Với tất cả những nỗ lực tìm tòi, khám phá, cách tân về tính năng thể loại, về nghệ thuật biểu hiện và phong cách cá nhân của các tác giả, nhiều tác phẩm hồi ký văn học của các nhà văn đã
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Tên đề tài luận án không trùng với bất cứ nghiên cứu nào đã đƣợc công bố Các tài liệu, số liệu, trích dẫn trong luận án là trung thực, khách quan và có nguồn gốc rõ ràng
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận án
Lê Thị Lệ Thủy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài: "Hồi ký văn học (của nhà
văn) trong văn học Việt Nam hiện đại nhìn từ góc độ thể loại", tôi đã nhận được
sự giúp đỡ, hướng dẫn chỉ bảo tận tình của các thầy, cô giáo trong khoa Văn học,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội Đặc biệt là sự hướng dẫn
khoa học của PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện và TS Nguyễn Thị Kiều Anh đã giúp
tôi hiểu sâu sắc vấn đề và hoàn thành luận án
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm -
Đại học Thái Nguyên, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận án
Tôi cũng tỏ lòng biết ơn tới gia đình cùng anh chị, bạn bè là những người đã
luôn bên cạnh động viên và ủng hộ tôi trong quá trình học tập
Mặc dù tôi đã cố gắng rất nhiều song đề tài vẫn không tránh khỏi những
thiếu sót, rất mong được sự giúp đỡ góp ý của quý các thầy cô, các nhà khoa học và
quý bạn đọc
Xin kính chúc quý thầy, cô và bạn đọc dồi dào sức khỏe và hạnh phúc!
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng năm 2017
Tác giả
Lê Thị Lệ Thủy
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích - Đối tượng nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Những đóng góp của luận án 4
7 Cấu trúc luận án 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5
1.1 Tình hình nghiên cứu lý luận hồi ký văn học ở Nga 5
1.2 Tình hình nghiên cứu hồi ký, hồi ký văn học ở Việt Nam 9
1.2.1 Nghiên cứu lý thuyết thể loại 9
1.2.2 Nghiên cứu quá trình phát triển 14
1.2.3 Nghiên cứu tác giả, tác phẩm 18
Tiểu kết Chương 1 24
Chương 2 THỂ LOẠI HỒI KÝ VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA
HỒI KÝ VĂN HỌC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 26
2.1 Giới thuyết về hồi ký, hồi ký văn học 26
2.1.1 Khái niệm hồi ký 26
2.1.2 Hồi ký văn học 29
2.2 Khái quát về hồi ký văn học trong nền văn học Việt Nam hiện đại 38
2.2.1 Quá trình hình thành phát triển 38
2.2.2 Nhận diện hồi ký văn học của các nhà văn Việt Nam 52
2.3 Hồi ký văn học dưới góc nhìn thể loại 54
2.3.1 Tôn trọng sự thật, kết cấu linh hoạt theo dòng hồi ức 54
2.3.2 Diễn ngôn theo phong cách của “cái tôi” tác giả 58
2.3.3 Phong phú đa dạng trong hình thức thể hiện nghệ thuật ngôn từ 61
Tiểu kết Chương 2 63
Trang 6Chương 3 HỒI KÝ VĂN HỌC CỦA CÁC NHÀ VĂN VIỆT NAM
NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT 64
3.1 Sự thể hiện sâu đậm cái tôi tác giả 64
3.1.1 Cái tôi hồi ức về tuổi thơ và những thiên hướng về nghề văn 64
3.1.2 Cái tôi trưởng thành trong nghiệp chữ 65
3.1.3 Những tâm sự, quan niệm về nghề và kinh nghiệm đúc rút trong cuộc đời viết văn 68
3.1.4 Nhu cầu dựng lại chân dung bạn bè, đồng nghiệp 73
3.2 Sáng tạo hình thức nghệ thuật phong phú đa dạng và hấp dẫn 82
3.2.1 Điểm nhìn trần thật độc đáo và đa dạng 82
3.2.2 Kết cấu phi tuyến tính, phức hợp, lồng ghép linh hoạt 87
3.2.3 Ngôn ngữ kết hợp tả, bình luận, lôi cuốn ấn tượng 91
Tiểu kết Chương 3 101
Chương 4. MỘT SỐ CÂY BÚT HỒI KÝ TIÊU BIỂU:
NGUYÊN HỒNG, TÔ HOÀI, VŨ BẰNG, MA VĂN KHÁNG 102
4.1 Nguyên Hồng và thể tài hồi ký - tự truyện 102
4.1.1 Nguyên Hồng - Nhà văn của những người cùng khổ 102
4.1.2 Hồi ký Nguyên Hồng - Những cảm xúc cực điểm về cuộc đời và trang viết 104
4.2 Tô Hoài và thể tài hồi ký - chân dung 112
4.2.1 Tô Hoài - Nhà văn của những cảm hứng đời thường 112
4.2.2 Hồi ký Tô Hoài - Những trang viết phác thực, hóm hỉnh 115
4.3 Vũ Bằng và thể tài hồi ký - tự truyện, hồi ký - chân dung 124
4.3.1 Vũ Bằng - Nhà văn của quê hương 124
4.3.2 Hồi ký Vũ Bằng - Nỗi nhớ da diết, ngọn bút tài hoa 126
4.4 Ma Văn Kháng và thể tài hồi ký văn chương hỗn hợp 138
4.4.1 Ma Văn Kháng - Người khuấy động văn đàn Việt Nam hiện đại 138
4.4.2 Hồi ký Ma Văn Kháng - Dòng hồi ức chân thực và giầu chất
triết luận, suy tư 140
Tiểu kết Chương 4 147
KẾT LUẬN 148
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hồi ký là một thể tài thuộc thể ký Nội dung của hồi ký tập trung vào hồi ức về số phận, đời tư của cá nhân hoặc những câu chuyện, sự kiện đã qua của cuộc đời Người viết hồi ký thể hiện nhu cầu chiêm nghiệm, nhận thức, khám phá bản thân và cuộc sống bằng những ghi chép dựa trên “người thật, việc thật” về chính tác giả hoặc về những con người và sự việc xảy ra cùng thời với tác giả nhưng đến thời điểm viết đã lùi vào quá khứ Qua hồi ức về cuộc đời mình, người viết hồi ký còn có khả năng xây dựng được chân dung của nhiều nhân vật cùng thời và phác họa gương mặt thời đại Hồi ký là một phương tiện hữu hiệu để người viết được ngược dòng thời gian, trở về quá khứ, lắng lại tâm hồn, suy xét nhận thức, kiểm chứng về sự việc đẹp đẽ hoặc đau buồn đã qua trong quá khứ nhưng vẫn còn hiện hữu trong thế giới tinh thần,
ám ảnh tâm can người cầm bút, thôi thúc được giải tỏa trên trang viết Viết hồi ký là
là con đường, là sự lựa chọn đích đáng để người cầm bút giãi bày tâm sự, bày tỏ tình cảm, bộc lộ suy ngẫm của mình Xét từ phương diện xã hội, lịch sử, hồi ký còn là nơi
để người viết thực hiện trên diễn đàn công khai sự minh định quá khứ cho chính bản thân mình hoặc những người gần gũi, thân thiết hay người mà mình cảm phục Bằng thể loại hồi ký, nhiều tác giả đã thể hiện cái tôi với nhiều trải nghiệm trước thăng trầm của cuộc sống nhiều biểu hiện những góc cạnh của cuộc sống Từ những tình cảm, suy nghĩ, tâm sự riêng, tác giả bộc lộ những tình cảm, suy ngẫm liên quan đến cuộc đời, lẽ sống và cả những vấn đề lớn về nhân dân, đất nước, lịch sử và nhân loại Hồi ký góp phần xác minh, khôi phục sự thật lịch sử liên quan đến một cá nhân, một nhóm người hoặc một cộng đồng, một thời đại Và điều quan trọng là, từ những trang viết có thông tin cá nhân và nội dung xã hội phong phú, tác phẩm hồi ký góp phần soi sáng hiện tại, đáp ứng được nhu cầu nhận thức thực tại của người đọc Khi phát huy hết công năng thể loại, hồi ký có đóng góp lớn trong việc chiêm nghiệm quá khứ, công bố sự thật, phán xét lại lịch sử, đạt đến chiều sâu triết lí nhân sinh Tuy hình thành và phát triển tương đối muộn hơn một số thể loại văn học khác trong văn học Việt Nam, nhưng hồi ký đã nhanh chóng phát huy những đặc điểm ưu trội của nó
để ngày càng trở nên phong phú, đa dạng, khẳng định một vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại; trong đó phải kể đến vị trí, vai trò của các tác phẩm hồi
ký văn học của các nhà văn
Trang 8Hồi ký văn học của các nhà văn không chỉ phản ánh nhu cầu tự biểu hiện cái tôi
cá nhân của nhà văn mà còn phản ánh diện mạo phong phú, mới mẻ của đời sống xã hội, đời sống văn học nước nhà qua các chặng đường lịch sử, xã hội khác nhau
Trong các tác phẩm Những ngày thơ ấu (Nguyên Hồng), Đặng Thai Mai hồi ký (Đặng Thai Mai), Cát bụi chân ai, Chiều chiều (Tô Hoài),… những kỉ niệm chung -
riêng, xa - gần không rời rạc tản mát mà gắn kết thành những câu chuyện xúc động, hấp dẫn về văn chương, nghệ thuật, về đồng nghiệp gắn với cuộc đời riêng của tác giả Với tất cả những nỗ lực tìm tòi, khám phá, cách tân về tính năng thể loại, về nghệ thuật biểu hiện và phong cách cá nhân của các tác giả, nhiều tác phẩm hồi ký văn học của các nhà văn đã đạt đến độ chín của thể loại hồi ký trong văn học hiện đại Việt Nam, có đóng góp tích cực đối với đời sống xã hội và đời sống văn học, góp phần làm nên diện mạo đặc sắc của thể loại hồi ký trong nền văn học nước nhà Tuy vậy, tìm hiểu các công trình nghiên cứu về hồi ký trong nền văn học Việt Nam hiện đại, chúng tôi thấy còn ít công trình đi vào tập trung nghiên cứu chuyên
sâu về hồi ký văn học của các nhà văn Chính vì thế tác giả luận án chọn đề tài “Hồi
ký văn học (của nhà văn) trong văn học Việt Nam hiện đại nhìn từ góc độ thể loại” hy vọng sẽ có điều kiện tìm hiểu sâu và khám phá mới về thể loại văn học độc
2.1.1 Xác lập một cách hợp lý, đầy đủ về khái niệm hồi ký văn học trên cơ sở
đó làm rõ loại hình và đặc trưng thể loại của hồi ký văn học
2.1.2 Khái quát những chặng đường phát triển và quy luật vận động của thể
loại hồi ký văn học (của nhà văn) trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay
2.1.3 Khẳng định những đóng góp của thể loại hồi ký văn học, cả về nội dung
và nghệ thuật, làm phong phú thêm diện mạo văn xuôi Việt Nam hiện đại
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những tác phẩm hồi ký của các nhà văn Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay; bao gồm cả hồi ký tự truyện và hồi ký chân dung văn học
Trang 93 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận của thể loại hồi ký và hồi ký văn học
- Sưu tầm, phân loại, xác định diện mạo và đóng góp của hồi ký văn học trong văn học Việt Nam hiện đại
- Làm rõ những đặc điểm nội dung và nghệ thuật thể hiện của hồi ký văn học, đi sâu vào một số cây bút tiêu biểu của thể tài
4 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát các tác phẩm hồi ký văn học của các tác giả trong văn học Việt Nam hiện đại; trong luận án này, chúng tôi chỉ nói tới hồi ký của những tác giả là hội viên Hội nhà văn Việt Nam trong đó, tập trung vào một số cây bút tiêu biểu: Tô Hoài, Nguyên Hồng, Vũ Bằng, Ma Văn Kháng
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài chúng tôi vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích- tổng hợp: Phương pháp phân tích tổng hợp được xem
là phương pháp chủ đạo được sử dụng trong xuyên suốt đề tài Trên cơ sở sử dụng và phân tích các tác phẩm hồi ký văn học tiêu biểu được chọn làm đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sẽ phân tích và tổng hợp nhằm tìm ra những đặc điểm riêng biệt của hồi ký văn học của các nhà văn trong giai đoạn này
- Phương pháp loại hình: Dựa vào đặc trưng của thể loại để lựa chọn tác phẩm
khảo sát và định hướng khảo sát sao cho làm nổi bật những nét khu biệt của các dạng thức hồi ký so với các thể loại khác
- Phương pháp so sánh: Trong quá trình nghiên cứu hồi ký thì phương pháp so
sánh là không thể thiếu Nghiên cứu sử dụng phương pháp này nhằm tìm hiểu chung
về quá trình hoạt động và phát triển của hồi ký văn học qua các thời kỳ dựa trên cơ
sở so sánh, đối chiếu với các thể loại hồi ký khác, và với các thể loại khác So sánh bút pháp tự sự của các nhà văn khác nhau khi viết hồi ký
- Phương pháp hệ thống: Đề tài sử dụng phương pháp hệ thống nhằm xem xét
và đánh giá sự vận động của hồi ký văn học của các nhà văn Việt Nam trong sự vận động chung của văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại Bên cạnh đó vận dụng các đặc điểm của quá trình vận động thể loại hồi ký nhằm để phân tích, cụ thể hóa những đặc trưng cơ bản của thể loại hồi ký văn học của các nhà văn
Trang 10- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: nghiên cứu vấn đề trong bối cảnh lịch sử
- xã hội cùng thời để tiến hành khảo sát và đánh giá Xem xét tiến trình vận động của văn học với lịch sử văn hóa kết hợp với góc nhìn hiện đại khi lý giải các sự việc, hiện tượng có liên quan về hồi ký văn học
