1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu cơ sở địa lý phục vụ xác lập mô hình kinh tế sinh thái nông lâm nghiệp bền vững huyện tuy đức, tỉnh đắc nông

139 244 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 4,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm và đặc điểm nghiên cứu tổng hợp các điều kiện địa lý cho phát triển nông, lâm nghiệp và xác lập mô hình hệ kinh tế sinh thái.. Và như vậy nhiệm vụ đặt ra là cần có sự rà soát,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Lê Thị Hạnh Liên

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ ĐỊA LÝ PHỤC VỤ XÁC LẬP MÔ HÌNH KINH TẾ SINH THÁI NÔNG - LÂM NGHIỆP BỀN VỮNG

HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮC NÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – Năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Lê Thị Hạnh Liên

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ ĐỊA LÝ PHỤC VỤ XÁC LẬP MÔ HÌNH KINH TẾ SINH THÁI NÔNG - LÂM NGHIỆP BỀN VỮNG

HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮC NÔNG

Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường

Mã số: 60.85.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TSKH Phạm Hoàng Hải

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, học viên xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các đồng nghiệp trong Viện Địa lý - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, các thầy

cô trong khoa Địa lý, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN đã cung cấp cho

em những kiến thức chuyên ngành quý báu, tạo mọi điều kiện và tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện và hoàn thiện luận văn này

Học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng nhất tới GS TSKH Phạm Hoàng Hải - người đã rất nhiệt tình chỉ bảo, hướng dẫn em thực hiện luận văn

Luận văn được thực hiện trên khuôn khổ giúp đỡ về ý tưởng, số liệu và kinh phí từ đề tài TN3/T03 do GS TSKH Phạm Hoàng Hải làm chủ trì Xin cảm ơn Ban Chủ nhiệm đề tài cùng tập thể tác giả đã tạo điều kiện cho học viên được tham gia thực hiện và giúp đỡ về mặt chuyên môn để học viên hoàn thành luận văn này

Học viên cũng xin cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của UBND tỉnh Đắc Nông, UBND huyện Tuy Đức và các phòng ban trong quá trình thực địa tại Tây Nguyên để thực hiện luận văn này

Cảm ơn sự động viên, nhiệt tình, ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận này

Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2016 Học viên

Lê Thị Hạnh Liên

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 3

5 Cơ sở tài liệu thực hiện đề tài 3

6 Cấu trúc luận án 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ VÀ XÁC LẬP MÔ HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI CHO PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG LÂM NGHIỆP 5

1.1 Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài 5

1.1.1 Các công trình nghiên cứu đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội cho mục đích thực tiễn 5

1.1.2 Các công trình nghiên cứu xác lập mô hình hệ kinh tế sinh thái 7

1.2 Cơ sở lý luận nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho xác lập mô hình kinh tế sinh thái 14

1.2.1 Khái niệm chung về cảnh quan 14

1.2.2 Lý luận về đánh giá cảnh quan 17

1.2.3 Lý luận phân vùng cảnh quan 19

1.2.4 Quan điểm và đặc điểm nghiên cứu tổng hợp các điều kiện địa lý cho phát triển nông, lâm nghiệp và xác lập mô hình hệ kinh tế sinh thái 22

1.3 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 37

1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 37

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 39

1.3.3 Quy trình nghiên cứu 42

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN HUYỆN TUY ĐỨC 43

2.1 Các nhân tố thành tạo cảnh quan 43

Trang 5

2.1.2 Điều kiện tự nhiên 43

2.1.3 Các điều kiện kinh tế xã hội và nhân văn của huyện Tuy Đức 48

2.2 Hệ thống phân loại cảnh quan huyện Tuy Đức 58

2.3 Đặc điểm các tiểu vùng cảnh quan huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông 67

Chương 3: ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP NGUỒN LỰC TỰ NHIÊN, KINH TẾ- XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÀM CƠ SỞ XÁC LẬP CÁC MÔ HÌNH KINH TẾ SINH THÁI HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮC NÔNG 65

3.1 Đánh giá tổng hợp các điều kiện ĐLTN cho phát triển nông, lâm nghiệp 72

3.1.1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá cho nông lâm nghiệp 72

3.1.2 Tổng hợp kết quả đánh giá các điều kiện tự nhiên cho phát triển nông lâm nghiệp huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông 82

3.2 Định hướng tổ chức không gian phát triển nông lâm nghiệp huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông 83

3.2.1 Cơ sở đề xuất định hướng 83

3.2.2 Quan điểm đề xuất định hướng 85

3.2.3 Các căn cứ đề xuất định hướng 87

3.2.4 Kết quả kiến nghị không gian ưu tiên phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp theo các đơn vị tổng hợp thể tự nhiên lãnh thổ(CQ) 91

3.2.5 Định hướng tổ chức lãnh thổ theo các tiểu vùng thuộc huyện Tuy Đức 94

3.3 Xác lập mô hình hệ kinh tế sinh thái huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông 97

3.3.1 Phân tích cấu trúc các mô hình hệ kinh tế sinh thái hiện trạng, đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình 97

3.3.2 Đề xuất các mô hình hệ kinh tế sinh thái huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông 104 3.3.3 Giải pháp thực thi các mô hình kinh tế sinh thái đề xuất cho mục đích phát triển bền vững 119

KẾT LUẬN 122

TÀI LIỆU THAM KHẢO 125

Trang 6

DANH MỤC BẢNG TÀI LIỆU

Bảng 1.1: Mô hình kinh tế hộ gia đình theo điều kiện sinh thái 13

Bảng 2.1: Diện tích, cơ cấu các loại đất trên địa bàn huyện Tuy Đức 45

Bảng 2.2: Dân số và mật độ dân số năm 2015 của huyện Tuy Đức 49

Bảng 2.3: Hiện trạng hệ thống giáo dục huyện Tuy Đức 56

Bảng 3.1: Phân cấp các chỉ tiêu đánh giá điều kiện ĐLTN cho phát triển cây hàng năm huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông 73

Bảng 3.2 Mức độ thích hợp của các đơn vị CQ đối với phát triển cây hàng năm của huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông 74

Bảng 3.3: Bảng phân cấp các chỉ tiêu đánh giá các điều kiện ĐLTN cho phát triển cây lâu năm huyện Tuy Đức 76

Bảng 3.4: Mức độ thích hợp của các loại đơn vị cảnh quan đối với phát triển cây lâu năm huyện Tuy Đức 76

Bảng 3.5: Bảng phân cấp chỉ tiêu đánh giá các điều kiện tự nhiên cho ưu tiên phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông 78

Bảng 3.6: Mức độ ưu tiên của các đơn vị CQ đối với phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn huyện Tuy Đức 79

Bảng 3.7: Bảng phân cấp chỉ tiêu đánh giá các điều kiện ĐLTN cho phát triển rừng sản xuất huyện Tuy Đức 80

Bảng 3.8: Mức độ thích hợp của các đơn vị CQ đối với phát triển rừng sản xuất huyện Tuy Đức 81

Bảng 3.9: So sánh hiện trạng sử dụng đất và kết quả đánh giá thích nghi đối với phát triển nông lâm nghiệp huyện Tuy Đức 82

Bảng 3.10: Kết quả kiến nghị định hướng không gian ưu tiên các ngành sản xuất 92

Bảng: 3.11 Tổng hợp đề xuất định hướng không gian phát triển nông lâm nghiệp theo các tiểu vùng địa lý tự nhiên huyện Tuy Đức 94

Bảng 3.12: Các mô hình hệ kinh tế sinh thái hiện trạng huyện Tuy Đức 97

Bảng 3.13 Thu nhập của mô hình KTST trang trại RVC ở các tiểu vùng gò đồi và núi thấp trong một năm (đơn vị tính: VNĐ) 111 Bảng 3.14 Thu nhập của mô hình KTST nông hộ VAC ở tiểu vùng gò đồi và núi thấp

Trang 7

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

1 KTST: Kinh tế sinh thái

2 PTBV: Phát triển bền vững

3 TNTN: Tài nguyên tự nhiên

4 KT-XH: Kinh tế - xã hội

5 ĐLTN: Địa lý tự nhiên

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, thế giới đang phải đối mặt với tình trạng khủng hoảng kinh tế, chính trị và xã hội Nước ta cũng không nằm ngoài cục diện này, yêu cầu cấp bách hiện nay là phải phát triển kinh tế - xã hội hiệu quả nhằm đưa đất nước

ta tiến lên chủ nghĩa xã hội, thoát khỏi sự lạc hậu so với các nền kinh tế khác trên thế giới Và hiện nay chúng ta không thể phủ nhận một điều rằng, xã hội càng phát triển thì vấn đề sử dụng hợp lí các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, khai thác có hiệu quả các nguồn lực tự nhiên càng vô cùng quan trọng và cần thiết

Tuy Đức là một huyện của tỉnh Đăk Nông Huyện được thành lập vào tháng

1 năm 2007 theo quyết định 142/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành tháng 12 năm 2006, trên cơ sở tách 6 xã thuộc huyện Đắk R'lấp sang Huyện có đường biên giới dài khoảng 42km giáp với huyện Ô Rang, tỉnh Munđunkiri của đất nước Campuchia Đây là một khu vực lãnh thổ có nhiều tiềm năng, điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế của tỉnh, nhất là các ngành sản xuất nông và lâm nghiệp Về mặt thuận lợi, Tuy Đức là huyện có nguồn tài nguyên rừng phong phú, 2/3 diện tích

tự nhiên của huyện là rừng nên có nhiều lợi thế trong phát triển lâm nghiệp quy mô lớn; tài nguyên đất đai cũng rất lớn, trong đó phần lớn là đất đỏ bazan màu mỡ, phân bố tập trung là điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp nhất là phát triển cây trồng công nghiệp có giá trị kinh tế cao Tuy vậy những khó khăn, thách thức trong phát triển của huyện cũng rất lớn Do là huyện mới được thành lập lại là địa bàn sinh sống tập trung chủ yếu của số đông đồng bào dân tộc thiểu số với trình độ dân trí chưa cao, tập quán sản xuất còn lạc hậu nên đời sống người dân gặp nhiều khó khăn, đặc biệt, theo đánh giá chung trong quá trình phát triển của mình, những khó khăn, thách thức lớn nhất là việc nâng cao đời sống của nhân dân, trong giải quyết các mâu thuẫn, xung đột giữa phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên, môi trường theo mục tiêu phát triển bền vững Bên cạnh đó, Tuy Đức còn là huyện vùng cao biên giới, vấn đề an ninh quốc phòng cũng là một trong những nhiệm vụ

Trang 9

người dân (bao gồm cả việc ổn định về định cư và phát triển sản xuất, kinh tế theo hướng bền vững) Vấn đề quan trọng, bức thiết đang được đặt ra đối với huyện Tuy Đức hiện nay đó là cần có được các mô hình phát triển kinh tế hợp lý, có các bước

đi thích hợp, các giải pháp tổng thể và cụ thể phù hợp khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên cho phát triển bền vững, lâu dài của huyện Và như vậy nhiệm vụ đặt ra là cần có sự rà soát, đánh giá tổng hợp các nguồn lực tự nhiên, kinh tế xã hội và nhân văn, phân tích đánh giá diễn biến và hiệu quả sử dụng tài nguyên làm cơ sở để đề xuất định hướng phát triển nông lâm nghiệp bền vững, xác lập được các mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp, phát triển một cách hợp lý nhằm mục đích ổn định đời sống người dân, bảo vệ môi trường kết hợp với nhiệm vụ đảm bảo an ninh quốc phòng của khu vực lãnh thổ này

