1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hợp tác lao động giữa việt nam và malaysia (2003 2014)

109 193 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được xu thế này và thấy được tầm quan trọng của hợp tác lao động đối với việc giải quyết việc làm, phát triển kinh tế, xã hội trong nước cũng như mối quan hệ đối ngoại với các

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 8

1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài 8

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 13

3.1 Đối tượng nghiên cứu: 13

3.2 Phạm vi nghiên cứu: 13

4 Phương pháp nghiên cứu: 13

4.1 Phương pháp nghiên cứu chung: 13

4.2 Phương pháp nghiên cứu riêng trong quan hệ quốc tế 14

5 Cấu trúc của luận văn 15

Chương 1: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỢP TÁC LAO ĐỘNG VIỆT NAM – MALAYSIA 15

1.1 Một số khái niệm và lý thuyết chung về hợp tác lao động quốc tế 15

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia 17

1.2.1Bối cảnh quốc tế và khu vực 17

1.2.1.2 Sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các nước 18

1.2.1.3 Sự chênh lệch về tốc độ tăng dân số 19

1.2.1.4 Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong thế kỷ 21 20

1.2.1.5 Chủ trương hợp tác lao động trong khuôn khổ ASEAN 20

1.2.2 Yếu tố từ phía Việt Nam 23

1.2.2.1 Tình hình kinh tế xã hội – Lao động – Việc làm 23

1.2.2.2 Chủ trương, đường lối của Nhà nước Việt Nam về hợp tác lao động 29

1.2.2.3 Yếu tố từ phía các doanh nghiệp xuất khẩu lao động 31

1.2.2.4 Yếu tố từ phía người lao động Việt Nam 32

1.2.3Yếu tố từ phía Malaysia 33

1.2.3.1 Tình hình kinh tế xã hội – Lao động – Việc làm 33

1.2.3.2 Chủ trương của Chính phủ Malaysia về hợp tác lao động 37

Chương 2: TÌNH HÌNH HỢP TÁC LAO ĐỘNG GIỮA VIỆT NAM VÀ MALAYSIA 41

2.1 Thực trạng hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia 41

2.1.1 Các thỏa thuận, quy định của Việt Nam và Malaysia về hợp tác lao động 41

2.1.1.1 Các thỏa thuận hợp tác lao động chung giữa Việt Nam và Malaysia 41

2.1.1.2 Các quy định về tiếp nhận lao động Việt Nam tại Malaysia 45 2.1.1.3 Các quy định của Việt Nam về hoạt động xuất khẩu lao động sang thị trường Malaysia 53

Trang 3

2.1.2 Thực trạng hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia giai đoạn 2003-2007 56

2.1.3 Thực trạng hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia giai đoạn 2008 – 2014 60

2.2 Kết quả hợp tác lao động giữa Việt Nam và Malaysia 64

2.2.1 Thành tựu đạt được trong hợp tác lao động giữa 2 nước 65

2.2.2 Những vấn đề còn tồn tại trong hợp tác lao động giữa 2 nước 67

Chương 3: TÁC ĐỘNG VÀ TRIỂN VỌNG HỢP TÁC LAO ĐỘNG GIỮA VIỆT NAM VÀ MALAYSIA 72

3.1 Tác động của hợp tác lao động đối với sự phát triển của 2 nước 72

3.1.1 Tác động đối với Việt Nam 72

3.1.2 Tác động tới Malaysia 75

3.2 Xu hướng hợp tác lao động giữa Việt Nam và Malaysia 77

3.2.1 Xu hướng di cư lao động nội khối ASEAN 77

3.2.2 Xu hướng hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia 81

3.2.3 Một số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam trong hợp tác lao động với Malaysia 84

KẾT LUẬN 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

STT Từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt

1 ASEAN Association of South East

4 AFML ASEAN Forum on Migrant

Khung tham chiếu trình độ

7 DOLAP Department of Overseas

Labour

Cục Quản lý lao động ngoài nước

8 GNI Gross National Income Tổng thu nhập quốc gia

9 ICP International Comparison

Program – World Bank

Chương trình so sánh quốc tế của Ngân hàng Thế giới

10 ILO International Labour

Organization

Tổ chức Lao động quốc tế

Trang 5

11

SLOM-OSHNET

ASEAN Senior Labour Officials’ Meeting – The ASEAN Occupational Safety and Health Network

of Actions

Nhóm công tác về Mạng an toàn vệ sinh lao động

12 SLOM-WG ASEAN Senior Labour

Officials’ Meeting Working Group

Nhóm công tác về các điển hình lao động tiên tiến

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH

Bảng 1.1 Một số chỉ số kinh tế tiêu biểu của Malaysia 35

Bảng 2.1 Số lượng lao động Việt Nam đi lao động theo hợp đồng có

thời hạn ở một số thị trường chủ yếu: 2002-2007

57

Bảng 2.2 Số lượng lao động Việt Nam xuất khẩu sang một số thị

trường chính giai đoạn 2008 – 2014

61

Bảng 2.3 Số lượng lao động Việt Nam đi làm việc tại các quốc gia

trong ASEAN

66

Hình 2.1 Cơ cấu ngành nghề của lao động Việt Nam làm việc tại

Malaysia giai đoạn 2003-2005

58

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS.TS Nguyễn Huy Hoàng, thầy đã khuyến khích, chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này

Tôi sẽ không thể hoàn thành luận văn này nếu không có những tác giả đi trước đã cung cấp thông tin, nghiên cứu về hợp tác lao động, xuất khẩu lao động nói chung và giữa Việt Nam – Malaysia nói riêng Vì thế, tôi dành sự cảm ơn sâu sắc đối với tất cả các tác giả có tác phẩm hoặc bài viết mà tôi đã tiếp cận trong quá trình hoàn thành luận văn Dù tôi không sử dụng toàn bộ tài liệu đã tiếp cận, các quan điểm hay bài viết mà tôi không đồng tình cũng giúp tôi phát triển các quan điểm, hoàn thiện hơn những lập luận của mình

Tôi cũng dành một sự biết ơn đặc biệt đến tất cả bạn bè, người thân đã giúp

đỡ, góp ý và giúp tôi hoàn thiện luận văn, dịch một số tài liệu tiếng nước ngoài, kiểm tra và soát lỗi…

Ngoài ra, trong suốt quá trình học chương trình đào tạo Thạc sĩ, tôi đã nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi của các cán bộ đào tạo và giảng dạy của khoa Quốc tế học, Trường Đại học Khoa học xã hội & nhân văn, Đại học Quốc gia

Hà Nội Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và trân trọng nhất đối với tất cả sự giúp

đỡ và quan tâm này!

Trang 8

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn với đề tài “Hợp tác lao động giữa Việt Nam và Malaysia (2003-2014)” là công trình nghiên cứu khoa học hoàn toàn do tôi thực hiện Luận văn có sự kế thừa, tham khảo các công trình nghiên cứu của những người đi trước và có sự bổ sung những tư liệu, kết quả nghiên cứu mới Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi

Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2016

Tác giả luận văn

Đặng Thị Oanh

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Mục đích, ý nghĩa của đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra với tốc độ nhanh chóng, hợp tác lao động quốc tế đã trở thành một xu hướng tất yếu giữa các quốc gia trên thế giới.Hợp tác lao động quốc tế góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế và sự phát triển bền vững đối với nhiều quốc gia trên thế giới, ngay cả trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Nhận thức được xu thế này và thấy được tầm quan trọng của hợp tác lao động đối với việc giải quyết việc làm, phát triển kinh tế,

xã hội trong nước cũng như mối quan hệ đối ngoại với các nước khác trên thế giới, Đảng, Chính phủ và Nhà nước Việt Nam đã đặt hợp tác lao động quốc tế trở thành

một trong những vấn đề trọng tâm của chính sách, mang tính chiến lược và lâu dài

So với nhiều nước khác, Việt Nam tham gia vào thị trường lao động quốc tế khá muộn, hoạt động hợp tác lao động bắt đầu từ năm 1980 chủ yếu với các nước

xã hội chủ nghĩa, trong tình hình kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn Từ năm

1991, khi cơ chế có sự thay đổi, hoạt động hợp tác lao động phát triển mạnh mẽ,

mở rộng thị trường ra nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ Bước sang thế kỷ 21, có sự tăng đột biến lượng lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài, trong đó có một số thị trường chính như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia

Malaysia là một trong những quốc gia phát triển trong khu vực Đông Nam Á,

có trình độ phát triển kinh tế, khoa học công nghệ tương đối cao, đặc biệt có nhu cầu lớn về nguồn lao động, không đòi hỏi lao động có trình độ cao như các nước phát triển khác Hoạt động hợp tác đưa lao động Việt Nam sang làm việc tại Malaysia bắt đầu từ năm 2002, đến năm 2003 Bản ghi nhớ (MOU) về cung ứng lao động Việt Nam sang làm việc tại Malaysia giữa hai chính phủ đã đánh dấu mốc quan trọng đưa quan hệ hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia lên một tầm cao mới Sau hơn 10 năm, Malaysia là một trong những thị trường xuất khẩu lao động

Trang 10

chính của Việt Nam với khoảng hơn 80.000 lao động đang làm việc tại 12/13 bang của Malaysia trong một số lĩnh vực kinh tế không yêu cầu trình độ cao

Hợp tác lao động quốc tế góp phần giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho nhiều người dân, tăng nguồn thu ngoại tệ và nhiều lợi ích khác đối với mọi mặt đời sống của đất nước Hiện nay, Malaysia vẫn là thị trường xuất khẩu lao động truyền thống hấp dẫn với người lao động Việt Nam, với chi phí xuất cảnh thấp, thu nhập ở mức trung bình khá, phù hợp với các đối tượng người lao động phổ thông tại Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, khó khăncó thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ Việt Nam – Malaysia nói chung

