1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lượng giá kinh tế các cảnh quan khu vực đất ngập nước đồng rui, huyện tiên yên, tỉnh quảng ninh

115 227 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 4,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu Với mục tiêu như trên, luận văn tập trung nghiên cứu một số nội dung chính sau:  Nghiên cứu xác lập cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu về lượng giá kinh tế cảnh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS.NGUYỄN CAO HUẦN

Hà Nội - 2017

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã đuợc ghi rõ nguồn gốc Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Dương Phúc Thưởng

Trang 4

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới đề tài Nafosted, mã số 2013.19 với dự án “Thành lập khu bảo tồn đất ngập nước Đồng Rui” đã tạo điều kiện cho học viên được tham gia khảo sát thực địa và tiếp cận nhiều tài liệu liên quan

105.07-Đồng thời xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Đảng ủy, UBND xã 105.07-Đồng Rui, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tiên Yên và những người dân của xã Đồng Rui đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho học viên trong thời gian thực tế tại địa phương

để thực hiện những nội dung nghiên cứu của luận văn

Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn ở bên cạnh, động viên, giúp đỡ tạo điều kiện tốt nhất để tác giả hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Dương Phúc Thưởng

Trang 5

iii

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết 1

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 2

3 Phạm vi nghiên cứu 2

4 Kết quả nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

6 Cấu trúc luận văn 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 4

1.1.1 Các nghiên cứu về đất ngập nước, cảnh quan đất ngập nước và lượng giá kinh tế cảnh quan đất ngập nước 4

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về khu vực Đồng Rui 12

1.2 Một số vấn đề về cơ sở lý luận nghiên cứu lượng giá kinh tế cảnh quan đất ngập nước 14

1.2.1 Một số khái niệm 14

1.2.2 Giá trị hàng hóa và dịch vụ của cảnh quan đất ngập nước 15

1.2.3 Mối quan hệ giữa cảnh quan đất ngập nước và hệ thống kinh tế 18

1.2.4 Tổng giá trị kinh tế của khu vực đất ngập nước 21

1.2.5 Ứng dụng lượng giá kinh tế cảnh quan đất ngập nước trong thực tiễn 23

1.3 Quan điểm, phương pháp và quy trình nghiên cứu 28

1.3.1 Quan điểm nghiên cứu 28

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu được sử dụng 29

1.3.3 Quy trình nghiên cứu 32

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CẢNH QUAN VÀ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG CÁC CẢNH QUAN ĐẤT NGẬP NƯỚC ĐỒNG RUI 35

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội ảnh hưởng thành tạo cảnh quan và khai thác sử dụng 35

Trang 6

iv

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 35

2.1.2 Điều kiện kinh tế -xã hội 46

2.2 Đặc điểm cảnh quan của khu vực Đồng Rui 51

2.2.1 Hệ thống đơn vị phân loại cảnh quan xã Đồng Rui 51

2.2.2 Đặc điểm và sự phân bố các đơn vị phân loại cảnh quan 52

2.3 Hiện trạng khai thác, sử dụng các cảnh quan khu vực đất ngập nước Đồng Rui 59

CHƯƠNG 3: LƯỢNG GIÁ MỘT SỐ GIÁ TRỊ CỦA CÁC CẢNH QUAN ĐẤT NGẬP NƯỚC ĐỒNG RUI, TIÊN YÊN, QUẢNG NINH 65

3.1 Nhận dạng các giá trị kinh tế và lựa chọn phương pháp lượng giá phù hợp 65

3.1.1 Nhận dạng các giá trị kinh tế 65

3.1.2 Lựa chọn phương pháp lượng giá phù hợp với từng giá trị kinh tế 66

3.2 Lượng giá các giá trị sử dụng 67

3.2.1 Giá trị sử dụng trực tiếp 67

3.1.2 Giá trị sử dụng gián tiếp 72

3.1.3 Giá trị lựa chọn (OV) 76

3.2 Lượng giá các giá trị phi sử dụng 80

3.2.1 Giá trị lưu truyền (BV) 80

3.2.2 Giá trị tồn tại (EV) 82

3.3 Giá trị kinh tế toàn phần 83

3.4 Định hướng sử dụng cảnh quan và đề xuất giải pháp quản lý đất ngập nước Đồng Rui 84

3.4.1 Định hướng sử dụng các cảnh quan tại khu vực đất ngập nước Đồng Rui 84 3.4.2 Đề xuất các giải pháp quản lý đất ngập nước Đồng Rui dựa trên kết quả lượng giá kinh tế 86

KẾT LUẬN 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

Trang 7

v

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Các chức năng và hàng hóa, dịch vụ sinh thái của CQ ĐNN 20

Bảng 1.2: Tổng giá trị kinh tế của cảnh quan đất ngập nước 22

Bảng 1.3: Các loại cơ chế chi trả cho dịch vụ môi trường 25

Bảng 1.4: Quy định về xây dựng cơ sở dữ liệu ĐNN của Bộ TNMT 27

Bảng 2.1: Nhiệt độ trung bình tháng qua (đơn vị oC) 39

Bảng 2.2: Lượng mưa trung bình tháng (đơn vị mm) 40

Bảng 2.3: Tình hình dân số xã Đồng Rui năm 2016 46

Bảng 2.4: Cơ cấu nhóm nghề nghiệp xã Đồng Rui 47

Bảng 2.5: Cơ cấu các lĩnh vực nghề nghiệp xã Đồng Rui 47

Bảng 2.6: Cơ cấu các loại hình sử dụng đất xã Đồng Rui 2015 48

Bảng 2.7: Hệ thống đơn vị phân loại cảnh quan xã Đồng Rui 51

Bảng 2.8: Bảng giao đất, giao rừng xã Đồng Rui 61

Bảng 3.1: Các nhóm giá trị kinh tế của ĐNN tại xã Đồng Rui 65

Bảng 3.2: Các giá trị của cảnh quan đất ngập nước và phương pháp đánh giá tương ứng 66

Bảng 3.3: Sản lượng khai thác thủy sản (kg/ngày) 68

Bảng 3.4: Sản lượng khai thác thuỷ sản trung bình (kg/năm) 69

Bảng 3.5: Doanh thu hải sản trung bình trong 1 năm của người dân đi khai thác (nghìn đồng) 70

Bảng 3.6: Năng suất và doanh thu các loài thuỷ sản trên 1ha ĐNN (ha/năm) 72

Bảng 3.7: Chi phí tu bổ 20,7 km biển Đồng Rui giai đoạn 2008-2015 74

Bảng 3.8: Mức sẵn lòng chi trả của người dân cho quỹ 1 78

Bảng 3.9: Mức sẵn lòng chi trả của người dân cho quỹ 2 80

Bảng 3.10: Nguồn tài trợ của các tổ chức trong và ngoài nước 82

Bảng 3.11: Các giá trị kinh tế của đất ngập nước Đồng Rui 83

Bảng 3.12: Tổng hợp ưu tiên trong sử dụng các cảnh quan ĐNN Đồng Rui 85

Trang 8

vi

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa cảnh quan đất ngập nước và hệ thống kinh tế 19

Hình 1.2 Tổng giá trị kinh tế của cảnh quan đất ngập nước 21

Hình 1.3: Sơ đồ quy trình nghiên cứu lượng giá kinh tế cảnh quan đất ngập nước Đồng Rui 34

Hình 2.1: Sơ đồ vị trí xã Đồng Rui, Tiên Yên, Quảng Ninh 35

Hình 2.2: Bản đồ địa mạo xã Đồng Rui 38

Hình 2.3: Bản đồ hiện trạng lớp phủ xã Đồng Rui 45

Hình 2.5: Bản đồ cảnh quan khu vực đất ngập nước Đồng Rui 57

Hình 2.7: Hoạt động khai thác thủy sản bãi triều 60

Hình 2.6: Rừng ngập mặn xã Đồng Rui 62

Hình 2.8: Biểu đồ sản lượng và diện tích nuôi trồng giai đoạn 2011-2015 63

Hình 3.1: Khảo sát trên bãi triều 67

Hình 3.2: Người dân khai thác hải sản trên bãi triều 67

Hình 3.3: Đầm nuôi tôm tại Đồng Rui 71

Hình 3.4: Một đoạn đê biển Đồng Rui 73

Hình 3.5: Rừng ngập mặn Đồng Rui là nơi cư trú của nhiều loại động vật 76

Hình 3.6: Điều tra và phỏng vấn người dân xã Đồng Rui 77

Trang 9

vii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT

MP Market Price Phương pháp giá thị trường

RC Replacement Cost Phương pháp chi phí thay thế TCM Travel Cost Method Phương pháp chi phí du lịch CVM Contingent Valuation Method Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên

Trang 10

tệ hóa” các giá trị của tài nguyên làm cơ sở quan trọng cho các nhà hoạt động chính sách, các cấp chính quyền, các nhà quản lý lựa chọn giải pháp tối ưu sử dụng bền vững tài nguyên trong mối quan hệ giữa bảo vệ, khai thác và sử dụng

Cảnh quan đất ngập nước có vai trò to lớn đối với môi trường và cuộc sống cộng đồng Cảnh quan ĐNN có năng suất sinh học cao, vừa đem lại những lợi ích kinh tế to lớn, vừa phòng chống thiên tai cho cộng đồng ven biển và đặc biệt có giá trị làm sạch môi trường, cân bằng sinh thái Tuy nhiên, do dân số tăng nhanh, sự phát triển kinh tế mạnh mẽ trong thời kỳ mở cửa cùng với việc quản lý lỏng lẻo hoặc chưa quan tâm bảo vệ đúng mức của một số địa phương nên cảnh quan đất ngập nước đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng Đồng Rui là một trong những khu đất ngập nước của huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh với diện tích rừng ngập mặn khoảng 2.800ha Đây cũng chính là môi trường thuận lợi cho các loại thuỷ sản sinh sống và phát triển Tuy nhiên, có một giai đoạn diện tích rừng ngập mặn đã bị giảm

cả về diện tích cũng như chất lượng do mở rộng diện tích đất nuôi trồng thủy sản và các hoạt động phát triển khác Cho đến hiện nay, công tác quản lý và bảo tồn vẫn thực sự chưa được hoàn thiện, và đặc biệt là trong tương lai gần khu đất ngập nước Đồng Rui sẽ xây dựng hồ sơ để công nhận thành khu Ramsar của thế giới Do đó, việc xác định giá trị kinh tế của khu vực đất ngập nước Đồng Rui nhằm hướng tới bảo vệ, khai thác và sử dụng bền vững là một nhu cầu rất cần thiết Đó cũng là lý do

học viên chọn đề tài: “Lượng giá kinh tế các cảnh quan khu vực đất ngập nước

Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh” để làm hướng nghiên cứu

Trang 11

b Nội dung nghiên cứu

Với mục tiêu như trên, luận văn tập trung nghiên cứu một số nội dung chính sau:

