1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chương trình truyền hình tiếng thái dành cho đồng bào thái ở tây bắc

142 197 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ trước đến nay, các cơ quan phát thanh truyền hình từ trung ương tới địa phương đã có nhiều chương trình, dự án đầu tư cho công tác tuyên truyền thông tin nhằm đưa được những chủ trươn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đặng Thị Thu Hương

Hà Nội – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đặng Thị Thu Hương Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình

Học viên

Nguyễn Thị Ngân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến

PGS.TS Đặng Thị Thu Hương - là người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất

nhiều để có được kết quả nghiên cứu ngày hôm nay

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các anh, chị Biên tập viên, Phóng viên gắn bó với chương trình truyền hình tiếng Thái đang công tác tại kênh VTV5 đài THVN, Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Sơn La đã nhiệt tình cung cấp tư liệu

và chia sẻ thông tin để giúp tôi thực hiện tốt việc nghiên cứu, khảo sát dữ liệu, thông tin từ thực tiễn phục vụ cho luận văn

Do còn hạn chế trong khi tiếp cận các thông tin mới và gặp nhiều trở ngại về ngôn ngữ nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được

sự góp ý chân thành, xây dựng của các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp để luận văn này thực sự là một công trình nghiên cứu có giá trị

Hà Nội, tháng 03 năm 2017

Nguyễn Thị Ngân

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Tính cấp thiết của đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

3 Mục tiêu, nội dung nghiên cứu 10

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 11

7 Bố cục của luận văn 12

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN HÌNH, CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH VÀ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TIẾNG THÁI 13

1.1 Một số khái niệm về truyền hình 13

1.1.1 Truyền hình và chương trình truyền hình 13

1.1.2 Chương trình truyền hình chuyên biệt 15

1.1.3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng chương trình truyền hình tiếng Thái 18

1.2 Vài nét về dân tộc thiểu số và cộng đồng người Thái ở Tây Bắc 21

1.2.1 Vài nét chung về dân tộc, dân tộc thiểu số 21

1.2.2 Vài nét về dân tộc Thái 22

1.2.3 Người Thái ở Tây Bắc 24

1.3 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước dành cho đồng bào dân tộc thiểu số 27

1.4 Vai trò của chương trình truyền hình tiếng Thái đối với người Thái ở Tây Bắc 32

Tiểu kết chương 1 37

Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TIẾNG THÁI DÀNH CHO ĐỒNG BÀO THÁI Ở TÂY BẮC 39

2.1 Vài nét về kênh VTV5 đài THVN, Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Sơn La 39

2.1.1 Giới thiệu về kênh VTV5, Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Sơn La 39

2.1.2 Các chương trình truyền hình tiếng Thái của kênh VTV5, Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Sơn La 42

2.2 Phân tích những nội dung chính trong các chương trình truyền hình tiếng Thái 47

2.2.1 Nhóm nội dung thông tin về đời sống xã hội chiếm ưu thế 47

2.2.2 Nhóm thông tin chính trị tập trung phản ánh hoạt động sinh hoạt chính trị ở địa phương 52

2.2.3 Thông tin văn hóa nổi bật với việc tuyên truyền các giá trị văn hóa truyền thống 55

Trang 6

2.2.4 Thông tin kinh tế có nhiều yếu tố chỉ dẫn kiến thức mới 60

2.3 Hình thức thể hiện các chương trình truyền hình tiếng Thái 65

2.3.1 Thể loại 65

2.3.2 Ngôn ngữ, lời bình 69

2.3.3 Hình ảnh 73

2.3.4 Âm thanh 74

2.4 Thành công và hạn chế của các chương trình truyền hình tiếng Thái dành cho đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc 76

2.4.1 Thành công 76

2.4.2 Hạn chế 81

Tiểu kết chương 2 85

Chương 3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TIẾNG THÁI DÀNH CHO ĐỒNG BÀO THÁI Ở TÂY BẮC 88

3.1 Nguyên nhân thành công và hạn chế 88

3.1.1 Nguyên nhân thành công 88

3.1.2 Nguyên nhân hạn chế 89

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng chương trình truyền hình tiếng Thái dành cho đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc hiện nay 93

3.2.1 Giải pháp chung 93

3.2.2 Khuyến nghị cụ thể cho các đài 100

Tiểu kết chương 3 103

KẾT LUẬN 105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

PHỤ LỤC 113

Trang 7

DANH MỤC KÝ HIỆU TƢ̀ VIẾT TẮT

STT Ký hiệu, viết tắt Tên đầy đủ

1 PT-TH Phát thanh – Truyền hình

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Là dân tộc có dân số đứng thứ 3 tại Việt Nam với 1.530.578 người (theo kết quả điều tra thực trạng kinh tế xã hội 53 dân tộc thiểu số năm 2015), đồng bào dân tộc Thái có vai trò và vị trí quan trọng trong thành phần dân số của các tỉnh vùng Tây Bắc nói riêng và cả nước nói chung Từ xưa đến nay, trong thời kỳ dựng nước, cũng như trong giai đoạn đấu tranh bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, đồng bào dân tộc Thái luôn đóng góp công lao to lớn đối với sự nghiệp giữ gìn và phát triển tổ quốc Ngày nay, một bộ phận không nhỏ trí thức của đồng bào dân tộc Thái đang giữ những vị trí lãnh đạo quan trọng của Đảng và Chính phủ, cũng như bộ phận nhân dân đang đóng góp vào sự phát triển chung của tất cả các mặt đời sống

xã hội khu vực mà đồng bào dân tộc Thái đang sinh sống Người Thái cư trú ở nhiều vị trí chiến lược quan trọng trên cả nước, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Tây Bắc như Điện Biên, Sơn La, Lai Châu.v.v Với lịch sử phát triển lâu năm, cộng đồng người Thái đã xây dựng được cho mình một nền văn hóa riêng đặc trưng, góp phần làm đa dạng sắc màu văn hóa chung của dân tộc Đặc biệt, người Thái còn có tiếng nói và chữ viết riêng, trong những năm gần đây, chữ Thái được công nhận là một trong 8 chữ viết dân tộc thiểu số được phép tổ chức dạy và học ở nước ta Như vậy có thể thấy, người Thái là cộng đồng dân tộc lâu đời có nhiều vai trò quan trọng trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa của nước ta

Do là cộng đồng dân tộc lớn, có nhiều đóng góp trong sự phát triển của đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng và nước ta nói chung, nên việc truyền thông tương tác giữa Đảng và Nhà nước đến với người Thái rất quan trọng Từ trước đến nay, các

cơ quan phát thanh truyền hình từ trung ương tới địa phương đã có nhiều chương trình, dự án đầu tư cho công tác tuyên truyền thông tin nhằm đưa được những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước một cách chính xác và đúng đắn tới đồng bào dân tộc Thái Hoạt động thông tin này nhằm giúp đồng bào dân tộc Thái

ổn định về tư tưởng, thấm nhuần đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước để yên tâm chăm lo phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội

Trang 9

Đồng thời nhờ những thông tin mà các cơ quan báo chí tuyên truyền trên truyền hình bà con dân tộc Thái tiếp cận được với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, học hỏi kinh nghiệm làm giàu lẫn nhau, có thêm kiến thức về phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống

Với vai trò và vị trí của mình, người Thái là đối tượng cần được Đảng và Nhà nước quan tâm trên mọi phương diện đời sống, tuy nhiên người Thái ở Tây Bắc lại càng cần được quan tâm hơn cả Bởi, người Thái sinh sống trải dài trên khắp cả nước nhưng tập trung gần 2/3 tổng số người Thái toàn quốc tại Tây Bắc và là dân tộc chiếm tới 1/3 dân số của toàn vùng Tây Bắc lại là vùng có vị trí chiến lược quan trọng, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội nhưng hiện nay vẫn là vùng có đời sống khó khăn, mặt bằng trình độ dân trí còn thấp, việc tiếp nhận thông tin của đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và đồng bào Thái nói riêng vẫn còn nhiều bất cập Chính vì thế việc đầu tư nâng cao chất lượng đời sống cho người Thái ở Tây Bắc là cần thiết, đặc biệt trên phương diện truyền thông Hiện nay, đã có nhiều phương tiện truyền thông được Đảng và Nhà nước tạo điều kiện hỗ trợ phục

vụ cho bà con như báo in phát miễn phí, các chương trình phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc Trong đó truyền hình với ưu thế đặc trưng của mình đang được coi là một trong những phương tiện hiệu quả nhất đối với đồng bào Thái Truyền hình với vai trò là một kênh thông tin quan trọng đáp ứng yêu cầu thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của các tỉnh vùng Tây Bắc Các chương trình truyền hình nói chung và truyền hình tiếng Thái nói riêng đã và đang

có nhiều đóng góp tích cực trong việc tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với đông đảo người Thái, góp phần nâng cao đời sống của đồng bào về mọi mặt, chống lại những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản cách mạng đang lợi dụng để chống phá Đảng, gây ảnh hưởng xấu, cản trở sự phát triển kinh tế xã hội của vùng Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng cũng phải thừa nhận các chương trình truyền hình tiếng Thái vẫn còn một số hạn chế như nội dung chưa phong phú đa dạng, tính thời sự chưa cao, hình ảnh đôi khi chưa đẹp mắt làm giảm chất lượng chương trình, chưa phát huy hết hiệu quả truyền thông đối

Trang 10

với đồng bào dân tộc Thái Chính những hạn chế đó là vấn đề cần được nghiên cứu

và đưa ra được giải pháp để khắc phục kịp thời nhằm mang đến những chương trình truyền hình chất lượng và hấp dẫn cho khán giả người Thái

Việc đổi mới phương thức sản xuất chương trình truyền hình tiếng Thái cho đồng bào Thái là hoạt động cấp thiết cần quan tâm thực hiện Các đơn vị cần tổ chức sản xuất những chương trình có nội dung thiết thực, cách truyền tải phù hợp, phục vụ tốt hơn cho bộ phận công chúng người Thái Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào chuyên sâu về chương trình truyền hình tiếng Thái dành cho đồng bào Thái ở Tây Bắc Chính vì thế tôi chọn đề tài

“Chương trình truyền hình tiếng Thái dành cho đồng bào Thái ở Tây Bắc” để

nghiên cứu, với mong muốn đưa ra được những đánh giá đúng thực trạng, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế, đề xuất được những giải pháp nhằm phát huy được hiệu quả của chương trình truyền hình tiếng Thái dành cho đồng bào Thái ở Tây Bắc nói riêng và đồng bào dân tộc Thái ở Việt Nam nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát tài liệu tôi nhận thấy từ trước tới nay đã có nhiều công trình khoa học chứa nội dung liên quan đến vấn đề mà tôi thực hiện nghiên cứu ở đề tài luận văn này Cụ thể:

