Để tổ chức, triển khai các sự kiện du lịch một cách hiệu quả, ngành du lịch thành phố đã đề cao và nâng cao tính chuyên nghiệp bằng cách tìm hiểu nhu cầu của người tiêu dùng du lịch tron
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS.NGUYỄN VĂN SÁNG
TP Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan Luận văn “Phát triển du lịch Tp Hồ Chí Minh trong hội nhập quốc tế giai đoạn 2016 - 2025”, là công trình nghiên cứu của riêng tôi, những nội dung
trong luận văn được đúc kết từ quá trình nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn, số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Luận văn được thực hiện dưới
sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Văn Sáng Tôi xin chân thành cảm ơn thầy TS Nguyễn Văn Sáng đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả
Nguyễn Thị Thuý Vân
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ 7
1.1 Những khái niệm, đặc điểm cơ bản về du lịch, sản phẩm du lịch và thị trường du lịch: 7
1.1.1 Du lịch và sản phẩm du lịch 7
1.1.1.1 Du lịch 7
1.1.1.2 Sản phẩm du lịch 10
1.1.2 Thị trường du lịch 13
1.1.2.1 Khái niệm thị trường du lịch 13
1.1.2.2 Đặc điểm cơ bản của thị trường du lịch 15
1.2 Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về ngành dịch vụ, du lịch 15
1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch 18
1.4 Nhân tố tác động đến sự phát triển của du lịch trong hội nhập quốc tế 20
1.4.1 Sản phẩn du lịch 20
1.4.2 Nguồn nhân lực cho phát triển du lịch 22 1.4.3 Cơ sở hạ tầng vật chất, kỹ thuật và thu hút vốn đầu tư cho phát triển du lịch 22
Trang 51.4.4 Quản lý nhà nước trong phát triển du lịch 24
1.4.5 Hoạt động quảng bá, tiếp thị cho phát triển du lịch 27
1.5 Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số thành phố và bài học cho phát triển du lịch TP HCM 29
1.5.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số thành phố 29
1.5.1.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch của thành phố Băng Cốc – Thái Lan 29
1.5.1.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch của thành phố Kulalamper - Malaysia: 30
1.5.1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch của thành phố Hà Nội – Việt Nam 30
1.5.1.4 Kinh nghiệm phát triển du lịch của Thành phố Đà Nẵng – Việt Nam 31
1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho phát triển du lịch của TP.HCM 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH DU LỊCH 38
2.1 Tổng quan hoạt động của ngành du lịch TP HCM thời gian qua 38
2.1.1 Về lượng khách du lịch đến TP HCM 38
2.1.2 Tổng doanh thu từ hoạt động du lịch trên địa bàn TP HCM 42
2.2 Đánh giá thực trạng hoạt động của ngành du lịch TP HCM thời gian qua 43
2.2.1 Thực trạng sản phẩm du lịch của TP.HCM 43
2.2.2 Thực trạng hoạt động quảng bá, tiếp thị về du lịch 47
2.2.3 Thực trạng về cơ sở hạ tầng vật chất, kỹ thuật và đầu tư phục vụ du lịch trên địa bàn thành phố 50
2.2.4 Thực trạng về nguồn nhân lực phục vụ du lịch 54
2.2.5 Thực trạng về tổ chức quản lý hoạt động du lịch 57
2.2.6 Đánh giá về kết quả đạt được, hạn chế và những vấn đề đặt ra đối với ngành du lịch TP HCM trong hội nhập quốc tế 59
2.2.6.1 Những kết quả đạt được 59
2.2.6.2 Những hạn chế, yếu kém 60
2.2.6.3 Những vấn đề đặt ra đối với ngành du lịch TP.HCM 62
Trang 6CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ GIAI ĐOẠN
2016 - 2025 65
3.1 Định hướng phát triển du lịch TP HCM trong hội nhập quốc tế 65
3.1.1 Xu hướng phát triển du lịch của thế giới và khu vực 65
3.1.2 Định hướng và mục tiêu phát triển du lịch TP HCM trong hội nhập quốc tế 66 3.1.2.1 Định hướng phát triển du lịch TP HCM 66
3.1.2.2 Mục tiêu phát triển du lịch TP.HCM 73
3.2 Giải pháp phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh trong hội nhập quốc tế giai đoạn 2016 - 2025 75
3.2.1 Giải pháp mở rộng thị trường, liên kết để phát triển du lịch TP HCM trong hội nhập quốc tế 75
3.2.2 Giải pháp phát triển sản phẩm du lịch 76
3.2.3 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực cho du lịch thành phố 78
3.2.4 Giải pháp về phát triển cơ sở vật chất và đầu tư cho phát triển du lịch 80
3.2.5 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý ngành du lịch thành phố 82
3.2.6 Giải pháp xúc tiến quảng bá, tiếp thị du lịch 83
3.3 Một số đề xuất và kiến nghị 88
3.3.1 Đề xuất và kiến nghị Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan 88
3.3.2 Đề xuất và kiến nghị UBND Tp HCM 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GDP: Tổng thu nhập quốc nội
TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
ITE-HCMC: Hội chợ du lịch Quốc tế TP.HCM
Escap: Ủy Ban Kinh tế - Xã hội châu Á – Thái Bình Dương UBND: Uỷ ban nhân dân
NQ-TW: Nghị quyết Trung ưng
TB-BCT: Thông báo Bộ Công Thương
QĐ-TTg: Quyết định Thủ tướng
UNWTO: Tổ chức Du lịch Thế giới
IUOTO: Tổ chức du lịch quốc tế
IUCN: Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Thế Giới
WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới
MEET-BIS: Tổ chức phi chính phủ ở Hà Nội VN
APEC: Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương ĐVT: Đơn vị tính
ASEAN: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
MICE: Du lịch hội nghị
ASEM: Hợp tác Á – Âu
HTV7, HTV9: Đài truyền hình TP HCM
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê số lượng khách du lịch quốc tế đến thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2015 38 Bảng 2.2: Thống kê số lượng khách quốc tế đến TP.HCM so với cả nước giai đoạn
2011 – 2015 39 Bảng 2.3 Thống kê top 10 thị trường khách quốc tế đến TP.HCM Giai đoạn 2014 –
2015 40 Bảng 2.4 Thống kê số lượng khách nội địa đến TPHCM so với cả nước Giai đoạn
2011 – 2015 42 Bảng 2.5 Thống kê tổng thu du lịch TP.HCM giai đoạn 2011 – 2015 43 Bảng 2.6: Thống kê số lượng cơ sở mua sắm trên địa bàn TPHCM Giai đoạn 2011-2015 45 Bảng 2.7: Số lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch trên địa bàn TPHCM Giai đoạn 2011-2015 55 Bảng 2.8: Số lượng hướng dẫn viên phân theo ngôn ngữ trên địa bàn TPHCM giai đoạn 2011-2015 55 Bảng 2.9: Số lượng cơ sở đào tạo du lịch trên địa bàn TPHCM Giai đoạn 2011-
2015 56
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế, văn hoá của cả nước với
hơn 300 năm hình thành và phát triển, TP HCM là nơi hội tụ nhiều giá trị du lịch với các công trình kiến trúc, di tích lịch sử, các yếu tố văn hóa dân gian Đây cũng
là một trong những thành phố dẫn đầu cả nước về thu hút khách du lịch Những năm qua, ngành du lịch của thành phố luôn giữ vị trí, vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đã đạt được nhiều kết quả khả quan Trong những năm gần đây, lượng khách du lịch quốc tế đến TP HCM gia tăng đáng kể, góp phần nâng cao vị thế du lịch của thành phố trong khu vực Đông Nam Á và thế giới Trong 7 tháng đầu năm 2015, tổng lượng khách quốc tế đến thành phố ước đa ̣t 2.392.648 lượt, tăng 9,1 % so với cùng kỳ, và đạt 54,3% kế hoạch năm 2015 (4.400.000 lượt) Tổng thu du lịch Thành phố (lữ hành, khách sạn, nhà hàng) ước đạt 51.965 tỷ đồng, tăng 8,5% so với cùng kỳ Công suất phòng của các khách sạn lớn dần tăng trở lại tính thời điểm từ tháng 5 đến tháng 7/2015 như: khách sạn Caravelle từ 46,9% lên 59,8%, khách sạn Sheraton từ 64,3% lên 72,1%, khách sạn Windsor Plaza từ 45,9% lên 61,2%, khách sạn Rex từ 55% lên 58% Riêng trong năm 2015, thành phố đã đón hơn 19,3 triệu lượt khách du lịch trong nước và 4,6 triệu lượt khách du lịch quốc tế, chiếm khoảng 57% lượt khách quốc tế
đến Việt Nam Doanh thu từ du lịch của thành phố trong năm 2015 đạt 94.600 tỷ
đồng, tương đương 4,2 tỷ USD, chiếm 9,88% GDP của thành phố và 30,2% doanh thu du lịch của cả nước (Nguồn: Sở Du lịch Tp HCM, năm 2015)
Trong những năm qua, ngành du lịch TP HCM cũng đã nỗ lực và sáng tạo tổ chức có định kỳ một số sự kiện du lịch mang tầm vóc quốc gia và quốc tế, dần khẳng định thương hiệu riêng, độc đáo của mình Để tổ chức, triển khai các sự kiện
du lịch một cách hiệu quả, ngành du lịch thành phố đã đề cao và nâng cao tính chuyên nghiệp bằng cách tìm hiểu nhu cầu của người tiêu dùng du lịch trong và ngoài nước, để từ đó xác định được những hoạt động, sự kiện cần được xây dựng và đầu tư chiều sâu, như những sự kiện du lịch lớn của thành phố: Hội chợ du lịch
Trang 10quốc tế ITE-HCMC, Ngày hội du lịch, Lễ hội trái cây Nam Bộ, Liên hoan món ngon các nước
Nhằm phát triển ngành du lịch đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, TP HCM
đã tăng cường liên kết với các quốc gia trên thế giới, các nước trong khu vực, cũng như các địa phương trong cả nước về đầu tư phát triển cơ sở vật chất du lịch và sản phẩm du lịch, liên kết với các công ty du lịch quốc tế về khai thác thị trường khách
du lịch, quảng bá xúc tiến du lịch Thành phố cũng đã thu hút nhiều doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư phát triển cơ sở lưu trú du lịch cao cấp, đạt tiêu chuẩn quốc
tế Các doanh nghiệp du lịch đã từng bước xây dựng thương hiệu vững mạnh, xây dựng chuỗi giá trị ngành