 Nghiên cứu xác lập cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu về lượng giá kinh tế cảnh quan đất ngập nước

 Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, đặc điểm cảnh quanvà hiện trạng khai thác sử dụng cảnh quan khu vực ĐNN Đồng Rui

 Lượng giá một số giá trị kinh tế của các cảnh quan đất ngập nước Đồng Rui

 Đề xuất các biện pháp quản lý và sử dụng hợp lý tài nguyên dựa trên các kết quả lượng giá kinh tế các cảnh quan đất ngập nước

3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại khu vực xã Đồng Rui,

huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh

Phạm vi khoa học: Tập trung nghiên cứu, xây dựng cơ sở khoa học cho việc

lượng giá kinh tế các cảnh quan được lựa chọn tại Đồng Rui Đề xuất các giải pháp

sử dụng hợp lý và quản lý tài nguyên trên cơ sở kết quả lượng giá kinh tế

4 Kết quả nghiên cứu

 Xác lập được được cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu về lượng giá kinh tế cảnh quan cho khu vực đất ngập nước Đồng Rui

 Đánh giá được tiềm năng tài nguyên và hiện trạng khai thác, sử dụng các cảnh quan đất ngập nước Đồng Rui

 Lượng giá được một số giá trị kinh tế của cảnh quan được lựa chọn tại khu vực đất ngập nước Đồng Rui

 Đề xuất được các giải pháp quản lý và sử dụng hợp lý dựa trên cơ sở lượng giá kinh tế

Trang 12

3

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Về ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong

phú thêm nội dung nghiên cứu cảnh quan theo khía cạnh kinh tế

Về ý nghĩa thực tiễn: kết quả nghiên cứu này là tài liệu tham khảo quan trọng

cho công tác quy hoạch, sử dụng và quản lý các hoạt động khai thác tài nguyên tại khu vực nghiên cứu

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Đặc điểm cảnh quan và hiện trạng khai thác sử dụng các cảnh quan đất ngập nước Đồng Rui, Tiên Yên, Quảng Ninh

Chương 3: Lượng giá một số giá trị kinh tế của các cảnh quan đất ngập nước Đồng Rui, Tiên Yên, Quảng Ninh

Trang 13

4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

1.1.1 Các nghiên cứu về đất ngập nước, cảnh quan đất ngập nước và lượng giá kinh tế cảnh quan đất ngập nước

a Các nghiên cứu về đất ngập nước

Đất ngập nước (ĐNN) rất đa dạng, có mặt khắp mọi nơi và là cấu thành quan trọng của các cảnh quan trên mọi miền của thế giới Hàng thế kỷ nay, con người và các nền văn hoá nhân loại được hình thành và phát triển dọc theo các triền sông hoặc ngay trên các vùng ĐNN ĐNN đã và đang bị suy thoái và mất đi ở mức báo động, mặc dù ngày nay người ta đã nhận biết được các chức năng và giá trị to lớn của chúng (Mitsch và Gosselink, 1986&1993; Dugan, 1990; Keddy, 2000)

Qua các nghiên cứu, các nhà khoa học về ĐNN đã xác định được những điểm chung của ĐNN thuộc các loại hình khác nhau, đó là chúng đều có nước nông hoặc đất bão hoà nước, tồn trữ các chất hữu cơ thực vật phân huỷ chậm, và nuôi dưỡng rất nhiều loài động vật, thực vật thích ứng với điều kiện bão hoà nước

Tùy thuộc vào sự khác nhau về loại hình, phân bố cùng với những mục đích

sử dụng khác nhau mà người ta định nghĩa về ĐNN rất khác nhau

Trên thế giới hiện đã có trên 50 định nghĩa về ĐNN (Mitsch and Gosselink,

1986 & 1993; Dugan, 1990) Nhiều tài liệu ở các nước như Canada, Hoa Kỳ và Úc (Zoltai, 1979), (33 CFR323.2 (c); 1984) (trong Hoàng Văn Thắng, 1995), Uỷ ban ĐNN của Liên Hiệp Quốc (UN Committee on Characterization of Wetlands, 1995) (trong Vũ Trung Tạng, 2004) v.v đã định nghĩa về đất ngập nước theo nhiều mức

Trang 14

5

nước dù là tự nhiên hay nhân tạo, ngập nước thường xuyên hoặc từng thời kỳ, là nước tĩnh, nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn bao gồm cả những vùng biển mà độ sâu mực nước khi thủy triều ở mức thấp nhất không vượt quá 6m” [22]

Theo chương trình quốc gia về điều tra đất ngập nước của Hoa Kỳ (2004):

“Vị trí phân bố, đất ngập nước là những vùng đất chuyển tiếp giữa những hệ sinh

thái trên cạn và hệ sinh thái thủy vực Những nơi này mực nước ngầm thường nằm sát mặt đất hoặc thường xuyên được bao phủ bởi lớp nước nông”[6]

Theo các nhà khoa học Canada: “Đất ngập nước là đất bão hòa nước trong

thời gian dài đủ để hỗ trợ cho các quá trình thủy sinh Đó là những nơi khó tiêu thoát nước, có thực vật thủy sinh và các hoạt động sinh học thích hợp với môi trường ẩm ướt”[6]

Theo các nhà khoa học Oxtraylia: “Đất ngập nước là những vùng đầm lầy,

bãi lầy than bùn, tự nhiên hoặc nhân tạo, thường xuyên, theo mùa hoặc theo chu kỳ, nước tĩnh hoặc nước chảy, nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn, bao gồm cả những bãi lầy và những khu rừng ngập mặn lộ ra khi thủy triều xuống thấp”[6]

Theo tác giả Lê Văn Khoa (2007): “ĐNN là đất bão hòa nước trong thời

gian dài đủ để hỗ trợ cho các quá trình thủy sinh Đó là những nơi khó tiêu thoát nước, có thực vật thủy sinh và các hoạt động sinh học thích hợp với môi trường ẩm ướt”[20]

Những định nghĩa trên nhìn chung đều xem ĐNN như đới chuyển tiếp sinh thái, những diện tích chuyển tiếp giữa môi trường trên cạn và ngập nước, những nơi

mà sự ngập nước của đất tạo ra sự phát triển của một hệ thực vật đặc trưng Ngoài

ra, các định nghĩa về ĐNN thường gồm có ba thành tố chính là:

(i) ĐNN được phân biệt bởi sự hiện diện của nước

(ii) ĐNN thường có những loại đất đồng nhất khác hẳn với những vùng đất cao ở xung quanh

(iii) ĐNN thích hợp cho sự hiện diện của những thảm thực vật thích nghi với

Trang 15

6

những điều kiện ẩm ướt

Hiện nay, định nghĩa ĐNN của Công ước Ramsar được nhiều quốc gia, tổ chức sử dụng phổ biến nhiều hơn cả và là cơ sở cho các hoạt động quản lý và nghiên cứu về ĐNN Tại Việt Nam, định nghĩa ĐNN của Ramsar cũng được sử dụng là định nghĩa chính thức theo Nghị định 109/2003/NĐ-CP của Chính phủ về

“Bảo tồn và PTBV các vùng ĐNN” Luận văn sẽ sử dụng theo định nghĩa này

b Các nghiên cứu về cảnh quan

Nền móng của cảnh quan học đã được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX trong các công trình nghiên cứu, sự phân chia địa lý tự nhiên bề mặt Trái đất của các nhà địa lý kinh điển Nga: V V Docutraiep; L.C Berge; G.N Vưxotxkii, G.F Morozov, Đức: Z Passarge; A.Hettner; ở Anh: E.J Gerbertson; và các nhà địa lý Mỹ, Pháp, Song việc nghiên cứu sự phân chia bề mặt Trái đất dẫn dấn việc hình thành học thuyết về các quy luật phân hóa lãnh thổ lớp vỏ địa lý chỉ được phát triển mạnh mẽ sau thế chiến II, khi đó cảnh quan được xác định như một ít đơn vị

cơ sở dựa trên sự thống nhất các quy luật phân hóa địa đới và phi địa đới” (A.G Ixatxenko, 1953) [9]

Quá trình phát triển đó thể hiện trong sự xác định khái niệm cảnh quan trong các định nghĩa của các tác giả ở các thời gian khác nhau - đánh dấu mỗi thời điểm phát triển của khái niệm cũng như của học thuyết cảnh quan như sau [9]:

Cảnh quan địa lý là một tập hợp hay một nhóm các sự vật,các hiện tượng,trong đó đặc biệt là địa hình, khí hậu, nước, đất, lớp phủ thực vật và giới động vật cũng như hoạt động của con người hòa trộn với nhau vào một thể thống nhất hòa hợp, lặp lại một cách điển hình trên một đai nhất định nào đó của Trái đất (L.C Berge, 1931)

Cảnh quan địa lý được gọi là một lãnh thổ đồng nhất về mặt phát sinh, trong

đó có sự tập lại một cách điển hình và có quy luật của một và chỉ một tập hợp liên kết tương hỗ gồm: cấu trúc địa chất, dạng địa hình, nước mặt và nước ngầm, vi khí hậu, các quần xã thực-động vật”(N.A Xolsev, 1948)

Trang 16

7

Cảnh quan là một phần riêng biệt về mặt phát sinh của một phần cảnh quan một bối cảnh quan hay nói chung của một đơn vị phân vùng lớn bất kỳ, đặc trưng bằng sự đồng nhất cả tương quan địa đới lẫn phi địa đới, có một cấu trúc riêng và một cấu tạo hình thái riêng”(A.G.Ixatxenko, 1965)

Sau đó N.A Xoisev lại đưa ra các điều kiện chủ yểu cho các cảnh quan độc tập (cá thể) như sau:

1 Lãnh thổ mà các cảnh quan hình thành phải chỉ nền địa chất đồng nhất

2 Sau khi cải tạo nến, lịch sử phát triển tiếp theo của cảnh quan phải đồng nhất

về không gian

3 Phải có một khí hậu đồng nhất trong phạm vi của cảnh quan, trong đó một biến đổi của các điều kiện khí hậu đều đồng dạng Cảnh quan là một hệ thống cấu tạo có quy luật của các tổng thể tự nhiên bậc thấp