6 Những đóng góp của luận án
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về hồi ký văn học xác định rõ đặc điểm thể loại hồi ký văn học, tìm hiểu phân tích và đánh giá sự phát triển của hồi ký văn học và những cây bút hồi ký văn học tiêu biểu, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu thưởng thức hồi ký văn học khẳng định những đóng góp của hồi ký văn học đối với đời sống xã hội và nhất là đóng góp về mặt phát triển thể loại
- Sưu tầm, phân loại hồi ký văn học của các nhà văn qua các thời kỳ
- Luận án có những đóng góp về mặt tư liệu (sưu tầm hơn 50 tác phẩm hồi ký văn học) tham khảo thiết thực đối với việc nghiên cứu giảng dạy, học tập văn học Việt Nam hiện đại
7 Cấu trúc luận án
Phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án
gồm bốn chương:
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2 THỂ LOẠI HỒI KÝ VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA
HỒI KÝ VĂN HỌC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Chương 3 HỒI KÝ VĂN HỌC CỦA CÁC NHÀ VĂN VIỆT NAM NHÌN TỪ
PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT
Chương 4 MỘT SỐ CÂY BÚT HỒI KÝ TIÊU BIỂU: NGUYÊN HỒNG,
TÔ HOÀI, VŨ BẰNG, MA VĂN KHÁNG
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu lý luận hồi ký văn học ở Nga
Hồi ký là một thể loại nằm trong một bộ phận của ký văn học Đáng chú ý là nó
có mối liên hệ đặc biệt với hồi ký ở Nga Chính vì vậy, khi nhìn về lịch sử nghiên cứu của hồi ký, chúng tôi có xem xét tình hình nghiên cứu hồi ký ở Nga, coi đó như là một
sự đối sánh cần thiết để tìm kiếm con đường nghiên cứu hồi ký văn học ở Việt Nam
Thuật ngữ hồi ký (tiếng Latinh: Memoria; tiếng Anh Memoir; tiếng Pháp
Mémoires) ra đời muộn nhưng tiền thân của hồi ký vốn xuất hiện từ rất sớm Qua tiến trình lịch sử, đến nay hồi ký đã hiện diện với tính chất một thể tài có vị trí quan trọng trong đời sống văn học Hồi ký là thể tài phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nước trên thế giới Đã có nhiều ý kiến bàn về hồi ký về khái niệm và đặc trưng của thể loại này
Mặc dù có những quan điểm không tách bạch trên phương diện lý thuyết thể loại giữa hồi ký và các thể tài khác trong ký, nhưng dù muốn hay không hồi ký với tư cách là một thể tài vẫn tồn tại như một thực tế được thừa nhận Đáng chú ý là số lượng hồi ký trên thế giới và ở Việt Nam vô cùng phong phú nhưng lại không dễ đưa
ra một định nghĩa thống nhất, cho phép khái quát hết các đặc điểm của thể loại Trong lịch sử văn học, khái niệm hồi ký và những vấn đề lý thuyết thể loại luôn là vấn đề gây tranh cãi Không những với người nghiên cứu mà với người sáng tác, các
ý kiến, định nghĩa hồi ký không chỉ thay đổi theo thời gian mà còn có nhiều điểm khác biệt tùy vào quan điểm mỹ học của từng tác giả
Từ những năm đầu thế kỷ XIX, lý thuyết hồi ký đã được nghiên cứu ở Nga V
Belinsky đã đưa ra định nghĩa về hồi ký mà nhiều nhà nghiên cứu đương đại vẫn
tham khảo vào đó: “…Hầu hết các cuốn hồi ký hoàn toàn xa lạ về ý nghĩa, chỉ có giá trị về mức độ truyền đạt chính xác và đáng tin cậy các sự kiện thực tế, hầu hết các cuốn hồi ký nếu được viết một cách điêu luyện thì sẽ tạo nên một mặt cuối cùng trong lĩnh vực tiểu thuyết khi tự nó kết thúc”[163, tr.16] Vì vậy, nhà phê bình đã coi hồi ký là một phần cấu thành của thể loại văn học sử thi Ông đã xem “các sự kiện lịch sử có trong các nguồn không hơn những hòn đá hay những viên gạch: chỉ người nghệ sĩ mới có thể dựng nên một tòa nhà sang trọng từ vật liệu này” Belinsky cho rằng quan trọng không phải đơn giản chỉ là việc liệt kê các sự kiện, mà là việc lựa chọn chúng, việc tác giả biết xây dựng từ chúng một bức tranh biểu cảm [163, tr.16] Khi đề xuất hình mẫu của sự kiện được miêu tả với tư cách là dấu hiệu bắt buộc của hồi ký, Belinsky vì thế đã công nhận hồi ký là một thể loại văn học có đầy đủ
Trang 12thẩm quyền mà trong đó có sự lựa chọn và tổ chức các sự kiện theo ý định của tác giả, xây dựng hình mẫu nghệ thuật Vì vậy, Belinsky đã áp dụng cho các cuốn hồi ký chính những tiêu chí nghệ thuật như đã áp dụng với các tác phẩm văn học khác Khi xếp hồi ký vào các thể loại “biên giới” của văn học viễn tưởng, Belinsky đồng thời nhận thấy sự không đồng nhất về thể loại của chúng Quả thực vào thời của ông, các cuốn hồi ký không được trình bày như một hiện tượng thống nhất Trong một số tác phẩm, các tác giả kể lại các sự kiện, còn trong một số tác phẩm khác, họ lại cố gắng tái dựng bức tranh tượng trưng của quá khứ Vì vậy Belinsky đã bổ sung
và làm rõ các tính chất mà ông đã phác thảo của hồi ký trong các đánh giá riêng và các bài viết khái quát như “liệt kê” các dấu hiệu của chúng như một sự hình thành thẩm mỹ riêng Với tư cách là tài liệu chính, Belinsky đã lựa chọn chính các cuốn hồi
ký của các nhà văn chứ không phải những người đại diện của các ngành nghề khác
Nhận xét của N Chernyshevsky đối với các tác phẩm tự truyện của Derzhavin
và L Tolstoy đã chỉ ra các đặc điểm tổ chức thẩm mỹ của các tác phẩm này Nhà phê bình cho rằng các tác phẩm hồi ký thường dựa trên các sự kiện đã xảy ra vào thời gian nào đó - “về các sự kiện này, hoặc là chúng được kể lại một cách không thỏa đáng, hoặc chúng được tác giả lựa chọn một cách thiếu kinh nghiệm, dù sao bạn cũng có thể biết được các tập tục của thế kỷ, với những gì đã xảy ra trong thế giới khi đó” [164, tr.326]
Chernyshevsky cũng ghi nhận sự tồn tại của hình ảnh được điển hình hóa của thực tế: “…Giống như sức mạnh của trí nhớ, nó không trong tình trạng giữ lại tất cả các chi tiết, đặc biệt là các chi tiết không quan trọng đối với bản chất của vấn đề, mà chỉ những chi tiết cần cho sự hoàn thiện về mặt nghệ thuật của câu chuyện và cần được vay mượn từ các cảnh khác mới còn lại trong trí nhớ” [164, tr.326]
Như vậy, chính Belinsky và Chernyshevsky ngay trong thế kỷ XIX đã xác định rằng các cuốn hồi ký của các nhà văn cũng có những chất lượng như các tác phẩm văn học khác: trong đó có sự điển hình hóa thực tế, có quan điểm lịch sử đối với những sự kiện được miêu tả và sự lựa chọn các sự kiện Sự đặc biệt của chúng được quy định bởi quan điểm cá nhân đối với những sự kiện được miêu tả, khả năng thể hiện dưới hình thức cá nhân những sự kiện đã trải qua và đã nhìn thấy
Những ý kiến của các nhà phê bình đã xác định vị trí của các cuốn hồi ký trong tiến trình văn học Nhưng chính mức độ phát triển của phê bình văn học, sự ưu thế của phương pháp tiếp cận lịch sử đã dẫn đến việc trong hầu hết các công trình, các vấn đề về phân loại các thể loại chưa được xem xét một cách đầy đủ Thường thì những người nhận xét đầu tiên không phải là những nhà phê bình và các nhà phê
Trang 13bình văn học không chuyên mà là các nhà văn Vì vậy, vào thế kỷ XIX, hoạt động đánh giá tất cả các ấn phẩm quan trọng loại này còn chưa có các thông tin phản hồi
và không mang tính chất hệ thống
Cuối thế kỷ XIX, trong Bách khoa toàn thư của F Brokhaus và I Efron đã xuất hiện mục từ vựng đầu tiên dành riêng cho các xu hướng phát triển của thể loại và được đề xuất phân chia hồi ký thành chiến tranh, “hòa bình”, đời thường, văn chương Cần lưu ý rằng, sự phân chia hồi ký theo dấu hiệu đề tài và nghề nghiệp được đề xuất trong Bách khoa toàn thư đã được duy trì cả trong các tác phẩm tiểu sử tiếp theo Có thể đưa ra làm mẫu công trình năm tập của S Mintslov “Việc lựa chọn các ghi chép, nhật ký, hồi ký, thư từ và những hành trình liên quan đến lịch sử nước Nga và được in bằng tiếng Nga” [165, tr.70-74]
Quan điểm của Ts Volpe trong cuốn Nghệ thuật của sự khác biệt, đã xem thể
loại hồi ký như một hiện tượng văn học được hình thành và chỉ ra rằng hồi ký là một thành phần có đầy đủ thẩm quyền trong tiến trình văn học Volpe lần đầu tiên đặt câu hỏi về vai trò của phương pháp hồi ký trong sáng tác của các nhà văn các trào lưu khác nhau như B Lifshits và A Bely, M Zoschenko và A Grin [166] Tuy nhiên, vì những điều kiện khách quan (sự đàn áp của những năm ba mươi và các hiện tượng chiến tranh) mà các kết luận của Volpe chỉ được sử dụng trong nghiên cứu văn học vào những năm chín mươi
Trong bách khoa toàn thư của thế kỷ XX viết “Văn học hồi ký” đã được xuất hiện vào đầu những năm ba mươi Một trong những tác giả của nó là N Belchikov Trong phần bài viết của mình, ông đã theo lịch sử xuất hiện thể loại này, xác định các đặc điểm thể loại hình thức của nó Belchikov đã đưa ra một trong những tiêu chí phân loại đầu tiên khi phân chia các hình thức riêng, gọi tên trong số đó những cuốn nhật ký, ghi chép, các tác phẩm tiểu sử và tự truyện và cuối cùng là hình thức tự thổ
lộ Đồng thời nhà nghiên cứu đã giải nghĩa các đặc điểm chính của chúng
Nhà nghiên cứu đã lựa chọn sự phát triển của các hình thức thể loại (từ đơn giản hơn đến phức tạp) như là tiêu chí chính Belchikov đã lưu ý rằng các cuốn hồi
ký của các nhà văn đã lập nên một phần riêng trong sáng tác của họ nhờ có các đặc điểm riêng Quan điểm được hình thành truyền thống đối với chúng như một nguồn lịch sử là không toàn diện Các cuốn hồi ký không chỉ cho thấy giá trị lịch sử mà còn
có giá trị nghệ thuật, vì vậy chúng cần phải được nghiên cứu cùng với các tác phẩm khác của các nhà văn Về cơ bản trong bài viết này, lần đầu tiên đã hình thành chương trình nghiên cứu khoa học toàn vẹn đối với các cuốn hồi ký như một thể loại
Trang 14Vào năm 1948 chuỗi “Những cuốn hồi ký văn học” đã bắt đầu ra đời và đến cuối những năm 50 lại xuất hiện cả những loạt hồi ký như:“Những cuốn hồi ký sân khấu”, “Những cuốn hồi ký chiến tranh”, “Các nhà văn viết về chính mình” Khối lượng lớn các tác phẩm hồi ký xuất hiện trong thời gian này đã cho phép một số nhà phê bình nói về sự bắt đầu giai đoạn hai của sự phát triển hồi ký thế kỷ XX
Trong chuyên đề của V Kardin Hôm nay nói về hôm qua (1961) trong tư liệu
thực tế lớn, tác giả chỉ ra rằng đã có những luật lệ áp dụng một tác phẩm văn học bất
kỳ cũng được áp dụng cho hồi ký Ngoài ra, trong công trình này cũng tìm thấy những ý kiến trái ngược, một mặt Kardin yêu cầu hồi ký phải thóat khỏi những điều nhỏ nhặt, mặt khác ông ủng hộ sự chính xác thực tế của những sự kiện được miêu tả Cần phải lưu ý rằng khi công nhận giá trị của thành phần tài liệu, tác giả cho rằng đối với các cuốn hồi ký văn chương (mà ông gọi là hồi ký kinh điển) cần phải nói không phải về độ chính xác thực tế mà là tính xác thực tâm lý Kardin coi những cuốn hồi
ký mà trong đó tác giả thành công trong việc chỉ ra sự phản chiếu của lịch sử trong
số phận cá nhân của mình là những cuốn hồi ký nghệ thuật
Gần như đồng thời với các công trình của Kardin đã xuất hiện những công trình của M Kuznetsov Khi lưu ý rằng văn xuôi hồi ký là một hiện tượng nghệ thuật toàn vẹn, Kuznetsov chỉ ra rằng “các vấn đề được đặt ra trong đó nằm ở chính trung tâm của những quyền lợi tinh thần của hiện tại” [170, tr.147]
Mặc dù tác giả không nói về các cuốn hồi ký như một thể loại nhưng ông phân
ra các dạng riêng (truyện hồi ký, tiểu thuyết hồi ký, sử thi hồi ký) Ông cho rằng, nếu
chúng ta gọi tác phẩm Quá khứ và suy nghĩ của Gertsen (1852-68) là tiểu thuyết thì
có thể nói rằng Câu chuyện về cuộc đời (1945-63) của K Paustovsky và Con người
Năm tháng Cuộc đời (1960-1965) của I Erenburg cũng là những cuốn tiểu thuyết