Tuy nhiên, ngành du lịch TP HCM cũng còn nhiều tồn tại cần vượt qua Tài nguyên du lịch đang đứng trước thách thức bị cạn kiệt vì sự khai thác chưa hợp lý Mặc dù thành phố có không ít tài nguyên du lịch như các công trình kiến trúc cổ, các di tích lịch sử (trong đó có nhiều di tích được xếp hạng Nhà nước), hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ, Khu du lịch Vườn Cò Thủ Đức, Khu du lịch Đầm Sen…song để ngày càng có nhiều sản phẩm đa dạng, phong phú, tăng sức hấp dẫn thu hút khách du lịch đến thành phố, kéo dài thời gian lưu trú, nâng mức chi tiêu của khách du lịch là một bài toán không dễ dàng Trong thực tế, lượng khách trở lại thành phố lần thứ hai vì mục đích du lịch chưa cao Bên cạnh đó, nguồn nhân lực ngành du lịch thành phố đang đứng trước thách thức phải nhanh chóng nâng cao trình độ chuyên môn và quản lý một cách chuyên nghiệp để đáp ứng yêu cầu phát triển, đặc biệt là đáp ứng nhu cầu của khách du lịch quốc tế TP HCM là đầu mối giao thông của các tỉnh, thành phía Nam (bao gồm đường sắt, đường bộ, đường thủy và đường không), là trung tâm chuyển khách du lịch quan trọng nhất nước ta song hiện nay mạng lưới giao thông của thành phố cũng đang đứng trước nhiều vấn
đề nan giải, ảnh hưởng đến việc xây dựng và thiết kế các tuyến du lịch liên kết với các vùng, các nước trên thế giới
Trong quá trình hội nhập quốc tế, đặc biệt là từ khi là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), là thành viên của APEC, thực hiện cam
Trang 11kết với các nước ASEAN… đã đặt ngành du lịch thành phố trước những cơ hội và thách thức to lớn Ngoài ra, để du lịch TP HCM phát triển tương xứng với tiềm năng, thế mạnh, thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, cần phải có một chiến lược phát triển tổng thể, từ đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu chuyên sâu về phát triển du lịch TP HCM trong bối cảnh hội nhập quốc tế Vì vậy, tác giả lựa chọn đề
tài nghiên cứu: “Phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh trong hội nhập quốc
tế giai đoạn 2016 -2025” qua đó góp phần đề xuất các giải pháp khắc phục những
khó khăn, bất cập và phát huy các lợi thế nhằm nâng cao hiệu quả phát triển ngành
du lịch thành phố trong hội nhập quốc tế
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Một số công trình nghiên cứu về du lịch liên quan đến phát triển du lịch TP HCM được tác giả kế thừa trong luận văn, tiêu biểu như:
- Luận án tiến sĩ “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020” của tác giả Nguyễn Cao Trí, 2011 đã phân tích hệ thống đánh giá năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp du lịch tại TP HCM trong mối liên hệ với ngành du lịch của các địa phương khác, bài nghiên cứu đã vận dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu và lý thuyết cạnh tranh để xác định và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp du lịch
- Đề tài nghiên cứu “Kinh tế du lịch ở các tỉnh Bắc Trung Bộ trong hội nhập kinh tế quốc tế” (Nguyễn Thị Hồng Lâm, 2013) đã đánh giá một cách đầy đủ và chi tiết về thực trạng phát triển du lịch vùng Bắc Trung Bộ, phân tích những thành tựu
và hạn chế, tìm ra những nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến các kết quả trên Từ cơ sở những điểm còn hạn chế bài nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp mang tính tổng hợp và đồng bộ từ phát triển sản phẩm du lịch, giải pháp về đầu tư, liên kết du lịch đến giải pháp phát triển bền vững…đối với kinh tế du lịch vùng Bắc Trung Bộ
Trang 12- Tư liệu “Hội nghị Quốc tế về du lịch bền vững ở Việt Nam” do Tổng cục Du lịch Việt Nam kết hợp với Quỹ Hanns Seidel (CHLB Đức) được tổ chức tại Huế, tháng 5/1997
- Hội thảo khoa học “Du lịch sinh thái với phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam” diễn ra tại Hà Nội, tháng 4/1998
- Hội thảo “Xây dựng chiến lược Quốc gia về phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam” được tổ chức vào tháng 9/1999, tại Hà Nội, do Tổng cục Du lịch phối hợp với Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (IUCN) và Ủy ban Kinh tế - Xã hội châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP)
- Tại Diễn đàn Du lịch Á Âu (ASEM 2008) lần thứ 3 với chủ đề “Tăng cường quan hệ đối tác Á Âu vì sự phát triển du lịch bền vững” đã được tổ chức tại Việt Nam trong tháng 9/2008
- Hội thảo Quốc tế về “Quản trị du lịch sinh thái cộng đồng”, ngày 12/5/2010, tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, do Học viện MêKông (Thái Lan) và Trường Cao đẳng nghề Du lịch Huế phối hợp tổ chức
- Hội thảo khoa học với chủ đề: “Hướng dẫn phát triển du lịch có trách nhiệm” tháng 6/2012, do Tổng cục Du lịch đã phối hợp cùng Cơ quan Hợp tác Quốc tế Tây Ban Nha tổ chức
- Hội thảo khoa học nằm trong khuôn khổ dự án “Tăng cường cho ngành Du lịch Việt Nam” trong thực hiện “Chiến lược phát triển Du lịch giai đoạn 2011 -
2020, tầm nhìn 2030”
- Hội thảo “Du lịch xanh nhằm hướng tới phát triển du lịch Việt Nam bền vững” tháng 4/2013, dự án MEET-BIS đã phối hợp với Tổng cục Du lịch tổ chức, trong đó, rất nhiều tham luận được trình bày về cơ sở lí luận và những kinh nghiệm thực tiễn phát triển Du lịch của Việt Nam theo hướng bền vững và gắn với hội nhập quốc tế
Các công trình nghiên cứu nêu trên đều có những giá trị về lý luận và thực tiễn nhất định đối với phát triển ngành du lịch Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và hoàn thiện về phát triển du lịch TP HCM trong hội nhập quốc
Trang 13tế, đặc biệt là từ khi Việt Nam trở thành viên chính thức của WTO, tham gia APEC
và hội nhập sâu vào nền kinh tế của khu vực và thế giới
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng ngành du lịch TP HCM, tác giả đã đề xuất những chính sách và giải pháp phát triển ngành du lịch TP HCM đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
- Kiến nghị đối với Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan và UBND thành phố những cơ chế, chính sách phù hợp để phát triển du lịch TP HCM đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự phát triển của ngành du lịch thành phố
Hồ Chí Minh trong hội nhập quốc tế
Phạm vi nghiên cứu là thực trạng hoạt động của ngành du lịch trên địa bàn
TP HCM trong giai đoạn 2005 – 2015, từ đó đề xuất các chính sách và giải pháp cho phát triển du lịch TP.HCM trong hội nhập quốc tế giai đoạn 2016 - 2025
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu bao gồm: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp trừu tượng hoá khoa học, phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: phân tích so sánh, đối chiếu (các chỉ số phát triển du lịch TP HCM qua các thời kỳ qua đó kết luận, đánh giá về động thái phát triển…); phương pháp phân tích số liệu thống kê thứ cấp có tính điển hình
Phương pháp tiếp cận nghiên cứu bao gồm: nghiên cứu sự phát triển du lịch
TP HCM gắn với quá trình hội nhập quốc tế
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, phụ lục Luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển du lịch trong hội nhập quốc tế
Chương 2: Thực trạng hoạt động của ngành du lịch Thành phố Hồ Chí Minh trong hội nhập quốc tế thời gian qua
Trang 14Chương 3: Phương hướng và giải pháp phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh trong hội nhập quốc tế giai đoạn 2016 - 2025
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG HỘI
Có nhiều khái niệm về du lịch theo Michael M.Coltman (2003) cho rằng: Du
li ̣ch là quan hệ tương hỗ do sự tương tác của bốn nhóm: du khách, cơ quan cung ứng
du li ̣ch, chính quyền và dân cư tại các điểm đến du li ̣ch tạo nên
- Theo Tổ chức Du lịch Quốc tế (IUOTO - International Union of Official
Travel Organization): Du li ̣ch được hiểu là hoạt động du hành đến nơi khác với đi ̣a điểm cư trú của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống
- Hội nghi ̣ Liên Hợp Quốc về du li ̣ch ho ̣p ở Roma-Italia (21/8 - 5/9/1963): “Du
li ̣ch là cả một quy trình gồm tất cả các hoạt động của du khách từ lúc dự trù chuyến đi cho đến lúc di chuyển và đến nơi cư trú, ăn ở, mua sắm, giải trí, giao tiếp, nghỉ ngơi… đến lúc trở về nhà và hồi tưởng” Định nghĩa này được đánh giá là đầy đủ vì vừa chỉ rõ
được nhu cầu, mục đích của du khách và nội dung của hoa ̣t động du li ̣ch
- Hội nghi ̣ quốc tế về thống kê du li ̣ch ở Ottawa, Canada, 24-28/6/1991 đã đưa
ra đi ̣nh nghĩa về du li ̣ch như sau: “Du li ̣ch là các hoạt động của con người đi tới một
nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du li ̣ch quy đi ̣nh trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi của
vùng tới thăm”
Theo Luật du lịch Việt Nam: Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi
cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoản thời gian nhất định
Từ góc độ nghiên cứu chúng tôi đưa ra đi ̣nh nghĩa: Du li ̣ch là một ngành kinh
doanh tổng hợp bao gồm các hoạt động tổ chức, hướng dẫn du li ̣ch, sản xuất trao đổi
Trang 16hàng hoá và di ̣ch vụ của những tổ chức, xí nghiệp đặc biệt, nhằm đáp ứng nhu cầu về
đi lại, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí và các nhu cầu khác của khách du li ̣ch