Theo hướng đó, khi nghiên cứu cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam, Vũ Tự Lập (1976) có định nghĩa: “Cảnh quan địa lý là một địa tổng thể được phân hóa trong phạm vi một đội ngang ở đồng bằng và một đai cao ở miền núi, cómột cấu trúc thẳng đứngđồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thuỷ văn, về đại tổ hợp thổ nhượng và đại tổ hợp thực vật, và bao gồm một tập hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất”

A.G.Ixatrencô (1965) lại đưa ra một định nghĩa ngắn gọn hơn “Cảnh quan là một địa hệ thống nhất về mặt phát sinh, đồng nhất vế các dấu hiệu địa đới và phi địa đới bao gồm một tập hợp đặc trưng của các địa hệ liên kết bậc thấp”

Phân tích các định nghĩa trên cho thấy 3 quan niệm về cảnh quan mà sau đó được áp dụng để chỉ các hình thức cảnh quan khác nhau phụ thuộc vào các quan niệm của người nghiên cứu (Từ điển Bách khoa Địa lý 1988)

1 Cảnh quan biểu thị tổng hợp thể tự nhiên lãnh thổ của một cấp bất kỳ, đồng nghĩa với tổng thể tự nhiên - lãnh thổ, địa tổng thể tự nhiên hay địa hệ tự nhiên (quan niệm chung)

Trang 17

8

2 Cảnh quan là một đơn vị phân loại trong hệ phân vị tổng thể tự nhiên, trong

đó cảnh quan là đơn vị chủ yếu được xem xét đến những biến đổi do tác động của con người (quan niệm kiểu loại)

3 Cảnh quan để chỉ một phần lãnh thổ nào đó riêng biệt của lớp vỏ địa lý, trong

đó có những đặc tính chung nhất (quan niệm cá thể)

Từ những phân tích trên, khái niệm cảnh quan có thể được hiểu là: Cảnh quan là địa tổng thể tự nhiên, bao gồm các hợp phần địa lý (đá mẹ, địa hình, khí hậu, sinh vật…) và giữa chúng tồn tại mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau theo dòng vật chất và năng lượng

c Các nghiên cứu về lượng giá kinh tế cảnh quan ĐNN

Lượng giá các giá trị kinh tế tài nguyên nói chung và giá trị của cảnh quan ĐNN nói riêng là một chủ đề mang tính chất khoa học, ứng dụng ngày càng trở nên phổ biến trong những năm gần đây trên thế giới bao gồm cả các nước phát triển và đang phát triển do nhu cầu khách quan và sự cần thiết của thông tin phục

vụ quản lý Cùng với nhu cầu khách quan đó, cơ sở lý thuyết và các phương pháp

và mô hình lượng giá ngày càng đa dạng và hoàn thiện mặc dù cũng trở nên phức tạp hơn nhằm đưa lại các kết quả chính xác, tin cậy cho các hoạt động quản lý, sử dụng tài nguyên

Dựa trên cơ sở lý thuyết kinh tế, các nhà kinh tế đã phát triển các phương pháp thực nghiệm để đánh giá giá trị kinh tế của tài nguyên Cho đến nay, chưa có một hệ thống phương pháp nào được xây dựng và áp dụng riêng biệt để đánh giá giá trị của cảnh quan ĐNN, thay vào đó người ta xây dựng các phương pháp chung rồi

áp dụng cho cảnh quan ĐNN như một dạng tài nguyên cụ thể

Barbier (1997) đã phân chia các phương pháp lượng giá các giá trị kinh tế

của cảnh quan ĐNN thành 3 loại: các phương pháp dựa vào thị trường thực (gồm

phương pháp giá thị trường-MP, Chi phí thay thế-RC, chi phí thiệt hại tránh AC); các phương pháp dựa vào thị trường thay thế (gồm phương pháp chi phí du

được-lịch-TCM, chi phí hưởng thụ-HPM) và các phương pháp dựa vào thị trường giả

Trang 18

9

định (gồm phương pháp đánh giá ngẫu nhiên-CVM, Mô hình lựa chọn-CM) [38]

Về cơ bản, tương ứng với từng nhóm giá trị kinh tế khác nhau sẽ có những phương pháp lượng giá kinh tế thích hợp Một số phương pháp trên đã được nghiên cứu khá phổ biến như:

Sử dụng phương pháp giá thị trường: Phương pháp giá thị trường ước tính

giá trị kinh tế của các hàng hóa và dịch vụ của cảnh quan ĐNN được trao đổi, mua bán trên thị trường Giả thiết cơ bản của phương pháp này là khi giá thị trường không bị bóp méo bởi sự thất bại thị trường hoặc chính sách của Chính phủ thì nó sẽ phản ánh chân thực giá trị của hàng hóa hay chi phí cơ hội của việc sử dụng ĐNN

Từ đó cho biết giá trị đóng góp của các hàng hóa và dịch vụ này trong nền kinh tế Đây là phương pháp đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hiện vì các thông tin liên quan đến giá cả thị trường của một số các hàng hóa và dịch vụ mà ĐNN cung cấp là quan sát được và dễ thu thập Vì vậy, phương pháp này thường được sử dụng để đánh giá các giá trị sử dụng trực tiếp của ĐNN

Chẳng hạn như các công trình của: Lal P.N (1990) đã ước tính giá trị kinh tế của dịch vụ HST ĐNN thuộc 2 hòn đảo chính của quốc đảo Fiji Ông đã ước tính lợi ích ròng của các khu vực ĐNN chuyển đổi Nghiên cứu đã ước tính lợi ích bị mất đi của các sản phẩm liên quan tới ĐNN trong trường hợp chuyển đổi [48] Cũng sử dụng phương pháp này, Uddin và công sự (2013) cũng đã ước tính giá trị kinh tế các dịch vụ HST ĐNN tại Sundarbans Reserve thuộc quốc gia Bangladesh Họ đã tiến hành lượng giá các dịch vụ văn hóa mà có giá thị truờng bằng cách sử dụng các phương pháp lượng giá thị truờng trực tiếp cho khoảng thời gian từ năm 2001-2010 [55] Ronnback (1999) cũng đã tính toán giá trị kinh tế theo giá trị thị trường của việc khai thác thủy sản cho các khu vực trên thế giới từ lợi ích của dịch vụ rừng ngập mặn Ông cũng ước tính giá trị thị trường cho đông vật giáp xác (tôm he, tôm

và cua trong rừng ngập mặn), cá và đông vật thân mềm sống ở rừng ngập mặn nơi

cư trú [52] Báo cáo của UNEP (2011) đã đưa ra một “Phân tích kinh tế chi tiết về rừng ngập mặn tại vịnh Gazi, Kenya” với phương pháp nổi trội hơn cả là giá thị trường Kết quả và phương pháp có thể được áp dụng cho các khu vực khác ở châu

Trang 19

10

Phi để xác định tầm quan trọng của việc đưa rừng ven biển vào tài khoản quốc gia Các nhà hoạch định chính sách địa phương được khuyến khích xem xét các dịch vụ của rừng ngập mặn trước khi ra quyết định sử dụng đất ven bờ, đặc biệt là vào thời điểm này khi mà các hệ sinh thái biển đang chịu áp lực ngày càng tăng lên do sự gia tăng dân số, chuyển đổi đất đai và biến đổi khí hậu [59] Tại Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu như: Nghiên cứu của Nguyễn Thế Chinh và Đinh Đức Trường

(2002) trong trường hợp “Đánh giá thiệt hại kinh tế do ô nhiễm tại khu công nghiệp

gang thép Thái Nguyên” Trong đó các tác giả đã sử dụng phương pháp giá thị

trường để đánh giá sự tổn hại về năng suất nông nghiệp và sức khoẻ do ô nhiễm của Nhà máy gang thép Thái Nguyên gây ra cho người dân ở một số xã xung quanh thông qua việc so sánh năng suất và lượng người mắc bệnh ở các vùng ô nhiễm và vùng đối chứng để xác định chênh lệch bản chất giữa mức độ năng suất/sức khoẻ thông thường và năng suất/sức khoẻ khi ô nhiễm [4] Tác giả Mai Trọng Nhuận (2000) và các cộng sự cũng sử dụng phương pháp giá thị trường để đánh giá giá trị kinh tế của một số điểm trình diễn ĐNN tại Việt Nam, trong đó ước tính sơ bộ các giá trị sử dụng trực tiếp của một số khu vực ĐNN tiêu biểu tại Việt Nam [25] Cũng

sử dụng phương pháp này, tác giả Đỗ Nam Thắng (2005) đã tính toán giá trị sử dụng trực tiếp của tài nguyên ĐNN vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời tiếp tục hoàn thiện việc áp dụng phương pháp giá thị trường tại Việt Nam thông qua điều chỉnh một số nhân tố sai lệch để đưa ra kết quả khá tin cậy về những khối giá trị trực tiếp của ĐNN tại địa bàn nghiên cứu [30] Tác giả Lê Thu Hoa và các cộng

sự (2006) cũng sử dụng kỹ thuật giá thị trường để tính toán giá trị nuôi tôm tại khu ĐNN của VQG Xuân Thủy, Nam Định [13]

Sử dụng phương pháp chi phí du lịch: Chi phí du lịch là phương pháp

được thiết kế và áp dụng để đánh giá giá trị giải trí của môi trường và các hệ sinh thái Giả thiết cơ bản của TCM rất đơn giản, đó là chi phí bỏ ra để tham quan một điểm du lịch giải trí phần nào phản ánh được giá trị giải trí của nơi đó Mặc dù không quan sát trực tiếp được sự mua bán chất lượng hàng hoá môi trường của du khách nhưng chúng ta có thể thu nhận được thông tin về hành vi và sự lựa chọn của du khách để hưởng thụ tài nguyên môi trường Thông qua việc ước lượng

Trang 20

11

đường cầu du lịch cá nhân hoặc đường cầu thị trường, các nhà kinh tế sẽ tính được phần phúc lợi của cá nhân hay xã hội thu được khi tham gia thị trường du lịch tại

điểm xem xét

Một số nghiên cứu tiêu biểu như: Nguyễn Thị Hải và Trần Đức Thanh

(1999) “Ứng dụng phương pháp chi phí du lịch để xác định giá trị giải trí của quốc

gia (VQG) Cúc Phương” Thông qua việc sử dụng phương pháp chi phí du lịch để

xác định giá trị kinh tế của VQG nhằm mục đích giúp các nhà quản lý có cơ sở để hoạch định chính sách đầu tư sao cho có hiệu quả [10] Nghiên cứu của Trần Thị