Trong công trình của M Bilinkis, các cuốn hồi ký được nghiên cứu như một không gian văn bản đặc biệt: “Văn học hồi ký là thể loại hồi ký riêng, khi đó giống như văn bản hồi ký (thông báo về sự kiện mà theo sự công nhận của tác giả thì nó là bằng chứng của sự kiện đó) có thể bao gồm trong các tác phẩm của các thể loại khác Các văn bản có thể giao nhau, có nghĩa là tồn tại trong một thể loại, các thể loại không giao nhau trong môi trường độc giả đồng nhất Ví dụ, vào thế kỷ XVIII “Câu chuyện về cuộc đời”, của Avvakum đã được nhận thức bởi những người đương thời chỉ giống như một câu chuyện về cuộc đời, đặc biệt mục tiêu của nhận thức đó được trình bày trong tên gọi của văn bản Chỉ đến thế kỷ XX văn bản này mới có thể được như một văn bản hồi ký hoặc tiểu thuyết” [171, tr.9]
Trang 15Theo ý kiến của Levitsky, “người viết hồi ký khi tái dựng một phần thực tế trong lĩnh vực tầm nhìn của mình, chủ yếu dựa trên các ấn tượng và hồi ức trực tiếp của mình; thì ở khắp nơi hoặc chính người viết hoặc quan điểm của người đó đối với
sự kiện được miêu tả cần phải làm cho nổi bật Sự không đầy đủ của sự kiện và tính phiến diện của thông tin hầu như không thể tránh khỏi được đổi lại trong các cuốn hồi ký bằng sự thể hiện một cách sống động và trực tiếp cá tính của tác giả, là “tài liệu” có giá trị của thời gian” [172, tr.216]
Yu Petlyakov lưu ý rằng “khi thể hiện các cuốn hồi ký như “thể hồi ký-tự truyện”, thông thường các nhà nghiên cứu gắn kết khái niệm chung chung “hồi ký”
và cụ thể - “tự truyện”, thuật ngữ thể hiện trong một loạt các trường hợp là một trong những thể loại văn học hồi ký [167, tr.4] Nhà nghiên cứu đề xuất tên gọi các cuốn hồi ký (hồi ức) bằng thuật ngữ “văn học hồi ký” và bao hàm trong đó sự hình thành thể loại hình thức như một loại hình
Yu Petlyakov cho rằng việc xác định ban đầu của các tác phẩm viết về quá khứ, nơi quan điểm cá nhân đối với quá khứ chiếm ưu thế, như các cuốn hồi ký, là chính xác hơn Vì vậy việc phân chia tiểu thuyết tự truyện và tiểu thuyết hồi ký tiểu
sử như các loại hình hồi ký của các nhà văn là hợp lý
Những nghiên cứu này thực sự cần thiết không chỉ với người viết hồi ký mà cả với tác giả luận án Đây là những gợi mở để người viết phân tích những vấn đề kỹ thuật viết hồi ký của nhà văn
1.2 Tình hình nghiên cứu hồi ký, hồi ký văn học ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu lý thuyết thể loại
So với các thể loại khác, hồi ký xuất hiện muộn Ở Việt Nam những năm 30, 40 của thế kỷ XX, hồi ký mới xuất hiện và mãi những thập niên cuối thế kỷ XX mới phát triển và đạt được những thành tựu như một thể loại độc lập Nên hầu hết các công trình
lý luận - phê bình, các công trình văn học sử, đều dành sự quan tâm nhiều hơn đến đặc điểm và thành tựu của thể loại ký - một mảng văn xuôi quan trọng của mọi thời kỳ phát triển của văn học viết Hồi ký thường chỉ được nhắc qua như một tiểu loại giàu chất tự sự, và tất nhiên phải chịu sự chi phối từ những đặc điểm loại hình của ký Là một bộ phận của ký văn học, hồi ký văn học càng được thu hẹp trong một phạm vi tác giả và tác phẩm Mỗi tác giả lại chỉ có thể viết một số hồi ký với số lượng tối đa vài cuốn Một phần vì vậy nên chưa có nhiều công trình chuyên về hồi ký
Đã có một số công trình nghiên cứu hoặc tập hợp những bài nghiên cứu về hồi
ký với tư cách là một thể loại của ký trong đó có đề cập đến khái niệm thể loại Đáng
chú ý là các công trình dịch từ giáo trình lưu hành ở Nga Dẫn luận nghiên cứu văn
Trang 16học hai tập do Pospelop chủ biên (Nxb Giáo dục 1985); tác giả Hà Minh Đức trong
cuốn Lý luận văn học (Nxb Giáo dục - 1995); tác giả Phương Lựu trong cuốn Lý luận
văn học (Nxb Giáo dục - 2004); tác giả Trần Đình Sử trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (Nxb Giáo dục - 2007); tác giả Đức Dũng trong cuốn Ký văn học và ký báo chí (Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội - 2003) Mặc dù chưa có một định nghĩa nhất
quán nhưng thuật ngữ hồi ký đã được nhiều tác giả công trình lý luận, từ điển và người viết hồi ký định danh
Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
đồng chủ biên), đã định nghĩa hồi ký là “một thể loại thuộc loại hình ký, kể lại
những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến” [51, tr.127]
Trong Từ điển văn học, tập 1 (Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu
chủ biên nhấn mạnh “Hồi ký…nhằm ghi lại những sự việc thuộc quá khứ, qua sự
nhớ lại…người viết hồi ký lấy bản thân mình làm địa bàn chính để nhớ lại sự việc đã
qua” [54, tr.319] Trong công trình Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Phan Cự Đệ chủ biên), thừa nhận “Ký bao gồm nhiều thể chủ yếu dưới dạng văn xuôi tự sự như bút
ký, hồi ký, du ký, nhật ký, phóng sự, tùy bút…” [30, tr.428]
Trong cuốn Lý luận văn học (Nhà xuất bản Giáo dục) Phương Lựu đã quan
niệm“ loại hồi ký với đặc điểm là chủ thể trần thuật phải là người trong cuộc kể lại những sự việc trong quá khứ Hồi ký có thể nặng về người hay việc, có thể kết cấu theo dạng kết cấu - cốt truyện hoặc kết cấu - liên tưởng [101, tr.436]
Bên cạnh đó là những phần nghiên cứu thuộc các công trình có tính lý luận
chung như Ký báo chí và ký văn học (Đức Dũng), Năm bài giảng về thể loại (Hoàng
Ngọc Hiến) Đức Dũng đặt ký văn học trong “các thể ký tự sự” cùng với ký sự,
phóng sự văn học, truyện ký và chân dung văn học Người viết đã cung cấp cho chúng ta những thông tin cần thiết về tiểu loại này Ông đặt nó trong mối tương quan giữa cái tổng thể (hồi ký) với cái cá biệt (hồi ký văn học) để thấy điểm thống nhất giữa chúng cũng như đánh giá cao hơn vai trò, vị trí của hồi ký văn học trong hồi ký nói chung
Hà Minh Đức trong cuốn Lý luận văn học đã tiếp tục giới thuyết về hồi ký Hà
Minh Đức định nghĩa: “Hồi ký là một thể văn quan trọng”; “đối tượng miêu tả của
hồi ký thường là những nhân vật xuất sắc trong lịch sử như cuộc đời của những nhà hoạt động chính trị, các anh hùng chiến sĩ nhiều kì công, kì tích, trong nhiều vấn đề không chỉ giới hạn ở phạm vi trên mà thực ra cuộc đời của mỗi con người đều có thể ghi lại thành hồi ký với điều kiện là những trang viết đó có ý nghĩa xã hội quan trọng
Trang 17gợi lên được những nhận thức chung có ích cho mọi người‟ [38, tr.230] Trong tài liệu này, hồi ký của các nhà văn được đánh giá là những những tác phẩm có sức hấp dẫn Các tác giả đã gợi ra một vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, đó là hồi ký văn học của các nhà văn
Trước đó, các nhà nghiên cứu, phê bình, các nhà văn từ trước tới nay cũng đã đưa ra những cách hiểu của mình về hồi ký Trong bài “Viết hồi ký về đề tài lực
lượng vũ trang cách mạng”, (năm 1961) Minh Xuân đã định nghĩa về hồi ký: “Hồi
ký nằm trong thể chung của bút ký nhằm ghi chép lại những sự việc đã xảy ra trong quá khứ” [41, tr.11] Tác giả nêu rõ những đặc điểm mang tính lý luận của thể loại hồi ký: “hồi ký có tính chất lịch sử và tính chất văn học” [40, tr.12-16]; yêu cầu người viết hồi ký phải “chọn được chủ đề và xác định tư tưởng chủ đề”, phải biết
“biểu hiện nhân vật và hoàn cảnh” [41, tr.20] Như vậy, “hồi ký cũng là một thể loại văn học Trong hồi ký không yêu cầu tập trung xây dựng nhân vật điển hình kiểu nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết nhưng khi theo dõi câu chuyện người đọc vẫn cố gắng tìm trên trang sách bóng dáng con người thật Trong một hồi ký không nên chỉ
kể toàn sự việc mà phải biết đưa ra những điều người đã chứng kiến hay làm sự việc
ấy cảm gì, nghĩ gì có như thế hồi ký mới có sức truyền cảm người đọc” [41, tr.21] Lí thuyết về hồi ký của tác giả Minh Xuân có ý nghĩa đánh dấu khởi điểm quá trình nghiên cứu lí thuyết hồi ký trong nền văn học hiện đại Việt Nam
Trong bài viết “Bàn thêm về viết hồi ký” Xuân Thiêm đã đi sâu vào vấn đề
quan trọng của lí luận hồi ký là “cái tôi” của người viết Theo tác giả: “khi viết hồi
ký về cá nhân mình thì cứ kể một cách thoải mái miễn là kể sao cho trung thực, có sao viết nấy” [41] Xuân Thiêm rất lưu ý việc biểu hiện cái tôi tác giả như thế nào cho đúng Tác giả hồi ký viết những chuyện mình đã sống thật cho nên nhân vật trung tâm thường là ngôi thứ nhất, là chính tác giả hoặc những người có liên quan chặt chẽ đến “cái tôi” đó Vấn đề lí luận về nhân vật và chi tiết sự kiện cũng được Xuân Thiêm đề cập rõ: “Hồi ký đòi hỏi người viết phải bám vào người thật việc thật một cách nghiêm túc chặt chẽ” [41, tr.20]
Từ vị trí của người sáng tác, nhà văn Tô Hoài - nhà văn rất thành công trong
thể loại hồi ký cũng đưa ra nhận định riêng của mình về thể loại này: “Ký là một thể loại mang tính cách riêng, tính cách của một lối viết ra những cảm xúc trước sự việc mắt thấy, tai nghe Ký có lối xây dựng chủ đề, nhân vật, kết cấu, tình tiết, ngôn ngữ… riêng biệt” [61] Chính từ quan niệm đó mà hồi ký của Tô Hoài có những đặc điểm riêng Một mặt nó tuân theo những yêu cầu riêng của hồi ký, một mặt nó in
Trang 18đậm cá tính sáng tạo của nhà văn Những cuốn hồi ký như Cát bụi chân ai, Chiều
chiều, Cỏ dại là những tác phẩm tiêu biểu minh chứng cho điều này
Tác giả Hoàng Như Mai trong bài viết “Vấn đề giảng dạy văn học theo loại
thể”, đã trình bày đặc điểm nội dung của hồi ký: “Hồi ký ghi lại những sự việc đã
qua nhưng những sự việc ấy không phải thuộc vào một thời lịch sử xa xôi mà phải gần gũi, có liên quan khá mật thiết đến hiện tại Hồi ký do những người đang còn sống kể lại” [102, tr.66] Tác giả nhấn mạnh vào giá trị lịch sử của hồi ký: “Hồi ký
chỉ có giá trị khi nào những sự việc được ghi lại, những con người được nói đến có một tầm quan trọng trọng lịch sử đáng chú ý” [102, tr.66] Nhà nghiên cứu đưa ra tiêu chí phân biệt giữa hồi ký và tự truyện: “Những điểm khác nhau cơ bản giữa hồi
ký và tự truyện là ở chỗ tự truyện thiên về kể lại những chuyện thân mật bình thường nhiều hơn mà hồi ký thì thiên về những sự kiện có tính lịch sử” [102, tr.66] Theo chúng tôi, bước phát triển có ý nghĩa lí luận trong tài liệu nghiên cứu và giảng dạy về hồi ký của tác giả Hoàng Như Mai là sự phân biệt giữa hồi ký và tự truyện
Tác giả Hà Minh Đức trong công trình Ký viết về chiến tranh cách mạng và
xây dựng chủ nghĩa xã hội (năm 1980), đã phân biệt ký báo chí và ký văn học Đặc
trưng cơ bản của ký báo chí vẫn là báo chí, tôn trọng tính xác thực và tính thời sự Còn ký văn học đặc trưng cơ bản của nó là văn học, tức phản ánh đời sống bằng hình tượng thông qua những cảm xúc của người viết Trong ký văn học người viết có thể
hư cấu trong chừng mực không phá vỡ khuôn khổ của người thật việc thật Về các thể ký văn học ông phân chia bảy thể tài thuộc ký văn học là: ký sự, phóng sự, truyện
ký, hồi ký, bút ký chính luận, nhật ký và tùy bút Trong hồi ký chia các thể ký văn học ông lưu ý đến hai thể tài đặc biệt là hồi ký cách mạng có giá trị văn học và hồi
ký của các nhà văn, nhưng ông chưa gọi hồi ký của các nhà văn là hồi ký văn học
Công trình Ký viết về chiến tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội của tác
giả Hà Minh Đức vừa có giá trị thực tiễn, khẳng định vị trí, vai trò và sự đóng góp của thể ký nói chung đối với sự nghiệp chiến đấu và xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước trong một thời kì lịch sử quan trọng; vừa có ý nghĩa đóng góp về phương diện lí luận văn học, làm rõ thêm những đặc điểm thể loại của ký văn học, đặc biệt là quan niệm về giá trị văn học của hồi ký và sự phân loại ký văn học Đây là những tiêu chí mà người nghiên cứu hồi ký rất cần quan tâm
Nguyễn Văn Dân có bài viết trên Vietnam net: “Hồi ký văn học - tiềm năng và