Thứ nhất, trong nhóm sách và giáo trình nghiên cứu về chương trình truyền hình

có một số tài liệu như: Sản xuất chương trình truyền hình của tác giả Trần Bảo Khánh, Nxb Văn hóa - Thông tin - 2003; Giáo trình báo chí truyền hình của PGS.TS Dương Xuân Sơn, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội - 2009; Sách Truyền thông đại chúng của tác giả Tạ Ngọc Tấn, Nxb Chính Trị Quốc Gia - 2001 Những

cuốn sách giáo trình này là kiến thức nền tảng, cơ bản về truyền hình, cách thức tổ chức sản xuất chương trình truyền hình, việc vận dụng các thể loại vào trong sáng tạo các tác phẩm truyền hình nhằm mang lại chất lượng tốt nhất cho người xem Thứ hai, nhóm tài liệu liên quan đến các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc có

thể kể đến như: Các dân tộc thiểu số Việt Nam (nhiều tác giả, Nxb Văn hóa, 1959); Tìm hiểu tính cách dân tộc, tác giả Nguyễn Hồng Phong (Nxb Khoa học, 1963);

Trang 11

Miền núi và con người, tác giả Lê Bá Thảo (Nxb Khoa học và kỹ thuật, 1971); Nguồn gốc lịch sử tộc người vùng biên giới phía Bắc Việt Nam của nhóm tác giả

Nguyễn Chí Huyên - Hoàng Hoa Toàn - Lương Văn Bảo (Nxb Văn hóa dân tộc

xuất bản năm 2000); Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam của tác giả Cầm Trọng (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2005); Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam của tác giả Cầm Trọng (Nxb Khoa học xã hội, năm 1978); Bài viết Sự nghiệp phát triển truyền hình ở vùng dân tộc thiểu số của tác giả Hồ Anh Dũng trong cuốn Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm

2001) Trong các tài liệu trên, các tác giả đã chỉ ra nguồn gốc, vai trò quan trọng của đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta, trong đó có cả người Thái

Thứ ba, bên cạnh các công trình đã kể trên, còn có nhiều đề tài nghiên cứu về vai trò, chức năng của báo chí, việc tổ chức sản xuất tác phẩm báo chí cho đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có cả người Thái đã được bảo vệ thành công trước các hội đồng khoa học như:

Trong lĩnh vực truyền hình có thể nhắc đến đến một số đề tài tiêu biểu sau: Luận

văn Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình tiếng Thái trên sóng đài phát thanh

và truyền hình Nghệ An của tác giả Quang Thái Điệp năm 2015 Đề tài đã làm sáng

tỏ các luận điểm về công chúng truyền hình là người Thái, vai trò của truyền hình đối với đồng bào Thái, quy trình sản xuất chương trình và một số giải pháp nâng cao chương trình tiếng Thái Tuy nhiên, trong đề tài tác giả chỉ giới hạn phạm vị nghiên cứu ở vấn đề tổ chức sản xuất chương trình truyền hình tiếng Thái và phạm

vi khảo sát ở Đài PT-TH Nghệ An; Luận văn Nâng cao chất lượng chương trình truyền hình tiếng dân tộc của các đài tỉnh miền núi Đông Bắc (Khảo sát các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn từ tháng 1/2009 đến tháng 6/2009) của tác giả

An Thị Thanh Thu; Luận văn Chương trình dân tộc và miền núi trên sóng VTV1 của Đài Truyền hình Việt Nam của tác giả Cao Thị Thanh Hà Hai luận văn trên đã

đề cập được tới nhiều khía cạnh thông tin quan trọng về các chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng chương trình truyền hình dành cho đồng bào thiểu số Tuy nhiên, các đề tài mới chỉ

Trang 12

đề cập tới đối tượng là đồng bào dân tộc chung chung chứ không đi sâu cụ thể vào

dân tộc Thái Ngoài ra còn có một số đề tài như: Luận văn Truyền hình tiếng dân tộc thiểu số trên đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa hiện nay của Nguyễn Đăng Hùng (2013); Luận văn Chương trình dân tộc và miền núi trên sóng VTV1 Đài Truyền hình Việt Nam của Phạm Ngọc Bách (2005)

Trong lĩnh vực phát thanh có các đề tài như: Luận văn Chất lượng chương trình phát thanh dân tộc thiểu số trên sóng đài Phát thanh - Truyền hình Yên Bái (Khảo sát từ thánh 1 đến tháng 5 năm 2013) của tác giả Đỗ Thị Giang (2013); Luận văn Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh tiếng dân tộc tại các tỉnh miền núi phía Bắc của Nguyễn Thị Lệ Thủy (2013)

Trong lĩnh vực báo in có thể đề cập đến các công trình nghiên cứu sau: Luận văn

Nâng cao chất lượng báo in phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số (Khảo sát trường hợp người Thái ở Tương Dương, Nghệ An) của tác giả Lữ Thị Ngọc năm 2010

Trong luận văn này, tác giả đã có những nghiên cứu khá đầy đủ về người Thái và chất lượng thông tin báo chí phục vụ cho đồng bào dân tộc thiểu số trong đó có cả người Thái Tuy nhiên đề tài nghiên cứu chỉ giới hạn đối tượng là đồng bào Thái ở Tương Dương Nghệ An và lĩnh vực thông tin khảo sát chỉ trên báo in Ngoài ra còn

có các đề tài: Luận văn Một số vấn đề về các ấn phẩm váo chí cấp phát cho đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hiện nay của Trần Thị Thanh Phương (2011); Luận văn Báo in Thanh Hóa với vấn đề phát triển văn hóa đồng vào dân tộc thiểu

thông tin về vùng Tây Bắc, thông tin về Đài PT-TH Sơn La và vai trò của báo chí đối với đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có cả người Thái Tuy nhiên luận văn

Trang 13

chỉ nghiên cứu về vấn đề chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho đồng bào chứ không nghiên cứu rộng tất cả các lĩnh vực thông tin và báo chí vùng Tây Bắc dành

cho đồng bào dân tộc thiểu số; Luận văn Đổi mới tổ chức sản xuất chương trình truyền hình cho đồng bào dân tộc thiểu số trên kênh VTV5 - Đài Truyền hình Việt Nam của Lê Thị Hồng Thu (2015) đã giới thiệu khá chi tiết về kênh VTV5, mang

đến một bức trang toàn cảnh về các tổ chức sản xuất chương trình cho đồng bào dân tộc thiểu số tuy nhiên vấn đề nghiên cứu là chung cho tất cả các chương trình dành cho đồng bào dân tộc thiểu số chứ không đi sâu cụ thể vào dân tộc nào trong một

phạm vi địa lý cụ thể; Luận văn Đài Phát thanh Truyền hình Điện Biên với vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số địa phương của Hồ Thị Thanh Hà

(2014) đã khái quát về đài Điện Biên tuy nhiên vấn đề nghiên cứu chỉ đi sâu vào vấn đề gìn giữ bản sắc băn hóa, chương trình truyền hình tiếng Thái có được nhắc đến nhưng không đáng kể

Các đề tài trên cho thấy các tác giả đã góp phần làm sáng tỏ các luận điểm, tầm quan trọng của báo chí truyền hình trong giai đoạn hiện nay đối với công tác thông tin, tuyên truyền vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó có cả đồng bào Thái Tuy nhiên, chưa có công trình nào dành riêng nghiên cứu các chương trình truyền hình tiếng Thái dành cho dân tộc Thái ở vùng Tây Bắc - nơi tập trung phần lớn dân tộc

Thái trên cả nước Vì vậy đề tài "Chương trình truyền hình tiếng Thái dành cho

đồng bào Thái ở Tây Bắc" sẽ kế thừa những vấn đề mang tính lý luận có trước đó,

đồng thời có những khảo sát, nghiên cứu mới về các chương trình truyền hình tiếng Thái từ Trung ương (cụ thể là kênh VTV5) đến địa phương (cụ thể là 2 Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Sơn La) từ đó đánh giá được hoạt động thực tiễn của các chương trình truyền hình tiếng Thái cho đồng bào dân tộc Thái tại Tây Bắc, trên cơ

sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chương trình để trong tương lai Vì vậy có thể nói, cho đến nay đề tài "Chương trình truyền hình tiếng Thái dành cho đồng bào Thái ở Tây Bắc” (Khảo sát chương trình truyền hình của Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Sơn La và chương trình tiếng Thái của kênh

Trang 14

VTV5 – đài THVN trong thời gian 6 tháng) là đề tài mới và không trùng lặp với đề tài nào đã được công bố trước đây

3 Mục tiêu, nội dung nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về truyền hình, luận văn khảo sát thực trạng chương trình truyền hình tiếng Thái của Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Sơn La

và của kênh VTV5 trong thời gian 6 tháng từ ngày 01/10/2015 đến 31/03/2016, nhằm chỉ ra thành công và hạn chế của các chương trình trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin của đồng bào dân tộc Thái, từ đó đề xuất các giải pháp thiết thực nâng cao chất lượng các chương trình

Nội dung nghiên cứu

- Hệ thống hóa các công trình nghiên cứu báo chí có liên quan để làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài

- Tìm hiểu chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về việc đầu tư cho việc phát triển báo chí truyền thông nói chung và truyền hình nói riêng cho đồng bào dân tộc Thái

- Khảo sát nội dung, hình thức chương trình truyền hình tiếng Thái trên Đài

PT-TH Điện Biên, Đài PT-PT-TH Sơn La và chương trình tiếng Thái của kênh VTV5 trong thời gian 6 tháng, từ 01/10/2015 – 31/03/2016

- Từ việc nghiên cứu, khảo sát thực trạng trên đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới nâng cao chất lượng chương trình truyền hình tiếng Thái cho đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Nội dung và hình thức các chương trình truyền hình tiếng Thái dành cho đồng bào Thái ở Tây Bắc

Phạm vi nghiên cứu

Chương trình truyền hình tiếng Thái của Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Sơn

La và kênh VTV5 trong thời gian từ tháng 01/10/2015 – 31/03/2016

Trang 15

5 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu tài liệu: Hệ thống hóa các giáo trình, tài liệu có liên quan đến lý luận và thực tiễn cho đề tài nghiên cứu đồng thời kế thừa và phát huy các tài liệu trước nhằm làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu của đề tài Sử dụng tất cả những văn bản báo chí, kế thừa kết quả nghiên c ứu của các côn g trình trước đây để rút ra những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài

- Phương pháp quan sát, nghiên cứu cứ liệu: Khảo sát nội dung và hình thức các chương trình truyền hình tiếng Thái trên kênh VTV5, Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Sơn La từ 01/10/2015 – 31/03/2016