Từ tình hình thực tế trên và nhận thức được tầm quan trọng của hợp tác lao động giữa Việt Nam – Malaysia, tác giả lựa chọn đề tài “Hợp tác lao động giữa Việt Nam và Malaysia (2003-2014)” Thông quan các phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế với việc coi Nhà nước là chủ thể hành động, luận văn nhằm mục tiêu phân tích, đánh giá những mặt tích cực, tiêu cực, các yếu tố tác động, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế và đề xuất phương hướng giải quyết vấn đề để đẩy mạnh hơn nữa mối quan hệ hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia, đóng vai trò tích cực vào sự phát triển đường lối đối nội, đối ngoại của đất nước

Trong phạm vi nghiên cứu về quan hệ hợp tác lao động, tác giả tập trung vào nghiên cứu quan hệ xuất khẩu lao động (XKLĐ) phổ thông– là một nội dung chính của hợp tác lao động quốc tế từ Việt Nam sang Malaysia để thấy được sự tiềm năng, hấp dẫn của thị trường lao động này đối với người lao động Việt Nam

Trang 11

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Với tầm quan trọng của mối quan hệ hợp tác lao động giữa Việt Nam – Malaysia, ở nước ta và trên thế giới đã có một số luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ, sách báo, tạp chí đề cập đến vấn đề này như:

Nguyễn Thanh Tùng (2015): Xuất khẩu lao động của Việt Nam sang Malaysia: Thực trạng và giải pháp – Luận án Tiến sĩ kinh tế: Tác giả xuất phát từ việc phân tích cặn kẽ các khái niệm và lý thuyết về xuất khẩu lao động; hoạt động xuất khẩu lao động của các nước trong khu vực Đông Nam Á, hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam với nhiều thị trường tiếp nhận lao động trên thế giới Từ đó tác giả phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động từ Việt Nam sang Malaysia trong mối quan hệ so sánh với các thị trường khác để thấy được những

ưu điểm và hạn chế Ngoài ra, tác giả Nguyễn Thanh Tùng phân tích sự thay đổi của bối cảnh quốc tế, khu vực, tiềm năng của hai nước Việt Nam và Malaysia để rút ra triển vọng quan hệ lao động giữa hai nước và đề xuất những hướng đi cần thiết với từng đối tượng Nhà nước, công ty môi giới XKLĐ, người lao động Việt Nam để hoạt động này có hiệu quả hơn

Nguyễn Thị Phương Linh (2004): Một số giải pháp đổi mới quản lý tài chính

về xuất khẩu lao động Việt Nam theo cơ chế thị trường – Luận án Tiến sĩ Kinh tế: Tác giả nêu lên cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu lao động và quản lý tài chính

vĩ mô với xuất khẩu lao động Kinh nghiệm quản lý XKLĐ và quản lý tài chính về XKLĐ ở châu Á Thực tiễn hoạt động và quản lý tài chính về XKLĐ ở Việt Nam

và các giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong thời gian tới

Trần Thị Thu (2006): Nâng cao hiệu quả quản lý xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay – Sách chuyên khảo: Tác giả đưa ra những kiến nghị, giải pháp và định hướng giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản

lý xuất khẩu lao động nhưng dừng lại ở cấp độ doanh nghiệp

Trang 12

Phạm Thị Hoàn: Quản lý Nhà nước đối với XKLĐ của Việt Nam giai đoạn hiện nay – Luận án Tiến sĩ Kinh tế: Tác giả đi sâu phân tích vai trò quản lý của Nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu trong giai đoạn hiện tại

Nguyễn Thị Hồng Bích (chủ biên), Hoàng Minh Hà, Phú Văn Hẳn (2007): Xuất khẩu lao động của một số nước Đông Nam Á – kinh nghiệm và bài học: Nhóm tác giả phân tích hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam trong sự so sánh với các nước Đông Nam Á để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong lĩnh vực xây dựng chính sách, tổ chức và quản lý XKLĐ cũng như trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội nảy sinh trong quá trình xuất khẩu lao động, nhằm phục vụ cho việc tham gia một cách có hiệu quả vào thị trường lao động quốc tế

Nhập cư ở Malaysia: Đánh giá về hiệu quả kinh tế, chính sách và hệ thống

(Immigration in Malaysia: Assessment of its Economic Effects, and a Review of the Policy and System) – Bản báo cáo của Ngân hàng Thế Giới và Bộ Nguồn Nhân

Lực Malaysia công bố năm 2013 Bản báo cáo đưa ra những con số cụ thể, những phân tích và dẫn chứng cho hoạt động nhập cư vào Malaysia, trong đó có lao động nhập cư, từ đó đánh giá tương đối những mặt tích cực và tiêu cực của nhập cư đối với mọi mặt của đất nước này Bản báo cáo cũng đưa ra nhận xét về hệ thống chính sách quản lý tình hình nhập cư của Chính phủ Malaysia

Di cư lao động quốc tế từ Việt Nam đến các nước châu Á, 2000-2009: Quá

trình, thực trạng và tác động (International Labour Migration From Vietnam To Asian Countries, 2000-2009: Process, Experiences and Impact) là công trình

nghiên cứu của Viện nghiên cứu phát triển xã hội thuộc Đại học Western Ontario, Canada năm 2009 Nghiên cứu thực hiện dựa trên các số liệu thống kế được công

bố của Bộ Lao động Thương binh & Xã hội Việt Nam và phỏng vấn người lao động Việt Nam đang làm việc tại các nước châu Á đến từ ba tỉnh: Hà Tĩnh, Thái Bình và Hà Tây Nhóm nghiên cứu đã phân tích những điểm mạnh và yếu của lao

Trang 13

động Việt Nam khi làm việc tại nước ngoài trong sự so sánh với người lao động đến từ các quốc gia khác Tiếp đến là so sánh lao động Việt Nam đang làm việc ở các nước châu Á theo các tiêu chí: giới tính, cơ cấu ngành nghề, số tiền bỏ ra trước chuyến đi, thu nhập, điều kiện sống, cuộc sống của người lao động sau khi về nước… Cuối cùng bài nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị chính sách đối với Chính phủ Việt Nam để tăng hiệu quả xuất khẩu lao động và bảo vệ người lao động Việt Nam làm việc tại nước ngoài

Thực trạng và xu hướng xuất khẩu lao động của Việt Nam (Situation and Trends of Vietnamese Labor Export) do tác giả Kannika Angsuthanasombat thực

hiện năm 2006 đã đưa ra những nét chính và tình hình và xu hướng di cư lao động quốc tế của Việt Nam, tập trung vào lực lượng lao động đang làm việc ở nước ngoài, quy trình trước chuyến đi, các nước tiếp nhận lao động, loại hình công việc, chất lượng của lao động Việt Nam, các vấn đề tồn tại và các tác động về mặt xã hội của hoạt động di cư

Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu, sách báo, tạp chí khác có đề cập đến hoạt động hợp tác lao động quốc tế nói chung và hợp tác lao động giữa Việt Nam và Malaysia nói riêng Các công trình này nhìn chung mới chỉ đề cập hoặc nghiên cứu một khía cạnh của quan hệ hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia mà chưa đi sâu vào phân tích, đánh giá một cách toàn diện mối quan hệ này, từ đó đưa

ra giải pháp chiến lược, lâu dài và đồng bộ để nâng cao quan hệ hợp tác Đồng thời hợp tác lao động giữa hai nước luôn có sự biến động, thay đổi do các yếu tố liên quan đến bối cảnh kinh tế, xã hội, chính sách ngoại giao của Nhà nước và từ người lao động Vì vậy, tiếp tục nghiên cứu về hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia một cách toàn diện, sâu sắc, cập nhật và tìm ra những điểm mới là vô cùng quan trọng, giúp đưa ra những hướng giải quyết cho các vấn đề còn tồn tại cả về mặt chính sách và thực tiễn

Trang 14

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Hợp tác lao động giữa Việt Nam và Malaysia

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi không gian: Việt Nam và Malaysia

Phạm vi thời gian: 2003-2014, tức là từ khi Việt Nam và Malaysia ký kết bản ghi nhớ về việc đưa người Việt Nam sang làm việc tại Malaysia đến năm 2014 Bên cạnh đó Luận văn vẫn tiếp tục cập nhật các thông tin và số liệu mới nhất về tình hình hợp tác lao động giữa hai nước nhằm mang tính tham khảo và giúp người đọc có cái nhìn chính xác hơn về lĩnh vực hợp tác này giữa Việt Nam và Malaysia

Luận văn tập trung nghiên cứu trong phạm vi các hoạt động đưa người lao động phổ thông Việt Nam đi làm việc tại Malaysia

4 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu trong đó bao gồm các phương pháp nghiên cứu chung của nhiều ngành khoa học và phương pháp nghiên cứu riêng trong quan hệ quốc tế

4.1 Phương pháp nghiên cứu chung:

- Phương pháp đa ngành và liên ngành: Quan hệ hợp tác lao động giữa Việt Nam và Malaysia không chỉ là quan hệ đối ngoại giữa hai Nhà nước mà còn liên quan đến nhiều lĩnh vực khác như kinh tế, chính trị, xã hội Phương pháp nghiên cứu này giúp luận văn có cái nhìn toàn diện, nhiều chiều về hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia

- Phương pháp lịch sử: Hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia vận động theo sự biến đổi của lịch sử, trong đó mỗi giai đoạn, thời kỳ có những đặc trưng riêng Phương pháp nghiên cứu này giúp đánh giá hợp tác lao động Việt Nam –

Trang 15

Malaysia một cách lịch sử, cụ thể, thấy được diễn biến, tiến trình phát triển của mối quan hệ

- Phương pháp phân tích văn bản: Luận văn có nghiên cứu, sử dụng các văn bản chứa đựng đường lối quan điểm, văn bản pháp luật, hiệp định… của Nhà nước, Chính phủ Việt Nam và Malaysia – được coi là cơ sở pháp lý, nền tảng cho hợp tác lao động giữa hai nước

