Vì thế, không khó hiểu khi bước vào thời kỳ đổi mới, văn đàn nước ta chứng kiến sự “bùng nổ” chưa từng có của thể loại này với sự xuất hiện của rất nhiều tác giả không chuyên ở đủ mọi ng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS TRẦN KHÁNH THÀNH
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
- Luận án tiến sĩ này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
- Luận án đã được tiến hành nghiên cứu một cách nghiêm túc, cầu thị
- Kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác đã được tiếp thu một cách trung thực, cẩn trọng trong luận án
NGHIÊN CỨU SINH
Trần Thị Hồng Hoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Khánh Thành - người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn cơ sở đào tạo, các thầy cô giáo, cơ quan, bạn bè và gia đình đã luôn động viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án này
NGHIÊN CỨU SINH
Trần Thị Hồng Hoa
Trang 5MỤC LỤC Lời cam đoan
Lời cảm ơn
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp mới của luận án 5
6 Cấu trúc luận án 6
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.1 Một số vấn đề lí luận về ký 7
1.1.1 Nguồn gốc của ký 7
1.1.2 Đặc trưng của ký 8
1.1.3 Phân loại ký 12
1.2 Quan niệm về hồi ký 14
1.2.1 Khái niệm về hồi ký 14
1.2.2 Đặc trưng của hồi ký 16
1.2.3 Phân loại hồi ký 21
1.3 Lịch sử nghiên cứu hồi ký tại Việt Nam 27
1.3.1 Tình hình nghiên cứu hồi ký trước năm 1975 27
1.3.2 Tình hình nghiên cứu hồi ký sau năm 1975 30
Chương 2 QUÁ TRÌNH PHỤC HIỆN KÝ ỨC TRONG HỒI KÝ SAU 1975 37
2.1 Vai trò của ký ức trong hồi ký 37
2.1.1 Ký ức là khởi nguồn, chất liệu của văn học nói chung 38
2.1.2 Ký ức sàng lọc và tạo ra những giới hạn của việc tái hiện sự thật 40 2.2 Sự thôi thúc từ hiện tại - điểm khởi đầu của dòng ký ức 45
2.2.1 Nhu cầu hồi cố của lớp người cao tuổi 46
2.2.2 Khát vọng chia sẻ của lớp trẻ qua hồi ký 48
2.3 Sự kết tinh của các biểu tượng nghệ thuật 50
2.3.1 Những biểu tượng nổi bật 52
2.3.2 Sự tương hỗ của các biểu tượng 61
Trang 62.4 Sự hỗ trợ của trí tưởng tượng trong quá trình hoài niệm 63
2.4.1 Vai trò của tưởng tượng và vấn đề hư cấu trong hồi ký 63
2.4.2 Một số hình thức của tưởng tượng trong hồi ký 65
Chương 3 DIỄN NGÔN VỀ SỰ THẬT TRONG HỒI KÝ SAU 1975 70
3.1 Tiếp cận hồi ký từ lý thuyết diễn ngôn 70
3.1.1 Khái quát về lý thuyết diễn ngôn 70
3.1.2 Hồi ký dưới ảnh hưởng của hệ tư tưởng xã hội sau năm 1975 72
3.1.3 Sự hình thành và quan hệ qua lại giữa mã sự thật và mã nghệ thuật trong ký nói chung và hồi ký nói riêng 78
kết giữa mã sự thật và mã nghệ thuật trong hồi ký các nhà văn 81
3.2.1 Chủ thể diễn ngôn và cái nhìn tự biện mới mẻ về bản thân 81
2.2.2 Hình tượng bạn bè nghệ sĩ dưới những góc nhìn khác nhau 92
trội của mã sự thật trong hồi ký của các tướng lĩnh, chính trị gia và các cựu binh cách mạng 100
3.3.1 Chân dung người anh hùng trong cuộc chiến và giữa đời thường102 3.3.2 Hình tượng người lính- người đồng đội trong chiến tranh 108
3.3.3 Sự thể hiện của các chính trị gia 111
trợ của mã nghệ thuật cho mã sự thật trong hồi ký của các tầng lớp khác……… …114
3.4.1 Hồi ký của các nhà báo 115
3.4.2 Hồi ký của những người làm nghệ thuật 118
Chương 4 SỰ GIAO THOA THỂ LOẠI CỦA HỒI KÝ SAU 1975 122
4.1 Chất trữ tình trong hồi ký 122
4.1.1 Sự trỗi dậy của cái tôi nội cảm giữa cấu trúc hồi ức 123
4.1.2 Sự xuất hiện của thiên nhiên giữa dòng chảy sự kiện 126
4.2 Chất tiểu thuyết trong hồi ký 128
4.2.1 Kết cấu hiện đại 130
4.2.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật có độ dư 134
4.2.3 Kỹ thuật tự sự tạo tính đa thanh 137
4.3 Một số biến thể của hồi ký 140
4.3.1 Hồi ký-tự truyện 141
4.3.2 Hồi ký- bút ký 143
Trang 74.3.3 Hồi ký ẩn danh tiểu thuyết 144
KẾT LUẬN………148 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 150 TÀI LIỆU THAM KHẢO 151 PHỤ LỤC 168
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Hồi ký xuất hiện tại phương Tây từ thời cổ đại Hy Lạp, ban đầu
mang dáng dấp tiểu sử văn học, ghi lại những sự kiện đáng nhớ của những nhân vật có sức ảnh hưởng lớn với cộng đồng Cùng với sự phát triển của lịch sử, sự thay đổi của các giá trị văn hóa, xã hội, hồi ký ngày càng trở thành một thể loại hữu dụng để trình bày ký ức, tâm tư của bản thân, những đánh giá, nhìn nhận của các tầng lớp khác nhau về mọi sự
việc, hiện tượng trong đời sống
Tại Việt Nam, vào những năm đầu thế kỷ XX, đặc biệt trong giai
đoạn 1930- 1945, hồi ký cũng bắt đầu xuất hiện với tác phẩm Ngục Kon
Tum (1938) của Lê Văn Hiến nhưng chưa được sáng tác rộng rãi như các
thể ký khác Những năm 1945- 1975, tiếp nối tinh thần của thời đại, hồi ký- đặc biệt là mảng hồi ký cách mạng đã phát triển rực rỡ với những tác phẩm mang âm hưởng sử thi hào hùng Sau năm 1975, hồi ký trở thành một thể loại được yêu thích không kém truyện ngắn và tiểu thuyết Là một thể ký tự sự được phát triển từ những hồi ức cá nhân mang đầy tính chủ quan nên hồi ký tương đối “cởi mở”, không bị câu thúc quá nghiêm ngặt bởi những yêu cầu về nội dung và hình thức thể hiện Mặt khác, với công chúng hôm nay, nhu cầu tìm đến sự thật, xác minh những bí mật ẩn giấu sau những “vỏ bọc” của lịch sử và con người đã ngày càng trở thành nhu cầu bức thiết và thôi thúc họ tìm đến với hồi ký Vì thế, không khó hiểu khi bước vào thời kỳ đổi mới, văn đàn nước ta chứng kiến sự “bùng nổ” chưa từng có của thể loại này với sự xuất hiện của rất nhiều tác giả không chuyên ở đủ mọi nghề nghiệp, tuổi tác, giới tính, địa vị xã hội… Bên cạnh những cuốn hồi ký được viết ra bởi những nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu nổi tiếng còn có những cuốn hồi ký của các nguyên thủ
Trang 9quốc gia, các tướng lĩnh, nhà chính trị, nhà giáo, các diễn viên điện ảnh, nhạc sĩ, các kiến trúc sư hay những người nông dân
1.2 Theo nguồn thống kê từ Thư viện Quốc gia, số lượng hồi ký được xuất bản từ năm 1986 đến năm 1996 ở nước ta là 296 cuốn (trong
đó có 36 cuốn hồi ký của tác giả nước ngoài, 260 cuốn của tác giả Việt Nam) Con số này tăng lên gần gấp ba trong khoảng thời gian tiếp theo từ
1997 đến 2007 với tổng 630 cuốn (trong đó có 71 cuốn hồi ký nước ngoài, 559 cuốn hồi ký của Việt Nam) Đỉnh cao là năm 2005 có đến 77 cuốn hồi ký được xuất bản Cho đến thời điểm này, tuy chưa có khảo sát đầy đủ cho số lượng hồi ký ra mắt độc giả nhưng chúng tôi có thể khẳng định rằng đã có hàng nghìn đầu sách được công bố trên cả nước nhằm đáp ứng nhu cầu to lớn của cả người viết và người đọc (chưa kể các tác phẩm hồi ký được đăng tải trên mạng xã hội và đến với độc giả thế hệ @ theo phương thức đặc thù) Số lượng tác phẩm đồ sộ và có chất lượng xuất hiện trong thời gian qua đủ để hồi ký tạo nên một cuộc tranh đua hấp dẫn với các thể loại tự sự truyền thống như tiểu thuyết hay truyện ngắn Tuy nhiên, trong khi các thể loại khác nhận được sự quan tâm sâu sắc của đông đảo nhà phê bình hay các nghiên cứu sinh chuyên ngành văn học thì hồi ký chưa xuất hiện nhiều trong các công trình nghiên cứu lớn mang tính bao quát Sự xuất hiện rải rác các bài báo về hồi ký qua các giai đoạn
đã cung cấp bức tranh chung về mặt lý luận và thực tiễn sáng tác nhưng chưa giải quyết được thấu đáo mọi vấn đề của thể loại Sự chú ý của một vài luận văn hay luận án dành cho hồi ký bước đầu mang đến cái nhìn hệ thống, khái quát về sự phát triển của hồi ký nhưng lại chưa làm nổi bật được những yếu tố cốt lõi của hồi ký Nhìn lại lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi cho rằng, vẫn còn nhiều khoảng trống cần phải bổ sung để nhận diện một cách xác đáng những đặc trưng cơ bản của thể loại này
1.3 Hệ thống thể loại cùng sự vận động và biến đổi của nó là một phương diện quan trọng bộc lộ quan niệm văn học và đặc điểm tư duy
Trang 10nghệ thuật của mỗi thời đại “Đằng sau cái mặt ngoài sặc sỡ và đầy tạp
âm ồn ào của tiến trình văn học, người ta không nhìn thấy vận mệnh to lớn và cơ bản của văn học và ngôn ngữ, mà những nhân vật chính nơi đây trước hết là các thể loại, còn trào lưu, trường phái chỉ là những nhân vật hạng nhì và hạng ba” [10, 28] Soi vào quan điểm trên, ta nhận thấy việc xác lập những ranh giới cùng những đặc trưng nổi bật cho mỗi thể loại trong tiến trình phát triển của văn học là vô cùng quan trọng và cần thiết Tuy nhiên, với hồi ký, sự phân định đường biên thể loại giữa nó và những dạng thức tác phẩm khác quả thật không phải là việc dễ dàng, nhất là khi trong khuynh hướng giao thoa và biến thể đã trở thành tất yếu của thời đại mới, hồi ký ngày càng có sự thâm nhập rõ nét hơn của bút ký, tự truyện, tiểu thuyết Muốn trả lại vị trí cho hồi ký trong hệ thống thể loại, cần nhận diện và khẳng định những giá trị cơ bản có liên đới trực tiếp đến