Xuất phát từ những lý do đó, với mong muốn góp phần đưa kinh tế của huyện phát triển nhằm từng bước nâng cao đời sống của người dân và đây cũng chính là mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được đề ra trong đề tài luận văn mà học

viên đã lựa chọn: “Nghiên cứu cơ sở địa lý phục vụ xác lập mô hình kinh tế sinh thái nông lâm nghiệp bền vững huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông”

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về mô hình hệ kinh tế sinh thái;

- Phân tích và đánh giá tổng hợp nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông

- Nghiên cứu đánh giá thực trạng và hiệu quả các mô hình hệ kinh tế sinh thái hiện có tại khu vực nghiên cứu;

Trang 10

- Xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp với tiềm năng của khu vực nghiên cứu

3 Phạm vi nghiên cứu

3.1 Phạm vi không gian

Huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông có 6 xã gồm: Quảng Tân, Quảng Tâm, Quảng Trực, Đắk Ngo, Đắk R'Tih và Đắk Buk So; với tổng diện tích tự nhiên là: 1.123,27 km²

3.2 Phạm vi khoa học

Nghiên cứu đánh giá các nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội, nhân văn và các mô hình hệ kinh tế sinh thái hiện có từ đó xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp với tiềm năng của khu vực nghiên cứu

4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Quan điểm nghiên cứu

- Quan điểm tổng hợp và hệ thống

- Quan điểm lịch sử viễn cảnh

- Quan điểm kinh tế sinh thái

- Quan điểm phát triển bền vững

4.2 Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu

- Phương pháp khảo sát thực địa

- Phương pháp điều tra xã hội học

- Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý

- Phương pháp đánh giá cảnh quan

- Phương pháp xây dựng mô hình

5 Cơ sở tài liệu thực hiện đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đã sử dụng những tài liệu như sau:

- Kết quả nghiên cứu của Đề tài TN3/T03 “Nghiên cứu đánh giá tổng hợp các nguồn lực tự nhiên, biến động sử dụng tài nguyên và xác lập các mô hình kinh

Trang 11

- Các tài liệu, công trình khoa học liên quan đến mô hình hệ kinh tế sinh thái

- Các bản đồ chuyên đề huyện Tuy Đức tỉ lệ 1:50.000

- Niên giám thống kê huyện Tuy Đức và tỉnh Đắc Nông qua các năm do UBND huyện Tuy Đức và tỉnh Đắc Nông cung cấp

- Báo cáo tóm tắt “ Quy hoạch sử dụng đất huyện Tuy Đức đến năm 2020 và

kê hoạch sử dụng đất 5 năm ( 2011 – 2015)”

- Các báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đắc Nông đến năm 2020; Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (từ năm 2006 đến năm 2010) tỉnh Đắc Nông; Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Đắc Nông năm 2010

6 Cấu trúc luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận đánh giá tổng hợp các điều kiện địa lý và xác lập mô hình hệ kinh tế sinh thái cho phát triển bền vững nông lâm nghiệp

Chương 2: Các vùng địa lý tự nhiên huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông

Chương 3: Đánh giá tổng hợp nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn làm cơ sở xác lập các mô hình kinh tế sinh thái huyện Tuy Đức, tỉnh Đắc Nông

Trang 12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỊA

LÝ VÀ XÁC LẬP MÔ HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI CHO PHÁT TRIỂN

BỀN VỮNG NÔNG LÂM NGHIỆP 1.1 Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1.1 Các công trình nghiên cứu đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội cho mục đích thực tiễn

Với sự phát triển mạnh của các ngành khoa học tự nhiên trong thế kỷ XX trong đó có ngành địa lý học và một số ngành liên quan như sinh thái học, khoa học môi trường, kinh tế học, đặc biệt là các khía cạnh khai thác và sử dụng tiềm năng tự nhiên cũng như xây dựng cơ sở khoa học cho phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều nước trên thế giới đã tạo ra bước ngoặt quan trọng trong lĩnh vực khai thác, sử dụng tài nguyên mỗi nước cho mục đích phát triển của mình

Nói đến các công trình nghiên cứu địa lý ứng dụng, trước hết phải kể đến các công trình mang tầm cỡ quốc gia, quốc tế của nhiều nhà Địa lý Xô Viết trên các lãnh thổ Liên Xô trước đây ở các nước như Cộng hoà Ucraina, Cộng hoà Pribantich, các khu vực Đông - Tây Xibêri hay ở khu vực Viễn Đông thuộc Cộng hòa Liên Bang Nga Cũng trong giai đoạn này, theo hướng nghiên cứu địa lý tổng hợp, địa

lý học ứng dụng còn có khá nhiều công trình của các nhà nghiên cứu của nhiều nước khác thuộc Châu Âu và Mỹ, cũng như của một số tổ chức quốc tế như FAO

hay UNESCO

Từ cuối thế kỷ XIX đã có những công trình nghiên cứu sử dụng hợp lý tài nguyên trên quan điểm tổng hợp của các tác giả thuộc các quốc gia khác nhau: A Ghebecxơn (Anh ); S Passarge, E Neef, A Pen (Đức); J Kônđracki (Ba Lan); R Khactơxo, D Uittơlxli (Mỹ); Đôcutsaev, A.N Kraxnôv, L.S Becgơ, G.F Môrôđôv, A.G Ixatsenko (Liên Xô cũ)…

Những công trình nghiên cứu của các nhà địa lý Nga và một số nước thuộc Liên Xô trước đây về sử dụng hợp lý TNTN, bảo vệ môi trường mà tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của V.V Đôcutsaev (cuối thế kỷ XIX), người đầu tiên thực

Trang 13

phương cụ thể Ông cho rằng, cần phải “Tôn trọng và nghiên cứu toàn bộ thiên nhiên một cách thống nhất toàn vẹn và không chia cắt, chứ không tách rời chúng ra từng phần” Ông coi bản chất của sự tìm hiểu tự nhiên là nghiên cứu các mối liên

hệ phát sinh, những tác động tương hỗ có tính quy luật giữa các sự vật và hiện tượng trong thiên nhiên

Sau V.V Đôcutsaev, dựa trên quan điểm nghiên cứu tổng hợp, các nhà khoa học Địa lý Xô Viết giai đoạn đầu và giữa thế kỷ XX như S.V Kalexnik, A.A Grigôriev, N.A Xôntxev, V.N Xukatxev, B.B Pôlưnôv, V.I Prôkaev, V.X Preobrajenxki, và A.G Ixatsenko đã tiếp tục hoàn thiện về lý luận và thực tiễn nghiên cứu tổng hợp phục vụ mục đích phát triển nền kinh tế quốc dân Những nghiên cứu trên thế giới về lĩnh vực sử dụng hợp lý tài nguyên, đặc biệt là của các nhà Địa lý Xô Viết có giá trị cao về lý luận và về khả năng ứng dụng thực tiễn, tuy nhiên khi vận dụng nghiên cứu trong điều kiện thiên nhiên nhiệt đới gió mùa với các tập quán khai thác lãnh thổ đặc thù như ở nước ta thì rất cần xác định các chỉ tiêu cho phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam

Tiếp cận tổng hợp đã được áp dụng vào Việt Nam cả về lý thuyết lẫn thực tiễn

nghiên cứu địa lý, nhiều công trình nghiên cứu với các kết quả đạt được mà cho đến

thời điểm này, vẫn còn mang tính thời sự, tính ứng dụng rất cao, rất thiết thực.Ví

dụ, tác giả Nguyễn Đức Chính, 1961 trong công trình nghiên cứu ”Địa lý tự nhiên Việt Nam” đã khẳng định: “Loại điều tra cơ bản tổng hợp phải được coi như hết sức cần thiết bởi vì nó hoàn toàn đáp ứng với yêu cầu nhận thức về tự nhiên trong thực

tế cụ thể và vô cùng phức tạp, đồng thời nó đáp ứng với yêu cầu khai thác tự nhiên theo phương thức sử dụng hợp lý, cải tạo và làm giàu thêm tự nhiên chứ không khai

thác bừa bãi, tàn phá tự nhiên” Đến cuối những năm 80, Lê Bá Thảo đã đề cập:

“Việc nghiên cứu một lãnh thổ, rõ ràng là không chỉ giới hạn ở chỗ điều tra các điều kiện và tài nguyên tự nhiên mà còn ở các điều kiện KT - XH, bao gồm cả đời sống văn hoá và môi trường” Theo Ông việc nghiên cứu tổng hợp vừa giải quyết

được mặt chiến lược nhưng đồng thời về mặt chiến thuật là có thể đưa ra ngay sơ đồ

tổ chức lãnh thổ hoặc quy hoạch lãnh thổ có tính khả thi Ở Việt Nam, hướng đánh

Trang 14

giá tổng hợp này bắt đầu được nghiên cứu từ những năm 90 và được nhiều người quan tâm Về mặt lý luận, thông qua nhiều chương trình nghiên cứu điều tra tổng hợp cấp Nhà nước, cấp bộ, ngành và địa phương chúng ta đã có những cơ sở khoa học cần thiết để xây dựng các chiến lược, kế hoạch và quy hoạch phát triển ở các quy mô và lĩnh vực khác nhau Đây là những thành công và đã được nhiều nhà khoa học công nhận, đặc biệt khi nước ta ở giai đoạn qúa độ đi lên Chủ nghĩa xã hội Rất nhiều nhà nghiên cứu,qua các công trình nghiên cứu thực tiễn tự nhiên, đều thống nhất cho rằng, sử dụng lãnh thổ là quá trình biến những tiềm năng tự nhiên, KT-XH thành những động lực để phát triển Mỗi lãnh thổ cụ thể đều có những tiềm năng và thế mạnh riêng để phát triển KT-XH, đó là những lợi thế so sánh, là những nguồn lực phát triển

1.1.2 Các công trình nghiên cứu xác lập mô hình hệ kinh tế sinh thái

* Trên thế giới

Trên thế giới có nhiều loại mô hình phát triển được xem như hình mẫu về phát triển sản xuất, kinh tế, sử dụng tổng hợp lãnh thổ, sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Ở cấp quốc gia và vùng lãnh thổ lớn, các nhà địa

lý Xô viết trước đây đã có những công trình rất nổi tiếng nghiên cứu đề xuất các mô hình phát triển kinh tế có giá trị sử dụng rất cao, rất hiệu quả cho nhiều nước trong khối Xã hội Chủ nghĩa Điển hình trong đó là Geraximov I.P (1979), trong công trình

“Thiết kế Địa lý học” đã phân chia lãnh thổ Liên bang Nga thành 17 vùng địa lý và ở mỗi vùng đã xác định các định hướng riêng, các mô hình cụ thể cho phát triển Ví dụ

ở Vùng địa lý Viễn Đông (toàn bộ vùng ven biển Thái Bình Dương thuộc Liên Xô trước đây, nơi có nhiều điểm khá tương đồng với điều kiện của Việt Nam) với đặc thù của khu vực địa lý ven biển thường có khá nhiều thiên tai, các quá trình tai biến

tự nhiên, tác giả đã đề xuất những mô hình phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên của

vùng như “Mô hình phát triển nông - lâm nghiệp bền vững”, “Mô hình phát triển hệ thống dịch vụ - thương mại, bảo tồn các Vườn quốc gia, các Khu bảo tồn thiên nhiên”, Về cơ bản, các kết quả nghiên cứu, các mô hình phát triển được đề xuất

