1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản tại vùng biển ven bờ huyện núi thành, tỉnh quảng nam

241 217 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 241
Dung lượng 14,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam” là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TÔ VĂN PHƯƠNG

KHAI THÁC HỢP LÝ NGUỒN LỢI THỦY SẢN TẠI VÙNG BIỂN VEN BỜ HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

KHÁNH HÒA - 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

TÔ VĂN PHƯƠNG

KHAI THÁC HỢP LÝ NGUỒN LỢI THỦY SẢN TẠI VÙNG BIỂN VEN BỜ HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

Ngành đào tạo : Kỹ thuật khai thác thủy sản

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Khai thác hợp lý nguồn lợi thủy

sản vùng biển ven bờ huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam” là công trình nghiên

cứu của riêng cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này

Khánh Hòa, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận án

Tô Văn Phương

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của Ban Giám hiệu, quý phòng ban Trường Đại học Nha Trang, khoa Sau đại học, Viện Khoa học và Công nghệ Khai thác Thủy sản đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS Trần Đức Phú và TS Phan Trọng Huyến đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này

Tôi cũng chân thành gửi lời cám ơn đến cán bộ Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Núi Thành – anh Trần Văn Trường, cán bộ Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng Nam, Cảng vụ Kỳ Hà, Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư và các cơ quan khác của tỉnh Quảng Nam đã hỗ trợ và tạo điều kiện cho tôi tiếp cận thực tế tại các địa phương trong tỉnh để nghiên cứu và thu thập số liệu

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Xin chân thành cám ơn./

Khánh Hòa, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận án

Tô Văn Phương

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CÁM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC BẢNG ix

DANH MỤC HÌNH xi

DANH MỤC ĐỒ THỊ xii

TÓM TẮT NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN xiv

KEY FINDINGS xv

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

5 Bố cục của luận án 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4

1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA PHƯƠNG NGHIÊN CỨU 4

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam 4

1.1.2 Tổng quan nghề cá huyện Núi Thành 7

1.1.3 Đặc điểm tự nhiên vùng biển ven bờ huyện Núi Thành 14

1.2 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 20

1.2.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước 20

1.2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 29

1.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG 40

Trang 6

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHAI THÁC HỢP LÝ NLTS 41

2.1.1 Khái niệm khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản 41

2.1.2 Nội dung khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản 42

2.1.3 Mô hình tính toán khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản 44

2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 49

2.2.1 Thực trạng khai thác nguồn lợi thủy sản ven bờ huyện Núi Thành 49

2.2.2 Đánh giá tính hợp lý của khai thác nguồn lợi vùng biển Núi Thành 49

2.2.3 Đề xuất giải pháp, mô hình quản lý nhằm khai thác hợp lý NLTS 49

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 50

2.3.1 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu 50

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 50

2.3.3 Phương pháp chọn cỡ mẫu và thu mẫu ngẫu nhiên 51

2.3.4 Phương pháp điều tra kích thước sản phẩm khai thác 56

2.3.5 Phương pháp xác định sản lượng khai thác 57

2.3.6 Xác định sản lượng và cường lực khai thác hợp lý 59

2.3.7 Phương pháp xác định sản lượng và cường lực khai thác tối ưu 59

2.3.8 Phương pháp xử lý số liệu 60

2.4 ĐIỀU KIỆN SỬ DỤNG MÔ HÌNH ƯỚC TÍNH GIÁ TRỊ THAM CHIẾU 61

2.4.1 Tiềm năng áp dụng mô hình Schaefer 61

2.4.2 Điều kiện cần thiết để sử dụng mô hình Schaefer 62

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 63

3.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TẠI VÙNG BIỂN VEN BỜ HUYỆN NÚI THÀNH 63