hạn chế” trình bày một số phương diện về hồi ký Theo ông thông thường hồi ký có hai loại: “(1) Loại hồi ký do những người nổi tiếng và những nhân vật quan trọng
Trang 19viết về những sự kiện trong cuộc đời của họ hoặc về những sự kiện được họ chứng kiến, nhất là những sự kiện quan trọng (2) Loại hồi ký do những người bình thường viết về những nhân vật và sự kiện quan trọng”[20] Về ưu thế của hồi ký văn học, tác giả khẳng định: “Thế mạnh của hồi ký văn học là nó cung cấp các tư liệu về người thật việc thật dưới hình thức nghệ thuật văn chương nhưng không hư cấu” [21, tr.41] Bài viết này đã “chạm” tới vấn đề cốt lõi về lí thuyết thể loại của hồi ký văn học, đó
là sự kết hợp giữa “tư liệu về người thật việc thật” và “hình thức nghệ thuật văn chương”; giữa giá trị tư liệu chân thực “không hư cấu” của hồi ký và giá trị thẩm mĩ của một tác phẩm văn học Người viết hồi ký văn học phải giải quyết tốt mối quan hệ này mới tạo được tác phẩm có giá trị
Tìm hiểu các công trình nghiên cứu và tài liệu viết về hồi ký, chúng tôi nhận thấy, các công trình nghiên cứu chuyên sâu về lí thuyết thể loại của hồi ký có số lượng còn ít so với các công trình nghiên cứu lí thuyết thể loại thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, ; những vấn đề lí luận chung về hồi ký được trình bày với mức độ khác nhau,
có công trình đi sâu vào lí thuyết về hồi ký, có công trình chỉ đề cập lí thuyết chung về hồi ký làm cơ sở để phân tích thành tựu của hồi ký trong đời sống văn học; tuy nhiên tất cả các chuyên luận, các bài viết trên đều có giá trị kiến tạo và bồi đắp lí thuyết thể loại hồi ký, giúp ích cho việc nhận dạng, phân biệt, tạo lập và tiếp nhận tác phẩm
Về phương diện lí luận, kết quả của các công trình nghiên cứu về hồi ký đã đạt được:
1 Đưa ra những định nghĩa và cắt nghĩa khái niệm hồi ký
2 Phân tích, khẳng định vai trò của hồi ký trong đời sống xã hội và đời sống văn học
3 Xác định những đặc điểm cơ bản về nội dung và yêu cầu về giá trị văn học của hồi ký
4 Xác định tiêu chí phân loại hồi ký
5 Phát hiện và bước đầu nhận dạng hồi ký văn học của các nhà văn
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về hồi ký nêu trên mới tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản về lí thuyết thể loại của hồi ký nói chung chứ chưa đi sâu nghiên cứu lí thuyết thể loại của hồi ký văn học Những vấn đề lí thuyết thể loại của hồi ký văn học còn mờ nhạt; khái niệm, đặc điểm thể loại của hồi ký văn học chưa được giới thuyết cụ thể Giới hạn này đặt ra những nhiệm vụ cần tiếp tục giải quyết trong luận án này
Trang 201.2.2 Nghiên cứu quá trình phát triển
Trước khi hồi ký xuất hiện, trong văn học Việt Nam thời kỳ trung đại đã tồn tại một số tác phẩm có phương thức sáng tác là ghi chép về những điều mắt thấy, tai nghe, bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc trong những chuyến công cán Qua sưu tầm và khảo sát, chúng tôi nhận thấy từ “ký sự”, “tùy bút” xuất hiện đầu tiên vào cuối thế kỷ
XVIII trong tác phẩm Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút của
Phạm Đình Hổ Có ý kiến cho rằng những tác phẩm này đã đánh dấu sự xuất hiện của thể văn hồi ký trong nền văn học Việt Nam Đến đầu thế kỷ XX mở đầu cho thể
loại hồi ký là tác phẩm Ngục Kontum của Lê Văn Hiến (1938) và Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng (1938) Vào những năm 40 của thế kỷ trước, trong cuốn Nhà văn
hiện đại của Vũ Ngọc Phan thể loại này bắt đầu được nhắc đến Tuy nhiên công trình
này chưa đề cập đến khái niệm thể loại Cũng từ những thập niên 30 của thế kỷ XX trở lại đây cùng với sự xuất hiện những người viết hồi ký với sự khác biệt trong lối viết đã có những công trình lựa chọn hồi ký văn học làm đối tượng nghiên cứu Khảo sát hồi ký văn học, các nhà nghiên cứu, phê bình đã tiếp cận với nhiều phương diện của thể loại Nhiều cuộc tranh luận xung quanh các vấn đề của hồi ký, các tác phẩm
cụ thể đã diễn ra tạo nên một đời sống văn học sôi động Các công trình nghiên cứu
về sự vận động của hồi ký văn học đã giúp người đọc thấy được những bước đi của thể loại trong tiến trình văn học dân tộc
Ngoài các công trình chuyên biệt về thể loại hồi ký như luận án tiến sĩ của Ngô
Thị Ngọc Diệp hoàn thành năm 2013 Hồi ký trong văn học Việt Nam từ sau cách
mạng tháng 8 - 1945 đến nay [22]; các công trình, chuyên luận như Ký viết về chiến tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội (Hà Minh Đức), Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Phan Cự Đệ chủ biên), giáo trình Văn học Việt Nam hiện đại (Nguyễn
Văn Long chủ biên), Văn chương và thời cuộc (Hà Minh Đức), Đồng cảm và sáng
tạo (Lý Hoài Thu), đã có nhiều bài viết quan tâm nghiên cứu nhiều vấn đề của hồi
ký Các công trình, bài viết ở nhiều góc độ đã đề cập đến thành tựu của hồi ký văn học, những đóng góp và thách thức của thể loại trong đời sống văn học đương đại Tìm hiểu sự vận động của hồi ký trong dòng chảy của văn học những thập niên cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI nhiều người có đồng quan điểm với Bích Thu trong việc ghi nhận vị trí quan trọng của hồi ký đối với quá trình phát triển thể loại Tác giả này khẳng định sự bùng nổ và ưu thế của hồi ký vào những thập niên cuối thế kỉ XX Theo bà, sự xuất hiện của những hồi ký “mang đậm dấu ấn cái tôi của nhà văn, thuật lại lai lịch, đời tư, đời viết, quan hệ chủ thể sáng tạo với đồng nghiệp, bạn văn, người thân và bạn đọc… thu hút sự chú ý của người đọc đã chứng tỏ cái thế mạnh riêng của tác phẩm ký” [30, tr.411]
Trang 21Hà Minh Đức với bài viết “Về khả năng phản ánh hiện thực của hồi ký, nhân
đọc Sống như Anh”, đăng tại Tạp chí Văn học số 4/1965, đã có một cách nhìn sơ
lược về hồi ký Ông đánh giá rất cao thế hệ tác giả trong giai đoạn này đã để lại
nhiều tác phẩm hồi ký có chất lượng [35, tr.81] Trong công trình Ký viết về chiến
tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội (năm 1980), ông đã khẳng định vai
trò của hồi ký trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc: “Hồi ký viết về chiến tranh cách mạng của ta có một vị trí hết sức quan trọng trong việc phản ánh lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc…giá trị của hồi ký không chỉ xác định ở trong phạm vi văn học mà được khẳng định ở nhiều mặt: chính trị, quân sự, sử học, xã hội học Các tác phẩm này được viết ra trên cơ sở của ký ức chọn lọc chính xác và có trách nhiệm
Sự thật của đời sống được tôn trọng ở mức cao nhất” [36, tr.85-86] Trong đó cuốn
Văn chương và thời cuộc Nxb Khoa học Xã hội (năm 2009), ông cũng nhận định:
“Trong tương lai sẽ có rất nhiều hồi ký, nhật ký xuất hiện khi người ta quan tâm đến cuộc đời riêng của nhiều loại người vốn có đóng góp hoặc nổi danh ở một lĩnh vực nào đó” [36]
Theo dõi tình hình nghiên cứu hồi ký thời ký đổi mới, có thể thấy, đa phần các
ý kiến đều thống nhất cho rằng: “hồi ký Việt Nam đang có những chuyển đổi mạnh
mẽ, đang được mùa, “thăng hoa” và đóng một vai trò quan trọng trong đời sống văn học đương đại Qua việc khảo sát lịch sử vấn đề nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy cùng với sự vận động của thể loại, hồi ký thời kỳ đổi mới (từ những hiện tượng đến những vấn đề đặt ra trong từng tác giả, tác phẩm cụ thể) đã dành được sự quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình Nguyễn Phượng có bài viết “Văn học và nền
kinh tế thị trường trong mười năm cuối thế kỉ” khẳng định sự phát triển nổi trội của thể hồi ký, tự truyện trong bối cảnh nền kinh tế thị trường: “Không ngẫu nhiên, thể loại hồi ký, tự truyện và tiểu thuyết tự truyện lại gần như chiếm thế thượng phong trong giai đoạn này Công chúng dành sự quan tâm khá đặc biệt với một số tiểu
thuyết tự truyện và hồi ký như Cát bụi chân ai (1992) và Chiều chiều (1999) của Tô
Hoài,…” Sự quan tâm đó theo ông là do “xu hướng giải thiêng, giải ảo”, “sự thay đổi nhận thức và quan niệm về các hệ giá trị” và “cái nhìn tỉnh táo, duy thực đầy can đảm” của nhà văn trong việc “diễn đạt những sự thật từng bị che khuất bởi những chi phối của lịch sử và thời cuộc” [125]
Trong cuốn Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại của trường Đại học Sư phạm
Hà Nội có đoạn: “Trong văn xuôi những năm 90 và vài năm gần đây, thấy nổi lên hai mảng đáng chú ý: hồi ký - tự truyện và tiểu thuyết lịch sử Một loạt hồi ký của các
Trang 22nhà văn, nhà thơ, cả những nhà hoạt động xã hội đã đem lại cho người đọc những hiểu biết cụ thể, sinh động và xác thực về xã hội, lịch sử, về đời sống văn học và gương mặt một số nhà văn ở những thời kì đã qua” [98, tr.183]
Bên cạnh đó Lý Hoài Thu trong công trình Đồng cảm và sáng tạo (năm 2006),
lí giải sự phát triển và ghi nhận những đóng góp của hồi ký cho đời sống văn học:
“Những năm cuối cùng khép lại thế kỉ XX, sự ra đời của các tác phẩm hồi ký nhằm đáp ứng lại nhu cầu nhìn nhận và suy ngẫm về quá khứ Những vấn đề của văn chương một thuở, những số phận đã thành dĩ vãng giờ được tái dựng theo một tinh thần mới, giả thiết mới đã gây không ít những cuộc tranh cãi mà nhờ đó, đời sống văn học trở nên có khí sắc hơn” [150, tr.133] Bà tỏ ra tin tưởng vào sự phát triển của thể loại này: “Với tất cả những nỗ lực tìm tòi, khám phá, cách tân về nội dung ý nghĩa cũng như nghệ thuật biểu hiện và quan trọng nhất là với sự tự khẳng định không ngừng phong cách cá nhân của các tác giả hồi ký, bút ký thời kỳ đổi mới, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định sự thành công và chín muồi của thể loại ký ở giai đoạn hiện nay” [150] Tiếp đến năm 2008, Lý Hoài Thu tiếp tục với bài viết
“Hồi ký và bút ký thời kỳ đổi mới” trong Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 10 Trong
nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra các nhận định và đánh giá về thể loại bút ký cũng như hồi ký và quá trình phát triển của nó trong thời kỳ đổi mới Bên cạnh đó tác giả còn khẳng định “trong văn xuôi thời kỳ Đổi mới, ngoài phóng sự và hồi ký, bút
ký, các thể ký khác xuất hiện với tần số khá ít ỏi Điều đó có thể được cắt nghĩa bởi
ký sự chỉ thích ứng với bối cảnh chiến tranh” [151, tr.33] Tác giả đã khẳng định:
“Dù viết về quá khứ, tái dựng “ký ức thời gian đã mất”, song giá trị và khả năng cảm hóa của các tác phẩm hồi ký lại được xác lập bởi góc nhìn hiện tại, đáp ứng nhu cầu nhận thức thực tại của nhà văn Về phương diện nội dung, Lý Hoài Thu chỉ ra: Bên cạnh việc khai thác những chủ đề - đề tài mang tầm “vĩ mô”, tầm đất nước, dân tộc (hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc), các tác phẩm hồi ký thời kỳ đổi mới luôn bám sát cuộc sống “vĩ mô” với bao ngổn ngang, bề bộn của “muôn mặt đời thường”, của nhân tình thế thái Song song với dòng chảy lịch sử là dòng chảy văn chương, là công cuộc “nhận đường” và “lên đường” đầy khó khăn, thử thách; là những “nghi án” văn chương, là chân dung văn nghệ sĩ; là những số phận văn chương trong quá khứ cũng như trong hiện tại hiện lên
rõ nét, trần trụi cùng với những trải nghiệm thấm thía, những suy tư sâu lắng về nghiệp, về nghề Tất cả đều có trong hồi ký thời kỳ đổi mới
Trang 23Năm 2006, trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 11, tác giả Đỗ Hải Ninh trong
bài “Ký trên hành trình đổi mới”, mục “Sự nở rộ của hồi ký” đã đi tìm căn nguyên để
lý giải hiện tượng thú vị trên Tác giả chỉ ra nguyên nhân khách quan và chủ quan, điều kiện lịch sử, xã hội và quá trình vận động nội tại của nền văn học dẫn đến sự nở
