Tuy tính chất “dấu hiệu” giữa họ thể hiện ở sự thiếu cân xứng, không đồng đều và đôi khi, có cả sự thiếu nhất quán về các đặc tính thẩm mĩ của văn xuôi HHĐ trong một tác giả hay một tác
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_
ĐÀO CƯ PHÚ
NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
CÓ YẾU TỐ HẬU HIỆN ĐẠI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_
ĐÀO CƯ PHÚ
NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
CÓ YẾU TỐ HẬU HIỆN ĐẠI
Chuyên ngành: Lý luận văn học
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS TS PHẠM QUANG LONG
2 TS NGUYỄN VĂN NAM
Hà Nội – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Để hoàn thành luận án với đề tài Người kể chuyện trong tiểu thuyết Việt Nam
có yếu tố hậu hiện đại, bên cạnh sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Phạm Quang Long
và TS Nguyễn Văn Nam là sự nghiên cứu nghiêm túc, cẩn thận của cá nhân tôi
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi có sử dụng các tư liệu tham khảo liên quan đến vấn đề nghiên cứu của mình, nhưng tất cả chỉ để gợi mở cho tôi các ý tưởng nghiên cứu cũng như tăng thêm tính thuyết phục cho những lập luận của đề tài thêm chặt chẽ Khi sử dụng một số trích đoạn, chúng tôi có chú thích nguồn gốc rõ ràng
Kết quả nghiên cứu này không trùng khít với bất kì công trình nghiên cứu nào từng được công bố trước đó
Tôi xin cam đoan những điều nói trên là sự thật Nếu có gì sai phạm, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận án
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này, cùng với những nỗ lực của bản thân là sự hướng dẫn tận tình, nhiệt huyết và luôn động viên, giúp đỡ của các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong tổ Lí luận nói riêng, khoa Văn học – Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội nói chung Đặc biệt, tôi muốn gửi lời tri ân sâu sắc nhất đến PGS.TS Phạm Quang Long cùng TS Nguyễn Văn Nam – hai thầy đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành luận án Em xin cảm ơn sự tin tưởng, khích lệ
và động viên mà hai thầy đã dành cho em trong suốt thời gian qua Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Đoàn Đức Phương - người thầy hướng dẫn cho em từ khóa luận tốt nghiệp đại học đến luận văn thạc sĩ và có nhiều giúp đỡ tận tình cho em trong suốt quá trình học tập NCS
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp – những người
đã tạo điều kiện giúp đỡ và sẻ chia với tôi suốt những năm nghiên cứu và hoàn thành luận án Cảm ơn vì đã cho tôi điểm tựa và động lực về mặt tinh thần để tôi đi đến đích con đường hôm nay
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 3 tháng 3 năm 2017
Nghiên cứu sinh
Trang 5BẢNG HỆ THỐNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT
NKC : Người kể chuyện
TTHHĐ : Tiểu thuyết hậu hiện đại
VHHHĐ : Văn học hậu hiện đại
TTVN : Tiểu thuyết Việt Nam
VHVN : Văn học Việt Nam
HHĐ : Hậu hiện đại
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do lựa chọn đề tài 1
2.1 Đối tượng nghiên cứu 3
2.2 Phạm vi nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Những đóng góp mới của luận án 6
6 Cấu trúc của luận án 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1 Tổng quan về người kể chuyện 8
1.1.1 Khái lược về người kể chuyện 8
1.1.2 Khái lược quan niệm về người kể chuyện qua các giai đoạn phát triển của tiểu thuyết Việt Nam 11
1.1.4 Tình hình nghiên cứu văn học hậu hiện đại ở Việt Nam 16
1.1.4.1 Tình hình nghiên cứu lí thuyết văn học hậu hiện đại ở Việt Nam16 1.1.4.2 Những thành tựu về nghiên cứu TTVN có yếu tố HHĐ 19
1.2 Tổng quan văn học hậu hiện đại 25
1.2.1Khái lược văn học hậu hiện đại 25
1.2.2 Tổng quan về TTHHĐ và TTVN có yếu tố HHĐ 31
1.2.2.1 Tiểu thuyết hậu hiện đại 31
1.2.2.2 Tiểu thuyết Việt Nam có yếu tố hậu hiện đại 32
Tiểu kết 37
CHƯƠNG 2 CẢM THỨC HẬU HIỆN ĐẠI, QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG THỨC KỂ CỦA NGƯỜI KỂ CHUYỆN 39
2.1 Khái lược về cảm thức hậu hiện đại 39
2.2 Quan điểm của người kể chuyện 42
Trang 72.2.1 Quan điểm khách quan của người kể chuyện 42
2.2.1.1 Người kể chuyện gọi tên nhân vật một cách ngẫu nhiên 42
2.2.1.3 Người kể chuyện “đóng cũi sắt” cảm xúc 45
2.2.1.4 Người kể chuyện “nhìn thẳng vào sự thật” 48
2.2.2 Quan điểm chủ quan của người kể chuyện 51
2.2.2.1 Chú thích, bình luận trữ tình ngoại đề của người kể chuyện 51
2.2.2.2 Người kể chuyện “đội lốt” nhân vật 55
2.2.2.3 Người kể chuyện như một nhân chứng 59
2.3 Phương thức kể chuyện 61
2.3.1 Lối kể đa trị, khuếch tán 62
2.3.2 Lối kể chuyện phân mảnh – đứt gẫy 69
2.3.3 Lối kể chuyện song trùng đồng hiện 77
Tiểu kết 81
CHƯƠNG 3 NGÔI KỂ VÀ ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT 83
3.1 Ngôi kể của NKC 83
3.1.1 Khái lược về ngôi kể của NKC 83
3.1.2 Ngôi kể cố định 84
3.1.3 Ngôi kể luân phiên liên tục - trần thuật lập thể phi trung tâm 88
3.1.3.1 Ngôi kể luân phiên linh hoạt giữa cố định và vô định 88
3.1.3.2 Ngôi kể luân phiên linh hoạt giữa ngôi kể thứ nhất và ngôi kể thứ ba 91
3.2 Điểm nhìn trần thuật 94
3.2.1Khái lược điểm nhìn trần thuật 94
3.2.3 NKC với điểm nhìn bên ngoài – phương thức trần thuật có tính chất ngoại quan 100
3.2.4 NKC với điểm nhìn đằng trước – phương thức trần thuật lát cắt101 3.2.5 Sự di chuyển các điểm nhìn trần thuật – luân phiên phi quy tắc 105
3.2.5.1 Luân phiên điểm nhìn giữa người kể chuyện với nhân vật 105
Trang 83.2.5.2 Luân phiên điểm nhìn giữa nhân vật với nhân vật 109
3.2.6 Đa bội điểm nhìn – một hình thức phức điệu nghệ thuật 113
3.2.7.1 Điểm nhìn trẻ thơ 118
3.2.7.2 Điểm nhìn súc vật, đồ vật, thiên nhiên 119
3.2.7.3 Điểm nhìn của những người “bất bình thường” 121
Tiểu kết 123
CHƯƠNG 4 NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT 124
4.1 Ngôn ngữ kể chuyện 124
4.1.1 Khái lược về ngôn ngữ kể chuyện 124
4.1.2 Đa dạng các lớp diễn ngôn 125
4.1.3 Nhòe mờ ngôn ngữ - lằn ranh bất định 129
4.1.3.1 Nhòe mờ ngôn ngữ đối thoại và độc thoại 129
4.1.4 Mê lộ ngôn từ - dạng thức của trò chơi ngôn ngữ 137
4.1.4.1 Tính chất pha tạp và dung nạp các sắc màu ngôn ngữ 138
4.1.4.2 Bành trướng ngôn từ - trải chữ trên bề mặt văn bản 145
4.1.5 Ngôn ngữ góc cạnh, thô nhám, xù xì – Tính không chọn lọc của ngôn từ 154
4.2 Giọng điệu kể chuyện 155
4.2.1 Khái lược về giọng điệu kể chuyện 155
4.2.2 Giọng điệu triết lí 158
4.2.4 Giọng điệu dung tục, suồng sã 170
4.2.5 Giọng điệu vô âm sắc 173
Tiểu kết 175
KẾT LUẬN 178
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 183
TÀI LIỆU THAM KHẢO 185
PHỤ LỤC 208
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
Trong những năm gần đây, “Tự sự học” 1 đã trở thành lĩnh vực thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu Việt Nam Nhiều công trình nghiên cứu đã dành sự quan tâm đặc biệt đến lí thuyết tự sự và những ứng dụng của nó trong việc khám phá cấu trúc văn bản truyện kể, đặc biệt là trong thể loại tiểu thuyết và nhận được sự quan tâm nhiều nhất hiện nay là tiểu thuyết đương đại 2
Trong lĩnh vực tiểu thuyết, sự đổi mới tư duy nghệ thuật đã tạo tiền đề cho những cách tân thể loại Vai trò của tự sự học rất quan trọng trong nghiên cứu văn học, đúng như lời nhận định của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử: “Người ta càng ngày càng nhận ra rằng nếu thiếu kiến thức cơ bản về tự sự học thì các phán đoán trong các ngành nghiên cứu trên (bao gồm nghiên cứu điện ảnh, giao tiếp, phương tiện truyền thông, nghiên cứu văn hóa, văn học – ĐCP) rất dễ phạm những sai lầm
sơ đẳng và các kết luận có thể chỉ là những lâu đài xây trên cát Chẳng hạn rất phổ biến nhầm lẫn về tác giả và người trần thuật hay nhân vật người kể chuyện (NKC) xưng “tôi”, nhân vật hành động, nói năng… Và do vậy đã nảy sinh những nhận định
về chủ nghĩa tự nhiên, về sự tàn nhẫn, thiếu cái tâm ở nhà văn này, nhà văn nọ khi
họ sử dụng một cách trần thuật nào đó ” [205;11] Qua nhận xét của Trần Đình Sử,
có thể thấy việc đánh giá đúng vai trò của nghệ thuật trần thuật sẽ góp phần nhận thức đúng giá trị của các tác phẩm văn học Tầm quan trọng của tự sự học có thể được coi như một bộ phận không thể thiếu của hành trang nghiên cứu văn học hôm nay, thật đúng với nhận định của nhà nghiên cứu Thomas Kuhn: “Đó là một bộ phận cấu thành của hệ hình (paradigme) lí luận hiện đại” [205;11] Vì vậy, nghiên
cứu về Người kể chuyện trong tiểu thuyết Việt Nam có yếu tố hậu hiện đại là một
vấn đề rất cần thiết, bởi sự đổi mới nghệ thuật trần thuật góp phần đổi mới nền văn học nước nhà nói chung và tiểu thuyết đương đại nói riêng, đồng thời còn giúp cho
1 Narratology – một bộ môn nghiên cứu đặc thù của lí luận văn học, lấy nghệ thuật tự sự làm đối tượng
2 Chẳng hạn, các công trình trực tiếp hoặc gián tiếp bàn đến Tự sự học như Tự sự học – một số vấn đề lí luận
và lịch sử (Trần Đình Sử); Giáo trình dẫn luận tự sự học (Lê Thời Tân); Tự sự học (Viện Văn học – Viện
Trang 10các nhà tiểu thuyết đương đại luôn ý thức về sự vận động nội tại của bản thân và khẳng định được phong cách riêng không thể trộn lẫn với các tác giả khác Dấu ấn NKC, người trần thuật, do đó có thể nói, đậm nét nhất trong quá trình cách tân của thể loại, nếu nhìn từ điểm xuất phát của vấn đề
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về nghệ thuật tiểu thuyết hậu hiện đại (TTHHĐ) từ nghệ thuật trần thuật nhưng quy mô còn nhỏ lẻ và chưa thực sự xứng tầm với tiềm năng vốn có của nó, đặc biệt là phương diện NKC hiện vẫn là một vấn