3.1.1 Thực trạng tàu thuyền hoạt động ven bờ huyện Núi Thành 63

3.1.2 Thực trạng về cấu trúc ngư cụ 68

Trang 7

3.1.3 Ngư trường khai thác 69

3.1.4 Thực trạng về thời gian hoạt động khai thác của đội tàu 72

3.1.5 Năng suất khai thác 75

3.1.6 Sản lượng khai thác 76

3.1.7 Đánh giá thực trạng của từng nghề khai thác 77

3.1.8 Đánh giá thực trạng của tất cả nghề và theo loài khai thác 84

3.1.9 Tính toán trữ lượng và khai thác tối ưu nguồn lợi ven bờ huyện Núi Thành 85

3.1.10 Thực trạng kích thước các loài thủy sản chính 87

3.1.11 Thực trạng hoạt động khác ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi thủy sản 97

3.1.12 Thực trạng nguồn lợi thủy sản tại khu vực rạn san hô huyện Núi Thành 99

3.2 ĐÁNH GIÁ TÍNH HỢP LÝ CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC 102

3.2.1 Sản lượng và cường lực khai thác 102

3.2.2 Ngư trường khai thác 104

3.2.3 Mùa vụ khai thác 105

3.2.4 Cấu trúc ngư cụ khai thác và các hoạt động khác 105

3.2.5 Thành phần loài của sản lượng và kích thước một số loài chính 106

3.2.6 Tình trạng san hô và sử dụng nguồn lợi khu vực rạn san hô 107

3.3 GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO KHAI THÁC HỢP LÝ NGUỒN LỢI THỦY SẢN 108

3.3.1 Cường lực khai thác hợp lý 108

3.3.2 Sản lượng khai thác hợp lý 112

3.3.3 Giải pháp quản lý cấu trúc ngư cụ khai thác 113

3.3.4 Giải pháp phục hồi, tái tạo nguồn lợi thủy sản 114

3.3.5 Giải pháp nâng cao nhận thức ngư dân 116

3.3.6 Giải pháp về quản lý hành chính 117

3.4 MỘT SỐ BÀN LUẬN VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 119

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 121

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 122

TÀI LIỆU THAM KHẢO 123 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 MSY Sản lượng bền vững tối đa

2 CPUE Sản lượng trên một đơn vị cường lực khai thác

3 f MSY Cường lực tại mức khai thác sản lượng tối đa

4 XMSY Sinh khối sản lượng bền vững tối đa

5 K Sức tải môi trường

6 MEY Sản lượng kinh tế tối đa

7 TAC Tổng sản lượng được phép đánh bắt

8 IEQs Hạn ngạch cường lực cá nhân

9 TURFs Quyền sử dụng lãnh thổ trong khai thác thủy sản

10 FAO Tổ chức Nông lương thế giới

11 NLTS Nguồn lợi thủy sản

12 NCS Nghiên cứu sinh

15 THCS Trung học cơ sở

16 THPT Trung học phổ thông

17 KCN Khu công nghiệp

18 BVNLTS Bảo vệ nguồn lợi thủy sản

19 KT&BVNLTS Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản

20 NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

21 CV Đơn vị công suất

22 2a Kích thước mắt lưới phần giữ cá

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Thống kê tàu thuyền huyện Núi Thành qua các năm theo dải công suất 9

Bảng 1.2: Thống kê năng lực tàu thuyền, sản lượng giai đoạn 2004 ÷ 2014 9

Bảng 1.3: Thống kê cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá 11

Bảng 1.4: MSY và TAC của nghề khai thác tôm ở Tây Nam Đài Loan 23

Bảng 1.5: Phương án quy hoạch tàu thuyền nghề cá đến năm 2020 30

Bảng 1.6: Sản lượng và cường lực bền vững tối đa ở vùng biển xa bờ Đông Nam Bộ 38

Bảng 2.1: Thống kê tàu thuyền theo nghề, địa phương 53

Bảng 2.2: Thống kê tàu thuyền theo nghề dải công suất, địa phương 54

Bảng 2.3: Bảng phân bố mẫu nghiên cứu theo địa bàn, nghề khai thác 56

Bảng 3.1: Tàu thuyền khai thác ven bờ huyện Núi Thành qua các năm 63

Bảng 3.2: Thống kê phân bố tàu thuyền khai thác ven bờ huyện Núi Thành (năm 2014) 64