sự hình thành nội dung và nghệ thuật, tạo nên điểm khác biệt của hồi ký
Trang 112.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Thu thập, đối chiếu, hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu về ký nói chung và hồi ký nói riêng nhằm cung cấp bức tranh tổng quan về hồi
ký trên tiến trình thể loại
- Nhận diện và phân tích các yếu tố làm nên sự khác biệt của một tác phẩm hồi ký được viết sau năm 1975 so với hồi ký trước năm 1975 và một số kiểu loại gần gũi như tự truyện, bút ký hay nhật ký
- Xác lập các đặc trưng cơ bản về nội dung và nghệ thuật của thể loại hồi ký sau năm 1975 nhằm tìm ra những điểm ưu trội của thể loại đó
so với các thể loại khác
- Phân tích một số dạng thức giao thoa thể loại và khuynh hướng biến thể của hồi ký sau năm 1975
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đặc trưng thể loại của hồi ký trong văn học Việt Nam sau năm
1975 thể hiện qua những tác phẩm tiêu biểu nhất
Vì số lượng tác phẩm quá lớn, chúng tôi chỉ tập trung vào những tác phẩm đã được giới nghiên cứu cũng như độc giả công nhận và đánh giá cao Trong số này, luận án ưu tiên phần nhiều cho hồi ký của các nhà văn vì đây là những sáng tác có sự dung hòa tốt nhất giữa tính nghệ thuật
và tính lịch sử Bên cạnh đó, chúng tôi cũng hướng đến những hồi ký tiêu biểu do các tướng lĩnh cách mạng, các cựu chiến binh, chính trị gia và
Trang 12nhiều tầng lớp khác nhau trong xã hội tham gia sáng tác (hoặc được hỗ trợ chấp bút)
Tất nhiên, bên cạnh những hồi ký có giá trị tích cực, vẫn còn một
số hồi ký xuất hiện những chi tiết phản cảm, xâm phạm đời tư của các nhân vật trong tác phẩm, đồng thời gây hoài nghi cho người đọc về lập trường, đạo đức, động cơ của tác giả (trường hợp các hồi ký của Đào Xuân Quý, Nguyễn Đăng Mạnh, Thương Tín ), nhiều hồi ký viết đơn giản, dễ dãi, ít giá trị văn chương (trào lưu công bố hồi ký đang lan rộng trên các trang mạng xã hội, các trang cá nhân ) Những hồi ký trên không phải là đối tượng của luận án
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng kết hợp các thao tác nghiên cứu như phân tích tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê và quy về một số phương pháp nghiên cứu chính: phương pháp lịch sử- xã hội, phương pháp tiếp cận liên ngành, phương pháp tiếp cận thi pháp học, phương pháp phê bình tiểu sử
- Phương pháp lịch sử- xã hội: nhằm tìm ra những đặc điểm của hoàn cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam sau năm 1975 có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của hồi ký, đồng thời đặt hồi ký trong các trục nghiên cứu khác nhau (tiến trình văn học dân tộc, hệ hình phát triển của thể loại…) để đánh giá chính xác, khoa học những đặc điểm, đóng góp của thể tài này
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: chúng tôi sẽ nghiên cứu đặc trưng của hồi ký không chỉ bằng các tri thức văn học mà còn vận dụng kết hợp với các chuyên ngành khoa học gần gũi khác như lý thuyết diễn ngôn và tâm lý học sáng tạo Lý thuyết diễn ngôn cung cấp cơ sở để phân tích quá trình tái hiện sự thật trong hồi ký qua mối liên hệ ràng buộc giữa
mã sự thật và mã nghệ thuật Còn tâm lý học sáng tạo đưa ra những công
cụ “chìa khóa” giúp phân tích vai trò của ký ức trong hồi ký với những giai đoạn cụ thể và tác động chặt chẽ lẫn nhau
Trang 13- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: học hỏi từ lý thuyết về thi pháp của phương Tây, hướng nghiên cứu thi pháp học đã được sử dụng ở hầu hết các thể loại văn học Tương tự như vậy, khi nghiên cứu về hồi ký, luận án cũng vận dụng phương pháp này để nhận diện, phân tích “hệ thống các phương thức, phương tiện, thủ pháp biểu hiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật” [51, 304]
- Phương pháp phê bình tiểu sử: chú trọng vào tiểu sử của người viết để tìm ra cơ sở lý giải cho những quan điểm sáng tác, những hình tượng nghệ thuật xuất hiện trong tác phẩm Phương pháp này có nhiều điểm phù hợp để tìm hiểu một thể tài “đậm tính chủ quan” và mang dấu
ấn cá nhân như hồi ký
5 Đóng góp mới của luận án
Luận án này là công trình đầu tiên nghiên cứu về hồi ký ở các mảng đề tài khác nhau, bao gồm cả tác phẩm của những tác giả không chuyên nhưng đã được giới phê bình và độc giả ghi nhận Hồi ký được xem xét như một đối tượng của lý luận văn học với các đặc trưng thể loại nổi bật, không trộn lẫn với bất kỳ thể ký nào khác cũng như hoàn toàn
phân biệt với những thể loại cũng viết về cái tôi cá nhân Kết quả luận án
sẽ giúp bổ sung lý luận phê bình về thể loại, cung cấp nguồn tư liệu hữu
ích cho việc giảng dạy các môn Lí luận văn học và Văn học Việt Nam tại các trường đại học, cao đẳng hiện nay
6 Cấu trúc luận án
Luận án gồm 5 phần: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận, các công trình nghiên cứu của tác giả và thư mục tham khảo Nội dung chính của luận án được triển khai thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Quá trình phục hiện ký ức trong hồi ký sau năm 1975 Chương 3: Diễn ngôn về sự thật trong hồi ký sau năm 1975
Chương 4: Sự giao thoa thể loại của hồi ký sau năm 1975
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Một số vấn đề lý luận về ký
1.1.1 Nguồn gốc của ký
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Ký ra đời rất sớm trong lịch sử
văn học của nhân loại Nhưng phải đến thế kỷ XVII, đặc biệt là từ thế kỉ XIX, khi đời sống lịch sử của các dân tộc ngày càng phát triển theo hướng tăng tốc, khi kĩ nghệ in ấn và báo chí phát triển, văn học mở cửa,
xé rào để thâm nhập vào các lĩnh vực hoạt động tinh thần khác, nhà văn ngày càng có ý thức tham gia trực tiếp vào những cuộc đấu tranh xã hội,
ký mới thực sự phát triển mạnh mẽ” [52, 163] Nhưng trong cuốn Lý luận
văn học, La Khắc Hòa lại cho rằng ký là một thể loại xuất hiện muộn so
với văn thơ cách luật bởi lẽ “lịch sử của nó gắn liền với lịch sử phát triển của văn học bác học” Tác giả cũng nhấn mạnh: “Ở châu Âu, phải đến thế
kỷ XVIII, người ta mới thấy ký văn học xuất hiện nhiều trên một số tạp chí trào phúng (…) và đạt được sự kết tinh nghệ thuật trong sáng tác của các nhà khai sáng ” [148, 356]
Khi truy nguyên nguồn gốc của ký ở các quốc gia có sự phát triển lâu đời và có nền văn học phát triển mạnh mẽ, nhiều nhà nghiên cứu đã nhận ra sự manh nha của ký trong những tác phẩm tiêu biểu Như “Ở Trung Quốc, ký xuất hiện từ trước đời Hán Đến các đời Đường, Tống, Minh, Thanh, ký ngày càng phát triển mạnh mẽ và được ý thức về đặc
điểm thể loại” [148, 356] hay “ký là thể loại không có mặt trong Văn
tuyển của Tiêu Thống, cũng không được bàn đến trong Văn tâm điêu long
của Lưu Hiệp, mặc dù chữ ký đã thấy có trong một số thiên từ Hán trở về
trước Ký bắt đầu xuất hiện trong nhiều trước tác của các tác giả đời Đường, như để ghi việc xen với lời bình…” [147, 324] Ở phương Tây,
ký đã phát triển từ khá sớm với các tác phẩm tiêu biểu: Những bức tranh
Trang 15Pari- Mecsie, Tự thuật- Rousseau, Hồi ức từ bên kia nấm mồ-
Chateaubriand… Các nhà văn Nga cũng có nhiều tác phẩm ký xuất sắc
như Hành trình từ Petecbua đến Moskva của Radisev, Những xó xỉnh
Pêtecbua của Nhecrasov, Những người Côdắc vùng Uran của Dan… Tại
Việt Nam, nguồn cội xa xưa của ký là các tác phẩm bi ký, minh ký, tạp
ký, tục biên, liệt truyệt, thực lục… trong văn học trung đại như Công dư
tiệp ký (Vũ Phương Đề), Thượng kinh ký sự (Lê Hữu Trác), Vũ trung tùy bút (Phạm Đình Hổ)… Tuy lúc đó chưa có ý thức về ký như một thể loại
văn học song trong các lời bạt, tự hay trong các công trình mang tính chất khảo cứu của thời đại, người ta vẫn có thể tìm thấy quan niệm về ký khá nhất quán
1.1.2 Đặc trưng của ký
Trước hết, xét về mặt từ nguyên, các thể ký, lục, chí đều có nghĩa là
“ghi chép” Chính vì thế, các học giả thời trung đại đều nhấn mạnh đến chức năng ghi chép như là một nhiệm vụ quan trọng nhất của thể loại