Thu Hà và Vũ Tấn Phương (2005) với đề tài “Đánh giá giá trị cảnh quan của Vườn

quốc gia Ba Bể và khu du lịch hồ Thác Bà”, đề tài đã áp dụng phương pháp chi phí

du lịch để ước tính giá trị du lịch giải trí [8] Nghiên cứu của Lê Thanh An (2012)

“Ước lượng lợi ích du lịch của vườn quốc gia Bạch Mã-Việt Nam” đã sử dụng

phương pháp này để thiết lập đường cầu và đo lường lợi ích du lịch của VQG Trên

cơ sở đó, nghiên cứu đã đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo tồn nguồn tài nguyên tại VQG Bạch Mã [1] Phương pháp này tiếp tục được nhân rộng để định giá giá trị giải trí của các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) khác trong cả nước như KBTTN Hòn Mun [23], VQG Ba Bể

Sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên: Phương pháp đánh giá ngẫu

nhiên được phát triển bởi Davis (1963) trong lĩnh vực phân tích marketing, sau đó được chuyển sang áp dụng trong đánh giá môi trường [45] Thông qua việc xây dựng các kịch bản về giả định về chất lượng môi trường và thu thập thông tin về hành vi và sự lựa chọn tiêu dùng của cá nhân đối với kịch bản giả định này, chúng

ta có thể ước lượng được sự thay đổi trong phúc lợi của cá nhân khi chất lượng môi trường thay đổi Từ đó tính được thặng dư tiêu dùng của cá nhân khi tham gia thị trường giả định; lợi ích này đo lường giá trị của môi trường đối với chính cá nhân đó.Phương pháp này thường được sử dụng để lượng giá các giá trị phi sử dụng của môi trường vì các giá trị này thường không có thị trường giao dịch

Một số nghiên cứu như: Christie & Rayment (2012) đã ước tính giá trị kinh

tế của ĐNN ở các vị trí có sự quan tâm đặc biệt về mặt khoa học (SSSI) ở Anh và

xứ Wale Họ cũng đã điều tra những lợi ích của ĐNN trong mối quan hệ với các

Trang 21

12

chính sách bảo tồn Họ đã sử dụng thử nghiệm lựa chọn để đo lường giá trị của các dịch vụ HST ĐNN tại các vị trí SSSI [53] Phương pháp này cũng được sử dụng trong các nghiên cứu của tác giả Bùi Dũng Thể (2005) để xác định mức chi trả của người dân để bảo tồn rừng đầu nguồn tại Huế [32] và tác giả Đinh Đức Trường (2008) để xác định sự suy giảm giá trị của hệ sinh thái san hô do sự cố dầu tràn tại Quảng Nam [35]

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về khu vực Đồng Rui

Khu vực ĐNN Đồng Rui cũng đã có một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, cũng như các chương trình dự án liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước gồm:

Các công trình về rừng ngập mặn, đa dạng sinh học và phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn: Phan Nguyên Hồng (1996), nghiên cứu “Tổng quan tình hình

sử dụng hệ sinh thái rừng ngập mặn để nuôi hải sản của Quảng Ninh”, nghiên cứu

đã xác định các loại rừng ngập mặn phù hợp với việc nuôi hải sản và tỷ lệ thích hợp giữa diện tích nuôi tôm và diện tích trồng rừng [15] Hoàng Văn Thắng và cộng sự

(2010) với báo cáo “Đa dạng Sinh học vùng cửa sông ven biển Tiên Yên - Đầm Hà,

Quảng Ninh và vấn đề bảo tồn”- kết quả nghiên cứu đã xác định được nhiều loài

thực vật trong đó có nhiều loài đang nguy cấp [31] Nguyễn Đăng Hội và nnk

(2012-2015) với đề tài “Đặc điểm cấu trúc các quần xã thực vật rừng ngập mặn xã

Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh”, nghiên cứu đã xác định được hệ thực

vật ngập mặn và chỉ rõ sự phân bố theo không gian của các loài [16] Mai Trọng

Hoàng, (2014): “Nghiên cứu đánh giá tính đa dạng sinh học và chức năng sinh thái

rừng ngập mặn Tiên Yên – Hà Cối, tỉnh Quảng Ninh” nghiên cứu đã phân tích nhân

tố hình thành và phát triển hệ sinh thái RNM, đánh giá tính đa dạng sinh học, đánh giá chức năng sinh thái của hệ sinh thái RNM và đề xuất định hướng sử dụng hợp lý

hệ sinh thái RNM [14] Trần Ngọc Cường, Trần Huyền Trang (2008),đã có nghiên

cứu “Phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn, trường hợp điển hình tại xã Đồng Rui,

huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh” Trên cơ sở xác định những nguyên nhân chính

gây mất rừng ngập mặn đã đề xuất những giải pháp phục hồi rừng ngập mặn [5]

Đinh Thanh Giang, (2015): “Sinh trưởng của các loài cây trồng trong mô hình phục

Trang 22

(2006), với nghiên cứu “Nghiên cứu tính đặc trưng và giá trị đa dạng sinh học của

hệ sinh thái rừng ngập mặn tại địa phương được chọn xây dựng mô hình (thôn Bốn – Đồng Rui” nghiên cứu đã chỉ ra điều kiện thích nghi của các cây ngập mặn, vai trò

và giá trị của rừng ngập mặn [26]

Các công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp quản lý dựa vào cộng đồng: Trần Thu Phương “Phân tích điều kiện kinh tế xã hội của khu vực Đồng

Rui” trong khuôn khổ dự án “Xây dựng mô hình khai thác bền vững rừng ngập mặn

dựa vào cộng đồng, áp dụng đối với một vùng đặc thù” báo cáo tình hình nuôi trồng

và khai thác thủy hải sản; cùng dự án Lê Diên Dực (2006), với báo cáo “Phân tích

các kinh nghiệm xây dựng thành công mô hình khai thác bền vững rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng ở Việt Nam” một số mô hình có sư tham gia của cộng đồng ở

Việt Nam như nuôi ong để bảo tồn và phục hồi rừng ngập mặn[6] Lưu Thị Bình,

(2007), “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp bảo vệ rừng ngập mặn dựa

vào cộng đồng ở xã Đồng Rui huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh”[3] Trần Thị Nhàn,

(2013), “Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp quản lý và bảo vệ bền vững rừng ngập

mặn xã Đồng Rui huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh” Đề tài đã nghiên cứu, đánh giá

đặc điểm, hiện trạng khai thác và sử dụng, vai trò của rừng ngập mặn Đồng Rui Đồng thời nêu lên những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý, bảo vệ rừng,

từ đó đề xuất các giải pháp quản lý hiệu quả [24]

Bên cạnh đó là các dự án của các tổ chức trong và ngoài nước như: Trung tâm Tài nguyên và Môi trường (Đại học Quốc gia Hà Nội), các dự án của KVT (Hà Lan) và ACMANG (Nhật Bản)…Những công trình, dự án này đều nhằm mục đích trồng mới và khôi phục lại các khu rừng ngập mặn đã bị suy thoái để tái tạo, bảo vệ khu vực sinh sản và phát triển của các loài sinh vật trong đó có nhiều đặc sản, bảo

vệ giá trị hệ sinh thái để phát triển du lịch sinh thái

Trang 23

14

Nhận xét chung

Tóm lại đã có nhiều nghiên cứu về lượng giá kinh tế ĐNN ở nhiều cấp độ khác nhau với nhiều phương pháp lượng giá kinh tế khác nhau.Trong số đó có thể xem phương pháp giá thị trường là phương pháp được sử dụng phổ biến hơn cả Các công trình nghiên cứu về lượng giá kinh tế ĐNN ở Việt Nam đa phần tập trung vào một nhóm giá trị cụ thể của cảnh quan ĐNN, phổ biến là giá trị sử dụng trực tiếp trong khi các nhóm giá trị sử dụng gián tiếp và phi sử dụng chưa được nghiên cứu nhiều Cho đến nay, hướng nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận đánh giá tổng thể giá trị của cảnh quan ĐNN thì vẫn còn hạn chế

Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu hiện nay về khu vực Đồng Rui thì vẫn chưa nhiều, đặc biệt là sử dụng công cụ kinh tế để phân tích và đánh giá thì đang rất ít.Vì vậy, hướng tiếp cận nghiên cứu của Luận văn nghiên cứu về lượng giá kinh tế cảnh quan đất ngập nước tại khu vực này là tương đối mới Nó góp phần bổ sung thêm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên đất ngập nước Đồng thời cũng là cơ sở tham khảo trong cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách

1.2 Một số vấn đề về cơ sở lý luận nghiên cứu lượng giá kinh tế cảnh quan đất ngập nước

1.2.1 Một số khái niệm

Đất ngập nước (ĐNN): được coi là các vùng đầm lầy, than bùn hoặc vùng

nước dù là tự nhiên hay nhân tạo, ngập nước thường xuyên hoặc từng thời kỳ, là nước tĩnh, nước chảy, nước ngọt, nước lợ hay nước mặn bao gồm cả những vùng biển mà độ sâu mực nước khi thủy triều ở mức thấp nhất không vượt quá 6m (Theo công ước Ramsar, 1971)

Cảnh quan đất ngập nước ven biển: là cảnh quan được thành tạo trong điều

kiện đất ngập nước ven biển, chịu ảnh hưởng của thủy triều với đặc trưng quá trình tích tụ vật chất thảm thực vật, động vật thủy sinh chiếm ưu thế

Trang 24

15

Lượng giá kinh tế cảnh quan đất ngập nước: (hay lượng giá các giá trị kinh

tế của cảnh quan đất ngập nước) là quá trình phân tích, đánh giá các giá trị về mặt lý-hóa-sinh của các thành phần tài nguyên môi trường trên các cảnh quan đất ngập nướcnhằm để quy đổi các giá trị này sang đơn vị tiền tệ trên cơ sở sử dụng các

phương pháp lượng giá kinh tế phù hợp

1.2.2 Giá trị hàng hóa và dịch vụ của cảnh quan đất ngập nước

Cảnh quan ĐNN cung cấp hàng hoá đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu cho xây dựng và năng lượng để đun nấu cho người dân địa phương Các loại hàng hoá này được mua bán, trao đổi trên thị trường, bao gồm các sản phẩm từ thực vật như

gỗ làm nhà, đóng bàn ghế, giường tủ, củi đun, lá dừa nước để lợp nhà, làm vách tường, mật ong, nước giải khát…, các sản phẩm từ động vật như thuỷ hải sản kể cả động vật không xương sống và động vật có xương sống như các loại tôm, cua, cá,

sò, vọp…là nguồn thực phẩm quan trọng cho người dân địa phương, đặc biệt là nguồn lợi thuỷ sản cho xuất