Trang 15

hoàn toàn đúng, rất phù hợp và cho đến nay vẫn giữ nguyên giá trị thực tiễn Hay một

ví dụ khác, tác giả Sishenko P.G (1991), trong công trình nghiên cứu: “Quy hoạch

thiết kế cảnh quan lãnh thổ Ucraina” đã đề xuất “Mô hình sử dụng hợp lý tài nguyên đất Đen nước Cộng hoà Ucraina”, “Mô hình phát triển bền vững ngành nông nghiệp” khu vực lãnh thổ Thảo nguyên Nam Ucraina, có kết hợp với nhiệm

vụ bảo tồn các nguồn tài nguyên nước ngầm, tài nguyên rừng và đa dạng sinh học vốn không phong phú nhưng lại có các đặc điểm mang tính rất đặc trưng ở vùng nghiên cứu này Đây có thể được coi là một mô hình khá chuẩn mực, đúng đắn về định hướng “sử dụng đất bền vững” và “phát triển nông nghiệp - sinh thái bền vững” được đề xuất dựa trên kết quả phân tích, đánh giá đúng tiềm năng tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của vùng và hiện vẫn đang được áp dụng với hiệu quả rất cao

ở nước này

Một trong những nội dung quan trọng của phát triển bền vững là dựa trên các

hệ kinh tế sinh thái hay nói cách khác cần có mô hình kinh tế sinh thái bền vững Hiện nay, đối với các nước phát triển như Mỹ, Anh, Đức, Nhật Bản do nhận thức được đúng đặc điểm tự nhiên và lợi thế sinh thái, cảnh quan và vị trí một khu vực phát triển nên các hoạt động kinh tế đã đạt hiệu quả cao Các khu vực cao nguyên ở châu Âu, Mỹ, v.v là những điểm sáng về phát triển kinh tế - sinh thái, du lịch và dịch vụ, hàng năm thu hút hàng triệu khách đến du lịch, các nhà đầu tư đến phát triển kinh tế

Đã có nhiều học giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu phát triển kinh tế sinh thái như George A Maul (Mỹ), Lino Briguglion (Malta), Roboin Grove - While (Anh), Juji C.S Wang (Đài Loan), Guy Engelen (Hà Lan) Những vấn đề được các học giả đặc biệt quan tâm là phát triển kinh tế sinh thái cho mục tiêu phát triển bền

vững Những thành tựu đạt được trong nghiên cứu cho thấy rõ: Phát triển bền vững

là phát triển theo hướng kinh tế - sinh thái, du lịch và dịch vụ, do đó cách tiếp cận

nghiên cứu phải là hệ sinh thái theo các nội dung cơ bản sau: a) cơ sở về tiềm năng

tự nhiên; b) cơ sở về tiềm năng kinh tế, xã hội và nhân văn; c) cơ sở về tài nguyên;

Trang 16

d) cơ sở đảm bảo về môi trường; e) dự đoán các tai biến thiên nhiên và kế hoạch phòng tránh

Những vấn đề về kinh tế nông, lâm nghiệp ở nhiều nước trên thế giới đã được nghiên cứu từ lâu dưới nhiều hình thức, góc độ, quy mô khác nhau từ kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình cho đến kinh tế trang trại, song nhìn chung các nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào góc độ kinh tế Trong những năm gần đây, khi kinh tế nông lâm nghiệp phát triển làm nảy sinh các vấn đề về môi trường và xã hội ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm, năng suất lao động và chất lượng cuộc sống đã đặt ra cho ngành nông nghiệp phải sản xuất theo hướng phát triển bền vững Mô hình hệ KTST là mô hình sản xuất mà các yếu tố về KT - XH và môi trường trong phát triển bền vững phải được đảm bảo

Ở châu Âu, mô hình hệ KTST chủ yếu được tổ chức sản xuất theo hình thức trang trại, có tính chuyên môn hóa cao và theo quy trình khép kín nên hiệu quả kinh

tế cao và bền vững với môi trường

Ở châu Á, hộ gia đình là hình thức sản xuất nông nghiệp chủ đạo Một số nước xuất hiện các mô hình hệ KTST nông hộ theo hướng nông, lâm kết hợp nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng các nguồn TNTN như:

- Ở Trung Quốc: các mô hình hệ KTST phát triển theo hình thức nông lâm kết hợp đã có từ lâu đời với một số mô hình như: hệ thống nông lâm kết hợp trong đó cây rừng là đối tượng chính, được áp dụng phổ biến ở các tỉnh dọc theo thung lũng sông Dương Tử; Hệ thống nông, lâm kết hợp dựa vào cây ăn quả là chủ yếu, phân

bố tại miền Nam Trung Quốc; Miền Bắc Trung Quốc chủ yếu là mô hình hệ KTST với các loại cây hoa màu là chính, còn cây gỗ chỉ chiếm phần phụ Ngoài ra, Trung Quốc còn phân loại theo các vùng sinh thái để đảm bảo lợi ích theo kiểu kinh tế trang trại

- Ở Indonexia, phần lớn mô hình hệ KTST là nông, lâm kết hợp theo kiểu vườn hộ, đó là sự kết hợp giữa cây ngắn ngày, cây lâu năm và vật nuôi trong vườn quanh nhà Mô hình phổ biến nhất gồm các hợp phần: cây ăn quả - cây công nghiệp

Trang 17

tạo ra thu nhập quanh năm

- Ở Philippin, phần lớn các gia đình áp dụng mô hình: vườn - chăn nuôi, trong

đó vườn chủ yếu để trồng các loại cây làm thức ăn cho gia súc Ngoài ra, các mô hình nông, lâm kết hợp nhiều tầng cũng rất phổ biến ở đây nhằm tận dụng tối đa tài nguyên đất, ánh sáng và hạn chế xói mòn

Có thể nói, các mô hình hệ KTST mà các nước trên thế giới đang nghiên cứu

và thực hiện rất đa dạng, được thiết lập trên cơ sở điều kiện sinh thái, trình độ sản xuất và tập quán canh tác của từng khu vực Bước đầu các mô hình này cho hiệu quả rất tốt về mặt KT - XH và môi trường

Như vậy tổng quan chung có thể thấy rằng, với đặc thù của mỗi nước, các công trình nghiên cứu sẽ có những kết quả không giống nhau, nhưng các ví dụ về hình mẫu, đặc biệt các bước đi trên quan điểm tiếp cận địa lý tổng hợp nhằm giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung hay phát triển các ngành, các lĩnh vực sản xuất nói riêng mà họ đạt được có thể vận dụng vào thực tiễn ở nước ta trên cơ sở xem xét đánh giá trong từng điều kiện cụ thể

* Ở Việt Nam

Người đầu tiên đề cập đến cơ sở lý luận về mô hình hệ KTST là Phạm Quang Anh (1983) với công trình nghiên cứu về “ Hệ sinh thái cây cà phê Đắc Lắc”, tại công trình nghiên cứu này tác giả đã đưa ra khái niệm về hệ kinh tế sinh thái và đặc trưng của hệ KTST

Tiếp đến, trong công trình nghiên cứu “ Xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển bền vững” của Đặng Trung Thuận và Trương Quang Hải (1999), các tác giả đã hệ thống hóa được các vấn đề lý luận về mô hình hệ KTST như khái niệm, đặc điểm cấu trúc, chức năng cần có của một hệ KTST, nguyên tắc thành lập các mô hình hệ KTST và xây dựng các mô hình hệ KTST, áp dụng vào các vùng sinh thái điển hình như vùng đất ngập nước, vùng gò đồi, miền núi, vùng đồi cát ven biển

Ngoài ra, Nguyễn Văn Trương và một số tác giả khác cũng đề cập đến cơ sở

lý luận về mô hình hệ KTST trong những tác phẩm: Tiếp cận vấn đề kinh tế sinh

Trang 18

thái ở Việt Nam, Vấn đề kinh tế sinh thái ở Việt Nam; hay mô hình kinh tế nông hộ của Đào Thế Tuấn, Lê Đình Thắng, Tô Tiến Dũng …

Đối với một nước nông nghiệp với ¾ diện tích là đồi núi thì việc nghiên cứu các mô hình canh tác nông nghiệp bền vững trong đó có các mô hình nông lâm kết hợp là hết sức cần thiết và được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Mô hình kết hợp này giúp cho các địa phương phát triển nông lâm nghiệp bền vững và rất phù hợp với vùng đồi núi nước ta, nó sẽ mang lại lợi ích to lớn cả về kinh tế, xã hội cũng như môi trường Tùy theo các đặc trưng sinh thái của mỗi vùng mà xây dựng các kiểu mô hình nông lâm kết hợp phù hợp

Tính hiệu quả và bền vững của các mô hình hệ KTST đang được khẳng định qua thực tế ứng dụng Ngày càng có nhiều các mô hình hệ KTST được xây dựng trên các vùng sinh thái điển hình và có ý nghĩa quan trọng trong việc sử dụng hợp lý tài nguyên, phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương Nhiều công trình đã vận dụng những cơ sở lý luận này trên những đơn vị lãnh thổ cụ thể như:

1 Viện Địa lý, 1995 - 1996, Mô hình tự nhiên kinh tế - xã hội vùng gò đồi Sáu Lán thuộc khu kinh tế mới Sen Bàng huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình (Nguyễn

Văn Vinh, Nguyễn Văn Nhưng);

2 Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, 1998 - 2000, Mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ thích hợp phát triển kinh tế - xã hội vùng gò đồi xã Gio Linh, Quảng Trị; Phòng Nông nghiệp huyện Triệu Phong

3 Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, 1995 - 2000, Mô hình vườn đồi tại vùng kinh tế mới tây Đồng Hới;

4 Đặng Văn Bào và nnk, 2008, Phát triển mô hình kinh tế sinh thái đảo Cù Lao Chàm

5 Đào Đình Bắc và nnk, 2005, Cơ sở khoa học về mô hình hệ kinh tế sinh thái đối với các cư dân miền núi tái định cư sau công trình thuỷ điện nhỏ Chu Linh, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai

Trang 19

6 Trương Quang Hải và nnk, 2004, Nghiên cứu và xây dựng mô hình hệ kinh

tế sinh thái phục vụ phát triển bền vững cụm xã vùng cao Sa Pả - Tà Phìn, huyện Sa

Pa, tỉnh Lào Cai

7 Lê Đức Tố và nnk, 2005, Luận chứng khoa học về mô hình phát triển kinh

tế - sinh thái trên một số đảo, cụm đảo lựa chọn thuộc vùng biển ven bờ Việt Nam

(Chương trình KC.09, mã số KC.09.12 2002-2003)

8 Ngoài ra còn rất nhiều công trình khác như: mô hình HKTST nông thôn bền vững của Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải (1999); xây dựng mô hình nông - lâm kết hợp tại xã Kỳ Hợp của Lê Trần Trấn, Phạm Văn Ngạc…

Trong những năm gần đây, mối quan hệ giữa cộng đồng và các hệ sinh thái được ứng dụng trong nghiên cứu làng sinh thái - hệ sinh thái điển hình Tiêu biểu có: “Mô hình làng sinh thái Triệu Vân, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị” đề tài