4.2 Phương pháp nghiên cứu riêng trong quan hệ quốc tế

- Phương pháp phân tích lợi ích: Dựa vào phân tích lợi ích hai bên Việt Nam – Malaysia trong hợp tác lao động để thấy được sự định hướng chính sách và thực hiện hành vi của các bên

- Phương pháp phân tích chính sách: Chính sách của hai Nhà nước Việt Nam – Malaysia có vai trò định hướng và giải thích cho các hành vi đối ngoại của hai nước Phương pháp bao gồm việc tìm hiểu nội dung chính sách, quá trình và cơ chế hoạch định chính sách, đánh giá chính sách)

- Phương pháp phân tích tác động: Hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia

có vai trò quan trọng tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội và quan hệ đối ngoại giữa hai nước, từ đó thấy được những mặt tác động tích cực và tiêu cực để tìm cách phát huy hoặc hạn chế

- Phương pháp dự báo: Việc dự báo xu hướng phát triển của hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia là cần thiết và quan trọng, góp phần vào việc hoạch định chính sách và có những bước đi tích cực, chủ động trước tình hình mới, xu hướng mới

Trang 16

5 Cấu trúc của luận văn

Chương 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến hợp tác lao động Việt Nam - Malaysia

Nêu và phân tích các yếu tố tác động đến hợp tác lao động giữa Việt Nam và

Malaysia, bao gồm các yếu tố mang tính khách quan và yếu tố mang tính chủ quan Chương 2: Tình hình hợp tác lao động giữa Việt Nam và Malaysia

Tập trung vào trình bày thực trạng hợp tác lao động giữa Việt Nam và Malaysia theo các giai đoạn lịch sử, từ đó rút ra các mặt làm được và các mặt còn tồn tại của mối quan hệ này

Chương 3: Tác động và triển vọng hợp tác lao động giữa Việt Nam và Malaysia

Từ việc phân tích xu thế phát triển mới của thế giới, khu vực và triển vọng phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam và Malaysia để đưa ra những dự báo xu hướng phát triển của mối quan hệ này trong thời gian tới và những khuyến nghị chính sách, giải pháp đối với Nhà nước, doanh nghiệp xuất khẩu lao động và người lao động Việt Nam tại Malaysia

Chương 1: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỢP TÁC LAO ĐỘNG VIỆT NAM – MALAYSIA

1.1 Một số khái niệm và lý thuyết chung về hợp tác lao động quốc tế

Hợp tác lao động quốc tế là thuật ngữ được sử dụng phổ biến từ những năm

1980 khi các hoạt động đưa người Việt Nam ra nước ngoài làm việc có sự tham gia tích cực của Nhà nước với tư cách là chủ thể Trong thời gian này, Việt Nam chủ yếu đưa người lao động sang để học tập, làm việc và học hỏi kinh nghiệm, khoa học, kỹ thuật tại các nước Xã hội chủ nghĩa và một số quốc gia châu Phi Theo TS Phạm Kiên Cường (1989): “Hợp tác quốc tế về lao động là sự trao đổi lao động

Trang 17

giữa các quốc gia thông qua các hiệp định được thỏa thuận và ký kết giữa các quốc gia đó, là sự di chuyển lao động có thời hạn giữa các quốc gia một cách có tổ chức

và hợp pháp” [19] Các tên gọi khác của hợp tác lao động quốc tế là xuất khẩu lao động hay di cư lao động quốc tế Trong mối quan hệ hợp tác lao động giữa Việt Nam và Malaysia, Việt Nam giữ vai trò là nước xuất khẩu lao động ra nước ngoài

Cũng theo tác giả Phạm Kiên Cường (1989): Xuất khẩu lao động được hiểu

là đưa lao động ra nước ngoài làm việc một cách hợp pháp, có tổ chức, thông qua những hợp đồng kí kết giữa nước đưa lao động đi và nước tiếp nhận sử dụng lao động

Từ đó, ta thấy hợp tác lao động quốc tế phải có chủ thể tham gia là Nhà nước Nhà nước có vai trò quan trọng trong quá trình xuất khẩu lao động ra nước ngoài một cách chính thức và tuân thủ luật pháp quốc tế cũng như luật pháp của nước tiếp nhận lao động Quá trình này liên quan đến các hoạt động xuất nhập cảnh, hợp tác về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, ngoại giao… Nhà nước có vai trò đề

ra chính sách, chủ trương, đường lối, ký kết các hiệp định hợp tác lao động với nước tiếp nhận lao động Nhà nước phải tham gia vào quá trình này để đào tạo, bảo

vệ, hỗ trợ người lao động cũng như đảm bảo lợi ích quốc gia, doanh nghiệp và tăng cường các hoạt động hợp tác với nước ngoài hiệu quả, bền vững

Như vậy, hợp tác lao động quốc tế có thể hiểu là các hoạt động trao đổi lao động giữa các quốc gia thông qua các hiệp định và hợp đồng lao động được ký kết giữa các quốc gia với nhau, đảm bảo tuân thủ luật pháp của cả quốc gia tiếp nhận

và quốc gia xuất khẩu lao động và phù hợp với luật pháp quốc tế mà các quốc gia này là thành viên

Trang 18

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hợp tác lao động Việt Nam – Malaysia

1.2.1Bối cảnh quốc tế và khu vực

1.2.1.1 Quá trình toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa được coi là động lực chủ yếu của di cư lao động quốc tế Manning Christ cho rằng di cư lao động tăng lên là một trong những khía cạnh quan trọng của toàn cầu hóa ở phần lớn khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong giai đoạn từ những năm 1990 trở lại đây

Trong thời đại toàn cầu hóa, thông tin liên lạc và giao thông được cải thiện mạnh mẽ đã rút ngắn khoảng cách về thời gian và không gian giữa các quốc gia, từ

đó giúp cho hoạt động xuất nhập khẩu lao động trở nên dễ dàng và nhanh chóng hơn Bên cạnh đó, sự bùng nổ của thông tin liên lạc, internet giúp tăng cường hiểu biết giữa các nền văn hóa, con người ở nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới đã giúp người lao động nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng nước nhập khẩu lao động

Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế biến thế giới trở thành một ngôi làng, trong đó các quốc gia và khu vực trên thế giới đều có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau và chịu ảnh hưởng chung của tình hình thế giới Bất kỳ biến động nào về kinh tế, chính trị, xã hội trên thế giới đều có thể ảnh hưởng đến hoạt động hợp tác lao động giữa các quốc gia với nhau

Toàn cầu hóa còn tạo ra sự chênh lệch bất bình đẳng giữa các nước giàu và nước nghèo trong việc phân chia lợi ích từ quá trình này Những nước phát triển luôn nhận được sự đầu tư về vốn và khoa học công nghệ lớn hơn các nước đang phát triển, các nước giàu ngày càng giàu hơn, sự tăng phần đóng góp thương mại ở các nước đang phát triển cũng không đáng kể Sự thay đổi cơ cấu kinh tế và tư nhân hóa ở các nước đang phát triển khiến cho một số lượng người lao động bị loại

Trang 19

ra khỏi các hoạt động kinh tế, trở thành người thất nghiệp và buộc phải tìm kiếm việc làm ở nước ngoài

1.2.1.2 Sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các nước

Sự chênh lệch về trình độ phát triển dẫn đến sự chênh lệch về thu nhập và tiền lương giữa nhóm nước phát triển và nhóm nước đang phát triển là một trong những nguyên nhân chính khiến người lao động di cư từ các nước có thu nhập thấp đến những nước có thu nhập cao hơn, từ đó đặt ra nhiệm vụ tăng cường hợp tác lao động giữa các Nhà nước này để quản lý chặt chẽ nguồn lao động di cư Theo thống

kê của Ngân hàng thế giới, chênh lệch giữa nhóm các nước có thu nhập cao nhất và thấp nhất là khoảng 11,000 USD (Nhóm các nền kinh tế có thu nhập cao: 12,736USD; nhóm các nền kinh tế có thu nhập thấp: 1,045USD)1 Trên bình diện

toàn thế giới, mức lương trung bình mà một người lao động nhận được là khoảng

19.188 USD/năm Ở Việt Nam, lương bình quân của người lao động là hơn 45 triệu đồng/năm, tương đương 2.112 USD, bằng khoảng 27% mức trung bình của thế giới2

Trong khu vực Đông Nam Á, trình độ phát triển và thu nhập cũng có sự chênh lệch lớn giữa nhóm các quốc gia Brunei, Indonexia, Malaysia, Singapore, Philippines và Thái Lan (ASEAN 6) và nhóm các nước gia nhập sau của ASEAN, gồm Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam (CLMV) Mức thu nhập bình quân đầu người (tính theo ngang giá) năm 2009 của Brunei, Singapore đạt xấp xỉ 50 nghìn USD Đây là nhóm nước có mức thu nhập bình quân đầu người không chỉ cao nhất trong khu vực, mà còn có thể so sánh với một số quốc gia phát triển hàng đầu trên thế giới Mức thu nhập này cao gấp 17 lần so với Việt Nam (2.900 USD),

và gấp 50 lần so với Myanma (1.100 USD) - nước nghèo nhất khu vực Malaysia,

1 http://data.worldbank.org/about/country-and-lending-groups

2

21-lan-con-ho-vn-a93650.html

Trang 20

http://www.doisongphapluat.com/kinh-doanh/bi-quyet-lam-giau/con-rong-singapore-thu-nhap-binh-quan-gap-Thái Lan có mức thu nhập cao hơn nhiều so với CLMV nhưng cũng chỉ bằng một phần ba của Singapore hay Brunei.3