này Tựa Trung Hưng thực lục, Hồ Sĩ Dương viết: “Sách thực lục được
biên soạn nhằm chép việc, nêu công lao, tỏ rõ chính thống và ghi rõ dòng
dõi vua hiền” [142, 60] Trong Thượng kinh ký sự, Lê Hữu Trác cũng bày
tỏ: “Nhân việc khi nhàn rỗi, uống rượu, gảy đàn, chép lại đầu đuôi việc
cũ để nhớ lại khiến con cháu ở đời biết tùy duyên, thủ phận, biết tri túc tri chỉ…” [171, 175] Mặt khác, các học giả cũng khẳng định, những việc
được ghi chép trong ký, lục, chí là sự thực mắt thấy tai nghe Trong lời tựa của Lam Sơn thực lục và Trung Hưng thực lục, Hồ Sĩ Dương nhấn
mạnh hai trước tác của ông “không nói chuyện hoang đường như Lĩnh Nam chích quái, không chép những điều quái loạn như Việt điện u linh, chỉ thêm vào bớt đi cho đúng sự thực để rõ chính thống và làm sáng tỏ đế
nghiệp mà thôi” [142, 62] Tựa Công dư tiệp ký, Vũ Phương Đề viết:
“Phủ bình nhật thích nói chuyện nên khi việc quan rảnh rỗi thường ghi chép lại những điều bấy lâu nay mình nghe được, cùng những chuyện biết
Trang 16được từ các nhà bác học đương thời Tất cả đều căn cứ vào sự thực mà viết thành bài…” [40, 11] Như vậy, từ rất sớm, các học giả nước ta đã
xác định nhiệm vụ đồng thời cũng là đặc trưng trọng tâm của ký là tái
hiện và ghi chép sự thật với sự tôn trọng tối đa
Những năm 1960 đã diễn cuộc tranh luận khá quyết liệt trên văn đàn Việt Nam về vị trí, chức năng, đặc trưng, sự thật và hư cấu trong ký Các ý kiến đều thống nhất thừa nhận ký là thể loại ghi chép người thật việc thật, tranh cãi chủ yếu xoay quanh bàn luận về mức độ và vai trò của
hư cấu trong ký Một bên là Trần Cư, Nguyễn Kim Hoa, Tầm Dương…
khẳng định ký không được quyền hư cấu dưới bất cứ hình thức nào Bên kia là Chế Lan Viên, Nguyễn Minh Nguyên, Châu Giang… cho rằng ký
có thể hư cấu trong giới hạn cho phép Trong công trình Cơ sở lý luận văn học năm 1973 của các tác giả Nguyễn Xuân Nam, Trần Văn Bính, ký
được xác định như “một thể loại cơ động, linh hoạt, nhạy bén trong việc phản ánh hiện thực ở cái thế trực tiếp nhất”; các tác giả khi viết ký cần
“tôn trọng tính xác thực của người và việc trong tác phẩm”; “hư cấu không được sử dụng tuỳ tiện ảnh hưởng đến tính xác thực của nội dung
mà trái lại phải làm tăng thêm ý nghĩa xã hội và giá trị nghệ thuật cho tác
phẩm” [117, 42] Năm 1980, trong công trình Ký viết về chiến tranh cách
mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hà Minh Đức lại khẳng định: “Chức
năng của ký không chỉ nhằm vào miêu tả cái có thật trong cuộc sống Ký cảm nhận nhạy bén với những sự kiện đang phát triển trên dòng thời sự, nên có khả năng phát hiện hướng vận động của hiện thực, những mâu thuẫn, những vấn đề nảy sinh và đoán định hiệu quả đạt tới” [41,7] Đặt trong mối tương quan so sánh với các loại ký ngoài văn học, tác giả đưa
ra định nghĩa: “Ký văn học chủ yếu là hình thức ghi chép linh hoạt trong văn xuôi về những sự kiện và con người có thật trong đời sống với nguyên tắc tôn trọng tính xác thực và chú ý đến tính thời sự của đối tượng miêu tả” [41,45]
Trang 17Nhìn chung, các tranh luận trong giai đoạn 1945-1986 đều xoay quanh vấn đề: ký được phép hay không được phép hư cấu? Đây cũng là giai đoạn xác lập hệ thống lý thuyết về ký Lần đầu tiên, các thể tài có chức năng và hình thức ghi chép sự thật như ký sự, phóng sự, bút ký…
được tập hợp trong một thể loại văn học có tên là ký
Sau năm 1986, sự ra đời của các bộ giáo trình lí luận văn học gắn với các cơ sở đào tạo sinh viên Ngữ Văn, Báo chí đã tiếp tục xác lập hệ
thống lý thuyết về ký Lí luận văn học do Trần Đình Sử, La Khắc Hòa,
Phùng Ngọc Kiếm biên soạn đã cho rằng ký là một loại hình văn học trung gian với những đặc trưng như: ký là sự can dự trực tiếp của nghệ thuật vào đời sống xã hội, ký có cách xử lý riêng về khoảng cách giữa thời gian sự kiện và thời gian trần thuật, ký kết hợp linh hoạt các phương thức tự sự, trữ tình, nghị luận với những thao tác tư duy khoa học, đặc trưng của ký là trần thuật người thật việc thật nên người trần thuật trong
ký thường xưng tôi, hiện diện với tư cách là nhân chứng, ký có thể hư cấu
trong phạm vi nhất định Từ điển thuật ngữ văn học nhận định: “Nhưng
khác với truyện ngắn, truyện vừa, đặc biệt là tiểu thuyết, ký có quan điểm thể loại là tôn trọng sự thật khách quan của đời sống, không hư cấu Nhà văn viết ký luôn chú ý đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực đời sống được phản ánh trong tác phẩm Sự việc và con người trong ký phải xác thực hoàn toàn, có địa chỉ hẳn hoi” [52, 163]
Tiếp tục giải quyết những tranh luận về vấn đề hư cấu trong ký, tác
giả Hoàng Minh Lường trong Giáo trình lý luận văn học (dành cho sinh
viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền) đã có những kiến giải khá thú vị
và xác đáng: “Người viết ký cũng có thể viết về sự kiện nhờ nghe kể lại,
thậm chí nhờ đọc nguồn tư liệu tĩnh… Những khó khăn của quá trình xử
lý, tiếp cận tư liệu như trên chính là nguồn gốc của sự sáng tạo và hư cấu
Hư cấu và sáng tạo là một khả năng có thể trong quá trình sáng tạo các tác phẩm ký” [104, 256] Chúng tôi nhận thấy, không cần đợi đến khi văn
Trang 18học được “cởi trói tư duy” ở thời kỳ đổi mới, tạo tiền đề cho những tác phẩm ký thể hiện tư tưởng nội dung và nghệ thuật, mà ngay ở giai đoạn đầu của văn học cổ điển, thực tiễn sáng tác đã xuất hiện nhiều tác phẩm
ký với đầy ắp những yếu tố hoang đường, kì ảo (Vũ trung tuỳ bút- Phạm Đình Hổ, Công dư tiệp ký- Vũ Phương Đề) hay những tưởng tượng, giả định lý thú (Thượng kinh ký sự- Lê Hữu Trác)
Năm 2013, trong luận án của mình, tác giả Nguyễn Ngọc Minh đã
đặt vấn đề nhìn nhận ký như một loại hình diễn ngôn, giải quyết một loạt
vấn đề của thể loại dưới góc nhìn mới Tất nhiên, chúng tôi không đồng ý với tác giả khi coi ký là một “loại hình” (đứng từ góc độ lý luận, ký chỉ nên được xem xét với tư cách một thể loại, đồng đẳng với các thể loại khác như thơ, truyện, tiểu thuyết,…) nhưng chúng tôi khá tán thành với cách tác giả bóc tách đặc trưng của ký Trên quan điểm của lý thuyết diễn ngôn, người viết đã phân tích giá trị của các tác phẩm ký qua các “mã” từ
mã thể loại đến mã tư tưởng hệ Hướng nghiên cứu này gợi mở cho
chúng tôi thêm một cách tiếp cận mới về đặc trưng thể loại của ký
Có thể nói, đặc trưng của ký không chỉ dừng lại ở đặc điểm viết về người thật việc thật hay có sử dụng hư cấu hay không mà “phải là loại văn xuôi tự sự trần thuật những người thật việc thật với những đặc điểm riêng biệt trong mức độ và tính chất hư cấu, trong vai trò của người trần thuật cùng mối liên hệ giữa nó với đặc điểm của kết cấu và cốt truyện… thì mới làm nên đặc trưng của ký” [148, 280] Bản thân tác giả Tô Hoài cũng nhận xét: “Thể truyện đòi hỏi sáng tạo trên cơ sở tổng hợp thực tế Thể ký cần tổng hợp thực tế rồi sáng tạo thông qua những điều mắt thấy tai nghe Những đặc điểm có tính chất quy định thể loại ấy không hạn chế
sự sáng tạo Hạn chế hay không chỉ do tư tưởng, vốn sống và sở trường, tài năng mọi mặt của người viết mà thôi” [63, 22] Ký, trong bản chất thể loại, đã luôn dung nạp những sự sáng tạo, hư cấu của chủ thể trần thuật ở một giới hạn nhất định
Trang 19Tóm lại, chúng tôi cho rằng ký là một thể loại văn học nằm trong loại hình văn xuôi tự sự mang những đặc trưng nổi bật như sau:
- Tính chất nổi trội của ký là tính tự sự nhưng bên cạnh đó, tùy thuộc vào đặc trưng của các tiểu loại/ thể tài, ký hoàn toàn có thể dung nạp tính chất trữ tình, chính luận Những yếu tố này chính là những suy nghĩ, cảm xúc thật của người viết xuất phát từ quá trình tiếp xúc, cảm thụ những sự kiện có thật nên trong ký luôn có sự kết hợp giữa tính khách quan và tính chủ quan
- Khác với nhân vật trong các tác phẩm truyện hay tiểu thuyết thường là một nhân vật được làm mới hoàn toàn thì nhân vật của ký là do
nhà văn tái tạo theo nguyên hình một con người có thật Trong ký, sự
trung thực đến mức tối đa với người thật việc thật là một tính tất yếu, một nguyên tắc Tuy nhiên, giữa những tư liệu bề bộn của đời sống, người viết ký luôn phải biết chọn lọc các chi tiết sinh động và tiêu biểu nhất để tái tạo thành các hình tượng nghệ thuật điển hình Nhà văn không đưa hết mọi chi tiết vào tác phẩm nhưng chi tiết nào đã được chọn đưa vào tác phẩm thì phải đảm bảo độ chính xác cao