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn PGĐ Đài PT-TH Sơn La; nhà báo làm chương trình truyền hình tiếng thái tại Đài PT-TH Sơn La; nhà báo làm chương trình truyền hình tiếng thái tại kênh VTV5; tổ trưởng tổ PT-TH tiếng Thái Đài PT-TH Điện Biên; người dân ở các tỉnh Điện Biên, Sơn La để tìm hiểu thông tin sâu về đề tài nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được dùng để phân tích, đánh giá và tổng hợp những kết quả nghiên cứu nhằm đưa ra những luận cứ, luận điểm và khái quát

về những nội dung trong đề tài

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Luận văn là công trình nghiên cứu đề cập một cách cụ thể đến chương trình truyền hình truyền hình tiếng Thái dành cho dân tộc Thái tại Tây Bắc Hy vọng những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ làm phong phú thêm hệ thống lý luận báo chí nước ta về các chương trình truyền hình dành cho đồng bào dân tộc nói chung

và dân tộc Thái nói riêng

Luận văn cũng sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích, tin cậy cho những ai quan tâm, nghiên cứu những vẫn đề có liên quan đến đề tài

Đóng góp mới của đề tài nghiên cứu này là góp phần làm rõ thực trạng hoạt động, hiệu quả của các chương trình truyền hình tiếng Thái trong công tác thông tin, tuyên truyền đến đồng bào dân tộc Thái Trên cơ sở đó rút ra những bài học kinh

Trang 16

nghiệm về việc tổ chức thực hiện các chương trình truyền hình tiếng Thái để đề xuất những giải pháp cần thiết nâng cao sự hấp dẫn, hiệu quả của các chương trình Kết quả nghiên cứu từ thực tế hoạt động cũng giúp các cấp ngành chức năng hiểu

rõ hơn vai trò và chức năng của báo chí trong công tác lãnh đạo, điều hành theo chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước Đồng thời, kết quả nghiên cứu giúp ban lãnh đạo các cơ quan báo chí nhìn nhận đúng thực trạng các chương trình truyền hình tiếng Thái của đài mình, từ đó có giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng để các chương trình truyền hình tiếng Thái được hấp dẫn và hiệu quả hơn để phục vụ thiết thực cho đời sống của đồng bào

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương với các nội dung chính như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về truyền hình, chương trình truyền hình và chương trình truyền hình tiếng Thái

Chương 2: Nội dung và hình thức các chương trình truyền hình tiếng Thái dành cho đồng bào dân tộc Thái ở Tây Bắc

Chương 3: Thành công, hạn chế và giải pháp nâng cao chất lượng chương trình truyền hình tiếng Thái dành cho đồng bào Thái ở Tây Bắc

Trang 17

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRUYỀN HÌNH, CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH VÀ CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TIẾNG THÁI

1.1 Một số khái niệm về truyền hình

1.1.1 Truyền hình và chương trình truyền hình

Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XX và cho đến nay truyền hình là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình Truyền hình có đặc điểm ưu việt hơn hẳn các loại hình báo chí khác bởi nó được thừa hưởng và là sự kết hợp nhiều thế mạnh của phát thanh và báo in Truyền hình trở thành vũ khí, công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như lĩnh vực kinh tế xã hội

Trong Giáo trình Báo chí truyền hình, PGS.TS Dương Xuân Sơn đưa ra khái niệm về truyền hình như sau: “Truyền hình là một loại truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh, âm thanh về một vật thể hoặc cảnh đi xa bằng sóng vô tuyến điện” [31, tr 5]

Còn trong cuốn Truyền thông đại chúng, GS Tạ Ngọc Tấn cho rằng: "Truyền hình là một loại phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh Nguyên nghĩa của thuật ngữ Vô tuyến truyền hình bắt đầu bằng hai từ Tele có nghĩa "ở xa" và vision nghĩa là "thấy được", tức là thấy được từ xa”

[36, tr 127]

Còn trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí, theo PGS.TS Nguyễn Văn Dững thì

"Truyền hình là kênh truyền thông chuyển tải thông điệp bằng hình ảnh động với nhiều màu sắc vốn có từ cuộc sống với lời nói, âm nhạc, tiếng động" [8, tr 13]

Qua các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản và chung nhất rằng truyền hình là một phương tiện truyền thông đại chúng, truyền tải thông tin sinh động bằng cách kết hợp hình ảnh, âm thanh, tiếng động, âm nhạc, mang cuộc sống chân thực nhất tới khán giả thông qua sóng vô tuyến điện Như vậy có thể thấy

rõ, truyền hình đã kế thừa những điểm ưu việt nhất của phát thanh và báo in để đem làm thỏa mãn được cả phần nghe và phần nhìn của khán giả

Trang 18

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về chương trình truyền hình, trong cuốn:

Sản xuất chương trình truyền hình, TS Trần Bảo Khánh viết: “Chương trình là kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng” Với khái niệm này ta có thể

hiểu đó là đơn vị phát sóng nội dung truyền hình và là hình thức giao tiếp cơ bản của khán giả với truyền hình

Trong cuốn Truyền thông đại chúng của PGS.TS Tạ Ngọc Tấn, chương trình

truyền hình được hiểu như sau:

Thuật ngữ chương trình truyền hình thường được sử dụng trong hai trường hợp Trường hợp thứ nhất, người ta dùng chương trình truyền hình để chi toàn bộ nội dung thông tin phát đi trong ngày, trong tuần hay trong tháng của mỗi kênh truyền hình hay của cả đài truyền hình Trường hợp thứ hai, chương trình truyền hình dùng để chỉ một hay nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hợp với một số thông tin tài liệu khác được tổ chức theo một chủ đề cụ thể với hình thức tương đối nhất quán, thời lượng ổn định và được phát đi theo định kỳ [36, tr 142]

Trong Giáo trình báo chí truyền hình, PGS.TS Dương Xuân Sơn đưa ra khái niệm về chương trình truyền hình như sau: “Chương trình truyền hình là sự liên kết, sắp xếp, bố trí hợp lý các tin bài, bảng biểu, tư liệu bằng hình ảnh và âm thanh được mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả” [31, tr 113]

Như vậy ta có thể hiểu chương trình truyền hình là cách sắp xếp các nội dung thông tin truyền hình một cách hợp lý trong một khoảng thời gian nhất định, chương trình thường được tạo dấu hiệu nhận biết khác biệt so với các chương trình khác bằng lời chào, nhạc hiệu… Nội dung thông tin trong một chương trình có thể bám xuyên suốt quanh một chủ đề chính, hoặc có điểm tương đồng trong các lần phát sóng khác nhau nhằm phục vụ đối tượng công chúng nhất định Thời lượng các chương trình có thể dài, ngắn khác nhau nhưng nội dung thông tin đều được lựa chọn, sắp xếp bố trí hợp lý để giúp khán giả tiếp cận chương trình một cách đầy đủ,

hệ thống và có chiều sâu Và chương trình truyền hình là một sản phẩm của quá

Trang 19

trình sáng tạo của rất nhiều người: lãnh đạo quản lý, biên tập viên, phóng viên, kỹ thuật viên… nhằm mang đến tác phẩm báo chí chất lượng cho đối tượng khán giả của riêng mình

1.1.2 Chương trình truyền hình chuyên biệt

Ngày nay nhu cầu thông tin của công chúng truyền hình đã và đang tách thành các cụm, nhóm công chúng khác nhau Theo đó, mỗi nhóm công chúng có nhu cầu,

sở thích xem các chương trình truyền hình theo hướng chuyên biệt phù hợp với nhu cầu thông tin của mình Vì thế các đài truyền hình hiện nay, ngoài sản xuất các chương trình có tính quảng bá chung chung đã theo kịp sự thay đổi nhu cầu trên của công chúng bằng cách sản xuất các chương trình truyền hình có nội dung chuyên biệt Các cơ quan truyền thông đại chúng đang hướng đến nhiều chương trình truyền hình với nội dung chuyên sâu, hướng đến nhóm công chúng riêng theo lứa tuổi, theo vùng miền, theo trình độ dân trí, theo tộc người.v.v

Hiện nay ở Việt Nam, từ đài trung ương đến địa phương đã có nhiều chương trình truyền hình, kênh truyền hình chuyên biệt theo nhóm nội dung về văn hóa, giáo dục, kinh tế hay những chương trình theo nhóm đối tượng khác nhau như người cao tuổi, dân tộc thiểu số.v.v Cụ thể, ở Đài truyền hình Việt Nam hiện nay

có kênh VTV2 chuyên về Khoa học Giáo dục, kênh VTV6 là kênh truyền hình về Thanh thiếu niên, kênh InfoTV chuyên về Kinh tế, kênh VTV5 là kênh Truyền hình tiếng dân tộc thiểu số, hay những bản tin hàng ngày như Bản tin tài chính, Thể thao 24/7 Đối với các Đài PT-TH ở địa phương, các tỉnh cũng có những chương trình truyền hình dành riêng cho các đối tượng khác nhau, như các chương trình truyền hình bằng các thứ tiếng dân tộc phục vụ cho chính đồng bào dân tộc thiểu số đó ở địa phương Ví dụ Đài PT-TH Điện biên có chương trình truyền hình tiếng Thái, tiếng H'Mông; Đài PT-TH Sơn La cũng có chương trình truyền hình tiếng Thái và chương trình truyền hình tiếng H'Mông; Đài PT-TH Yên Bái có chương trình truyền hình tiếng Thái, tiếng H'Mông và tiếng Dao; Đài Truyền hình Cần Thơ có chương trình truyền hình tiếng Khmer và nhiều chương trình ca nhạc phục vụ nhiều

Trang 20

đối tượng khác nhau (ca nhạc thiếu nhi, ca nhạc quốc tế, ca nhạc cải lương, nhạc giao hưởng.v.v.)