KC 03-06 do Nguyễn Văn Trương làm chủ nhiệm (1993 - 1998) Công trình đã quy hoạch chi tiết từng ô, từng thửa theo hình bàn cờ với diện tích từ 1,5 - 2 ha Mỗi ô

có đai rừng phòng hộ bên ngoài cùng các mương thoát nước, bên trong phát triển nông nghiệp, thả cá, chuồng nuôi Ngoài ra, cuốn sách “Các hệ sinh thái kém bền vững và việc lựa chọn khu vực nghiên cứu để xây dựng làng sinh thái” của Nguyễn Văn Trương chủ biên (Viện Kinh tế sinh thái, 2006) cũng đã xác lập cơ sở lí luận và một số mô hình làng sinh thái tại 3 vùng sinh thái kém bền vững tại Việt Nam (đồng bằng úng ngập nước, cát ven biển và đồi núi trơ trọc), nhằm cải tạo hệ sinh thái, thúc đẩy sản xuất, cải thiện đời sống dân cư Đặc trưng của làng sinh thái được thể hiện theo công thức: Đặc trưng sinh thái + kiến thức bản địa + kiến thức khoa học =

mô hình làng KTST

Ở quy mô hộ gia đình, mô hình hệ KTST chính là mô hình kinh tế nông hộ như VAC, VACR, mô hình nông lâm kết hợp Đi đầu trong nghiên cứu về kinh tế nông hộ ở Việt Nam có Đào Thế Tuấn (1997) với tác phẩm “kinh tế hộ nông dân”,

đã làm rõ đặc điểm và vai trò của kinh tế nông hộ trong hiện tại và tương lai Sau đó rất nhiều các nghiên cứu về kinh tế hộ nông dân được thực hiện như: “Phát triển hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa” (Lê Đình Thắng, 1993); “Phát triển bền

Trang 20

vững kinh tế hộ nông dân gắn liền kế hoạch với hạch toán kinh doanh” (Lê Trọng, 2003); “Xác lập mô hình kinh tế sinh thái nông hộ hợp lý phục vụ phát triển bền vững ở huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình” (Trần Hải Châu, 2006) Đặc biệt, cuốn sách “Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồi gò Bắc Trung Bộ” (Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học - công nghệ, 1999), đã bước đầu coi hộ gia đình

là 1 trong 4 chủ thể sản xuất chính: hộ gia đình, trang trại, doanh nghiệp nông - lâm nghiệp, liên doanh với nước ngoài, đồng thời xác lập một số mô hình hệ kinh tế hộ gia đình dựa theo điều kiện sinh thái của từng khu vực (tiểu vùng sinh thái), nhằm khai thác tối đa tiềm năng tự nhiên, chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng chuyên môn hóa, chuyển giao khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp và nâng cao môi trường sinh thái

Bảng 1.1: Mô hình kinh tế hộ gia đình theo điều kiện sinh thái{ TC "Bảng 1.1:

Mô hình kinh tế hộ gia đình theo điều kiện sinh thái" \f C \l "1" }

Mô hình sinh

thái xây dựng Địa bàn Cây trồng tương ứng

Diện tích tối đa (ha)

1 Rừng + nương

cố định

Vùng cao trên 500m so với mặt biển

- Cây lấy gỗ, cây lâm đặc sản xen với dược liệu

- Ngô lai, đậu tương >3

- Cây lấy gỗ, cây lâm đặc sản, cây công nghiệp dài ngày, bông, đậu tương, lạc, ngô lai,… 2-3

3 Rừng + nương

cố định + vườn +

ruộng

- Sườn đồi và chân đồi

- Cây lấy gỗ, cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, ngô lai, rau, đậu,

- Trồng dâu nuôi tằm, cấy lúa nước

Trang 21

Nguồn: Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, 1999

Tiếp cận nghiên cứu ĐLTN tổng hợp trong nghiên cứu mô hình KTST hộ gia đình có công trình “Xác lập mô hình kinh tế nông hộ phù hợp với các tiểu vùng sinh thái cảnh quan lãnh thổ đồi núi tỉnh Quảng Bình” (Hà Văn Hành, Trần Thúy Hằng, 2009) đã đi sâu vào sự phân hóa lãnh thổ và đặc điểm sinh thái của từng tiểu vùng,

từ đó đề xuất một số mô hình kinh tế nông hộ đặc trưng cho từng tiểu vùng Trong nghiên cứu này, 5 mô hình kinh tế được đề xuất bao gồm: 3 mô hình tại vùng núi phía Tây Bắc và Tây Nam và 2 mô hình kinh tế ở đồi cao và đồi thấp Ngoài ra, công trình nghiên cứu “Phát triển kinh tế nông hộ - nông lâm kết hợp theo mô hình R-VAC” của Lê Trọng Cúc (2011) áp dụng cho những nơi bị rải chất độc hóa học

và một số vùng đất suy thoái tại Quảng Trị, đã phân tích ĐKTN từ đó xác lập 3 khả năng trồng phối hợp trong nông - lâm kết hợp: cây gỗ lâm nghiệp trồng phối hợp với cây nông nghiệp, cây gỗ với cây chăn nuôi gia súc, cây gỗ với cây nông nghiệp

cả với cây chăn nuôi gia súc Đặc điểm chung của các công trình này là tập trung nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các mô hình KTST trên đất đốc cho các lãnh thổ miền núi còn nhiều khó khăn

Nhìn chung đã có nhiều người nghiên cứu và nhiều quan điểm về mô hình hệ KTST song vấn đề này còn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện do chưa có sự thống nhất về quan điểm nghiên cứu Vì thế cho đến nay mô hình hệ KTST vẫn đang là hướng cần được quan tâm nghiên cứu để hoàn chỉnh cả về lý luận và thực tiễn

1.2 Cơ sở lý luận nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho xác lập mô hình kinh tế sinh thái

1.2.1 Khái niệm chung về cảnh quan

1.2.1.1.Quan niệm Cảnh quan

Hiện nay, vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về CQ, song có thể chia thành hai nhóm quan niệm chính Theo các nhà CQH trường phái Liên Xô (cũ) và

Đông Âu, CQ vẫn được coi là một thể tổng hợp tự nhiên, trong đó chú trọng về mối

quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên thành tạo nên các cảnh quan đó Trong khi các nhà

Trang 22

sinh thái CQ trường phái Tây Âu và Bắc Mĩ lại quan tâm nhiều hơn đến yếu tố con người trong thể tổng hợp đó Cảnh quan được Công ước Cảnh quan Châu Âu (ELC)

định nghĩa là một khu vực được nhận biết bởi con người, có các đặc trưng là kết quả của hoạt động và tương tác giữa các nhân tố tự nhiên và con người

Trên cơ sở kế thừa các quan điểm nghiên cứu CQ của các nhà khoa học trong

và ngoài nước, học viên đã quan niệm: CQ là một địa tổng thể, trong đó diễn ra mối quan hệ tác động qua lại giữa các hợp phần tự nhiên và nhân sinh tạo thành một thể thống nhất, hoàn chỉnh và mang đặc điểm riêng Cảnh quan là đơn vị vừa mang tính kiểu loại vừa mang tính cá thể

1.2.1.2 Lý luận về nghiên cứu CQ

Đặc điểm CQ của một lãnh thổ được thể hiện qua cấu trúc CQ, chức năng

CQ và động lực phát triển, biến đổi của CQ

a Cấu trúc cảnh quan

Cấu trúc của cảnh quan bao gồm có 2 loại là cấu trúc đứng và cấu trúc ngang

- Cấu trúc đứng: Cấu trúc đứng thể hiện sự phân bố theo phương thẳng đứng

các thành phần thành tạo cảnh quan gồm nền địa chất của thạch quyển, địa hình, lớp phủ thổ nhưỡng, sinh vật, thủy văn, khí hậu Giữa các thành phần thành tạo CQ có mối quan hệ chặt chẽ và chi phối lẫn nhau

- Cấu trúc ngang: Cấu trúc ngang của CQ gồm các đơn vị CQ cùng cấp hay

khác cấp phân vị tạo nên một lãnh thổ nhất định và có mối quan hệ phức tạp giữa các địa tổng thể với nhau Cấu trúc ngang thể hiện tính không đồng nhất của địa tổng thể Địa tổng thể càng lớn, thuộc cấp phân vị càng cao thì cấu trúc ngang càng phức tạp Do

đó, cấu trúc ngang phản ánh tính đa dạng CQ của lãnh thổ

b Chức năng cảnh quan

Theo Niemann (1977) phân chia chức năng thành 3 cấp (bậc 1, 2,3), trong đó bậc 1 gồm nhóm chức năng sản xuất, nhóm chức năng sinh thái, nhóm chức năng xã hội Một hệ thống phân chia khác do de Groot (1992), sau đó Costanza (1997) và de Groot (2002) chia thành 30 chức năng cụ thể được nhóm thành 5 nhóm chức năng

Trang 23

(chức năng điều tiết, chức năng nơi sống, chức năng sản xuất, chức năng thông tin, chức năng tải)

Tuy nhiên, theo nhiều tác giả, chức năng CQ có thể được chia thành hai

nhóm chính: chức năng tự nhiên và chức năng kinh tế - xã hội Chức năng tự nhiên

là khả năng của CQ trong việc tổ chức các hoạt động để duy trì sự tồn tại và phát triển của CQ, trong đó có chức năng sản xuất, sinh sản, tổ chức tiếp nhận, trao đổi các dòng vật chất, năng lượng, thông tin trong hệ thống, tự điều chỉnh, tự làm sạch

để đảm bảo cân bằng hệ thống Chức năng kinh tế - xã hội là khả năng đáp ứng của

CQ đối với các yêu cầu của con người cho các mục đích phát triển KT - XH (định

cư, khai thác các thuộc tính của CQ cho các mục đích kinh tế) Chức năng này chỉ xuất hiện khi có sự xuất hiện của yếu tố con người

Việc xác định đúng chức năng của mỗi đơn vị CQ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc sử dụng hợp lý CQ theo hướng bền vững đồng thời cho phép chúng ta khai thác, phát huy CQ theo hướng có lợi cho mục đích phát triển KT- XH nhưng vẫn tuân thủ ngưỡng giới hạn - khả năng tự điều chỉnh của CQ

c Động lực phát triển và biến đổi của cảnh quan

Theo L.S.Berg, sự phát triển của CQ gồm hai kiểu: thuận nghịch và không thuận nghịch Thay đổi thuận nghịch là sự biến đổi có tính lặp lại theo chu kì như

nhịp điệu ngày đêm, nhịp điệu mùa, nhịp điệu thế kỉ, nhịp điệu siêu thế kỉ Còn sự thay đổi không thuận nghịch là làm cho CQ biến đổi theo một hướng khác với ban đầu như sự biến đổi của khí hậu, các nhân tố địa chất, hoạt động sinh vật, con người,

Bên cạnh những biến đổi thuận nghịch, CQ còn có sự biến đổi liên tục trong quá trình phát triển mà kết quả là tạo ra những diện mạo khác với ban đầu Hiện nay, xu hướng thay đổi CQ ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là dưới áp lực của gia tăng dân số và các hoạt động kinh tế của con người

Có thể thấy, nghiên cứu cấu trúc, chức năng và động lực phát triển, biến đổi của CQ không chỉ giúp hiểu rõ tiến trình phát triển của lãnh thổ mà còn tạo cơ sở khoa học cho các mục đích ứng dụng thực tiễn trong phát triển KT - XH

Trang 24

1.2.2 Lý luận về đánh giá cảnh quan

Đánh giá CQ là một nhiệm vụ quan trọng của địa lý ứng dụng, giúp quy hoạch

lãnh thổ cho việc phát triển KT- XH “Thực chất của ĐGCQ là đánh giá tổng hợp các tổng thể tự nhiên cho mục đích cụ thể nào đó (nông nghiệp, thuỷ sản, du lịch, tái định cư…” (Nguyễn Cao Huần, 2005) Đánh giá CQ là bước trung gian giữa nghiên

cứu cơ bản và quy hoạch sử dụng hợp lý TN và BVMT

Tùy theo từng mục tiêu đánh giá cụ thể để xác định nội dung đánh giá phù hợp Đối với phát triển NLN người ta thường đề cập đến đánh giá thích nghi sinh thái (TNST) Đây là dạng đánh giá nhằm tìm ra mức độ thích hợp của các CQ cho các loại hình sử dụng (ngành nông, lâm nghiệp hoặc đối tượng cây trồng, vật nuôi

cụ thể) Tính thích nghi được đánh giá theo điểm dựa vào nhu cầu sinh thái của các loại hình sử dụng và đặc điểm tự nhiên của các đơn vị CQ, qua đó phân hạng theo các mức độ thích nghi khác nhau của các CQ cho các mục đích