rộ của hồi ký Thời kì đổi mới Văn học thời kì này tìm đến thể hồi ký là tìm một cách tiếp cận hiện thực đáp ứng nhu cầu giãi bày của người viết, nhu cầu được hiểu, được chiêm nghiệm quá khứ, đánh giá lại lịch sử Lúc này, hiện thực được phản ánh không chỉ là hiện thực bề mặt, mà còn là hiện thực chiều sâu, đầy tính phức tạp, bí ẩn của con người Tiếp đó, Đỗ Hải Ninh chỉ ra một số đặc điểm của hồi ký văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới ở cả phương diện nội dung và nghệ thuật Về phương diện nội dung, tác giả nhấn mạnh: hồi ký thời kì đổi mới quan tâm hơn tới sự chiêm nghiệm lịch sử và số phận cá nhân trong lịch sử; đồng thời qua những trang viết các nhà văn
đã làm sống lại ký ức về thời đại của họ, những bức chân dung về bạn bè, đồng nghiệp và cả bức chân dung tự hoạ về chính bản thân người viết Về phương diện nghệ thuật, Đỗ Hải Ninh nhấn mạnh đến chất giễu nhại, giọng tự thú, tự vấn - một trong những đặc trưng riêng biệt - một thể nghiệm thành công của hồi ký thời kỳ đổi mới [120, tr.14]
Năm 2008 Đỗ Hải Ninh trong bài viết “Những bước chuyển của hồi ký thời kì đổi mới” cũng có nhận định gần gũi với Lý Hoài Thu, tác giả đã chỉ ra những ưu điểm và sự thay đổi của hồi ký trong giai đoạn này Cùng với đó, tác giả đã chỉ ra một số nguyên nhân giúp hồi ký trong giai đoạn này có được bước phát triển rực rỡ Ngoài ra, tác giả còn nhận định “Sự phát triển mạnh mẽ của hồi ký từ sau Đổi mới xuất phát từ nhu cầu tự thân của nền văn học và đáp ứng những đòi hỏi của con người trong xã hội hiện đại luôn mong muốn được tiếp cận sự thật, nhận thức quá khứ, chiêm nghiệm cuộc sống Những phương thức tự sự khác nhau của người viết hồi ký không chỉ làm phong phú cho thể loại mà còn vươn tới những kết tinh giàu giá trị nghệ thuật của hồi ký giai đoạn này”[121, tr.79] Về cơ bản, Đỗ Hải Ninh và
Lý Hoài Thu cùng tiếng nói chung khi chỉ ra sự đa dạng trong nội dung phản ánh của hồi ký văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới Riêng ở phương diện nghệ thuật, mỗi tác giả có những phát hiện khá thú vị Nếu Đỗ Hải Ninh nhấn mạnh đến chất giễu nhại, giọng tự thú, tự vấn trong hồi ký thời kỳ này thì Lý Hoài Thu chỉ ra sự đa dạng trong giọng điệu trần thuật, dẫn đến sự “đa dạng hóa” trong kết cấu hồi ức tạo nên những phong cách nghệ thuật không thể trộn lẫn [121] Có thể nói, hai bài viết của hai tác giả nữ Đỗ Hải Ninh và Lý Hoài Thu là những nhận xét xác đáng về thể hồi ký văn học Việt Nam
Trang 24Năm 2013 trong công trình nghiên cứu Hồi ký trong văn học Việt Nam từ cách
mạng tháng 8 - 1945 đến nay của Ngô Thị Ngọc Diệp đã cho thấy vai trò của thể loại
hồi ký, sự vận động của hồi ký từ 1945 đến nay và những đóng góp của hồi ký vào nền văn học dân tộc Đặc biệt, tác giả cho rằng hồi ký giai đoạn này có xu hướng đan xen, dung hợp thể loại khó phân định rạch ròi bản chất của thể loại
1.2.3 Nghiên cứu tác giả, tác phẩm
Cụm bài này rất nhiều được đăng tải trên các báo và tạp chí cũng như trong các
công trình nghiên cứu, phổ biến nhất là trên báo Văn nghệ, Văn nghệ trẻ, tạp chí Văn
nghệ quân đội, tạp chí Văn học, Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, tạp chí Sông Hương,
… Các bài nghiên cứu, phê bình thường tập trung vào một số tác giả đã thành danh, tiêu biểu về hồi ký như Nguyên Hồng, Tô Hoài, Nguyễn Khải, Vũ Bằng, Ma Văn Kháng, Anh Thơ, Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Đặng Thị Hạnh, Bùi Ngọc Tấn… Những bài viết này thường xuất hiện cập nhật với tình hình sáng tác: từ những bài giới thiệu tác phẩm đến những bài viết nhận diện sáng tác của từng tác giả, từng chặng đường sáng tác khẳng định những tìm tòi, đóng góp của người viết trên tiến trình đổi mới văn học Ngoài ra còn có nhiều luận văn, luận án lựa chọn một tác giả hồi ký làm đối tượng nghiên cứu Các tác giả công trình thường triển khai luận án dưới góc độ nghiên cứu của tự sự học, thi pháp học, theo đó thường đi vào các phương diện như đặc điểm thể loại, ngôn ngữ, giọng điệu, điểm nhìn trần thuật- những phương diện chính yếu trong lý thuyết trần thuật, đặc điểm nghệ thuật của thể loại
Nghiên cứu về thể hồi ký và cách viết hồi ký của ông tác giả Nguyễn Đăng
Điệp, có bài viết “Đặc sắc hồi ký Nguyên Hồng” Tác giả nhận thấy “Nguyên Hồng
có cách viết hồi ký của riêng ông Nhà văn không hề tái hiện sự kiện theo kiểu biên niên khô cứng mà trên cái nền sự kiện, biến cố, ông tập trung vào những điểm chính yếu, sinh động nhất để dựng lại linh khí thời quá vãng Cái mà Nguyên Hồng quan tâm hơn cả là làm sao để thể hiện một cách thật chính xác tâm trạng mình trong những thời khắc khó quên ấy Hồi ký của ông, vì thế, có thể coi là hồi ký tâm trạng”
[32, tr.231] Nghiên cứu về tác phẩm Những ngày thơ ấu, có những nhận xét của Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại, Phan Cự Đệ trong giới thiệu Tuyển tập
Nguyên Hồng, Hà Minh Đức trong bài Nguyên Hồng - Nhà văn của những khát vọng
(Tạp chí Văn học số 9/2001)… Các nhà nghiên cứu nói trên đã có sự thống nhất
trong những nhận định cơ bản về đặc điểm nội dung và nghệ thuật của cuốn hồi ký
Những ngày thơ ấu Bên cạnh đó, ra đời những luận văn cao học, luận án tiến sĩ ngữ
Trang 25văn nghiên cứu về Nguyên Hồng cũng đã đề cập đến cuốn hồi ký Những ngày thơ ấu
ở những mức độ khác nhau Trần Thị Sâm chú ý bút pháp thể hiện: “ảo hóa và siêu
thực” vừa mang màu sắc lãng mạn, vừa như có một hình ảnh của thế giới quan tôn
giáo” [130, tr.56]
Tô Hoài là một gương mặt tiêu biểu trong văn học Việt Nam hiện đại Ông là nhà văn lớn, có đóng góp về nhiều thể loại văn học khác nhau trong đó đặc sắc nhất phải kể đến thể loại hồi ký Từ khi xuất hiện, các tác phẩm hồi ký của ông đã thu hút giới nghiên cứu tìm hiểu và quan tâm Chúng tôi đã tập hợp được một số lượng không nhỏ những bài chuyên luận, phê bình ở những mức độ khác nhau về phong cách nghệ thuật, tác phẩm, con người tác giả Những nhà phê bình cảm mến văn chương Tô Hoài như: Trần Hữu Tá, Phong Lê, Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Vân Thanh, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Đăng Điệp… đã có những đánh
giá tinh tế, khách quan về hồi ký của ông
Theo Trần Hữu Tá, trong cuốn sách Tô Hoài một đời văn phong phú và độc
đáo, đánh giá nét đặc biệt ở tài năng của Tô Hoài là ông viết hồi ký khi còn rất trẻ và
khẳng định được sự thành công ở lĩnh vực này: “Về mặt thể loại, Cỏ dại có hai điều
đáng để suy nghĩ Một là trong văn chương, vô số nhà viết hồi ký, nhưng ở tuổi hai
mươi ít ai đã thành công như Tô Hoài… Hai là chùm tác phẩm Cỏ dại, Cát bụi chân
ai, Chiều chiều đã khẳng định ông là cây bút hồi ký có hạng” [133, tr.72] Hà Minh
Đức trong “Lời giới thiệu” Tuyển tập Tô Hoài đã chỉ ra những nét đặc sắc trong nghệ
thuật viết tự truyện, hồi ký của Tô Hoài là nghệ thuật thể hiện cái tôi - tác giả: “Hồi
ký và tự truyện của ông kết hợp được giọng kể tự nhiên, xác thực với ý thức phân
tích tỉnh táo các hiện tượng và phần tâm sự của tác giả” [39] Phong Lê trong công
trình Tô Hoài, sáu mươi năm viết, đã cho rằng đặc sắc của thể loại hồi ký, tự truyện
Tô Hoài chính là nghệ thuật theo dòng hồi ức: “Tô Hoài không chỉ là người có sức nhớ kỹ, nhớ dai mà hơn thế, những cái sống, cái nhớ của ông luôn dư đầy, là luôn luôn có mặt trong hiện tại Một quá khứ luôn luôn được dồn về hiện tại, được hiện tại hóa - nhưng vẫn trong trang phục của quá khứ [93, tr.43] Chính sự gắn bó, trân trọng đối với con người và những sự kiện đã trải qua tạo nên sức mạnh hiện tại hóa quá khứ như vậy
Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn Chân dung và phong cách, có những ý kiến
đánh giá rất sắc sảo, sát hợp về văn chương Tô Hoài, đặc biệt mảng Tự truyện, hồi
ký Ông khẳng định “Hồi ký, tự truyện của Tô Hoài là thể văn sở trường nhất của Tô
Trang 26Hoài…ở thể văn này nhân vật trung tâm chính là cái tôi của người viết Cho nên sự hấp dẫn của văn phong Tô Hoài xét đến cùng là sự hấp dẫn của cái tôi ấy”[106] Nhà
phê bình văn học Vương Trí Nhàn cũng có những nhận xét về thể hồi ký của Tô
Hoài và đánh giá cao sức mạnh nội lực của Tô Hoài khi viết hồi ký: “Dường như cả cuộc đời từng trải đã chuẩn bị cho những trang viết hôm nay của ông Hồi ký là nơi
cả con người tác giả cùng cái triết lí ông mơ hồ cảm thấy và đã theo đuổi suốt đời cả hai đã có dịp bộc lộ” [116, tr.942] Hồi ký Tô Hoài có sự phân thân: “trong người có mình” [115] Vốn sống và sự trải nghiệm, suy tư của Tô Hoài làm nên thành công của thể loại này
Đây là những ý kiến đánh giá mang tính khái quát nhất và tiêu biểu nhất về tự
truyện, hồi ký của Tô Hoài Nhìn chung các nhà nghiên cứu đều khẳng định vai trò
và những đặc điểm riêng trong thể văn hồi ký của Tô Hoài
Năm 1992 Tô Hoài cho ra đời Cát bụi chân ai và sau đó là Chiều chiều Tác
phẩm đã gây nên sự chú ý trong dư luận với nhiều bài viết được đăng tải trên các sách, báo, tạp chí, công trình nghiên cứu Trong đó, đáng lưu tâm là bài viết của
Xuân Sách trên báo Văn nghệ (số ra ngày 13/11/1993), có bài nhận xét về Cát bụi
chân ai [149] Trần Đức Tiến có cuộc trao đổi với Xuân Sách về Cát bụi chân ai của
Tô Hoài, [81] Năm 1999, Phong Lê công bố bài Ngót sáu mươi năm văn Tô Hoài [94] Cũng trong năm 1999, cùng quan điểm với Phong Lê, Đặng Tiến có bài Tổng
quan về hồi ký Tô Hoài [153] Năm 2004, Nguyễn Đăng Điệp với bài “Tô Hoài sinh
ra để viết” (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 9) Năm 2006, Nguyễn Văn Thọ viết bài
“Vài cảm giác với Chiều chiều” (Báo Văn nghệ, số ra ngày 30/4) Những bài viết
trên đã đánh giá đúng và “trúng” những đặc sắc về giá nội dung, giá trị nghệ thuật
của cuốn hồi ký Cát bụi chân ai và Chiều chiều Những nhận xét đó đã góp phần giải thích vì sao phải đợi đến Cát bụi chân ai và Chiều chiều người ta mới hình dung
được đầy đủ tầm vóc và tiềm lực của hồi ký Tô Hoài - thể loại “sở trường” của nhà văn như nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã khẳng định
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã khẳng định vai trò và đặc điểm hồi ký của Tô Hoài Các tập hồi ký này có giá trị đánh dấu vị trí quan trọng trong toàn bộ sáng tác của tác giả Hồi ký Tô Hoài đã cho chúng ta một cái nhìn toàn diện hơn về cuộc sống và con người trong những giai đoạn lịch sử khác nhau
Cùng với Tô Hoài, một cây bút hồi ký nổi bật của văn học Việt Nam hiện đại được quan tâm nghiên cứu là Nguyễn Khải Các nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng
Trang 27Mạnh, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Thị Bình, Bích Thu… đều khẳng định nhiều tác
phẩm của Nguyễn Khải đậm chất hồi ký, tự truyện Nguyễn Đăng Mạnh trong
“Nguyễn Khải - đời người đời văn” nhấn mạnh sự biến chuyển trong tư duy nghệ thuật của nhà văn, đặc biệt là sự trở về của “cái tôi” tác giả, điều này mở ra một hướng khám phá cuộc sống mới bất ngờ, hấp dẫn: “dường như Nguyễn Khải muốn khai thác triệt để vào cái kho kinh nghiệm riêng, cái vốn trải nghiệm riêng của mình Hàng loạt tác phẩm có tính chất hồi ký tự truyện được ông viết một cách đầy hào hứng Gần đây ngòi bút của ông chuyển từ hướng ngoại sang hướng nội, đào rất sâu vào chính thân phận mình và những gì gắn bó với thân phận mình Trong giới hạn
đó, đối tượng hiện thực quả có thu hẹp lại, nhưng người đọc lại thấy có nhiều khám phá bất ngờ hơn, hấp dẫn hơn, không phải chỉ về bản thân mình mà cả chuyện đời và chuyện người nữa” [107, tr.142]