Từ khái niệm trên, cho chúng ta thấy du lịch không chỉ đơn thuần của một hoạt động, mà tổng hoà nhiều mối quan hệ và hiện tượng nảy sinh từ điều kiện và tác động qua lại giữa các đối tượng là khách du lịch, tài nguyên du lịch và ngành du lịch Nhu cầu du lịch của người du lịch là yếu tố dẫn đến sự phát sinh của toàn bộ hoạt động du lịch Đối tượng trực tiếp của du lịch là di tích, cảnh quan và vật mua sắm Sự tiếp xúc qua lại và tác động lẫn nhau giữa người du lịch và tài nguyên du lịch thông qua một cơ chế thị trường để tiến hành vận động mới có thể thực hiện, vì thế ngành du lịch làm trung gian môi giới giữa hai đối tượng ấy, làm hình thành thị trường du lịch, làm hài hòa và thực hiện quan hệ giữa sự tiêu dùng của người du lịch và khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch
Bên cạnh, du lịch là một hoạt động của con người được diễn ra ngoài nơi cư trú thường xuyên, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghĩ dưỡng trong một thời gian nhất định Đồng thời, từ khái niệm về du lịch cho ta thấy rõ hơn
du lịch là tổng hợp các mối quan hệ giữa khách du lịch, tài nguyên du lịch và ngành quản lý du lịch, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sự phát triển hoặc ngược lại của chủ thể này sẽ tác động trực tiếp đến các chủ thể còn lại Chính vì thế, ngành du lịch cần phải có những giải pháp đồng bộ tác động lên các chủ thể này mới đảm bảo đưa hoạt động ngành du lịch phát triển một cách bền vững
Khách du lịch là những người rời khỏi nơi ở thường xuyên trong khoảng thời gian dưới một năm và chi tiêu tiền bạc tại nơi họ đến thăm mà không kiếm tiền ở
đó Khách du lịch là một người đi tự nguyện, mang tính nhất thời, với mong muốn được giải trí từ những điều mới lạ và sự thay đổi thu nhận được từ một chuyến đi tương đối xa và không thường xuyên
Du khách là chủ thể của hoạt động du lịch, chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động du lịch là đối tượng chủ yếu và xuất phát điểm cơ bản của khai thác kinh doanh, phục vụ của ngành du lịch, đồng thời đây là nơi chủ yếu để ngành du lịch
Trang 17thu được lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và lợi ích văn hóa và là điều kiện cơ bản và tiền đề để phát triển
Du khách được phân chia làm các loại theo những góc độ tiếp cận khác nhau như: du khách quốc tế, du khách trong nước, du khách đi công tác, du khách gia đình và việc riêng, du khách cao tuổi, du khách trung niên, du khách thanh thiếu niên…Việc phân loại du khách sẽ giúp cho các nhà hoạch định chiến lược phát triển
du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch xác định rõ chủ thể du lịch là đối tượng nào để có sự phối hợp nhịp nhàng, khai thác có hiệu quả, phù hợp của khách thể du lịch, môi giới du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút khách du lịch
và tác động cho hoạt động du lịch có hiệu quả
Hoạt động du lịch có thể được phân thành các loại khác nhau như:
- Phân loại theo mục đích du lịch: du lịch nghỉ phép, du lịch thương mại, du
lịch điều trị dưỡng bệnh, du lịch du học, du lịch hội nghị, du lịch thăm viếng người thân, du lịch tôn giáo, du lịch thể dục thể thao và các du lịch khác
- Phân chia theo phạm vi khu vực: có thể chia du lịch thành du lịch trong nước và du lịch quốc tế Du lịch trong nước là chỉ du lịch do cư dân trong nước rời khỏi nơi cư trú của mình tới một nơi khác trong nước để du lịch Du lịch quốc tế là chỉ cư dân của một nước vượt đường biên giới quốc gia tới một hoặc vài nước khác
để tiến hành du lịch
- Phân chia theo nội dung du lịch gồm có: Du lịch công vụ là khách du lịch nhận lời mời đến thăm viếng, đàm phán ngoại giao; du lịch thương mại là khách du lịch đến để tìm hiểu thị trường, đàm phán mậu dịch; du lịch du ngoạn là khách du lịch đến để thưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên, thông qua lữ hành đạt được sự hưởng thụ cái đẹp, được vui vẻ, nghỉ ngơi; du lịch thăm viếng là du lịch kết hợp với thăm viếng người thân; du lịch tìm về cội nguồn là du lịch kết hợp với thăm quan các di tích lịch sử, truyền thống; du lịch văn hóa là khách du lịch đến một nơi khác
để tìm hiểu văn vật cổ tích, văn hóa nghệ thuật, kiến trúc dân tộc, khoa học kỹ thuật giáo dục với mục đích khảo sát văn hóa và giao lưu văn hóa; du lịch hội nghị là khách du lịch đến dự hội nghị gắn với du lịch; du lịch tôn giáo là hoạt động du lịch
Trang 18kết hợp với lễ hội tôn giáo, tín ngưỡng Việc phân loại du lịch trên có ý nghĩa rất quan trọng, sẽ giúp cho ta khai thác lợi thế, tiềm năng du lịch, xác định được thế mạnh của cơ sở kinh doanh du lịch, từ đó có thể xác định được cơ cấu khách hàng, mục tiêu của điểm du lịch, tạo điều kiện đưa hoạt động ngành du lịch ngày càng phát triển tốt nhất
1.1.1.2 Sản phẩm du lịch
Phân chia sản phẩm du lịch theo 3 mức độ
- Sản phẩm du lịch chính: Là nhu cầu cần thỏa mãn chính hoặc là phần lợi ích của sản phẩm này khác với các sản phẩm cạnh tranh khác, chẳng hạn một chỗ nghĩ mát, một điểm thể thao, một chuyến du hành đường thủy
- Sản phẩm du lịch hình thức: Sản phẩm du lịch hình thức tương ứng với sản phẩm du lịch mà nó có mặt lúc mua hoặc chọn lựa Nó là sản phẩm cốt yếu được cụ thể hóa những yếu tố hoặc những dịch vụ rõ ràng như khách sạn, nhà hàng, trang thiết bị
- Sản phẩm du lịch mở rộng: là toàn bộ những yếu tố liên quan đến người tiêu dùng, tức là du khách là tổng thể do các yếu tố nhìn thấy cũng như không nhìn thấy cung cấp cho người du lịch, đặc biệt là những lợi ích tâm lý như là cảm giác lạ, được xem là thành phần ưu tú, thượng lưu…
Việc hiểu rõ khái niệm sản phẩm du lịch là khởi điểm của việc nghiên cứu vấn đề kinh tế du lịch Trong hoạt động kinh tế du lịch, du khách bỏ ra một thời gian và sức lực nhất định, chi tiêu một khoản tiền nhất định để mua của người kinh doanh du lịch không phải vật cụ thể mà là sự thỏa mãn và hưởng thụ nhiều hơn về tinh thần, là quá trình du lịch hoàn chỉnh một lần, trong đó bao gồm nhiều loại dịch
vụ do đích tới cung cấp Quá trình du lịch một lần như vậy tức là một sản phẩm du lịch, trong đó một hạng mục dịch vụ du lịch như một giường ở phòng khách sạn, một bữa cơm trưa thịnh soạn được gọi là sản phẩm du lịch Có thể thấy sản phẩm du lịch là do nhiều hạng mục sản phẩm du lịch hợp thành là sản phẩm vô hình mang đặc trưng hoàn chỉnh Bất kể đối với cơ quan quản lý du lịch hay doanh nghiệp du lịch, hiểu được khái niệm du lịch một cách thiết thực và xây dựng ý thức sản phẩm
Trang 19du lịch hoàn chỉnh đều hết sức cần thiết Xét về nhu cầu, khi du khách tiến hành quyết định nơi đích tới du lịch thì vấn đề họ quan tâm là sản phẩm du lịch hoàn chỉnh chứ không phải sản phẩm du lịch đơn lẻ, sự đánh giá của du khách đối với chất lượng sản phẩm du lịch cũng xuất phát từ điểm này Vì thế, thực sự hiểu được khái niệm này sẽ có lợi cho việc phát triển lành mạnh của ngành du lịch, có lợi cho
sự tăng cường ý thức hợp tác của người kinh doanh du lịch, cùng nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tạo ra hình tượng du lịch hoàn chỉnh tốt đẹp
Sản phẩm du lịch là loại sản phẩm đặc biệt do nhiều loại yếu tố hợp thành
Từ phía nơi đích tới du lịch, để thoả mãn các loại nhu cầu tiêu thụ của du khách trong hoạt động du lịch, sản phẩm đơn lẻ do người kinh doanh du lịch cung cấp cho thị trường du lịch chủ yếu bao gồm: nhà ở, giao thông du lịch, cung cấp ăn uống, du ngoạn tham quan, hạng mục vui chơi giải trí, dịch vụ mua sắm, tuyến du lịch, sắp xếp chương trình và các dịch vụ chuyên môn khác Nội dung cơ cấu của sản phẩm
du lịch rất phong phú, liên quan tới rất nhiều ngành nghề, nhưng xét về ý nghĩa, các
bộ phận hợp thành đều có thể chia ra: vật hấp dẫn du lịch và dịch vụ du lịch
Vật hấp dẫn du lịch: là vật có sức thu hút hiện thực mà người kinh doanh du
lịch giới thiệu cho du khách, là nhân tố quyết định để hấp dẫn du khách Nó bao gồm tất cả mọi hiện tượng, sự vật, sự kiện tự nhiên và xã hội tạo thành sức hấp dẫn đối với du khách, có thể mang lại nhiều hiệu quả và lợi ích kinh tế và xã hội cho người kinh doanh du lịch
Dịch vụ du lịch là hạt nhân của sản phẩm du lịch, sự thực hiện nhu cầu chi
tiêu du lịch của du khách không tách rời các dịch vụ mà người kinh doanh du lịch cung cấp Dịch vụ du lịch là một khái niệm hoàn chỉnh, là do các dịch vụ đơn lẻ kết hợp làm thành, phải duy trì sự phối hợp tạo ra sự đánh giá tốt của du khách về sản phẩm du lịch hoàn chỉnh
- Tính tổng hợp của sản phẩm du lịch: Được quyết định bởi tính xã hội
của hoạt động du lịch và tính phức tạp của nhu cầu du lịch Hoạt động du lịch là
Trang 20hoạt động trên nhiều mặt, bao gồm các hoạt động xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị
và giao lưu quốc tế, ngoài ra nhu cầu của du khách trong hoạt động du lịch cũng nhiều mặt, vừa bao gồm nhu cầu đời sống vật chất cơ bản vừa bao gồm nhu cầu cuộc sống tinh thần ở cấp cao hơn Tính tổng hợp của sản phẩm du lịch biểu hiện trước hết là sản phẩm du lịch kết hợp các loại dịch vụ du lịch liên quan cung cấp, nhằm thỏa mãn các nhu cầu của du khách Nó vừa bao gồm sản phẩm lao động và vật tự nhiên Đồng thời, tính tổng hợp của sản phẩm du lịch còn biểu hiện ở chỗ việc sản xuất và kinh doanh sản phẩm du lịch liên quan đến nhiều ngành nghề và bộ phận Trong đó, vừa có giao thông du lịch và liên quan đến các bộ phận và ngành nghề khác ngoài bộ phận du lịch, trong đó vừa có bộ phận sản xuất tư liệu vật chất như kiến trúc, công nghiệp nhẹ, sản xuất nông sản phẩm, vừa bao gồm một số bộ phận phi sản xuất vật chất như văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật…