Từ điển tiếng việt định nghĩa “chuyên biệt” có nghĩa là "chỉ riêng cho một loại, một thứ hoặc một yêu cầu nhất định" Từ đó, truyền thông chuyên biệt được hiểu là một kênh truyền thông được dành riêng cho một nhóm đối tượng công chúng nào

đó hoặc chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó Vậy ta có thể hiểu, truyền hình chuyên biệt là một loại hình của truyền thông chuyên biệt; là một hình thức truyền hình dịch vụ được xây dựng chuyên nghiệp phát sóng hàng ngày có nội dung chuyên sâu

về một lĩnh vực nhất định (âm nhạc, thể thao, tài chính ) hoặc có nội dung chỉ dành cho một nhóm đối tượng khán giả mục tiêu (có những đặc điểm chung về lứa tuổi, giới tính, địa lý ) nhằm mục tiêu phục vụ tốt nhất nhu cầu của công chúng xem truyền hình Những chương trình truyền hình chuyên biệt ra đời cho thấy được

sự nhạy bén, kịp thời đổi mới của các cơ quan truyền thông đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của công chúng truyền hình Điều đó cũng thể hiện, báo chí nói chung và truyền hình nói riêng đã và đang làm tốt vai trò, chức năng của mình trong việc thông tin phục vụ công chúng

Kết hợp trên nền tảng lý thuyết truyền thông dân tộc, tức hoạt động truyền thông dành cho một nhóm tộc người có cùng đặc điểm căn tính, bản sắc và thường được thực hiện trên nhóm ngôn ngữ riêng cho nhóm người đó, theo cá nhân tác giả,

Chương trình truyền hình tiếng Thái có thể hiểu là một loại chương trình truyền hình chuyên biệt, sử dụng ngôn ngữ là tiếng dân tộc Thái để truyền tải thông tin phục vụ cho chính đồng bào dân tộc Thái Ở Việt Nam hiện nay, chương trình

truyền hình tiếng Thái dành cho đồng bào đã khá phổ biến tại nơi có nhiều dân tộc Thái sinh sống như: Chương trình truyền hình tiếng Thái của kênh VTV5 đài THVN, chương trình truyền hình tiếng Thái tại các tỉnh Điện Biên, Sơn La, Lai Châu, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An.v.v

Chương trình truyền hình tiếng Thái trên cả nước nói chung và ở Tây Bắc nói riêng sẽ phát huy được vai trò tích cực trong hoạt động truyền thông của mình nếu được nghiên cứu, ứng dụng mô hình truyền thông phát triển (hoặc truyền thông vì

Trang 21

sự phát triển - viết tắt trong tiếng Anh là C4D) nhằm tăng cường đối thoại, thúc đẩy

sự tham gia có ý nghĩa và đẩy mạnh thay đổi xã hội Hội nghị Truyền thông vị Phát triển Thế giới năm 2006 định nghĩa C4D là “một tiến trình xã hội dựa trên sự đối thoại, thông qua nhiều phương tiện và phương pháp khác nhau Nó nhằm tạo ra thay đổi ở nhiều mặt, trong đó có lắng nghe, xây dựng niềm tin, chia sẻ hiểu biết và kỹ năng, hoạch định chính sách, tranh luận và học hỏi để tạo ra thay đổi bền vững và

có ý nghĩa” Trong thực tế, C4D liên quan tới một loạt những hoạt động và chức năng và hoạt động có trọng tâm là đối thoại, tham gia, chia sẻ hiểu biết và thông tin Với ưu thế cao trong việc hướng đến công chúng đông đảo trong xã hội, nhất là những người nghèo, mô hình này sẽ giúp các chương trình truyền hình tiếng Thái tạo được sự cộng hưởng của các lực lượng trong xã hội góp phần đem lại những giá trị thay đổi bền vững và có ý nghĩa thiết thực cho đời sống của bà con đồng bào Thái Nếu áp dụng các mô hình truyền thông phát triển (C4D) trong các chương trình truyền hình tiếng Thái hiệu quả sẽ thể hiện ở một số khía cạnh chính như: nâng cao hiệu quả quản lý của hệ thống chính quyền nhà nước; tác động tích cực tới nền kinh tế; tạo ra sự ảnh hưởng sâu rộng tới người dân Đặc biệt, khi xem xét hoạt động truyền thông trong khu vực Tây Bắc - nơi có hệ thống truyền thông ở các tỉnh còn yếu về số lượng, chưa thật tốt về chất lượng; vai trò của truyền thông cộng đồng chưa được quan tâm; tính chất kết nối và thúc đẩy sự tham gia của các thành phần xã hội trong hoạt động truyền thông phát triển còn nhiều hạn chế - thì việc vận dụng thành công mô hình truyền thông phát triển này trong chương trình truyền hình tiếng Thái sẽ giúp mang lại nhiều giá trị thực tiễn Với những giá trị tác động lâu dài bền vững, hoạt động truyền thông của chương trình truyền hình tiếng Thái sẽ góp phần giúp người dân Tây Bắc nâng cao nhận thức về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; dần xóa

bỏ hình thức sản xuất tự cung tự cấp, nâng cao công tác truyền thông khoa học công nghệ để áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất hiệu quả; khắc phục những vấn đề bất cập như du canh, du cư, hút thuốc phiện và trồng cây thuốc phiện của người dân tộc thiểu số nói chung và người Thái nói riêng; nâng cao sự hiểu biết,

Trang 22

gắn kết, chia sẻ thông tin lẫn nhau và sự hợp tác giữa các dân tộc trong mọi lĩnh vực đời sống

Khi đặt vấn đề chương trình truyền hình cho người Thái Tây Bắc bên cạnh bức tranh truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số khác, đồng thời nhìn nhận ở một góc nhìn toàn cảnh hơn trong hoạt động truyền thông cho đồng bào dân tộc thiểu số

và miền núi hiện nay ta thấy có chương trình truyền hình tiếng Thái có điểm khác biệt, nổi trội và mang ý nghĩa xã hội nhất định Chương trình truyền hình tiếng Thái

có ưu thế là đối tượng công chúng đông đảo với dân số trên 1 triệu người, quy mô này khá lớn trong thị trường truyền thông chuyên biệt cho các sắc tộc, các cộng đồng hiện nay Mặc dù, quy mô dân số này là đáng kể nhưng do điều kiện địa lý, tự nhiên vùng Tây Bắc khắc nghiệt nên trình độ kinh tế - xã hội của bà con vẫn còn không đồng đều, nhiều nơi vẫn còn trong tình trạng lạc hậu, có mức sống thấp và tỷ

lệ đói nghèo cao, chậm phát triển Vì thế chương trình truyền hình tiếng Thái càng

có cơ hội để thể hiện rõ vai trò và ý nghĩa của mình trong công tác truyền thông nói chung và của truyền hình nói riêng nhằm góp phần nâng cao nhận thức chính trị tư tưởng giúp bà con đồng bào Thái hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tự mình vươn lên xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống, bảo tồn và phát huy truyền thống dân tộc

1.1.3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng chương trình truyền hình tiếng Thái

Để có một tác phẩm truyền hình thành công, các yếu tố về nội dung hình thức phải được kết hợp tối đa, hài hòa và phù hợp với đối tượng công chúng để đạt được hiệu quả thông tin cao nhất Đặc biệt với đối tượng công chúng đặc thù là đồng bào dân tộc Thái, người làm chương trình càng phải làm sao các tác phẩm đều có thông điệp nội dung ý nghĩa, dễ hiểu, dễ nhớ đối với trình độ nhận thức chung của bà con

Có như vậy tác phẩm truyền hình đó mới đáp ứng được nhiệm vụ, chức năng của mình và nhu cầu thông tin của công chúng Cụ thể:

Về nội dung

Thứ nhất, thông tin có định hướng chính trị rõ ràng, nội dung chương trình phản ánh được những vấn đề chinh của đất nước, của địa phương, đảm bảo được tính

Trang 23

thống nhất về nhận thức, tư tưởng và hành động của đại gia đình các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Đồng thời, nội dung tin bài của các chương trình phải chắt lọc, né tránh các vấn đề không nên đề cập đến như phân biệt tôn giáo, chủng tộc

Thứ hai, kết cấu chương trình cụ thể, không phức tạp rườm rà, dễ theo dõi nhưng vẫn đảm bảo tính chặt chẽ, tinh gọn để phù hợp với tâm lý, khả năng tiếp nhận thông tin của bà con

Thứ ba, thông tin trong tác phẩm phải đảm bảo được tính thời sự, nội dung thông tin phải mang tính mới mẻ, nóng hổi Thông tin có thể vừa xảy ra hoặc đã xảy ra nhưng được bổ sung, phát triển thành cái mới Sự kiện, vấn đề phải có khả năng tác động số đông công chúng xem truyền hình bởi sự đa dạng, hiếm, lạ và phải mang ý nghĩa tích cực cho sự phát triển xã hội Như vậy nội dung thông tin trong các chương trình truyền hình tiếng Thái phải mới mẻ, phong phú, hấp dẫn với mục đích phát triển bền vững xã hội

Thứ tư, nội dung thông tin cần mang tính xác thực, gần gũi, mang ý nghĩa thời

sự và có nội dung liên quan đến khán giả người Thái Nội dung thông tin trong các chương trình truyền hình tiếng Thái không đơn thuần chỉ là những tin tức chính trị

mà bao gồm tất cả các vấn đề ở nhiều lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, đời sống xã hội Những thông tin này cần được chọn lọc từ những vấn đề phát sinh trong chính đời sống của bà con người Thái hoặc là những thông tin mà công chúng người Thái cần, không nên thông tin một cách dàn trải chung chung Đó là những nội dung liên quan đến đời sống hàng ngày của bà con; cơ chế chính sách liên quan đến dân tộc

và miền núi; mối quan tâm của cộng đồng về những vấn đề nổi cộm liên quan đến đồng bào như các hủ tục lạc hậu, những thói quen sinh hoạt phản khoa học cần sớm thay đổi Sự lựa chọn nội dung phù hợp sẽ giúp thông tin của chương trình đến với bất cứ người dân, đối tượng, tầng lớp nào cũng thấy dễ hiểu, dễ nghe và có lợi ích thiết thực với đời sống hàng ngày của bà con

Thứ năm, những nội dung thông tin trong các chương trình truyền hình tiếng Thái phải có tác dụng phản ánh rõ thực trạng vấn đề mà tác phẩm đang đề cập đến

Trang 24

Đồng thời, chính kiến của tác giả cũng phải được thể hiện rõ ràng, nhằm nêu bật được tính vấn đề trong tác phẩm, từ đó mang lại những thông tin tư vấn, định hướng hiệu quả và thiết thực với đời sống của bà con

Thứ ba, ngôn ngữ trong chương trình phải sử dụng vốn ngôn ngữ cổ của đồng bào dân tộc Thái, đảm bảo sử dụng đúng vốn từ, diễn đạt gần gũi, dễ hiểu, dễ nghe, chuẩn về ngữ âm và ngữ nghĩa Tin, bài tránh sử dụng những ngôn từ khoa học phức tạp mà không có giải thích cắt nghĩa hoặc có hàm ý phân biệt vùng miền, dân tộc, có ý nghĩa miệt thị, ví dụ như từ: mông muội, ngu dốt Do đặc thù vốn ngôn ngữ cổ của người dân tộc Thái không phong phú, đa dạng và nhiều từ chuyên ngành khoa học như tiếng phổ thông, vì thế tác phẩm phải được vận dụng linh hoạt vốn từ