đề để ngỏ chưa được nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm, nó giống như một mảnh đất màu mỡ nhưng có quá ít người cày xới
Nền tiểu thuyết đương đại Việt Nam ghi nhận đóng góp của hàng loạt tên tuổi với sức viết và bút lực dồi dào, họ đều đóng góp những cách tân cho nền tiểu thuyết nước nhà ở những khía cạnh khác nhau, những tên tuổi nổi bật phải kể đến đó là Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Thuận, Đặng Thân… Họ đều là những tác giả có nhiều tiểu thuyết, những cách tân mới mẻ luôn được độc giả nhìn thấy từ chính bản thân họ, ở từng thời kì, từng giai đoạn, sự vận động tiểu thuyết của mỗi nhà văn luôn được thể hiện rất rõ nét Tuy tính chất “dấu hiệu” giữa họ thể hiện ở sự thiếu cân xứng, không đồng đều và đôi khi, có cả sự thiếu nhất quán về các đặc tính thẩm mĩ của văn xuôi HHĐ trong một tác giả hay một tác phẩm cụ thể, nhưng nhìn chung những đóng góp của các nhà văn này, đặc biệt ở phương diện NKC góp phần đưa tiểu thuyết Việt Nam đến gần hơn với trào lưu văn học hậu hiện đại (VHHHĐ) thế giới Do vậy, nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi mong muốn đào sâu thêm các lý thuyết về NKC, qua đó giúp người đọc hiểu sâu hơn văn học đương đại Việt Nam, góp một phần nhất định trong việc hệ thống hóa kiến thức giảng dạy văn học đương đại Việt Nam trong nhà trường
Có thể nói đây là những lí do cơ bản khiến chúng tôi lựa chọn đề tài Người kể
chuyện trong tiểu thuyết Việt Nam có yếu tố hậu hiện đại (Cũng cần nói thêm, do ở
Việt Nam vẫn chưa có sự thống nhất trong nhận định có trào lưu VHHHĐ) hay chưa nên chúng tôi dùng một tên gọi mang tính ước lệ về các tiểu thuyết của các nhà văn này là “mang (có) yếu tố HHĐ”, có thể trong thực tế chúng đã thực sự là
Trang 11những tiểu thuyết HHĐ rồi) Luận án đi sâu vào vấn đề NKC nhằm khẳng định sự vận động và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam có yếu tố HHĐ là cần thiết Tiếp cận văn học từ hướng đi này sẽ đem lại một cách nhìn đa chiều về diện mạo tiểu thuyết Việt Nam có yếu tố HHĐ
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án vận dụng lý thuyết HHĐ, cụ thể là lí thuyết về NKC trong TTHHĐ để thấy được những đặc sắc về vấn đề NKC trong TTVN có yếu tố HHĐ Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là NKC trong tiểu thuyết có yếu tố HHĐ của các nhà văn Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Thuận và tiểu thuyết tiêu
biểu nhất của Đặng Thân (3.3.3.9 [Những mảnh hồn trần])… Cũng cần nói thêm,
trong nền văn học đương đại Việt nam hiện nay, ngoài các tác giả nêu trên thì có thể
kể đến hàng loạt nhà văn khác cũng ít nhiều mang yếu tố HHĐ như Trần Nhã Thụy, Inrasara, Nguyễn Ngọc Tư hay Vũ Đình Giang… Tuy nhiên, một mặt do giới hạn của đề tài, mặt khác là do những đặc trưng tiêu biểu, những cách tân nổi bật về phương diện NKC trong tiểu thuyết của các tác giả này khá bao quát và đầy đủ nên chúng tôi chỉ giới hạn 5 tác giả cụ thể, còn các nhà văn vừa nhắc đến ở trên, chúng tôi chỉ chọn một vài tiểu thuyết nổi bật để có những đối sánh
Có thể nói, đây vừa là đối tượng khảo sát nhằm “đối chứng” với những vấn đề lí thuyết, vừa để nhìn rõ hơn những dấu hiệu, những yếu tố HHĐ ở các cây bút tiêu biểu của nền văn học đương đại nước nhà
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Lí thuyết về VHHHĐ chủ yếu bao gồm hai khía cạnh cảm thức HHĐ và kĩ thuật viết HHĐ Do vậy chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu là vấn đề NKC trong TTVN có yếu tố HHĐ Chúng tôi vẫn đi vào hướng tiếp cận cảm thức HHĐ và kĩ thuật viết HHĐ nhưng xác định mục tiêu một cách cụ thể, đó là nghiên cứu về cảm thức HHĐ của NKC với những kĩ thuật viết HHĐ liên quan đến vấn đề NKC như ngôi kể, điểm nhìn, phương thức kể, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật Bên cạnh
đó, cũng cần phải nói thêm, rất nhiều tiểu thuyết của các nhà văn đương đại Việt
Trang 12Nam có màu sắc HHĐ, nhưng chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu là tiểu thuyết của các nhà văn tiêu biểu như Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương
và có sự so sánh một cách toàn diện với một số tác giả trong nước và hải ngoại khác như Đặng Thân và Thuận… để thấy được những nét chung cũng như những điểm in đậm dấu ấn cá nhân về phương diện NKC trong từng tác giả Với những tiểu thuyết
cũng mang đậm yếu tố HHĐ của các tác giả đương đại khác (như Song song của Vũ Đình Giang, Sông của Nguyễn Ngọc Tư, Hát của Trần Nhã Thụy hay Hàng mã kí
ức của Inrasara…), chúng tôi cũng đưa ra những so sánh ngắn gọn trên một bình
diện nào đó để càng làm nổi bật yếu tố HHĐ về phương diện NKC của các tác giả
tố HHĐ, ở các tác giả Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Thuận
và Đặng Thân… Nghiên cứu vấn đề NKC trong TTVN có yếu tố HHĐ vừa để thấy
được sự vận động nội tại theo hướng cách tân mới mẻ của mỗi nhà văn; đồng thời làm nổi bật những đặc sắc nghệ thuật về phương diện NKC cũng như làm sáng rõ những đóng góp về kĩ thuật NKC của các nhà văn này đối với nền tiểu thuyết đương đại Việt Nam, góp phần khẳng định TTVN có yếu tố HHĐ cũng đang phát triển, từng bước hòa nhập và rút ngắn khoảng cách với nền TTHHĐ thế giới Bên cạnh những thành tựu, chúng tôi còn chỉ ra cả những nhược điểm, hạn chế về các phương diện NKC để từ đó có một cái nhìn toàn diện hơn về TTVN có yếu tố HHĐ
Trang 133.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ của luận án là chỉ ra những nét đặc sắc, cách tân về phương diện NKC trong TTVN có yếu tố HHĐ, trong đó mỗi chương lại có những nhiệm vụ riêng, phục vụ cho nhiệm vụ chung Chương 1 có nhiệm vụ nghiên cứu tổng quan lý thuyết về NKC, về VHHHĐ và TTVN có yếu tố HHĐ… để tạo tiền đề lý thuyết cho các chương sau Ở chương 2, nhiệm vụ của luận án là làm sáng rõ ba vấn đề mang tính bao quát, đó là cảm thức, quan điểm và các phương thức kể của NKC trong tác phẩm có yếu tố HHĐ Nhiệm vụ của chương 3 và 4 là chỉ rõ những đặc điểm nổi bật về ngôi kể, điểm nhìn, ngôn ngữ và giọng điệu của một số TTVN có yếu tố HHĐ Tất cả những điều này phục vụ cho nhiệm vụ cao nhất của luận án, đó
là chỉ ra được những đặc điểm mang đậm yếu tố HHĐ của tiểu thuyết đương đại Việt Nam, góp thêm cơ sở lý thuyết để “tô đậm” quan điểm rằng có một khuynh
hướng mang tên Tiểu thuyết Việt Nam hậu hiện đại
4 Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng lí thuyết tự sự học và thi pháp học, người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp loại hình: Đây là phương pháp giúp người nghiên cứu bao quát
mảng TTHHĐ ở các dạng thức biểu hiện cụ thể, xét từ phương diện nghệ thuật (trên trục NKC), chỉ ra các kiểu, dạng NKC, phương thức trần thuật, ngôi kể, ngôn ngữ, giọng điệu và điểm nhìn trần thuật…
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được sử dụng để chỉ ra những đóng góp,
cách tân của TTHHĐ từ phương diện nghệ thuật trần thuật, với vai trò của NKC xuyên suốt tác phẩm Ngoài ra, phương pháp này còn nhằm so sánh phương diện NKC của mỗi tác giả qua các thời kì khác nhau và so sánh phương diện NKC trong tiểu thuyết của các tác giả sinh sống ở Việt Nam (Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Đặng Thân) với các nhà tiểu thuyết có nhiều thời gian sinh sống ở nước ngoài (Hồ Anh Thái, Thuận), được “hít thở” không khí hậu hiện đại trong đời sống lẫn trong nghệ thuật, hi vọng tìm ra những mối liên hệ về những đặc điểm trong cách viết của họ
Trang 14- Phương pháp cấu trúc: Đây là phương pháp quan trọng nhằm chỉ ra các phương
diện cơ bản của nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết, tập trung vào NKC Phương pháp này được sử dụng để làm rõ diện mạo của TTVN có yếu tố HHĐ dưới góc nhìn tự sự học
- Phương pháp thống kê: Phương pháp này sẽ giúp thống kê được các mức độ, tần
suất liên quan đến vấn đề NKC trong TTVN có yếu tố HHĐ
- Phương pháp tiếp cận liên văn bản: Giúp người nghiên cứu tiếp cận được nhiều
dạng văn bản khác nhau của các tác giả HHĐ trong nước, hải ngoại và cả thế giới,
từ đó có một cách nhìn nhận và đánh giá đầy đủ nhất về vấn đề NKC trong TTVN
có yếu tố HHĐ
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Đây là phương pháp bao gồm hai yếu tố phân
tích và tổng hợp, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành sự thống nhất không thể tách rời: phân tích được tiến hành theo phương hướng tổng hợp, còn tổng hợp được thực hiện dựa trên kết quả của phân tích Vì thế, đây là phương pháp mang tính bao quát nhất, là sự tổng hòa của các phương pháp nêu trên Phương pháp phân tích tổng hợp giúp đưa ra những luận điểm, luận cứ rõ ràng, những lập luận, lí lẽ sát đáng để khẳng định vấn đề một cách thuyết phục nhất Tất cả nhằm phân tích, so sánh, đối chiếu để chỉ rõ những đặc sắc của NKC mang yếu tố HHĐ cũng như thi pháp tự sự HHĐ trong văn xuôi nói chung và trong thể loại tiểu thuyết sau Đổi mới nói riêng
Nhìn chung, trong số các phương pháp này, luận án sử dụng các phương pháp cấu trúc, phương pháp phân tích so sánh và phương pháp phân tích tổng hợp là chính, các phương pháp còn lại mang tính chất hỗ trợ giúp chúng tôi nghiên cứu
được tốt nhất vấn đề NKC trong TTVN có yếu tố HHĐ
5 Những đóng góp mới của luận án
Với đề tài NKC trong TTVN có yếu tố HHĐ, luận án có những đóng góp cụ thể sau:
Thứ nhất, luận án góp phần khẳng định tầm quan trọng của việc ứng dụng lí