Các tác giả Vương Trí Nhàn, Nguyễn Thị Bình, Đặng Anh Đào, Đông La, Việt
Lê quan tâm “giải mã” thể loại của tác phẩm Thượng đế thì cười Mặc dù tác phẩm
được dán nhãn “tiểu thuyết” người ta nghi ngờ và suy xét về cách định danh này Vương Trí Nhàn nhận diện tác phẩm này ở cả hai tư cách hồi ký và tiểu thuyết, và cho rằng ở tư cách nào tác phẩm cũng là “sự dừng lại nửa chừng”, “chưa tới” trong nghệ thuật [114]
Các ý kiến nhìn chung đều đồng tình thừa nhận trong các sáng tác văn xuôi của Nguyễn Khải chứa đậm nét những yếu tố của hồi ký tự truyện Những ý kiến này được đề cập trực tiếp trong một số bài viết của Vương Trí Nhàn, và một số tác giả khác như đã điểm ở trên
Nhà văn Ma Văn Kháng với cuốn Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ
thương cũng là một tiêu điểm cho giới nghiên cứu về hồi ký văn học Trên các tạp
chí, trang web đã xuất hiện nhiều bài giới thiệu và các bài nghiên cứu về tác phẩm hồi ký này của Ma Văn Kháng Trong đó, có Hồ Anh Thái mở đầu với bài viết “Con đường - hồi ức”(2009) [138], Nguyễn Ngọc Thiện có bài “Ma Văn Kháng và cuốn hồi ký tự truyện mới” (2009) [145] Tiếp đó Bùi Bình Thi có bài” Ma Văn Kháng với
hồi ký Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương” (2009) [140], Đinh Hương
Bình bài “Đọc hồi ký Ma Văn Kháng thấy bóng văn nhân” (2009) [13], Thi Thi “Văn trong hồi ký và hồi ký của một nhà văn”(2010) [142] Ngoài ra là các công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyên (2010), Lê Thị Kim Liên (2010) …Nhìn chung
các bài viết đều đánh giá cao giá trị tư liệu nghệ thuật nhiều mặt của hồi ký Năm
Trang 28tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương, cả về phương diện nội dung và phương
diện nghệ thuật, tức là giá trị hiện thực và đặc sắc thẩm mĩ, văn chương của tác phẩm Các tác giả đều gặp nhau ở thái độ khẳng định, ca ngợi tâm huyết, chia sẻ giới thiệu, quảng bá, cảm thụ tác phẩm; tuy nhiên, chưa đặt ra chủ đích đi sâu vào những vấn đề nghiên cứu từ góc độ thi pháp thể loại
Người đầu tiên đánh giá và giới thiệu Vũ Bằng trên mặt báo là Khái Hưng, cây
bút chủ chốt của Tự lực văn đoàn Năm 1937, khi tiểu thuyết Một mình trong đêm tối của Vũ Bằng ra đời, Khái Hưng đã điểm tin trên báo Ngày nay, công nhận đây là một quyển sách “không tầm thường chút nào” Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại
(1942) đã xếp Vũ Bằng vào hàng các tiểu thuyết gia tả chân và ghi nhận Vũ Bằng có cái nhìn riêng của mình với “ngòi bút dí dỏm, nhạo đời, hơi đá hoạt kê một chút” Từ
đó đến năm 1969 mới có thêm một bài viết giới thiệu về Vũ Bằng của Thượng Sỹ, đó
là lời nói đầu của cuốn hồi ký Bốn mươi năm nói láo Từ năm 1991 đến 1997, có rất nhiều bài báo viết về Vũ Bằng đăng trên các bài báo: Văn nghệ, Sài gòn giải phóng,
Phụ nữ thứ bảy Thành phố Hồ Chí Minh… Song các bài viết này chỉ dừng lại ở việc
nghiên cứu một số khía cạnh trong tác phẩm của ông hoặc kể lại ấn tượng về Vũ
Bằng để minh oan, chiêu tuyết cho ông Với công trình Vũ Bằng - Bên trời thương
nhớ (2000) của Văn Giá, chúng ta mới có cái nhìn tương đối hệ thống và toàn diện
về Vũ Bằng Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về con người, tác phẩm Vũ Bằng, dù mới chỉ là nét “phác thảo bước đầu về Vũ Bằng Hồi ký
Thương nhớ mười hai của của Vũ Bằng khi tái bản sau 1975 đã nhận được sự quan
tâm của nhiều cây bút chuyên nghiệp: Hoàng Như Mai trong lời giới thiệu Thương
nhớ mười hai [102], Tô Hoài trong bài viết “Thương nhớ mười hai” (tạp chí Văn học
số 1/1991) [64], Đặng Anh Đào “Tháng ba đi tìm thời gian đã mất” [25], Văn Giá
trong sách Đời sống và đời viết [48], Vũ Xuân Triệu có “Cái tôi đa dạng trong hồi ký
Bốn mươi năm nói láo của Vũ Bằng” [158], Vương Trí Nhàn với lời giới thiệu Cai…
Theo chúng tôi, đến nay, sức hút đối với hồi ký của Vũ Bằng chủ yếu tập trung
vào tác phẩm Thương nhớ mười hai Rồi đến Bốn mươi năm nói láo vì đây là những cuốn hồi ký văn học có nhiều nét độc đáo Hai tác phẩm Cai và Mười chín chân dung
nhà văn cùng thời hầu như còn ít được nghiên cứu Đây là những tác phẩm mà luận
án của chúng tôi chú ý tiếp tục tìm hiểu, khám phá
Trang 29 Anh Thơ
Là cây bút quen thuộc với độc giả trên thi đàn Thơ mới Bà cũng là tác giả của
bộ ba cuốn hồi ký: Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt Trong
Từ điển văn học (bộ mới - năm 2004, mục Anh Thơ), tác giả Nguyễn Văn Long khi
giới thiệu về nữ sĩ đã quan tâm sâu sắc đến bộ ba cuốn hồi ký của bà “Một bộ sách nửa hồi ký, nửa tự truyện, ghi lại những hoạt động cách mạng và văn học từ sát trước Cách mạng tháng Tám cho đến cuối những năm 90 của thế kỷ XX” [44, tr.231] Bên cạnh việc giới thiệu giá trị nội dung của cuốn sách, tác giả đã quan tâm đến đặc sắc trên phương diện nghệ thuật: “Bộ sách cho thấy giọng văn lôi cuốn của Anh Thơ và khả năng dựng lại các hồi ức tỉ mỉ, sinh động của bà” [44, tr.231] Trong công trình
nghiên cứu Chân dung nữ sĩ Anh Thơ qua hồi ký (2014), tác giả Lê Thị Nhiên đã
khẳng định: “Thông qua hồi ký của bà, chúng ta gặp một Anh Thơ vừa mang vẻ đẹp truyền thống vừa có những nét tính cách rất hiện đại Hồi ký của Anh Thơ đã tái hiện chân thực về nhiều phương diện trong suốt cuộc đời của bà”
cách mạng- hành trình thơ” của tác giả Mai Hương in trong Tạp chí Nghiên cứu Văn
học, (số 12, năm 2000) Qua phê bình cuốn hồi ký, tác giả bài viết khẳng định sự
song hành của hành trình cách mạng và hành trình thơ Tố Hữu mỗi sự kiện lớn lao của dân tộc đều gợi cảm hứng cho hồn thơ Tố Hữu thăng hoa cảm xúc [79]
bài viết: “Một thời không mất”của Vân Long, “Viết về bạn bè thấy chân dung tác
giả” của Đình Kính, “Một kiếp bên trời”của Phạm Xuân Nguyên, “Bùi Ngọc Tấn kể chuyện bạn bè” của Trần Thiện Đạo, “Chữ nặng” của Lê Minh Hà, “Sinh khí của văn chương” của Khánh Phương Mỗi tác giả cảm nhận hồi ký Bùi Ngọc Tấn với
một nét đẹp riêng Song tất cả đều nhận thấy ở hồi ký của Bùi Ngọc Tấn một giọng văn trầm tĩnh, đôn hậu và những bức chân dung các văn nghệ sĩ, bạn bè, đồng nghiệp của một “thời xa vắng”
Cuốn Hồi ký Song đôi của Huy Cận- Xuân Diệu cũng là một hồi ký văn học
hấp dẫn, thú vị đối với độc giả Tác phẩm này cũng đã trở thành đối tượng nghiên
cứu trong công trình Đặc điểm hồi ký của các nhà thơ Lưu Trọng Lưu- Huy Cận-
Xuân Diệu của tác giả Đặng Ngọc Huyền (năm 2010, Đại học Khoa học Xã hội &
Nhân văn) [82, tr.63]
Trang 30Cuốn hồi ký Nhớ lại của Đào Xuân Quý có tên trong Từ điển văn học (bộ mới
- mục Đào Xuân Quý); tác giả Đặng Thị Hảo giới thiệu về tác giả, tác phẩm: “ghi lại chân thật chặng đường hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng, lao động nghệ thuật với
tư cách là nhân chứng của nhiều biến động cùng các sự kiện văn chương lớn trong toàn quốc” [44, tr.122]
Bên cạnh những tài liệu nghiên cứu về các tác giả, tác phẩm hồi ký trên đây,
chúng tôi còn tập hợp được những ý kiến về hồi ký của Nguyễn Công Hoan, Sao
Mai, Duy Khán, Đặng Thị Hạnh…Có thể nhận thấy song song với sự phát triển
của hồi ký văn học, các công trình, tài liệu nghiên cứu về hồi ký văn học cũng thu được những kết quả đáng ghi nhận Đóng góp của các nhà văn tiêu biểu như Tô Hoài, Nguyên Hồng, Anh Thơ, Vũ Bằng, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng,… đã được khẳng định; nhiều tác phẩm hồi ký văn học đã được khảo sát, phân tích, đánh giá cả
về nội dung và nghệ thuật Thành tựu nghiên cứu này đã tác động mạnh mẽ đến đời sống thể loại của hồi ký văn học trên cả hai phương diện sáng tạo và tiếp nhận Nhìn một cách khái quát, trong diện mạo chung của Văn học Việt Nam hiện đại, hồi ký văn học là “mảng màu” có đặc sắc riêng, góp phần làm nên sự đa dạng, phong phú của đời sống văn học Hồi ký đáp ứng nhu cầu giải tỏa những vùng ký ức dồn nén của tác giả, bộc lộ “cái tôi” - chủ thể của người viết; đáp ứng nhu cầu được nói ra sự thật những câu chuyện nhà văn trải qua, chứng kiến về bản thân, đồng nghiệp, về quê hương, đất nước và dân tộc,… Mỗi một nhà văn, nhà thơ đến với hồi
ký từ những duyên nợ riêng khởi phát tự đáy lòng Tuy nhiên, điểm chung đáng trân trọng là hồi ký của các nhà văn không nhằm mục đích thanh minh, phê phán, hay để
“đánh bóng” tên tuổi của một ai đó mà là sự trải lòng, chiêm nghiệm của người cầm bút Đó là những tình tiết, sự kiện cần được ghi nhớ lại; những tâm tư, tình cảm, suy nghĩ cần được giãi bày, bộc bạch, ký thác sau cả chặng hành trình cuộc đời với bao thăng trầm, biến động Làm nền trên mỗi trang hồi ký là phần đời riêng của mỗi tác giả, đồng thời, còn là đời sống văn nghệ Việt Nam, là cuộc đời chung của cả dân tộc
Tiểu kết Chương 1
Khảo sát những vấn đề nghiên cứu liên quan đến lý thuyết hồi ký và thực tiễn sáng tác hồi ký văn học, chúng tôi nhận thấy, nhìn chung ở Việt Nam cũng như trên thế giới đều có thực tế là cả các nhà nghiên cứu lẫn sáng tác không dễ đưa ra một định nghĩa nhất quán cho thể loại hồi ký Tuy nhiên, đa phần, tác giả các công trình bài viết đều thống nhất ở đặc điểm cơ bản của hồi ký là tính chất “hồi ức” của thể loại Một mặt hồi ký được xem là thể loại độc lập có những đặc trưng về thi pháp,
Trang 31mặt khác trong các công trình, các nhà văn, nhà nghiên cứu cũng lại chỉ ra mối liên
hệ giữa hồi ký và tự truyện, hoặc xem hồi ký là thể loại nằm trong thể ký Một mặt, các nhà nghiên cứu đi tìm một định nghĩa nhằm phân biệt hồi ký với các thể loại khác của ký nhưng thực tế quan niệm về thể loại hồi ký lại muôn hình muôn vẻ Đã
có nhiều định nghĩa hồi ký được đưa ra nhưng vẫn không tránh khỏi những ngoại lệ
vì không phải hồi ký nào cũng thỏa mãn những tiêu chí được nêu lên Sở dĩ có điều này là bởi trong khi định nghĩa “luôn có ý đồ áp đặt các quy chuẩn thi pháp” trong khi sáng tác nghệ thuật luôn có sự đổi mới không ngừng
Ở chương Tổng quan này, chúng tôi cũng đã có những khảo sát, đánh giá sơ bộ
về tình hình nghiên cứu hồi ký văn học trên các phương diện những vấn đề chung, các hiện tượng đội ngũ tác giả viết hồi ký đáng chú ý Chúng tôi coi tìm hiểu vấn đề nghiên cứu ở góc độ lý thuyết và thực tiễn sáng tác cùng với việc phác thảo diễn trình hồi ký văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới là tiền đề trước khi nghiên cứu những vấn đề của tư duy hồi ký văn học, nhận diện những kế thừa và sự tiếp biến của hình thức thể loại trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại
Trang 32Chương 2 THỂ LOẠI HỒI KÝ VÀ QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA HỒI KÝ VĂN HỌC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 2.1 Giới thuyết về hồi ký, hồi ký văn học
2.1.1 Khái niệm hồi ký
Cho đến nay, nhận định về khái niệm hồi ký là gì, đã có rất nhiều những định nghĩa được đưa ra, nhằm giúp sáng tỏ khái niệm thể tài này ở những mức
độ khác nhau
Lí luận văn học đã xác định: “Hồi ký là thể loại ghi chép các sự kiện quá khứ đã
trải qua do đương sự thực hiện, cũng là một hình thức văn học riêng tư, mình nói về mình, một dạng tự truyện của tác giả.” [101]
Tương đồng với cách nhìn nhận nhấn mạnh vào đặc trưng chính của hồi ký là
ghi chép các sự kiện quá khứ đã trải qua, trong cuốn Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê
cũng đã nêu rõ: “Hồi ký là thể văn ghi lại những điều còn nhớ sau khi đã trải qua, đã chứng kiến sự việc” [45] Cách định nghĩa theo kiểu chiết tự từ Hán Việt này (hồi là quay trở lại, ký là ghi chép) có phần ngắn gọn, đơn giản và dễ hiểu cho số đông người đọc