- Phương pháp sáng tạo nghệ thuật và khái quát hiện thực của ký không phải là “ghép những hiện tượng thuộc nhiều người, nhiều việc vào một nhân vật, một hoàn cảnh, mà là phương pháp đúc những hiện tượng thuộc riêng một người thật, việc thật thành một nhân vật, một hoàn cảnh trung thực đến mức tối đa với người thật, việc thật nhà văn đã chọn” [115, 564] Trên cơ sở tôn trọng sự thật đến mức tối đa, không bịa đặt, không bóp méo sự thật, ký có thể sử dụng linh hoạt các phong cách và bút pháp khác nhau
1.1.3 Phân loại ký
Đặt ký trong dòng chảy lịch đại, các nhà nghiên cứu nước ta chia ký thành hai giai đoạn: ký cổ điển và ký hiện đại Sự phân chia này không chỉ dựa vào thời gian xuất hiện mà chủ ý nhấn mạnh đến đặc trưng nổi
Trang 20trội của các tiểu loại ký qua các thời kỳ Ký cổ điển thiên về ghi chuyện,
kể việc, các thủ pháp tạo lập văn bản khá đơn giản và thống nhất Ký hiện đại là những tác phẩm nghệ thuật phản ánh và tái hiện cuộc sống bằng những hình vẻ đa dạng và phong phú
Với ký cổ điển, các tác giả Trần Thị Kim Anh và Hoàng Hồng Cẩm
trong cuốn Các thể văn chữ Hán Việt Nam chỉ ra “Trước thế kỷ XV,
dường như chỉ bắt gặp những đoạn văn ngắn mang dáng dấp của ký trong
sử thi và văn bia, văn tự bạt, những tác phẩm ký hoàn chỉnh chỉ thực sự xuất hiện từ thế kỷ XV trở về sau” [3, 104] Đồng thời, căn cứ theo nội dung và đặc điểm của các bài ký, các nhà nghiên cứu cũng đề xuất phân
chia thành 5 tiểu loại chính là truyện ký nhân vật, ký đình đài danh thắng,
du ký, ký sự, tạp ký Trong khi đó, tác giả Trần Đình Sử cho rằng ký cổ
điển chủ yếu bao gồm hai loại là tạp ký và ký sự Tạp ký là “ghi lại những điều mắt thấy tai nghe”, “loại ghi chép có tính chất lịch sử về sông núi, đền chùa, phương vực, phẩm vật, chuyện lạ…” [147, 328]
Với ký hiện đại, có nhiều cách phân chia được đề xuất Trong cuốn
Lý luận văn học (tập 2) do Trần Đình Sử chủ biên, các tác giả đã phân
chia ký thành các thể: phóng sự với đặc trưng nổi bật là ghi chép “những
sự thật xác thực, dồi dào và nóng hổi”, có màu sắc chính luận; bút ký thể
hiện trực tiếp khuynh hướng cảm nghĩ của tác giả, do đó mang màu sắc
trữ tình, ký sự ghi chép hoàn chỉnh một sự kiện, phong trào, giai đoạn; hồi
ký có đặc trưng là chủ thể trần thuật phải là người trong cuộc, kể lại
những sự việc trong quá khứ Tác giả Hà Minh Đức trong công trình Ký
viết về chiến tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội đề nghị phân
chia ký thành 3 nhóm cơ bản dựa vào phương thức phản ánh đặc thù, đó
Trang 21tiêu biểu như nhật ký, bút ký, tùy bút…,“tuy vận dụng nhiều yếu tố trữ tình nhưng cơ sở của những cảm xúc suy nghĩ này vẫn phải dựa vào
người thật việc thật trong đời sống” [41, 65] Ký chính luận gồm các thể
loại như bút ký chính luận, tạp văn, tiểu phẩm… “kết hợp tư duy hình tượng và tư duy của hoạt động báo chí chính luận” [41, 65]
Những cách phân loại trên khá hợp lý và tất nhiên mọi sự phân chia đều chỉ là tương đối Tuy có sự khác biệt đôi chút về cơ sở, tiêu chí phân loại nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất về tên gọi và đặc trưng của các thể loại thuộc ký Trên cơ sở những lý thuyết khái quát này, chúng ta có thể vận dụng để phân tích và thẩm định những tác phẩm
hồi ký theo đúng định hướng thể loại
1.2 Quan niệm về hồi ký
1.2.1 Khái niệm hồi ký
Hồi ký là một trong những thể ký tự sự điển hình, vừa mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của thể loại, vừa có những nét khu biệt riêng, không trộn lẫn Trong tiếng Anh, thể loại này có tên gọi là “memoir” (tiếng Pháp là “mémoire”) và được từ điển Wikipedia định nghĩa như sau:
Mỗi tác phẩm hồi ký là tập hợp những ký ức cá nhân về những khoảnh khắc hay sự kiện, cả những điều công khai hoặc mang tính chất riêng tư đã diễn ra trong cuộc sống của đối tượng đó Hồi ký từng được định nghĩa là một dạng của tiểu sử, lý lịch hoặc tự truyện từ cuối thế kỷ
XX nhưng thực chất những thể loại này có sự khác biệt về cấu trúc, thể hiện chủ yếu ở tiêu điểm trần thuật Tự truyện kể câu chuyện về cuộc đời trong khi đó hồi ký thường kể một câu chuyện rút ra từ đời sống
Có thể thấy, ban đầu, hồi ký chưa được định dạng như một thể loại độc lập Hồi ký trên thế giới đã từng được xếp vào dạng tự truyện hoặc tiểu sử, còn ở Việt Nam thì từng được định danh là một biến thể của bút
ký như trong bài nghiên cứu sau của Nam Mộc: “Bút ký lại có nhiều thứ:
có bút ký phản ánh những người, việc và cảm nghĩ đang diễn ra từng
Trang 22ngày theo một thứ tự thời gian (nhật ký), có thứ phản ánh người, việc và cảm nghĩ diễn biến trong không gian theo bước đi của nhà văn (du ký); có
thứ bút ký phản ánh những hiện tượng đã qua theo trí nhớ của nhà văn
(hồi ký) Ở ta có một loại hồi ký đặc biệt do người trong cuộc hoặc người
chứng kiến kể lại cho nhà văn ghi mà có đồng chí gọi là “loại ghi chép” hoặc “truyện ghi” [115, 549] Trong cuốn “Viết hồi ký” xuất bản năm
1961, nhiều nhà nghiên cứu cũng khẳng định: “Theo một số tài liệu giáo khoa thì hồi ký nằm trong thể chung của bút ký, nhằm ghi chép lại những
sự kiện đã xảy ra trong đời sống tương đối lâu Thể “ký” nằm trong một loại được gọi chung là tản văn có đặc điểm không xây dựng hình tượng văn học bằng hư cấu Người viết chỉ chọn lọc, cắt xếp lại một số chi tiết của sự việc…” [126, 11]
Sự sắp xếp và định danh như trên có nhiều điểm bất cập bởi giữa bút
ký và hồi ký có sự phân biệt khá rõ về đặc trưng thể loại và cách tiếp cận, phản ánh hiện thực Các nhà nghiên cứu sau này đã đưa ra những định nghĩa phù hợp hơn, trả lại cho hồi ký vị trí xứng đáng trong hệ thống thể loại của ký Theo nhà nghiên cứu Hà Minh Đức: “Hồi ký là những trang ghi chép dựa trên sự hồi tưởng lại những sự việc đã lùi vào quá khứ Viết hồi ký là nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại bằng câu chuyện kể lại về người thật việc thật ngày hôm qua, do chính người kể chứng kiến hoặc tham gia vào sự việc Viết hồi ký không riêng là công việc của hoạt động văn học Hồi ký phát triển trên nhiều lĩnh vực của đời sống nhằm kể lại những hoạt động xã hội thu hút được sự quan tâm của người đọc mà
mọi người chưa có dịp biết đến” [41, 78] Sách Từ điển văn học định
nghĩa: “Hồi ký còn được gọi là hồi ức (…) Lời văn của hồi ký cốt xác
đáng, trung thực, giàu suy nghĩ và cảm tưởng cá nhân” [60, 319] Từ điển
thuật ngữ văn học cũng nêu: “hồi ký là một thể loại thuộc loại hình ký, kể
lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến” [52, 152]
Trang 23Tóm lại, chúng tôi cho rằng hồi ký là một thể loại dùng góc nhìn chủ quan của người viết để phản ánh những sự thật khách quan đã xảy ra trong quá khứ có liên hệ mật thiết đến hiện tại- những sự thật đã được sàng lọc qua cơ chế lựa chọn của hồi ức Như vậy, ngay trong sự chọn lọc, sắp xếp, tái hiện các dữ kiện trong quá khứ, hồi ký đã thể hiện rõ tính
“truyện” trong “ký” một cách linh hoạt và đầy sức hút Về phạm vi phản ánh, hồi ký thường viết về những sự kiện đã qua của bản thân tác giả nhưng cũng có thể tái hiện những biên độ sự thật rộng hơn về bạn bè, thời đại mà tác giả là người trực tiếp tham gia hoặc tận mắt chứng kiến Nói như Đặng Thai Mai “Cuối cùng, hồi ký là gì? Là nhân chứng, là một chuỗi trí nhớ, là ấn tượng, là tâm sự, là tôi nhưng vẫn là anh, là ngày xưa nhưng cũng là ngày nay, ngày mai” [107, 17]
1.2.2 Đặc trưng của hồi ký
Dựa trên việc tổng hợp các nguồn tư liệu đã viết về hồi ký, có thể chỉ ra một số đặc điểm của thể loại đã được các nhà nghiên cứu ghi nhận như: sự nổi bật của cái tôi tác giả, sức hấp dẫn của sự thật được cất giữ trong quá khứ, cơ chế tái hiện hiện thực chủ đạo trong hồi ký so với các thể loại gần gũi… Tuy nhiên, những đặc điểm này còn hết sức sơ lược và mang tính khái quát chung chung, đòi hỏi những phân tích cụ thể hơn, sâu sắc hơn
1.2.2.1 Trung tâm của hồi ký là cái tôi tác giả
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân từng nhấn
mạnh “Tác phẩm hồi ký là một thiên trần thuật từ ngôi tác giả, kể về những sự kiện trong quá khứ mà tác giả tham dự hoặc chứng kiến” [6,
155] Từ điển văn học nêu: “Khác với sử gia và nhà viết tiểu thuyết,
người viết hồi ký chỉ tiếp nhận và ghi chép phần hiện thực mà tác giả nhìn rõ hơn cả dựa trên cơ sở những ấn tượng và hồi ức riêng trực tiếp của mình” [60, 152] Cả hai quan điểm trên đều thể hiện vai trò vô cùng quan trọng của hình tượng tác giả trong hồi ký Là người trực tiếp tham