thuyết tự sự học vào việc tìm hiểu các hiện tượng TTVN có yếu tố HHĐ
Thứ hai, luận án cung cấp một cái nhìn hệ thống về NKC, một yếu tố quan trọng
Trang 15của tự sự học Đây cũng là đóng góp cơ bản của luận án trong việc hệ thống các lí thuyết về NKC và khám phá vai trò của NKC trong TTVN có yếu tố HHĐ
Cuối cùng, luận án khẳng định vai trò của cá tính sáng tạo trong việc cách tân
tiểu thuyết trên bình diện nghệ thuật trần thuật, qua đó nhận diện những thành tựu
đa dạng của VHVN có yếu tố HHĐ nói chung
6 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung luận án bao gồm bốn chương:
Chương 1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Cảm thức hậu hiện đại, quan điểm và phương thức kể của người
kể chuyện
Chương 3 Ngôi kể và điểm nhìn trần thuật
Chương 4 Ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về người kể chuyện
1.1.1 Khái lược về người kể chuyện
Người kể chuyện là một thành tố không thể thiếu trong một tác phẩm tự sự Theo
Từ điển thuật ngữ văn học: “NKC là hình tượng ước lệ về người trần thuật trong tác
phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình tượng của chính tác giả nhưng không nên đồng nhất hoàn toàn với tác giả ngoài đời; có thể là nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra; có thể là một người biết một câu chuyện nào đó Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều NKC” [79;187] Theo chúng tôi thì khái niệm này không hoàn toàn đúng, bởi không phải lúc nào NKC cũng được gắn với một nhân vật cụ thể trong tác phẩm, có nhiều hình tượng NKC không hề xuất hiện như một nhân vật Cũng theo cuốn từ điển này thì NKC có vai trò đặc biệt quan trọng trong các tác phẩm tự sự, vì
“hình tượng NKC đem lại cho tác phẩm một cái nhìn và một sự đánh giá bổ sung về mặt tâm lí, nghề nghiệp hay lập trường xã hội cho cái nhìn tác giả, làm cho sự trình bày, tái tạo con người và đời sống trong tác phẩm thêm phong phú, nhiều phối
cảnh” [79;188] Bên cạnh đó, Từ điển thuật ngữ văn học cũng định nghĩa về người
trần thuật như sau: “Là hình thái của hình tượng tác giả trong văn học nghệ thuật, là người mang tiếng nói, quan điểm tác giả trong tác phẩm văn xuôi” [79;188] Có thể thấy, người trần thuật và NKC có điểm chung đều là chủ thể lời nói và là người đại diện điểm nhìn trong tác phẩm văn học Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa hai khái niệm này ở chỗ, người trần thuật được khách quan hóa và được tách biệt rõ rệt với tác giả cả về mặt không gian lẫn bình diện tu từ, mà nó được gắn với một hoàn cảnh văn hóa – xã hội và ngôn ngữ cụ thể để từ đó mô tả về các nhân vật khác, còn NKC không đứng ở đường biên giữa thế giới hư cấu với thực tại của tác giả và độc giả mà hoàn toàn đứng bên trong hiện thực được mô tả Nói một cách ngắn gọn, người trần thuật gần với quan điểm của tác giả (thường là NKC hàm ẩn), còn NKC là nhân vật
hư cấu Nhưng,ở trong thực tiễn, có khi ranh giới giữa chúng rất nhòa và chúng tôi, khi khảo sát cũng không tránh được sự lệ thuộc vào văn bản mình khảo sát
Trang 17Trong Từ điển văn học (Bộ mới) có định nghĩa khá đầy đủ và cụ thể về khái niệm NKC, trong đó đặc biệt nhấn mạnh về mối quan hệ giữa cái tôi của tác giả, cái
tôi của NKC và cái tôi của nhân vật: “Do nhu cầu khách quan nên sắc thái chủ quan
của tác giả được ngụy trang bằng nhiều cách khác nhau: tránh trực tiếp nhận xét, bình luận, đẩy “cái tôi” bình luận ra xa tác giả bằng cách “nhân vật hóa” nó (NKC – ĐCP), đưa nó tham gia sâu vào cốt truyện Đặc biệt, cùng với việc lồng cái nhìn của nhà văn vào cái nhìn của từng nhân vật, lối trao đổi tường thuật qua tay nhiều nhân vật khác nhau tạo nên mối quan hệ phức tạp giữa cái tôi của tác giả, cái tôi của người kể và cái tôi của nhân vật [15;1240] Mục đích của việc lồng ghép này là tạo nên “tính phức điệu” cho tác phẩm
Như vậy, có thể thấy NKC là do tác giả sáng tạo ra nhưng không hoàn toàn đồng nhất với tác giả Thông qua NKC mà độc giả có thể nắm bắt được diễn biến của truyện Nói cách khác, người đọc đón nhận câu chuyện từ NKC chứ không phải
là từ tác giả, bởi khi đã vào truyện, tác giả dường như đứng ngoài lề “buông rèm nhiếp chính”, còn NKC dù ở ngôi kể và điểm nhìn như thế nào mới chính là người
“xông pha vào trận mạc”, trực tiếp tham gia vào diễn biến của truyện
Theo từ điển Oxford Advanced Learner’s Dictionary thì NKC cũng được định
nghĩa rất đơn giản và ngắn gọn: là một người kể lại một điều gì đó Động thái kể ở đây được hiểu là kể lại một câu chuyện, đưa ra một bài tường thuật viết hoặc nói về một điều gì đó Đây được coi là khái niệm cơ bản nhất về NKC Ngay từ đầu thế kỉ
XX, với sự ra đời của tự sự học thì thuật ngữ “NKC” được giới nghiên cứu chú ý đến nhiều ở phương Tây Tất cả các nhà nghiên cứu tên tuổi như W Keyser, R Barthes đến T Todorov… đều thừa nhận NKC là do tác giả sáng tạo ra, phảng phất đôi chút bóng dáng của tác giả chứ không hoàn toàn là nguyên mẫu của tác giả Hay
nói cách khác, NKC chính là chủ thể phát ngôn trong tác phẩm, NKC luôn được đặt
ở bình diện khác với người viết truyện Đây cũng được coi là một thủ pháp giúp cho
câu chuyện kể vừa khách quan lại vừa chân thực, sinh động hơn Tuy NKC không phải là tác giả và không trùng khớp với người viết truyện nhưng vì NKC do tác giả sáng tạo ra nên ít nhiều vẫn mang cảm quan và chịu sự chi phối của tác giả, bởi nhà
Trang 18văn chính là người “khai sinh” ra NKC, lựa chọn ngôi kể và điểm nhìn cho NKC sao cho đúng với tư tưởng của mình nhất
NKC có thể được gắn với các ngôi kể khác nhau, tuy nhiên hai ngôi kể chuyện
chủ yếu là ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba (Ngôi thứ hai: Kể về người nghe chuyện –
ngôi kể này rất hiếm gặp) Trong đó, nếu NKC ở ngôi thứ nhất sẽ có hai trường hợp: Thứ nhất, NKC là nhân vật chính, là người trực tiếp tham gia vào truyện; Thứ hai, NKC là một nhân chứng, kể lại toàn bộ câu chuyện mà mình được nghe hoặc chứng kiến Trong hai trường hợp này thì NKC là nhân vật chính sẽ chân thực và đáng tin hơn, bởi câu chuyện được kể lại từ chính người trong cuộc Còn NKC ở ngôi thứ ba cũng có hai trường hợp tương tự: NKC đứng ngoài các sự việc, kể lại chúng một cách khách quan, không thêm thắt, không bình luận ý kiến chủ quan; NKC tham gia vào câu chuyện, có đưa ra ý kiến bình luận hoặc đánh giá về nhân vật, về các diễn biến diễn ra trong cốt truyện
Tuy nhiên, có NKC chỉ dừng lại ở một ngôi kể và hạn định điểm nhìn, nhưng cũng có NKC luân phiên các ngôi kể khác nhau Việc thay đổi ngôi kể ắt sẽ dẫn đến
sự di chuyển của các điểm nhìn Xét về điểm nhìn của NKC có ba kiểu dạng phổ biến sau:
Điểm nhìn bên trong: Đây là điểm nhìn xuất phát từ bên trong của nhân vật, thấu
hiểu được cả tâm tư, nguyện vọng và chiều sâu suy nghĩ phức tạp của nhân vật
Điểm nhìn bên ngoài: Là điểm nhìn mà NKC đứng ngoài câu chuyện, đóng vai
trò là một nhân chứng “biết gì kể nấy”, không có một chút đánh giá hay bình luận nào, đặc biệt không nắm bắt được những gì đang diễn ra bên trong nội tâm của nhân vật
Điểm nhìn phía sau: Là điểm nhìn của NKC toàn năng, tức là NKC đứng cao
hơn nhân vật, hiểu một cách tường tận câu chuyện, nắm bắt được cả tâm lí bên trong lẫn đặc tính bên ngoài của nhân vật Đồng thời, với điểm nhìn này, NKC luôn
là người nắm bắt và dẫn dắt toàn bộ diễn biến câu chuyện (trong VHHHĐ rất hạn chế sử dụng điểm nhìn này)
Trong VHHHĐ, chúng tôi nhận thấy còn có một kiểu điểm nhìn nữa của NKC,
Trang 19đó là điểm nhìn phía trước Với kiểu điểm nhìn này, NKC chỉ biết được hiện tại của
nhân vật mà không nắm bắt được quá khứ hoặc tương lai của nhân vật Các nhân vật (cả chính lẫn phụ) thoảng đến thoảng đi như một cơn gió, luôn xuất hiện bí ẩn trước độc giả, phần “chìm” của nhân vật luôn là dấu hỏi đối với độc giả TTVN có yếu tố HHĐ có nhiều nhân vật bất chợt xuất hiện, rồi cũng bất chợt biến mất, NKC không biết hoặc không kể gì thêm về quá khứ cũng như là tương lai của nhân vật
đó Điểm nhìn này là hệ quả tất yếu từ quan niệm của VHHHĐ, đó là phản ánh xã hội ở thì đang diễn ra nên chưa có điểm hoàn kết
Như vậy, giống như những ngôi kể, các điểm nhìn cũng được di chuyển luân phiên liên tục Rất ít tác phẩm chỉ dừng lại ở một điểm nhìn - nhất là trong VHHHĐ, điểm nhìn trở thành một kĩ thuật, một công cụ trong tay nhà văn nên nó biến hóa đa dạng Hầu hết TTVN có yếu tố HHĐ đều có sự luân phiên các điểm nhìn khác nhau, thậm chí là đan xen, “ngốn nuốt” các điểm nhìn, hay sự xuất hiện
“song trùng - gấp bội” điểm nhìn, khiến cho truyện giống như một mê lộ thật khó nắm bắt
Tóm lại, NKC có thể được xác lập ở ngôi kể hay điểm nhìn khác nhau nhưng vẫn luôn là “con đẻ” của nhà văn Do vậy, giữa NKC và nhà văn có mối quan hệ gắn kết là điều không thể phủ nhận Tuy nhiên, mối quan hệ đó không trực tiếp thông qua ngôn ngữ giao tiếp mà thông qua ý tưởng của nhà văn được gửi gắm vào nhân vật NKC Người đọc nắm bắt được diễn biến cốt truyện cũng như cảm nhận câu chuyện là thông qua vai trò trung gian – đó là NKC
1.1.2 Khái lược quan niệm về người kể chuyện qua các giai đoạn phát triển của tiểu thuyết Việt Nam
NKC là một nhân tố không thể thiếu trong các thể loại tự sự, nhất là trong thể loại tiểu thuyết, với dung lượng tương đối lớn cùng sự kết nối các sự kiện, biến cố với nhau, nhiều tình tiết, nhiều nhân vật… thì vai trò NKC càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết NKC giữ vai trò xâu chuỗi các sự kiện, dẫn dắt các tình tiết, giới
