiểu cả Tứ thư, Ngũ kinh, lớn lên theo tu học với Trưởng lão Tiệm Sơn Sau một thời gian chuyên cần tu học, Thiền sư Chuyết Chuyết quán sát rõ cuộc đời là vô thường, khổ não Từ khi ngộ đạo Thiền sư không còn màng đến danh lợi, tiền tài, chí tâm
tu hành học đạo
Sau đó Thiền sư Chuyết Chuyết đến tham vấn Hòa thượng Đà Đà ở Nam Sơn Hòa thượng Đà Đà nhận thấy Thiền sư thông minh, đạo đức, phẩm hạnh cao nên rất thương mến và thường bảo với đồ chúng rằng: “Ngày sau, ta sẽ nhường chỗ cho kẻ này Y sẽ bước khỏi đầu sào trăm trượng” Hòa thượng đem hết yếu chỉ dạy và giúp cho Thiền sư Chuyết Chuyết đạt được tâm tông của thiền Sau khi được truyền tâm ấn, Thiền sư Chuyết Chuyết vân du khắp nước Trung Hoa để hoằng dương Phật pháp Phật tử, các học giả đương thời đều kính trọng và yêu mến, danh tiếng của Thiền sư truyền khắp nước Trung Hoa
“Năm 1630, Thiền sư Chuyết Chuyết cùng với một số đệ tử lên thuyền vượt biển qua Cao Miên, rồi dời Cao Miên qua Chiêm Thành, vượt biển Chiêm Thành sang Đại Việt Từ Đàng Trong ông cùng các đệ tử khởi hành ra Đàng Ngoài, dừng chân hoằng hóa tại chùa Thiên Tượng, Nghệ An và chùa Trạch Lâm, Thanh Hóa một thời gian Đến năm 1633, thầy trò đến được kinh thành Thăng Long Thầy trò ông mang theo một số kinh điển Đến Thăng Long, ông
và các đệ tử ở lại chùa Khán Sơn và bắt đầu giảng dạy Phật pháp Người đến học gồm cả người Trung Hoa và người Việt Nam Sau một thời gian, Thiền sư dời về chùa Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh”[47, 438]
Trong thời gian Hòa thượng Chuyết Công hoằng hóa ở chùa Phật Tích, chúa Trịnh Tráng, vua Lê Thần Tông, hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (vợ của vua Lê Thần Tông), một số vương phi, cung tần của vua Lê cũng như chúa Trịnh xin thụ giáo quy y Thanh Đô Vương Trịnh Tráng (1623 – 1657),
Trang 37kính trọng Hòa thượng Chuyết Chuyết như bậc thầy Chúa Trịnh Tráng nhờ Hòa thượng cho người về Trung Hoa thỉnh kinh sách, pháp tượng, pháp khí qua Đàng Ngoài Hòa thượng Chuyết Công phái đệ tử là Thiền sư Minh Hành
về Trung Hoa thỉnh kinh Kinh được thỉnh về tàng trữ ở chùa Phật Tích, một
số kinh sách được khắc bản gỗ và in lại để phổ biến ở Đàng Ngoài Vào thời Trịnh – Nguyễn, các vua chúa ở Đàng Trong, Đàng Ngoài rất hay lập các trai đàn để cúng các binh lính tử trận, ở trên bộ hay dưới nước Trong các trai đàn này áp dụng nghi thức lễ trong sách “Thủy lục chư khoa”
Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc cùng với con là công nữ Lê Thị Ngọc Duyên đều xuất gia tại chùa Phật Tích Với pháp danh lần lượt là Pháp Tánh
và Diệu Tuệ Năm 1643, Ni sư Pháp Tánh cho trùng tu lại chùa Ninh Phúc (sau đó được gọi là chùa Bút Tháp hay Nhạn Tháp) Sau khi trùng tu xong, Hòa thượng Chuyết Công được thỉnh sang trụ trì chùa này, còn Thiền sư Minh Hành trụ trì chùa Phật Tích