1.2.1.3 Sự chênh lệch về tốc độ tăng dân số

Tốc độ tăng dân số chênh lệch giữa các nước cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến dòng lao động di cư từ các nước có dân số đông, trẻ và lượng người trong độ tuổi lao động lớn đến các nước có quy mô dân số nhỏ và già hóa lao động Các nước đang phát triển có tốc độ tăng dân số nhanh, hàng năm có hàng triệu người gia nhập lực lượng lao động, ngược lại các nước phát triển có tốc độ tăng dân số thấp thậm chí đạt con số âm Dân số già hiện nay tồn tại ở các nước có nền kinh tế phát triển và là gánh nặng của các quốc gia này Các nhà kinh tế Mỹ và thế giới cảnh báo, hiện trạng dân số già đi nhanh chóng đã trở thành “quả bom nổ chậm” có thể tàn phá các nền kinh tế phát triển trên thế giới Theo số liệu của Liên hợp quốc, dân số trên 60 tuổi ở Nhật Bản vào năm 2050 sẽ tăng tới 41,7% tổng dân

số, từ mức vốn đã cao hiện nay là 26,3% Dân số già nhanh đã thực sự trở thành mối đe dọa nguồn nhân lực ở nhiều nước phát triển Nhà kinh tế Mỹ Nicolas Ebostas, chuyên gia dân số thế giới nhấn mạnh tài sản thực sự của thế giới hiện đại không phải là nguồn tài nguyên khoáng sản thiên nhiên mà chính là nguồn lực con người

Đó là nguyên nhân để các nước đang phát triển xuất khẩu lao động và các nước phát triển nhập khẩu lao động Bên cạnh đó, sự thay đổi cơ cấu dân số cũng ảnh hưởng đến dòng lao động di cư này Ở các nước phát triển, dân số già hóa dẫn đến tăng nhu cầu về hộ lý, chăm sóc sức khỏe cho người già trong khi các nước này không đủ lao động đáp ứng đã tạo điều kiện cho người lao động từ các nước đang phát triển di cư sang Ở các nước phát triển, người lao động chủ yếu làm việc

3

phap/c/4762994.epi

Trang 21

http://www.baomoi.com/chenh-lech-trinh-do-phat-trien-giua-cac-nuoc-trong-khoi-asean-thuc-trang-va-giai-ở các ngành nghề có trình độ cao, nên các công việc http://www.baomoi.com/chenh-lech-trinh-do-phat-trien-giua-cac-nuoc-trong-khoi-asean-thuc-trang-va-giai-ở trình độ thấp thường thuê lao động nước ngoài giá rẻ từ các nước đang phát triển

1.2.1.4 Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng trong thế kỷ 21

Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới đầu thế kỷ 21 hay còn được gọi là thời kỳ siêu tăng trưởng (Theo báo cáo đặc biệt của Ngân hàng Standard Chartered năm 2010)4 đã dẫn đến nhu cầu về lao động tăng cao Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới trong 10 năm đầu thế kỷ 21 (2000-2010) đạt 3.2% với sự dẫn đầu của khu vực châu Á – Thái Bình Dương Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-2009 khiến thế giới tư bản phương Tây rung chuyển, tuy có tác động tiêu cực đến tất cả các nước, nhưng nhìn chung các nền kinh tế châu Á vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng ổn định

Cùng với sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng là đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng bùng nổ vào những năm 90 của thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 Bên cạnh việc đẩy mạnh sự phát triển kinh tế, mở rộng nhu cầu lao động, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng sử dụng một lượng lớn lao động nước ngoài Sự thiếu hụt lao động không lành nghề ở các nước phát triển hơn đã đẫn đến nhu cầu nhập khẩu để tận dụng lợi thế lao động giá rẻ của các nước láng giềng và ngược lại xuất khẩu lao động lành nghề sang các nước đó Như vậy, tăng trưởng kinh tế, sự chuyển dịch của dòng vốn và đầu tư quốc gia không chỉ thúc đẩy sự chuyển dịch của lao động trình độ thấp mà cả dòng lao động có chuyên môn, trình độ cao

1.2.1.5 Chủ trương hợp tác lao động trong khuôn khổ ASEAN

Đều là thành viên của ASEAN, hoạt động hợp tác lao động giữa Việt Nam

và Malaysia nằm trong tinh thần hợp tác chung của cả khu vực Hợp tác lao động

là một lĩnh vực quan trọng trong hợp tác chuyên ngành của ASEAN được thực hiện thông qua Diễn đàn chuyên ngành cấp cao nhất là Hội nghị Bộ trưởng

4

http://enternews.vn/thoi-ky-sieu-tang-truong-chau-a-dan-dau-the-gioi.html

Trang 22

ASEAN phụ trách về lao động (ALMM) Diễn đàn này được họp 2 năm/ lần nhằm trao đổi về các chính sách phát triển nhân lực, lao động – việc làm, bảo hiểm xã hội, quan hệ lao động, lao động di cư và các vấn đề khác liên quan đến lao động trong khu vực Hiện hợp tác lao động trong ASEAN được thực hiện thông qua 3 nhóm công tác, bao gồm: Nhóm công tác về các điển hình lao động tiên tiến nhằm tăng cường tính cạnh tranh trong ASEAN (SLOM-WG); Nhóm công tác về Ủy ban ASEAN về xây dựng văn kiện nhằm thực hiện Tuyên bố ASEAN về Bảo vệ và thúc đẩy quyền của người lao động di cư (ACMW); Nhóm công tác về mạng An toàn vệ sinh lao động (SLOM-OSHNET)

Một trong những tuyên bố quan trọng của ASEAN có liên quan đến vấn đề

di cư lao động là Tuyên bố Cebu về bảo vệ và thúc đẩy quyền của lao động di trú 2007, trong đó thừa nhận trách nhiệm của các nước nhận và nước gốc cũng

như của Hiệp hội ASEAN trong vấn đề này Tuyên bố cũng yêu cầu các nước thành viên làm hài hòa luật pháp quốc gia với các tiêu chuẩn lao động cơ bản của

tổ chức lao động quốc tế ILO Việc này có nghĩa là sẽ làm cho pháp luật của các nước trong khối được áp dụng bình đẳng với mọi lao động, bất kể quốc tịch của họ, hay nói cách khác là đảm bảo nguyên tắc đối xử quốc gia với người lao động cư trú Diễn đàn Lao động di cư ASEAN (AFML) là một hoạt động được tổ chức thường niên nhằm thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố Cebu Diễn đàn là cơ hội để các chính phủ, các tổ chức người lao động và sử dụng lao động, và các tổ chức xã hội chính trị dân sự xem xét, thảo luận và chia sẻ kinh nghiệm và ý tưởng tốt về các vấn đề chính mà lao động nam và nữ di cư ở Đông Nam Á đang phải đối mặt, đồng thời đưa ra các khuyến nghị để thúc đẩy việc thực hiện các nguyên tắc của Tuyên bố Cebu5

5

http://www.moit.gov.vn/vn/tin-tuc/1470/hop-tac-asean-ve-lao-dong.aspx

Trang 23

Với sự hình thành cộng đồng ASEAN (AEC) vào năm 2015, thị trường lao động ASEAN được tự do hóa với sự tăng cường di chuyển lao động giữa các nước thành viên với nhau Theo báo cáo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), ASEAN đang được đánh giá là một trong những khu vực có nguồn lao động tiềm năng và nguồn lực dồi dào nhất trên thế giới Với 660 triệu dân, trong đó có 220 triệu dân

số đang trong độ tuổi lao động, ASEAN được xem là nơi có cơ cấu dân số vàng phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trong khu vực Bên cạnh đó, ASEAN hiện đang có 14 triệu lao động di cư với 7.5 triệu lao động di

cư nội khối cho thấy xu hướng tự do hóa thị trường lao động của ASEAN đang phát triển với tốc độ nhanh Khi AEC được ký kết sẽ tác động trực tiếp tới thị trường lao động của các nước nói riêng và của khu vực nói chung Theo đó, việc lưu chuyển lao động trong khu vực là một yêu cầu tất yếu để tạo điều kiện thúc đẩy cho quá trình hợp tác và lưu thông thương mại giữa các nước

Theo khảo sát của ILO, hiện tại ở các nước đang phát triển như Việt Nam, Lào, Campuchia, Myanmar, lực lượng lao động dồi dào và khá trẻ nhưng tỷ lệ đào tạo, kỹ năng nghề tương đối thấp Trong khi đó ở các nước đã phát triển như Singapore, Malaysia, Thái Lan, lao động có xu hướng già đi Vì vậy, với các nước

có nguồn lao động nhiều, trẻ thì đây là một cơ hội để phát triển thị trường lao động của mình trong thời gian tới

Đến tháng 7/2014, thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRAs) đã được ký kết ở một số lĩnh vực như: người hành nghề y, nha khoa, y tá, dịch vụ kế toán, dịch vụ tư vấn, dịch vụ kiến trúc, dịch vụ đo đạc Theo đó, MRAs sẽ công nhận kỹ năng, bằng cấp được đào tạo giữa các quốc gia để các lao động được dễ dàng di chuyển cùng với những nới lỏng về visa, thời gian lưu trú… từ đó tạo điều kiện cho hoạt động hợp tác lao động giữa các nước

Trang 24

Bên cạnh đó, các nước cần chú ý tới khung tham chiếu trình độ ASEAN (ARQF) để nắm bắt các quy định về kỹ năng tay nghề, bằng cấp ở từng quốc gia khi áp dụng cho các lao động ở nước khác trong khu vực để có những chuẩn bị và đầu tư trước khi thực hiện đưa lao động của nước mình xuất khẩu sang các nước ASEAN

Như vậy, chủ trương hợp tác lao động trong khuôn khổ ASEAN là yếu tố có vai trò định hướng, là khuôn khổ chung, vừa tạo ra điều kiện thuận lợi, vừa là thách thức đối với các hoạt động hợp tác lao động giữa Việt Nam và Malaysia6 Hoạt động hợp tác lao động song phương giữa 2 nước cũng chính là nằm trong hoạt động hợp tác lao động đa phương của cả khu vực

