1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

SKKN Kỹ năng làm bài văn cho học sinh

19 222 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 126 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Ngày nay sự hiểu biết con người luôn đổi mới. Cho nên kiến thức học được trong nhà trường bao nhiêu chăng nữa cũng là hạn chế. Thế thì cái gì là quan trọng ? Quan trọng là rèn luyện bộ óc, rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập, phải tìm tòi phương pháp vận dụng kiến thức, phải vận dụng tốt nhất bộ óc của mình”.

Trang 1

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

======

PHẦN I: SƠ YẾU LÍ LỊCH

Họ và tên:

Năm sinh: 1977

Năm vào ngành: 1999

Chức vụ : Tổ trưởng chuyên môn

Đơn vị công tác: Trường THPT

Trình độ chuyên môn: Đại học

Hệ đào tạo: Chính quy

Bộ môn giảng dạy: Ngữ văn

Ngoại ngữ : Tiếng Anh- chứng chỉ A

Tin học: Tin học văn phòng - chứng chỉ B

Trình độ chính trị : sơ cấp

Khen thưởng: Lao động tiên tiến

Trang 2

Tên đề tài:

MỘT VÀI PHƯƠNG PHÁP RÈN KỸ NĂNG LÀM VĂN CHO HỌC SINH THÔNG QUA CÁC GIỜ TRẢ BÀI

PHẦN II: ĐẶT VẤN ĐỀ

I LÍ DO TRỌN ĐỀ TÀI

“Ngày nay sự hiểu biết con người luôn đổi mới Cho nên kiến thức học được trong nhà trường bao nhiêu chăng nữa cũng là hạn chế Thế thì cái gì là quan trọng ? Quan trọng là rèn luyện bộ óc, rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập, phải tìm tòi phương pháp vận dụng kiến thức, phải vận dụng tốt nhất bộ óc của mình”.

( Phạm Văn Đồng – Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện – 11/1973)

- Đổi mới phương pháp dạy học(PPDH) là nhiệm vụ trọng tâm của ngành Giáo dục nói chung và của mối giáo viên nói riêng Đổi mới để đáp ứng yêu cầu của thời đại; đổi mới để nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường, giúp các em nắm vững kiến thức, có thái độ tích cực, tinh thần chủ động sáng tạo trong học tập; phát huy được vai trò chủ đạo của giáo viên

- Đặc thù của môn văn không chỉ là dạy tri thức về khoa học xã hội, tri thức về lịch sử, về đời sống văn hoá mà còn dạy cho học sinh nhân cách lối sống, lòng nhân ái, tình yêu thương con người “ văn học là nhân học” Đặc trưng của môn văn

là một môn nghệ thuật (dùng ngôn từ làm chất liệu xây dựng hình tượng) Vì vậy người dạy phải có kỹ năng truyền đạt, người học phải có năng lực cảm thụ nhất định, phải kiên trì, chịu khó Đặc biệt phải có tâm hồn rung cảm, trí tưởng tượng phong phú Chính vì vậy hiện nay phần lớn học sinh ngại tư duy môn văn, có tư tưởng xa rời môn văn dẫn tới tình trạng học yếu kém môn văn Đối với trường ATK học sinh chủ yếu là người dân tộc, ở vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn,việc học văn của học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn Chất lượng đó được thể hiện rất rõ qua những bài làm văn của học sinh Bởi làm văn lại là một phân môn khó trong môn Văn Đặc trưng của phân môn này là yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức đã được học ở phân môn văn và Tiếng việt vào việc làm văn