để diễn giải những từ mới đó một cách đơn giản, dễ hiểu giúp đồng bào dễ tiếp thu Bốn là, hình ảnh, âm thanh sử dụng trong chương trình phải phù hợp với lời bình

và nội dung vấn đề để bổ trợ một cách sinh động trong quá trình truyền đạt thông tin giúp bà con dễ hiểu, dễ tiếp nhận Với đồng bào dân tộc Thái hình ảnh của tác phẩm cần phải rõ ràng, sắp xếp logic, minh họa sinh động cho lời bình sẽ giúp bà con dễ hình dung vấn đề và hiểu được nội dung thông tin mà tác phẩm phản ánh Các thể loại tác phẩm như tin, phóng sự, bình luận, phim tài liệu… cần được sử dụng linh hoạt, phù hợp với từng loại thông tin sự kiện, vấn đề để tăng cao hiệu quả truyền đạt thông điệp tới bà con Đồng thời, việc vận dụng khéo léo các thể loại sẽ

Trang 25

giúp chương trình tránh được sự nhàm chán nhằm mang lại nhiều yếu tố hấp dẫn cho đồng bào Thái

Thứ năm, các chương trình phải chú ý đến đặc điểm thói quen xem truyền hình của bà con để chọn được thời điểm phát sóng hợp lý Thời điểm tốt nhất là vào buổi tối, khi bà con đi làm về, tuy nhiên cũng không nên phát sóng quá muộn bởi bà con thường đi ngủ sớm

1.2 Vài nét về dân tộc thiểu số và cộng đồng người Thái ở Tây Bắc

1.2.1 Vài nét chung về dân tộc, dân tộc thiểu số

Thuật ngữ dân tộc bắt nguồn từ tiếng Latinh là cộng đồng người có chung một thể chế chính trị, được thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, được điều khiển bởi một nhà nước Cũng có thể hiểu đó là một cộng đồng nhân dân ổn định được phát triển trong lịch sử, với một lãnh thổ riêng, một nền kinh tế thống nhất, với các đặc trưng văn hóa thống nhất với các đặc trưng văn hóa thống nhất, cùng có tiếng mẹ đẻ thống nhất và được chỉ đạo bởi một nhà nước

Khái niệm dân tộc được dùng để chỉ dân tộc quốc gia như dân tộc Việt Nam hay các cộng đồng tộc người cụ thể như dân tộc Thái, dân tộc Tày, dân tộc Kinh… Như vậy trong thực tiễn Việt Nam dân tộc có hai ý nghĩa, một là chỉ dân tộc ở cấp độ quốc gia, hai là chỉ cộng đồng tộc người cụ thể

Theo ThS Lô Quốc Toản: “Dân tộc thiểu số là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay Các học giả phương Tây quan niệm rằng, đây

là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học dùng để chỉ những dân tộc có ít dân số”

Diện mạo chung cộng đồng người dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia gồm 54 dân tộc anh em, trong đó ngoài dân tộc Kinh chiếm

đa số còn lại 53 dân tộc thiểu số Quy mô dân số của các dân tộc thiểu số cũng có sự chênh lệch đáng kể, có những dân tộc thiểu số có trên một triệu người như dân tộc Tày, dân tộc Thái, dân tộc Hoa, dân tộc Mường, dân tộc Khmer thì cũng có những dân tộc có dân số rất ít như Si La, Pu Péo, Rơ Măm…

Các dân tộc thường cư trú trên địa bàn rộng lớn, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng và môi trường sinh thái Mặc dù dân

Trang 26

số không chiếm số đông nhưng vùng dân tộc và miền núi nước ta chiếm gần ¾ diện tích tự nhiên của cả nước (bao gồm 21 tỉnh miền núi vùng cao, 23 tỉnh có miền núi

và 10 tỉnh đồng bằng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống) Đồng bào dân tộc thiểu số có một số ít dân tộc cư trú tập trung và ổn định còn lại đa số họ thường cư trú phân tán và xen kẽ nhau Ở miền núi hầu như không có tỉnh, huyện nào chỉ có một dân tộc cư trú mà thường có nhiều dân tộc sống cùng nhau trên một địa bàn rộng lớn Ví như các tỉnh Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Lâm Đồng… đa phần đều có trên 5 dân tộc cùng sinh sống, nhiều xã bản có tới trên 3 dân tộc trên địa bàn

Do đa dạng về thành phần dân tộc nên nền văn hóa của dân tộc thiểu số Việt Nam có nhiều bản sắc khác nhau phản ánh truyền thống, lịch sử và niềm tự hào dân tộc Bản sắc đó bao gồm tất cả các giá trị vật chất, tinh thần bao gồm cả tiếng nói chữ viết, văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc, y phục, tâm linh, tâm lý, tình cảm, phong tục tập quán, tín ngưỡng… được sáng tạo lâu dài trong lịch sử Sự phát triển rực rỡ bản sắc văn hóa mỗi dân tộc càng làm phong phú thêm nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Thống nhất trong đa dạng là nét riêng, độc đáo của nền văn hóa các dân tộc ở nước ta

1.2.2 Vài nét về dân tộc Thái

Trong cuốn Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam tác giả Cầm Trọng có viết rất nhiều

kiến thức về dân tộc người Thái ở Việt Nam nói chung và vùng Tây Bắc nói riêng

Cụ thể, dân tộc Thái còn có những tên gọi khác là Tay và có hai nhóm là Thái Đen (Tay Đằm), Thái Trắng (Tay Đón), tiếng Thái thuộc hệ ngôn ngữ Tày – Thái và người Thái còn có chữ viết riêng Dân tộc Thái cũng là một trong số những dân tộc

có nền văn hóa và phong tục tập quán riêng biệt góp phần vào bản sắc dân tộc Việt Người Thái chủ yếu canh tác lúa nước, gạo là nguồn lương thực chính, đặc biệt

là gạo nếp, người Thái cũng làm nương để trồng lúa, ngô, khoa, sắn, lạc, vừng…và nhiều thứ cây trồng khác Trong từng gia đình còn chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng bông, nuôi tằm để dệt vải, một số nơi còn làm đồ gốm…

Trang 27

Người Thái ở nhà sàn, kết cấu bằng gỗ với những hàng cột gỗ vuông hoặc tròn được kê đá, sàn cao, lợp lá cọ, tấm tôn hoặc ngói Mỗi nhà tùy theo gia cảnh mà dựng nhà 3 gian hay 5 gian Người Thái làm nhà thường tạo mái hình mai rùa, trang trí trên hai đầu nóc nhà bằng khau cút theo phong tục xưa truyền lại

Về trang phục, dân tộc Thái từ trước tới nay được ca ngợi bởi sự đơn giản, duyên dáng, thanh lịch và nổi bật bản sắc riêng biệt Một bộ trang phục của nữ Thái gồm:

áo ngắn (sửa cỏm), áo dài (xửa chái và sửa luổng), váy (xỉn), thắt lưng (xài èo), khăn (piêu), nón (cúp) và các loại hoa tai, vòng cổ, vòng tay và xà tích Khăn piêu

là vật dụng cầm tay của các cô gái Thái khi đi ra đường hay trong các dịp lễ, khăn piêu được cô gái Thái thêu thùa rất cầu kì, nó thể hiện sự khéo léo của mỗi cô gái

So với trang phục nữ, trang phục nam người Thái đơn giản bao gồm: áo, quần, thắt lưng và các loại khăn… Áo nam giới có hai loại, áo cánh ngắn và áo dài Áo ngắn may bằng vải chàm, kiểu xe ngực, tay dài hoặc ngắn, cổ tròn, khuy áo bằng đồng hoặc tết thành nút vải Áo không có trang trí hoa văn chỉ trong dịp trang trọng người

ta mới thấy nam giới Thái mặc tấm áo ngắn mới, lấp ló đôi quả chỉ (mắc may) ở đầu thường xẻ tà hai bên hông áo

Về văn học nghệ thuật, do người Thái có chữ viết riêng nên kho tàng văn học dân gian như truyền thuyết, ca dao, truyện thơ, văn học, dân ca.v.v và một số luật lệ còn được lưu giữ và truyền lại khá nguyên vẹn qua các bản ghi chép trên giấy bản hoặc trên lá cây Một số tác phẩm truyện thơ nổi tiếng như “xốn chụ xon xao”,

“khun lú nang ủa”… Đồng bào Thái rất thích ca hát, nhiều điệu múa như múa xòe, múa sạp, múa quạt rất độc đáo hấp dẫn đông đảo khán giả Vào dịp lễ hội, hạn khuống - sân chơi dành riêng cho giới trẻ chưa lập gia đình và ném còn là hai trò chơi mang nét đặc trưng văn hóa nổi tiếng của người Thái

Một trong những đặc trưng nổi bật của dân tộc Thái là văn hóa ẩm thực Dân tộc Thái ưa cái hương vị đậm đà, giàu chất dinh dưỡng của món nướng được tẩm, ướp gia vị rất cầu kỳ như thịt trâu nướng, cá nướng Gia vị chấm nổi tiếng là chẩm chéo rất ngon, rượu thường là rượu mông pê Xôi nếp là món ăn truyền thống của dân tộc Thái, họ có phương pháp đồ xôi cách thủy bằng chõ gỗ rất kỹ thuật, xôi chín bằng

Trang 28

hơi, mềm, dẻo nhưng không dính tay, xôi được đựng vào ép khẩu hoặc giỏ cơm đậy kín, ủ ấm giữ cho cơm dẻo lâu thuận lợi cho việc đi nương rẫy

Về tục cưới hỏi, người Thái rất thận trọng trong việc kén rể, kén dâu Các bước

lễ thành hôn diễn ra như sau: nhà trai mang sang nhà gái đủ sính lễ, vật cưới thì tiến hành các bước theo phong tục: thứ nhất là lễ trải chăn đệm, thứ hai là lễ búi tóc ngược (người Thái gọi là Tẳng Cẩu), thứ ba là xướng lễ báo ma nhà – phong tục không thể thiếu của dân tộc Thái, báo với tổ tiên, và thứ tư là uống rượu mừng lễ thành hôn… sau đó ăn mừng xong là kết thúc hôn lễ

Về thế giới tâm linh, người Thái có quan niệm đa thần và giữ tục cúng tổ tiên Người Thái có nhiều họ, mỗi họ có những qui định kiêng kỵ khác nhau, chẳng hạn:

họ Lò kiêng không ăn thịt chim Táng Lò, họ Quàng kiêng con Hổ…

Như vậy ta thấy rằng, dân tộc Thái có rất nhiều nét văn hóa riêng biệt, mang giá trị văn hóa nhân văn, nhân đạo sâu sắc góp phần vào xây dựng bản sắc văn hóa các dân tộc Việt Nam