Bảng 3.3: Bảng thống kê thông số tàu thuyền mẫu điều tra 66

Bảng 3.4: Kích thước trung bình của tàu thuyền theo nghề khai thác 67

Bảng 3.5: Trang thiết bị an toàn và phòng nạn 67

Bảng 3.6: Thống kê tình trạng kích thước ngư cụ khai thác 68

Bảng 3.7: Khu vực tàu thuyền hoạt động khai thác ven bờ 70

Bảng 3.8: So sánh năng suất khai thác giữa khu vực nghiên cứu và phạm vi cả nước 72

Bảng 3.9: Số ngày hoạt động tiềm năng của các nghề khai thác .73

Bảng 3.10: Hệ số hoạt động tàu (BAC) 74

Bảng 3.11: Số ngày hoạt động thực tế của các nghề khai thác 75

Bảng 3.12: Năng suất khai thác của các nghề khai thác (kg/ngày tàu) 75

Bảng 3.13: Sản lượng của các nghề khai thác ven bờ Núi Thành 76

Bảng 3.14: Biến động sản lượng, cường lực của nghề lưới rê 77

Bảng 3.15: Giá trị hợp lý về cường lực và sản lượng cho nghề lưới rê 78

Bảng 3.16: Biến động sản lượng, cường lực của nghề lưới kéo 78

Trang 10

Bảng 3.17: Giá trị hợp lý về cường lực và sản lượng cho nghề lưới kéo 79

Bảng 3.18: Biến động sản lượng, cường lực của nghề câu 79

Bảng 3.19: Giá trị hợp lý về cường lực và sản lượng cho nghề câu 80

Bảng 3.20: Biến động sản lượng, cường lực của nghề lưới mành 81

Bảng 3.21: Các giá trị hợp lý về cường lực và sản lượng cho nghề lưới mành 81

Bảng 3.22: Biến động sản lượng, cường lực của nghề lặn 82

Bảng 3.23: Giá trị hợp lý về cường lực và sản lượng cho nghề lặn 83

Bảng 3.24: Biến động sản lượng, cường lực của nghề lưới vây 83

Bảng 3.25: Giá trị hợp lý về cường lực và sản lượng cho nghề lưới vây 84

Bảng 3.26: Tổng hợp giá trị ước lượng theo mô hình cho các nghề khai thác 84

Bảng 3.27: Các tham số ước lượng qua tính toán theo mô hình 85

Bảng 3.28: Thống kê xu hướng phát triển nghề khai thác rong mơ 97

Bảng 3.29: Thành phần loài bắt gặp trong quá trình khảo sát 99

Bảng 3.30: Tần suất bắt gặp trong quá trình khảo sát (04 mặt cắt) 101

Bảng 3.31: Mật độ trung bình bắt gặp (cá thể/100m²) tại các mặt cắt (MC) khảo sát 102

Bảng 3.32: Cường lực khai thác theo tính toán khoa học 103

Bảng 3.33: Sản lượng khai thác hợp lý ước tính từng nghề 104

Bảng 3.34: Đánh giá tương quan giữa thời gian khai thác và mùa sinh sản 105

Bảng 3.35: Đánh giá tính hợp lý của ngư cụ khai thác 106

Bảng 3.36: Tổng hợp đánh giá sự hợp lý đối với sản phẩm khai thác chính 107

Bảng 3.37: Phân bố tàu thuyền cần cắt giảm theo nghề 109

Bảng 3.38: Phân bổ cường lực khai thác hợp lý theo nghề 110

Bảng 3.39: Phân bổ sản lượng khai thác hợp lý theo nghề khai thác 113

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Bản đồ địa chính khu vực huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam 4