Trong đánh giá CQ, việc xác định đối tượng, mục đích, nội dung và phương pháp đánh giá CQ có ý nghĩa rất quan trọng (Phạm Hoàng Hải và cs,1997)

Đối tượng đánh giá là tính đặc thù, phân hóa về cấu trúc, chức năng và động

lực phát triển của các đơn vị CQ trong việc đáp ứng yêu cầu của từng ngành sản xuất, từng mục tiêu sử dụng CQ cụ thể trên lãnh thổ để xác định cấp cơ sở đánh giá một cách phù hợp

Nội dung và phương pháp đánh giá: Tùy thuộc mục đích để xác định nội

dung và phương pháp đánh giá thích hợp Ví dụ, đánh giá CQ phục vụ mục đích phát triển ngành nông nghiệp thì nội dung đánh giá là xác định mức độ thuận lợi và

ưu tiên về điều kiện sinh thái và tiềm năng TN của từng đơn vị CQ cho các loại hình sử dụng chính ở địa bàn nghiên cứu

Trong đánh giá CQ, hệ phương pháp sử dụng thông thường bao gồm cả các phương pháp địa lý truyền thống (thực địa, bản đồ, ) và nhiều phương pháp thuộc

Trang 25

hội học, PP phân tích nhân tố trong toán học; PP phân tích chi phí - lợi ích trong kinh tế, nhằm để thu thập, xử lý thông tin và thể hiện kết quả đánh giá, lựa chọn Các phương pháp này có thể được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với nhau tùy từng giai đoạn và mục tiêu cụ thể

Ngoài ra, việc lựa chọn thang bậc và hệ thống chỉ tiêu đánh giá cũng ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra một kết quả đánh giá có tính khoa học, chính xác, khách quan đối với mục đích sử dụng cụ thể Do đó, các chỉ tiêu đánh giá cần tuân thủ các nguyên tắc: Chỉ tiêu lựa chọn để đánh giá phải có sự phân hóa rõ rệt trong lãnh thổ ở tỉ lệ nghiên cứu; phải là các yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình phát triển của các loại hình sản xuất, các ngành; Các chỉ tiêu được lựa chọn và phân cấp đánh giá có thể nhiều hay ít, khác nhau giữa các ngành

Việc xác định bậc trọng số của các chỉ tiêu thường được sử dụng qua phương pháp: phân tích yếu tố trội, phương pháp ma trận tam giác, phương pháp phân tích thứ bậc (AHP - Analytic Hierarchy Process),…

Quy trình và thủ pháp tiến hành đánh giá CQ: Theo Phạm Hoàng Hải

[Error! Reference source not found.], quy trình ĐGCQ được tóm tắt như sau:

Trang 26

Hình 1.1 Sơ đồ khái quát quy trình đánh giá cảnh quan (Phạm Hoàng Hải, 1997)

Từ những nội dung nghiên cứu mang tính lý luận trên đây có thể thấy, ĐGCQ là công việc khá phức tạp nhưng có tính logic, khoa học bởi sự phụ thuộc chặt chẽ từ mục đích, đối tượng, nội dung, phương pháp đánh giá cho đến các bước tiến hành Do đó, kết quả đánh giá là cơ sở khoa học đầy đủ và đáng tin cậy cho các định hướng sử dụng hợp lí và bền vững lãnh thổ

1.2.3 Lý luận phân vùng cảnh quan

Phân vùng là một nhiệm vụ quan trọng của ĐLTN cho mỗi vùng lãnh thổ nhất định Phân vùng CQ phản ánh một cách có hệ thống, có quy luật đặc điểm các ĐKTN, TNTN của mỗi vùng được phân chia Mỗi vùng CQ đều có đặc tính toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất nội tại của các thành phần cấu tạo và các quá trình địa lí

Do đó, khi phân vùng CQ thì đặc điểm cần quan tâm đầu tiên chính là sự toàn vẹn lãnh thổ và mức độ tương đồng về chất sẽ trở thành thứ yếu Việc phân vùng cho phép vạch ra các khu vực lãnh thổ có tính chất đồng nhất tương đối về ĐKTN, TNTN, đặc điểm nhân văn và mức độ khai thác, sử dụng lãnh thổ Đây chính là cơ

sở khoa học để đưa ra các định hướng sử dụng mang tính chất tổng hợp và lâu dài cho các lãnh thổ, hướng tới việc tổ chức lãnh thổ cho mục đích PTBV

Đặc trưng của các đơn vị

Đánh giá tổng hợp

Xác định mức độ thích hợp của các thể tổng hợp TN đối với

các mục tiêu thực tiễn cụ thể

Trang 27

Trên cơ sở phân vùng CQ, luận văn sẽ tiến hành định hướng sử dụng lãnh thổ theo các tiểu vùng CQ để thể hiện rõ và toàn diện hơn các kết quả đánh giá các CQ cho từng mục đích riêng lẻ trong mối quan hệ chặt chẽ về lãnh thổ, nhằm sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường cho các tiểu vùng và giữa các tiểu vùng với nhau Vì vậy, có thể nói phân vùng CQ có vai trò to lớn trong việc sử dụng hiệu quả các lãnh thổ, nó là cơ sở khoa học vững chắc để giải quyết các nhiệm

vụ thực tiễn khác nhau

1.2.3.1 Nguyên tắc phân vùng cảnh quan

Phân vùng cảnh (CQ) huyện Tuy Đức được thực hiện theo các nguyên tắc sau:

* Nguyên tắc khách quan: Nguyên tắc khách quan đó chính là sự nhận thức

về sự tồn tại khách quan của các đơn vị địa tổng thể không phụ thuộc vào nhận thức của con người Cho nên khi tiến hành phân vùng CQ thì việc phát hiện và vạch ra

hệ thống các đơn vị phân vùng phải là sự phản ánh các quy luật phân hóa khách quan của tự nhiên và hệ thống này không phụ thuộc vào mục đích và nhiệm vụ của việc phân vùng ứng dụng Dựa vào nguyên tắc này sẽ đảm bảo tính chính xác, tính khoa học trong lựa chọn chỉ tiêu các cấp phân vị, trong việc phát hiện và khoanh

ranh giới các vùng, tránh được tính chủ quan, sự tùy tiện trong phân vùng CQ

* Nguyên tắc phát sinh: Theo nguyên tắc phát sinh, việc phân tích các đơn vị

CQ sẽ làm sáng tỏ những vấn đề quan trọng về mặt tương đồng trong phát sinh và phát triển lãnh thổ Cho nên khi tiến hành phân vùng CQ một lãnh thổ cần phải phân chia những đơn vị lãnh thổ này theo những đặc điểm bề ngoài giống nhau của

các CQ, đồng thời cũng phải có chung một nguồn gốc phát sinh và phát triển

* Nguyên tắc đồng nhất tương đối: Tính đồng nhất tương đối của tổng thể các

thành phần tự nhiên là đặc điểm đặc thù của các đơn vị phân vùng CQ, cho phép phân biệt các đơn vị phân vùng tổng hợp với các đơn vị phân vùng bộ phận Nguyên tắc này cho thấy các vùng CQ vừa thống nhất, lại vừa có sự phân hóa phức tạp: thống nhất trên cơ sở một số chỉ tiêu nhất định đặc trưng cho các mối quan hệ hữu cơ giữa các thành phần cấu tạo nên địa tổng thể, nhưng đồng thời vẫn có sự

Trang 28

phân hóa nội bộ khiến cho mỗi đơn vị địa tổng thể lại có sự phân chia ra những địa tổng thể cấp thấp hơn (theo cách tiến hành từ trên xuống), cũng như có thể ghép

một số đơn vị nhỏ thành đơn vị lớn (theo cách tiến hành từ dưới lên)

* Nguyên tắc cùng chung lãnh thổ: Nguyên tắc này đảm bảo cho vùng/ tiểu

vùng được phân chia có khoanh vi khép kín, tất cả các tiểu vùng phải được nằm trong ranh giới của vùng Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất của phân vùng CQ

là sự phân chia những cá thể không lặp lại trong không gian, thời gian và không thể bao gồm những bộ phận phân cách nhau về mặt lãnh thổ Vì vậy, nguyên tắc cùng chung một lãnh thổ là dấu hiệu quan trọng nói lên sự khác nhau cơ bản giữa các đơn

vị phân vùng và các đơn vị phân kiểu của bất kì một lãnh thổ nào

1.2.3.2 Phương pháp phân vùng cảnh quan

* Phương pháp phân tích nhân tố trội: Trong địa lí học, các nhà nghiên cứu

thường áp dụng rất nhiều phương pháp phân vùng song phương pháp phân tích yếu

tố trội là một trong các phương pháp quan trọng nhất Bởi nó cho phép dễ dàng phát hiện các tiểu vùng Nhân tố trội được sử dụng chính trong phân vùng CQ huyện Tuy Đức là nhân tố địa hình Nhân tố này vừa phản ánh được đặc điểm hình thành

và phân bố của các yếu tố kiến tạo, vừa tạo ra sự phân hóa không gian sâu sắc về

điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng và sinh vật trong lãnh thổ nghiên cứu

* Phương pháp phân tích các bản đồ thành phần: Phương pháp này giúp chúng

ta tìm ra và phân tích hàng loạt các mối quan hệ gắn kết, tác động qua lại giữa các thành phần cấu tạo nên vùng CQ, thấy được sự đồng nhất tương đối về nguồn gốc phát sinh, phát triển giữa chúng để thống nhất chúng vào thành một vùng CQ hoàn chỉnh Do đó, phương pháp phân tích các bản đồ thành phần làm cho phân vùng ĐLTN dù có theo một yếu tố trội nào cũng không thể biến thành phân vùng riêng cho yếu tố đó Áp dụng phương pháp này trong đề tài là khi phân chia các tiểu vùng

CQ của huyện Tuy Đức, đề tài không chỉ dựa vào yếu tố trội là yếu tố địa hình mà còn căn cứ vào sự tương đồng về nguồn gốc và đặc điểm của các yếu tố tự nhiên khác như địa chất - địa mạo, khí hậu, thổ nhưỡng, sinh vật trên cùng một đơn vị

Trang 29

1.2.4 Quan điểm và đặc điểm nghiên cứu tổng hợp các điều kiện địa lý cho phát triển nông, lâm nghiệp và xác lập mô hình hệ kinh tế sinh thái