Trang 24gia vào thế giới hình tượng nghệ thuật của tác phẩm, không những thế còn nằm ở vị trí trung tâm; là người được tác giả ủy thác để cất lên tiếng nói về sự thực, người kể chuyện này không chỉ miêu tả, kể chuyện mà luôn bày tỏ thái độ, cảm xúc, đánh giá của mình trước câu chuyện mình
kể, khiến phát ngôn về sự thực trong hồi ký bao giờ cũng có một giọng điệu riêng Tính chủ quan trong những trang hồi ký xuất phát từ điểm nhìn trần thuật của người kể chuyện xưng “tôi” khiến cho tác phẩm luôn đứng ở ranh giới giữa sự trung thực và dối trá, sự chính xác và mập mờ,
sự tinh tế và sống sượng Hơn bất kỳ một thể loại nào khác, hồi ký đòi hỏi người viết luôn phải cân nhắc kĩ càng trước khi viết Bên cạnh đó, từ lăng kính chủ quan của người viết, hồi ký không chỉ nêu lên sự thực của một
cá nhân mà thông qua những câu chuyện đời muôn hình muôn vẻ, chân dung những con người khác, chân dung thời đại, chân dung của cả một xã hội có thể được khắc họa sống động, vừa khách quan lại vừa chân thực, gần gũi “Viết hồi ký là một cách tự đánh giá Đây không phải là một dịp
để người viết tự giới thiệu và đề cao mình trước người đọc” [41, 79] Rõ ràng “ai cũng có quyền viết hồi ký Song, những người sống bên lề xã hội, ít tham gia trực tiếp vào nhiệm vụ đấu tranh xã hội, nghèo nàn về vốn sống và tâm hồn, thường không có đủ tư cách và điều kiện để viết hồi ký” [41, 78] Hồi ký không kén người viết nhưng để có những trang hồi ký có ảnh hưởng nhất định đến cộng đồng, tác giả của hồi ký ngoài tài năng viết lách và tâm huyết trải lòng, cần một sự trải nghiệm cũng như lập trường sống vững vàng và bản lĩnh thép để chịu trách nhiệm trước những sự thật được công khai và phản ứng đáp trả của dư luận xã hội
Theo quan điểm của chúng tôi, việc nhấn mạnh vai trò trung tâm của cái tôi tác giả trong hồi ký là một hướng nghiên cứu đúng nhưng chưa
đủ Bởi lẽ, không riêng gì hồi ký, những thể loại như nhật ký, bút ký, ký
sự, tản văn, tùy bút hay tự truyện cũng đều tiếp cận và khám phá hiện thực từ điểm nhìn của một cái tôi chủ quan và luôn khát khao muốn thể
Trang 25hiện bản thể của mình Vì thế, muốn làm nổi bật đặc trưng thể loại của hồi ký, việc phân tích hình tượng cái tôi tác giả cần phải gắn chặt với đặc điểm của quá trình phục hiện ký ức và sự thể hiện của những diễn ngôn
về sự thật Bên cạnh đó, trong rất nhiều hồi ký, đặc biệt là dòng hồi ký cách mạng, nhân vật trung tâm của hồi ký hoàn toàn không trùng khít với người ghi chép, người kể lại câu chuyện (xuất hiện hiện tượng tác giả
“kép”) nên việc nghiên cứu về “cái tôi tác giả” có lẽ phải chuyển sang đối tượng là “chủ thể trần thuật” mới bao quát được hết phạm vi tác phẩm
1.2.2.2 Cốt lõi của hồi ký là giải mã và công bố sự thật
Cũng như các thể loại khác của ký, chất liệu cốt lõi để tạo nên hồi
ký là “sự thật” nhưng không phải là bất kỳ sự thật nào trong đời sống mà phải là những sự thật có tính đại diện, có độ hấp dẫn nhất định với sự tò
mò của độc giả Điều này lý giải nguyên nhân vì sao hồi ký của những người nổi tiếng thường sẽ thu hút được đông đảo bạn đọc hơn hẳn những người bình thường Và có một thời gian dài, hồi ký dường như chỉ là “địa hạt” của những tên tuổi lớn Đúng như nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã chiêm nghiệm: “Thời ấy viết hồi ký phải có hai điều kiện: Một là phải già (…), Hai, phải là những cây đa cây đề (…)” [151, 5] Mặt khác, ngay trong vấn
đề “sự thật” được tái hiện trong hồi ký cũng cần phải được nhìn nhận một cách thấu đáo Bởi lẽ, như nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dân đã nhận
định: “trong hồi ký, có hai loại sự thật: một là sự thật khách quan và một
là sự thật chủ quan Sự thật khách quan là những sự thật của thiên nhiên
và xã hội diễn ra thật sự đúng như chúng ta chứng kiến Còn sự thật chủ
quan lại là những sự thật phụ thuộc vào suy nghĩ và hành động chủ quan
của con người mà chúng diễn ra nhiều khi không như chúng ta thấy” [27]
Công việc viết hồi ký không giản đơn chỉ là nêu ra sự thật, tác giả hồi ký cần phải biết chọn lọc, sắp xếp và cân đối giữa các kiểu sự thật trên Nói như Trecnusevski: “Đối tượng của ký cũng như của văn học nói chung chẳng những là mối quan hệ giữa con người với những vật và sinh linh
Trang 26của thế giới khách quan, mà còn là đời sống nội tâm của con người nữa” [Dẫn theo Nam Mộc- 115, 542]
Rõ ràng, trong bản chất của việc phản ánh và ghi chép sự thật, hồi
ký đã luôn mang tính sáng tạo, hư cấu, tưởng tượng của chủ thể phát ngôn bao trùm lên mọi sự việc trong quá khứ Hiện tượng thú vị này khiến cho hồi ký tăng tính hấp dẫn và giá trị nghệ thuật nhưng đồng thời lại đẩy mỗi tác phẩm có nguy cơ bị chệch hướng và sai lệch so với sự thật đích thực Vấn đề “sự thật” trong hồi ký vì lẽ đó là một trong những vấn
đề phức tạp và đầy hấp dẫn, không chỉ thể hiện qua những yếu tố nội dung mà trên hết và trước hết phải là qua những gì hiển lộ bề ngoài, thậm chí bị chi phối bởi những thứ ngoài văn bản (chúng tôi gọi đó là những
“diễn ngôn về sự thật”)
1.2.2.3 Sự phân biệt giữa hồi ký và các thể loại gần gũi
Trong quá trình nghiên cứu về hồi ký, nhiều tác giả đã có ý thức đặt thể loại này trong sự so sánh với các thể loại khác cùng trục thể loại hoặc
có nhiều điểm gần gũi trong phương thức thể hiện
Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi đồng chủ biên đã nhận xét: “Xét về phương diện quan hệ giữa tác giả và sự kiện được ghi lại, về tính chính xác của sự kiện, về góc độ
và phương thức diễn đạt, hồi ký có nhiều chỗ gần với nhật ký Còn về phương diện tư liệu, về tính xác thực và không có hư cấu thì hồi ký lại gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học” [52, 152] Trong tác phẩm
Đọc “tôi” bên bến lạ của Đoàn Cầm Thi, tác giả cũng nhấn mạnh sự khác
biệt giữa hồi ký với nhật ký và tự truyện ở cách thức khai thác đối tượng
và phạm vi phản ánh: “Ba hình thể này giống nhau ở chỗ đó là những
chuyện đời tự kể Nhưng khi tự truyện và hồi ký được viết theo chiều
nghịch của thời gian, hướng về dĩ vãng thì nhật ký được viết theo chiều thuận, ghi lại sự kiện và cảm xúc hàng ngày”; “tự truyện xoáy vào cá nhân người viết, trong khi hồi ký là bức tranh về một thời đại, bên cạnh
Trang 27câu chuyện của mình, tác giả đi sâu tìm hiểu những mảnh đời khác” [154, 242] Như vậy, khác với nhật ký- hình thức ghi chép hàng ngày mang tính riêng tư và người viết luôn cập nhật thông tin ở thời quá khứ gần nhất, người viết hồi ký lại thường từ điểm nhìn hiện tại để soi sáng lại quá khứ Vai trò của hồi ức vì thế đặc biệt quan trọng Sự đứt quãng hay liền mạch,
sự lựa chọn hay đồng thuận của hồi ức về những sự thật đã qua sẽ quyết định đặc trưng của hồi ký Mặt khác, tác giả hồi ký không chỉ cung cấp những sự thật của cá nhân mình mà hoàn toàn có thể khai thác, miêu tả hiện thực khách quan của thời đại, những chuyện đời của một ai đó mà tác giả có dịp chứng kiến, kiểm chứng
Đặt hồi ký trong tương quan với các thể loại khác của ký, Lý luận
văn học của Trần Đình Sử cũng nhấn mạnh: phóng sự đậm tính chính
luận với nội dung chủ yếu là vấn đề người viết muốn đề xuất, giải quyết;
bút ký thể hiện trực tiếp khuynh hướng cảm nghĩ của tác giả, do đó mang màu sắc trữ tình, ký sự ghi chép hoàn chỉnh một sự kiện, phong trào, giai đoạn; truyện ký thường tập trung vào việc trần thuật một nhân vật; hồi ký
có đặc trưng là chủ thể trần thuật phải là người trong cuộc, kể lại những
sự việc trong quá khứ Như vậy, cũng giống như phóng sự, du ký, ký sự…, hồi ký đặc biệt đề cao tính khách quan của sự kiện và sự chân xác của đối tượng phản ánh Tuy nhiên, nếu như trong phóng sự, người viết bám sát hiện thực nóng hổi để phản ánh chúng một cách kịp thời; trong
ký sự, tác giả quan tâm đến sự vận động hoàn chỉnh trên diện rộng của
một giai đoạn, một phong trào thì với hồi ký, người kể chuyện thường tạo
ra một khoảng lùi thời gian khá dài để chiêm nghiệm, suy tư, phán xét lại những khoảnh khắc đã qua của quá khứ có liên quan mật thiết đến hiện
tại Như Huy Cận đã từng viết trong tác phẩm Núi mộng gương hồ của
ông: “Viết hồi ký là sống lại một lần nữa cuộc đời mình, mà cũng là san
sẻ cho người khác trong thiên hạ vui buồn của mình, thân phận của mình