- Tính không thể dự trữ: Là loại sản phẩm dịch vụ, sản phẩm du lịch có
tính chất không thể dự trữ như sản phẩm vật chất nói chung Do sản phẩm du lịch không tồn tại trong quá trình sản xuất độc lập, kết quả sản xuất lại không biểu hiện bằng hiện vật cụ thể, giá trị của nó được chuyển dịch từng bước trong quá trình mỗi lần tiêu thụ sản phẩm Sau khi du khách mua sản phẩm du lịch, xí nghiệp du lịch liền trao quyền sử dụng sản phẩm liên quan trong thời gian quy định Nếu sản phẩm
du lịch chưa thể bán kịp thời thì không thể thực hiện giá trị của nó tổn thất gây nên
sẽ không thể bù đắp được
- Tính không thể chuyển dịch: Sản phẩm du lịch là hàng hóa có tính tổng
hợp do du khách tiêu thụ ở nơi đích tới du lịch Trước hết do nội dung hạt nhân của hoạt động du lịch biểu hiện thành hoạt động tham quan du ngoạn của du khách ở đích du lịch, nên du khách chỉ có thể tiến hành tiêu thụ ở nơi sản xuất sản phẩm du lịch chứ không thể như sản phẩm vật chất nói chung có thể chuyển khỏi nơi sản xuất đi tiêu thụ ở nơi khác Sản phẩm vật chất được chuyển đến người tiêu thụ bằng phương tiện giao thông còn sản phẩm du lịch lại thông qua phương tiện giao thông
để chở người tiêu thụ tới Trong quá trình trao đổi sản phẩm du lịch không xảy ra việc chuyển dịch quyền sở hữu sản phẩm, du khách chỉ có quyền sử dụng tạm thời
Trang 21đối với sản phẩm du lịch trong thời gian và địa điểm nhất định chứ không có quyền
sở hữu sản phẩm
- Tính đồng thời sản xuất và tiêu thụ: Khác với sản phẩm nói chung, việc
sản xuất sản phẩm du lịch và lấy du khách tới đích du lịch làm tiền đề Chỉ khi du khách đến nơi sản xuất thì việc xây dựng sản phẩm du lịch mới xảy ra, cũng chỉ khi
du khách tiếp nhận dịch vụ du lịch thì chi phí du lịch mới bắt đầu, hoạt động dịch
vụ du lịch yêu cầu cả hai bên người sản xuất và người tiêu thụ cùng tham gia để hoàn thành Trong ý nghĩa này, việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch là xảy ra trong cùng một lúc và cùng chỗ
- Tính dễ dao động: Quá trình cung cấp và tiêu thụ sản phẩm du lịch chịu
ảnh hưởng và hạn chế của nhiều nhân tố, trong đó dù chỉ thiếu một điều kiện cũng
sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình trao đổi sản phẩm du lịch, ảnh hưởng tới việc thực hiện giá trị sản phẩm du lịch, từ đó khiến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch thể hiện đặc điểm dễ dao động Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng, một địa phương nào đó Do vậy, sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa) và những yếu tố vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho du khách hay nó bao gồm các hàng hóa, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch
1.1.2 Thị trường du lịch
1.1.2.1 Khái niệm thị trường du lịch
Thị trường du lịch là phạm trù của kinh tế hàng hóa, nói về thực chất, nó là tổng thể các hành vi và quan hệ kinh tế của mọi người phát sinh trong quá trình trao đổi Sự hình thành thị trường du lịch là có quá trình, nó là sản phẩm của hàng hóa,
xã hội hóa hoạt động du lịch khi kinh tế xã hội phát triển đến trình độ nhất định Do sức sản xuất và trình độ khoa học được nâng cao, mặt khác dưới sự thúc đẩy của nhiều động cơ về mậu dịch, giao lưu, xã hội, văn hóa, hình thành nhu cầu xã hội to lớn Sự phát triển của kinh tế hàng hóa tạo điều kiện tất yếu cho việc thỏa mãn nhu cầu du lịch, tức thông qua hình thức giao lưu hàng hóa mà cung cấp các loại dịch vụ
Trang 22du lịch cho xã hội Vì thế, thị trường du lịch theo nghĩa hẹp là thị trường nguồn khách, tức trong thời gian nhất định, ở khu vực nào đó tồn tại người mua hiện thực
và tiềm tàng có khả năng mua hàng hóa du lịch Theo nghĩa rộng, thị trường du lịch
là tổng thể các hành vi và quan hệ kinh tế thể hiện ra trong quá trình trao đổi sản phẩm du lịch Mâu thuẫn cơ bản của thị trường du lịch là mâu thuẫn giữa nhu cầu
và cung cấp sản phẩm du lịch Chức năng cơ bản của thị trường du lịch là làm cầu nối liên kết cung cấp du lịch với nhu cầu du lịch Căn cứ vào sự khác nhau của nhu cầu mà chia thị trường du lịch thành các loại khác nhau như sau:
Phân chia thị trường du lịch trong nước và thị trường du lịch quốc tế:
Du lịch trong nước là sự lưu động của nhân dân nước đó trong lãnh thổ nước mình, tạo thành một bộ phận của thị trường tiêu thụ và thị trường dịch vụ trong nước, ảnh hưởng đến sự lưu thông và thu hồi tiền tệ trong nước, còn du lịch quốc tế thì ảnh hưởng đến thu chi ngoại tệ của một quốc gia Thị trường du lịch trong nước
và thị trường du lịch quốc tế chế ước và ảnh hưởng lẫn nhau, trở thành thể thống nhất liên hệ chặt chẽ với nhau
Phân chia thị trường du lịch theo nội dung và hình thức của sản phẩm du
lịch
Sự phân chia này hình thành các thị trường du lịch như thị trường du lịch tham quan phong cảnh, thị trường du lịch nghỉ phép, thị trường du lịch hội nghị, thị trường du lịch dịch vụ, thị trường du lịch văn hóa, thị trường du lịch tôn giáo, thị trường du lịch du học, thị trường du lịch thể thao Các đơn vị du lịch khai thác nhằm vào việc cung cấp sản phẩm du lịch khác nhau để thỏa mãn nhu cầu của các thị trường khác nhau
Phân chia thị trường du lịch theo hình thức tổ chức của hoạt động du lịch Gồm có thị trường du lịch đoàn thể và thị trường du lịch khách lẻ Du lịch bao gói đoàn thể là hình thức tổ chức du lịch truyền thống là kết quả của việc phổ cập, phát triển hoạt động du khách, loại hình du lịch này sẽ phát triển ổn định ở thời gian tới, đồng thời do con người ngày càng theo đuổi cuộc sống tự do, cá nhân hóa, nên những năm gần đây thị trường du lịch khách lẻ phát triển với tốc độ nhanh
Trang 23Ngoài ra, còn có thể từ các góc độ khác nhau để chia thị trường du lịch như chia theo nước, theo tuổi, theo mùa vụ du lịch, chia theo khoảng cách du lịch
1.1.2.2 Đặc điểm cơ bản của thị trường du lịch
- Sản phẩm của thị trường du lịch phần lớn là dịch vụ mang tính phi vật chất nên việc thực hiện chúng khác với thực hiện hàng hóa mang tính cụ thể
- Đối tượng mua bán trên thị trường du lịch không có dạng hiện hữu trước người mua
- Trên thị trường du lịch người bán không có hàng hóa du lịch tại nơi chào bán, không có khả năng mang được hàng hóa đến với khách hàng
- Việc thực hiện hữu hóa vật chất đối tượng mua bán trên thị trường du lịch, chủ yếu dựa vào xúc tiến quảng bá Các khâu chào giá, lựa chọn, cân nhắc, trả giá, quyết định mua, bán sản phẩm thông qua quảng cáo và kinh nghiệm với việc mua bán thông thường Thậm chí ngoài hàng hóa vật chất và dịch vụ, thị trường du lịch còn mua bán cả những đối tượng không hội đủ các thuộc tính của hàng hóa, đó là các giá trị nhân văn, tài nguyên du lịch thiên nhiên
- Trên thị trường du lịch, quan hệ thị trường giữa người mua và người bán bắt đầu từ khi khách du lịch quyết định mua hàng đến khi khách trở về nơi thường trú của họ Các sản phẩm du lịch nếu không được tiêu thụ, không bán được sẽ không có giá trị và không thể lưu kho
- Thị trường du lịch mang tính thời vụ rõ rệt, thể hiện ở chỗ cung hoặc cầu
du lịch chỉ xuất hiện trong khoảng thời gian nhất định của một năm và điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan và là một bài toán rất khó tìm ra lời giải
1.2 Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về ngành dịch vụ, du lịch
Kinh tế học Mácxít đã nghiên cứu về sự phát triển của phân công lao động xã hội là điều kiện, tiền đề cho sản xuất hàng hoá ra đời và phát triển, đồng thời làm cơ
sở cho việc phân chia và hình thành các ngành kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng C.Mác chỉ rõ: “sự phân công lao động xã hội này là điều kiện tồn tại của nền sản xuất hàng hoá, mặc dù ngược lại, sản xuất hàng hoá không phải là điều kiện
Trang 24tồn tại của sự phân công lao động xã hội” (C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội.1993, t23, tr 72)
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động thành các vùng, các ngành, các khu vực, các công đoạn khác nhau của quá trình sản xuất xã hội Trong giai đoạn đầu của lịch sử phân công lao động xã hội còn mang tính chất tự nhiên tức
là phân công theo tuổi tác, giới tính, ngành nghề cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, phân công lao động xã hội ngày càng phát triển, dẫn đến hình thành các ngành chuyên môn hoá, từ đó hình thành các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ và sự phân công lao động trong từng ngành cũng được phát triển, du lịch được ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của phân công lao động trong ngành dịch vụ Như vậy, kinh tế học Mácxít cho rằng chính sự phát triển của phân công lao động xã hội dẫn đến sự ra đời và phát triển của ngành du lịch Sự phát triển của phân công lao động xã hội hình thành một hệ thống kinh tế khác nhau và nó ngày càng phức tạp, bao gồm nhiều vùng, nhiều thành phần kinh tế, nhiều ngành kinh tế khác nhau Trong đó vai trò và vị trí của mỗi vùng, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực là khác nhau, thực hiện những chức năng riêng biệt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo thành cơ cấu kinh tế của mỗi nước Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường và phân công lao động xã hội ngày càng phát triển, dẫn đến sự phát triển của ngành du lịch với tính chuyên môn hoá ngày càng cao