Lấy đối tượng được phản ánh làm điểm qui chiếu để định nghĩa về thể loại này,
tác giả Nguyễn Văn Đạm trong Từ điển tường giải và liên tưởng tiếng Việt (Nxb Văn
hóa Thông tin, Hà Nội, 1999) đưa ra cách hiểu: “Hồi ký: là thể văn thuật lại theo thứ
tự thời gian những sự việc mà tác giả đã trải qua hoặc chứng kiến một phần nào trong những mối quan hệ với thời đại” [28] Như vậy, tác giả cho rằng hồi ký luôn được thuật lại theo trật tự biên niên của thời gian Tuy nhiên, trên nguồn cứ liệu phong phú các hồi ký trong thực tế, đặc biệt là các tác phẩm hồi ký hiện đại tiêu biểu như Tô Hoài, chúng ta lại nhận thấy rằng kết cấu của hồi ký là nhiều vẻ, vô cùng phong phú
và đa dạng Dòng hồi tưởng của người thuật lại có thể luôn bị đứt vá, chắp nối và ký
ức được tổ chức lại như những mảnh ghép các sự kiện Cũng trong cuốn từ điển này,
tác giả đã đồng nhất khái niệm hồi ký và khái niệm tự truyện vốn là hai khái niệm rất
gần nhau nhưng không hoàn toàn trùng khít
Nhìn từ đặc trưng thể loại, nhóm tác giả Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn
Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (Nxb Giáo dục Hà Nội xuất bản năm
1992, tái bản vào năm 2007) đã đưa ra khái niệm: “Hồi ký (tiếng Latinh: memoria) là
Trang 33một thể loại thuộc loại hình ký, kể lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến Xét về quan hệ giữa tác giả với sự kiện được ghi lại về tính chính xác của sự kiện, về góc độ và phương thức diễn đạt, hồi ký có nhiều chỗ giống với nhật ký Còn về phương diện tư liệu, về tính xác thực không có
hư cấu thì hồi ký lại gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học Khác với sử gia và nhà viết sử, người viết hồi ký chỉ tiếp nhận ghi chép phần hiện thực mà tác giả nhìn
rõ hơn cả dựa trên những ấn tượng và hồi ức riêng trực tiếp của mình Hơn nữa, bản thân người viết hồi ký luôn được mô tả trình bày ở bình diện thứ nhất Hồi ký thường khó tránh khỏi tính phiến diện và ít nhiều chủ quan về thông tin, tính không đầy đủ của sự kiện, song sự không đầy đủ của nó do sự diễn đạt sinh động trực tiếp của tác giả lại có giá trị như một tài liệu xác thực đáng tin cậy” [51]
Từ điển văn học (bộ mới - Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu,
Trần Hữu Tá chủ biên; Nxb Thế giới, 2004) cũng thống nhất với quan điểm trên:
“Hồi ký gần nhật ký ở hình thức giãi bày, ở chỗ không dùng thủ pháp cốt truyện, ở cách kể thường theo thứ tự thời gian, ở việc chú ý đến các sự kiện mang tính tiểu sử Xét về chất liệu, về tính xác thực, không hư cấu, thì phần lớn hồi ký gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học, ký sự tư liệu lịch sử Tuy vậy, khác với sử gia và các nhà nghiên cứu tiểu sử, người viết hồi ký thường chỉ tái hiện phần hiện thực thường nằm trong tầm nhìn của mình, chỉ căn cứ chủ yếu vào những ấn tượng và hồi ức của bản thân mình Do vậy trong toàn bộ tác phẩm có sự nổi trội của bản thân người viết hoặc cái nhìn của người viết vào tất cả những gì được kể lại, miêu tả lại Hồi kí mang đậm tính chủ quan khiến cho các sự kiện trong hồi kí không thể so bì với các tư liệu gốc, các chứng tích, về tính xác thực Tuy nhiên, sự thiếu hụt sự kiện, thông tin hay
sự phiến diện về đối tượng miêu tả trong hồi kí lại được bù đắp bởi văn phong sinh động, cảm tưởng trực tiếp của cá nhân tác giả điều này cũng có giá trị như một “tư liệu” của đương thời Giống như các thể loại văn xuôi nghệ thuật khác, hồi ký rất đa dạng về kiểu loại; nó cũng tương đối ít định hình về cấu trúc và định hướng thẩm
mỹ…”[44, tr.646-647]
Cùng với quan niệm đó, tác giả Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 thuật ngữ văn
học (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2003) cũng khẳng định: “Hồi
ký là một dạng trứ tác thuộc nhóm thể tài ký Tác phẩm hồi ký là một thiên trần thuật
từ ngôi tác giả (“tôi” tác giả, không phải “tôi” hư cấu ở một số tiểu thuyết, truyện ngắn), kể về những sự kiện có thực trong quá khứ mà tác giả tham dự hoặc chứng
Trang 34kiến.” và chỉ ra dấu hiệu nhận diện thể loại này đó là: “Hồi ký là một hình thức văn học viết nhằm ôn lại một hoặc nhiều sự thật của quá khứ, mà tác giả của nó là người trong cuộc, hoặc là người chứng kiến Vì vậy, tính chất sống của hồi ký rất quan trọng để phân biệt với việc ghi chép quá khứ thông qua những sử liệu đã thành văn hay truyền miệng Với ý nghĩa như trên, gần đây, trong đời sống văn học Việt Nam, hồi ký xuất hiện nhiều, dù người ta có đưa ra những cái tên khác nhau, như: ký ức, hồi ức, kỷ niệm ” [6]
Bên cạnh đó, lấy tâm điểm là vai trò của người sáng tác để soi chiếu, các tác giả
của cuốn Lý luận văn học (do Phương Lựu chủ biên), Nxb Giáo dục, (2002), dù
không trực tiếp đưa ra định nghĩa về hồi ký nhưng đã dành một chương nghiên cứu
về tác phẩm ký văn học Các tác giả cho rằng: “Phải là loại văn xuôi tự sự trần thuật những người thật việc thật với những đặc điểm riêng biệt trong mức độ và tính chất
hư cấu, trong vai trò của người trần thuật cùng mối liên hệ giữa nó với đặc điểm của kết cấu và cốt truyện … thì mới làm nên đặc trưng của ký.” [101, tr.423] Cũng trong cuốn này, các nhà lý luận văn học nhấn mạnh: “Chủ thể trần thuật phải là người trong cuộc, kể lại những sự việc trong quá khứ Hồi ký có thể nặng về người hay việc, có thể theo dạng kết cấu - cốt truyện hoặc kết cấu liên tưởng” [101, tr.26] Như vậy, trong quan niệm của các nhà nghiên cứu, hồi ký là một thể loại văn học luôn đề cao tính chính xác và độ chân thực của các sự kiện
Quan tâm đến vấn đề này, các tác giả của cuốn Lí luận văn học do Hà Minh
Đức chủ biên đã dành một chương nghiên cứu về tác phẩm kí văn học Các tác giả
cho rằng: “Dù được hình thành và chọn lọc từ nguồn ghi chép và sáng tạo nào, kí văn học phải là nơi gặp gỡ của hai nhân tố quan trọng: sự thật của đời sống và giá trị nghệ thuật” [37, tr.211] “Phải là loại văn xuôi tự sự trần thuật những người thật việc thật với những đặc điểm riêng biệt trong mức độ và tính chất hư cấu, trong vai trò của người trần thuật cùng mối liên hệ giữa nó với đặc điểm của kết cấu và cốt truyện
…thì mới làm nên đặc trưng của kí” [37] Có thể thấy điểm chung của thể kí:
“những sự kiện và con người có thật trong cuộc sống, với nguyên tắc phải tôn trọng tính xác thực và chú ý đến tính thời sự của đối tượng miêu tả” [37, tr.216] Cũng trong cuốn này, các nhà lí luận văn học khẳng định: “Xét từ gốc và bản chất, thì kí không nhằm thông tin thẩm mĩ, mà là thông tin sự thật” [36]
Trong thực tế, người ta viết hồi ký để đề cập đến những hiện tượng xã hội, những sự kiện lịch sử của những lĩnh vực khác nhau Hồi ký của các tướng lĩnh, hồi
Trang 35ký của các nhà văn, các nhà hoạt động chính trị, xã hội, kinh tế cung cấp cho người đọc những thông tin chân thực và bổ ích về lĩnh vực hoạt động của họ Giá trị của một hồi ký gắn liền với vốn sống, kinh nghiệm, sự hiểu biết, năng lực hoạt động, những giao tiếp xã hội rộng rãi và sự phong phú về tâm hồn của tác giả Như vậy, viết hồi ký không chỉ là một hoạt động văn học và đương nhiên không phải chỉ là công việc của nhà văn
Nhìn chung những ý kiến bàn bạc về hồi ký đều thống nhất xác định những đặc điểm cơ bản của thể loại này ở một số điểm như: hồi ký là những ghi chép chính xác
và trung thực về những biến cố có ý nghĩa đã xảy ra trong quá khứ và có nhiều liên
hệ với hiện tại; tác giả hồi ký là người trực tiếp tham dự hoặc chứng kiến các biến cố
đó và kể lại những hồi ức, những kỷ niệm và những điều mắt thấy tai nghe của chính
mình - đó là những điều tuy có thể chỉ là riêng tư nhưng có nội dung xã hội phong phú và gợi lên những ý nghĩa cần thiết, những nhận thức sâu xa cho nhiều người; trong hồi ký, nhân vật trần thuật giữ vai trò là trung tâm giữa các biến cố và các mối
quan hệ xã hội nên lối viết thường giàu suy nghĩ và tình cảm cá nhân của tác giả
Điều này cho thấy hồi ký có tính chất chủ quan hơn so với ký sự hay phóng sự Lợi dụng đặc điểm viết về những chuyện đã xảy ra trong quá khứ và trong một số chi tiết chỉ có tác giả là người duy nhất chứng kiến, ở các nước phương Tây thường xuất hiện loại hồi ký tô vẽ bịa đặt, được viết ra để tự đề cao vai trò cá nhân, hạ thấp người khác theo ý đồ riêng của người viết
2.1.2 Hồi ký văn học
Là một hình thức ghi chép về những điều đã xảy ra trong quá khứ, tác phẩm hồi
ký có thể có những phẩm chất văn học Điều này được thể hiện trước hết ở mức độ tiêu biểu, điển hình của những sự thật mà nó phản ánh Những sự việc, chi tiết được miêu tả, đặc tả một cách ấn tượng cũng góp phần làm nên giá trị văn học trong hồi
ký Một số yếu tố khác về hình thức tác phẩm như kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu và đặc biệt là vai trò của tác giả - nhân vật trần thuật xuất hiện trực tiếp trong tác phẩm cũng góp phần quan trọng tạo nên những phẩm chất văn học trong hồi ký
Trong văn học, người ta có thể viết hồi ký theo nhiều hướng khác nhau Có tác phẩm chủ yếu nhằm miều tả mối liên hệ của bản thân mình với cuộc sống thông qua những bức tranh xã hội rộng lớn Có tác giả lại tập trung miêu tả cuộc sống với những điều thật gần gũi và trực tiếp của bản thân mình trong quá khứ Bên cạnh đó cũng phải kể đến những hồi ký được viết ra nhằm tái hiện một thời điểm đặc biệt đáng nhớ nhất trong cuộc đời của tác giả dưới dạng những kỷ niệm sâu sắc, những
Trang 36ngày tháng không thể nào quên trong cuộc đời một con người Điều đáng nói là dù được viết ra dưới dạng nào, hồi ký cũng phải là những trang viết chân thành, nghiêm khắc và khách quan, trong đó tác giả tự đánh giá để soi lại những hành vi, suy nghĩ, việc làm trong những chặng đường của quá khứ
Trong văn học Việt Nam những năm 60, 70 của thế kỷ XX đã xuất hiện một
loạt tác phẩm hồi ký cách mạng Đó là những tác phẩm ghi lại những cuộc sống,
chiến đấu gian khổ dưới chế độ thực dân phong kiến, gắn liền với những sự kiện lịch
sử và bức tranh xã hội trong quá khứ Những tác phẩm này được viết ra trên cơ sở của ký ức đã được chọn lọc chính xác và có trách nhiệm Trong đó, những sự thật của đời sống được tác giả tôn trọng đến mức cao nhất Trong những năm qua, chúng
ta đã có những hồi ký về cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, hồi ký về chiến thắng Điện Biên Phủ, hồi ký về Bác Hồ và những hồi ký của những người chiến sỹ cách
mạng kiên cường Một số tác phẩm như Sống như Anh, Bất khuất ngoài những giá trị về xã hội còn có giá trị văn học Trong Lời tựa tác phẩm Bất khuất của Nguyễn
Đức Thuận, đồng chí Phạm Hùng, Uỷ viên Bộ Chính trị BCH Trung ương Đảng, Phó
Thủ tướng Chính phủ khi đó đã khẳng định: “Bất khuất là một bản anh hùng ca sáng
ngời chính nghĩa và khí tiết cách mạng của biết bao người cộng sản kiên cường, biết bao người Việt Nam bình thường, yêu nước nồng nàn, những chiến sỹ chỉ biết “đạp lên đầu thù mà đi”, làm cho quân thù phải khiếp phục, làm cho đồng chí và đồng bào
cả nước phấn khởi và tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của dân tộc ta”
Hồi ký về chiến tranh cách mạng là nguồn thông tin tư liệu quý giá để các nhà nghiên cứu văn học, và những người sáng tác khai thác phục vụ cho những công trình nghiên cứu và tác phẩm của mình Giá trị văn học của của những tác phẩm này trước hết là do sức truyền cảm mạnh mẽ của những câu chuyện có thật, tiêu biểu trong chiến đấu, là những chân dung của con người, những bức tranh sinh động về cuộc sống và những hiện tượng tiêu biểu cho các mối quan hệ trong chiến tranh Trong đó, những suy nghĩ và tình cảm của người viết cùng với sức mạnh của cảm xúc và sự phân tích sáng suốt cũng có thể khơi dậy ở công chúng những cảm hứng