thuyết về các nhân vật Về vai trò, chức năng và bản chất của NKC, trong Thi
pháp văn xuôi, Tz Todorov nhận định: “NKC là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo
Trang 20thế giới tưởng tượng Chính NKC là hiện thân của những khuynh hướng mang tính xét đoán và đánh giá… chính nó lựa chọn lối nói gián tiếp hay lối nói trực tiếp, sự
kế tiếp tuần tự của việc trình bày hay sự hoán vị thời gian… Không thể có trần thuật thiếu NKC” [236;75] Củng cố thêm vai trò của NKC, nhà nghiên cứu người Mĩ – Jonathan Culler cũng cho rằng: “Bất cứ trần thuật nào đều phải có NKC, bất kể NKC ấy có được xác định rõ hay không Bởi vì vấn đề trung tâm của chủ đề mỗi câu chuyện đều là vấn đề về mối quan hệ hàm ẩn giữa NKC với câu chuyện mà anh
ta kể ra” [198;189] Vai trò quan trọng của NKC là điều mà không ai phủ nhận Tuy nhiên, vấn đề NKC không cố định qua các giai đoạn tiểu thuyết mà luôn có sự chuyển biến, vận động qua từng thời kì Nói cách khác, quan niệm về NKC trong tiểu thuyết luôn vận động như một cơ thể sống, qua từng giai đoạn sinh trưởng của tiểu thuyết, “diện mạo” của NKC cũng “thay da đổi thịt” từng ngày
Chẳng hạn như trong văn học truyền thống cổ trung đại, vai trò của NKC trong các tác phẩm tự sự nói chung luôn giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, nó là người phát ngôn nhân danh tác giả, độc giả có thể nhìn thấy những nét tương đồng trùng khít giữa hình tượng NKC và tác giả, “NKC hầu như hòa với tác giả và nhân vật trữ tình, khó có thể có một khoảng cách nào” [199;122] Vì NKC giữ vai trò như vị
“nhạc trưởng” điều phối dàn giao hưởng (bao gồm việc điều phối cốt truyện, kết cấu, chỉ đạo sắp xếp các sự kiện, biến cố, giới thuyết và miêu tả nhân vật từ dáng vẻ bên ngoài đến nội tâm bên trong, bình phẩm những ý kiến chủ quan…) nên văn học
cổ trung đại thường chọn NKC kể ở ngôi thứ ba với điểm nhìn toàn tri, biết tuốt mọi
việc Những tác phẩm tự sự tiêu biểu của văn học cổ, trung đại như Thượng kinh kí
sự (Lê Hữu Trác), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ)… là những minh chứng rõ nét
cho thấy vai trò quan trọng mang tính “sống còn” của NKC đối với các tác phẩm tự
sự, cùng với đó là sự xuất hiện dập khuôn, đơn điệu, một màu của hình tượng NKC
Từ đầu thế kỉ XX cho đến trước cách mạng tháng Tám, nền tiểu thuyết Việt
Nam bắt đầu có dấu hiệu manh nha với sự xuất hiện của tiểu thuyết Tố Tâm (Hoàng
Ngọc Phách), sau đó là hàng loạt tiểu thuyết của các nhà văn nhóm Tự lực văn đoàn
như Hồn bướm mơ tiên, Đời mưa gió, Nửa chừng xuân, Gánh hàng hoa, Trống mái,
Trang 21Gia đình, Tiêu sơn tráng sĩ, Thoát ly, Băn khoăn… (Khái Hưng) 3; hay các tiểu
thuyết của Nhất Linh như Nắng thu, Đoạn tuyệt, Lạnh lùng, Đôi bạn, Bướm trắng,
Xóm cầu mới…, quan niệm về NKC có đôi chút vận động, đổi thay nhưng về căn
bản vẫn kế thừa hình mẫu NKC của văn học trung đại Hình tượng NKC với điểm nhìn toàn tri không còn được sử dụng triệt để nữa mà đôi khi điểm nhìn của NKC
có sự di chuyển sang nhân vật (có nhưng rất hạn chế)… Có lẽ, đây là điểm “mới” trong quan niệm về NKC của tiểu thuyết giai đoạn này nhưng nhìn chung, NKC vẫn luôn giữ vị trí “thượng phong”, là người “cầm cân nảy mực” chi phối toàn bộ tác phẩm
Quan niệm về hình tượng NKC trong tiểu thuyết tiếp tục vận động suốt ba mươi năm kháng chiến (1945 – 1975) cho đến trước Đổi mới (năm 1986) NKC giai đoạn này vẫn thật khó tách bạch ranh giới với tác giả: “NKC hầu như hòa với tác giả và nhân vật trữ tình, khó có thể có một khoảng cách nào” [199;122] Chủ đạo vẫn là hình tượng NKC toàn tri nhưng lúc này NKC bắt đầu giảm dần vị trí của mình Nếu NKC trong văn học trung đại và những năm đầu thế kỉ XX giống như một “ông chủ” đầy quyền lực thì đến dòng tiểu thuyết Cách mạng và những năm trước Đổi mới, “ông chủ” đó dần chia sẻ “quyền lực” của mình với các “nhân tố” khác trong tác phẩm như nhân vật, kết cấu, cốt truyện… Tuy vậy, vị trí có thể giảm đi nhưng
sự biến hóa lại tăng lên, cho thấy được sự biến ảo của hình tượng NKC trong tiểu thuyết Ở thời điểm này, hình tượng NKC còn giữ tính chất cầu nối để chuyển giao mạnh mẽ vào giai đoạn sau, giai đoạn tiểu thuyết đương đại Việt Nam kéo dài từ sau 1986 cho đến nay
Quan niệm về NKC trong văn học sau Đổi mới cho đến nay có nhiều thay đổi,
nó “thay da đổi thịt” khá nhiều so với hình tượng NKC trong văn học giai đoạn trước và khác biệt gần như hoàn toàn so với văn học cổ, trung đại Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do sự giao thoa, tiếp nhận lí thuyết NKC của tiểu thuyết đương đại Việt Nam với nền tiểu thuyết thế giới (đặc biệt là TTHHĐ), đồng thời các nhà tiểu thuyết cũng luôn ý thức đổi mới nghệ thuật, trong
3
Trang 22đó có phương diện NKC Lúc này, NKC dần rút lui vào hậu trường, “buông rèm nhiếp chính”, nhưng càng “giảm bớt quyền lực” bao nhiêu thì hình tượng NKC lại càng trở nên biến ảo, khó lường bấy nhiêu Nhiều nhà TTHHĐ sử dụng đa dạng NKC ở cả ngôi kể, giọng điệu, điểm nhìn vô cùng linh động, có thể chọn hai phương thức trần thuật từ ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba Mỗi ngôi kể này có một lợi thế khác nhau và chúng có khả năng để ngỏ cho sự sáng tạo phong phú của nhà văn Việc lựa chọn ngôi kể khác nhau sẽ có những tác dụng không giống nhau, ngôi kể làm thay đổi điều được kể trong tiểu thuyết Với lợi thế này, các nhà TTHHĐ thường tận dụng tối đa sự luân phiên điểm nhìn trong cùng một tác phẩm để tạo cho cái thế giới được viết ra đa thanh và phức hợp
Nói một cách cụ thể hơn, qua mỗi giai đoạn, trào lưu văn học, hình tượng NKC lại có những vị trí và vai trò khác nhau Nếu trước đây, theo thuật ngữ thông dụng thì NKC lộ diện là NKC kể theo “ngôi thứ nhất”, còn NKC ẩn tàng là NKC kể theo
“ngôi thứ ba” Tuy nhiên ngày nay, hai thuật ngữ này không có ý nghĩa chặt chẽ Bởi vì bất cứ người kể nào và bất cứ ai nói về mình đều xưng ở ngôi thứ nhất, mà không dùng ngôi ba, còn cái gọi là kể ở ngôi thứ ba chỉ có nghĩa là không nói đến mình mà thôi”4 Điều đó cho thấy rõ nét quan niệm về NKC trong từng giai đoạn tiểu thuyết không chỉ vận động, biến đổi từng ngày mà còn thay đổi từng khái niệm nội hàm về nó
1.1.3 Người kể chuyện trong tiểu thuyết hậu hiện đại
Đối với TTHHĐ, hình tượng NKC biến hóa khôn lường và không được phân định một cách rạch ròi Thông thường chúng ta thấy rằng, bất cứ nhà văn nào cũng phải chọn một trong hai cách chủ yếu: kể ở ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba Tuy nhiên, trong TTHHĐ, các ngôi kể này trở nên “nhòe mờ” về ranh giới, tức là không
có ranh giới rạch ròi giữa NKC hàm ẩn theo điểm nhìn của chính mình hay hàm ẩn
để kể theo điểm nhìn của nhân vật…, mọi thứ đều được hòa trộn tạo nên sự “đa sắc” NKC trong TTHHĐ Đây cũng được coi là một bình diện đổi mới của TTHHĐ rất đáng ghi nhận
4
Trang 23Vai trò và chức năng của NKC trong văn bản tự sự nói chung, trong thể loại tiểu thuyết nói riêng đều rất quan trọng, thậm chí nó được coi là trung tâm của tác phẩm,
là người chỉ đường, dẫn lối “soi chiếu” con đường để nội dung tác phẩm được độc giả thẩm thấu Bởi đến với một tác phẩm tự sự bất kì, chúng ta không thể không đặt
câu hỏi: Ai là người kể? (kể ở ngôi thứ mấy? điểm nhìn ra sao?), Kể về vấn đề gì?
Kể như thế nào? Truyện kể chỉ diễn ra khi có sự dẫn đường của NKC, cũng như quá
trình hiện thực hóa các chức năng của chúng trong một truyện kể
Nghiên cứu về NKC trong tiểu thuyết Việt Nam có yếu tố hậu hiện đại, chúng tôi
nhận thấy có hai dạng thức chính: đó là hình thức kể chuyện ở ngôi thứ nhất và hình thức kể chuyện ở ngôi thứ ba Ở mỗi hình thức đều ghi nhận những nỗ lực vượt thoát làm mới thể loại của nhà văn Giờ đây NKC chỉ đóng vai trò là người chứng kiến, biết gì kể đó để câu chuyện trở nên khách quan hơn, tạo ra những khoảng trống văn bản để chính người đọc mới là những người cảm nhận, đánh giá và lấp đầy khoảng trống đó Hơn thế nữa, các nhà tiểu thuyết còn sử dụng đa dạng ngôi kể trong các sáng tác của mình, tức là trong cùng một tiểu thuyết có thể xuất hiện cả ngôi kể thứ nhất và ngôi kể thứ ba Thậm chí, cùng là ngôi kể thứ nhất nhưng không phải là một người kể, mà có đến hai, ba hoặc nhiều hơn thế những người xưng “tôi”
kể và dẫn dắt câu chuyện
Với luận án Người kể chuyện trong tiểu thuyết Việt Nam có yếu tố hậu hiện đại,
chúng tôi nhận thấy các nhà văn xác lập cảm thức của NKC khác nhau Luận án khai thác quan điểm khách quan và quan điểm chủ quan của NKC để có thể thấy sự khác biệt trong cảm thức của cùng một nhà văn và giữa các nhà văn với nhau
NKC luôn được gắn với một ngôi kể và điểm nhìn nhất định, dù ngôi kể có thể thay đổi và điểm nhìn có thể dịch chuyển, luân phiên Với ngôi kể, chúng tôi thấy các nhà tiểu thuyết thường sử dụng những ngôi kể chủ đạo như: ngôi kể cố định, ngôi kể biến chuyển linh hoạt (biến chuyển giữa ngôi một và ngôi ba hoặc ngược lại) Về điểm nhìn trần thuật, các nhà tiểu thuyết không chỉ sử dụng các điểm nhìn quen thuộc như: điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài hay điểm nhìn phía sau, biết tuốt nữa mà còn sử dụng điểm nhìn trần thuật phía trước, gấp bội điểm nhìn và
Trang 24đặc biệt là có sự di chuyển luân phiên (sự di chuyển các điểm nhìn trần thuật)
Về phương thức kể cũng như ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật, các nhà tiểu thuyết có nhiều cách tân mới mẻ so với tiểu thuyết hiện đại Khảo sát qua các tác giả này, chúng tôi thấy nổi bật với các phương thức kể như: lối kể đa trị, khuếch tán nhằm làm nổi rõ hiện thực phân rã, phi trật tự, phi trung tâm; lối kể chuyện phân khúc, mảnh gẫy và lối kể song trùng đồng hiện Ngôn ngữ NKC cũng rất linh hoạt,