1.2.3 Người Thái ở Tây Bắc

Người Thái có mặt trên tất cả 63 tỉnh thành phố nhưng tập trung đến 2/3 ở các tỉnh phía Tây Bắc (chiếm tới 963.006 người trong tổng số 1550.423 người Thái trên

cả nước), phân bố chủ yếu ở các tỉnh Sơn La (36,9%), Điện Biên (12%), Lai Châu (7,7%), Yên Bái (3,4%)… Theo tác giả Cầm Trọng thì khoảng thế kỷ XII - XIII trên miền Tây Bắc đã có nhóm địa phương thuộc một tộc Thái cư trú, khởi đầu cho việc phát triển nhóm Thái ở vùng đất này

Từ trước đến nay, cho dù vùng người Thái trải qua những năm tháng bị đế quốc, phong kiến chia rẽ, bị phân thành từng vùng nhỏ khác nhau, hạn chế về giao thông

có núi non hiểm trở, nền kinh tế chậm phát triển, khó khăn về giao lưu giữa các nhóm người Thái… nhưng người Thái ở miền Tây Bắc vẫn phát triển thành một khối dân tộc thống nhất Đó là một dân tộc ít người thuộc đại gia đình dân tộc Việt Nam, có màu sắc riêng của địa phương nằm trong sắc thái chung của dân tộc Việt Nam thống nhất

Trang 29

Sống trên miền đất Tây Bắc, người Thái đã trải qua một quá trình lao động bền bỉ

để không ngừng biến đổi những tài nguyên thiên nhiên thành những sản phẩm cần thiết để phục vụ cho các nhu cầu về ăn, mặc, ở, đi lại… Trải qua các thế hệ xây dựng bản mường với sức lao động của mình, người Thái đã tạo ra một địa vực cư trú ổn định Ngoài một số người sống lẻ tẻ trên các rẻo cao cùng dân tộc anh em khác, còn hầu hết họ sống tập trung tương đối đông trong các thung lũng, bình nguyên, lòng chảo hay vùng cao nguyên mà có thể gọi chung là vùng đất thấp Cũng như người Thái ở nhiều nơi khác trên cả nước, người Thái sinh sống trên địa bàn tỉnh Tây Bắc có những phong tục tập quán khá khác biệt so với các dân tộc khác Người Thái sống rất thật thà, thân thiện dễ mến, trong cộng đồng của mình họ sống rất đoàn kết Có lẽ do địa bàn cư trú ở vùng cao, giao thông đi lại khó khăn, cuộc sống mang tính tự cấp tự túc kéo dài nên người Thái đa phần vẫn làm nghề nông nghiệp, trồng lúa nước, lúa nương, chỉ có một số ít thoát ly làm công chức và kinh doanh, buôn bán Hiện nay với sự phát triển nhanh của kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật cũng như sự đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng vùng đồng bào dân tộc Thái đã giúp bà con dần phá bỏ được lối sống khép kín, tăng cường giao lưu văn hóa với các dân tộc khác, biểu hiện như người Thái ở những vùng trung tâm đã xây nhà, mặc đồ… như người Kinh Ngày nay, nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước chất lượng đời sống kinh tế của người Thái cũng dần được nâng cao hơn, tuy nhiên phần lớn người Thái vẫn ở mức cận nghèo và nghèo Người Thái có đời sống chính trị khá ổn định, một lòng tin vào Đảng và Nhà nước Mặc dù vậy, do là thành phần dân tộc chiếm tỉ lệ lớn ở nước ta, trình độ dân trí còn thấp, đời sống kinh tế còn nghèo, sinh sống chủ yếu ở các vị trí biên giới có tính chiến lược quan trọng như Tây Bắc nên người Thái cũng là mục tiêu của nhiều thế lực xấu nhắm đến nhằm kích động, lôi kéo phản động, chống lại chính quyền

Vì thế có thể nói, người Thái nói chung và người Thái ở vùng Tây Bắc nói riêng rất cần được Đảng và Nhà nước quan tâm trên mọi phương diện Bởi, Tây Bắc rất

đa dạng về thành phần dân tộc với trên 20 dân tộc anh em nhưng trong số đó đông nhất là dân tộc Thái chiếm 32% dân số trong vùng Không chỉ là nơi có nhiều người

Trang 30

Thái sinh sống nhất, về phương diện lãnh thổ, địa hình Tây Bắc cũng là vùng địa lý khá phức tạp Đây là vùng miền núi phía Tây Bắc của miền Bắc Việt Nam, có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc Về mặt hành chính Tây Bắc gồm 6 tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai Địa hình Tây Bắc hiểm trở có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới hơn 180km, rộng 30km với một số đỉnh núi cao từ

2800 – 3000 mét Dãy núi sông Mã dài 500km, có những đỉnh núi cao trên 1800m

so với mực nước biển Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp khu vực sông, ngoài sông Đà là sông lớn còn lại vùng Tây Bắc chỉ có sông suối nhỏ Với địa hình đồi núi phức tạp Vùng Tây Bắc có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong an ninh - quốc phòng Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nơi cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số là địa bàn chiến lược xung yếu, là chiến tuyến trấn giữ và bảo

vệ vùng biên cương của tổ quốc, là những khu căn cứ địa vững chắc của cách mạng,

là nơi cung cấp sức người, sức của góp phần tạo nên thắng lợi của dân tộc Bên cạnh đó, Tây Bắc là vùng miền núi có nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước, nơi đầu nguồn của những con sông lớn, có hệ thống rừng phòng hộ, rừng đặc dụng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái

Mặc dù điều kiện tự nhiên có nhiều thuận lợi, được Đảng, Nhà Nước quan tâm nhưng hiện nay Tây Bắc vẫn là vùng có đời sống khó khăn, trình độ nhận thức và điều kiện kinh tế của bà con còn nhiều hạn chế hơn so với mặt bằng chung của cả nước Điều này thể hiện trên cách phương diện mặt bằng trình độ học vấn còn thấp, năng lực kinh tế còn nghèo, chăm sóc đời sống chưa được tốt, tiếp cận nguồn tri thức mới chưa được nhiều và cập nhật, chất lượng cuộc sống của bà còn dân tộc còn khá thấp Chính vì thế người dân Tây Bắc và đồng bào dân tộc thiểu số ở đây nói chung và đồng bào dân tộc Thái nói riêng cần được đặc biệt quan tâm, không chỉ về đời sống vật chất mà bao gồm cả đời sống tinh thần

Trang 31

1.3 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước dành cho đồng bào dân tộc thiểu số

Ở nước ta, địa bàn cư trú của các dân tộc thiểu số trong đó có đồng bào dân tộc Thái có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng, đối ngoại Đồng bào cư trú suốt dọc tuyến biên giới phía Tây Bắc, có nhiều cửa ngõ thông thương giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới Trong tình hình hiện nay, miền núi Tây Bắc là địa bàn tiềm năng, mang tính chiến lược, cơ bản cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Kinh tế ở miền núi, các dân tộc thiểu số còn chậm phát triển, tình trạng du canh,

du cư, di dân tự do vẫn còn diễn biến phức tạp Kết cấu hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, dịch vụ) ở vùng sâu, vùng xa vẫn còn khó khăn, nhiều nơi môi trường sinh thái tiếp tục bị suy thoái

Tỉ lệ hộ đói nghèo ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi cao hơn so với bình quân chung cả nước, khoảng cách chênh lệch về mức sống, về trình độ phát triển kinh tế -

xã hội giữa các dân tộc, giữa các vùng ngày càng gia tăng; chất lượng, hiệu quả về giáo dục đào tạo còn thấp, công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu

số gặp nhiều khó khăn, một số bản sắc tốt đẹp trong văn hóa của các dân tộc thiểu

số đang bị mai một, một số tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan có xu hướng phát triển

Hệ thống chính trị cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn yếu, tỉ

lệ cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học thấp Năng lực, trình độ cán bộ xã, phường còn hạn chế, số lượng Đảng viên là người dân tộc thiểu số thấp, vẫn còn thôn bản chưa có Đảng viên Hoạt động của cấp ủy, chính quyền, mặt trận và đoàn thể ở nhiều nơi chưa sát dân, chưa tập hợp được đồng bào

Các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng những khó khăn về đời sống, trình độ dân trí thấp của đồng bào và những sai sót của các cấp, các ngành trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta để kích động tư tưởng ly khai, tự trị, phá hoại truyền thống đoàn kết và thống nhất của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, gây mất ổn định chính trị, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm Chính vì những yếu tố trên mà Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng chăm lo tới đời sống vật

Trang 32

chất tinh thần cho bà con đồng bào dân tộc thiểu số Trên phương diện đời sống tinh thần, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng đến công tác thông tin, tuyên truyền sâu rộng và bám sát đời sống của bà con Dân tộc thiểu số luôn là đối tượng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm từ trước tới nay trong quá trình thống nhất, xây dựng đất nước Đây là chủ trương lớn, nhất quán thể hiện xuyên suốt trong các văn bản đường lối của Đảng và Nhà nước với nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc

là “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển” Kim chỉ nam này xuyên suốt cho mọi hoạt động về vấn đề dân tộc từ đại hội Đảng đầu tiên (3/1935) cho đến nay

Chính phủ, Nhà nước cũng như các bộ ngành Trung ương đến địa phương liên tục đưa ra nhiều chủ trương, chính sách, chương trình, dự án đầu tư chăm lo cho đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số trong đó có đồng bào dân tộc Thái Có thể kể đến một số nghị quyết như sau:

Nghị quyết 22-NQ/TW về một số chủ trương chính sách lớn của chính phủ đối

với phát triển miền núi trong đó có lĩnh vực truyền thông đại chúng: "Tăng cường các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả các phương tiện hiện đại như máy thu thanh, máy thu hình, băng ghi hình để cải tiến và nâng cao các chương trình phát thanh, truyền hình ở địa phương, phổ biến các văn hóa phẩm và tài liệu có nội dung thiết thực phù hợp với yêu cầu và truyền thống của đồng bào các dân tộc Chú trọng sử dụng ngôn ngữ dân tộc (và chữ viết nếu có) trong công tác thông tin tuyên truyền"

Nghị quyết số 24 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX tại Hội nghị thứ

7 về công tác dân tộc đã tổng kết đánh giá hơn sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đặc biệt là từ khi có nghị quyết 22-NQ/TW ngày 27/12/1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng, đồng thời cũng đưa ra một số tiêu

chí chủ yếu trong lĩnh vực thông tin truyền thông đến năm 2010: "Phấn đấu 90% đồng bào được xem truyền hình, 100% được nghe đài phát thanh, các giá trị, bản