Trang 3

- Đối với phần làm văn, khả năng tư duy, tưởng tượng, kĩ năng làm bài của học

sinh còn rất nhiều hạn chế, dẫn đến kết quả không cao Bên cạnh đó ý thức học

môn văn của học sinh chưa cao Bản thân nhiều giáo viên còn có tâm lí chỉ chú trọng đến giờ văn học, xem nhẹ giờ làm văn, dạy qua loa, chiếu lệ Biểu hiện rất rõ của học sinh trước một đề văn là thường tỏ ra lúng túng ngay ở khâu tìm hiểu đề, xác định các yêu cầu, cho đến công đoạn vận dụng kiến thức văn chương, lịch sử, xã hội… và năng lực tư duy ngôn ngữ để triển khai, lập dàn

ý Đáng lưu ý hơn nữa là tình trạng mò mẫm trong công đoạn tạo văn bản hoàn chỉnh Nhiều bài viết của học sinh còn bộc lộ tình trạng làm bài mà không hề có ý thức về việc vận dụng kiến thức mà môn làm văn đã cung cấp,

bỏ qua công đoạn phân tích, tìm hiểu đề, tìm ý và lập dàn ý, cứ đề ra thì bắt tay vào viết: nghĩ sao viết vậy, lắp ghép câu chữ tùy tiện, quanh quẩn lặp lại những điều đã viết, đến lúc không nghĩ ra được điều gì nữa thì kết thúc bài.

Đó là những bài văn lạc đề, lệch đề, không có kết cấu, đoạn, mạch rõ ràng, đầy những câu văn “bất thành cú”, từ ngữ thiếu chính xác, sai chính tả việc

đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh là một vấn đề cần được quan tâm đúng mực

Vì vậy vấn đề trăn trở của thầy cô giáo là đổi mới phương pháp dạy học như thế nào và bằng cách nào cho phù hợp với đối tượng học sinh là một vấn đề cần được quan tâm đúng mực cần đưa ra việc những giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng bài làm cho h/s vì vậy mà tôi lựa chọn chuyên đề:

" Một vài Phương pháp rèn kỹ năng làm văn cho học sinh thông qua các giờ trả bài" Xây dựng đề tài giúp bản thân có điều kiện khái quát nâng cao chuyên môn

sau thời gian nghiên cứu áp dụng và qua chuyên đề mong được chia sẻ với đồng nghiệp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong trường THPT

II PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN

- Thời gian nghiên cứu và áp dụng: từ tháng 09 năm 2014 đến cuối tháng 5 năm 2015

- Địa điểm và đối tượng áp dụng : Các lớp 11 trường THPT ATK- Tân Trào

- Phạm vi: môn văn đặc biệt là phân môn làm văn

Trang 4

PHẦN III: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I KHẢO SÁT THỰC TẾ

- Căn cứ vào kết quả môn văn của học sinh ở lớp 10, và bài kiểm tra đầu cấp của 3 lớp 11: 11B2: 11B6: 11B5 như sau:

Lớp 11B2: Giỏi : 0/34

Khá : 3/34

Trung bình: 14/34

Yếu : 17/34

Lớp 11B5: Giỏi : 0/34

Khá : 1/34

Trung bình: 9/34

Yếu : 24/43

Lớp 11B6: Giỏi : 0/35

Khá : 2/35

Trung bình: 14/35

Yếu : 19/35

- Qua theo dõi thời gian đầu học kỳ I, tôi nhận thấy:

+ Có những em giờ học trên lớp nhận thức được nhưng kỹ năng viết bài lại rất kém, không có khả năng bố cục, không có khả năng diễn đạt, hoặc chữ viết cẩu thả, câu văn kém trình bày cả bài văn chỉ có một dấu chấm câu, mắc nhiều lỗi chính tả.( Điều đó được thể hiện qua bài kiểm tra viết đầu tiên của năm học)

+ Có những em rỗng kiến thức từ dưới, nên vốn kiến thức văn nghèo nàn, không nắm được gì về kỹ năng làm bài

II CƠ SỞ LÍ LUẬN

Môn làm văn có nhiệm vụ chủ yếu là dạy học sinh biết cách tạo lập các văn bản nói và viết Qua đó thể hiện rõ vốn hiểu biết về đời sống, trình độ văn hoá của học sinh Bài làm văn trở thành sản phẩm tổng hợp, là nơi trình bày kết quả đích