nghệ thuật trong quá trình tiếp nhận tác phẩm Những tác phẩm như Nhân dân ta rất
anh hùng, Bác Hồ, Từ nhân dân mà ra, Những năm tháng không thể nào quên, Uống nước nhớ nguồn v.v là những ví dụ tiêu biểu cho dạng hồi ký quan trọng này
Những tập sách nói về những kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội cũng là một dạng hồi
ký đặc biệt, tái hiện một thời điểm đáng nhớ nhất trong những năm tháng chiến đấu
Trang 37của các chiến sĩ Đó là những trang viết có thể gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc, gắn liền với những phẩm chất tinh thần cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng trong cuộc chiến đấu vì độc lập của dân tộc
Còn hồi ký văn học, khái niệm do chúng tôi đặt lần đầu tiên, nhìn một cách
tổng quan hồi ký văn học đó là thể tài hồi ký do các nhà văn trực tiếp kể cuộc sống của mình và các nhà văn khác ở thời quá khứ Hồi ký văn học cung cấp cho bạn đọc những tư liệu về đời tư của nhà văn, về bộ mặt tinh thần của xã hội ở một thời kỳ nhất định về các lĩnh vực văn hóa, tư tưởng Đồng thời cung cấp những thông tin về quá trình sáng tạo cũng như cuộc đời sự nghiệp của nhà văn, cá tính và phong cách mỗi tác giả Hồi ký văn học cũng cung cấp những kiến thức xoay quanh cuộc đời sáng tác của họ: những tác phẩm có giá trị được viết trong hoàn cảnh nào, những mối liên hệ giữa người viết và môi trường được phản ánh, tác động của những yếu tố khách quan và chủ quan đã chi phối đến tác phẩm; những câu chuyện xoay quanh tác phẩm và dư luận công chúng
Khác với hồi ký cách mạng thường kể lại các sự kiện, trận đánh, chiến công, nhân vật lịch sử, còn hồi ký văn học khám phá những số phận, cuộc đời, nhân cách qua hồi ức của những cá nhân cụ thể Những biến động và thăng trầm của lịch sử đất nước suốt thế kỷ XX đã tạo ra một thế hệ văn nghệ sĩ giàu trải nghiệm, họ tìm đến hồi ký như là cách lưu giữ lại ký ức và chiêm nghiệm quá khứ
Những tác phẩm hồi ký văn học có giá trị là những tác phẩm nghệ thuật được
“chưng cất” từ tâm hồn, trái tim của những những người cầm bút giàu kinh nghiệm, sống từng trải, sâu sắc và có năng lực cảm thụ nghệ thuật tinh tế Đây là lối viết của những người từng trải, vừa có cái nhìn hàn lâm, vừa có cái nhìn đời thường và luôn luôn có cái nhìn công tâm về đời thường cũng như là về cái lớn lao của lịch sử và thậm chí có người còn sám hối bộc lộ thái độ chân thành Hồi ký văn học là cách ứng
xử đối với quá khứ và chiếu rọi những khát vọng sửa đổi những (lỗi lầm nếu có) và hướng tới tương lai Đó là cách để người ta sửa soạn hành trình đi đón bình minh trong tương lai Cách viết hồi ký văn học nó chân thực hơn cả sự chân thực là tiếng nói của con người trước khi rời bỏ cuộc chơi Ẩn ý của các hồi ký văn học này là luôn luôn gợi mở, thiết kế về một tương lai
Viết hồi ký cũng là quá trình nhà văn tự nhận thức về lịch sử và thái độ “sòng phẳng” với quá khứ, tác giả hồi ký văn học càng nhiều trải nghiệm, vốn sống, hồi ký càng giàu sức nặng Nhiều hồi ký văn học giai đoạn này đi sâu lí giải những hiện
Trang 38tượng, sự kiện trong đời sống văn hóa văn nghệ Là những người trực tiếp can dự vào đời sống văn học, với độ lùi thời gian nhất định, mỗi người viết có những kiến giải và đánh giá chủ quan nhưng đều có tinh thần nói ra sự thật, tôn trọng sự thật Nhắc đến hồi ký văn học của nhà văn, bạn đọc còn ấn tượng mãi với những
cuốn hồi ký như: Hồi ký (Đặng Thai Mai), Những bước đường tư tưởng của tôi (Xuân Diệu), Đời viết văn của tôi (Nguyễn Công Hoan), Bước đường viết văn (Nguyên Hồng), Tự truyện (Tô Hoài), Mùa thu lớn (Lưu Trọng Lư), Cát bụi chân ai,
Chiều chiều (Tô Hoài)… Ở hồi ký, các tác giả không chỉ xây dựng được diện mạo
của bản thân, của những người cùng thời mà còn phác họa gương mặt của thời đại Nhìn chung, trong thực tiễn sáng tác, hồi ký văn học phát triển với những biểu hiện rất phong phú, tạo ra nhiều nhánh, nhiều dạng, nhiều sự kết hợp, đan xen giữa hồi ký với các thể ký khác cũng như hồi ký với các thể tự truyện, tiểu thuyết… Căn cứ vào một số phương diện chính như đề tài, khuynh hướng cảm hứng, phương thức thể hiện, có thể phân loại hồi ký văn học theo các dạng cơ bản sau: Hồi
ký - tự truyện, hồi ký- chân dung, hồi ký văn chương hỗn hợp
2.1.2.1 Hồi ký - tự truyện
Tự truyện và hồi ký đều là những thể loại mang tính chất hồi cố, tái hiện lại quá khứ với những sự kiện mang tính chất người thật việc thật nên việc phân chia ranh giới một cách rạch ròi cũng gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên vì chúng thuộc hai địa hạt không hề trùng khít nhau trong hệ thống thể loại văn học, tự truyện thuộc hệ thống truyện, hồi ký thuộc hệ thống các thể loại ký, sự khác nhau cơ bản giữa chúng
là những tiêu chí nhận diện thể loại, đặc biệt là vai trò của yếu tố sự thật và hư cấu
Trong giáo trình Lý luận văn học (tập 2) do Trần Đình Sử chủ biên cho rằng:
“Hồi ký là một dạng tự truyện của tác giả, cung cấp những tư liệu quá khứ mà đương
thời chưa có điều kiện để nói ra được” [133] Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia thì
sự khó khăn trong phân định loại thể của tự truyện so với hồi ký sẽ chỉ được các nhà nghiên cứu, phê bình văn học giải quyết với từng trường hợp cụ thể, tác phẩm nhấn mạnh ở khía cạnh tự truyện hơn hay hồi ký hơn mà thôi Ý thức được như vậy, chúng
ta thấy ranh giới giữa tự truyện và hồi ký rất khó xác định nhưng giữa chúng vẫn có những điểm khác biệt Trước hết là ở đối tượng trung tâm của tác phẩm Hồi ký không nhất thiết phải kể về cái tôi mặc dù “tôi” là người kể chuyện Bên cạnh câu truyện về mình, hồi ký còn tập trung thể hiện bức tranh của thời đại hoặc đi sâu tìm hiểu những mảnh đời khác nhau nhưng đều có liên quan với người kể chuyện trong
Trang 39quá khứ Trong trường hợp đó thì cái “tôi” chỉ là “chất dẫn” của mạch cảm hứng, của mối quan hệ Trong khi đó, tự truyện lại xoáy vào cá nhân người viết, là câu chuyện của cái “tôi” tác giả - người kể chuyện Người kể chuyện tự viết về cuộc đời mình, tái hiện đoạn đời đã qua trong tính toàn vẹn, cụ thể cảm tính, phù hợp với lý tưởng xã hội nhất định Trong khi hồi ký không nhằm vào việc miêu tả quá trình hình thành nhân cách của cá nhân trong tương quan với hoàn cảnh Những câu chuyện đời tư khi chưa nổi lên thành các vấn đề xã hội cũng không phải là đối tượng quan tâm của hồi
ký Ngược lại, tự truyện chú trọng tới việc tìm hiểu, lý giải cái “tôi” Tại sao cái “tôi” trong qua khứ lại trở thành cái “tôi” của ngày hôm nay? Sự kiện về tiểu sử của nhà văn chỉ là chất liệu hiện thực được sử dụng với những mục đích nghệ thuật khác nhau Hồi ký chú ý nhiều đến việc ghi chép chính xác sự thực, không có hư cấu trong khi tự truyện quan tâm nhiều hơn đến những giá trị văn chương nên cho phép hư cấu Tác giả của hồi ký luôn có ý thức để đạt tới tính xác thực cao nhất trong khi tác giả của tự truyện lại coi tính chân thực của những điều kể ra là tiêu chuẩn để đánh giá Trước đây trong tự truyện truyền thống cũng ngầm mang hiệp ước về sự thực, nhưng ngày nay tự truyện đã được cách tân hình thức diễn đạt trong đó mạch truyện bị cắt, thực hư lẫn lộn, nghi vấn là bạn đồng hành của độc giả…Vì vậy, người ta không còn đọc tự truyện như một lý lịch tự thuật mà coi nó như một tác phẩm nghệ thuật Thời gian ra đời của hồi ký và tự truyện cũng khác nhau: hồi ký thường được viết khi tác giả đã về già, đã từng trải mình, đã bước đi của thời gian và cái mốc biến cố, sự kiện
Tự truyện có thể viết bất cứ lúc nào trong cuộc đời bởi mục đích chính của nó là khẳng định sự tồn tại của cái “tôi” và chủ đề để suy tưởng thường gắn với một sự kiện nhất định Mặt khác, hồi ký chú ý đến tính xác thực của sự kiện, tự truyện lại chú trọng nhiều tới sự thực của nội tâm Do đó, trong tự truyện nhu cầu muốn được tâm sự, giãi bày bộc bạch của người kể chuyện cũng nhiều hơn so với hồi ký
Như vậy ranh giới giữa hồi ký và tự truyện đã có những tiêu chí riêng để phân định phạm vi của chúng Mặc dù vậy, vẫn phải khẳng định rằng đây là hai thể tài có nhiều yếu tố đan xen lẫn nhau, cùng lấy quá khứ của cái tôi làm đối tượng chính để miêu tả hoặc lấy cái tôi ấy để soi rọi vào cuộc đời chung, là “đầu mối liên lạc” cho những gì nhắc tới trong tác phẩm Sự phân chia ranh giới giữa chúng chỉ mang tính tương đối Trong thực tế có rất nhiều tác phẩm khó có thể xếp riêng vào một thể loại nào bởi chúng có sự thâm nhập, pha trộn những yếu tố của thể loại khác Chẳng hạn trong hồi ký có sự đan xen của yếu tố tự truyện, là một dạng tự truyện của tác giả khi
Trang 40người viết lấy mình làm nhân vật chính của đối tượng miêu tả Do đó sự thuần khiết của thể tài hồi ký không còn nữa, nó được bổ sung những yếu tố tích cực của tự truyện, hồi ký sẽ trở nên có giá trị và hấp dẫn hơn Tất nhiên không phải tác phẩm hồi ký nào cũng có yếu tố tự truyện như hồi ký Cách mạng, hồi ký về danh nhân, hồi
ký ghi chép về một thời đã qua là hồi ký nhân chứng, ghi chép lại sự việc, con người trong quá khứ Hồi ký chỉ trở thành hồi ký - tự truyện khi nó viết về chính bản thân mình, soi rọi vào thế giới bên trong của mình, lý giải sự hình thành nhân cách và vị trí xã hội quan trọng như họ đang có
Như vậy có thể khẳng định hồi ký - tự truyện là một thứ thuộc thể hồi ký Tức
nó là hình thức tồn tại của tác phẩm văn học với những đặc điểm tương đối ổn định trong lịch sử về các mặt như: ngôn ngữ, bố cục, thể thức, dung lượng Nó không chỉ đặc trưng hình thức mà còn có nội dung đặc trưng Hồi ký-tự truyện mang trong nó những đặc điểm chung của thể loại bao hàm nó (thể hồi ký), đồng thời nó cũng có những đặc trưng riêng để phân biệt với các thể tài khác Hồi ký - tự truyện vừa đảm bảo tính chân thực của con người và sự kiện trong hồi ký, vừa hướng vào cái tôi cá nhân đặc biệt là sự hình thành phẩm chất, nhân cách của chính người viết Sức hấp dẫn của một tác phẩm hồi ký - tự truyện không phải chỉ ở giá trị thông tin, sự kiện
mà còn hấp dẫn bởi một thế giới bí ẩn của nhân cách, của nội tâm con người và một cách viết thu hút độc giả Vì vậy, những nhà văn có riêng một vùng đất thân thuộc, một giọng văn độc đáo và một tư duy nghệ thuật sắc sảo, định hình sẽ viết hồi ký - tự truyện, tạo nên một bức tranh sinh động về thể tài hồi ký trong đời sống văn học nước nhà Tuy nhiên để cuốn hồi ký - tự truyện thực sự có giá trị cần phải có cái tài biết khai thác, một cái tâm biết chia sẻ và một tầm hiểu biết nhất định của ngòi bút tài hoa
2.1.2.2 Hồi ký - chân dung
Hồi ký là ghi chép lại, kể về những sự kiện trong quá khứ mà tác giả tham dự hoặc chứng kiến Hồi ký mang đậm tính chủ quan Tính chủ quan khiến cho hồi ký không thể so bì với các tư liệu gốc, các chứng tích về tính xác thực Tuy nhiên, sự thiếu hụt sự kiện, thông tin hay sự phiến diện về đối tượng miêu tả trong hồi ký lại được bù đắp bởi văn phong sinh động, cảm tưởng trực tiếp của cá nhân tác giả Tương tự các thể loại văn xuôi nghệ thuật khác, hồi ký rất đa dạng về kiểu loại, tương đối ít định hình về cấu trúc và định hướng thẩm mỹ Có những tác phẩm hồi
ký rất gần với văn xuôi lịch sử, lại có những tác phẩm gần với tiểu thuyết Ở thế kỷ