Hình 1.2: Sơ đồ vùng biển ven bờ huyện Núi Thành - vùng biển nghiên cứu 15

Hình 1.3: Hình thái địa hình rạn san hô phía Đông Bắc đảo Hòn Dứa 17

Hình 2.1: Mối quan hệ giữa các yếu tố về khai thác hợp lý NLTS 41

Hình 2.2: Mối quan hệ giữa sản lượng và cường lực khai thác 47

Hình 3.1: Tàu làm nghề lặn biển huyện Núi Thành 66

Hình 3.2: Bản đồ ngư trường chung các nghề khai thác tại vùng biển nghiên cứu 71

Hình 3.3: Khai thác rong mơ bằng thúng 98

Hình 3.4: Ngư dân khai thác rong mơ 98

Trang 12

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Biểu đồ 1.1: Tổng thành phần các giá trị sản xuất thủy sản giai đoạn 2004-2014 8

Biểu đồ 1.2: Biểu diễn biến động sản lượng khai thác giai đoạn 2004÷2014 10

Biểu đồ 1.3: Biểu diễn biến động sản lượng và tàu thuyền giai đoạn 2004÷2014 10

Biểu đồ 1.4: Biểu diễn xu hướng sản lượng và cường lực khai thác (CV) 10

Biểu đồ 1.5: Sơ đồ mô tả quá trình trao quyền 27

Biểu đồ 2.1: Đường cong mô hình Fox và Schaefer 48

Biểu đồ 3.1: Phân bố tàu thuyền theo địa phương 65

Biểu đồ 3.2: Phân bố tàu thuyền theo nghề hoạt động năm 2014 65

Biểu đồ 3.3: Phạm vi hoạt động của các nghề khai thác ven bờ 70

Biểu đồ 3.4: Biến động hoạt động khai thác trong năm của các nghề 73

Biểu đồ 3.5: Biến động năng suất khai thác các nghề theo thời gian 76

Biểu đồ 3.6: Mối tương quan giữa CPUE và cường lực khai thác nghề lưới Rê 77

Biểu đồ 3.7: Mô hình Schaefer ước tính sản lượng và cường lực khai thác hợp lý của nghề lưới Rê 77

Biểu đồ 3.8: Mối tương quan giữa CPUE và cường lực khai thác nghề lưới kéo 79

Biểu đồ 3.9: Mô hình Schaefer ước tính sản lượng và cường lực khai thác hợp lý của nghề lưới kéo 79

Biểu đồ 3.10: Mối tương quan giữa CPUE và cường lực khai thác nghề Câu 80

Biểu đồ 3.11: Mô hình Schaefer ước tính sản lượng và cường lực khai thác hợp lý của nghề Câu 80

Biểu đồ 3.12: Mối tương quan giữa CPUE và cường lực khai thác nghề lưới mành 81

Biểu đồ 3.13: Mô hình Schaefer ước tính sản lượng và cường lực khai thác hợp lý của nghề lưới mành 81

Biểu đồ 3.14: Mối tương quan giữa CPUE và cường lực khai thác nghề lặn 82

Biểu đồ 3.15: Mô hình Schaefer ước tính sản lượng và cường lực khai thác hợp lý của nghề lặn 82

Trang 13

Biểu đồ 3.16: Mối tương quan giữa CPUE và cường lực khai thác nghề 83

Biểu đồ 3.17: Mô hình Schaefer ước tính sản lượng và cường lực khai thác hợp lý của nghề lưới vây 83

Biểu đồ 3.18: Mô hình biến động trữ lượng và sản lượng theo cường lực khai thác 85