1.2.2 Yếu tố từ phía Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình kinh tế xã hội – Lao động – Việc làm

Thực hiện công cuộc cải cách từ năm 1986 với việc mở cửa nền kinh tế thị trường, bình thường hóa và mở rộng quan hệ với nhiều nước trên thế giới, đến đầu thế kỷ 21, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, từ một nước chậm phát triển tiến lên gia nhập hàng ngũ các nước đang phát triển Việt Nam còn từng bước trở thành thành viên của nhiều

tổ chức và diễn đàn lớn trên thế giới, nâng cao vị thế và vai trò chính trị của nước

ta trên trường quốc tế Sự hội nhập mọi mặt của Việt Nam trong thời kỳ toàn cầu hóa bao gồm trong đó cả lĩnh vực hợp tác lao động với việc Việt Nam tiếp nhận lao động chuyên gia từ các nước phát triển đến để hỗ trợ đào tạo, chuyển giao tri thức, công nghệ và việc Việt Nam đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài Trong đó, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với sự

6

ASEAN

Trang 25

http://www.misa.com.vn/tin-tuc/chi-tiet/newsid/41366/Co-hoi-va-thach-thuc-tu-tu-do-hoa-thi-truong-lao-dong-phát triển của đất nước trong bối cảnh kinh tế đang http://www.misa.com.vn/tin-tuc/chi-tiet/newsid/41366/Co-hoi-va-thach-thuc-tu-tu-do-hoa-thi-truong-lao-dong-phát triển, tình trạng dư thừa lao động và thất nghiệp vẫn ở mức cao

Trong 15 năm đầu thế kỉ 21 (2000-2014), kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng với tốc độ tương đối khá, đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình Mặc dù chịu tác động của hai cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực năm 1997 và cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu diễn ra từ năm 2008, nền kinh tế nước

ta vẫn đạt tốc độ tăng trưởng tương đối khá (2003 tăng 7,34%; 2004 tăng 7,79%;

2005 tăng 8,44%; 2006 tăng 8,23%; 2007 tăng 8,46%; 2008 tăng 6,31%; 2009 tăng 5,32%, 2010 tăng 6,42%; 2011 tăng 6,24%; 2012 tăng 5,25%; 2013 tăng 5,42%;

2014 tăng 5,98%).7

Theo phân loại hiện nay của Ngân hàng thế giới về thu nhập tính theo tổng thu nhập quốc gia (GNI)8, từ năm 2008 nước ta đã ra khỏi nhóm nước và vùng lãnh thổ thu nhập thấp, bước vào nhóm nước và vùng lãnh thổ thu nhập trung bình thấp Trong số những nước kém phát triển (LDCs) Liên hợp quốc công bố những năm gần đây, nước ta cũng không có tên trong danh sách nhóm này

Hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển toàn diện và sâu rộng, đưa nước ta hội nhập ngày càng đầy đủ với kinh tế khu vực và thế giới Phát huy kết quả và kinh nghiệm mở cửa hội nhập quốc tế thu được trong 15 năm đổi mới 1986-2000, 15 năm tiếp theo trong thế kỷ 21 chúng ta đã tiếp tục đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại trên tất cả các mặt, các lĩnh vực hợp tác song phương và đa phương; mở rộng quan hệ thương mại, thu hút vốn đầu tư, xuất khẩu lao động, tiếp nhận kiều hối và tăng cường nhiều hoạt động kinh tế đối ngoại khác

Trang 26

Thực hiện đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa”, đến nay nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 178 quốc gia, quan hệ thương mại với 175 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký hơn 60 hiệp định kinh tế và thương mại song phương và thiết lập quan hệ đầu tư với trên 84 quốc gia và vùng lãnh thổ Quan hệ đối ngoại nói chung và quan hệ kinh tế nói riêng với các nước láng giềng, các nước trong khu vực, các nước bạn bè truyền thống, các nước công nghiệp phát triển và các đối tác tiềm năng tiếp tục được triển khai mạnh mẽ và sâu sắc thêm

Đời sống các tầng lớp nhân dân tiếp tục được cải thiện; sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế và các lĩnh vực xã hội khác có những tiến bộ đáng kể Do kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ khá; đồng thời, các ngành, các địa phương triển khai thành công Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo và nhiều chương trình liên quan khác nên đời sống dân cư nhìn chung được cải thiện rõ rệt Theo kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình do Tổng cục thống kế tiến hành 2 năm

1 lần thì thu nhập bình quân 1 người 1 tháng của dân cư đã tăng từ 356,1 nghìn đồng năm 2002 lên 3590 nghìn đồng năm 2014

Sự nghiệp giáo dục, đào tạo tiếp tục thu được thành tựu mới Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 (1/4/2009), tỷ lệ biết chữ của dân số từ 15 tuổi trở lên đạt 94%, tăng 4 điểm phần trăm so với 1/4/1999 Trong những năm vừa qua, ngoài việc tiếp tục duy trì và củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đã đạt được, tất cả 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương còn hoàn thành mục tiêu phổ cập trung học cơ sở đề ra trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 Đào tạo đại học, cao đẳng cũng đạt được nhiều thành tựu đáng kể9

Những thành tựu trong phát triển kinh tế xã hội của nước ta đã có tác động tích cực và tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển mối quan hệ hợp tác về lao động giữa Việt Nam và Malaysia

9

Tổng cục thống kê, Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam mười năm 2001 – 2010, Nxb Thống kê Hà Nội, 2011

Trang 27

Hoạt động mở cửa hội nhập quốc tế với sự gia tăng mạnh mẽ các hoạt động hợp tác đa phương và song phương của Việt Nam đã giúp nâng cao vị thế của nước

ta trên chính trường quốc tế, tạo lập niềm tin và hình ảnh của Việt Nam trong lòng các nước Từ đó mở rộng và thắt chặt hơn nữa mối quan hệ đối ngoại với các nước trên thế giới nói chung và với Malaysia nói riêng Với các thành tựu đã đạt được, Việt Nam còn có nhiều điều kiện để giới thiệu hình ảnh, đất nước, con người ra nước bạn, tăng cường sự hiểu biết đôi bên sẽ giúp tăng cường các mối quan hệ hợp tác trên cơ sở đôi bên cùng có lợi

Kinh tế xã hội trong nước phát triển cũng giúp Chính phủ Việt Nam đưa ra nhiều chính sách có lợi hỗ trợ thiết thực đối với người lao động xuất khẩu như hỗ trợ về tài chính (người đi xuất khẩu lao động nước ngoài được hỗ trợ vay 100% chi phí – theo Nghị định số 65/2015/NĐ-CP quy định về chính sách hỗ trợ tạo việc làm và quỹ quốc gia về việc làm); hỗ trợ đào tạo

Sự phát triển của các quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực thương mại, đầu tư,

du lịch, giáo dục… giữa Việt Nam – Malaysia cũng góp phần và tạo điều kiện đưa quan hệ hợp tác về lao động lên tầm cao hơn, tăng cường số lượng và chất lượng các hoạt động hợp tác cụ thể giữa hai Chính phủ đối với vấn đề xuất khẩu lao động người Việt Nam đặc biệt là vấn đề bảo vệ người lao động Việt Nam tại Malaysia

Bên cạnh đó nền kinh tế xã hội Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế, vừa là động lực vừa là nguyên nhân để Việt Nam tăng cường hơn nữa hợp tác lao động với Malaysia

Việc duy trì mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào yếu tố vốn và hiệu quả sử dụng vốn thấp kéo dài nhiều năm đã làm cho nền kinh tế tuy đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhưng chất lượng tăng trưởng rất hạn chế Thực trạng này có thể nhận thấy ở nhiều góc độ khác nhau, thể hiện tập trung ở tình trạng thiếu vững chắc

Trang 28

trong các cân đối lớn của nền kinh tế, trong đó có cân đối ngân sách Nhà nước, cân đối cán cân thương mại, cán cân tài khoản vãng lai và tình trạng nợ công tăng nhanh

Đời sống một bộ phận dân cư còn khó khăn, nhiều vấn đề xã hội bức xúc chậm được khắc phục Trong những năm qua, tỷ lệ nghèo của nước ta đã giảm đáng kể nhưng đến nay vẫn còn tương đối cao Năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo (Theo chuẩn nghèo mới)10 của một số vùng vẫn trên 20% (cả nước là 14,2%), ở nhiều vùng số hộ nghèo vẫn lớn đến mức bình quân cứ 4-5 hộ có 1 hộ nghèo Tỷ lệ hộ nghèo năm 2014 đã giảm xuống còn 5,97%, tuy nhiên kết quả giảm chưa đồng đều, chưa vững chắc Địa bàn các xã nghèo miền núi, vùng dân tộc thiểu số tỷ lệ hộ nghèo còn cao, chiếm 50% trong tổng số hộ nghèo của cả nước Đặc biệt, tỷ lệ hộ tái phát, phát sinh nghèo hàng năm còn cao Bình quân cứ ba hộ thoát nghèo thì có một hộ tái nghèo, phát sinh nghèo nguyên nhân do hậu quả thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh và tách hộ

Trước tình hình đó, xuất khẩu lao động được coi là một hướng để xóa đói giảm nghèo đối với nhiều tỉnh thành, huyện, xã nghèo tại Việt Nam với chương trình mục tiêu giải quyết việc làm và giảm nghèo bền vững, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực qua trình độ chuyên môn kỹ thuật, ngoại ngữ, tác phong công nghiệp, tư duy kinh tế…

Một bộ phận quan trọng của nền kinh tế xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động hợp tác lao động là tình hình lao động và việc làm của Việt Nam Lao động Việt Nam có một số đặc trưng nổi bật như sau:

Thứ nhất, nguồn nhân lực có quy mô lớn và tăng nhanh hàng năm Với quy

mô dân số đạt 90,7 triệu người năm 2014, Việt Nam đứng vị trí thứ 3 trong khu

10

Chuẩn nghèo mới về thu nhập do Chính phủ quy định là 400 nghìn đồng/ người/ tháng đối với khu vực nông thôn và 500 nghìn đồng/ người/ tháng đối với khu vực thành thị