Công tác đánh giá tổng hợp được dựa trên cơ sở các điều kiện tự nhiên, TNTN lãnh thổ, các đặc điểm chung về cấu trúc chức năng và động lực phát triển của cảnh quan sinh thái, các đặc điểm và quy luật chung của các quá trình, hiện tượng tự nhiên phù hợp của lãnh thổ đối với từng ngành sản xuất, từng lĩnh vực kinh tế hay từng giống cây trồng dự định bố trí trên lãnh thổ Tuy nhiên, trong tự nhiên nói chung, hay ở một lãnh thổ nói riêng, các thành phần tự nhiên luôn có mối liên quan và tác động tương hỗ lẫn nhau Bên cạnh đó, mối quan hệ mật thiết giữa con người và thiên nhiên trong các hoạt động sản xuất, kinh tế là mối quan hệ không thể tách rời và được biểu hiện thông qua các biện pháp kỹ thuật, công nghệ nhất định Chính vì vậy, khi tiến hành đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, TNTN cho các mục đích thực tiễn cần có những hiểu biết một cách sâu sắc các đơn

vị tổng hợp tự nhiên qua các cấp phân vị của bản đồ hay của từng vùng lãnh thổ thông qua các biện pháp kinh tế - kỹ thuật và xã hội Đây cũng chính là cơ sở khoa học của công tác đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, TNTN chung

Việc xác định đối tượng, mục đích đánh giá là hết sức quan trọng và phức tạp

do các điều kiện tự nhiên, các dạng TNTN rất phong phú, đa dạng Mức độ sử dụng chúng cho các mục đích cũng rất khác nhau nên các kết quả đánh giá tổng hợp cũng biểu thị mức độ ”thích hợp” khác nhau cho các mục tiêu sử dụng chúng

Bên cạnh những nguyên tắc chung của đánh tổng hợp cho các lãnh thổ cụ thể, việc lựa chọn, áp dụng hệ thống các phương pháp đánh giá cũng rất đa dạng Tùy thuộc vào các mục đích cụ thể mà lựa chọn các phương pháp riêng như: phương pháp thang điểm tổng hợp có trọng số, phương pháp mô hình toán học, phân tích tổng hợp và so sánh định tính Tuy nhiên, tùy theo mục đích và đối tượng đánh giá

mà tác giả có thể sử dụng một phương pháp riêng lẻ hay nhiều phương pháp kết hợp với nhau

Ví dụ, để đánh giá một lãnh thổ bất kỳ cho phát triển một ngành sản xuất có thể chỉ sử dụng một phương pháp thang điểm tổng hợp có trọng số để phân định

Trang 30

một cách khách quan mức độ thuận lợi của lãnh thổ cho ngành sản xuất đó Tuy nhiên trên một lãnh thổ bất kỳ rất hiếm khi chỉ bố trí một ngành sản xuất, vì vậy khi tiến hành đánh giá cho các mục đích khác sẽ dẫn đến sự trùng lặp về mức độ thuận lợi (hay thích hợp) của đơn vị diện tích đó cho cả 2,3 ngành một lúc Lúc này đòi hỏi phải sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp hay so sánh để có thể bố trí chúng hợp lý nhất Ngoài ra, trong thiên nhiên các thành phần và yếu tố tự nhiên không tồn tại độc lập mà có các mối tác động tương hỗ lẫn nhau, tạo ra một hệ thống đồng nhất, hoàn chỉnh Vì vậy khi đánh giá mức độ thuân lợi của các điều kiện tự nhiên, TNTN cho các mục đích thực tiễn cần phải xem xét chúng trong mối liên quan ràng buộc cũng như các tác động tương hỗ giữa chúng với nhau Có như vậy chúng ta mới có thể đánh giá một cách đầy đủ, đồng bộ nhất từng đơn vị tự nhiên vốn rất phức tạp và luôn luôn biến động cho các mục đích cụ thể, mà không

bỏ sót những thành phần và yếu tố dù nhỏ nhất, nhưng đôi khi là yếu tố giới hạn trong sự phát triển của chúng

Tuỳ thuộc vào mức độ nghiên cứu của mỗi lãnh thổ và những mục đích đề ra

để chọn các cấp đánh giá Tuỳ theo mức độ yêu cầu đánh giá đòi hỏi khái quát hay chi tiết để định thang bậc đánh giá từ 2,3,…,10 cấp hay nhiều cấp hơn nữa với các tập hợp tương xứng của nhiều loại chỉ tiêu khác nhau Trong công tác đánh giá tổng hợp, các chỉ tiêu đánh giá có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó quyết định đến độ chính xác của các kết quả đánh giá Vì vậy các chỉ tiêu cần được nghiên cứu kỹ trước khi đưa vào đánh giá Thông thường việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá phụ thuộc vào đối tượng và mục đích đánh giá, trong đó mục đích chính là giải quyết các vấn đề dân sinh, kinh tế, môi trường còn đối tượng thực ra là các điều kiện tự nhiên, các dạng TNTN được phản ánh qua các thể tổng hợp tự nhiên lãnh thổ Các chỉ tiêu được lựa chọn, trước hết là các đặc điểm đặc trưng lãnh thổ và có thể là các chỉ tiêu giới hạn đối với các mục đích sử dụng hợp lý lãnh thổ đó Có thể khái quát các chỉ tiêu mang tính định lượng của các điều kiện tự nhiên, TNTN ứng dụng cho công tác đánh giá tổng hợp lãnh thổ bất kỳ nào đó, bao gồm: thành phần địa chất và tài

Trang 31

hậu, chế độ thuỷ văn và tài nguyên nước, đặc điểm lớp phủ thổ nhưỡng, tài nguyên đất, đặc điểm giới sinh vật và tài nguyên thực, động vật,…Bên cạnh đó là các chỉ tiêu kinh tế - xã hội - nhân tác bao gồm các đặc điểm đặc trưng của các ngành kinh

tế, sản xuất, tính chất các hoạt động văn hoá xã hội, đặc điểm dân cư, tài nguyên lao động và cuối cùng là các hoạt động tác động do con người: hình thức và mức độ nhân tác Mỗi mục đích đánh giá cụ thể sẽ chọn lựa chỉ tiêu thích hợp và xác định trọng số theo thứ tự ưu tiên cho từng chỉ tiêu đó Nhiệm vụ của đánh giá tổng hợp là

sự phân định ra các vùng lãnh thổ “thích hợp”, “không thích hợp”, hay “rất không thích hợp” cho các mục đích sử dụng như quy hoạch xây dựng tổng hợp, nông lâm nghiệp hay du lịch, nghỉ dưỡng…với sự tính toán đồng thời đến các đặc điểm cả tự nhiên lẫn nhân tác Ngoài ra công tác đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, TNTN qua các đặc điểm chức năng của từng lãnh thổ còn phụ thuộc vào khả năng

và mức độ sử dụng chúng cho mục tiêu, một ngành sản xuất thuần loại (đối với lãnh thổ có cấu trúc địa hình tương đối đơn điệu và các đặc điểm tự nhiên khác tương đồng ); cho nhiều mục đích khác nhau (nhiều ngành sản xuất đồng thời) hoặc những lãnh thổ đặc biệt phức tạp không rõ chức năng tự nhiên của nó Từ những kết quả đánh giá đã làm nảy sinh ra sự đa dạng khả năng sử dụng cảnh quan, trong đó trước hết sẽ tính đến mặt thuận lợi của các điều kiện tự nhiên, sự nổi trội của các đặc điểm chức năng tự nhiên của các yếu tố này hơn yếu tố khác và ngược lại

Tóm lại, việc lựa chọn phương pháp, thang bậc hay hệ thống các chỉ tiêu đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, TNTN khá phức tạp, nó phụ thuộc rất nhiều vào mức độ phân hoá đa dạng của tự nhiên, cũng như sự nhạy cảm và hiểu biết nhuần nhuyễn tự nhiên từng lãnh thổ của con người Ngoài ra cùng với thời gian, các kết quả đánh giá còn được xem xét, kiểm nghiệm và được điều chỉnh lại cho phù hợp với từng ngành sản xuất, kinh tế cụ thể trên lãnh thổ nghiên cứu Qua đó việc thay đổi hay tổng hợp các phương pháp trong quá trình đánh giá là tất yếu để mục đích duy nhất là đạt kết quả chính xác, hiệu quả

Trang 32

1.2.4.1 Quy trình và thủ pháp thực hiện đánh giá

Phương pháp đánh giá bằng tổng hợp phản ánh bản chất của quá trình đánh giá có mối liên quan giữa chủ thể và khách thể mà theo L.I Mukhina có dạng: Chỉ tiêu đặc trưng

của chủ thể

Các chỉ tiêu tương ứng với trạng thái của các yếu tố khách thể Đánh giá

Trong đó: chủ thể được xem xét lựa chọn từ đặc điểm đặc trưng các điều kiện

tự nhiên, TNTN, các đặc trưng kinh tế, xã hội và nhân văn như các chỉ tiêu đánh giá

còn khách thể là các ngành sản xuất, kinh tế hay các đơn vị lãnh thổ được xem xét đánh giá cho mục đích phát triển

Việc xác định đối tượng đánh giá phải phù hợp với quy mô và nội dung đánh giá để trên cơ sở đó lựa chọn các phương pháp và chỉ tiêu đánh giá thích hợp Việc đánh giá tổng hợp tài nguyên một lãnh thổ sẽ không chỉ đơn thuần đánh giá tài nguyên mà còn là đánh giá cả các điều kiện để khai thác các tài nguyên đó

Đối với mỗi mục đích đánh giá khác nhau thì các chỉ tiêu được lựa chọn cũng khác nhau Thành phần các chỉ tiêu lựa chọn không chỉ phụ thuộc vào mục đích đánh giá, mà phụ thuộc cả cấp khách thể và tỷ lệ nghiên cứu nên mối tương quan đó được phản ánh trong dạng thể hiện như sau:

Mục đích nghiên cứu Tỷ lệ Cấp lãnh thổ Các chỉ tiêu

Đánh giá tổng hợp là khâu cuối của quá trình đánh giá tổng hợp tài nguyên, sau khi đã lựa chọn chỉ tiêu và cho điểm Kết quả đánh giá tổng hợp cho phép giải quyết các nhiệm vụ tối ưu hoá việc sử dụng các điều kiện tự nhiên, các nguồn TNTN cho một lãnh thổ nào đó Phương pháp đánh giá tổng hợp tài nguyên được tiến hành theo 3 bước: xây dựng thang bậc đánh giá, tiến hành các bước đánh giá và phân tích, đánh giá các kết quả đạt được

- Chọn lọc các yếu tố đánh giá: Có rất nhiều yếu tố cần chọn lọc để đánh giá

tiềm năng tài nguyên như vị trí và khả năng tiếp cận, khai thác tài nguyên, các điều kiện tự nhiên; cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật, hiệu quả khai thác lãnh thổ,

thời gian khai thác, độ bền vững cảnh quan; sức chứa v.v

Trang 33

Vị trí và khả năng tiếp cận đối tượng đánh giá được đánh giá thông qua các chỉ tiêu về khoảng cách, thời gian tiếp cận, chất lượng giao thông và các loại phương tiện có thể sử dụng

Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật có ý nghĩa rất quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai thác các tài nguyên cho phát triển kinh tế - xã hội Hiệu quả khai thác cũng là một yếu tố rất quan trọng để xem xét, đánh giá và

có những biện pháp khai thác và điều chỉnh thích hợp tới mỗi đối tượng

Sức chứa phản ánh khả năng và quy mô triển khai hoạt động kinh tế Sức chứa

có liên quan chặt chẽ đến nguồn tài nguyên, đặc điểm tự nhiên và cơ sở hạ tầng xã hội, cũng như khả năng chịu đựng của môi trường tự nhiên và xã hội Vì thế sức chứa được đánh giá không phải theo xu thế càng nhiều càng tốt mà phải là càng phù hợp càng tốt

Thời gian khai thác lãnh thổ có liên quan trực tiếp tới phương thức đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Độ bền vững cảnh quan thể hiện khả năng tồn tại và duy trì hoạt động khai thác tài nguyên và các điều kiện tự nhiên, điều kiện cơ sở hạ tầng xã hội và các điều kiện môi trường cho phát triển các ngành kinh tế và các lĩnh vực xã hội Vì vậy cần căn cứ vào mục đích, yêu cầu cũng như những điều kiện cụ thể để lựa chọn các yếu tố đánh giá thích hợp