Trang 5

thực của việc học Tiếng Việt, giảng văn, sức cảm thụ của học sinh đó đối với tác phẩm văn học, cách nhìn nhận về thế giới tự nhiên xã hội và con người

Giờ trả bài là một giờ học giúp học sinh có điều kiện nhìn lại bài văn của mình từ đó rút ra được những ưu nhược điểm trong bài làm từ đó có thể phát huy được những mặt mạnh và khắc phục những điểm yếu để bài viết sau được tốt hơn Đây cũng là giờ học giáo viên có thời gian để rèn cho học sinh kỹ năng làm bài , từ việc tìm ý cho đến hành văn cụ thể

III CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.1 Thực trạng việc dạy giờ trả bài trong trường phổ thông:

Phần đông học sinh khi được hỏi em có thích nghe phân tích cái hay, cái đẹp trong văn học không thì các em trả lời là “thích” nhưng hỏi các em có thích làm văn không thì nhiều em đều trả lời “không thích” vì “khó viết”

- Học sinh thì tiết trả bài cho vào tiết học thích nhất vì không phải kiểm tra bài cũ, cộng với việc các em không mấy khi ghi chép nên học sinh vốn đã lười học văn giờ trả bài lại càng mất trật tự hơn Khi được hỏi giờ trả bài dạy thế nào nhiều giáo viên có trao đổi, giờ trả bài có nói cũng chỉ nói một mình học sinh có chú ý nghe giảng đâu mà nói nhiều vào lớp chữa bài qua loa sau đó công bố kết quả bài làm của học sinh Do vậy chất lượng giờ trả bài chưa cao

2.2 Nguyên nhân của những tồn tại

- Giáo viên chưa chuẩn bị chu đáo nội dung giờ trả bài, việc chữa bài chưa

kỹ Cách dẫn dắt vấn đề chưa khoa học nên sinh ra nhàm chán với học sinh

- Học sinh chưa biết được vai trò tác dụng và tầm quan trọng trong việc trả bài trên lớp, nên phần đa chưa tập trung vào giờ học, không chú ý nội dung bài giảng của giáo viên trên lớp

IV PHƯƠNG PHÁP VÀ BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH

Để giúp cho học sinh có hứng thú học tập giờ trả bài từ đó rèn cho học sinh

kỹ năng làm văn tôi có một số giải pháp sau đây:

1 Người giáo viên phải xác định rõ nhiệm vụ của phân môn làm văn và nhiệm vụ của giờ trả bài.

Chúng ta phải xác định dạy học sinh học môn làm văn là giúp cho các em nói, viết lưu loát Học sinh phát triển vốn từ ngữ, bồi dưỡng cảm xúc tình cảm lành

Trang 6

mạnh trong sáng, khả năng lựa chọn sắp xếp ý rõ ràng Rèn khả năng tư duy, trí tưởng tượng phong phú Qua đó vốn sống của các em được tăng lên giúp các em tự tin, có khả năng ứng xử sinh hoạt trong cuộc sống

Thông qua giờ trả bài, rèn cho học sinh kỹ năng làm văn, giáo viên giúp các em thấy được những yêu cầu cơ bản của bài văn, những luận điểm cần khai thác trong bài, cách diễn đạt, bố cục, hành văn, cụ thể chữa về từ về câu viết thế nào cho đúng thậm chí cả cách trích dẫn dẫn chứng vào bài như thế nào Từ đó

để các em rút ra những kinh nghiệm trong khi viết bài sao cho bài văn đạt kết quả tốt

2 Những việc cần chuẩn bị

2.1 Về phía học sinh

- Yêu cầu các em trước giờ trả bài phải chuẩn bị bài đầy đủ: Từ việc xác định các yêu cầu của đề đến việc tìm ý, lập dàn ý Phải nắm chắc lý thuyết làm văn cũng như các bài giảng văn đã học