Trang 33

sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số được bảo tồn và phát triển"

Ngày 3/12/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 39 về việc đẩy mạnh công tác văn hóa - thông tin ở miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số Đây được coi là một trong những chỉ thị quan trọng về hoạt động báo chí tuyên truyền nói chúng, truyền hình nói riêng trong việc đầu tư các nguồn lực phục vụ công tác tuyên truyền tại đồng bào dân tộc thiểu số Mục tiêu của chỉ thị nhằm cải thiện và nâng cao một bước mức hưởng thụ văn hóa thông tin ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số trong đó có đồng bào dân tộc Thái

Tại điều 17 về Chính sách thông tin - truyền thông, Nghị định số

05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ Về công tác dân tộc cũng đã chỉ rõ:

"Đầu tư phát triển thông tin - truyền thông vùng dân tộc thiểu số, cung cấp một

số phương tiện thiết yếu nhằm đảm bảo quyền tiếp cận và hưởng thụ thông tin

- Xây dựng, củng cố hệ thống thông tin tình hình dân tộc và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc

- Tăng cường và nâng cao chất lượng sử dụng ngôn ngữ dân tộc trên các phương tiện thông tin đại chúng”

Quyết định số 2356/QĐ-TTG ngày 4/12/2013 "Ban hành Chương trình hành động thực hiện chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020" với mục tiêu xây dựng

các chương trình, chính sách, dự án, đề án cụ thể để triển khai những nhiệm cụ chủ

yếu của Chiến lược và tổ chức thực hiện nhằm đạt các mục tiêu của Chiến lược công tác Dân tộc đến năm 2020 đã được phê duyệt tại Quyết định số 449/QĐ-TTg

ngày 12/03/2013 của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ các nhiệm vụ trên phương diện tuyên truyền, thông tin truyền thông như sau:

- Đề án tuyên truyền phổ biến pháp luật cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng biên giới, vùng có điều kiện kinh tế -

xã hội đặc biệt khó khăn

- Đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động vùng đồng bào dân tộc thiểu

số và miền núi

Trang 34

- Chương trình mục tiêu quốc gia Đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo giai đoạn 2012-2020

- Đề án số hóa truyền dẫn, phát sóng truyền hình mặt đất vùng dân tộc thiểu số đến năm 2020

- Chương trình hành động công tác thông tin đối ngoại vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo

Theo chỉ thị số 28/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ vào ngày 10/09/2014 Về nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác dân tộc thì công tác dân

tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị Các cấp, các ngành phải tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc; chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện; nâng cao trách nhiệm và tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác dân tộc Trong nhiệm vụ chung của tất cả các cấp, nghành thì Bộ Thông tin và Truyền thông

cần: "Tăng cường đầu tư, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền bằng các phương thức phù hợp với từng vùng, từng dân tộc và bằng tiếng các dân tộc thiểu

số Việt Nam; thực hiện tốt việc đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo"

Do điều kiện sống của đồng bào vùng dân tộc và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn còn nghèo nàn, lối sống lạc hậu nên các ấn phẩm báo chí được cấp không thu tiền đem tới cho bà con những thông tin văn hóa, văn nghệ và giải trí Đồng thời, góp phần giữ gìn bản sắc riêng của các dân tộc qua việc thông tin, phản ánh về những phong tục, tập quán, nét văn hóa đẹp của đồng bào Nhờ hiệu quả thiết thực của chương trình cấp phát báo miễn phí cho đồng bào, Nhà nước ta lại tiếp tục nâng cao, mở rộng chương trình, tăng lượng đầu báo phục vụ đồng bào

Quyết định số 633/QĐ-TTg ngày 19/04/2016 của Thủ tướng Chính phủ Về việc cấp một số ấn phẩm báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn năm 2016 đã chỉ rõ 19 tên ấn phẩm báo và tạp chí được cấp miễn phí

tới đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn nhằm tăng cường công tác

Trang 35

thông tin, tuyên truyền phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào nói chung và cả nước nói riêng

Chính sách cấp báo chí không thu tiền cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn là một trong hơn 40 chương trình, mục tiêu, dự án lớn mà Nhà nước đầu tư hỗ trợ phát triển vùng Việc cấp không thu tiền một số loại ấn phẩm báo, tạp chí cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước, thể hiện sự quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

Qua báo chí, các chính sách được thẩm thấu vào cuộc sống của đồng bào Đặc biệt, lượng thông tin trên các tờ báo cấp phát cho vùng dân tộc, miền núi (không thu tiền) là cẩm nang, tài liệu tập huấn, là người bạn đồng hành của đồng bào trong phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, ổn định cuộc sống Báo chí còn đóng vai trò lớn trong việc thay đổi nếp nghĩ, cách làm của đồng bào, góp phần quan trọng trong phát hiện, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc

Như vậy ta có thể thấy trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà Nước đã có nhiều chương trình chính sách dân tộc đã được ban hành và tổ chức thực hiện, góp phần quan trọng làm thay đổi đáng kể bộ mặt vùng dân tộc và miền núi Đời sống vật chất tinh thần của đồng bào được cải thiện góp phần nâng cao đời sống vật chất, xây dựng, củng cố tinh thần bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp đỡ nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc giúp đồng bào các dân tộc ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội

Báo chí nói chung và báo chí dành cho đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng luôn

cố gắng làm tốt vai trò là cầu nối giữa Đảng với nhân dân về vấn đề dân tộc, củng

cố khối đại đoàn kết toàn dân, là người bạn đồng hành thể hiện tiếng nói của đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới Báo chí góp phần tích cực trong việc tăng cường công tác thông tin phục vụ sự nghiệp phát triển chính trị, kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã đem lại nhiều hiệu quả thiết thực

Trang 36

Về báo phát thanh, hệ Phát thanh Dân tộc là một hệ chương trình của Đài Tiếng nói Việt Nam có đối tượng phục vụ là đồng bào các dân tộc thiểu số, được phát bằng các thứ tiếng dân tộc thiểu số, được tổ chức sắp xếp trong hệ thống dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo Đài Tiếng nói Việt Nam Vào ngày 01/01/2004 kênh VTV5 của Đài Truyền hình Việt Nam đã được tách thành một kênh độc lập chuyên sản xuất các chương trình truyền hình về dân tộc miền núi với nhiều thứ tiếng trong

1.4 Vai trò của chương trình truyền hình tiếng Thái đối với người Thái ở Tây Bắc

Báo chí nói chung, truyền hình nói riêng có chức năng, vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống xã hội Một số chức năng của báo chí thường được nhắc đến nhiều đó là: các chức năng thông tin; chức năng tư tưởng; chức năng khai sáng - giải trí; chức năng tổ chức - quản lý giám sát và phản biện xã hội; chức năng kinh tế

- dịch vụ Truyền hình ngày càng có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin nhanh chóng và chính xác, giúp nhân dân kịp thời nắm bắt được đường lối chính sách và pháp luật, góp phần nâng cao dân trí, trình độ của nhân dân, là công cụ quan trọng tuyên truyền đối ngoại, đấu tranh chống các âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch đối với đất nước ta

Truyền hình có nhiều đặc trưng nổi bật như tính thời sự; ngôn ngữ hình ảnh và

âm thanh; tính phổ cập và quảng bá; khả năng thuyết phục công chúng; khả năng tác động dư luận xã hội mạnh mẽ và trở thành diễn đàn của nhân dân Nhờ đó, truyền hình luôn mang đến cho người xem những thông tin nóng hổi nhất về các sự kiện diễn ra, cập nhật những tin tức mới nhất Truyền hình truyền tải cả hình ảnh và

Trang 37

âm thanh cùng một lúc, người xem truyền hình tiếp cận sự kiện bằng cả thị giác và thính giác nên thu nhận được lượng thông tin lớn hơn so với các loại hình báo chí khác

Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, truyền hình ngày càng mở rộng phạm vi phủ sóng phục vụ được nhiều đối tượng người xem ở vùng sâu, vùng

xa Khả năng truyền tải một cách chân thực hình ảnh của sự kiện đi xa giúp truyền hình đáp ứng yêu cầu chứng kiến tận mắt của công chúng, tăng khả năng thuyết phục của thông tin Do những ưu thế về hình ảnh và âm thanh, truyền hình có khả năng thu hút hàng tỉ người xem cùng một lúc, vì thế, truyền hình có khả năng tác động mạnh mẽ vào dư luận và có khả năng trở thành diễn đàn của nhân dân Truyền hình hiện nay đáp ứng được một cách cao nhất nhu cầu thông tin giải trí cho khán giả xem truyền hình, chính vì vậy mà mặc dù xuất hiện sau các loại hình báo chí khác nhưng truyền hình đã nhanh chóng khẳng định được vị trí và có được một lượng khán giả đông đảo

Đối với công chúng người Thái, do trình độ dân trí còn hạn chế nên việc thông tin một cách chính xác và hấp dẫn đến bà con là rất quan trọng Và có thể nói truyền hình là một trong các kênh truyền thông đáp ứng tốt nhất các nhu cầu về thông tin

và giải trí của đồng bào Thái Đặc biệt, người Thái ngày nay vẫn còn có nhiều người chưa thông thạo nhiều tiếng phổ thông, vì thế các chương trình truyền hình tiếng Thái ra đời đã góp phần làm cho đời sống sản xuất và sinh hoạt của đồng bào Thái có nhiều thay đổi

Đối với việc nắm bắt các chủ trương của Đảng và Nhà nước

Truyền hình tiếng Thái giúp tuyên truyền thường xuyên, kịp thời đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân, giúp đồng bào nắm bắt, nhận thức đúng và thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Về mặt bằng chung, đồng bào dân tộc Thái có trình

độ dân trí, trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau; trình độ dân trí của một bộ phận còn hạn chế, nhiều tục tập lạc hậu Vì vậy, báo chí đóng vai trò rất quan trọng trong việc tuyên truyền, vận động bà con thực hiện chủ trương, đường

Trang 38

lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc Truyền hình cung cấp các nguồn thông tin quan trọng chính là bước đầu tiên trong chu trình truyền thông nhằm tác động làm thay đổi những nhận thức, quan niệm lạc hậu của

bà con

Với sự phát triển của các chính sách về giáo dục, trình độ dân trí của đồng bào Thái đã được cải thiện rất nhiều Hiện nay, tỷ lệ không biết chữ của người dân đã giảm đáng kể Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận người Thái chưa có điều kiện tiếp cận với các chương trình giáo dục, ít tiếp xúc với tiếng phổ thông nên vẫn còn mù chữ, có nguy cơ tái mù chữ là hoàn toàn có thể xảy ra Nếu như vậy việc tiếp cận với các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước là hết sức khó khăn Báo giấy