Hòa thượng Chuyết Công trụ trì chùa Ninh Phúc cho đến ngày viên tịch, ngày Rằm tháng Bảy năm Giáp Thân (1644), Hòa thượng gọi đồ chúng lại truyền bài kệ:
“Sấu trúc trường tùng trích thủy hương Lưu phong sở nguyệt đổ vi lương Bất tri thùy trụ Nguyên Tây tự Mỗi nhật trung thanh tống tích dương
Dịch nghĩa:
Trúc gầy, thông vút nước thơm rơi Gió thoảng trăng non lành lạnh mát Chẳng biết ai trụ Nguyên Tây tự Mỗi ngày chuông nổi tiễn hoàng hôn”[24, 176-177]
Trang 38Thiền sư Chuyết Chuyết đọc xong bài kệ thì viên tịch, thọ 55 tuổi Sau khi Hòa thượng mất, vua Lê Chấn Tông ban thụy hiệu là: “Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư” Thiền sư Minh Hành và đồ chúng lập tháp Báo Nghiêm ở chùa Vạn Phúc để an trí kim thân Hòa thượng Chuyết Chuyết, cũng như xây tháp thờ vọng ở chùa Bút Tháp
Thiền sư Chuyết Chuyết cùng với các đệ tử của ông, đem tư tưởng của dòng thiền Lâm Tế truyền bá ở Đàng Ngoài, trong lúc Phật giáo Đàng Ngoài đang trên đà suy yếu Dòng thiền Lâm Tế thổi một luồng sinh khí mới vào Phật giáo Việt Nam, ngay từ đầu Thiền sư Chuyết Chuyết và các đệ tử, kết hợp tư tưởng thiền Lâm Tế với tư tưởng thiền Trúc Lâm và tín ngưỡng bản địa
1.2.2 Thời kỳ khai sáng và hệ thống truyền thừa của Sơn môn Phật giáo Linh Quang - Trà Lũ Trung ở tỉnh Nam Định
Theo Từ điển Phật học Huệ Quang định nghĩa “1 Sơn môn (Tam
môn) Cổng chính (Tam quan) của các chùa viện, chùa viện phần nhiều ở núi
rừng, nên có tên này Thông thường các chùa đều có ba cửa, tượng trưng cho tam giải thoát môn (không môn, vô tướng môn, vô tác môn) nên gọi là Tam
môn hoặc chỉ có một cửa cũng gọi là Tam môn
2 Sơn môn (Sơn tự) Từ chung gọi là chùa viện, vì từ xưa đến nay chùa viện phần nhiều được xây dựng ở núi rừng, nên lấy sơn môn làm tên gọi khác nhau của chùa viện Từ đó người sau tạo lập chùa viện ở đồng bằng hay giữa
đô thị cũng gọi là sơn môn Ngoài ra tất cả những người tu hành trong ngôi chùa từ trụ trì trở xuống cũng đều được gọi là sơn môn”[11, 3988]
Theo ý kiến của tác giả khái niệm Sơn môn còn được hiểu như là một dòng họ truyền thống của Việt Nam Dòng họ truyền thống Việt Nam có ông
tổ khai sơn lập ấp, sinh ra các con cháu, rồi từ đó tiếp tục phát triển ra các chi ngành khác nhau Những người cùng trong dòng họ là những người có chung một huyết thống (huyết mạch) Từ cách hiểu này có thể hiểu từ Sơn môn Phật
Trang 39giáo như sau: Sơn môn do một vị Tổ Sư sáng lập ra và lập ra bản thanh quy, sau đó truyền thừa cho các đệ tử đời sau Theo thời gian Sơn môn không ngừng lớn mạnh về số lượng Tăng, Ni cũng như số lượng các tự, viện Những Tăng, Ni trong Sơn môn dù ở bất cứ một cương vị nào hay ở nơi đâu cũng luôn hướng về cội nguồn của Tổ tông (những người cùng một Sơn môn trong Phật giáo được gọi là đạo mạch) Đặc biệt để thể hiện lòng thành kính đối với chư vị Tổ Sư, các Tăng, Ni luôn tâm niệm giữ gìn phát huy đạo mạch, “tông phong, Thanh quy” của Sơn môn mình, nhằm thể hiện tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” Như ca dao Việt Nam có câu:
“Cây có cội mới trổ cành xanh lá Nước có nguồn mới tủa khắp rạch sông Làm người có tổ, có tông
Như cây có cội, như sông có nguồn”
- Khái quát mảnh đất Trà Lũ nơi khởi nguồn của Sơn môn Phật giáo Linh Quang – Trà Lũ Trung
Xã Trà Lũ thuộc huyện Xuân Trường ngày nay, vốn là phần phía Bắc của huyện Giao Thủy Huyện Giao Thủy xưa là một trong bốn huyện thuộc phủ Thiên Trường (phủ này được đặt từ thời Trần) Đến thời Pháp thuộc, bỏ cấp trung gian phủ, vẫn duy trì đơn vị hành chính phủ nhưng tương đương với cấp huyện Phủ Thiên Trường vẫn tồn tại nhưng là đơn vị hành chính thuộc tỉnh Nam Định, vẫn bao gồm toàn bộ đất đai hai huyện Xuân Trường và Giao Thủy hiện nay Đến năm 1934, chia phủ Thiên Trường thành hai đơn vị hành chính là phủ Xuân Trường (huyện Xuân Trường ngày nay) và huyện Giao Thủy (huyện Giao Thủy ngày nay) Đến năm 1948, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đồng loạt bãi bỏ các đơn vị hành chính phủ, châu quận, đổi thành huyện, phủ Xuân Trường đổi thành huyện Xuân Trường
Trang 40Địa danh Giao Thủy xuất hiện từ rất sớm, nhưng huyện Giao Thủy ban đầu bao gồm chủ yếu vùng đất Xuân Trường ngày nay, còn vùng đất Giao Thủy ngày nay vẫn đang trong quá trình bồi đắp Huyện Giao Thủy đầu thế
kỷ XIX gồm 19 tổng: Trà Lũ, Hành Cung, Hà Cát, Hộ Xá, Thủy Nhai, Hoành Nha, Đỗ Xá, Kiên Lao, Cát Xuyên Tổng Trà Lũ có tám xã, phường: Trà Lũ, Lạc Nghiệp, Vạn Lộc, Trà Khê, Quần Cống, Hoành Vực, Trùy Trà, phường thủy cơ Trà Lũ[83, 43-46]
Lịch sử hình thành xã Trà Lũ không rõ vào triều đại nào Tuy nhiên, dựa theo Trà Lũ xã chí: “Có người hỏi Nhĩ Khê rằng: “Ngày xưa xã Trà Lũ lập ấp vào triều đại nào? Nhĩ Khê tôi xin thưa rằng:
Xã không có Xã chí lưu truyền lại, mà trên cơ sở nghiên cứu tình hình
cụ thể thì biết rằng xã ta có từ thời Lê, đến nay hơn 400 năm Thời Lê Trang Tông niên hiệu Nguyên Hòa năm thứ nhất, tên Trà Lũ đã ghi trong lịch sử nước ta Từ Nguyên Hòa năm thứ nhất (1533) đến Duy Tân - Ất Mão (1915)
là 380 năm Họ Bùi đến lập ấp đầu tiên ở thôn Bắc, thủy tổ được sắc phong Hoàng Tín Đại Phu, Thái Bộc Tự Khanh, mà chức tước ấy chỉ đặt ra ở thời Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức năm thứ hai (1471), đến nay đã được 415 năm Họ Trần, họ Phan ở xã ta đều có thế phả, đến nay khoảng 16, 17 đời, ước lượng 4 đời là 100 năm, tổng cộng hơn 400 năm là như vậy Lâu nay dân gian cũng thường hay nói xã ta có từ thời Hồng Đức, người xã ta ở Phương
Lũ xuống Tuy vậy cũng chưa biết rõ ràng”[62, 3]