Trang 29

vực Đông Nam Á và thứ 13 trên thế giới Trong đó, Việt Nam vẫn tiếp tục là nước

có số dân trong độ tuổi lao động (15-64 tuổi) cao chiếm 69,4% tổng số dân Tỷ trọng dân số phụ thuộc (dưới 15 tuổi và từ 65 tuổi trở lên) chiếm 30,6% Mặc dù có

xu hướng già hóa dân số, với tỷ số dân số phụ thuộc chung năm 2014 là 44,0%, tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động cao hơn gấp đôi nhóm dân số trong độ tuổi phụ thuộc, mỗi năm nước ta vẫn có khoảng 1,2 – 1,3 triệu thanh niên bước vào độ tuổi lao động và tham gia vào thị trường lao động, do đó Việt Nam vẫn đang trong thời

kỳ “cơ cấu dân số vàng”11

Thứ hai, khi nói đến phẩm chất nghề nghiệp rất quý của người lao động Việt Nam, người ta thường nhắc đến sự cần cù, thông minh, sáng tạo và linh hoạt, cũng như sức trẻ của lực lượng lao động Tuy nhiên, trong nền sản xuất hiện đại, chất lượng lực lượng lao động nước ta vẫn còn thấp Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam đạt mức 3,79 điểm (trong thang điểm 10), xếp hạng thứ 11 trong số 12 quốc gia được khảo sát ở châu Á Nguồn nhân lực nước ta yếu về chất lượng, thiếu năng động và sáng tạo, tác phong lao động công nghiệp…

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong giai đoạn 2011 – 2014, trong lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế, lao động phổ thông, không có chuyên môn kỹ thuật chiếm 82,97%; lao động đã qua đào tạo nghề chỉ chiếm tỷ lệ 4,71%; lao động có trình độ trung cấp (bao gồm cả trung cấp chuyên nghiệp) là 3,65%; và lao động có trình độ từ cao đẳng (bao gồm cả cao đẳng nghề), đại học trở lên chiếm 8,67% Nói cách khác, đại đa số lao động Việt Nam vẫn là “lao động phổ thông”, lao động làm việc ở những khu vực có kỹ năng thấp, năng suất lao động thấp Do đó, năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp ở châu Á – Thái Bình Dương, trong đó, thấp hơn Singapore gần 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11

11

https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=382&idmid=2&ItemID=15148

Trang 30

lần và Hàn Quốc 10 lần Năng suất lao động của Việt Nam bằng 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan.12

Ngoài ra thể lực của lao động Việt Nam ở mức trung bình kém, chưa đáp ứng được cường độ làm việc và những yêu cầu trong sử dụng máy móc thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế Nhìn chung, thể lực của lao động nước ta trong những năm vừa qua đã được cải thiện, nhưng vẫn còn thấp so với các nước theo các chỉ số về nhân trắc (thấp, bé, nhẹ, cân…)

Nền kinh tế Việt Nam mặc dù đạt nhiều thành tựu khả quan và đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, số việc làm tạo ra dù tăng nhưng không theo kịp số người có nhu cầu tìm việc, vì vậy tỷ lệ thất nghiệp vẫn nóng bỏng Đến thời điểm tháng 12/

2014, trong 54,4 triệu người thuộc lực lượng lao động, có khoảng 1,2 triệu lao động thiếu việc làm (tỷ lệ 2,45%, trong đó khu vực thành thị là 1,18% và nông thôn là 3,01%) và gần 1 triệu lao động thất nghiệp chiếm 2,08%13

Ở nước ta, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nguồn lực con người được xem là nguồn lực quan trọng nhất, quyết định sự thành bại của

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động không chỉ là yêu cầu cấp bách mà còn là vấn đề mang tính chiến lược của Đảng và Nhà nước ta Bên cạnh các chính sách kinh tế xã hội trong nước, XKLĐ là một giải pháp quan trọng trong giải quyết việc làm, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động

1.2.2.2 Chủ trương, đường lối của Nhà nước Việt Nam về hợp tác lao động

Hợp tác lao động hay xuất khẩu lao động được Đảng và Nhà nước coi là một hoạt động kinh tế xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm,

12 http://www.bhxhbqp.vn/?act=nctd_detail&idnctd=155&date=1456099200

13

html

Trang 31

http://www.bhxhlamdong.gov.vn/component/content/article/45-tin-2/6701-lao-ng-vic-lam-i-mt-nhiu-thach-thc-tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường mối quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta và các nước khác Đây là một giải pháp giải quyết vấn đề việc làm có vai trò quan trọng trước mắt và lâu dài Tiếp tục công cuộc đổi mới theo tinh thần nghị quyết của Đảng, chủ trương phát triển và mở rộng hợp tác lao động với các quốc gia có nhu cầu sử dụng lao động, nước ta đã và đang đẩy mạnh hơn nữa quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, hội nhập với thị trường lao động thế giới Tại Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện công tác xuất khẩu lao động của Bộ Lao Động – Thương binh và xã hội, đồng chí Bộ trưởng đã phát biểu: “khi thực hiện đường lối mở cửa, từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới, lao động Việt Nam có nhiều ưu thế nhất là trình độ văn hóa, tay nghề khéo léo và giá cả lao động tương đối rẻ so với các nước trong khu vực Với ưu thế này, khả năng đưa lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, đặc biệt là ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương như Hàn Quốc, Bắc Phi,Trung Đông sẽ ngày càng tăng… Chương trình XKLĐ phải gắn chặt với việc làm trong nước bằng cách dành ít nhất 50% xuất khẩu lao động ngoại tệ thu được để bổ sung vào quỹ Quốc gia giải quyết việc làm trong nước và giải quyết việc làm cho người lao động khi trở về nước”

Mở rộng địa bàn xuất khẩu lao động sang các nước có nhu cầu sử dụng lao động Việt Nam không phân biệt chế độ chính trị, kinh tế xã hội, phong tục tập quán và tôn giáo với mọi loại lao động từ lao động giản đơn tới lao động kỹ thuật, chuyên gia lành nghề trong các lĩnh vực mà ta có khả năng đáp ứng

Đẩy mạnh XKLĐ theo hình thức “xen ghép” tức là hình thức đưa lao động nước ta sang làm việc chung với lao động các nước trong cùng dây chuyền sản xuất hoặc cùng công việc mà do chủ sử dụng lao động nước ngoài điều hành và trả lương Hình thức này hiện nay khá phổ biến, chiếm khoảng 70-80% tổng nhu cầu

sử dụng lao động nước ngoài

Trang 32

Tăng cường quan hệ và ký kết hợp đồng cung ứng lao động đồng bộ với các chủ hãng thầu quốc tế Từng bước tiếp cận, học tập kinh nghiệm các nước phát triển, các nước có kinh nghiệm và truyền thống trên lĩnh vực này, để ký và tổ chức đưa lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức nhận thầu công trình

Do vậy, có thể khẳng định các kết quả đạt được trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế là thành tựu rất lớn của quản lý Nhà nước về hợp tác lao động Chủ trương, chính sách về hợp tác lao động của Việt Nam được coi là yếu tố thúc đẩy các hoạt động xuất khẩu lao động diễn ra được thuận lợi và đạt nhiều kết quả

1.2.2.3 Yếu tố từ phía các doanh nghiệp xuất khẩu lao động

Theo quy định tại Nghị định số 81/2003/NĐ-CP ngày 1/7/2003 của Chính phủ thì các doanh nghiệp được xem xét cấp phép hoạt động xuất khẩu lao động bao gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần nhưng Nhà nước giữ cổ phần chi phối, doanh nghiệp thuộc cơ quan Trung ương, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp thuộc Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp khác do Thủ tướng Chính phủ xem xét quy định Theo đó các doanh nghiệp XKLĐ có tác động đến hoạt động hợp tác lao động quốc tế với vai trò là cầu nối giữa nguồn cung và cầu lao động trong nước Họ đảm nhiệm chức năng nghiên cứu thị trường, tìm kiếm đối tác, ký kết hợp đồng đến việc đào tạo và đưa người lao động đi làm việc

Vì vậy, năng lực, trình độ của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động cũng có ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực đến các hoạt động hợp tác lao động cũng như phản ánh trình độ quản lý của Nhà nước và hiệu quả hợp tác lao động của quốc gia Bên cạnh các doanh nghiệp xuất khẩu lao động tuân thủ các quy định và chính sách của Nhà nước về hợp tác lao động, hỗ trợ và tạo điều kiện giúp đỡ người lao động, cũng còn không ít những doanh nghiệp có trình độ và năng lực hạn chế, chạy

Trang 33

theo mục đích lợi nhuận, không tuân thủcác quy định về luật pháp của Nhà nước

và Chính phủ, gây ra những thiệt hại đối với người lao động, uy tín cũng như hiệu quả hoạt động hợp tác lao động của nước ta trên trường quốc tế

1.2.2.4 Yếu tố từ phía người lao động Việt Nam

Là một trong những đối tượng của hoạt động hợp tác lao động, nhu cầu và chất lượng của người lao động có tác động đến sự phát triển và hiệu quả của hoạt động XKLĐ Như đã trình bày ở trên, Việt Nam có quy mô dân số trong độ tuổi lao động lớn nhưng việc làm trong nước không đủ để cung cấp cho số lượng lao động này nên hàng năm vẫn có tới 1 triệu người trong độ tuổi lao độngthất nghiệp

Vì vậy, người lao động Việt Nam có nhu cầu tìm việc làm ở nước ngoài để tăng thu nhập, cải thiện kinh tế gia đình Điều này trở thành một trong những nhân tố thúc đẩy Nhà nước và Chính phủ đẩy mạnh hơn nữa hoạt động hợp tác lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đi làm việc ở nước ngoài Bên cạnh đó chất lượng lao động bao gồm trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, tác phong nghề nghiệp của người lao động cũng có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến quy mô lao động, khả năng cạnh tranh và lợi ích đạt được trên thị trường lao động quốc tế Như đã biết, chất lượng lao động Việt Nam vẫn còn thấp và giá nhân công rẻ nên phù hợp với những thị trường lao động như Malaysia vì họ không yêu cầu cao về trình độ người lao động và chi phí để xuất khẩu sang Malaysia cũng khá rẻ so với nhiều thị trường khác Với đặc điểm đó, người lao động Việt Nam tại Malaysia chủ yếu làm những công việc tay chân trong các lĩnh vực sản xuất, xây dựng, giúp việc… và những đặc điểm khác sẽ được trình bày cụ thể trong chương tiếp theo của Luận văn