đó là đa dạng các lớp diễn ngôn, nhòe mờ ngôn ngữ đối thoại và độc thoại, giữa trực tiếp và gián tiếp, sử dụng nhiều ngôn ngữ đa thanh, phức điệu…
Trong tiểu thuyết có yếu tố HHĐ, giọng điệu NKC cũng được sử dụng một cách linh hoạt, góp phần thể hiện sự đa dạng những gam màu cuộc sống phức tạp của xã hội đương thời, đó là: giọng điệu triết lí, suy tư thể hiện những trăn trở trước cuộc sống thiên biến vạn hóa muôn màu; giọng điệu giễu nhại phê phán và bóc trần những mặt trái của xã hội; giọng điệu dung tục, đời thường – một thứ giọng điệu xuất hiện nhan nhản trong hầu hết các tiểu thuyết này, phù hợp với tầng lớp, nhận thức và trình độ văn hóa của nhân vật; bên cạnh giọng điệu dung tục, đời thường là giọng điệu vô âm sắc – đây là giọng điệu chỉ cung cấp sự thật trần trụi, khô khốc mà không có ngữ điệu hoặc mang ngữ điệu ước lệ, nhà văn cố tình bẻ gãy câu văn để kìm nén âm giọng5
1.1.4 Tình hình nghiên cứu văn học hậu hiện đại ở Việt Nam
1.1.4.1 Tình hình nghiên cứu lí thuyết văn học hậu hiện đại ở Việt Nam
Sau Đại hội Đảng VI năm 1986, văn học Việt Nam như được “cởi trói”, bắt đầu từ đây sự giao lưu văn hóa, văn nghệ, trong đó có sự tiếp nhận nguồn lí thuyết
mở từ khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là từ phương Tây để vận dụng vào sáng tác cũng như là nghiên cứu văn học tại Việt Nam mở ra ở nhiều góc độ hơn Lý thuyết
về VHHHĐ cũng theo con đường đó mà du nhập vào nước ta đa chiều hơn Tuy nhiên, những năm đầu sau Đổi mới, con đường “thâm nhập hóa” này còn hạn chế, phải đến những năm cuối thế kỉ XX, đặc biệt là những năm đầu thế kỉ XXI, sự giao lưu và tiếp biến này mới phát triển nở rộ như một vườn hoa đầy hương sắc Chính
5
Trang 25vì thế, tình hình nghiên cứu về VHVN có yếu tố HHĐ có mô hình giống như hình kim tự tháp úp ngược, tức là càng về sau thì càng có nhiều bài nghiên cứu với quy
mô sâu rộng với các vấn đề thuộc về thi pháp của VHVN có yếu tố HHĐ Khái lược lại toàn bộ quá trình nghiên cứu từ sau 1986 đến nay, chúng ta sẽ thấy rõ nhận định trên là có cơ sở
Có lẽ, người “mở hàng” nghiên cứu, ứng dụng những lí thuyết về HHĐ trong nghiên cứu văn học là Trương Đăng Dung với hai cuốn chuyên luận có giá trị cao là
Từ văn bản đến tác phẩm văn học (xuất bản 1998) và Tác phẩm văn học như là quá trình (xuất bản 2004) Trong hai công trình của mình, ông đã chỉ rõ sự khác biệt
giữa văn học hiện đại và văn học có yếu tố HHĐ, đó chính là một bên lấy văn bản làm trung tâm – văn bản luôn được đóng khung bởi tác giả; bên còn lại lấy người đọc là trung tâm – người đọc không chỉ là người tiếp nhận đơn thuần, mà hơn nữa là những người đồng sáng tạo với tác giả, luôn giữ một vị trí cực kì quan trọng, có thể sánh ngang với tác giả Cho đến nay, hai công trình này của Trương Đăng Dung vẫn được coi là những công trình quan trọng để khu biệt rõ những ranh giới và khác biệt giữa văn học hiện đại và VHHHĐ
Người tiếp theo có những công trình nghiên cứu lí thuyết VHHHĐ ở Việt
Nam là Phương Lựu, từ những bài viết có quy mô nhỏ như Tìm hiểu chủ nghĩa hậu
hiện đại (Tạp chí Nhà văn, số 8/2000) đến những công trình chuyên luận chuyên
sâu như Lí thuyết VHHHĐ (2011), Phương Lựu đã đưa ra những cơ sở lý thuyết và
thực tiễn để khẳng định có một nền VHHHĐ ở Việt Nam
Trái ngược với quan điểm của Phương Lựu, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân cũng có không ít công trình nghiên cứu về VHHHĐ, tiêu biểu là bài nghiên
cứu Chủ nghĩa hậu hiện đại hay là sự chồng chéo khái niệm (2002), bằng những
dẫn chứng cụ thể, ông khẳng định ở Việt Nam chỉ có những tác phẩm na ná HHĐ chứ chưa thực sự có tác phẩm nào đúng với tên gọi VHHHĐ Ở một mức độ cao hơn, ông còn không thừa nhận cái gọi là “VHHHĐ” Kết luận bài viết này, ông khẳng định: “Riêng tôi, tôi cho rằng chỉ nên dùng khái niệm “hậu hiện đại” cho kiến trúc và hội họa, còn trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là trong văn học thì không nên
Trang 26dùng nó, mà chỉ nên dùng khái niệm “[chủ nghĩa] hiện đại”, hoặc cùng lắm là dùng khái niệm “[chủ nghĩa] tối [hoặc siêu] hiện đại” Ông lí giải: “Không nhất thiết cứ mỗi khi muốn gây ấn tượng lại phải cầu viện đến thuật ngữ “hậu hiện đại”, để rồi lại phải vất vả cố công tìm kiếm các đặc tính để gán cho nó nhằm chứng minh cho quyền tồn tại của nó mà thực ra các đặc tính đó không phải chỉ là của riêng nó” [12;146]
Đó là những quan điểm rất khác nhau về việc khẳng định có một xu hướng văn học HHĐ của nước ta hay không Chúng tôi nghiêng về quan điểm tương đối trung dung, tức là không phủ định hoàn toàn như Nguyễn Văn Dân nhưng cũng không khẳng định một cách chắc chắn về sự rõ nét của TTHHĐ Việt Nam Đây không phải là cách nói nước đôi mà nói theo thực tiễn của văn học Chúng tôi cho rằng, tiểu thuyết đương đại Việt Nam đang dần bước vào lãnh địa của tiểu thuyết HHĐ, với những yếu tố khá rõ nét xuất phát từ những cơ sở có thể nhìn ra được Đó cũng là điều chúng tôi mong muốn khẳng định khi nghiên cứu về đề tài này
Đến những năm gần đây, nhiều công trình quy mô nghiên cứu về VHHHĐ lần lượt ra đời, tiêu biểu là Lê Huy Bắc với hai công trình nghiên cứu nổi bật:
VHHHĐ – Lí thuyết và tiếp nhận (2012); Phê bình VHHHĐ Việt Nam (chủ biên –
2013) – trong cuốn này gồm các bài viết rất giá trị của các tác giả như Lí thuyết phê
bình HHĐ như một siêu ngữ và Từ ngôn ngữ đến trò chơi ngôn ngữ HHĐ (Lê Huy
Bắc); Giải cấu trúc và nghiên cứu, phê bình văn học hôm nay (Trần Đình Sử); Trao
đổi với bạn Nguyễn Văn Dân về HHĐ (Phương Lựu); Tri thức và ngôn ngữ trong tinh thần HHĐ (Trương Đăng Dung); Phi trung tâm – khái niệm và tiếp nhận
(Nguyễn Thị Hạnh)… Với các công trình nghiên cứu này, Lê Huy Bắc đã lấy các tiểu thuyết của Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư… để khẳng định văn học Việt Nam đang tồn tại trào lưu VHHHĐ, thậm chí khá đa dạng
Không chỉ các nhà nghiên cứu trong nước mà ngay cả các nhà nghiên cứu hải ngoại như Nguyễn Hưng Quốc cũng có những công trình rất bài bản về
VHHHĐ Việt Nam: Văn học Việt Nam, từ điểm nhìn hậu hiện đại (2000), Văn hóa
văn chương Việt Nam (2002), Mấy vấn đề phê bình và lí thuyết văn học (2007), Văn
Trang 27học Việt Nam thời toàn cầu hóa (2010)… Với những công trình này, nhà nghiên
cứu cùng quan điểm với Phương Lựu, cho rằng văn học Việt Nam, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết đang hòa chung với dòng VHHHĐ thế giới, tuy nhiên văn học Việt Nam vẫn mang những nét riêng không thể trộn lẫn với bất kì nền văn hóa nào khác
Càng những năm gần đây, chủ đề về VHHHĐ càng trở nên “nóng” hơn bao giờ hết, cho thấy được sức hút của VHHHĐ đối với các nhà nghiên cứu Vì thế mà trong năm 2013 đã có khá nhiều hội thảo khoa học mang tầm quốc gia về VHHHĐ Sau mỗi cuộc hội thảo đó, tập hợp các bài nghiên cứu đủ để cho ra đời những cuốn
sách giá trị như VHHHĐ - lí thuyết và thực tiễn với 30 bài nghiên cứu (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức) và VHHHĐ – diễn giải và tiếp nhận với 38 bài nghiên cứu (Trường Đại học Khoa học Huế tổ chức) Hai cuốn sách này tập hợp
được nhiều bài nghiên cứu chuyên sâu về các khía cạnh khác nhau của VHHHĐ, phần nào lấp đầy các khoảng trống về những địa hạt lí thuyết VHVN có yếu tố HHĐ
Ngoài ra, còn có một loạt các nhà nghiên cứu khác cũng có nhiều công trình
về VHHHĐ mà ta phải kể đến là Lã Nguyên, Đỗ Lai Thúy, Nguyễn Đăng Điệp, Inrasara, Hoàng Ngọc - Tuấn, Thụy Khuê, Đào Tuấn Ảnh, Thái Phan Vàng Anh,
Phan Tuấn Anh… Họ đều có những công trình lớn nhỏ ứng dụng lí thuyết VHHHĐ
vào trong nghiên cứu, ít nhiều giúp cho văn học Việt Nam có yếu tố HHĐ in hằn những dấu ấn đậm nét và rõ ràng hơn, hứa hẹn sẽ có một mùa vàng bội thu về nghiên cứu lí thuyết VHVN có yếu tố HHĐ nói chung, tiểu thuyết có yếu tố HHĐ nói riêng tại Việt Nam
1.1.4.2 Những thành tựu về nghiên cứu TTVN có yếu tố HHĐ
Những năm đầu thế kỉ XXI, VHHHĐ và cả trào lưu nghiên cứu về VHVN có yếu tố HHĐ nở rộ hơn bao giờ hết VHVN có yếu tố HHĐ trở thành thỏi nam châm hút các nhà nghiên cứu, điều đó cho thấy được sức hút của VH có yếu tố HHĐ ở thời điểm mà chúng ta đang sống Tiểu thuyết trở thành một nhánh của văn học đương đại Việt Nam luôn có những bước “chuyển mình” mạnh mẽ, hầu hết những tiểu thuyết được viết vào những năm cuối thể kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI
Trang 28đều ít nhiều mang hơi hướng HHĐ Một điều đặc biệt là những cuốn tiểu thuyết đó đều được mổ xẻ một cách nhiệt tình Những tác giả có những sáng tác mang yếu tố HHĐ như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Thuận, Nguyễn Ngọc Tư, Đặng Thân… đều là tâm điểm của các bài nghiên cứu Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu quy mô về TTVN có yếu tố HHĐ mà chỉ là những bài viết nhỏ được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành Nói cách khác, tuy có một số thành tựu nhất định về nghiên cứu TTVN có yếu tố HHĐ nhưng nó vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng vốn có
Tiêu biểu trong số các công trình nhỏ nghiên cứu về TTVN có yếu tố HHĐ
là những bài viết của các tác giả như: Lã Nguyên với Những dấu hiệu của chủ nghĩa
HHĐ ở Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài (Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 12/2007) Với việc khảo sát của hai tác giả tiêu biểu cùng