đã được phát miễn phí đến đồng bào dân tộc thiểu số trong đó có người Thái nhưng

do người Thái ít có điều kiện tiếp nhận thông tin từ ngoài bản, ngoài xã của mình nên phần lớn bà con không có thói quen đọc báo, một phần vì ít người biết chữ, một phần các ấn phẩm truyền thông này chưa có sự phù hợp, ít hấp dẫn với bộ phận công chúng lao động ở vùng nông thôn, miền núi Vì thế, báo in không phát huy nhiều vai trò trong việc truyền thông tin tới đồng bào dân tộc Thái Các chương trình phát thanh tiếng dân tộc ra đời được nhiều người Thái đón nhận Qua nội dung các chương trình giúp bà con nắm bắt được nhiều thông tin, tuy nhiên, chương trình phát thanh thì chỉ truyền tải thông tin bằng âm thanh chứ không có hình ảnh minh họa nên sự mô tả “người thật, việc thật” của sự việc, sự vật bị hạn chế

Khi các chương trình truyền hình tiếng Thái ra đời, với các ưu thế đặc trưng của mình đã thu hút được sự yêu thích của rất nhiều đồng bào Các chương trình truyền hình tiếng Thái giúp người dân vừa được nghe, vừa được xem nên nắm được thông tin nhanh hơn, chính xác hơn Kể cả đồng bào chưa biết chữ, chưa biết nhiều tiếng phổ thông, hạn chế về trình độ cũng có thể thu nhận được những thông tin bổ ích từ các chương trình Qua nội dung các chương trình giúp bà con nắm bắt được nhiều thông tin mà trước nay ít được biết, nhất là thông tin về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các định hướng chỉ đạo của tỉnh trong thực hiện các nhiệm vụ

Trang 39

chính trị lớn của địa phương Ví dụ như qua các chương trình truyền hình bà con biết và hiểu được các chương trình xây dựng nông thôn mới; những quy định về quản lý, bảo vệ rừng; chính sách cho vay vốn ưu đãi hộ nghèo để phát triển kinh tế.v.v Từ việc nắm bắt chính xác các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước,

bà con sẽ vận dụng vào đời sống thực tiễn một cách hiệu quả, đúng đắn

Đối với việc phát triển kinh tế

Hiện nay, đời sống của đồng bào dân tộc Thái đa phần vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, vì vậy mục tiêu giúp bà con xóa đói, giảm nghèo là nhiệm vụ chung của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Việc thông tin phổ biến rộng rãi sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong các chương trình truyền hình tiếng Thái sẽ giúp bà con học những cái mới, những cái hay để áp dụng vào nâng cao chất lượng đời sống gia đình, từ đó góp phần đóng góp vào sự phát triển kinh tế chung của đất nước Các chương trình này cung cấp thông tin về nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, giúp đồng bào nâng cao tri thức, trình độ dân trí, hiểu biết và ứng dụng khoa học -

kỹ thuật để nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất, từng bước thoát nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống Điều kiện tiếp xúc với thông tin của đồng bào sinh sống trong vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn hạn chế về địa lý, trình độ dân trí, nhận thức xã hội

Báo chí được cấp phát là nguồn chính đem tới cho người dân thông tin khoa học

- kỹ thuật, tác động làm thay đổi nhận thức, phương thức canh tác cũ kỹ.v.v của người dân, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện chất lượng cuộc sống Các chương trình truyền hình tiếng Thái với thông tin chỉ dẫn với cách trình bày rõ ràng, đầy đủ, có hình ảnh minh họa chi tiết, sinh động đã thực sự như một chuyên gia đang cầm tay chỉ việc cho người dân Nhờ đó, bà con cũng có thể tự tìm kiếm những cây trồng vật nuôi mới và áp dụng theo cách mà các chuyên gia hướng dẫn trên truyền hình để chuyển đổi sản xuất, mang lại giá trị kinh tế cao hơn Cụ thể, các thông tin về kỹ thuật trong trồng lúa, trồng ngô, trồng một số loại cây ăn quả, trồng rừng; kỹ thuật chăn nuôi gia súc; kỹ thuật chăm sóc, phòng chống bệnh dịch cho các con vật nuôi trong nhà; kỹ thuật sử dụng các giống cây trồng mới, cách bón

Trang 40

phân, phòng trừ sâu bệnh hại cho cây trồng… là những thông tin rất thiết thực và có sức hấp dẫn lớn với bà con

Ngoài phổ biến các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, các chương trình truyền hình còn phản ánh tình hình đời sống, sản xuất, những đổi thay trong vùng đồng bào dân tộc, những mô hình, điển hình tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh, thoát nghèo bền vững, vươn lên để nhiều người cùng học tập, làm theo Các chương trình tích cực chuyển tải thông tin về bài học kinh nghiệm, những thành công trong xây dựng kinh

tế của đồng bào các dân tộc nhằm nhân rộng thêm trong vùng dân tộc và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn Chính những tấm gương, những thành công của người dân tộc ít người có sức hút, sức thuyết phục mạnh mẽ đối với bà con các dân tộc Bởi vì, mong muốn được nhắc đến, được tôn vinh là tâm lý chung của con người, nhất là đồng bào vùng dân tộc và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn thường tâm lý mặc cảm, quan niệm an phận lạc hậu Những thành công, gương điển hình tiên tiến góp phần giải tỏa tâm lý trên và tiếp thêm động lực, củng cố niềm tin đồng bào vươn lên trong cuộc sống Đồng thời qua đó, bà con tiếp thu thêm được những kiến thức,

kinh nghiệm làm kinh tế hữu ích để áp dụng cho bản thân

Đối với việc nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Bên cạnh mong muốn tiếp cận các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tiếp thu khoa học kỹ thuật để áp dụng vào sản xuất, xóa đói, giảm nghèo thì nhu cầu giải trí nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong việc tiếp thu thông tin của bà con dân tộc Thái Thông qua các chương trình truyền hình tiếng Thái, bà con vừa có điều kiện giải trí, vừa có điều kiện nâng cao kiến thức của mình về mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội Thông qua các chương trình giới thiệu bản sắc văn hóa, dân tộc, vùng miền, ca múa nhạc, sân chơi, các chương trình có tính chất nghệ thuật… truyền hình không chỉ giúp bà con người Thái có những giây phút giải trí thư giãn mà còn giúp họ tiếp nhận một cách sinh động các phong tục tập quán, nét văn hóa đặc trưng của dân tộc mình, giao lưu tìm hiểu được văn hóa của các dân tộc khác

Ngày đăng: 18/07/2017, 20:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Lê Thanh Bình (2009), Quản lí nhà nước và pháp luật báo chí, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí nhà nước và pháp luật báo chí
Tác giả: Lê Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2009
6. Hồ Anh Dũng (2001), Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số Việt Nam thế kỷ XX
Tác giả: Hồ Anh Dũng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
7. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, Nhà xuất bản lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Báo chí và dư luận xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động
Năm: 2011
8. Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận báo chí, Nhà xuất bản lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động
Năm: 2012
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội Đảng toàn tập, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
11. Hà Minh Đức (2000), Cơ sở lí luận báo chí: đặc trưng và phong cách, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lí luận báo chí: đặc trưng và phong cách
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
12. Quang Thái Điệp (2015), "Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình tiếng Thái trên sóng đào phát thanh và truyền hình Nghệ An", Luận văn thạc sĩ báo chí, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình tiếng Thái trên sóng đào phát thanh và truyền hình Nghệ An
Tác giả: Quang Thái Điệp
Năm: 2015
13. Vũ Quang Hào (2012), Ngôn ngữ báo chí, Nhà xuất bản thông tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nhà xuất bản thông tấn
Năm: 2012
14. Đặng Thị Thu Hương (2015) Văn hóa truyền thông đại chúng – sức mạnh mềm trong kỷ nguyên kỹ thuật số, Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền thông (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa truyền thông đại chúng – sức mạnh mềm trong kỷ nguyên kỹ thuật số
15. Hoàng Mạnh Hà (2012), "Nâng cao chất lượng chương trình truyền hình tiếng H'Mông của Đài phát thanh truyền hình Yên Bái", luận văn thạc sĩ báo chí, Trường Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng chương trình truyền hình tiếng H'Mông của Đài phát thanh truyền hình Yên Bái
Tác giả: Hoàng Mạnh Hà
Năm: 2012
16. Đinh Văn Hường và tập thể tác giả (2006), Nghề báo, NXB Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề báo
Tác giả: Đinh Văn Hường và tập thể tác giả
Nhà XB: NXB Kim Đồng
Năm: 2006
17. Hội nhà báo Việt Nam (1994), Nghề nghiệp và công việc của nhà báo, Nhiều tác giả, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề nghiệp và công việc của nhà báo
Tác giả: Hội nhà báo Việt Nam
Năm: 1994
18. Trần Bảo Khánh (2003), Sản xuất chương trình truyền hình, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất chương trình truyền hình
Tác giả: Trần Bảo Khánh
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2003
19. Trần Bảo Khánh (2011), Công chúng truyền hình Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công chúng truyền hình Việt Nam
Tác giả: Trần Bảo Khánh
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2011
20. Đào Thị Loan (2004), “Hiệu quả phát thanh bằng tiếng dân tộc của Đài PT- TH Lai Châu”, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học KHXH&NV Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả phát thanh bằng tiếng dân tộc của Đài PT-TH Lai Châu”
Tác giả: Đào Thị Loan
Năm: 2004
22. Nhiều tác giả (1994), Nghề nghiệp và công việc của nhà báo, Hội nhà báo Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề nghiệp và công việc của nhà báo
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 1994
23. Nhiều tác giả (1993), Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
24. Nhiều tác giả (1995), Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
25. Nhiều tác giả (1997), Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tập 3, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1997
26. Nhiều tác giả (2000), Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tập 4, Nxb ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thông tin cơ bản về chương trình truyền hình tiếng Thái của  kênh VTV5, Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Sơn La - Chương trình truyền hình tiếng thái dành cho đồng bào thái ở tây bắc
Bảng 2.1 Thông tin cơ bản về chương trình truyền hình tiếng Thái của kênh VTV5, Đài PT-TH Điện Biên, Đài PT-TH Sơn La (Trang 46)
Bảng 2.2: Tỉ lệ lĩnh vực thông tin trong các chương trình truyền hình tiếng  Thái đƣợc các đài khai thác - Chương trình truyền hình tiếng thái dành cho đồng bào thái ở tây bắc
Bảng 2.2 Tỉ lệ lĩnh vực thông tin trong các chương trình truyền hình tiếng Thái đƣợc các đài khai thác (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w