Tuy nhiên giá trị to lớn của cảnh quan ĐNN không phải chỉ ở hàng hoá mà còn ở khả năng cung cấp những dịch vụ cần thiết và quan trọng cho con người Các dịch vụ của cảnh quan ĐNN và hầu hết đều không hoặc không thể trao đổi trên thị trường Sau đây là một số dịch vụ cơ bản của cảnh quan ĐNN [33]:

1 Dịch vụ cung cấp khí O 2 và hấp thụ CO 2 , cải thiện các điều kiện vi khí hậu khu vực: Cũng giống như các loài thực vật khác trên trái đất, các cây ngập mặn

trong môi trường ĐNN hấp thụ CO2 và thải O2 qua quá trình quang hợp Chẳng hạn, rừng ngập mặn Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh được xem như lá phổi xanh của thành phố, góp phần cân bằng một lượng lớn CO2 do các hoạt động của thành phố thải ra

rừ ô tô, xe máy, khu công nghiệp, dân cư…

2 Dịch vụ tích lũy các bon : Các bon dioxyt (CO2) là một trong những loại khí gây hiệu ứng nhà kính giữ ấm cho trái đất Các hoạt động của con người khi đốt các nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ, khí đốt…), ô tô, phá rừng…đã thải vào bầu khí quyển quá nhiều CO2 làm cho nhiệt độ trái đất tăng quá mức gây ra hiện

Trang 25

16

tượng nóng lên toàn cầu, tạo nên sự biến đổi khí hậu, gia tăng các hiện tượng thời tiết bất thường như gió bão, hạn hán, lụt lội Cây cối và các loại tảo trong ĐNN sử dụng CO2 khí quyển để thực hiện quá trình quang hợp tạo nên các chất hữu cơ trong

mô cơ thể hay còn gọi là quá trình tích lũy các bon Điều này có ý nghĩa là, càng bảo tồn hệ sinh thái ĐNN thì càng góp phần làm giảm lượng CO2 trong khí quyển Dịch vụ này có ý nghĩa toàn cầu

3 Dịch vụ cung cấp thức ăn, nơi sinh đẻ, nuôi dưỡng con non và là vườn ươm cho các loài thuỷ sản ven biển, nơi ở cho các loài chim di cư: cảnh quan

ĐNN cung cấp cả thức ăn và nơi ở, nơi che chở và nuôi dưỡng cho các loài sinh vật trong vòng đời của chúng Chẳng hạn như một số loài tôm sú, tôm he, cua bùn, rùa biển…vào vùng rừng ngập mặn đẻ trứng, con non của chúng bơi dần ra biển đến giai đoạn thành thục, sinh sản chúng lại quay về rừng ngập mặn Một số loài chim

di cư như cò mỏ thìa vào giai đoạn từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau di cư từ phương Bắc đến vùng rừng ngập năm của sông Hồng kiếm ăn rồi lại bay xuống phía Nam

4 Dịch vụ góp phần giảm thiểu tác hại của gió bão, nước biển dâng và sóng thần: Cảnh quan ĐNN ven biển nói chung, đặc biệt là rừng ngập mặn được

xem như một bức tường xanh bảo vệ đê biển trong các vùng thường xuyên bị gió bão ven biển miền Bắc và miền Trung nước ta Các cánh rừng ngập mặn thuộc các tỉnh ven biển từ Quảng Ninh tới Hà Tĩnh, Quảng Bình được trồng và bảo tồn phía trước đê biển ở các cửa sông, ven biển đã góp phần rất lớn vào việc giảm thiểu thiên tai do bão, gió, ngập lụt, nước biển dâng… Khi có sóng thần xảy ra thì dịch vụ này càng có giá trị to lớn

5 Dịch vụ làm tăng lượng bồi tụ trầm tích mở rộng đất đai bờ cõi: Các hệ

thống cây và rễ cây chằng chịt của rừng ngập mặn góp phần làm giảm lưu lượng nước, dòng chảy tạo điều kiện cho trầm tích lắng đọng trong các vùng cửa sông ven biển Vùng hạ lưu ven biển, cửa sông lớn như hệ thống sông Hồng, sông Cửu Long, phù sa thường ngưng đọng ở trên lòng sông và ngoài cửa sông tạo nên những hòn đảo nổi Trong điều kiện thuận lợi thì chỉ sau một thời gian, các loài cây ngập mặn

Trang 26

17

tiên phong sẽ đến cư trú tạo môi trường cho nhiều loài cây đến sau và đất bồi được nâng lên Quá trình xâm nhập mặn diễn ra chậm và phạm vi hẹp vì khi triều cao, nước đã lan toả vào trong những khu rừng ngập mặn rộng lớn; hệ thống rễ dày đặc cùng với thân cây đã làm giảm tốc độ dòng triều, tán cây hạn chế tốc độ gió

6 Dịch vụ lọc nước và hấp thụ các chất độc hại, ô nhiễm vùng cửa sông ven biển: Hầu hết các cây ngập mặn đều hấp thu các chất khoáng từ đất và nước

thông qua các cơ chế trao đổi chất tích cực và thụ động Ba cơ chế đặc biệt của cây ngập mặn là: cơ chế cản muối đi vào cơ thể, cơ chế thải muối thừa qua các tuyến tiết muối ở lá và cơ chế tích luỹ muối trong các lá già khi rụng cũng là thải đi lượng muối thừa Các chất độc hại và ô nhiễm (kim loại nặng, thuốc trừ sâu, chất độc…)

từ các khu công nghiệp, đô thị thải vào sông suối, hoà tan trong nước hoặc lắng xuống đáy trong thành phần các hạt phù sa, trầm tích được nước sông mang ra các vùng cửa sông ven biển Cây ngập mặn hấp thu các sản phẩm này vào trong cơ thể tạo ra các hợp chất ít độc hại hơn đối với con người

7 Dịch vụ lưu giữ vốn gen (thông tin di truyền): Những thông tin di truyền

nằm trong tổ hợp gen các loài cây ngập mặn có những giá trị đặc biệt Đó là các tổ hợp gen đã được chọn lọc trong quá trình thích nghi và đấu tranh sinh tồn hàng triệu năm Qua nhiều thế hệ chúng mới có được các cơ chế tiết muối và thải muối thừa qua tuyến tiết muối trên lá của cây mắm, cơ chế tích luỹ muối trong lá già để sau này rụng xuống ở cây bần, cây giá và cơ chế cản muối ở cây đước, vẹt…Những cơ chế này đã giúp cho các loài cây ngập mặn sinh trưởng và phát triển rất tốt trong nước biển mặn mà không một cây trồng nào trong nông nghiệp có thể sống được

8 Dịch vụ du lịch và giải trí: Cảnh quan ĐNN ven biển cung cấp rất nhiều

dịch vụ du lịch tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức, mức sống và thói quen của người dân Các dịch vụ này bao gồm đi câu cá, quan sát chim di cư, chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên…Một số nơi như Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh đã kết hợp giữa du lịch sinh thái với tham quan các di tích lịch sử chiến khu rừng Sát, tham quan vườn chim, dơi…mang lại hiệu quả cao cả về giáo dục tuyên truyền, phát triển kinh tế, xã hội

Trang 27

18

9 Dịch vụ cung cấp phương tiện và thông tin cho nghiên cứu, giáo dục, đào tạo, là nguồn cảm hứng cho thơ ca hội hoạ, giá trị nhân văn, nhân bản, bản sắc văn hoá, tôn giáo và tín ngưỡng: Một số đặc điểm sinh lý, sinh thái đặc biệt

của cây ngập mặn như tuyến tiết muối ở cây mắm, rễ thở của cây bần, rễ đầu gối của cây vẹt…đã cuốn hút rất nhiều các công trình nghiên cứu, các bài giảng sinh động cho sinh viên và học sinh

10 Các dịch vụ khác: Vận tải thuỷ trong các kênh rạch vùng ĐNN là hình

thức vận tải giao lưu hàng hoá hiệu quả, ít tốn kém so với xây dựng đường xá cầu cống trong các vùng đầm lầy mặn Hệ rễ cây ngập mặn góp phần làm cho đất tơi xốp dễ thấm nước tạo nên dịch vụ lưu giữ nguồn nước vào mùa mưa và cung cấp nước cho các vùng phụ cận vào mùa khô

1.2.3 Mối quan hệ giữa cảnh quan đất ngập nước và hệ thống kinh tế

Xem xét mối quan hệ hữu cơ giữa cảnh quan ĐNN và hệ thống kinh tế là xuất phát điểm của việc tiếp cận đánh giá các giá trị kinh tế của cảnh quan ĐNN Về

cơ bản, do các hoạt động kinh tế của con người phụ thuộc vào các điều kiện sinh thái nên khi đánh giá giá trị kinh tế của cảnh quan ĐNN phải xem xét kỹ mối quan

hệ giữa hệ thống kinh tế của con người và hệ thống cảnh quan ĐNN

Tước hết, trong cảnh quan ĐNN, luôn có sự tác động qua lại giữa các thành phần vô cơ và hữu cơ và các bộ phận cấu thành Các quá trình sinh thái trong cảnh quan bao gồm sự chuyển hóa vật chất và năng lượng Tác động qua lại giữa cấu trúc

và các quá trình hình thành nên chức năng sinh thái của cảnh quan ĐNN Đến lượt mình, các chức năng này lại cung cấp các hàng hóa, dịch vụ môi trường và mang lại lợi ích cho con người [39]

Nếu con người có sự ưa thích đối với các lợi ích nói trên và sẵn lòng chi trả

để nhận thêm một lượng lợi ích nhất định từ cảnh quan ĐNN thì các lợi ích này sẽ

có giá trị kinh tế

Trang 28

QUAN HỆ GIỮA CẢNH QUAN ĐNN

VÀ HỆ THỐNG KINH TẾ

HỆ KINH

TẾ

Trang 29

20

Như trong Hình 1.1, các chức năng sinh thái ĐNN cung cấp các hàng hóa và dịch vụ cho hệ thống kinh tế Về cơ bản, chức năng sinh thái của cảnh quan ĐNN là kết quả của sự tương tác liên tục giữa các cấu trúc và quá trình sinh thái Cũng như các chức năng của hệ sinh thái, theo Barbier (1994) chức năng của cảnh quan ĐNN gồm 4 nhóm chính: là chức năng điều tiết, chức năng cư trú, chức năng sản xuất và chức năng thông tin [39]