một số truyện ngắn và tiêu thuyết, nhà nghiên cứu Lã Nguyên đã bước đầu thừa nhận tiểu thuyết Việt Nam đã có yếu tố HHĐ Lấy bài viết này làm tiền đề, Lã
Nguyên tiếp tục cho ra đời chuyên luận mang tính chuyên sâu: Văn xuôi HHĐ Việt
Nam: quốc tế và bản địa, cách tân và truyền thống (2012), với những lí lẽ sát đáng
và thuyết phục, tác giả có đủ cơ sở để khẳng định có trào lưu VHHHĐ ở VN với những bản sắc riêng
Văn Long trong bài viết Một thành tựu đáng nể 6 đánh giá cao vai trò của NKC tạo nên sự thành công trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái Nguyễn Thị Minh
Thái có bài viết về tác giả Hồ Anh Thái như Giọng điệu tiểu thuyết đa thanh 7 , Giấc
mơ lạ Hồ Anh Thái tặng cho bạn đọc Trong các bài viết của mình, Nguyễn Thị
Minh Thái chú ý đến các điểm nhìn của người trần thuật để thấy được NKC trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái rất đa dạng và biến ảo kì diệu, điểm nhìn luân chuyển liên tục còn giọng điệu của NKC thì đa thanh và phức điệu
Phùng Gia Thế cũng có nhiều bài viết về TTVN có yếu tố HHĐ Trong bài
báo Có hay không những dấu ấn HHĐ?, tác giả bài viết đặc biệt ấn tượng với cách
6 Phần Dư luận trong tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi
7
Trang 29kể chuyện mới mẻ trong những sáng tác của Nguyễn Bình Phương và Nguyễn Việt
Hà, đó là lối kể chuyện nhảy cóc, điểm nhìn liên tục dịch chuyển…, đây đều là
những kĩ thuật rất đặc trưng của TTVN có yếu tố HHĐ Trong bài viết Tiểu thuyết
Nguyễn Việt Hà và thi pháp HHĐ (Qua Cơ hội của Chúa và Khải huyền muộn),
Phùng Gia Thế cho rằng, dưới một kiểu cảm quan đời sống đặc thù, tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà đã thể hiện khá sinh động những trạng thái tinh thần tiêu biểu và câu chuyện tâm thức đặc thù của con người thời đại Ngoài ra là một loạt các bài
nghiên cứu cũng đáng chú ý như Khải huyền muộn – cuốn tiểu thuyết về chính nó (Nguyễn Chí Hoan); Đời cười trong Mười lẻ một đêm (Thúy Nga); Góc nhỏ văn
xuôi Hồ Anh Thái (Hoài Nam); Nàng Savitri – ngọn gió sống động (Lê Minh
Khuê); Hồ Anh Thái – Người mê chơi cấu trúc (Nguyễn Đăng Điệp); Đọc Cơ hội
của Chúa của Nguyễn Việt Hà (Hoàng Ngọc Hiến)…
Gần đây nhất là sự xuất hiện của Phan Tuấn Anh với hàng loạt bài viết về HHĐ, từ những công trình nghiên cứu chuyên biệt về G Márquez như đề tài luận
án tiến sĩ Nghệ thuật HHĐ trong tiểu thuyết G Márquez đến những bài viết nhỏ như Hình tượng Macondo trong “Trăm năm cô đơn” – Từ góc nhìn văn hóa Mĩ La
Tinh và Cái kì ảo trong văn học tiền hiện đại và cái kì ảo trong VHHHĐ (Tạp chí Văn nghệ Quân đội)… tất cả những công trình nghiên cứu của anh như một khẳng
định sự tồn tại yếu tố HHĐ trong văn học đương đại Việt Nam Các nhà nghiên cứu trẻ khác như Thái Phan Vàng Anh cũng có cùng quan điểm với hàng loạt bài nghiên
cứu, trong đó phải kể đến bài viết Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỉ XXI từ góc nhìn
HHĐ (đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội) đã cho thấy những yếu tố HHĐ đậm
nét của văn học Việt Nam những năm cuối thế kỉ XX và gần hai thập niên đầu của thế kỉ XXI…
Nghiên cứu chuyên sâu về các tác giả cũng như là TTVN có yếu tố HHĐ, nổi
bật là cuốn Những đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam trong 15 năm cuối thể kỉ XX
của Trần Thị Mai Nhân8 Chuyên luận tập trung nghiên cứu những đổi mới của tiểu thuyết Trong đó, tác giả chọn khảo sát những yếu tố đổi mới nổi bật, những
8
Trang 30phương diện được xem là đặc trưng nhất cho thể loại văn học này Dù không nghiên cứu lịch sử thể loại nhưng để đạt được mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu, Trần Thị Mai Nhân cố gắng làm sáng tỏ một số vấn đề về tiểu thuyết như: nguyên nhân dẫn đến sự đổi mới của tiểu thuyết giai đoạn này, những dấu hiệu đổi mới đầu tiên, những tìm tòi về kĩ thuật tiểu thuyết, những tác giả – tác phẩm đã đóng góp kinh nghiệm sáng tạo cho thể loại
Về tác giả, chuyên luận đặc biệt chú ý đến những cây bút được coi là tiên phong trong công cuộc đổi mới tiểu thuyết giai đoạn này như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Phạm Thị Hoài, Dương Thu Hương, Chu Lai, Dương Hướng, Bảo Ninh, Nguyễn Khắc Trường… Đặc biệt là các nhà văn giai đoạn nửa sau mang nhiều hơi hướng HHĐ như: Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Thuận, Đặng Thân… Tuy nhiên, hạn chế của chuyên luận này chính là chưa làm nổi bật được màu sắc cũng như diện mạo của văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng trong những năm đầu của thế kỉ XXI – thập niên của dòng tiểu thuyết có yếu tố HHĐ đang phát triển khá mạnh mẽ Như vậy, thông qua việc nêu bật những công trình nghiên cứu lớn nhỏ cả về lí thuyết VHHHĐ, đặc biệt là tình hình nghiên cứu TTVN có yếu tố HHĐ, chúng tôi nhận thấy những thành tựu nổi bật:
Thứ nhất, tình hình nghiên cứu lí thuyết VHHHĐ có những thành tựu đáng kể
về việc đưa lí thuyết VHHHĐ vào quá trình sáng tác của các nhà văn, còn các nhà nghiên cứu cũng có dịp thẩm thấu để áp dụng vào những công trình nghiên cứu của mình
Thứ hai, song hành cùng với quá trình tiếp cận lí thuyết VHHHĐ, những cuộc tranh cãi về việc có hay không sự tồn tại của VHHHĐ ở Việt Nam đã đi đến hồi kết Qua chứng minh đầy thuyết phục của các công trình nghiên cứu lớn nhỏ, giờ đây người ta không còn hồ nghi về sự có mặt của khuynh hướng này tại Việt Nam nữa, bởi những kết luận mang tính khẳng định đã dần được làm sáng tỏ
Thứ ba, khuynh hướng TTHHĐ ở nước ta là rõ nét nhất và cũng là khuynh hướng nhận được nhiều sự quan tâm hơn cả đối với các nhà nghiên cứu và phê bình
Trang 31văn học Ngày càng có nhiều công trình của các nhà nghiên cứu nhằm tô đậm thêm những thành tựu – dù chỉ là bước đầu nhưng rất đáng ghi nhận của TTVN có yếu tố HHĐ Tuy vẫn còn cần nhiều công trình chuyên sâu và đa chiều hơn nữa nhưng
nhìn chung những thành tựu đạt được cũng là những điều đáng khích lệ
Vì thế, có thể thấy TTVN có yếu tố HHĐ vẫn còn là một “lãnh địa” màu mỡ để các nhà nghiên cứu có đất cày xới, tuy nhiên do đây là “mảnh đất” mới được khai phá chưa lâu nên những bài viết, những công trình nghiên cứu về TT có yếu tố HHĐ chưa thực sự xứng tầm với thực tiễn sinh thành và vận động của nó Vẫn còn rất nhiều bài nghiên cứu với quy mô nhỏ về TTVN có yếu tố HHĐ mà chúng tôi không thể liệt kê ra hết nhưng nhìn chung những bài nghiên cứu này vẫn dừng lại ở quy mô nhỏ lẻ và rời rạc, chưa có cách nhìn nhận và đánh giá mang tính toàn diện của nền TT có yếu tố HHĐ đang phát triển nở rộ ở Việt Nam Chính vì thế, sự ra đời của luận án hi vọng phần nào khỏa lấp vào những lỗ hổng đó, là một mảnh ghép làm rõ nét hơn những vẻ đẹp, những cách tân độc đáo của bức tranh TTVN có yếu
tố HHĐ
1.1.4.3 Tình hình nghiên cứu về NKC trong TTVN có yếu tố HHĐ
NKC là một trong những vấn đề nổi bật của thi pháp học, là cầu nối giữa nhà văn và tác phẩm, cũng thông qua NKC mà người đọc mới có thể hiểu được nội dung của tác phẩm Chính vì thế, vấn đề NKC luôn giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong nghiên cứu và phê bình văn học Những thập niên gần đây, lí thuyết về
tự sự học không chỉ được dịch và giới thiệu nhiều ở Việt Nam mà các nhà nghiên cứu Việt Nam đã bắt đầu có những công trình lớn nhỏ khác nhau của riêng mình về
lí thuyết tự sự học, chúng tôi có thể điểm danh một số công trình tiêu biểu như Trần
Đình Sử với Dẫn luận thi pháp học và bài viết với quy mô nhỏ Tự sự học – một bộ
môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng; Nguyễn Thái Hòa với Những vấn đề thi pháp của truyện (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000); Đào Duy Hiệp với Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại (Nxb Giáo dục, 2008); Lê Phong Tuyết với NKC trong văn xuôi (Tạp chí Văn học nước ngoài số 5/2008); Đặng Anh Đào với bài viết Bàn về một vài thuật ngữ thông dụng trong truyện kể; Đỗ Thị Hiên với NKC và ngôn ngữ
Trang 32NKC trong văn chương (Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số 12/2013) Có lẽ, nổi bật
nhất là công trình Tự sự học: Một số vấn đề lí luận và lịch sử (Phần 1 và phần 2,
Nxb ĐHSP Hà Nội 2004 & 2008), trong công trình này có những bài viết nổi bật
như: Vấn đề NKC trong thi pháp tự sự hiện đại của Đỗ Hải Phong; Vấn đề kể
chuyện trong truyện ngắn đương đại (một khía cạnh thi pháp thể loại) của Bùi Việt
Thắng…
Gần đây cũng có nhiều công trình nghiên cứu quy mô, luận án tiến sĩ chọn
vấn đề NKC làm đề tài nghiên cứu, tiêu biểu là luận án NKC trong tiểu thuyết Việt
Nam đương đại của Thái Phan Vàng Anh (2010) Tác giả luận án đã có cái nhìn khá
toàn diện về vấn đề NKC trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam, trong đó tác giả đặt NKC trong mối quan hệ với điểm nhìn trần thuật; NKC với nghệ thuật tổ chức thời gian kết cấu trần thuật; đồng thời nghiên cứu kĩ ngôn ngữ, giọng điệu NKC, xoáy sâu vào các kiểu lời phát ngôn, tính chất đa thanh trong ngôn ngữ và sự xâm lấn của ngôn ngữ đời sống hiện đại vào lời NKC cùng với giọng điệu NKC, từ giọng triết lí, giọng trào phúng giễu nhại đến giọng điệu vô âm sắc trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam Cùng là nghiên cứu về NKC nhưng nếu luận án của Thái Phan Vàng Anh mở rộng biên độ đối tượng là tiểu thuyết đương đại (khảo sát qua hàng chục tác giả và hàng trăm tiểu thuyết) thì luận án của chúng tôi thiên về những tiểu thuyết