và phần nào những trải nghiệm dọc đời tôi đã sống”
Trang 281.2.3 Phân loại hồi ký
Có nhiều cách để phân loại hồi ký như dựa theo đề tài, theo kết cấu
tác phẩm, theo chủ thể sáng tác hoặc cảm hứng chủ đạo… Mỗi cách phân loại có tiêu chí riêng và có sự phù hợp nhất định với khuynh hướng phát triển của hồi ký Trong luận án này, chúng tôi lựa chọn cách phân loại hồi
ký dựa trên chủ thể sáng tác (hoặc đồng sáng tác) để quy hồi ký vào ba nhóm chính: nhóm hồi ký của các tướng lĩnh cách mạng, cựu binh và chính trị gia; nhóm hồi ký của các nhà văn; nhóm hồi ký của các tầng lớp khác trong xã hội
1.2.3.1 Hồi ký của các chính trị gia, tướng lĩnh và cựu binh cách mạng
Gắn với những cuộc chiến đấu cứu quốc thần thánh, hồi ký cách mạng là lời hiệu triệu vọng từ quá khứ Không chỉ riêng Việt Nam, những quốc gia đã từng trải qua những năm tháng đấu tranh gian khổ để giành lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc mình đều hiểu sâu sắc giá trị của những
trang hồi ký ấy Như lời báo cáo của Anatoli IV Anov trong Văn xuôi và
thời đại: “Văn học hồi tưởng chiến tranh đã góp phần to lớn vào việc giáo
dục lòng yêu nước cho con người Xô viết- đó là những cuốn sách của các
vị tướng lĩnh, các nhà lãnh đạo quân sự thần thoại của chúng ta, hồi ký về những việc làm anh dũng của các sĩ quan và binh lính trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh vừa qua Họ truyền đạt lại những kinh nghiệm không dễ dàng trong việc chiến thắng kẻ thù Loại hình văn học này, như cuộc thảo luận đã nhận định, là một hiện tượng quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân [128, 56]
Hai cuộc kháng chiến gian khổ của dân tộc Việt Nam cũng mang đến chất liệu “vàng” để tạo nên những tác phẩm hồi ký cách mạng thật phong phú Hầu hết những tác giả của hồi ký cách mạng đều là những người trực tiếp tham gia chiến đấu: những chính trị gia, tướng lĩnh, cựu chiến binh… Với họ, tìm đến với hồi ký là một sự trả nợ cho “những năm tháng không thể nào quên” và thể hiện những nhìn nhận, đánh giá nghiêm
Trang 29túc về quá khứ Điểm khác biệt của dòng hồi ký cách mạng so với các tiểu loại khác là: ngoại trừ một số ít tác phẩm được tạo nên từ lời văn của chính chủ thể trần thuật thì hầu hết hồi ký của các tướng lĩnh, các chính trị gia đều được hỗ trợ bởi một người ghi chép chuyên nghiệp (là các nhà văn, nhà báo hoặc các biên tập viên của nhà xuất bản…) Sự không trùng khít giữa người kể chuyện với người ghi chuyện có thể khiến hồi ký không đạt được tính chất công tâm và khách quan như mong muốn bởi những sự thật được tái tạo trong hồi ký cách mạng thường phải trải qua ít nhất hai lần thẩm thấu, sàng lọc, lựa chọn của các cá nhân khác nhau Trước năm 1975, những tác phẩm hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên
Giáp- Những năm tháng không thể nào quên (do Hữu Mai ghi), Nguyễn Đức Thuận- Bất khuất, Trần Huy Liệu- Dưới hầm Sơn La… đã tái hiện
lại chân dung của một thế hệ, thời đại anh hùng với sự ngưỡng vọng và thái độ ngợi ca thành kính Trong tác phẩm của họ, hồi ký rất gần gũi với trường ca và tiểu thuyết sử thi khi hồi ức được “làm sống dậy” bằng cảm hứng anh hùng ca hào sảng và bút pháp lãng mạn cách mạng
Sau năm 1975, bên cạnh những hồi ký nổi bật như Chiến đấu trong
vòng vây, Đường tới Điện Biên Phủ, Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử…
của đại tướng Võ Nguyên Giáp (Hữu Mai ghi), độc giả còn được đón
nhận loạt hồi ký của các tướng lĩnh như Đại thắng mùa xuân- Văn Tiến Dũng, Nhớ và quên của Phạm Hồng Sơn- Đặng Anh Đào, Nhớ mãi đại
tướng Văn Tiến Dũng (tập hợp các bài viết, hồi ký của các đồng chí lãnh
đạo, lão thành cách mạng và sĩ quan cao cấp về đại tướng); Đại tướng
Chu Huy Mận- nhà chính trị, quân sự tài ba, tấm gương sáng về đạo đức Cách Mạng;Hồi ký thượng tướng Phùng Thế Tài- Trọn một đời đi theo Bác (Thế Kỷ ghi lại); Đời chiến sĩ, hồi ký của Đại tướng Phạm Văn Trà
(Duy Tường thể hiện), Đại tướng Văn Tiến Dũng- Vị tướng kiên cường,
mưu lược; Đại tướng Lê Trọng Tấn- người của những chiến trường nóng bỏng; Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên- với cả cuộc đời… Ngoài ra không
Trang 30thể không nhắc đến những hồi ký viết về chiến tranh của những người con đi ra từ máu lửa một thời, không lúc nào thôi nhung nhớ về quá khứ
như Có một thời như thế của Võ Minh, Một thời để nhớ của Thu Trang,
Ký ức chiến tranh của Vương Khả Sơn, Khi Tổ quốc gọi tên mình của
Nguyễn Long Trảo…
1.2.3.2 Hồi ký của các nhà văn
Hồi ký của các nhà văn trước hết là nơi để họ biện giải về những nhân tố, sự kiện có ảnh hưởng trực tiếp đến việc định hình phong cách nghệ thuật và quá trình sáng tạo Nhiều nhà văn lớn trên thế giới như Gogol, Dostoyevsky, Marxim Gorky, Banzac, Lamactin… đã coi hồi ký
là nơi thể hiện cái tôi của mình một cách trung thực và sinh động nhất Những tác phẩm hồi ký này phần lớn đã được chuyển dịch ra tiếng Việt những năm gần đây
Tại Việt Nam, những trang hồi ký của các nhà văn bao giờ cũng có sức hút mạnh mẽ bởi kỹ thuật viết điêu luyện và tư tưởng sâu sắc được
gửi gắm qua trang giấy Đọc hồi ký của Tô Hoài, nhất là hồi ký Chiều
chiều, người đọc có cảm giác như được đọc một cuốn tiểu thuyết với
mạch kể miên man, thể hiện trải nghiệm thấm thía của tác giả về đời viết văn của mình và của những người bạn cùng thời Đúng như Vương Trí Nhàn nhận xét về Tô Hoài: “Hồi ký là nơi cả con người tác giả cùng cái triết lí ông mơ hồ cảm thấy và đã theo đuổi suốt đời có dịp bộc lộ” [125]
Và có lẽ lời nhận định này có thể áp dụng cho những tác giả hồi ký khác
Đời viết văn của tôi là lời tự giễu chua chát, xót xa của Nguyễn Công
Hoan khi nhìn lại chặng đường sáng tác đầy khó khăn của mình trong bối
cảnh xã hội loạn lạc Nửa đêm sực tỉnh của Lưu Trọng Lư là những rung
động sâu sắc của một nhà thơ tài hoa nhưng đa đoan, trắc trở khi nhớ lại
những mối tình trong đời mình Bốn mươi năm nói láo là cái nhìn tếu táo
nhưng đầy day dứt của Vũ Bằng về nghiệp làm văn, làm báo đầy những
thử thách, khó khăn Nhớ lại một thời của Tố Hữu hay bộ ba hồi ký Từ
Trang 31bến sông Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt của Anh Thơ là
những dòng hồi ức xúc động về những chặng đường sáng tạo gian khổ
gắn với hoàn cảnh ra đời của những bài thơ nổi tiếng Huy Cận với Hồi
ký song đôi đã qua những trang viết dung dị để kể lại những kỷ niệm với
quê hương, gia đình mà sau này là tác nhân tạo nên âm hưởng không gian mênh mang trong các bài thơ của ông Nguyên Hồng với hồi ký mang
dáng dấp tự truyện Những ngày thơ ấu giúp người đọc hiểu được lý do vì
sao trong những trang viết của ông luôn thấp thoáng bóng dáng những
người phụ nữ mang hình bóng của người mẹ tội nghiệp… Sáng tối mặt
người của Sao Mai là góc nhìn đa diện về cuộc đời nhà văn với sự đan
xen của những mảng màu sáng tối
Không chỉ dựng lên những bức chân dung tinh thần của tác giả, hồi
ký văn học còn là những nét phác họa tinh tế và tỉ mỉ về những người bạn trong làng văn Sử dụng những thủ pháp khác nhau, các tác giả hồi ký đã cung cấp cho người đọc nhiều sự thật thú vị về những nhân vật nổi tiếng
ở các lĩnh vực sáng tác, phê bình hay những ông chủ bút tạp chí, nhà xuất
bản quen thuộc của giai đoạn trước Văn thi sĩ tiền chiến của Nguyễn
Vỹ là những bức họa chân dung đời thường gần gũi, đáng yêu về một loạt
nhân vật như Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh, Lê Văn Trương, Thế Lữ… Ta
đã làm chi đời ta của Vũ Hoàng Chương là những mẩu chuyện dí dỏm,
chân thật về những người bạn văn một thời như Tô Hoài, Thế Lữ,
Nguyễn Bính, Nguyên Hồng, Mai Đình nữ sĩ Hồi ký Quách Tấn tạc
dựng lại chân dung của một thế hệ nghệ sĩ vang bóng một thời như Phan
Bội Châu, Tản Đà, Tương Phố, Đông Hồ, Mộng Tuyết, Bích Khê… Hồi
ký song đôi của Huy Cận phác họa hình ảnh người bạn thân Xuân Diệu
vừa lãng tử, tài hoa lại vừa thủy chung, tình nghĩa Hồi ký Những gương
mặt và Cát bụi chân ai của Tô Hoài là những bức vẽ sinh động về
Nguyễn Bính, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Xuân Diệu… Hồi ký của Bùi
Trang 32Ngọc Tấn Viết về bạn bè như Chu Lai, Lê Bầu, Nguyên Hồng, Dương
Tường, Mạc Lân với biết bao đồng cảm, tri ân
Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến một thế hệ nhà văn trưởng thành trong chiến đấu đã từ những sự kiện hào hùng của quá khứ để đánh giá và suy ngẫm lại quá trình “nhận đường” của bản thân mình và bạn bè
Xuân Diệu trong Những bước đường tư tưởng của tôi đã nhìn lại chặng
đường nghệ thuật đã qua của mình với cái nhìn đầy sám hối, từ đó thể hiện niềm hạnh phúc vô bờ khi được lý tưởng cách mạng khai sáng Một
loạt hồi ký của Tố Hữu- Nhớ lại một thời, Đặng Thai Mai hồi ký, Anh Thơ- Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt… đều là
những chiêm nghiệm sâu sắc của lớp thanh niên trí thức tiểu tư sản khi
gặp được chủ nghĩa cộng sản Chùm hồi ký của Tô Hoài- Cát bụi chân ai,
Chiều chiều là cuốn phim tư liệu dài ghi lại hai cuộc chiến đấu của dân
tộc qua những sự kiện nổi bật Bên cạnh đó, lịch sử với những nỗi đau âm
ỉ trong quá khứ cũng được hồi ký phơi mở một cách không giấu diếm Hồi ký các nhà văn mang giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật không thua kém gì so với các sáng tác nổi bật ở các thể loại khác của họ Nhiều trang hồi ký của Tô Hoài, Đặng Anh Đào, Bùi Ngọc Tấn, Huy Cận… nếu đứng độc lập có thể trở thành những truyện ngắn xuất sắc Dù sao, mang sức mạnh riêng của thể loại, hồi ký tự bản thân nó đã có sức khơi gợi đặc biệt đối với trí tò mò và niềm vui khám phá sự thật của độc giả
1.2.3.3 Hồi ký của các tầng lớp khác trong xã hội
Bên cạnh mảng hồi ký của các chính trị gia, tướng lĩnh và cựu binh cách mạng đầy ắp tư liệu lịch sử quý giá hay hồi ký các nhà văn giàu giá trị nghệ thuật thì hồi ký của các tầng lớp khác trong xã hội cũng có sức thu hút riêng, không thể phủ nhận Đó là những dòng hồi ức giản dị, kể chuyện cá nhân đời thường, đôi khi chỉ là chuyện vụn vặt ta vẫn gặp hàng ngày, trong những người quanh ta hay trong những thân phận mà ta đã gặp Tác giả của những hồi ký kiểu này có thể là những người được công
Trang 33chúng quen mặt (như những đạo diễn, diễn viên, nhạc sĩ, nhà triết học, các blogger nổi tiếng…), có thể là những người chưa từng làm quen với công việc viết lách, thậm chí mang thân phận đáng xấu hổ (như những người tử tù, những cô gái mắc bệnh HIV…) Dẫu vậy, nhờ sự chân thực
và hấp dẫn của các câu chuyện kể, nhiều hồi ký thuộc dạng này vẫn được độc giả đón nhận nồng nhiệt
Hồi ký Trần Văn Khê kể lại chặng đường nghiên cứu âm nhạc của
một vị giáo sư uyên bác, gắn liền với hành trình hội nhập và khẳng định
bản sắc dân tộc của âm nhạc truyền thống Việt Nam Hồi ký Nguyễn Văn
Tý tự họa phác họa diện mạo đời sống âm nhạc Việt Nam từ thời kháng
chiến chống Pháp đến cuối thập kỷ 90 Hồi ký Những chặng đường của
người mẹ do cụ bà Phạm Thị Trinh kể lại và con cháu chấp bút tạo thành
đã mang đến sự xúc động sâu sắc cho người đọc khi dõi theo chặng
đường của một bà mẹ nông dân anh dũng Hồi ký Phim là đời của đạo
diễn Đặng Nhật Minh là những câu chuyện nặng trĩu suy tư về nền điện
ảnh còn nhiều yếu kém và bất cập của nước ta Hồi ký Tâm Phan- Gom
những yêu thương là tâm sự của một cô gái trẻ nhưng đầy trải nghiệm,
trước đó đã đến với người đọc qua hình thức những trang blog và tạo
được hiệu ứng tốt Hồi ký Tâm Si- đa, Vượt lên cái chết khiến người đọc
xúc động đến sửng sốt trước hành trình phục thiện của một người đàn bà mang căn bệnh xã hội, đã cố gắng chống đỡ và chiến thắng mọi bệnh tật cũng như kỳ thị của người đời
Gần đây, sự xuất hiện rầm rộ của các cuốn hồi ký gắn với những tên tuổi nghệ sĩ như diễn viên Thương Tín, kỳ nữ kịch nói Kim Cương, ca sĩ hải ngoại Ái Vân tiếp tục thu hút chú ý của đông đảo bạn đọc và truyền thông Dĩ nhiên, không phải hồi ký nào cũng nhận được sự đồng thuận từ
dư luận khi cố tình sử dụng những chiêu trò đánh bóng tên tuổi quá lố, gây hậu quả cho những nhân vật xuất hiện trong tác phẩm (như hồi ký
Thương Tín- Một đời giông bão với những trang viết miêu tả trần trụi về
Trang 34cuộc tình với những người đẹp có tiếng trong làng giải trí gây ra nhiều thị phi và phiền phức cho người được nhắc đến…) Nhiều hồi ký sáng tác theo phong trào hay ghi chép sự thật một cách dễ dãi, đơn giản Nhưng dẫu sao, can đảm của những người viết hồi ký từ những tầng lớp và độ tuổi khác nhau đã mang lại không khí sôi động chưa từng có cho thể loại
1.3 Lịch sử nghiên cứu hồi ký tại Việt Nam
1.3.1 Tình hình nghiên cứu hồi ký trước năm 1975
Những năm 60 của thế kỷ 20, xoay quanh sự nở rộ của hồi ký cách mạng do được khơi nguồn từ những cuộc vận động sáng tác trên các tạp chí văn nghệ uy tín, nhiều nhà nghiên cứu đã bắt đầu chú ý đến thể loại này và đăng tải một loạt bài viết phân tích một số đặc điểm của thể hồi ký
và giá trị của những hồi ký cách mạng tiêu biểu, đã được ghi nhận trên
văn đàn Chúng tôi thử liệt kê một số bài viết trên Tạp chí Văn nghệ quân
đội trong các năm từ 1960 đến 1964:
1960 Đông Hoài Mấy ý nghĩ về tập hồi ký Nhân dân ta
rất anh hung
06 67
1960 Hồ Phương Tập hồi ký Lên đường thắng lợi 08 72
1962 Trần Đĩnh Vài ý nghĩ về viết hồi ký 01 58
1962 Doãn Trung Mấy vấn đề về viết hồi ký đấu tranh
cách mạng
03 67
1962 Trần Cư Vài suy nghĩ về hồi ký cách mạng 04 64
1962 Nhị Ca Vài ý nghĩ nhân đọc mấy cuốn hồi ký 06 58
1962 Kiều Kim Trùy Mấy kinh nghiệm tổ ở
đơn vị Đồng bằng
12 59
1964 Hồ Phương Mấy ý kiến về viết hồi ký 07 69
1964 Hồ Nhị Quang Phát triển hơn nữa phong trào viết hồi
ký
08 62
Trang 35Tiếp đó là loạt bài viết trên Tạp chí Văn học chủ yếu hướng vào
phân tích một số đặc điểm của hồi ký cách mạng (như cách thức xây dựng nhân vật trong hồi ký, khả năng tiếp nhận và phản ánh hiện thực, giá trị và bài học kinh nghiệm ) thông qua các hồi ký tiêu biểu:
1964 Nam Mộc Lớn lên với Điện Biên, một tập hồi
1965 Phan Nhân Đọc hồi ký cách mạng Người Hà Nội 7 36
1965 Phong Lê Đọc Sống như anh, nghĩ về nhân vật
trong hồi ký
10 22
1965 Hà Minh Đức Về khả năng phản ánh hiện thực của
hồi ký, nhân đọc Sống như anh
Nhà xuất bản Quân đội năm 1961 đã xuất bản cuốn Viết hồi ký của
nhiều tác giả, giúp bạn đọc hình dung rõ hơn công việc “bếp núc” của nghề viết cũng như có thêm một góc nhìn về thể loại Chúng tôi đặc biệt
chú ý đến bài viết “Một số ý kiến tham khảo về viết hồi ký nhân cuộc vận
động viết hồi ký về đề tài lực lượng vũ trang cách mạng” của tác giả
Minh Xuân Trong bài viết này, người viết đưa ra những gợi ý khi viết một hồi ký bao gồm: việc dung hoà giữa tính lịch sử và tính văn học của hồi ký, cách lựa chọn vấn đề và xác định chủ đề tư tưởng, nghệ thuật xây dựng nhân vật
Trang 36*Về nội dung và giá trị của hồi ký: “Trong hồi ký cách mạng, mỗi con người, mỗi sự việc đều nằm trong một quá trình phát triển của lịch
sử, có quan hệ chặt chẽ với lịch sử nên yêu cầu của tính chất chính xác lại càng cao hơn… Tuỳ theo tư tưởng chủ đề, người viết có thể bỏ sự kiện này, khai thác sâu sự kiện khác Nhưng tuyệt đối không “bịa” hoặc nói khác sự thật để làm cho câu chuyện thêm ly kỳ; giá trị chính của một tác phẩm hồi ký là ở sức truyền cảm và tính chân thật lịch sử” [126, 12-15]
*Về nghệ thuật viết hồi ký: “Những bài hồi ký có sức truyền cảm mạnh cho người đọc không những là do người kể đã nói lên được những vấn đề có tác dụng giáo dục con người mà còn do đã nói những vấn đề đó bằng một lối nói gọn gàng, có bố cục chặt chẽ, bằng những chi tiết chọn lọc làm nổi tư tưởng chủ đề, bằng ngôn ngữ trong sáng, chính xác, bằng những hình tượng sinh động” [126, 16]
*Về cách lựa chọn vấn đề và xác định chủ đề- tư tưởng: “Trong một hồi ký ngắn ta không thể kể lại một cách khái quát toàn bộ cuộc đời tham gia cách mạng của mình như một bản tự kể chuyện và cũng không thể kể một cách tự nhiên, gặp gì viết nấy Muốn viết một bài hồi ký tốt phải biết cách chọn vấn đề và cắm hướng cho vấn đề định nêu lên, tức là phải diễn đạt được câu chuyện không những rung cảm và in sâu trong trí nhớ của mình mà còn có tác dụng giáo dục người đọc nữa” [126, 18]
*Về cách thức phục dựng nhân vật trong hồi ký: “Hồi ký viết người thực việc thực, nhất là loại hồi ký ghi lại nhiều sự việc thường dùng lời văn kể mà ít miêu tả… nhân vật không được gọt tỉa từng chân tơ
kẽ tóc, không được khơi sâu vào mọi khía cạnh tình cảm, tư tưởng như tiểu thuyết Trong hồi ký không yêu cầu tập trung xây dựng nhân vật điển hình theo kiểu nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết nhưng khi theo dõi câu chuyện, người đọc vẫn quan tâm hơn hết đến thái độ, tâm lý và số phận của con người” [126, 20]