Trang 34

1.2.3Yếu tố từ phía Malaysia

1.2.3.1Tình hình kinh tếxã hội – Lao động – Việc làm

Malaysia là đất nước khá phát triển nằm trong khu vực Đông Nam Á và là quốc gia dẫn đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu dầu cọ và cao su, ca cao và hạt tiêu, đồng thời là nước xuất khẩu về gỗ khối và các sản phẩm từ gỗ Trong báo cáo mới nhất của Chương trình so sánh quốc tế (ICP) thuộc Ngân hàng Thế giới (WB) công bố vào tháng 05/2014, Malaysia được xếp hạng là nền kinh tế lớn thứ 27 trong số 199 nước trên thế giới ICP đánh giá Malaysia là một trong những nước có thu nhập thấp và trung bình, những nước có đóng góp gần một nửa tổng số hàng hóa và dịch vụ trên thế giới với trị giá hơn 90.000 tỷ USD trong năm 2011 Ngân hàng Thế giới đánh giá Malaysia là một nước có thu nhập trên trung bình và là nền kinh tế rất mở với GDP bình quân đầu người đạt 10.500 tỷ USD trong năm 2013

và xuất khẩu đóng góp tới hơn 83% GDP của đất nước này14 Malaysia cũng nằm trong 3 nước có nơi làm việc tốt nhất trong khu vực dành cho những người từ nước ngoài hồi hương nhờ sự phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng KFI cơ quan nghiên cứu hàng đầu thế giới hoạt động tại 35 nước trong đó có Malaysia cho biết đánh giá này dựa trên kết quả cuộc thăm dò 185 Tổng giám đốc ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Chính phủ Malaysia khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các dự án sản xuất hàng xuất khẩu và các lĩnh vực công nghệ cao trên cơ sở liên doanh liên kết nhưng vẫn giữ thẩm quyền xét duyệt đáng kể đối với từng dự án đầu tư Các công ty nước ngoài tại Malaysia bị hạn chế về số lượng người nước ngoài được phép tuyển dụng Tháng 6/2003, Chính phủ Malaysia đã tự do hóa các quy định về tuyển dụng người lao động nước ngoài trong lĩnh vực chế tạo sản xuất (công ty sản xuất với vốn góp của nước ngoài tối thiểu 2 triệu USD được phép thuê tối đa 10

14

https://www.shs.com.vn/News/201453/849082/malaysia-trong-top-30-nen-kinh-te-lon-nhat-the-gioi.aspx

Trang 35

lao động nước ngoài) Các nhà đầu tư lớn là Đài Loan, Nhật, Mỹ, Singapore, Hongkong, Đức, Anh, Pháp, Australia Malaysia được đánh giá là một trong những nước đứng đầu thế giới về thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất Đây

là một trong những thành công trong chính sách phát triển kinh tế của Malaysia

Có nhiều lý do để Malaysia trở thành sự lựa chọn của các nhà đầu tư:

Đây là nơi quy tụ đông đúc các tôn giáo và chủng tộc như người Hồi giáo

Mã lai, người Ấn Độ, người Hoa và nhiều các nhóm sắc tộc khác nhưng người dân lại chung sống rất hòa bình và hòa hợp Malaysia là một đất nước an toàn và có tỷ

lệ tội phạm thấp Luật pháp và bầu không khí kinh doanh thuận lợi Malaysia luôn

mở cửa cho những người nước ngoài vào làm ăn và họ có thể mua bất động sản mang tên mình, điều không thể có được ở hầu hết các nước Đông Nam Á Cơ quan xúc tiến đầu tư Malaysia (MIDA) rất chuyên nghiệp trong việc hỗ trợ các nhà đầu

tư muốn tìm hiểu cơ hội làm ăn cũng như muốn thành lập công ty hay mở cửa hàng tại Malaysia Malaysia còn có mối quan hệ tốt với tất cả các nước trên thế giới và không hề thù địch với bất cứ nước láng giềng nào15

15

Hồ sơ thị trường Malaysia, Ban Quan hệ Quốc tế - VCCI,

http://www.trungtamwto.vn/sites/default/files/hiepdinhkhac/hstt-malaysia.pdf

Trang 36

Bảng 1.1: Một số chỉ số kinh tế tiêu biểu của Malaysia (Theo Malaysia

Economy Data – Focus-economics.com) 16

Theo thống kê của Bộ Nguồn Nhân lực Malaysia (Ministry of Human Resources) thì Malaysia hiện có quy mô dân số khoảng 31 triệu người; lực lượng lao động có khoảng 14 triệu người Tỷ lệ thất nghiệp trong những năm gần đây duy trì khoảng 3%17 Năm 2015, Malaysia có 2,8 triệu người cao tuổi, chiếm 9% tổng dân số 31 triệu người Theo Bộ trưởng Bộ Phụ nữ, Gia đình và Phát triển cộng

Trang 37

đồng Malaysia Rohani Abdul Karim, Malaysia sẽ trở thành quốc gia có dân số già vào năm 2035, khi mà số người cao tuổi chiếm 15% trong tổng dân số

Theo thống kế của Ngân hàng Thế giới năm 2012 có khoảng 1 triệu người Malaysia đã di cư và đang làm việc tại các nước phát triển hơn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc và một số các nước châu Âu… trong các ngành nghề đòi hỏi

có trình độ tay nghề, kỹ thuật cao, khả năng giao tiếp quốc tế tốt (tiếng Anh và tiếng Trung) hoặc dưới hình thức các chuyên gia, lý do chủ yếu của dòng di cư đi này là do thu nhập tại nước ngoài cao hơn so với trong nước (thu nhập tại các nước trên tối thiểu khoảng 3000 USD) và có điều kiện làm việc, phát triển nghề tốt hơn Trong đó khoảng 46% lao động Malaysia ở nước ngoài làm việc tại Singapore

Cùng với sự phát triển kinh tế trong nước và sự đầu tư từ nước ngoài mạnh

mẽ nên Malaysia thu hút được số lượng rất lớn lao động nhập cư từ các nước đang phát triển Tuy nhiên, công việc chủ yếu của lao động nước ngoài tại Malaysia có được là do các công việc này không thu hút được lao động trong nước, đó là các công việc giản đơn trong các khu công nghiệp, nhà xưởng quy mô vừa và nhỏ, các ngành nghề không cần nhiều kỹ thuật hoặc độc hại và thu nhập không cao

Hiện Malaysia có khoảng 3.1 triệu lao động nước ngoài đang làm việc (kể cả hơn 1 triệu lao động không có giấy tờ cư trú và làm việc hợp pháp) đến từ 14 quốc gia, chủ yếu là những nước Đông Nam Á và Nam Á như: Indonesia, Bangladesh,

Ấn Độ, Campuchia, Nepal, Myanmar, Lào, Việt Nam, Philippines, Pakistan, Sri Lanka, Thái Lan, Turkmenistan, Uzbekistan, Kazakhstan Trong đó lao động chiếm tỷ lệ nhiều nhất là Indonesia khoảng 51%, tiếp đến là Bangladesh với 17%, Nepal với 9,7% Việt Nam đứng thứ bảy trong số các quốc gia đang có nhiều lao động tại Malaysia với khoảng hơn 2%

Trang 38

Các ngành nghề chủ yếu là sản xuất chế tạo khoảng 38,2%, xây dựng khoảng 16%, trang trại và đồn điền (chủ yếu là trồng cọ) khoảng 14,2% và các ngành nghề khác như nông nghiệp, dịch vụ, giúp việc gia đình…

Lao động nước ngoài chủ yếu tập trung ở vùng Penusular đặc biệt ở vùng thành thị và các khu công nghiệp ở thung lũng Kelang, thủ đô Kuala Lumpur, trung tâm công nghiệp, thương mại và hành chính là mục tiêu của lao động nhập

cư Số lao động nước ngoài ở đây chiếm gần 70% tổng số lao động nước ngoài trên toàn lãnh thổ Malaysia Bang Sabah cũng vậy, ở một vài huyện trong bang như bờ biển phía Đông, số lượng lao động nước ngoài vượt quá cả số dân địa phương Riêng bang Sarawak, số lượng lao động nhập cư tương đối thấp Do đặc điểm của lao động Việt Nam chủ yếu là lao động phổ thông, trình độ tay nghề thấp, lực lượng lao động khá dồi dào và được đánh giá là cần cù, thông minh, giá thuê lao động rẻ nên việc thiếu hụt lao động của Malaysia sẽ là điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong thời gian tới So với một số thị trường khác trong khu vực cũng như một số thị trường truyền thống của Việt Nam, thị trường Malaysia là thị trường phù hợp với lao động Việt Nam hơn cả

Bên cạnh hình thức lao động nước ngoài di cư vào Malaysia để làm việc, cũng có một bộ phận không nhỏ người nước ngoài đến Malaysia sinh sống, học tập hoặc đầu tư Chính phủ Malaysia thực hiện chính sách “Second Home” khuyến khích người nước ngoài đầu tư vào thị trường bất động sản, cũng như việc chi phí sinh hoạt và học phí rẻ nên thu hút nhiều sinh viên và nhà đầu tư nước ngoài di cư vào Malaysia

1.2.3.2 Chủ trương của Chính phủ Malaysia về hợp tác lao động

Là một nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu trong khu vực và trên thế giới, nhưng Malaysia đã và đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động đặc