có yếu tố HHĐ được giới hạn qua 5 tác giả chính là Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Thuận, Đặng Thân… Vì thế, luận án của chúng tôi có điều kiện để đi sâu hơn về các góc độ khác của NKC như cảm thức HHĐ, quan điểm và phương thức kể, trong khi Thái Phan Vàng Anh chú tâm nghiên cứu mối tương quan giữa NKC với nghệ thuật tổ chức thời gian kết cấu trần thuật… Đây chính là nét khác biệt giữa hai luận án có cùng con đường nhưng được đi qua hai ngã rẽ Bên
cạnh đó, luận án Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau năm 1986 dưới góc nhìn tự sự
học của Nguyễn Văn Hùng (2014) lại lấy lí thuyết tự sự học để soi chiếu Sau 1986,
nhiều nhà văn đi vào khai thác mảng đề tài lịch sử như Nguyễn Xuân Khánh (Hồ
Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn); Bùi Tuấn Anh (Oan khuất); Phạm Ngọc Cảnh Nam
(Thế kỉ bị mất); Nguyễn Huy Thiệp (Kiếm sắc, Vàng lửa)… Chính vì thế, việc soi
Trang 33chiếu lí thuyết tự sự học để nghiên cứu về các tác phẩm này nhằm thấy được sự đa dạng về điểm nhìn, giọng điệu, ngôn ngữ của NKC là một trong những hướng đi tích cực và mới mẻ của luận án, đặc biệt khi công trình nghiên cứu này có sự so sánh với yếu tố tự sự trong các tiểu thuyết lịch sử khác
Nhìn chung, tình hình nghiên cứu về NKC trong tiểu thuyết của 5 tác giả mà luận án khảo sát còn mang tính chất nhỏ lẻ, thiếu tính hệ thống và chuyên sâu Chủ yếu là những bài viết ngắn về một mặt nào đó trong mỗi tác phẩm hay mỗi nhà văn nói chung (gồm những bài viết được nói ở trên) Vì thế, với luận án này, chúng tôi mong muốn đóng góp một cái nhìn tổng thể, đưa ra những kết luận có đầy đủ cơ sở
về yếu tố hậu hiện đại nhìn từ phương diện NKC trong tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Thuận và Đặng Thân
1.2 Tổng quan văn học hậu hiện đại
1.2.1Khái lược văn học hậu hiện đại
Thuật ngữ Chủ nghĩa hậu hiện đại do sử gia Anh Arnold Joseph Toynbee nêu
ra vào năm 1947, và từ năm 1950 trở đi mới được vận dụng vào lí luận phê bình
nghệ thuật Nhưng theo nhà nghiên cứu Phương Lựu thì: “từ năm 1934, trong Tuyển
tập thơ Tây Ban Nha và các nước châu Mỹ phụ thuộc, nhà phê bình P.D Onise đã
sử dụng thuật ngữ này, và từ cuối những năm 40 trở đi, cũng có một số nhà phê bình sử dụng để đối trọng và phê phán lại chủ nghĩa hiện đại Dù sao, thì cũng từ
những năm 60 trở đi, thuật ngữ Chủ nghĩa hậu hiệu đại được sử dụng rộng rãi ở cả
ba cấp độ: văn hóa, nghệ thuật và văn học” [12;71]
Có lẽ, một trong những người sử dụng thuật ngữ HHĐ đầu tiên (năm 1965) chính là nhà văn Leslie Fiedler khi ông gắn tiếp ngữ “hậu” (post) với nhiều khuynh hướng cấp tiến đương thời như: “hậu nhà văn, hậu nam tính, hậu da trắng, hậu anh hùng… hậu Do Thái” [31] Nhưng phải đến giữa thập niên 1970, Ihab Hassan là người tiếp nối sử dụng thuật ngữ đó, ông tự nhận mình là người phát ngôn của chủ nghĩa HHĐ – đây vốn được coi là một thuật ngữ bị lược bỏ trong phê bình văn học lúc bấy giờ Hassan gắn liền thuật ngữ này với những tư tưởng thử nghiệm trong nghệ thuật và tính chất siêu kĩ thuật trong kiến trúc: “Tính chất vô chính phủ… Giải
Trang 34– sáng tạo/ Giải cơ cấu/ Phản đề… Liên văn bản…”[31] Trong giới triết gia cũng
có khuynh hướng xem tất cả các nhà tư tưởng hậu thực chứng như là những nhà HHĐ bất kể họ có hay không có điều gì chung ngoài sự bài bác chủ nghĩa thực chứng logic hiện đại Như vậy, có hai ý nghĩa khá khác nhau đối với thuật ngữ [hậu hiện đại] và có một sự lẫn lộn phổ quát không được xác định đối với công chúng
Và câu hỏi “Chủ nghĩa HHĐ là gì?” được đặt ra Nó là câu hỏi và cũng là câu trả lời
mà “Charles Jencks muốn đưa ra và người ta phải nhìn thấy sự phát triển và vận động liên tục của câu trả lời ấy bao hàm ý nghĩa là không có câu trả lời xác định nào
có thể khả hữu, ít nhất là cho đến khi nó ngừng vận động” [31]
Nếu như trước đấy, thuật ngữ chủ nghĩa HHĐ còn chưa được thừa nhận một cách rộng rãi thì đến thập niên 1980, tình hình đã thay đổi Chủ nghĩa HHĐ cuối cùng đã được giới chuyên môn và cả xã hội nói chung thừa nhận Nó đã trở thành một phần của những thành tựu [văn hoá] như là “bố mẹ” của nó - chủ nghĩa hiện đại, và “người anh” kề cận của nó - chủ nghĩa hiện đại hậu kỳ, và trong phê bình văn học, nó cũng nổi lên trong ý nghĩa tương tự như là trong kiến trúc và các truyền thống nghệ thuật
Cho đến ngày nay trên thế giới, trong giới khoa học nói chung và giới văn học nói riêng, có một khái niệm, tuy chưa có được một nghĩa nhất quán, nhưng vẫn
thuộc loại được sử dụng và bàn đến nhiều nhất, đó là khái niệm Chủ nghĩa HHĐ Ở nước ta, có thể coi bài Vài suy nghĩ về cái gọi là TTHHĐ của Antonio Blach 9, (do
Nguyễn Trung Đức dịch đăng trên Tạp chí Văn học, số 5/1991) là “phát súng đầu
tiên” đưa khái niệm chủ nghĩa HHĐ đến với công chúng Đến hết thể kỉ XX, thuật ngữ này cũng được lưu truyền trong một số bản dịch, trong các tọa đàm, chuyện trò, nhưng chưa có một công trình nào bàn về nó một cách triệt để; chưa có một cuộc thảo luận nào đặt ra vấn đề về việc chúng ta có nhu cầu “phải áp dụng nó không và nếu có thì áp dụng nó như thế nào” trong nghiên cứu văn học Phải đến đầu thế kỉ XXI, thuật ngữ này được sử dụng khá nhiều trong giới nghiên cứu và phê bình văn
học Việt Nam Nhất là những năm gần đây, thuật ngữ Chủ nghĩa HHĐ được sử
9
Trang 35dụng rộng rãi và trở nên quen thuộc không chỉ với giới nghiên cứu và phê bình văn học mà còn với độc giả nước nhà
Theo Lê Nguyên Cẩn, khái niệm chủ nghĩa HHĐ – le postmodernisme – bao
hàm trong nó tính thời gian, qua tiền tố post – hậu Nói cách khác, có thể diễn đạt
quá trình phát triển của văn học phương Tây nói riêng, văn hóa phương Tây nói chung trong khoảng hơn hai thập kỉ trở lại đây Chủ nghĩa HHĐ có thể được coi là một giai đoạn tiếp nối thời kì hiện đại trong đời sống tinh thần châu Âu Để có màu sắc riêng, chủ nghĩa HHĐ, một mặt kế thừa các truyền thống hiện đại, mặt khác, cũng sẽ đề xuất những tiền đề mới để tạo nên tính riêng của nó [30] Về mặt kế thừa của chủ nghĩa HHĐ đối với chủ nghĩa hiện đại, Lê Nguyên Cẩn nhận định thêm:
“Tất nhiên, nếu hiểu chủ nghĩa HHĐ chỉ là một lát cắt thời gian thì quá ư đơn giản
và cũng chẳng có gì để nói, bởi dù muốn hay không thì thời kì HHĐ cũng là thời kì tiếp nối không đảo ngược được với thời kì hiện đại nhưng đây là lát cắt đặc biệt, lát cắt tạo ra sự đứt gãy của tiến trình lịch sử tư tưởng phương Tây, gắn liền với cuộc khủng hoảng của những nguyên lí lớn từng khuấy động và điều hành sự ổn định của
nền văn hóa, của tất cả những gì gọi là Hiện đại…” [29] Chính vì thế mà dẫn đến
những quan điểm khác biệt Nếu như Harry Levin khám phá trong chủ nghĩa HHĐ hiện tượng xuống cấp của văn hóa, thì trái với quan điểm đó, Hassan cho rằng chủ nghĩa HHĐ đánh dấu một quá trình phát triển Còn Leslie Fiedler miêu tả hiện tượng HHĐ như là một hiện tượng “hậu – văn hóa” Riêng Hassan nhận ra, trong chủ nghĩa HHĐ, những đường hướng phát triển chung, dựa trên ba sự phối hợp:
“chống chủ nghĩa hình thức, tinh thần vô chính phủ và giải sáng tạo” Đây là những quan điểm và tranh luận khác nhau về chủ nghĩa HHĐ Còn theo quan điểm của chúng tôi, chủ nghĩa HHĐ là sự tổng hòa các nhận định của các nhà nghiên cứu trên Ở một khía cạnh nào đó, nó phản ánh sự xuống cấp của văn hóa khi xã hội được phản ánh trong đó đầy nhốn nháo, xô bồ Xét ở một góc nhìn khác, rõ ràng chủ nghĩa HHĐ có những ưu điểm vượt bậc so với các chủ nghĩa trước đó và cùng thời, nhằm đánh giá một xu hướng phát triển của thời cuộc Có thể đó cũng là những tiền đề để tạo nên sự khác biệt giữa chủ nghĩa HHĐ với các chủ nghĩa khác
Trang 36Về mặt lí luận, nó là một thứ “hậu triết học” tuyên bố thiên chức và sứ mệnh của mình không còn là đi tìm chân lí nữa Bởi vì xã hội HHĐ là xã hội do “người khác dẫn đường”, lí luận không còn quyền uy để đưa ra những chuẩn mực, không thảo luận những mệnh đề về giá trị, mà chỉ bàn bạc hiệu quả của ngôn ngữ trong những “ngữ cảnh”, chỉ tranh luận về các biểu đạt của ngôn ngữ mà thôi
Trong lĩnh vực nghệ thuật nói chung và trong văn học nói riêng, ngoài nghĩa chỉ thời gian, chủ nghĩa HHĐ còn chịu sự quy định của các thuộc tính biểu đạt nghệ thuật, mặc dù sự quy định này phần lớn có lẽ vẫn là do các nhà lí luận và phê bình
áp đặt Và tất nhiên như chúng ta thấy, các ý kiến chưa phải là đã thống nhất Từ các ý kiến khác nhau nói trên, nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Văn Dân đã phân ra
ba nhóm quan niệm chính về chủ nghĩa HHĐ trong nghệ thuật như sau:
1 Chủ nghĩa hậu hiện đại như là đỉnh cao của chủ nghĩa hiện đại (quan điểm
của Lyotard, Hassan); hay nói cách khác, nó là: “cơn kịch phát của chủ nghĩa hiện đại”
2 Chủ nghĩa hậu hiện đại như là sự quay trở về với truyền thống để khống chế chủ nghĩa hiện đại (quan điểm của Smith, Potoghesi, Lipovetsky…)
3 Chủ nghĩa hậu hiện đại như là một sự vượt khỏi chủ nghĩa hiện đại, một phong trào lai tạp mới và tương phản với chủ nghĩa hiện đại (quan điểm của
Jencks, Koehler…) [12;117]
Đây là các quan niệm lý thuyết về bản chất của chủ nghĩa HHĐ, các quan niệm này tuy có khác nhau nhưng điểm chung của ba loại ý kiến này cho thấy chủ nghĩa HHĐ có những khác biệt căn bản so với chủ nghĩa hiện đại Cũng trên tình thần đó, nhà nghiên cứu Phùng Gia Thế nhận định về những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa này: “Còn về đặc tính của chủ nghĩa HHĐ thì chúng ta có thể xem xét thấy rằng đa