Biểu đồ 3.19: Mô hình biến động doanh thu và chi phí theo cường lực khai thác 86

Biểu đồ 3.20: Biến động của kích thước cá chuồn nghề lưới rê 87

Biểu đồ 3.21: Phân bố chiều dài cá chuồn trong nghề lưới rê 88

Biểu đồ 3.22: Biến động kích thước cá mối trong lưới kéo 88

Biểu đồ 3.23: Phân bổ chiều dài thân cá mối trong nghề lưới kéo 89

Biểu đồ 3.24: Biến động kích thước cá bánh đường trong lưới kéo 89

Biểu đồ 3.25: Phân bố chiều dài thân cá bánh đường nghề lưới kéo 90

Biểu đồ 3.26: Biến động kích thước tôm he trong lưới kéo 90

Biểu đồ 3.27: Phân bố chiều dài thân tôm he trong nghề lưới kéo 91

Biểu đồ 3.28: Biến động kích thước cá hố trong nghề câu 91

Biểu đồ 3.29: Phân bố chiều dài thân cá hố trong nghề câu 92

Biểu đồ 3.30: Biến động kích thước cá liệt trong nghề mành 93

Biểu đồ 3.31: Phân bố chiều dài thân cá liệt trong nghề lưới mành 93

Biểu đồ 3.32: Biến động kích thước cá nục trong nghề lưới mành 94

Biểu đồ 3.33: Phân bố chiều dài thân cá nục trong nghề lưới mành 94

Biểu đồ 3.34: Biến động kích thước cá nục trong nghề lưới vây 95

Biểu đồ 3.35: Phân bố chiều dài thân cá nục trong nghề lưới vây 95

Biểu đồ 3.36: Biến động kích thước cá cơm trong nghề lưới vây 96

Biểu đồ 3.37: Phân bố chiều dài thân cá cơm trong nghề lưới vây 96

Trang 14

TÓM TẮT NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Đề tài luận án: Khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ huyện Núi

- Luận án đánh giá thực trạng hoạt động khai thác, tìm ra giá trị sản lượng và cường lực khai thác hợp lý cho từng nghề khai thác (MSY, fMSY), giá trị ước tính trữ lượng nguồn lợi; đánh giá thực trạng về cấu trúc ngư cụ, ngư trường, mùa vụ và kích thước một số loài khai thác chính tại vùng biển ven bờ huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

- Đề tài luận án đánh giá tính hợp lý về: sản lượng, cường lực khai thác từng nghề khai thác (MSY, fMSY), cấu trúc ngư cụ, ngư trường, mùa vụ và kích thước một số loài khai thác chính tại vùng biển ven bờ huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

- Đề tài luận án đã đề xuất các giải pháp mang tính lý luận và thực tiễn để khai thác hợp lý NLTS vùng biển nghiên cứu, làm cơ sở nhân rộng ra các vùng biển ven bờ khác của nghề cá Việt Nam

Trang 15

KEY FINDINGS

Thesis title: “Reasonable fishing on coastal marine resource in Nui Thanh district,

Quang Nam province”

Major: Fishing Technology

Major code: 62620304

PhD Student: To Van Phuong

Supervisor: 1 Dr Tran Duc Phu

2 Dr Phan Trong Huyen

Institution: Nha Trang University

Key Findings:

Study results present clearly the former studies closed the our study Those are sound base to find theoritical fundamentory and contents out about reasonable fishing Then, propose the methods and models to estimate MSY, fMSY

The thesis assess comprehensively the status fishing activities, such as: MSY, fMSY, stock biomass, gear structures, fishing times, fishing ground and fish sizes on coastal marine resources in Nui Thanh district, Quang Nam province

Further, this thesis have evaluated the reasonable aspects including: landings, fishing effort, gear structures, fishing ground, fishing season and fish sizes on coastal marine resources in Nui Thanh district, Quang Nam province

Finally, the thesis have proposed the feasible solutions to fish reasonably marine resource in study area These solutions, therefore, apply further to others

Ph.D Student

To Van Phuong

Trang 16

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Hiện nay, nghề cá đang bị khai thác quá mức cả về sinh học và kinh tế ở nhiều nơi trên thế giới Garcia và Newton ước lượng đội tàu khai thác trên toàn thế giới, năm

1998 đã dư thừa cường lực khoảng 25 đến 53% về sản lượng kinh tế tối đa Cường lực khai thác tăng nhanh gấp tám lần so với tăng trưởng về sản lượng ở qui mô toàn cầu