Trong học thuyết giá trị, khi phân tích về hàng hoá C Mác cho rằng: hàng hoá
là những sản phẩm của lao động có thể thoả mãn một hoặc một số nhu cầu nào đó của con người Trong CNTB nói riêng và kinh tế thị trường nói chung, hàng hoá là hình thái biểu hiện phổ biến nhất của của cải C.Mác viết: “trong những xã hội do phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chi phối, thì của cải xã hội biểu hiện ra là
“một đống hàng hoá khổng lồ” (C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội.1993, t23, tr 55) Hàng hoá là sản phẩm của lao động, nó có hai thuộc tính cơ bản là giá trị và giá trị sử dụng, hàng hoá có thể là những sản phẩm vật thể hoặc phi vật thể Giá trị của hàng hoá là do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá quyết định C Mác viết: “Chỉ có lượng lao động xã hội
Trang 25cần thiết, hay thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra một giá trị sử dụng, mới quyết định đại lượng giá trị của giá trị sử dụng ấy” (C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội.1993, t23, tr 68)
Hàng hóa dịch vụ du lịch trên thị trường cũng có hai thuộc tính cơ bản của hàng hoá là giá trị và giá trị sử dụng Giá trị sử dụng của hàng hóa dịch vụ du lịch là công dụng của nó, như nói ở trên là thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người Từ học thuyết giá trị của C Mác cho chúng ta thấy rằng, sản phẩm của ngành dịch vụ nói chung và du lịch nói riêng cũng mang đầy đủ những đặc điểm của sản phẩm hàng hoá, nó được tạo ra nhờ quá trình lao động của những người hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ du lịch Chính lao động cụ thể của người lao động trong ngành du lịch đã tạo nên giá trị sử dụng của các sản phẩm du lịch, đồng thời hao phí lao động trừu tượng của người lao động trong ngành dịch vụ du lịch tạo nên giá trị của các sản phẩm du lịch Thời gian lao động xã hội cần thiết trung bình của người lao động trong ngành dịch vụ du lịch sẽ quyết định giá trị xã hội của sản phẩm du lịch Sản phẩm dịch vụ du lịch là sản phẩm phi vật thể và quá trình sản xuất của nó gắn liền với quá trình tiêu thụ, chính vì vậy không thể dùng trực quan để đánh giá chất lượng sản phẩm mà phải thông qua mức độ thỏa mãn, hài lòng của khách hàng khi sử dụng sản phẩm du lịch
Trên thị trường, giá cả thị trường của các sản phẩm ngành du lịch được biểu hiện thông qua trao đổi, mua bán Hàng hóa dịch vụ du lịch cũng tuân theo yêu cầu của qui luật giá trị, qui luật cung cầu, qui luật cạnh tranh và các quy luật kinh tế khác của nền kinh tế thị trường Quy luật giá trị trong hoạt động du lịch cũng giống như quy luật giá trị trong hoạt động kinh tế đòi hỏi việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở lượng giá trị xã hội hay thời gian lao động xã hội cần thiết
Đó là thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất, cung ứng một sản phẩm du lịch hay dịch vụ du lịch trong điều kiện bình thường của xã hội với trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình của những người lao động trong ngành du lịch, phù hợp với một giai đoạn phát triển nhất định
Trang 26của xã hội Chính thời gian lao động xã hội cần thiết này sẽ hình thành nên giá trị xã hội và giá cả thị trường của các sản phẩm du lịch trên thị trường
Trong học thuyết giá trị thặng dư, khi nghiên cứu về hàng hoá sức lao động – loại hàng hoá đặc biệt là nguồn gốc tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản Hàng hoá sức lao động cũng có hai thuộc tính cơ bản là giá trị và giá trị sử dụng như các hàng hoá thông thường, tuy nhiên C Mác cho rằng: giá trị của hàng hóa sức lao động, được đo lường và xác định gián tiếp bằng giá trị những tư liệu tiêu dùng để nuôi sống người lao động và gia đình Giá trị hàng hóa sức lao động bao gồm các yếu tố vật chất, tinh thần và lịch sử Các yếu tố vật chất của hàng hoá sức lao động bao gồm tư liệu tiêu dùng về vật chất để tái tạo sức lao động cho chính bản thân người lao động; chi phí đào tạo người lao động; tư liệu tiêu dùng vật chất để nuôi sống gia đình người lao động Nhu cầu tinh thần của người lao động bao gồm nghỉ ngơi, giải trí, du lịch…Những giá trị vật chất và tinh thần đáp ứng nhu cầu cho người lao động
và gia đình phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi nước trong từng giai đoạn Như vậy, theo C Mác du lịch là một trong những nhu cầu tinh thần của người lao động, khi xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu tinh thần của người lao động cũng được nâng cao trong đó có nhu cầu về du lịch Kinh tế càng phát triển, thu nhập của người lao động ngày càng tăng, thì nhu cầu hưởng thụ các sản phẩm tinh thần trong đó có du lịch ngày càng tăng Từ đó tạo điều kiện cho các loại hình du lịch sinh thái, du lịch văn hóa - lịch sử, du lịch nghiên cứu, du lịch khám phá, du lịch nghỉ dưỡng… ngày càng phát triển
Tóm lại học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ là tiền đề, phương pháp luận khoa học không những cho các hoạt động kinh tế nói chung mà còn có ý nghĩa trong nghiên cứu hoạt động dịch vụ du lịch nói riêng
1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch
Từ năm 1994, khi Việt Nam bắt đầu quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Ban
Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 46-CT/TW về “Phát triển du lịch trong tình hình mới” nhằm đưa ra các quan điểm chỉ đạo cho phát triển du lịch trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Năm 1998, khi hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam diễn ra mạnh
Trang 27mẽ, Bộ Chính trị đã họp bàn chuyên đề về phát triển du lịch và ban hành “Thông báo Kết luận số 179-TB/BCT” trong đó nêu rõ ý kiến chỉ đạo: cần tập trung, đẩy mạnh phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng của đất nước
Hội nghị lần thứ 9 BCH Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết
số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 về “xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt
Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” trong đó nhấn mạnh: cần phải
bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển
du lịch Sau đó Chính phủ ban hành Nghị quyết số 92/NQ-CP ngày 8/12/2014 về
“một số giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch Việt Nam trong thời kỳ mới” trong
đó đã xác định một số các giải pháp cơ bản cần tập trung cho phát triển du lịch như: nâng cao nhận thức của xã hội về phát triển du lịch; tăng cường hỗ trợ của nhà nước cho phát triển du lịch; tạo điều kiện thuận lợi, bảo đảm an ninh, an toàn để thu hút khách và phát triển du lịch; hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp du lịch; tăng cường quản lý nhà nước về du lịch
Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng năm 2016 tiếp tục khẳng định rõ chủ trương: “Có chính sách phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng Hà Nội, 2016, tr 288); “Hình thành một số trung tâm dịch vụ du lịch tầm cỡ khu vực và quốc tế” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương
Đảng Hà Nội, 2016, tr 94) Đồng thời, Nghị quyết Đại hội lần thứ XII cũng chỉ rõ:
“Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển du lịch với hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại, sản phẩm đa dạng và tính chuyên nghiệp cao Tạo mọi thuận lợi
về thủ tục xuất nhập cảnh, đi lại và bảo đảm an toàn, an ninh Đẩy mạnh xúc tiến quảng bá, xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam Khai thác hiệu quả, bền vững các di sản văn hóa, thiên nhiên, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và gìn giữ vệ sinh môi trường Phát triển các khu dịch vụ du lịch phức hợp, có quy mô lớn, chất lượng cao” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung
ương Đảng Hà Nội, 2016, tr 288)
Trang 28Trong “Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 2743/QĐ-TTg ngày 29-12-
2011 nêu rõ: Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng phát triển theo chiều sâu đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh Phát triển đồng thời cả du lịch nội địa và
du lịch quốc tế; chú trọng du lịch quốc tế đến; tăng cường quản lý du lịch ra nước ngoài Phát triển du lịch bền vững gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường; bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực cả trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển du lịch; phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế quốc gia về yếu tố tự nhiên và văn hóa dân tộc, thế mạnh đặc trưng các vùng, miền trong cả nước; tăng cường liên kết phát triển du lịch
Như vậy, có thể thấy Đảng, Quốc hội và Nhà nước luôn quan tâm và đánh giá cao vai trò, vị trí của du lịch Việt Nam cũng như du lịch TP.HCM trong phát triển kinh tế - xã hội, coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, huy động nguồn lực của các thành phần kinh tế để phát triển du lịch, đồng thời cũng xác định những nội dung quan trọng cho phát triển du lịch như đầu tư cho phát triển du lịch, đa dạng hoá sản phẩm, xúc tiến, quảng bá xây dựng thương hiệu, bảo vệ môi trường trong phát triển du lịch…