số các ý kiến đều nhấn mạnh đến tính chất phi lí tính hoặc phản lí tính, tính phi xác định, phi chủ thể, tính phân mảnh và tính đại chúng của nó Nhưng nhìn chung, hầu hết các ý kiến đều lấy chủ nghĩa hiện đại làm yếu tố quy chiếu để xác định cái gọi là
chủ nghĩa HHĐ” [235;117] Nhận xét này rất quan trọng, nó cho thấy có một mối
quan hệ họ hàng không dễ gì chối bỏ giữa chủ nghĩa hiện đại với chủ nghĩa HHĐ,
Trang 37cho dù có những ý kiến cho rằng chủ nghĩa HHĐ là chống lại chủ nghĩa hiện đại hay vượt qua khỏi chủ nghĩa hiện đại
Còn khái niệm Hoàn cảnh HHĐ (hoặc Điều kiện HHĐ) là thuật ngữ do các nhà
triết học, xã hội học, phê bình nghệ thuật và xã hội sử dụng để nói về các khía cạnh của điều kiện nghệ thuật, văn hóa kinh tế và xã hội hiện đại, hình thành nên đời sống con người thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI với một số đặc trưng riêng của nó, đặc trưng này bao gồm sự toàn cầu hóa, chủ nghĩa tiêu thụ, sự phân tán quyền lực, sự phá rào của thông tin trên phạm vi toàn thế giới Nếu tính chất của hiện đại thiên về
lí tính, bảo chứng bản ngã, chuộng sự hợp lý, trật tự ổn định, đề cao tính chất khách quan tinh thần khoa học thì tính chất của HHĐ lại phủ nhận những giá trị căn bản
đó của chủ nghĩa hiện đại Nó đề cao tính chất hỗn loạn và bất ổn, xem đó như bản chất của thế giới, xem những đại tự sự chỉ như những câu chuyện có “tính chất thần thoại” thiếu sự khả tín Tinh thần hậu hiện đại sinh ra là để chống lại sự độc tài của các đại tự sự và cho rằng không có một thứ nguyên lý nào phổ quát cho tất cả, chống lại quan niệm cho rằng trật tự ổn định là luôn tốt và coi sự hỗn loạn bất ổn luôn là bất hảo Thời của HHĐ là thời của lựa chọn không ngừng Nó là hệ quả của
sự bùng nổ thông tin khi mọi người đều là công dân của thế giới Trong trào lưu chung đó, văn học HHĐ ra đời, xuất hiện sau thế chiến thứ hai tại phương Tây, đỉnh cao là vào những năm 70 – 80 với hàng loạt các kĩ thuật sáng tác và tư tưởng văn nghệ mới để phản ứng lại các quy chuẩn văn học của chủ nghĩa hiện đại VHHHĐ như một hệ thống bậc dưới, một thành phần, một yếu tố hợp thành của hoàn cảnh HHĐ (điều kiện HHĐ) Một tác phẩm được coi là văn chương HHĐ nói chung và TTHHĐ nói riêng chỉ khi nó hội đủ hai yếu tố: cảm thức HHĐ và kĩ thuật viết HHĐ Trong đó, “cảm thức HHĐ xem bản chất của thế giới là hỗn mang Con người hậu hiện đại nhận thấy sự đổ vỡ của những trật tự đời sống, tính áp đặt của cái nhìn chính thống và các phát ngôn lớn (đại tự sự), sự bất định đảo lộn trong các thang bảng giá trị đời sống, hồ nghi về tồn tại và tự mình luôn cảm thấy bất an trước cuộc sống thiên biến vạn hóa” [157;12] Còn kĩ thuật viết HHĐ là những thủ pháp
mà các nhà văn HHĐ cải biến, lai ghép và sáng tạo ra Tuy nhiên, cũng cần phải
Trang 38nhấn mạnh rằng yếu tố “hậu” ở đây không phải là “sau” chủ nghĩa hiện đại, nó là một dạng tâm thức (postmodern sensibility) chứ không hẳn là vấn đề thời gian Do vậy, “VHHHĐ” hoàn toàn có thể xuất hiện trước hoặc sau “văn học hiện đại” Hiểu như vậy mới hoàn toàn đúng tinh thần của khái niệm “hậu hiện đại” trong văn học
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc ra đời của chủ nghĩa HHĐ cũng như những định nghĩa, quan niệm không giống nhau của các nhà nghiên cứu trong nước lẫn quốc tế về chủ nghĩa HHĐ Với những lí lẽ của mình, mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra những đặc trưng có điểm giống và có điểm khác về VHHHĐ Tổng hợp những đặc điểm đó, chúng tôi đưa ra một số nét đặc trưng cũng như những kĩ thuật viết tiêu biểu của VHHHĐ như sau:
Về một số đặc trưng tiêu biểu của VHHHĐ, nổi bật là: Giải (chống lại, không
chấp nhận) đại tự sự; Giải cấu trúc; Tính phân mảnh, phân rã; Dòng ý thức; Nhại văn; Huyền ảo, huyền thoại hóa; Phi trung tâm hóa; Châm biếm; Liên văn bản; Bội hiện thực (hiện thực thậm phồn) và Tối giản luận Bên cạnh đó là những kĩ thuật
đặc thù của VHHHĐ phải kể đến: Sự di chuyển liên tục của các điểm nhìn; Lối kể
nhảy cóc đa âm; Cấu trúc phi đơn tuyến; Cóp nhặt; Siêu hư cấu; Hư cấu biên niên sử; Bóp méo thời gian; Nhại ngôn ngữ của các thể loại khác…
Như vậy, với việc tổng hợp và chỉ ra những đặc trưng chủ đạo, những kĩ thuật thường gặp của VHHHĐ để thấy được rằng văn chương HHĐ có nhiều nét khu biệt với các trào lưu văn học khác Điều này giúp chúng ta dễ dàng nhận biết được các tác giả và tác phẩm nào có thể được xếp vào khuynh hướng VHHHĐ (hoặc mang yếu tố HHĐ) Tuy nhiên, cũng cần phải nói rõ những đặc điểm này không phải là đặc trưng “độc quyền” của VHHHĐ, bởi chúng ta có thể gặp những đặc trưng đó ở các khuynh hướng văn học khác Và cũng không phải tác phẩm VHHHĐ nào cũng đáp ứng đầy đủ những đặc trưng nêu trên, sự phân định chỉ mang tính chất tương đối, điều quan trọng là những cái “chất” mà VHHHĐ mang lại, là một luồng gió mát đầy sinh khí, chứ không hẳn là những đặc trưng hình thức bề nổi này Như Umberto Eco đã nói, ông chỉ quan tâm đến định lí mà những lí thuyết gia của trào lưu rút ra từ tiền đề của các nhà lí thuyết thuộc chủ nghĩa HHĐ: “Nhà văn hậu –
Trang 39hiện đại lí tưởng không bắt chước và không chối từ các bậc cha mẹ [hiện đại] thuộc thế kỉ XX, cũng như những bậc ông bà [tiền - hiện đại] thuộc thế kỉ XIX của họ Nhà văn HHĐ tiêu hóa chủ nghĩa hiện đại, nhưng họ không mang nó trên vai như một gánh nặng…”[272;276] Làm rõ những đặc trưng của VHHHĐ, nhà nghiên cứu Việt kiều Hoàng Ngọc – Tuấn đã chỉ ra thêm rằng: “Các nhà văn HHĐ cũng không còn kêu gọi nỗ lực cách tân nữa, dù họ vẫn tiếp tục tạo nên những cái mới Đối với
họ, cách tân là một thuộc tính cơ bản của nghệ thuật, chứ không phải là mục tiêu cách mạng nữa Do đó, chúng ta có thể thấy họ không gây nên phong trào, không tụ họp thành nhóm hay trường phái, thay vào đó mỗi người tự chơi một trò chơi của riêng mình Họ cũng không quá khổ công tạo nên những kĩ thuật hoàn toàn mới, thay vào đó họ thoải mái sử dụng tất cả những gì sẵn có trong kho tàng văn chương nhân loại, từ văn phong đến kĩ thuật Tất nhiên, cảm thức HHĐ làm công việc tái tạo sử dụng trở thành công việc sáng tạo thực sự: họ dùng lại những cái cũ nhưng tước bỏ những cơ sở mĩ học cũ của chúng, và đặt chúng đứng cạnh nhau, hay xen lấn vào nhau, chồng chất lên nhau, như hình ảnh của cái “hiện thực thậm phồn” đương đại…”[12;231]
Văn chương HHĐ chống lại tính nghiêm túc, cho rằng văn chương chỉ là một trò chơi (đây là một trò chơi mang tính cơ chế đầy nghiêm túc) Nhà văn đến với văn chương chỉ là tham gia vào trò chơi với những cái ngụy tạo của một hiện thực thậm phồn (phì đại) đa tạp10 Chính vì thế, lối viết văn HHĐ cũng là lối viết tự do, phóng khoáng, thể nghiệm đến tận cùng mà không thể đặt ra mục đích cho trò chơi của mình Văn chương HHĐ trở thành một trò chơi dân chủ tối đa, trong đó vai trò của tác giả và độc giả hoàn toàn bình đẳng
1.2.2 Tổng quan về TTHHĐ và TTVN có yếu tố HHĐ
1.2.2.1 Tiểu thuyết hậu hiện đại
TTHHĐ nằm trong trào lưu VHHHĐ Ngày nay, trào lưu này được sử dụng rộng rãi ở cả ba cấp độ: Văn hóa, nghệ thuật và văn học Trong lĩnh vực văn học, cụ thể là ở thể loại tiểu thuyết thì cũng có nhiều đánh giá khác nhau về TTHHĐ, trong
10
Trang 40đó nổi bật lên ý kiến của Umberto Eco: “TTHHĐ lí tưởng phải vượt qua những cãi
cọ giữa chủ nghĩa hiện thực và phi hiện thực, giữa chủ nghĩa hình thức và chủ nghĩa
“nội dung”, giữa văn học thuần túy và văn học dấn thân, giữa truyện kể ê-lít và truyện kể đại chúng…” [272;276] Cũng có nhiều nhà nghiên cứu tổng kết những đặc điểm chung và nổi bật của TTHHĐ, người thâu tóm đặc điểm một cách đầy đủ nhất về TTHHĐ có lẽ là ý kiến của nhà nghiên cứu người Tây Ban Nha – Antonio,
ông đưa ra năm đặc điểm chính của TTHHĐ: 1 Mang một nhận thức mới; 2 Một
ngôn ngữ tự ám thị; 3 Một thái độ khôi hài (có thể hiểu là hài hước, giễu cợt); 4 Khuynh hướng tự ngắm vuốt mình; 5 Một thứ văn học đầy sinh lực và khát vọng
Những đặc điểm được khu biệt một cách rõ nét này giúp chúng ta phần nào hình dung được những nét đặc trưng tiêu biểu của TTHHĐ thế giới Đối với nền tiểu thuyết đương đại Việt Nam, các nhà văn thế hệ mới luôn khát khao tìm tòi nhằm đổi mới cho nền văn học đương đại nói chung và tiểu thuyết đương đại nước nhà nói riêng để xích lại gần hơn với các trào lưu văn học này trên thế giới
1.2.2.2 Tiểu thuyết Việt Nam có yếu tố hậu hiện đại
Tiểu thuyết đương đại Việt Nam ngày càng có nhiều gương mặt trẻ và có nhiều đóng góp về mặt nội dung cũng như nghệ thuật cho nền văn học nước nhà Những tác giả đó ít nhiều đóng góp cho nền tiểu thuyết thời kì đổi mới tiếng nói đa diện, nhiều chiều, những cái nhìn khác nhau về cuộc sống đương đại Văn học thế giới vẫn đang bước vào thời kì HHĐ, TTHHĐ bị chi phối mạnh mẽ bởi một kiểu cảm quan riêng – cảm quan của thời HHĐ Đây là một kiểu cảm nhận thế giới đặc biệt mang đậm dấu ấn của cơn khủng hoảng niềm tin vào tất cả những giá trị đã từng tồn tại trước đó
Văn học Việt Nam đang hòa mình vào trào lưu VHHHĐ thế giới nên gần đây trào lưu này được giới cầm bút Việt Nam quan tâm nhiều hơn Sau hơn 20 năm, giới nghiên cứu nhìn chung vẫn có cái nhìn dè dặt khi tiếp cận nó TTVN có yếu tố HHĐ bị ám ảnh trong sự khủng hoảng niềm tin vào con người, nhìn đời sống như những mảnh vỡ, những nhân vật là đại diện cho con người hiện đại trong guồng quay của cỗ máy kinh tế, điển hình cho cuộc đời Người ta thường nói đến tiểu