- Xác định thang bậc đánh giá ứng với từng yếu tố: Mỗi yếu tố thường được

đánh giá theo các bậc, thường gồm 3, 4 hoặc 5 bậc từ cao xuống thấp, nhiều đến ít, tốt đến xấu, ứng với các mức độ thuận lợi khác nhau Phần lớn các công trình đánh giá tổng hợp tài nguyên thường sử dụng 4 bậc để chỉ 4 mức độ thuận lợi cho mục

đích sử dụng (rất thuận lợi, khá thuận lợi, trung bình và ít thuận lợi)

- Xác định chỉ tiêu của mỗi bậc: Việc xác định các chỉ tiêu cụ thể ứng với mỗi

bậc là rất cần thiết, có tính chất định lượng nhằm so sánh các kết quả đánh giá với nhau Để đảm bảo việc xác định chỉ tiêu của mỗi bậc được chính xác cần dựa trên

các cơ sở điều tra, tính toán, thực nghiệm hoặc ý kiến chuyên gia

- Xác định thang điểm cho mỗi bậc phân chia và hệ số của các yếu tố lựa chọn

để đánh giá: Để tiến hành đánh giá bằng cách tính điểm, cần xác định số điểm cho

Trang 34

mỗi bậc Trong thang đánh giá, số điểm của mỗi bậc đều bằng nhau Điểm của mỗi bậc thông thường được tính từ cao xuống thấp Đối với số bậc của mỗi yếu tố là 4 thì điểm cụ thể sẽ là 4, 3, 2, 1 Trên thực tế, các yếu tố được lựa chọn để đánh giá tài nguyên có các tính chất, mức độ và giá trị không đồng đều Vì thế để đảm bảo tính chính xác và khách quan của kết quả, cần thiết phải xác định thêm hệ số cho các yếu

tố quan trọng Để làm được việc này người ta thường căn cứ vào các kết quả nghiên cứu, điều tra hoặc bằng trực giác (trên cơ sở tích lũy kinh nghiệm) để xác định chính xác các hệ số Các hệ số này có thể là 1, 2 hoặc 3 đối với mỗi yếu tố và sẽ được nhân với số điểm của yếu tố đó để tính điểm chung Việc xác định thang điểm đánh giá phụ thuộc vào độ phức tạp và độ đồng nhất tương đối của các chỉ tiêu đánh giá Có thể xây dựng các thang điểm khác nhau cho từng chỉ tiêu hoặc cùng một thang điểm Thang điểm đánh giá có từ 0 -10 điểm, 0 - 20 điểm, 0 -50 điểm hoặc 0 -

Smax: Điểm trung bình tối đa

Smin: Điểm trung bình tối thiểu

M:Số lượng đơn vị lãnh thổ được đưa vào đánh giá

Trong quá trình đánh giá, số điểm của thang điểm càng nhiều cho các chỉ tiêu lựa chọn càng dễ thể hiện mức độ tác động của từng chỉ tiêu, song thang điểm càng lớn mức độ khái quát càng yếu, vì vậy tùy theo từng tỷ lệ nghiên cứu và độ phức tạp của hệ thống tự nhiên, KT-XH của lãnh thổ mà xây dựng thang điểm hợp lý Tuy nhiên, nếu sử dụng cùng một thang điểm cho các chỉ tiêu, việc xử lý có dễ dàng hơn, nhưng trên thực tế cần xem xét, mức độ đồng cấp của các chỉ tiêu mà xác định

Trang 35

được thang điểm đặc trưng chính xác mối quan hệ trong tổng hợp thể tự nhiên mà yếu tố đó tham gia

Quá trình đánh giá là nhằm xác định được điểm đánh giá Điểm đánh giá bao gồm số điểm đánh giá riêng của từng yếu tố và số điểm đánh giá tổng hợp Điểm đánh giá riêng của từng yếu tố là số điểm của các bậc đánh giá nhân với hệ số của yếu tố đó Như vậy điểm đánh giá riêng cao nhất của một yếu tố đối với bậc cao nhất (4) và có hệ số cao nhất (thí dụ là 3 trong 3 hệ số 1, 2 và 3) sẽ là: 4 x 3 = 12 điểm Và điểm đánh giá riêng thấp nhất là các bậc thấp nhất của yếu tố có hệ số thấp nhất sẽ là: 1 x 1 = 1 điểm

Điểm đánh giá tổng hợp là tổng số các điểm đánh giá riêng của từng yếu tố Cũng có một số công trình đánh giá lấy điểm đánh giá tổng hợp là tích của các điểm đánh giá riêng Cách cộng điểm để đánh giá kết quả chung hiện nay vẫn đang được

sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực đánh giá khác nhau Việc đánh giá này có thể tiến hành với từng đối tượng hoặc với nhiều đối tượng khác nhau cùng sử dụng chung một thang đánh giá

Căn cứ vào số điểm tối đa mà thang điểm đánh giá đã xác định và kết quả đánh giá cụ thể tại mỗi đối tượng đánh giá để tổng hợp kết quả theo tỷ lệ % số điểm

đã đạt được so với số điểm tối đa Thông thường, mức độ đánh giá tổng hợp là rất thuận lợi phải đạt được từ 81 - 100% số điểm tối đa, khá thuận lợi là từ 61 - 80%, trung bình là từ 41 - 60% và kém thuận lợi là từ 25 - 40%

Phương pháp đánh giá tổng hợp có ưu điểm là đảm bảo tương đối khách quan,

dễ thực hiện, có thể cho phép nhìn nhận một cách nhanh chóng và toàn diện tiềm năng lãnh thổ bằng những giá trị đã được lượng hoá Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này sẽ thiếu chính xác nếu như thiếu các tài liệu điều tra khảo sát và một phần lệ thuộc vào chủ quan của người đánh giá Chính vì vậy rất cần thiết được

bổ sung thêm các phương pháp chuyên gia và phương pháp điều tra xã hội học

Trang 36

1.2.4.2 Hệ thống chỉ tiêu lựa chọn trong đánh giá tổng hợp các điều kiện Địa lý tự nhiên cho phát triển ngành nông – lâm nghiệp

Xuất phát từ sự phong phú, đa dạng của ĐKTN và TNTN đối với ngành sản xuất Nông – lâm nghiệp để lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá sau:

- Điều kiện địa chất: cần xem xét các yếu tố về thành phần, nguồn gốc, tuổi,

sự phân bố của đá gốc và những đặc trưng về các quá trình nội sinh (động đất), ngoại sinh (trượt lở, bồi tụ ) sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động sản xuất nông – lâm nghiệp ở các vùng cụ thể

- Đối với điều kiện địa mạo: cần chú trọng đến đặc điểm địa hình chung, cấu

trúc, hướng sơn văn, đặc trưng trắc lượng hình thái với các chỉ tiêu cụ thể về độ cao tuyệt đối, tương đối, mức độ chia cắt của định hình, độ dốc có ảnh hưởng đến sự phân bố và phát triển ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp cũng như các điều kiện thuận lợi hay hạn chế cho phát triển Cần lưu ý thêm ở yếu tố địa mạo là đối tượng đánh giá các quá trình tự nhiên bất lợi như quá trình xói lở, trượt lở đất đá trên núi, nứt đất, bồi tụ luồng lạch các sông suối

- Đối với điều kiện khí hậu: cần xem xét đến các đặc điểm về nhiệt độ, độ ẩm,

lượng mưa, hướng gió… có tác động trực tiếp đến cây trồng, vật nuôi Ngoài những đặc trưng của điều kiện khí hậu, cần chú ý đến sự biến đổi của khí hậu theo không gian hay các đặc điểm dị thường của nó Chính các đặc trưng khí hậu là yếu tố quyết định sự phân bố các vùng sinh thái phù hợp với con người, cây trồng và vật nuôi Qua đó có thể xác định được khả năng phát triển tối ưu cho các ngành sản xuất nông, lâm nghiệp trong việc sử dụng hợp lý lãnh thổ

- Quá trình đánh giá riêng chức năng tự nhiên của các yếu tố hợp phần còn

phải chú trọng đến việc đánh giá điều kiện thuỷ văn, quy luật phân bố, phân hoá

dòng chảy, lưu lượng nước (nước mặt ) và trữ lượng nước (nước ngầm) Sử dụng các chỉ tiêu này sẽ đánh giá được khả năng cấp nước của lãnh thổ, sự thích ứng của các điều kiện thuỷ văn đối với các ngành sản xuất, kinh tế và đời sống con người cũng như tiềm năng chung của nó đối với từng vùng địa lý cụ thể

Trang 37

- Đặc điểm lớp phủ thổ nhưỡng được xem xét, đánh giá theo các định hướng:

nhóm đất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nhóm đất giành cho sản xuất lâm nghiệp, nhóm đất xây dựng, nhóm đất cần có những biện pháp cải tạo để đưa vào sử dụng… Mặc dù, ở từng đơn vị cảnh quan, đặc điểm lớp phủ thổ nhưỡng và cả lớp phủ thực vật đã được phản ánh khá chi tiết, rõ ràng, tuy nhiên ở giai đoạn đánh giá theo vùng, theo nguyên tắc chung, chúng được nhóm gộp bằng các chỉ tiêu định lượng lớn theo các nhóm loại đất và đánh giá cho từng ngành sản xuất, kinh tế cụ thể

- Đánh giá thực bì và thế giới động vật, đánh giá về đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên, rừng, tài nguyên sinh học chung của vùng sẽ được đề cập từ đánh

giá hiện trạng, tiềm năng sinh thái đến giá trị kinh tế của chúng đối với phát triển nông – lâm nghiệp Cũng giống như đánh giá các yếu tố tự nhiên khác, đánh giá điều kiện sinh vật cũng được khái quát hoá theo các nhóm cụ thể nhằm mục đích đánh giá sự phù hợp sinh thái và xây dựng định hướng phát triển các ngành sản xuất, kinh tế theo vùng tự nhiên chung

Và cuối cùng là công tác tổng hợp các kết quả đánh giá chức năng, các yếu tố hợp phần cho mục tiêu chính là đánh giá tổng hợp lãnh thổ Cùng với hệ thống các chỉ tiêu về vị thế, tiềm năng tự nhiên, tài nguyên, hệ thống các chỉ tiêu khác về xã hội, kinh tế và môi trường cũng cần được xem xét, quan tâm lựa chọn Tuy nhiên sự tập hợp các kết quả đánh giá riêng không thể là sự lắp ghép cơ học mà cần có sự phân tích, đánh giá tổng hợp theo các chỉ tiêu xã hội, kinh tế và môi trường để có thể làm sáng tỏ các tiền đề khách quan, các nhân tố thuận lợi hay không thuận lợi (giới hạn) cho việc sử dụng hợp lý tự nhiên lãnh thổ

1.2.4.3 Cơ sở lý luận xác lập mô hình hệ kinh tế sinh thái

a Khái niệm chung về mô hình hệ kinh tế sinh thái

Mô hình hệ kinh tế sinh thái (Ecological Economic System Model) là một

hệ kinh tế sinh thái cụ thể được thiết kế và xây dựng trong một vùng sinh thái xác định - nơi diễn ra hoạt động sinh hoạt, sản xuất, khai thác, sử dụng tài nguyên của con người

Trang 38

Hình 1.2 Cấu trúc và mối liên hệ giữa các hợp phần trong mô hình hệ kinh tế sinh thái