Trang 37Nhìn chung, do đặc điểm của thời đại và nhiệm vụ của nền văn học lúc này là phục vụ cho kháng chiến, tuyên truyền các đường lối chính trị của Đảng, nêu gương những người anh hùng nên các bài viết trước năm
1975 đều tập trung phân tích giá trị, đặc trưng của hồi ký cách mạng cũng như hướng sự quan tâm vào những tác phẩm hồi ký tiêu biểu thuộc mảng
đề tài này Hồi ký của các nhà văn tuy đã xuất hiện nhiều tác phẩm có giá
trị như: Nguyên Hồng (Những ngày thơ ấu, Một tuổi thơ văn…), Vũ Bằng (Cai, Bốn mươi năm nói láo), Tô Hoài (Cỏ dại, Tự truyện), Nguyễn Công Hoan (Đời viết văn của tôi), Vũ Hoàng Chương (Ta đã làm chi đời ta)
nhưng hầu hết đều chưa được chú ý một cách thích đáng
1.3.2 Tình hình nghiên cứu hồi ký sau năm 1975
Sau năm 1975, cùng với sự gia tăng cả về chất lượng và số lượng của hồi ký, nhiều nhà nghiên cứu đã chú ý hơn đến thể loại này và có những kiến giải xác đáng về đặc trưng nội dung và nghệ thuật của hồi ký
ở các tiểu loại khác nhau Chúng tôi nhận thấy có hai hướng nghiên cứu chính về hồi ký: hướng thứ nhất là phân tích và điểm diện những đặc điểm khái quát của hồi ký cùng một số đặc trưng thể loại nổi bật thông qua những nhận định tổng quan về giá trị nội dung và nghệ thuật; hướng thứ hai là phê bình, nhận xét, phân tích sâu vào những tác giả, tác phẩm hồi ký tiêu biểu từ trước đến nay, đặc biệt là hồi ký của các nhà văn
1.3.2.1 Thứ nhất là khuynh hướng phân tích và nhận diện những đặc điểm chung của hồi ký
Theo nhà nghiên cứu Bích Thu, sự xuất hiện của những hồi ký
“mang đậm dấu ấn cái tôi của nhà văn, thuật lại lai lịch, đời tư, đời viết, quan hệ chủ thể sáng tạo với đồng nghiệp, bạn văn, người thân và bạn đọc thu hút sự chú ý của người đọc đã chứng tỏ cái thế mạnh riêng của tác phẩm ký’’ [39, 411] Nguyễn Phượng khẳng định “Không ngẫu nhiên thể loại hồi ký, tự truyện và tiểu thuyết tự truyện lại gần như chiếm thế thượng phong trong giai đoạn này„ bởi “sự thay đổi nhận thức và quan
Trang 38niệm về các hệ giá trị’’ cùng “cái nhìn tỉnh táo, duy thực đầy can đảm’’ của nhà văn trong việc “diễn đạt những sự thật từng bị che khuất bởi những chi phối của lịch sử và thời cuộc’’ [136]
Bài viết Hồi ký- Tiềm năng và hạn chế của tác giả Nguyễn Văn Dân đăng trên Báo Văn nghệ tháng 10/2008 đã đưa ra nhiều kiến giải thú
vị về thể loại Trong bài viết, nhà nghiên cứu giúp người đọc truy nguyên nguồn gốc của hồi ký và khẳng định đây chính là một trong những thể loại ra đời sớm nhất Ông cũng đưa ra một số cách phân loại hồi ký, đề cao yếu tố cốt lõi của hồi ký chính là Sự Thật, từ đó phân tích về tính chân thực của các sự kiện trong một tác phẩm để chúng ta thấy được công việc viết hồi ký không hề đơn giản và dễ dàng: “Người viết hồi ký sẽ có công lớn nếu như anh ta phát hiện ra được những “sự thật nháp chân chính” đang phải chịu sự che đậy để tránh nguy hiểm cho các nhân vật có liên quan; cũng như nếu anh ta phân biệt được “sự thật nháp” với sự thật chân chính để không gây ngộ nhận (…) Nhưng anh ta sẽ “gây thù chuốc oán” nếu như anh ta cứ hồn nhiên công bố mọi “sự thật nháp” của người đời, nhất là có những người viết hồi ký chỉ công bố những “sự thật nháp” này khi tác giả của những sự thật đó đã khuất” [26] Mặc dù vậy, bài viết của tác giả Nguyễn Văn Dân mới chỉ tập trung phân tích về mặt nội dung của hồi ký, đề cao yếu tố sự thật mà chưa chú ý đến các phương diện biểu hiện và cách thức phát ngôn những sự thật ấy
Cùng thời gian này, trên Tạp chí Nghiên cứu văn học số 10/2008,
Lý Hoài Thu có bài báo Hồi ký và bút ký thời kỳ đổi mới Bài viết khá dài
thâu tóm đặc điểm của thể loại hồi ký ở cả hai khía cạnh nội dung và nghệ thuật Tác giả đã rất sắc sảo chỉ ra những cái hay, cái đẹp của các tác phẩm hồi ký: “Sức hấp dẫn của tác phẩm hồi ký chính là sự tường minh của hồi ức và sự liền mạch của hồi ức ấy.(…) Những kỉ niệm chung - riêng, xa - gần không rời rạc tản mát mà hòa chảy thành một dòng sông cuồn cuộn đổ
về biển cả cảm xúc” [159] Tác giả cũng nhắc đến một số thủ pháp nổi bật
Trang 39trong việc thể hiện hồi ký “mặc dù minh bạch, thông suốt về nội dung, sáng
tỏ, nhất quán về kết cấu, song hồi ký thời kỳ này lại khá đa dạng về giọng điệu”, “sự phong phú của giọng điệu ấy đã góp phần quan trọng trong sự
“phục sinh” hồi ức và “đa dạng hoá” cái kết cấu hồi ức mà các tác giả xây dựng…” [159]
Không lâu sau đó, tác giả Đỗ Hải Ninh với bài viết Những bước
chuyển của hồi ký thời kỳ đổi mới (tạp chí Văn nghệ quân đội, số tháng
7/2013) đã nghiêm túc nhìn nhận lại quá trình phát triển của hồi ký sau năm 1975, những thành tựu và những hạn chế Trong bài viết này, tác giả tập trung làm nổi bật đặc trưng của hồi ký văn học trong sự so sánh với hồi ký giai đoạn trước: “Hồi ký thời kỳ đổi mới là hành trình khám phá những số phận, nhân cách và thế giới tâm hồn con người Tác giả hồi ký không chỉ trình bày nguyên trạng bức tranh quá khứ mà còn không ngừng suy ngẫm, chiêm nghiệm về cuộc đời, số phận của đồng nghiệp, bạn bè, người thân trong đó có hình ảnh của người viết” [129] Tác giả cũng thẳng thắn chỉ ra “những xu hướng đánh bóng tên tuổi trong các hồi ký,
tự truyện hoặc đi vào khai thác những chuyện thóc mách đời tư khiến cho độc giả lo ngại” Nhưng vượt lên trên những hạn chế này, hồi ký thời kỳ đổi mới đã tiến một bước dài trên hành trình xác lập vị trí thể loại, đặc biệt đã khiến ta “phải thay đổi tư duy về một thể loại vốn được khuôn
định rõ ràng trong cái khung sự thật…” [129] Những luận điểm trên đã
gợi ý cho chúng tôi nhìn nhận rõ hơn về sự giao thoa và khuynh hướng biến đổi thể loại của hồi ký thời kỳ đổi mới Điểm hạn chế là bài viết chỉ tập trung phân tích hồi ký văn học mà chưa chú ý đến hồi ký cách mạng hay hồi ký thế sự- đời tư nên những kết luận đưa ra chưa mang tính bao quát cho toàn bộ hồi ký trong giai đoạn này
Công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu về thể loại hồi ký là luận án của Ngô Thị Ngọc Diệp với đề tài “Hồi ký trong văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến nay„ bảo vệ tại Trường Đại
Trang 40học Sư phạm Hà Nội năm 2013 Tác giả luận án đã xác lập hệ thống đặc trưng thể loại hồi ký trong sự phân biệt với các thể loại khác, chỉ ra những giá trị nổi bật của hồi ký nước ta trong hai giai đoạn lớn là 1945-
1975 và 1975 đến nay Bằng những phân tích tỉ mỉ, nghiêm cẩn về các đặc điểm nội dung và nghệ thuật của hồi ký ở cả ba mảng: hồi ký văn học, hồi ký cách mạng, hồi ký thế sự- đời tư, tác giả đã cung cấp cho người đọc nhiều kiến thức mới mẻ cùng cái nhìn biện giải xác đáng về sự vận động của thể loại trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại Tuy nhiên, luận án nghiêng nhiều hơn về việc khẳng định giá trị văn học sử của hồi ký mà chưa quan tâm đến vai trò của ký ức, sự đa diện của diễn ngôn về sự thật, mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố nội dung và hình thức giúp hồi ký có vị trí nổi bật trong hệ thống thể loại ký sau năm 1975
1.3.2.2 Thứ hai là khuynh hướng nghiên cứu hồi ký thông qua những tác phẩm cụ thể của những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình nổi tiếng
Mảng hồi ký văn học trước năm 1975 đã được nhiều nhà nghiên cứu lật xới, phân định lại giá trị thông qua những bài phân tích, phê bình
về hai cây bút hồi ký nổi bật là Nguyên Hồng và Vũ Bằng Nguyên Hồng
đã viết bốn tập hồi ký (Những ngày thơ ấu, Bước đường viết văn, Những
nhân vật ấy đã sống với tôi, Một tuổi thơ văn), trong đó hồi ký Những ngày thơ ấu được coi là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của ông
Thạch Lam nhìn thấy trong cuốn hồi ký mang dáng dấp tự truyện này là
“những rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại lạc loài với những lề lối khắc nghiệt của một gia đình sắp tàn„ Nguyễn Đăng Điệp đánh giá
hồi ký Nguyên Hồng là hồi ký tâm trạng với “chất thơ, chất trữ tình trội
át chất phân tích, tự sự„ [44, 231] Đoàn Cầm Thi lại coi hồi ký Những
ngày thơ ấu là một tự truyện và phân tích tác phẩm này từ góc độ phân
tâm học khá táo bạo Bên cạnh Nguyên Hồng, Vũ Bằng cũng là cây viết tài hoa đã thể hiện “cái tạng„ của mình ngay trong những tác phẩm hồi ký
giàu tính tự sự như Cai hay Bốn mươi năm nói láo Văn Giá nhận định