Bảng 1.1: Các chức năng và hàng hóa, dịch vụ sinh thái của CQ ĐNN Chức năng

điều tiết

Chức năng

cƣ trú

Chức năng sản xuất

Chức năng thông tin

Điều tiết không khí

Điều hòa khí hậu

Cung cấp nơi sinh sản

Cung cấp thực phẩm

Cung cấp nguyên liệu thô

Cung cấp nguồn gen

Cung cấp nguồn dược liệu

Chức năng điều tiết, có liên quan đến năng lực của cảnh quan ĐNN trong

việc điều tiết các quá trình căn bản của hệ và hệ thống hỗ trợ đời sống thông qua chu trình sinh địa hóa và các quá trình sinh học trong cảnh quan Bên cạnh việc duy trì hệ sinh thái trong cảnh quan, chức năng điều tiết cũng cung ứng nhiều dịch vụ mang lại lợi ích trực tiếp và gián tiếp cho con người (ví dụ: không khí, nước, dịch

vụ kiểm soát sinh thái)

Chức năng cư trú của cảnh quan ĐNN liên quan đến việc cung cấp địa bàn

cư trú và sinh sản cho các sinh vật, từ đó giúp bảo tồn và duy trì nguồn gen, đa dạng sinh học và quá trình tiến hóa

Chức năng sản xuất: quá trình quang hợp của quần xã sinh vật trong cảnh

quan chuyển hóa năng lượng, khí CO2, nước và các chất dinh dưỡng thành nhiều dạng cấu trúc cacbon Các cấu trúc này sau đó được sử dụng bởi các sinh vật để tổng hợp thành sinh khối của cảnh quan Sự đa dạng trong cấu trúc cacbon cung cấp rất nhiều hàng hóa sinh thái cho con người như thực phẩm, nguyên liệu thô hay các nguồn năng lượng

Trang 30

21

Chức năng thông tin: Cảnh quan ĐNN cung cấp nhiều thông tin cơ bản cho

đời sống tinh thần của con người như giải trí, thẩm mỹ, văn hóa, tôn giáo, khoa học, giáo dục

1.2.4 Tổng giá trị kinh tế của khu vực đất ngập nước

Tổng giá trị kinh tế của cảnh quan được chia thành hai nhóm chính là các giá

sử dụng trực tiếp ,giá trị sử dụng gián tiếp và giá trị lựa chọn

• Giá trị sử dụng trực tiếp: bao gồm những hàng hoá dịch vụ do môi trường

cảnh quan ĐNN cung cấp và có thể tiêu dùng trực tiếp như gỗ, củi, thủy sản, mật ong hay giá trị du lịch, giải trí

• Giá trị sử dụng gián tiếp: là những giá trị, lợi ích từ những dịch vụ do cảnh

quan ĐNN cung cấp và các chức năng sinh thái của các quần xã sinh vật như tuần hoàn dinh dưỡng, hấp thụ CO2, điều hoà khí hậu, phòng chống bão lũ

• Giá trị lựa chọn: về bản chất là những giá trị sử dụng trực tiếp hoặc giá trị

TỔNG GIÁ TRỊ KINH TẾ

GIÁ TRỊ PHI SỬ DỤNG GIÁ TRỊ SỬ DỤNG

Giá trị lựa chọn

Giá trị tồn tại

Giá trị lưu truyền

Trang 31

22

sử dụng gián tiếp của cảnh quan ĐNN mặc dù có thể sử dụng ở hiện tại nhưng chưa được sử dụng vì một lý do nào đó mà để lại để sử dụng ở tương lai Ví dụ giá trị du lịch, dược phẩm

b Giá trị phi sử dụng

Giá trị phi sử dụng là những giá trị bản chất, nội tại của cảnh quan ĐNN và

được chia thành giá trị tồn tại (existence value)và giá trị lưu truyền (bequest value)

• Giá trị tồn tại của cảnh quan ĐNN là giá trị nằm trong nhận thức, cảm nhận

và sự thỏa mãn của một cá nhân khi biết được các thuộc tính của cảnh quan ĐNN đang tồn tại ở một trạng thái nào đó và thường được đo bằng sự sẵn sàng chi trả của

cá nhân để có được trạng thái đó

• Giá trị lưu truyền là sự thỏa mãn nằm trong cảm nhận của cá nhân khi biết rằng tài nguyên được lưu truyền và hưởng thụ bởi các thế hệ tương lai Giá trị này cũng thường được đo bằng sự sẵn sàng chi trả của cá nhân để bảo tồn tài nguyên cho các thế hệ mai sau

Bảng 1.2: Tổng giá trị kinh tế của cảnh quan đất ngập nước

TỔNG GIÁ TRỊ KINH TẾ

GIÁ TRỊ SỬ DỤNG

GIÁ TRỊ PHI

SỬ DỤNG Giá trị sử dụng trực

tiếp

Giá trị sử dụng gián

tiếp

Giá trị lựa chọn

 Phòng chống bão lũ

 Chứa đựng và xử lý các chất ô nhiễm

 Cung cấp nơi cư trú cho động thực vật

 Ngăn chặn sự xâm nhập của nước mặn

 Hấp thụ CO2

 Nguồn dược liệu tiềm năng

 Cảnh quan tiềm năng phục vụ du

lịch

 Giá trị bảo tồn đa dạng sinh học

 Giá trị văn hóa, lịch sử

 Giá trị tôn giáo và chính trị

 Giá trị lưu

truyền

(Nguồn Đinh Đức Trường, 2010)

Trang 32

23

1.2.5 Ứng dụng lượng giá kinh tế cảnh quan đất ngập nước trong thực tiễn

Thông tin về giá trị kinh tế của ĐNN là một yếu tố đầu vào quan trọng trong quá trình ra quyết định quản lý ĐNN của các bên liên quan ở nhiều cấp độ Các ứng dụng quản lý cụ thể của thông tin về giá trị kinh tế của ĐNN gồm:

Thứ nhất, thông tin về giá trị kinh tế góp phần xây dựng các công cụ và

cơ chế quản lý hiệu quả ĐNN

Thông tin về giá trị kinh tế của cảnh quan ĐNN có thể giúp các cơ quan quản

lý xây dựng 3 nhóm công cụ quản lý gồm: (i) công cụ pháp lý; (ii) công cụ kinh tế

và (iii) cơ chế quản lý trên cơ sở cộng đồng [11] [15]

Công cụ pháp lý: Các công cụ pháp lý đặc trưng trong quản lý cảnh quan

ĐNN gồm: (i) các luật liên quan như luật tài nguyên nước, luật đa dạng sinh học, luật bảo vệ rừng, luật đất đai; (ii) các văn bản dưới luật như quy định về hạn mức đánh bắt, khai thác tài nguyên, các quy định, chương trình hành động, quy hoạch bảo tồn và sử dụng cảnh quan ĐNN; (iii) các quyết định liên quan đến sự phân định quyền tài sản cảnh quan ĐNN cho các chủ thể quản lý; ví dụ như quy định về mục đích sử dụng các loại rừng ngập mặn hay các quy định về quyền và trách nhiệm quản lý, khai thác cảnh quan ĐNN của các bên liên quan tại các vườn quốc gia, khu

bảo tồn

Các thông tin về giá trị kinh tế của cảnh quan ĐNN có thể trực tiếp và gián tiếp góp phần đề xuất và xây dựng các công cụ pháp lý nói trên Ví dụ: nhiều quốc gia đưa ra quy định về hạn mức số lượng các phương tiện đánh bắt thủy sản trên các vùng ĐNN cụ thể Để đề ra được những hạn mức nỗ lực đánh bắt này, bên cạnh các thông tin sinh học của thủy sản thì các nhà quản lý phải nắm được các thông tin về giá trị khai thác

Công cụ kinh tế: Các công cụ kinh tế sử dụng phổ biến trong quản lý cảnh

quan ĐNN gồm: các loại thuế, phí khai thác tài nguyên; giấy phép khai thác có thể chuyển nhượng; hệ thống ký quí, đặt cọc - hoàn trả trong sử dụng ĐNN; trợ cấp cho các hoạt động bảo tồn ĐNN thông qua các quỹ môi trường hoặc các cơ chế tài

chính khác

Trang 33

24

Việc thiết kế và xây dựng những công cụ trên đều rất cần các thông tin về giá trị kinh tế của ĐNN nhằm đảm bảo sự hợp lý, hiệu quả Ví dụ: nhiều quốc gia trên thế giới có quy định về thực hiện cơ chế chi trả cho dịch vụ môi trường, trong đó người sử dụng dịch vụ sinh thái phải trả tiền cho người cung cấp dịch vụ Trong trường hợp này, việc có được các thông tin về giá trị kinh tế của các dịch vụ sinh thái mà cảnh quan ĐNN cung cấp sẽ giúp các cơ quan quản lý ấn định được các mức chi trả hợp lý và có cơ sở khoa học

Quản lý trên cơ sở cộng đồng: Là một cách tiếp cận trong quản lý ĐNN,

trong đó các cơ quan quản lý trao quyền tài sản và quản lý cảnh quan ĐNN cho một cộng đồng thay vì một cá nhân Trong trường hợp này, cảnh quan ĐNN trở thành tài nguyên sở hữu chung và để quản lý hiệu quả thì cộng đồng phải tự đặt ra các luật lệ

hay nội quy quản lý

Có 8 nguyên tắc thiết kế và vận hành để đảm bảo mô hình quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng được bền vững (Ostrom, 2000), trong đó có nguyên tắc quan trọng là nguyên tắc phải cân đối và hài hòa được các chi phí và lợi ích của các thành viên trong nhóm Nguyên tắc này thường khó thực hiện trong thực tế do nhiều khi các thông tin về lợi ích và chi phí liên quan là khó xác định và lượng hóa, đặc biệt là với những lợi ích môi trường thường có những tính chất của hàng hóa công cộng là phi loại trừ và phi cạnh tranh Ví dụ: cộng đồng cùng bảo vệ rừng ngập mặn để phòng chống lũ lụt và giá trị phòng hộ do rừng ngập mặn tạo ra là hàng hóa công cộng

Thứ hai, thông tin về giá trị kinh tế góp phần xây dựng các cơ chế chi trả cho dịch vụ môi trường để bảo tồn ĐNN

Chi trả cho các dịch vụ môi trường (payment for environmental services - PES), là công cụ kinh tế, sử dụng để những người được hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái chi trả cho những người tham gia duy trì, bảo vệ và phát triển các chức năng của hệ sinh thái đó Cơ chế này cho phép những người tạo và duy trì các dịch

vụ sinh thái được nhận những khoản chi trả từ những người sử dụng dịch vụ Điều

Trang 34

25

này phù hợp với nguyên tắc Người hưởng lợi phải trả tiền (Beneficial Pay Principle) của Công ước Rio-1992.PES là cơ chế đảm bảo sự công bằng xã hội và lợi ích cho các bên tham gia, đồng thời tạo ra nguồn tài chính bền vững cho bảo tồn các giá trị sinh thái [29]