- Tự xem mình đã triển khai được những ý gì và còn thiếu ý gì trong bài, đã mắc những lỗi nào cần phải sữa chữa

- Nâng cao ý thức tự rèn luyện kỹ năng viết đúng chính tả, ngữ pháp, diễn đạt

- Có thái độ học tập nghiêm túc, tính thẳng thẳn trung thực trong khi làm bài Thường xuyên đọc sách báo tài liệu để nâng cao vốn từ và có thêm kiến thức

Lưu ý: Trong giờ trả bài đầu tiên, giáo viên chưa đi ngay vào việc chữa bài

mà nên dành một ít thời gian nhắc lại kỹ năng làm bài văn nghị luận Đây là điểm yếu của hầu hết những học sinh yếu kém Chính vì vậy giáo viên phải hướng dẫn

và trang bị cho các em những kiến thức cơ bản của văn nghị luận

2.2 Về phía giáo viên:

- Giờ trả bài đầu tiên trong năm học giáo viên cần dành thời gian hướng dẫn cho học sinh những kỹ năng cơ bản trong các dạng bài văn nghị luận giúp các em

ôn lại những kiến thức làm văn đã học

- Ra những đề bài nằm trong chương trình học, nhằm mục đích ôn lại, củng

cố kiến thức giảng văn và lý thuyết làm văn ( Lưu ý: Có thể ra đề mở song phải là thể loại học sinh đã và đang học, đề ra phải bám sát chuẩn kiến thức, phải có các

Trang 7

bước nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao kể cả đề nghị luận xã hội)

- Chấm bài của học sinh một cách kỹ lưỡng, có lời phê những ưu nhược điểm trong bài làm của học sinh Gạch chân bằng bút đỏ những lỗi cơ bản mà học sinh mắc trong bài Ghi lại những bài văn khá, những cách diễn đạt độc đáo, sáng tạo cũng như những bài yếu kém cần sửa chữa Giáo viên cần chấm bài với một thái độ dân chủ và khoa học, phải nhìn nhận bài làm của học sinh là một sản phẩm lao động, một sản phẩm sáng tạo cực nhọc của các em Nên trân trọng từng tìm tòi, cảm thông từng sai sót vừa nghiêm khắc vừa độ lượng trước từng khuyết điểm của học sinh

- Giáo viên theo dõi sự tiến bộ của từng em qua các bài làm cụ thể Đối với

từng học sinh, giáo viên phải theo dõi chỗ yếu nhất để tiếp tục uốn nắn rèn luyện

- Chuẩn bị đầy đủ đáp án và thang điểm của bài cũng như trình tự chữa bài:

Từ khâu yêu cầu học sinh xác định các yêu cầu của đề bài đến việc tìm ý, lập dàn ý

và hành văn

- Thực hiện các bước lên lớp theo giáo án trong tiết trả bài từ các mặt kiến thức, tư tưởng, kỹ năng, phương pháp…Xây dựng dàn bài mẫu để cả lớp rút kinh nghiệm về nội dung và phương pháp làm bài Có thể chọn đọc một bài hay và đoạn văn viết tốt cho học sinh tham khảo Giáo viên giành thì giờ cho học sinh hỏi trực tiếp giáo viên về bài làm của mình, kể cả về số điểm Từ đó hướng dẫn học sinh rút ra cách làm bài văn dạng đề vừa cho học sinh làm Yêu cầu học sinh chép lời nhận xét vào sổ theo dõi bài làm văn và tự chữa theo những lời ghi