1.4 Nhân tố tác động đến sự phát triển của du lịch trong hội nhập quốc
tế
1.4.1 Sản phẩn du lịch
Mỗi vùng, mỗi quốc gia, địa phương có tiềm năng tự nhiên, tiềm năng kinh tế
- xã hội, văn hoá và nhân văn khác nhau Khi du lịch phát triển sẽ tác động đến xu hướng của con người muốn tìm hiểu những sản phẩm du lịch mới lạ, hấp dẫn của từng mỗi vùng, mỗi quốc gia Chính vì vậy, để phát triển du lịch đòi hỏi phải xây dựng sản phẩm du lịch độc đáo, đặc thù của đất nước, địa phương mình, đáp ứng
Trang 29nhu cầu thiết thực mà du khách muốn tìm đến Sản phẩm du lịch phải thường xuyên được cải tiến để thu hút nhiều dạng khách hàng khác nhau, điển hình như quần đảo Langkawi của Malaysia từng một thời được xem là “Thiên đường du lịch” nhưng sau đó đã bị giảm sút nghiêm trọng, sự sa sút này là do cơ quan xúc tiến du lịch đã ngủ say trên “ thiên đường du lịch” của mình thiếu năng động, thiếu sáng tạo và làm mới lại các sản phẩm du lịch đặc thù mang tính độc đáo từ đó đã không thu hút được du khách Vì vậy, mỗi thành phố, mỗi vùng hay mỗi quốc gia cần tạo ra sản phẩm du lịch đặc thù dựa trên lợi thế của từng vùng, từng địa phương từng quốc gia
và tìm cách để làm cho sản phẩm du lịch của mình ngày càng trở nên phong phú và
đa dạng nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của du khách, đồng thời nâng cao sức cạnh tranh của du lịch
Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số nước cho thấy cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp du lịch với chính quyền và cộng đồng địa phương trong việc quy hoạch các điểm, phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù, các khu du lịch và các chương trình du lịch Vì vậy, ngành du lịch cần hết sức tranh thủ vận động để có sự ủng hộ của toàn thể xã hội, ra sức liên kết chặt chẽ với các ngành, các cấp và các địa phương, luôn chia sẻ lợi ích cho họ vì hơn ai hết, họ là người biết cặn
kẽ những nét đặc thù của địa phương mình và có thể đóng góp ý kiến, công sức có giá trị cho việc xây dựng và phát triển sản phẩm du lịch đặc sắc
Sản phẩm du lịch dù có chất lượng cao nhưng không đảm bảo môi trường du lịch an ninh, an toàn thì cũng không thể thu hút du khách Vì vậy, môi trường du lịch an ninh, an toàn mang ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển du lịch của mỗi quốc gia Ngoài ra, phát triển sản phẩm du lịch phải đi đôi với vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái, biết giữ gìn và bảo vệ những nguồn tài nguyên đó một cách hiệu quả nhất Kinh nghiệm của các nước đã chỉ rõ phát triển du lịch phải đảm bảo cho nguồn tài nguyên du lịch không được xuống cấp Bên cạnh đó, cần lưu ý đến sức chứa của các điểm du lịch, không nên để tình trạng quá tải xảy ra vì điều đó sẽ làm cho cảnh quan môi trường bị ô nhiễm và xuống cấp nhanh chóng, song song đó nên
Trang 30giáo dục cho du khách ý thức trân trọng và giữ gìn cảnh quan môi trường, đảm bảo trật tự, vệ sinh tại các điểm du lịch
1.4.2 Nguồn nhân lực cho phát triển du lịch
Để phát triển du lịch trong hội nhập quốc tế, đòi hỏi phải có đội ngũ nguồn nhân lực đáp ứng về số lượng, chất lượng và cơ cấu, đồng thời phải ngày càng chuyên nghiệp, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ, sự hiểu biết về lịch sử, văn hoá, phong tục, tập quán của các quốc gia trên thế giới Ngoài ra, còn phải có đội ngũ các nhà quản lý du lịch có trình độ, có tầm nhìn, am hiểu về du lịch để đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn
Để đáp ứng được đòi hỏi về nguồn nhân lực cho du lịch như đã nêu trên, cần phải tăng cường các lớp đào tạo dài hạn, ngắn hạn, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ du lịch Chú trọng khả năng ngoại ngữ và kiến thức về văn hóa dân tộc, kiến thức về văn hóa thế giới, ứng xử trong việc giới thiệu tường tận về lịch sử, văn hóa, danh lam, thắng cảnh…với du khách một cách chuyên nghiệp nhằm đáp ứng đúng đòi hỏi thực tiễn hiện nay và sự nghiệp phát triển du lịch lâu dài, bền vững
Đẩy mạnh liên kết giữa các cơ sở đào tạo về du lịch với các doanh nghiệp sử dụng, để đảm bảo việc đào tạo có hiệu quả, gắn lý luận với thực tiễn Thông qua hoạt động du lịch, nền giáo dục của các quốc gia được cập nhật hằng năm, đồng thời thu hẹp khoảng cách giữa lý thuyết và thực tiễn Vấn đề đặt ra là cần phải tạo điều kiện để những người được đào tạo về du lịch đến nơi sử dụng trực tiếp nhìn và nghe thực tế Vì vậy, các cơ sở đào tạo du lịch cần thường xuyên tổ chức các chuyến du lịch học tập để giúp người học củng cố kiến thức, làm cho du lịch là
phương tiện hữu hiệu để bổ khuyết những điều đã học trong nhà trường
1.4.3 Cơ sở hạ tầng vật chất, kỹ thuật và thu hút vốn đầu tư cho phát triển du lịch
Cơ sở vật chất kỹ thật có quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của ngành du lịch, đồng thời có tác động hỗ tương lẫn nhau Hằng năm với số lượng lớn khách du lịch qua lại đã đem lại nhiều tỷ đô la thu nhập cho các công ty cung ứng du lịch, các hãng vận tải hàng không, đường biển, đường sắt Ngược lại, cơ sở vật chất kỹ thuật
Trang 31phát triển sẽ trở thành động lực thúc đẩy người đi du lịch gia tăng hơn Vì vậy, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển, bao gồm cả mạng lưới cơ sở vật chất hạ tầng phương tiện vận chuyển, hệ thống quản lý hiện đại và môi trường giao thông trật tự, an toàn cũng là một trong những tài nguyên du lịch, góp phần phát triển du lịch chất lượng cao, làm thu hút du khách trong hội nhập quốc tế
Ngoài ra sự phát triển mạnh mẽ của viễn thông, tin học cũng sẽ góp phần tích cực đến việc phát triển du lịch Đối với du khách, đặc biệt là du khách từ các nước phát triển, dịch vụ viễn thông là sự sống còn cho sự phát triển của quốc gia là dịch
vụ tiện ích không thể thiếu được trong quá trình tham gia du lịch Đối với đơn vị cung ứng du lịch, viễn thông còn là phương tiện vô cùng cần thiết trong việc tổ chức, quản lý, kinh doanh hoạt động du lịch Viễn thông phát triển đã thúc đẩy mối quan hệ giao thương giữa các quốc gia ngày càng tốt hơn, tạo môi trường thuận lợi
để thu hút đầu tư quốc tế, nắm bắt nhanh những thông tin quảng bá về du lịch của các nước trên thế giới, làm tăng mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa các quốc gia, từ
đó tác động trực tiếp đến phát triển ngành du lịch Ngày nay, du khách và các nhà cung ứng dịch vụ du lịch như lữ hành, khách sạn có thể liên lạc với nhau trực tiếp
để giải quyết mọi vấn đề có liên quan đến chuyến du lịch Tất cả thực hiện thông qua máy vi tính nối mạng với các thao tác nhanh chóng, thuận lợi, dễ thực hiện Trên thực tế, sự phát triển của viễn thông tin học đã làm tăng sức cạnh tranh của ngành du lịch Do đó, những quốc gia phát triển du lịch hàng đầu trên thế giới cũng
là những quốc gia có ngành viễn thông và công nghệ thông tin phát triển mạnh nhất Chúng ta biết rằng, để phát triển du lịch ngoài nguồn lực có sẵn của từng quốc gia thì vấn đề đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị là hết sức cần thiết… do
đó, đòi hỏi vốn đầu tư lớn, trong khi điều kiện vốn của chính phủ có hạn Vì vậy, đòi hỏi phải huy động vốn của các thành phần kinh tế cùng tham gia thực hiện Việc
xã hội hóa trong đầu tư phát triển du lịch đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng
và mang lại thành công rất tốt, điển hình như ở Malaysia thông qua chương trình du lịch sinh thái nghỉ tại nhà dân là sản phẩm rất hấp dẫn và đã thực hiện tại 05 làng thí điểm, từ việc huy động cơ sở vật chất của từng hộ nhà dân sử dụng làm nhà nghỉ đã
Trang 32giảm chi phí đầu tư của dự án rất lớn, đồng thời vừa đáp ứng nhu cầu nghỉ dưỡng mang tính sinh thái, dân dã phù hợp với xu thế nhu cầu của du khách hiện nay
Thực tế cho thấy, việc đầu tư phát triển du lịch cần có nguồn vốn lớn, trong khi các quốc gia kém phát triển hầu hết đều thiếu cả về vốn lẫn chất xám, vì vậy đòi hỏi phải kêu gọi, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển ngành du lịch Việc thu hút vốn đầu tư vào nền kinh tế nói chung
và ngành du lịch nói riêng sẽ tác động làm gia tăng sản lượng quốc gia theo lý thuyết bội số đầu tư của Keynes, thu nhập của xã hội tăng lên sẽ tạo cho người dân
cơ hội và điều kiện để chi tiêu cho du lịch nhiều hơn, hiệu quả cao hơn
Phát triển du lịch sẽ thu hút một lượng lớn người lao động tham gia vào các hoạt động du lịch từ khâu sản xuất các sản phẩm du lịch đơn lẻ, từ các hoạt động này sẽ góp phần tích cực đến việc đối phó với nạn thất nghiệp ở các quốc gia Nếu
so sánh cùng một lượng vốn đầu tư như nhau thì ngành dịch vụ nói chung và du lịch nói riêng, bao giờ ngành du lịch cũng sử dụng số lao động nhiều hơn ngành công nghiệp Yếu tố lao động tham gia trong ngành du lịch được các quốc gia, các nhà kinh tế xem là một trong những phương thức để giải quyết thành công nạn thất nghiệp trên thế giới
1.4.4 Quản lý nhà nước trong phát triển du lịch
Để phát triển du lịch trong hội nhập quốc tế, cần phải có thể chế, cơ chế quản