Bảng 1.3: Các loại cơ chế chi trả cho dịch vụ môi trường

Chi trả cho cảnh

quan môi trường

Du khách tới thăm những cảnh quan thiên nhiên đẹp/những khu bảo tồn, vườn quốc gia lưu trữ các giá trị cảnh quan và đa dạng sinh học Những giá trị này có thể thu được thông qua phí vào cửa hoặc trả tiền cho quyền tiếp cận

Chi trả cho bảo tồn

Nguồn [29]

Như vậy, về cơ bản, nếu có những người cung cấp dịch vụ môi trường (người bán) và các nhóm cần dịch vụ (người mua) thì có thể thiết lập một cơ chế chi trả giữa hai bên Tuy nhiên, việc thiết lập và vận hành các cơ chế PES có thể là một thách thức vì phải xây dựng hành lang pháp lý và cơ cấu tổ chức đủ mạnh nhằm

đảm bảo sự chấp hành và phân chia lợi ích một cách công bằng Đồng thời, để đề ra

các mức chi trả hợp lý thì cần phải đánh giá được giá trị kinh tế của các dịch vụ sinh thái một cách thỏa đáng

Trang 35

26

Mặc dù PES là một khái niệm mới, được đưa vào tư duy và thực tiễn bảo tồn gần một thập kỷ trở lại đây nhưng đã nhanh chóng trở nên phổ biến trên thế giới.Sự phát triển của PES ngày càng được lan rộng và ở một số nước PES còn được thể chế hoá trong các văn bản pháp luật Hiện nay, PES đã nổi lên như một giải pháp chính sách để khuyến khích, chia sẻ các lợi ích trong cộng đồng và xã hội.Các nước phát triển ở Mỹ La Tinh đã sử dụng các mô hình PES sớm nhất.Ở châu Âu, Chính phủ một số quốc gia cũng đã quan tâm đầu tư và thực hiện nhiều chương trình, mô hình PES.Ở châu Úc, Australia đã luật pháp hoá quyền phát thải cacbon từ năm 1998, cho phép các nhà đầu tư đăng ký quyền sở hữu hấp thụ cacbon của rừng PES cũng

đã được phát triển và thực hiện thí điểm tại châu Á như Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal và Việt Nam

Hiện nay, chính phủ Việt Nam chúng ta cũng đã có một khuôn khổ pháp lý

và chính sách để thực thi PES, chẳng hạn như: Luật bảo vệ môi trường; Luật bảo vệ

và phát triển rừng; Luật đất đai; Luật tài nguyên nước; Luật bảo tồn đa dạng sinh học Ngoài ra chúng ta cũng có những chế tài xử phạt hành chính, đền bù thiệt hại môi trường, và phát triển cơ chế sạch

Thứ ba, thông tin về giá trị kinh tế góp phần xây dựng và hoàn thiện cơ

sở dữ liệu phục vụ quản lý ĐNN

Xây dựng cơ sở dữ liệu về ĐNN là một trong những giải pháp quản lý quan trọng được áp dụng phổ biến trên thế giới với mục tiêu là giám sát sự biến động của ĐNN, cung cấp thông tin nền cho các quản lý để hỗ trợ quá trình ra quyết định cũng như là cơ sở để giải quyết các tranh chấp hoặc đánh giá thiệt hại ĐNN khi xảy ra các tác động từ bên ngoài Chính vì những ý nghĩa quan trọng trên mà nhiều quốc gia, khu vực đã xây dựng những cơ sở dữ liệu rất chi tiết về ĐNN để phục vụ quản lý.Ví dụ tại Australia toàn bộ 208 khu ĐNN có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế đều có cơ sở dữ liệu rất chi tiết và được phổ biến miễn phí trên mạng.Cơ sở dữ liệu ĐNN này được xây dựng trên nền của hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong đó kết hợp các dữ liệu không gian với dữ liệu thuộc tính rất tiện lợi để tra cứu, cập nhật và

sử dụng Nhìn chung, trong các hệ thống cơ sở dữ liệu về ĐNN, bên cạnh những

Trang 36

27

thông tin về địa lý, sinh thái, xã hội thì những thông tin liên quan đến giá trị kinh tế

có vai trò rất quan trọng và đòi hỏi phải được cập nhật thường xuyên vì có ý nghĩa quản lý cao

Tại Việt Nam, thu thập các thông tin liên quan và xây dựng cơ sở dữ liệu ĐNN đã được đề cập như một biện pháp quản lý then chốt tài nguyên ĐNN trong nhiều văn bản, quy định của Nhà nước, tiêu biểu là Nghị định số 109/2003/NĐ-CP của Chính phủ về bảo tồn và phát triển các vùng ĐNN và Chiến lược quốc gia về Bảo vệ môi trường đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 Quyết định số 04/2004/QĐ-BTNMT ngày 05/04/2004 của Bộ trưởng Bộ TNMT Những văn bản này đã nhấn mạnh vai trò của các vùng ĐNN, đưa ra được các mục tiêu cụ thể, các chương trình và dự án ưu tiên để bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN ở Việt Nam, trong đó xây dựng cơ sở dữ liệu ĐNN là một Chương trình quan trọng của Kế hoạch hành động

Bảng 1.4: Quy định về xây dựng cơ sở dữ liệu ĐNN của Bộ TNMT

Chương trình 2: Kiểm kê, xây dựng cơ sở dữ liệu và lập quy hoạch về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN

 Kiểm kê và cập nhật định kỳ hiện trạng ĐNN (diện tích, phạm vi phân bố, số lượng, loại hình, giá trị, chức năng,.v.v ) để làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng, bảo tồn và quản lý ĐNN theo tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế

 Điều tra các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, đa dạng sinh học tại các vùng ĐNN có tầm quan trọng; xác định và lập danh sách các vùng ĐNN có tầm quan trọng quốc tế và quốc gia, các vùng ĐNN bị đe dọa

 Xây dựng và cập nhật thường xuyên cơ sở dữ liệu về các vùng ĐNN làm căn cứ cho việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng ĐNN cho các mục đích bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN

 Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững từng vùng ĐNN, bao gồm: xác định phương hướng, mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững; xác định phạm vi và diện tích vùng ĐNN; xác định nội dung bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN; xác định các biện pháp chính về bảo tồn và PTBV vùng ĐNN

Nguồn: [2]

Trang 37

Thực tế cho thấy sự thay đổi hành vi trong quản lý ĐNN theo hướng bền vững chỉ có thế đạt được khi đối tượng truyền thông có những hiểu biết và thái độ mạnh mẽ, sâu sắc về vai trò, giá trị của ĐNN cũng như lợi ích của việc bảo vệ ĐNN Các thông tin về giá trị kinh tế hỗ trợ rất nhiều trong việc định hình thái độ quản lý và sử dụng ĐNN bởi những thông tin này thường rất gần gũi, dễ nhớ, dễ suy ngẫm và sử dụng với nhiều nhóm đối tượng quản lý ĐNN khác nhau Từ đó, thông tin về giá trị kinh tế có thể là một chất liệu quan trọng cần phải được lồng ghép trong các chương trình giáo dục và truyền thông ĐNN

Ở Việt Nam, Nghị định 109/2003/NĐ-CP của Chính phủ về Bảo tồn và phát triển bền vững ĐNN và Kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN của Bộ TNMT đều nhấn mạnh nâng cao nhận thức ĐNN là một ưu tiên hàng đầu trong chương trình hành động quản lý

1.3 Quan điểm, phương pháp và quy trình nghiên cứu

1.3.1 Quan điểm nghiên cứu

Các quan điểm nghiên cứu cảnh quan khu vực ĐNN Đồng Rui gồm: quan điểm hệ thống và tổng hợp, quan điểm lịch sử viễn cảnh, quan điểm phát triển bền vững

a Quan điểm hệ thống và tổng hợp: Theo quan điểm này, các đối tượng

nghiên cứu được xem xét một cách tổng hợp và xét trong mối quan hệ tác động qua

Trang 38

29

lại lẫn nhau Không những xem xét các yếu tố, các hợp phần vô cơ mà các yếu tố hợp phần hữu cơ Cảnh quan như một hệ thống nhiều hợp phần tác động qua lại lẫn nhau (địa chất, địa hình, khí hậu, đất, nước, động thực vật) bởi dòng vật chất và năng lượng Các cảnh quan này có sự biến đổi theo không gian và thời gian Khu

vực nghiên cứu Đồng Rui cũng bao gồm nhiều cảnh quan khác nhau

b Quan điểm lịch sử - viễn cảnh: Theo quan điểm này, cảnh quan được

nghiên cứu theo các khía cạnh biến đổi cảnh quan theo thời gian do tác động của các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội và có thể dự báo được trạng thái của cảnh quan trong thời gian tương lai nhất định Kết quả nghiên cứu theo quan điểm này sẽ cho

phép lượng giá kinh tế các cảnh quan và đề xuất các giải pháp quản lý thích hợp

c Quan điểm phát triển bền vững: Theo quan điểm này, việc khai thác và sử

dụng cảnh quan phải đảm hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả về môi trường Vì vậy, khi khai thác các giá trị cảnh quan của khu vực để phục vụ phát triển phải song hành với việc đảm bảo cuộc sống sinh kế, ổn định xã hội cho người dân

ven biển đồng thời cũng bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu được sử dụng

Trong quá trình thực hiện, luận văn đã sử dụng một số phương pháp sau:

1 Phương pháp kế thừa: luận văn kế thừa các tài liệu, tư liệu, kết quả của các

công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế để khái quát và hệ thống hóa cơ sở lý luận của việc lượng giá kinh tế đất ngập nước Và một số tài liệu và kết quả đã được nghiên cứu tại khu vực nghiên cứu

2 Phương pháp chuyên gia: được sử dụng để đánh giá ưu nhược điểm của

một số phương pháp, quy trình lượng giá kinh tế ĐNN đã áp dụng tại Việt Nam; nhận diện và lựa chọn các giá trị kinh tế quan trọng của cảnh quan ĐNN Đồng Rui; xây dựng và hoàn thiện các bảng hỏi thu thập thông tin

3 Phương pháp điều tra xã hội học: được thực hiện chủ yếu tại hiện trường

nghiên cứu với các đối tượng gồm các cơ sở nuôi trồng thủy sản, người dân, các nhà quản lý nhằm thu thập các dữ liệu đầu vào Tác giả đã điều tra được 50 phiếu