V NHỮNG CÔNG VIỆC THỰC TẾ ĐÃ LÀM

1 Phạm vi kiến thức cần ghi nhớ trong một giờ trả bài:

1.1 Ví dụ khi phân tích một tác phẩm thơ trữ tình: có hai cách:

- Phân tích theo kiểu bổ ngang ( đối với những bài thơ ngắn) phân tích lần

lượt theo trình tự của bài thơ

- Phân tích theo kiểu bổ dọc ( đối với những bài thơ dài ) Phân tích theo ý,

chọn những câu thơ có cùng ý tiêu biểu để phân tích

Ví dụ: Đề bài phân tích bài thơ " Thương vợ" củaTrần Tế Xương:

Trang 8

Đây là bài thơ có 8 câu nên phân tích lần lượt theo hai câu đề, hai câu thực, hai câu luận, hai câu kết

Song có những bài thơ dài thì thường phân tích theo ý ví dụ như bài : "Vội vàng" của (Xuân Diệu) lớp 11 "Việt Bắc" của Tố Hữu lớp 12

( GV lấy ví dụ khi phân tích đề bài sau: Qua cách nhìn của XD trong bài thơ

Vội vàng, thiên nhiên và sức sống quanh ta hiện lên như thế nào? những hình ảnh nào đã dệt lên bức tranh thiên nhiên và sự sống đó? Hãy chỉ ra những tính chất chung của hình ảnh ấy?

* Học sinh cần nắm được các ý sau trong phần thân bài:

- So sánh thiên nhiên, sức sống của nhà thơ Xuân Diệu với các nhà thơ khác cùng thời như: Tản đà, thế Lữ để thấy sự khác biệt trong tư tưởng hồn thơ XD

- Ý định táo bạo của nhà thơ XD được thể hiện qua bốn câu thơ đầu…

- Thiên đường trên mặt đất vào độ mùa xuân về trong con mắt của nhà thơ Đây không phải là mùa xuân đơn thuần, mà là xuân sắc, xuân tình

- Quan niệm về thời gian, tuổi trẻ, cuộc đời XD

- Cảnh vật thiên nhiên đep đẽ những chính là sự chia ly của trời đất và vạn vật với mùa xuân

- Thái độ sống của nhà thơ vội vàng, hưởng thụ chạy đua với thời gian nhưng với chiều hướng tích cực Thể hiện rõ ở các động từ được nhấn mạnh say, thâu…

- Hình ảnh có sự khách nhau nhưng tính chất chung của nó đều thể hiện quan niệm mới mẻ của nhà thơ về thiên nhiên và cuộc sống

* Kết luân:

- Khẳng định cách nhìn của XD về thiên nhiên và sự sống rất mới mẻ

- Cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh táo bạo linh hoạt, giọng điệu say mê sôi nổi thể hiên đúng hồn thơ XD

1.2 Ví dụ khi phân tích một tác phẩm văn xuôi tự sự

a Phân tích truyện : Có thể chia ra từng nhân vật hay từng vấn đề.

Phân tích nhân vật lại có thể chia theo tính cách, nội tâm, ngoại hình, hay theo các đặc điểm của tính cách, của số phận; hoặc có thể phân tích theo các chặng đường

Trang 9

đời của nhân vật Còn phân tích theo vấn đề thi chúng ta thường phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo

* Phân tích truyện theo vấn đề:

+ Phân tích giá trị hiện thực trong tác phẩm Chí Phèo.

+ Phân tích giá trị nhân đạo và giá trị tố cáo trong tác phẩm

* Phân tích theo tích cách, nội tâm, ngoại hình nhân vật.

+ Tích cách của Chí Phèo trước khi đi tù

+ Tính cách của Chí Phèo sau khi ra tù

+ Khi gặp thị Nở, Chí lại trở nên hiền hòa, khao khát quay về lương thiện

+ Cùng với sự thay đổi về nội tâm, tích cách, ngoại hình nhân vật cũng có sự thay đổi

* Phân tích đối tượng theo quan hệ nhiều chiều.