lý du lịch phù hợp với từng thời kỳ phát triển Đây là vấn đề vô cùng quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của chiến lược phát triển du lịch của từng quốc gia, từ thể chế, cơ chế này chính phủ sẽ đề ra các chủ trương, chính sách phù hợp để phát triển du lịch một cách hiệu quả nhất Điển hình như Trung Quốc một quốc gia được xem là thành công trong phát triển du lịch, nhưng trước đây đất nước này cũng đã trải qua các giai đoạn thăng trầm để rút ra được hướng đi đúng nhất và thành công này chủ yếu từ thể chế, cơ chế quản lý du lịch, năm 1976 khi kết thúc
“cách mạng văn hóa” thể chế quản lý du lịch bắt đầu được xây dựng từng bước, năm 1982, Tổng Cục Quản lý sự nghiệp du lịch Lữ hành Trung Quốc và Tổng Công
ty dịch vụ lữ hành Hoa kiều Trung Quốc tách ra không bao gồm chức năng kinh
Trang 33doanh nghiệp vụ và đổi tên thành Cục Du Lịch Nhà nước của nước Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa là cơ quan hành chính quản lý sự nghiệp du lịch toàn quốc, thống nhất công tác du lịch cả nước Giai đoạn này Trung Quốc đã đưa ra nhiều chủ trương phát triển du lịch rất phù hợp để tác động hoạt động du lịch của đất nước này, điển hình như năm 1984 Quốc vụ Viện Trung Quốc phê chuẩn Báo cáo về cải cách thể chế du lịch của Cục Du lịch nhà nước nhằm đề ra việc cải cách hành chánh thông qua việc đơn giản hóa thủ tục, tăng cường quyền hạn cấp dưới, chính quyền
và xí nghiệp tách bạch rõ hơn vai trò, trách nhiệm để phát huy tốt nhất, đồng thời nêu ra việc tăng cường quản lý du lịch trong nước, phát huy tích cực trong mọi mặt, hướng dẫn và khuyến khích xây dựng cơ sở du lịch, năm 1986 Quốc vụ viện Trung Quốc xác định chính thức đưa ngành du lịch Trung Quốc vào trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân
Hầu hết các quốc gia trên thế giới thành công trong phát triển du lịch đều có
sự quản lý thống nhất, đồng bộ từ trung ương đến địa phương, một số nơi chính phủ tác động trực tiếp vào việc phát triển du lịch và đưa ra những chính sách khuyến khích phát triển du lịch như chính sách ưu đãi đầu tư, chính sách thuế, chính sách thu hút vốn đầu tư…thông qua việc điều hành thống nhất từ trung ương đến địa phương, đã tạo điều kiện cho chính phủ các nước thực hiện thành công các chiến lược đề phát triển du lịch trong từng giai đoạn một cách tốt nhất
Ngoài ra, để phát triển du lịch trong hội nhập quốc tế đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp du lịch, chính quyền và cộng đồng địa phương trong việc phát triển các điểm, khu du lịch và các chương trình du lịch Kinh nghiệm phát triển du lịch ở đảo Phuket-Thái Lan cho thấy chính phủ và những tổ chức kinh doanh du lịch phối hợp với nhau chặt chẽ để xây dựng bãi biển Karon và Kata trở thành một điểm du lịch lý tưởng, việc phối hợp chặt chẽ đã tạo điều kiện cho việc triển khai thực hiện kế hoạch thuận lợi, nhanh chóng, nhịp nhàng, hiệu quả
Để phát triển du lịch có hiệu quả cũng cần phải có hoạt động giáo dục, truyên truyền, hướng dẫn, giải thích sâu rộng về lợi ích thiết thực của việc phát triển du
Trang 34lịch đem lại hiệu quả cho toàn xã hội, phải có sự ủng hộ, tham gia của cộng đồng dân cư trong phát triển du lịch của quốc gia Từ đó sẽ làm thay đổi nhận thức, thái
độ, cung cách ứng xử của người dân đối với du lịch, hình thành văn hoá du lịch thân thiện, gần gũi, cởi mở, mến khách…sẽ để lại những ấn tượng khó quên trong lòng
du khách đến du lịch, là động lực tác động du khách quay trở lại lần sau, điển hình như chương trình ấn tượng “mĩm cười du lịch” của ngành du lịch hàng không Singapore là một bí quyết giúp cho ngành hàng không đất nước này thu lại lợi nhuận cao từ việc tăng lượng khách vượt xa so với thời gian trước đó
Để nâng cao hiệu quả quản lý đối với hoạt động du lịch trong hội nhập quốc
tế đòi hỏi phải tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với tất cả các hoạt động văn hóa, lễ hội, thể thao và du lịch, đảm bảo an ninh trật tự, mỹ quan đô thị Quản lý tốt các nguồn tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác Hai nguồn tài nguyên này cần được sử dụng hợp lí để phục vụ cho du lịch một cách cân bằng, hài hòa nhằm phát triển tính đa dạng của tự nhiên, xã hội và văn hóa, đây được coi là một trọng tâm quan trọng cho phát triển du lịch bền vững Ngoài ra, chính phủ và các
bộ, ngành liên quan cần hoàn thiện cơ cấu, chính sách, luật pháp về môi trường và thương mại, đầu tư, Visa, thủ tục xuất nhập cảnh, chính sách tài chính, ngân hàng,…liên quan đến du lịch cho phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo thuận lợi cho du lịch phát triển
Hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu hướng tất yếu, mang tính thời đại, mang lại nhiều cơ hội, song cũng đặt ra không ít thách thức đối với phát triển du lịch Để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, ngành du lịch cần có những chiến lược để đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và quốc tế, đồng thời tăng cường sự phối hợp liên kết các ngành, các cấp, các địa phương trong cả nước và các nước trong khu vực, đặc biệt là các tiểu vùng sông Mê Kông trong việc phát triển tuyến du lịch Xuyên Á nhằm làm đa dạng, phong phú hơn các sản phẩm du lịch
Trang 351.4.5 Hoạt động quảng bá, tiếp thị cho phát triển du lịch
Để phát triển du lịch trong hội nhập quốc tế, đòi hỏi hoạt động tiếp thị, quảng
bá du lịch phải mang tính chuyên nghiệp, trước hết là trong việc tổ chức các sự kiện
du lịch, thông qua việc cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành để định hướng, hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch tiếp cận với khách hàng, huy động tiềm năng thế mạnh doanh nghiệp góp sức cùng với nhà nước trong chương trình quảng bá xúc tiến du lịch
Việc tuyên truyền quảng bá du lịch cho du khách, cần hướng vào việc đa dạng hóa các kênh thông tin như: khai thác lợi thế của hệ thống thông tin đại chúng, phối hợp chặt chẽ với báo đài trong cung cấp trao đổi thông tin nhằm thúc đẩy hoạt động du lịch, đầu tư nâng cao chất lượng chương trình truyền hình du lịch, thông qua việc thực hiện các phim chuyên đề, tổ chức các chuyên trang du lịch trên các báo lớn, thực hiện các ấn phẩm du lịch (bản đồ du lịch, sách hướng dẫn du lịch …) bằng nhiều thứ tiếng Đặc biệt, là thông qua các đoàn ngoại giao, hãng hàng không,
sở du lịch phối hợp với các kênh truyền hình quốc tế và các đơn vị có liên quan tổ chức thành công các chương trình quay phim giới thiệu về điểm đến du lịch hấp dẫn, để thu hút du khách
Công tác tiếp thị quảng bá các hoạt động du lịch trong hội nhập quốc tế cần hướng vào các thị trường trọng điểm và tiềm năng như Đông Bắc Á, Tây âu, Mỹ, ASEAN trên cơ sở phối kết hợp chặt chẽ giữa ngành du lịch với các hãng hàng không, cơ quan ngoại giao, cơ quan văn hóa thông tin…nhằm tăng cường quảng bá giới thiệu hình ảnh du lịch, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch tìm kiếm đối tác tin cậy, phù hợp để chào bán sản phẩm Cần đẩy mạnh quảng bá, tiếp thị du lịch
ra nước ngoài tại ngay trong nước, quảng bá hình ảnh điểm đến, tạo cơ hội cho doanh nghiệp du lịch trong nước gặp gỡ, liên kết, chào bán sản phẩm với các doanh nghiệp quốc tế
Tuyên truyền, giới thiệu lịch sử văn hóa, danh lam, thắng cảnh, những điểm du lịch hấp dẫn cho du khách thông qua lễ hội - một trong những hoạt động văn hóa hấp dẫn mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Vì qua hình tượng sinh động của lễ hội,
Trang 36du khách hiểu về phong tục tập quán, tín ngưỡng dân gian của mỗi dân tộc một cách
cụ thể và gần gũi, thân thiện Đây là nét đẹp vô cùng độc đáo, nhân văn, giàu bản sắc văn hóa dân tộc được thể hiện ngay trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ví dụ tại Việt Nam có những lễ hội dân gian gắn liền với xã hội cổ truyền
từ xa xưa, những lễ hội này được tổ chức theo thói quen, phong tục tập quán, tín ngưỡng đang được giữ gìn và phát huy Lễ hội hiện đại tổ chức có bài bản, kịch bản, đạo diễn như lễ hội kỷ niệm ngày chiến thắng 30-4, lễ hội kỷ niệm ngày quốc khánh 2-9, lễ hội giáng sinh, lễ hội đất phương Nam Những loại hình lễ hội dân gian và hiện đại này hàng năm thu hút hàng triệu lượt khách du lịch tham gia cùng thưởng thức không khí lễ hội
Ngoài ra, trong hoạt động du lịch, nguồn lợi lớn do hoạt động du lịch văn hóa
là làm nổi bản sắc văn hóa dân tộc bằng nhiều biện pháp trong đó việc tuyên truyền, giới thiệu lịch sử văn hóa là vấn đề cần được lưu ý và quan tâm trong quảng bá du lịch, cần tập trung vào việc giới thiệu hình ảnh đất nước, con người, lịch sử và bản sắc văn hóa độc đáo một cách chuyên nghiệp hơn, rộng rãi hơn đến thị trường du lịch quốc tế qua du khách trong và ngoài nước Việc quảng bá, giới thiệu không chỉ qua sách, báo, tạp chí hướng dẫn về du lịch mà còn sản xuất phim và băng đĩa, nối mạng internet quốc tế tạo điều kiện đưa thông tin du lịch đến các nước trên thế giới Tóm lại: công tác quảng bá xúc tiến du lịch cần tập trung theo hướng nâng cao tính chuyên nghiệp, chú trọng phát triển quảng bá hình ảnh điểm đến thành phố trên các phương tiện thông tin đại chúng với việc duy trì và nâng cao chất lượng các chuyên mục du lịch trên truyền hình Bên cạnh đó, cần triển khai tốt chuỗi sự kiện