Mô hình hệ KTST là một khái niệm rộng và có thể hiểu đây là các hình mẫu

về phát triển kinh tế dựa vào đặc điểm sinh thái của lãnh thổ Mô hình hệ KTST là

mô hình gồm 3 phân hệ: Tự nhiên- kinh tế - xã hội, có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau Việc xây dựng các mô hình hệ KTST nhằm mục đích hướng tới phát huy tối đa các tiềm lực tự nhiên trên cơ sở tôn trọng tính bền vững, tính thích nghi sinh thái, đem lại hiệu quả kinh tế cao, đồng thời làm giảm thiểu các tác động làm suy thoái tài nguyên, môi trường của khu vực triển khai mô hình

b Nguyên tắc nghiên cứu và phân loại hệ mô hình kinh tế sinh thái

* Nguyên tắc nghiên cứu mô hình hệ kinh tế sinh thái

- Thỏa mãn nhu cầu vật chất

- Thỏa mãn nhu cầu giải trí

Sản phẩm môi trường:

- Ô nhiễm môi trường

- Cải thiện môi trường

Trang 39

- Kiểm kê, đánh giá hiện trạng môi trường, tài nguyên và tiềm năng sinh học, bao gồm công tác điều tra tự nhiên, điều tra kinh tế xã hội, cơ sở vật chất kỹ thuật và tổ chức sản xuất xã hội

- Phân tích chính sách và chiến lược sử dụng TN và bảo vệ môi trường

- Hoàn thiện các cơ chế kinh tế (theo chu trình sản xuất năng lượng) và cơ chế sinh học (theo chu trình sinh - địa - hoá) [7]

Hình 1.3 Sơ đồ các bước đánh giá mô hình hệ kinh tế sinh thái

Theo Nguyễn Cao Huần (2005), đánh giá thích nghi sinh thái là xác định

mức độ phù hợp của các địa tổng thể (cảnh quan trong địa lý học, đơn vị đất đai trong đánh gía đất, lập địa trong khoa học lâm nghiệp) đối với đối tượng quy hoạch phát triển

Khi tiến hành phân tích mô hình kinh tế sinh thái cần đảm bảo 2 nguyên tắc chính là: cấu trúc - chức năng và kinh tế - sinh thái

Bền vững môi trường

Mức độ thích nghi sinh thái

Đánh giá thích nghi sinh thái

Xem xét tính bền vững môi trường

Đánh giá hiệu quả kinh tế

Xem xét tính bền vững về mặt xã hội

Đánh giá tổng hợp

Các phương

án lựa chọn

Cộng đồng,

chính sách

Trang 40

Nguyên tắc cấu trúc - chức năng: phản ánh mối quan hệ biện chứng và tác động qua lại của các yếu tố trong hệ thống Nguyên tắc này hướng tới sự tập trung chức năng chủ yếu của hệ được nghiên cứu

Nguyên tắc kinh tế - sinh thái: phản ánh hoạt động của hệ thống phải đảm bảo tính kinh tế, tính thích nghi sinh thái và tính giữ gìn môi trường:

- Mô hình có tính khả thi, mang lại hiệu quả cao về kinh tế và môi trường

- Quy mô của mô hình phải phù hợp với cơ chế quản lý mới trong nền kinh

tế thị trường Ở giai đoạn đầu, chưa thể đưa ra được quy mô rộng lớn cho cả một vùng lãnh thổ, mà có thể làm ở hai mức: hộ gia đình và cộng đồng cấp thôn bản

- Mục tiêu của mô hình cần đạt được là ổn định và nâng cao năng suất lao động, cải thiện môi trường, đảm bảo khả năng tự điều chỉnh, tự phát triển của toàn

- Hoạt động của hệ thống theo chu trình năng lượng – sản xuất – tiêu thụ là chu trình liên ngành và trên cơ sở kỹ thuật sinh thái

- Điều khiển hệ KTST là điều khiển chu trình năng lượng – sản xuất – tiêu thụ, các quy luật kinh tế, quy luật sinh học, do đó phải hoàn thiện các cơ chế kinh tế

và cơ chế sinh học

Vì vậy để đảm bảo sử dụng đúng mức, ổn định và tránh những ảnh hưởng tiêu cực tới TNTN, môi trường và xã hội, góp phần giải quyết những yêu cầu đặt ra của cộng đồng, con người cần tìm ra những hướng phát triển tối ưu nhất Do đó, việc xây dựng mô hình hệ KTST hợp lý cho từng địa bàn là cần thiết Một mô hình

Ngày đăng: 18/07/2017, 19:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Văn Bào (2008), Phát triển mô hình kinh tế sinh thái đảo Cù Lao Chàm (Đề tài khoa học đặc biệt cấp ĐHQG) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển mô hình kinh tế sinh thái đảo Cù Lao Chàm
Tác giả: Đặng Văn Bào
Năm: 2008
2. Đào Đình Bắc và nnk (2005), Cơ sở khoa học về mô hình hệ kinh tế sinh thái đối với các cư dân miền núi tái định cư sau công trình thuỷ điện nhỏ Chu Linh, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học về mô hình hệ kinh tế sinh thái đối với các cư dân miền núi tái định cư sau công trình thuỷ điện nhỏ Chu Linh, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
Tác giả: Đào Đình Bắc và nnk
Năm: 2005
3. Nguyễn Đức Chính, Vũ Tự Lập (1978), Địa lí tự nhiên Việt Nam. NXB Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí tự nhiên Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đức Chính, Vũ Tự Lập
Nhà XB: NXB Giáo dục. Hà Nội
Năm: 1978
4. Nguyễn Văn Chiển (1985), Tây Nguyên: Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, NXB Khoa học Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây Nguyên: Các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Tác giả: Nguyễn Văn Chiển
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1985
5. Phạm Hoàng Hải và nnk (2014). “Nghiên cứu đánh giá tổng hợp các nguồn lực tự nhiên, biến động sử dụng tài nguyên và xác lập các mô hình kinh tế - sinh thái bền vững cho một số vùng địa lý trọng điểm khu vực Tây Nguyên”, Báo cáo tổng hợp đề tài cấp nhà nước TN3/T03 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu đánh giá tổng hợp các nguồn lực tự nhiên, biến động sử dụng tài nguyên và xác lập các mô hình kinh tế - sinh thái bền vững cho một số vùng địa lý trọng điểm khu vực Tây Nguyên
Tác giả: Phạm Hoàng Hải và nnk
Năm: 2014
6. Phạm Hoàng Hải và nnk (2014). Cơ sở lý luận về mô hình kinh tế - sinh thái, lý luận tổ chức lãnh thổ sản xuất, phát triển bền vững, cơ sở khoa học đánh giá tiềm năng tự nhiên, tài nguyên, KT – XH cho mục đích phát triển bền vững vùng lãnh thổ. Báo cáo chuyên đề thuộc đề tài TN3/03 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận về mô hình kinh tế - sinh thái, lý luận tổ chức lãnh thổ sản xuất, phát triển bền vững, cơ sở khoa học đánh giá tiềm năng tự nhiên, tài nguyên, KT – XH cho mục đích phát triển bền vững vùng lãnh thổ
Tác giả: Phạm Hoàng Hải và nnk
Năm: 2014
7. Phạm Hoàng Hải và nnk (2014). Mô hình hệ kinh tế sinh thái: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn nghiên cứu (áp dụng cho khu vực Tây Nguyên). Tạp chí KHTĐ, số 3/2014. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình hệ kinh tế sinh thái: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn nghiên cứu (áp dụng cho khu vực Tây Nguyên)
Tác giả: Phạm Hoàng Hải và nnk
Năm: 2014
8. Trương Quang Hải (2006), Nghiên cứu và xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển bền vững cụm xã vùng cao Sa Pả - Tả Phìn Huyện Sa Pa Tỉnh Lào Cai (Đề tài khoa học đặc biệt cấp ĐHQG) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển bền vững cụm xã vùng cao Sa Pả - Tả Phìn Huyện Sa Pa Tỉnh Lào Cai
Tác giả: Trương Quang Hải
Năm: 2006
9. Trương Quang Hải, Nguyễn An Thịnh, Đoàn Thị Thu Hà (2006). Xác lập các mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển bền vững vùng đệm các khu bảo vệ thiên nhiên. Tạp chí khoa học, No XXII, N01, Đại học Quốc gia Hà Nội, trang 39 – 48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác lập các mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển bền vững vùng đệm các khu bảo vệ thiên nhiên
Tác giả: Trương Quang Hải, Nguyễn An Thịnh, Đoàn Thị Thu Hà
Năm: 2006
10. Trương Quang Hải (2009). Cấp vùng trong hệ thống các đơn vị lãnh thổ KT-XH ở Việt Nam. Kỷ yếu hội thảo “Cơ sở khoa học cho phát triển vùng trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam”. Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển.Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấp vùng trong hệ thống các đơn vị lãnh thổ KT-XH ở Việt Nam". Kỷ yếu hội thảo “Cơ sở khoa học cho phát triển vùng trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam
Tác giả: Trương Quang Hải
Năm: 2009
11.Nguyễn Văn Hiệu, 1998. Xây dựng cơ sở khoa học của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên ( Đề cương chương trình tiến bộ Khoa học kỹ thuật trọng điểm của nhà nước trong những năm 1984- 1988). Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng cơ sở khoa học của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên
12. Nguyễn Cao Huần. Đánh giá cảnh quan (Theo tiếp cận kinh tế sinh thái).NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá cảnh quan (Theo tiếp cận kinh tế sinh thái)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
13. Ixatsenko. Cơ sở cảnh quan học và phân vùng Địa lý tự nhiên. NXB Khoa học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở cảnh quan học và phân vùng Địa lý tự nhiên
Nhà XB: NXB Khoa học Hà Nội
14. Vũ Tự Lập, 1978. Địa lý tự nhiên Việt Nam. 3 tập I, II, III. NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý tự nhiên Việt Nam
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
15. Phan Kế Lộc (1985). Một số đặc trưng cơ bản của hệ thảm thực vật và thảm thực vật Tây Nguyên – Tây Nguyên các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên. NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc trưng cơ bản của hệ thảm thực vật và thảm thực vật Tây Nguyên – Tây Nguyên các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Tác giả: Phan Kế Lộc
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội
Năm: 1985
16. A.E. Phêdina (1973). Phân vùng địa lý tự nhiên. Tập 1, 2, 3. Hiệu đính GS. N.A. Gvozdexki Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân vùng địa lý tự nhiên
Tác giả: A.E. Phêdina
Năm: 1973
17. Nguyễn Văn Toàn (chủ biên). Giải pháp tổng thể sử dụng hợp lý và bảo vệ đất bazan Tây Nguyên. NXB Nông nghiệp 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tổng thể sử dụng hợp lý và bảo vệ đất bazan Tây Nguyên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp 2005
18. Lê Bá Thảo, 1999. Việt Nam lãnh thổ và các vùng địa lý. NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam lãnh thổ và các vùng địa lý
Nhà XB: NXB Thế giới
19. Nguyễn An Thịnh (2004). Phân tích cấu trúc mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển kinh tế hộ gia đình khu vực miền núi. Tạp chí Địa lý Nhân văn.Số 2 (07/2004). Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích cấu trúc mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển kinh tế hộ gia đình khu vực miền núi
Tác giả: Nguyễn An Thịnh
Năm: 2004
20. Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải (1999), Mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển nông thôn bền vững, NXB Nông nghiệp, 242tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển nông thôn bền vững
Tác giả: Đặng Trung Thuận, Trương Quang Hải
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1999

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w