Trang 39

biệt lao động trình độ tay nghề thấp làm việc trong những ngành như sản xuất, chế tạo, xây dựng, nông nghiệp, dịch vụ Nguyên nhân là do lao động người bản xứ Malaysia không muốn làm việc trong những ngành trình độ thấp, nguy hiểm, độc hại, cùng với đó là xu hướng già hóa dân số Vì vậy, để giải quyết tình trạng trên, Chính phủ Malaysia đã đề ra chủ trương và các chính sách về hợp tác tuyển dụng lao động nước ngoài vào làm việc trong những ngành kinh tế này Thậm chí, hoạt động tuyển dụng lao động nước ngoài đã bắt đầu từ thế kỷ 19 khi Malaysia vẫn còn

là thuộc địa của Anh quốc và trải qua giai đoạn phát triển kinh tế nhanh chóng Sau thời gian dài phát triển đến ngày hôm nay, Malaysia vẫn là nước nhập khẩu lao động hàng đầu châu Á và khu vực Đông Nam Á Malaysia đã tiến hành ký kết nhiều Bản ghi nhớ và thỏa thuận quốc tế về tuyển dụng lao động với những nước

có nguồn lao động dồi dào và giá rẻ Chính phủ Malaysia chỉ cho phép nhận lao động của các nước là Indonesia, Thailand, Philipines, Bangladesh, Pakistan và Việt Nam Song lao động của các quốc gia khác cũng được phép nhập cư trên cơ sở lựa chọn tùy theo yêu cầu của công việc.Pháp luật Malaysia cũng quy định tương đối đầy đủ các chế độ đối với người lao động như mức lương tối thiểu, thời gian làm việc, làm thêm giờ, ngày nghỉ lễ, nghỉ phép, và các quy định về bảo hiểm lao động (các chế độ này áp dụng cho cả người lao động nước ngoài) sẽ được cụ thể hóa trong phần tiếp theo của luận văn Tuy nhiên, trong quá trình nhập khẩu lao động nước ngoài, Chính phủ Malaysia bộc lộ sự bối rối trong chính sách khi phải đối mặt với những khó khăn như: sự phụ thuộc quá mức của nền kinh tế vào lao động nước ngoài, tình trạng nhập cư bất hợp pháp Chúng ta có thể thấy những thay đổi liên tục, không ổn định trong chính sách nhập khẩu lao động của nước này Trước tình trạng nhập cư bất hợp pháp, Chính phủ Malaysia đã tiến hành các chiến dịch truy lùng và bắt giữ lao động trái phép hồi tháng 8/2002 và tháng 3/2005 đã buộc hàng trăm nghìn người, chủ yếu từ Indonesia phải chạy khỏi Malaysia để tránh bị bắt giữ, đánh đập và bị phạt, dẫn tới tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng trong

Trang 40

những lĩnh vực trồng trọt và xây dựng Để đối phó với tình hình này, Chính phủ Malaysia đã ra một số chính sách cởi mở hơn nhằm thu hút lao động nước ngoài, như cấp giấy phép tiếp nhận lao động trong ngày cho các chủ lao động thay vì phải chờ ít nhất vài tuần như trước đây Từ tháng 2/2016, Chính phủ Malaysia đưa ra chủ trương tạm dừng tuyển chọn mới lao động nước ngoài, trong đó có lao động Việt Nam vào Malaysia làm việc trong các ngành nghề chính thức nhằm rà soát lại tình hình lao động nước ngoài làm việc tại đây cũng như đánh giá lại chính sách thuế sử dụng lao động nước ngoài Đây là nguyên nhân làm chững lại hoạt động đưa lao động Việt Nam đi làm việc tại Malaysia trong những tháng đầu năm 2016 với tổng số lao động đi làm việc tại Malaysia trong 8 tháng đầu năm chỉ đạt 1.762 người

Ngày 24/8/2016, Bộ Ngoại giao Malaysia đã có thông báo chính thức về việc Chính phủ nước này quyết định cho phép tuyển dụng trên cơ sở xem xét từng trường hợp lao động mới từ các nước, trong đó có Việt Nam, cho ba lĩnh vực sản xuất, xây dựng và trồng trọt Trên cơ sở đó, Cục Quản lý lao động ngoài nước đang hướng dẫn các doanh nghiệp dịch vụ tiếp tục xúc tiến, khai thác các hợp đồng cung ứng lao động có điều kiện làm việc và tiền lương tốt cho thị trường này

Tuy có nhiều thay đổi trong chính sách để phù hợp với yêu cầu và lợi ích của quốc gia, song Malaysia vẫn duy trì và đảm bảo các cam kết đã thỏa thuận với các nước có quan hệ về hợp tác lao động trong đó có Việt Nam Đồng thời, hợp tác lao động quốc tế vẫn là một trong những trọng tâm chính sách nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động và phát triển kinh tế của nước này trong thời gian tới

Thủ tướng Malaysia Najib Razak mới đây khẳng định Malaysia sẽ cùng thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động Việt Nam đang làm việc tại Malaysia, đặc biệt là trong tiếp cận với các công việc có tay

Ngày đăng: 18/07/2017, 20:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Nguyên Anh (2009), Xuất khẩu lao động ở Việt Nam: thách thức và những vấn đề cần quan tâm, Hội thảo quốc gia về chương trình cử lao động giai đoạn 2009-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu lao động ở Việt Nam: thách thức và những vấn đề cần quan tâm
Tác giả: Đặng Nguyên Anh
Năm: 2009
2. Trần Vĩnh Bảo (2005), Một vòng quanh các nước: Malaysia, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vòng quanh các nước: Malaysia
Tác giả: Trần Vĩnh Bảo
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2005
3. Phạm Công Bảy (2003), Tìm hiểu pháp luật về xuất khẩu lao động, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu pháp luật về xuất khẩu lao động
Tác giả: Phạm Công Bảy
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
4. Nguyễn Thị Hồng Bích (2007), Xuất khẩu lao động của một số nước Đông Nam Á kinh nghiệm và bài học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuất khẩu lao động của một số nước Đông Nam Á kinh nghiệm và bài học
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Bích
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2007
6. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Thống kế lao động việc làm ở Việt Nam năm 2003, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kế lao động việc làm ở Việt Nam năm 2003
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
7. Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Cục Quản lý lao động ngoài nước, Tổng hợp số lao động, ngành nghề và thu nhập ở một số thị trường chính (từ 1992 đến 2009), tháng 3/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng hợp số lao động, ngành nghề và thu nhập ở một số thị trường chính (từ 1992 đến 2009)
9. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (1997), Thông tư số 17/TT-LĐTBXH ngày 24/4/1997 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 17/TT-LĐTBXH ngày 24/4/1997 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Năm: 1997
10. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2007), Quyết định số 18/2007/QĐ- BLĐTBXH ban hành chương trình bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 18/2007/QĐ-BLĐTBXH ban hành chương trình bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Năm: 2007
11. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2007), Quyết định số 19/2007/QĐ- BLĐTBXH ban hành “Quy định về tổ chức bộ máy hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và bộ máy chuyên trách để bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 19/2007/QĐ-BLĐTBXH ban hành “Quy định về tổ chức bộ máy hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và bộ máy chuyên trách để bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài”
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Năm: 2007
12. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2013), Quyết định số 1012/QĐ- LĐTBXH ngày 08 tháng 7 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý lao động ngoài nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1012/QĐ-LĐTBXH ngày 08 tháng 7 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý lao động ngoài nước
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Năm: 2013
13. Bộ trưởng Bộ Nội vụ (2004), Quyết định số 41/2004/QĐ-BNV ngày 21/05/2004 về việc phê duyệt Điều lệ của Hiệp hội xuất khẩu lao động Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 41/2004/QĐ-BNV ngày 21/05/2004 về việc phê duyệt Điều lệ của Hiệp hội xuất khẩu lao động Việt Nam
Tác giả: Bộ trưởng Bộ Nội vụ
Năm: 2004
14. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2003), Quyết định số 965/2003/QĐ- BLĐTBXH về việc phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty xuất khẩu lao động thương mại và du lịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 965/2003/QĐ-BLĐTBXH về việc phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của công ty xuất khẩu lao động thương mại và du lịch
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Năm: 2003
15. Tuấn Cường (2005), Thị trường xuất khẩu lao động Malaysia – kinh nghiệm Sona, Tạp chí lao động và xã hội, số 255, tr.32-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường xuất khẩu lao động Malaysia – kinh nghiệm Sona
Tác giả: Tuấn Cường
Năm: 2005
16. Nguyễn Thị Kim Chi, Nguyễn Thanh Tùng (2015), Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Malaysia trong bối cảnh hội nhập ASEAN, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam sang thị trường Malaysia trong bối cảnh hội nhập ASEAN
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Chi, Nguyễn Thanh Tùng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
17. Phạm Đức Chính, Hoàn thiện chính sách sử dụng nguồn nhân lực sau xuất khẩu lao động ở Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách sử dụng nguồn nhân lực sau xuất khẩu lao động ở Việt Nam
18. Nguyễn Mạnh Cường (2006), Vấn đề di chuyển thể nhân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Đề tài nghiên cứu khoa học, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề di chuyển thể nhân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Năm: 2006
19. Phạm Kiên Cường (1989), Tổ chức sử dụng có hiệu quả nguồn lao động xã hội của Việt Nam trong lĩnh vực đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức sử dụng có hiệu quả nguồn lao động xã hội của Việt Nam trong lĩnh vực đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
Tác giả: Phạm Kiên Cường
Năm: 1989
20. Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao (2011), Báo cáo tổng quan về tình hình dư cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng quan về tình hình dư cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài
Tác giả: Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao
Năm: 2011
76. IILS & ILO (2013), World of Work Report 2013: Repairing the Economic and Social Fabric, ISBN 978-92-9-251018-3, ILO, Switzerland,http://www.ilo.org Link
96. Institute of Labour Market Information & Analysis, Key Labour Statistic Table, ilmia.gov.myhttp://www.ilmia.gov.my/index.en.php Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w