du lịch có tính định kỳ, hướng đến những đối tượng cụ thể, tạo hiệu ứng quảng bá tốt đến khách tham quan quốc tế biết qua các hoạt động sự kiện, lễ hội lớn
Trang 371.5 Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số thành phố và bài học cho phát triển du lịch TP HCM
1.5.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch của một số thành phố
1.5.1.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch của thành phố Băng Cốc – Thái Lan
Băng Cốc – Thái Lan là thành phố rất thành công trong phát triển du lịch Trong những năm gần đây với định hướng, chính sách đúng đắn đã đưa hoạt động
du lịch của Băng Cốc - Thái Lan thu hút lượng khách rất lớn Ưu thế của Băng Cốc
- Thái Lan là cơ sở hạ tầng được đầu tư, đồng thời chất lượng dịch vụ khách sạn tốt Trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội đất nước giai đoạn 1997-2003, Băng Cốc - Thái Lan đã xác định phát triển du lịch theo hướng ưu tiên bảo vệ, bảo tồn các tài nguyên và tài sản du lịch, phục vụ cho phát triển du lịch Trong quá trình đô thị hóa
và phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã khiến cho hoạt động của con người thường xuyên trong những bức tường, do đó xu thế người dân muốn đi du lịch đến những vùng đất thiên nhiên, mang tính nguyên sơ Từ xu thế này, phong trào khôi phục lại giá trị nguyên bản của văn hóa và đất nước Băng Cốc - Thái Lan được Chính phủ phát động mạnh để kêu gọi giữ nguyên vẻ đẹp nguyên sơ, bảo vệ cây cối, giảm thiểu tiếng ồn và giữ gìn phong cách kiến trúc để phát huy tính đặc thù của dân tộc Bên cạnh, Cơ quan Du lịch Thái Lan cũng hỗ trợ các cộng đồng bản địa duy trì sức hấp dẫn của các điểm du lịch, phối hợp với Cục bảo tồn rừng từ các
cơ quan ở địa phương triển khai chương trình giáo dục, đào tạo và nâng cao nhận thức về du lịch cho các tầng lớp nhân dân nhằm phát huy tính văn hóa trong du lịch Trong các năm gần đây, du lịch của Băng Cốc - Thái Lan phát triển là do có nhiều giải pháp rất sáng tạo, độc đáo, hữu hiệu và tích cực để thu hút khách, trong đó có việc đẩy mạnh những chương trình quảng cáo, khuyến mãi rất mạnh, có sức hút tốt đến khách du lịch như chương trình Thai-Amazing, du lịch kiến tạo nên hòa bình,
“Road Show” quảng bá mạnh mẽ tại Tokyo, Osaka và Fukuoka, “Luck is in the air” nhằm đẩy mạnh lượng khách đến đất nước du lịch Thái Lan thông qua chương trình khuyến mãi vé của Thai Airways
Trang 381.5.1.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch của thành phố Kulalamper - Malaysia:
Kulalamper - Malaysia là thành phố có nhiều giá trị văn hóa, truyền thống lâu đời và được nhiều khách du lịch có nhu cầu tham quan, nghiên cứu Do đó, ngành du lịch của đất nước này tập trung khai thác, phát triển du lịch theo hướng bảo vệ giá trị văn hoá, truyền thống Kulalamper - Malaysia đã xây dựng và phát triển du lịch văn hóa trên cơ sở phối hợp của cộng đồng địa phương Bộ Văn hóa-Nghệ thuật và Du lịch Malaysia đã xác định mục tiêu phát triển chủ đạo của ngành
du lịch là hướng tới phát triển ngành du lịch bền vững trên cơ sở bảo tồn các nguồn gen quý hiếm, duy trì và đa dạng sinh học, phát huy bản sắc văn hóa Malaysia truyền thống kết hợp các văn hóa tinh hoa khác nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch đa dạng, phong phú, hấp dẫn để thu hút khách du lịch đến đất nước Malaysia Chương trình du lịch cộng đồng thông qua việc tận dụng nhà dân làm nơi nghỉ cho khách du lịch là sản phẩm du lịch hấp dẫn Mục đích của chương trình này nhằm giúp cho du khách có điều kiện tiếp xúc, trao đổi và trực tiếp tham gia vào đời sống sinh hoạt của cộng đồng người Malaysia và thông qua chương trình này tạo điều kiện duy trì, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc và góp phần tăng thu nhập của người dân địa phương cũng như tăng nguồn thu ngân sách của quốc gia
1.5.1.3 Kinh nghiệm phát triển du lịch của thành phố Hà Nội – Việt Nam
Hà Nội là thủ đô lâu đời của Việt Nam và ngày nay vai trò của Hà Nội càng nổi bật hơn nữa trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn đổi mới Đây là khu vực trọng điểm kinh tế của phía Bắc xét về tốc độ đô thị hóa, về năng lực sản xuất và tiếp thu những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại,
là một trong những nơi dẫn đầu của cả nước trong tiến trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ngoài ra, Hà Nội còn là nơi tập trung nhiều tổ chức quốc tế, các nhà máy, xí nghiệp và triển khai nhiều dự án đầu tư nước ngoài và nơi đây cũng tập trung nhiều hoạt động dịch vụ phát triển nhanh chóng Từ đó đã thu hút lượng khách du lịch đến đây hàng năm, nhất là lượng khách quốc tế đạt khá cao so với các địa phương khác trong cả nước Hà Nội còn là nơi diễn ra sự giao lưu văn hóa,
Trang 39chính trị Đông – Tây, vì thế người dân thủ đô sẽ tiếp thu và hội nhập rất nhanh với
sự tiến bộ của những nền văn minh khác nhau trên thế giới Đây là một lợi thế của thành phố trong tiến trình hội nhập Mặt khác, với chức năng là một trung tâm về chính trị, văn hóa, giáo dục của cả nước nên Hà Nội còn tập trung đông đảo đội ngũ tri thức và các nhà khoa học Đây là điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch dễ dàng bước vào công cuộc phát triển bền vững trên cơ sở tranh thủ nguồn tri thức quí báu
từ đội ngũ này trong việc quy hoạch, thiết lập các chiến lược và chính sách phát triển du lịch Nhìn chung, với những điều kiện kinh tế – xã hội như trên Hà Nội đã tạo thuận lợi để nơi đây phát triển nhanh chóng ngành du lịch và trở thành đầu tàu kéo theo sự phát triển của khu vực phía Bắc, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi trong việc hỗ trợ, liên kết để phát triển du lịch cho các tỉnh lân cận Thực trạng phát triển
du lịch Hà Nội trong thời gian qua đã có nhiều khởi sắc thể hiện qua một số mặt chủ yếu như:
Tốc độ tăng lượng khách của Hà Nội tuy chậm nhưng ổn định, cụ thể như tốc
độ tăng khách du lịch quốc tế giai đoạn 1991 – 2000 là 16%, nhưng đến giai đoạn
2001 – 2014 tốc độ tăng trung bình là 23% Điều này cho thấy càng về những năm gần đây, Hà Nội ngày càng hấp dẫn đối với du khách quốc tế Bên cạnh đó, tỉ trọng lượng khách quốc tế đến Hà Nội và các tỉnh phía Bắc có xu hướng ngày càng tăng, điều này cho thấy thị phần du lịch của Hà Nội từng bước được mở rộng, cạnh tranh với các địa phương khác Sản phẩm du lịch Hà Nội được hỗ trợ từ việc phát triển sản phẩm du lịch của các vùng lân cận mang tính độc đáo riêng và việc đầu tư tôn tạo các khu vui chơi giải trí từng bước được chú trọng đầu tư
1.5.1.4 Kinh nghiệm phát triển du lịch của Thành phố Đà Nẵng – Việt Nam
Trong những năm gần đây, Đà Nẵng có tốc độ phát triển vượt bậc về mọi mặt Hòa vào xu thế phát triển chung đó, du lịch Đà Nẵng cũng có những bước tiến đáng kể Đến với Đà Nẵng, du khách có thể tận hưởng những khoảng không gian rộng, thoáng đãng, chan hòa nắng gió vùng nhiệt đới, những khu rừng nguyên sinh rậm rạp, phong phú về hệ động, thực vật; những bãi biển tuyệt đẹp với bãi cát trắng
Trang 40tinh, dài và rộng hay những tuyến đường rộng thênh thang nhìn ra dòng sông Hàn trong xanh… Mặt khác, du khách cũng có thể hưởng thụ những dịch vụ với chất lượng quốc tế khi nghỉ ngơi tại các khu du lịch của thành phố này Với định hướng
là một trung tâm dịch vụ, du lịch của miền Trung, của cả nước và xa hơn nữa là của khu vực, quốc tế, hàng loạt khu du lịch đã và đang được xây dựng, hài hòa với thiên nhiên nhưng cũng không kém phần hiện đại Để phát triển du lịch thành ngành kinh
tế mũi nhọn, Đà Nẵng đã tập trung huy động vốn từ nhiều nguồn cho việc quy hoạch, đầu tư phát triển hạ tầng du lịch như công trình cấp điện, cấp nước và hệ thống thông tin liên lạc, đường giao thông, nâng cao chất lượng dịch vụ, cải thiện môi trường du lịch, đẩy mạnh công tác xúc tiến du lịch, đổi mới việc tổ chức các sự kiện du lịch để tạo sức thu hút khách Tuy nhiên, vẫn có đánh giá cho rằng sự phát triển du lịch Đà Nẵng đang còn nặng về lượng mà nhẹ về chất Đó cũng là một trong những lý do khiến thành phố bị hạn chế trong việc thu hút nguồn khách chất lượng cao Ngoài ra, các tour, tuyến, điểm du lịch còn thiếu sự liên kết với nhau, không chỉ trong quá trình hoạt động mà là ngay từ khâu quy hoạch Nhiều nhưng vẫn rời rạc, đơn điệu, thiếu sự kết nối, dẫn tới hầu như không có một tour, tuyến điểm du lịch nào của Đà Nẵng có thể bật lên tạo dấu ấn riêng Thêm nữa là sự hạn chế về kinh phí và nhất là sự nghèo nàn về ý tưởng nên ngành du lịch – thương mại
TP vẫn chưa tạo được những sản phẩm đặc trưng, chủ lực; các tuyến điểm được mở rộng, dịch vụ tại đó được cải thiện nhưng chỉ chủ yếu phục vụ khách nội địa, không gây ấn tượng mạnh thu hút khách quốc tế
1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho phát triển du lịch của TP.HCM
Sau khi nghiên cứu kinh nghiệm phát triển du lịch của một số thành phố trên thế giới và trong nước, tác giả rút ra một số bài học kinh nghiệm cho phát triển du lịch TP HCM như sau:
Một là, thành phố cần xác định sản phẩm du lịch đặc thù dựa trên lợi thế của mình
Trên cơ sở đó làm cho sản phẩm du lịch đặc thù ngày càng trở nên phong phú nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của du khách, đủ sức để cạnh tranh với các đối