Trang 39

30

4 Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý thống kê: Các biện pháp và quy

trình quản lý sẽ được đề xuất dựa trên những kết quả phân tích và tổng hợp.các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập được xử lý bằng phần mềm thống kê MFIT3 và Excel;

5 Phương pháp lượng giá kinh tế: gồm 3 phương pháp chính sau: phương

pháp giá thị trường (MP); phương pháp chi phí thiệt hại tránh được; phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)

a Phương pháp giá thị trường (MP)

Phương pháp này dùng để đánh giá: giá trị thủy sản (bao gồm khai thác bãi triều và đánh bắt trong đầm nuôi) và giá trị tồn tại (hay đa dạng sinh học)

Giá trị thuỷ sản khai thác bãi triều (TS1)

Để đánh giá khả năng cung cấp nguồn lợi hải sản của một khu vực này, luận văn đã tiến hành đánh giá như sau:

- Bước 1: Điều tra đại diện số người trên tổng số lượng người đi khai thác

- Bước 2: Tính sản lượng khai thác trung bình của 1 người trong năm và tổng sản lượng khai thác của tổng số người trong năm

- Bước 3: Tính tổng doanh thu thuỷ sản trung bình trong 1 năm

Giá trị thuỷ sản đánh bắt trong đầm nuôi (TS 2 )

Giá trị này được tiến hành như sau:

- Bước 1: Điều tra 1 số cảnh quan đầm nuôi thủy sản trong tổng số cảnh quan đầm nuôi của vùng

- Bước 2: Tính năng suất đánh bắt được đối với từng loài thủy sản và tổng doanh thu thuỷ sản trong các cảnh quan đầm nuôi

- Bước 3: Tính tổng chi phí nuôi thuỷ sản trên 1 ha trong 1 năm

Bao gồm:Chi phí con giống; Chi phí thuê đầm hàng năm; Chi phí tu sửa đầm hàng năm

- Bước 4: Tính giá trị kinh tế trung bình của thuỷ sản trong toàn bộ diện tích cảnh quan đầm nuôi của vùng trong 1 năm

 Vậy giá trị thuỷ sản: TS = TS1 + TS2

Trang 40

31

Giá trị tồn tại (EV)

Đây là giá trị rất khó đo lường vì giá trị tồn tại bao gồm các đánh giá mang tính chủ quan của mỗi cá nhân Sự đo lường kinh nghiệm thường được xác định dựa trên sự viện trợ của các tổ chức bảo tồn thiên nhiên trong và ngoài nước

- Bước 1: Thu thập số liệu về các dự án đầu tư với mục đích bảo tồn tài nguyên thiên nhiên của vùng nghiên cứu trong những năm vừa qua

- Bước 2: Quy đổi dòng tiền của các dự án về thời điểm tính toán

- Bước 3: Xác định tổng vốn đầu tư trung bình hàng năm cho vùng nghiên cứu

b Phương pháp chi phí thiệt hại tránh được

Rừng ngập mặn đóng vai trò như một “tấm đệm” chắn sóng có khả năng bảo

vệ giảm bớt thiệt hại của bão gây ra cho đê biển, giúp duy trì được tính bền vững của đê Hiện nay để tính giá trị phòng hộ thiên tai của đê biển, phương pháp được sử dụng phổ biển là chi phí thiệt hại tránh được Phương pháp này được xây dựng trên giả định là nếu con người phải gánh chịu những chi phí khi một dịch vụ môi trường nào

đó mất đi (chi phí này có thể là những thiệt hại về vật chất có nguyên nhân từ sự mất đi của dịch vụ môi trường hoặc chi phí để phục hồi lại dịch vụ môi trường đã mất) thì dịch vụ môi trường sẽ có giá trị nhỏ nhất bằng tổng chi phí mà con người phải chi trả để có dịch vụ tương đương

Để ước lượng được giá trị phòng hộ đê biển của cảnh quan ĐNN Đồng Rui, luận văn tiến hành thu thập chi phí tu bổ bảo dưỡng thường niên của đê biển trong khoảng thời gian 8 năm trở lại đây Giá trị phòng hộ đê biển trung bình của một ha RNM được tính như sau:

B = C/S

B: là giá trị phòng hộ trung bình của một ha RNM

C: Tổng chi phí tránh được cho việc tu bổ tuyến đê có RNM bảo vệ

S: Tổng diện tích rừng ngập mặn

Ngày đăng: 18/07/2017, 19:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lê Thanh An (2012) “Ước lượng lợi ích du lịch của vườn quốc gia Bạch Mã- Việt Nam, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, tập 72B, 3/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ước lượng lợi ích du lịch của vườn quốc gia Bạch Mã-Việt Nam
[2]. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2004),Quyết định số 04/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt kế hoạch hành động về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN giai đoạn 2004-2010. Hà Nội : s.n Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 04/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt kế hoạch hành động về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN giai đoạn 2004-2010
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2004
[3]. Lưu Thị Bình (2007),Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng ở xã Đồng Rui huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh.Đại học Khoa học Tự nhiên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng ở xã Đồng Rui huyện Tiên Yên tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Lưu Thị Bình
Năm: 2007
[4]. Nguyễn Thế Chinh và Đinh Đức Trường (2002), Đánh giá thiệt hại kinh tế do ô nhiễm tại khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên, Báo cáo dự án, Bộ Giáo dục và đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thiệt hại kinh tế do ô nhiễm tại khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thế Chinh và Đinh Đức Trường
Năm: 2002
[5]. Trần Ngọc Cường, Trần Huyền Trang (2008), Phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn, trường hợp điển hình tại xã Đông Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, Báo cáo dự án, Bộ Tài nguyên và Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn, trường hợp điển hình tại xã Đông Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Trần Ngọc Cường, Trần Huyền Trang
Năm: 2008
[6]. Lê Diên Dực (2006), Hệ thống phân loại Đất ngập nước Việt Nam. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống phân loại Đất ngập nước Việt Nam
Tác giả: Lê Diên Dực
Năm: 2006
[7]. Đinh Thanh Giang (3/2015), Sinh trưởng của các loài cây trồng trong mô hình phục hồi Rừng ngập mặn ở đầm nuôi tôm bỏ hoang tại xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh. Tạp chí KHLN, Viện KHLNVN-VAFS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh trưởng của các loài cây trồng trong mô hình phục hồi Rừng ngập mặn ở đầm nuôi tôm bỏ hoang tại xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
[8]. Trần Thị Thu Hà, Vũ Tấn Phương (2005), Đánh giá giá trị cảnh quan của Vườn quốc gia Ba Bể và khu du lịch hồ Thác Bà. Trung tâm nghiên cứu sinh thái môi trường rừng, Viện KHLN Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá giá trị cảnh quan của Vườn quốc gia Ba Bể và khu du lịch hồ Thác Bà
Tác giả: Trần Thị Thu Hà, Vũ Tấn Phương
Năm: 2005
[9]. Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh (1997), Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý Tài nguyên thiên nhiên, Bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam , Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý Tài nguyên thiên nhiên, Bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1997
[10]. Trương Quang Hải, Nguyễn Thị Hải (2006), Giáo trình Kinh tế môi trường, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế môi trường
Tác giả: Trương Quang Hải, Nguyễn Thị Hải
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
[11]. Lưu Đức Hải (2008), Cẩm nang quản lý môi trường, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang quản lý môi trường
Tác giả: Lưu Đức Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2008
[12]. Lê Thu Hoa, Hoàng Thị Chiến (2008), Lượng giá kinh tế một số giá trị của hệ sinh thái rừng ngập mặn Phù Long - Cát Hải - Hải Phòng, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lượng giá kinh tế một số giá trị của hệ sinh thái rừng ngập mặn Phù Long - Cát Hải - Hải Phòng
Tác giả: Lê Thu Hoa, Hoàng Thị Chiến
Năm: 2008
[13]. Lê Thu Hoa, Ngô Thanh Mai, Nguyễn Diệu Hằng (2006), Đánh giá lợi ích của hoạt động nuôi tôm tại Giao Thủy, Nam Định. Chương trình Kinh tế môi trường Đông Nam Á (EEPSEA), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá lợi ích của hoạt động nuôi tôm tại Giao Thủy, Nam Định
Tác giả: Lê Thu Hoa, Ngô Thanh Mai, Nguyễn Diệu Hằng
Năm: 2006
[14]. Mai Trọng Hoàng (2014), Nghiên cứu đánh giá tính đa dạng sinh học và chức năng sinh thái rừng ngập mặn Tiên Yên – Hà Cối, tỉnh Quảng Ninh”. Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá tính đa dạng sinh học và chức năng sinh thái rừng ngập mặn Tiên Yên – Hà Cối, tỉnh Quảng Ninh”
Tác giả: Mai Trọng Hoàng
Năm: 2014
[15]. Nguyễn Đình Hòe (2009), Môi trường và phát triển bền vững, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường và phát triển bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2009
[16]. Nguyễn Đăng Hội và nnk (2015), Đặc điểm cấu trúc các quần xã thực vật rừng ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, Đại học Khoa học Tự nhiên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm cấu trúc các quần xã thực vật rừng ngập mặn xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Nguyễn Đăng Hội và nnk
Năm: 2015
[17]. Phan Nguyên Hồng (1996), Rừng ngập mặn Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng ngập mặn Việt Nam
Tác giả: Phan Nguyên Hồng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
[18]. Nguyễn Thị Minh Huyền (2008),Nghiên cứu áp dụng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên cho một số hệ sinh thái tiêu biển ven biển Việt Nam và đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững.Viện tài nguyên và môi trường biển, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu áp dụng phương pháp lượng giá kinh tế tài nguyên cho một số hệ sinh thái tiêu biển ven biển Việt Nam và đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Huyền
Năm: 2008
[21]. Nguyễn Thành Long (1993), Nghiên cứu xây dựng bản đồ cảnh quan các tỷ lệ trên lãnh thổ Việt Nam. NXB Viện Khoa học Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng bản đồ cảnh quan các tỷ lệ trên lãnh thổ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thành Long
Nhà XB: NXB Viện Khoa học Việt Nam
Năm: 1993
[23]. Phạm Khánh Nam (2001), Đánh giá giá trị giải trí của khu bảo tồn biển HònMun - Nha Trang, Chương trình Kinh tế môi trường Đông Nam Á (EEPSEA) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá giá trị giải trí của khu bảo tồn biển HònMun - Nha Trang
Tác giả: Phạm Khánh Nam
Năm: 2001

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w