- Phân tích theo quá trình phát triển: Phân tích nhân vật thì cần theo dõi

nhân vật đã trải qua những giai đoạn phát triển nào, đối chiếu những đổi thay, chỉ

ra những chi tiết thể hiện sự thay đổi và nêu lên ý nghĩa của chúng

+ Chẳng hạn, phân tích nhân vật Chí Phèo thì cần theo dõi các giai đoạn trong cuộc đời của hắn

+ Khi phân tích đối tượng theo quan hệ nhiều chiều, chúng ta cần xem xét đối

tượng ở các phương diện nào?

+ Ví dụ: Phân tích sự phát triển trong tích cách của nhân vật chị Dậu khi

người nhà Lí trưởng xông đến định trói anh Dậu lần nữa

- Cháu van ông, nhà cháu vừa mới tỉnh được một lúc, ông tha cho!

- Tha này! Tha này!

Vừa nói hắn vừa bịch luôn vào ngực chị Dậu mấy bịch rồi lại sấn đến để trói anh Dậu.

Hình như tức quá không thể chịu được, chị Dậu liều mạng cự lại.

- Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ.

Cai lệ tát vào mặt chị Dậu một cái đánh bóp, rồi hắn cứ nhảy vào cạnh anh Dậu Chị Dậu nghiến hai hàm răng:

Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem.(Tắt đèn -NgôTất Tố).

Trang 10

* Phân tích đối tượng theo mối quan hệ của nó với môi trường, hoàn cảnh xung quanh.

Phân tích nhân vật thì cần chú ý đến mối quan hệ giữa nhân vật với hoàn cảnh của nó, xem quan hệ đó là tương đồng hay tương phản trong việc biểu hiện tính cách nhân vật

2 Cách bố cục bài văn.

- 3 phần : Đặc điểm, nhiệm vụ của từng phần

* Mở bài : Có thể mở bài theo hai cách trực tiếp hoặc gián tiếp

* Thân bài: Triển khai các luận điểm đã tìm được trong phần tìm ý

* Kết bài : Khái quát lại vấn đề, nêu những đánh giá của bản thân về vấn đề

đã trình bày, có thể đưa ra bài học liên hệ

Lưu ý: Học sinh khi phân tích phải lấy dẫn chứng để minh hoạ cho các luận điểm, luận cứ Muốn vậy học sinh phải nắm chắc kiến thức giảng văn đã học Giữa các đoạn phải có câu dẫn dắt chuyển đoạn phù hợp Khi học sinh đã cơ bản nắm được các bước làm bài văn nghị luận thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh cách trình bày bài văn cho khoa học, cách tạo đoạn hợp lý

Mở bài 1- 2 đoạn; Kết luận 1 đoạn; Thân bài từ 2 đoạn trở lên

- Trong giờ trả bài giáo viên nên xem các em hay mắc lỗi gì về diễn đạt, về chính tả thì cho các em luyện ngay các lỗi đó cho tới khi khắc phục được

2.1 Ví dụ 1: Trong bài viết số 1 của chương trình Ngữ Văn 11 chuẩn về đề nghị luận xã hội Gv có ra đề bài:

Để rèn luyện kỹ năng viết văn nghị luận và kiểm tra theo hướng đổi mới kiểm tra đánh giá, giáo viên yêu cầu học sinh đọc kỹ lại đề bài và xác định các yêu cầu của đề bài Phân tích đề bài bằng cách đặt ra các câu hỏi (Đề ra có mấy phần: Phần đọc - hiểu các em cần bám vào đâu để làm bài Phần văn thuộc thể loại gì? Nội dung bài văn là gì? Kiểu bài văn? Trọng tâm? Từ đó học sinh xác định:

a Tìm hiểu đề:

* Phần I Đọc - hiểu: Đối với đề đọc hiểu Gv yêu cầu h/s nắm được những

kiến thức về từ, biện pháp tu từ, về phong cách ngôn ngữ những kĩ năng - kiến thức về Tiếng Việt mà các em đã được học Với đề bài trên yêu cầu h/s trả lời các câu hỏi sau:

Ngày đăng: 18/07/2017, 12:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w