Do vậy, tổ chức FAO theo kế hoạch hành động quốc tế về quản lý cường lực, kêu gọi tất cả quốc gia phải thường xuyên đánh giá, kiểm tra về cường lực khai thác hợp lý để tránh quá tải cường lực, khai thác bất hợp lý nguồn lợi thủy sản (NLTS) [62, 90] Nghề khai thác ven bờ ở Việt Nam đóng vai trò quan trọng về nguồn sinh kế và thu nhập của hàng triệu người dân ven biển Tuy nhiên, vùng biển ven bờ đang bị khai thác quá mức do đánh bắt bất hợp lý, nguồn lợi thủy sản có nguy cơ bị cạn kiệt Tính đến năm 2014, có khoảng 84% số lượng tàu thuyền lắp máy có công suất dưới 90CV

và thuyền thủ công hoạt động chủ yếu ở vùng nước ven bờ, dường như không đánh bắt theo vùng biển quy định, đã gây ra sức ép lớn lên nguồn lợi nơi đây [43, 51, 80]

Vùng biển huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam không phải là ngoại lệ với 85%

số lượng tàu thuyền trong tổng số 1.527 chiếc của huyện này có công suất dưới 90CV hoạt động chủ yếu ở ven bờ với nhiều ngư cụ cấm (ví dụ: sử dụng kích thước mắt lưới nhỏ, ngư cụ cấm ) [43] Đặc biệt, bên cạnh 871 tàu khai thác vùng biển ven bờ, trong

đó có 142 tàu lưới kéo dưới 45CV hoạt động vùng biển này (chiếm 38,5% trong tổng

số 369 tàu lưới kéo toàn tỉnh), với kích thước mắt lưới nhỏ, đánh bắt không có chọn lọc và gần như hoạt động quanh năm vùng ven bờ nên đã tàn phá ngư trường và nguồn lợi, thậm chí còn phá hủy môi trường sinh thái rạn san hô, thảm cỏ, rong biển; làm mất nơi sinh cư, tận diệt các loài thủy sản [43, 44]

Bên cạnh đó, nghề lưới kéo còn gây xung đột, cạnh tranh ngư trường khai thác với tàu thuyền hoạt động nghề khác như nghề câu vàng tầng đáy, lưới rê dẫn đến thu hẹp ngư trường hoạt động của các nghề này, ảnh hưởng đến an sinh xã hội cho cộng đồng ngư dân, đặc biệt là các hộ ngư dân nghèo khai thác ven bờ Số liệu thống kê 10 năm trở lại đây, trong sản lượng khai thác rất khó thấy xuất hiện cá chim, cá sủ, cá thiều trên địa bàn huyện Các đàn cá hồng, cá song không còn thấy xuất hiện nữa mà chỉ thấy nhiều cá tạp, cá không rõ nguồn gốc [43, 44]

Trang 17

Đáng chú ý, hoạt động đánh bắt ven bờ huyện Núi Thành đã và đang diễn ra hết sức phức tạp, làm suy thoái nguồn lợi và môi trường hệ sinh thái Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào đánh giá chuyên sâu về nghề khai thác ven bờ huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam bằng các mô hình tính toán để giúp khai thác hợp lý NLTS nơi đây, trong khi nghề khai thác huyện Núi Thành đang giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện nói riêng và toàn ngành thủy sản tỉnh Quảng Nam nói chung

Ngoài ra, công tác quản lý nghề cá còn nhiều vấn đề nan giải, các giải pháp và chính sách đưa ra chưa có cơ sở khoa học và con số cụ thể phục vụ quản lý Vấn đề đặt

ra là nếu muốn khai thác hợp lý NLTS ở vùng biển ven bờ huyện Núi Thành, thì có bao nhiêu tàu thuyền được phép hoạt động, sản lượng khai thác bao nhiêu là vừa, và đánh bắt vào khoảng thời gian nào là hợp lý? cùng với hàng loạt câu hỏi khác đang đặt ra, nhưng cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời xác đáng và khoa học

Xuất phát từ thực trạng nêu trên, cần thiết phải có nghiên cứu cụ thể về khai thác hợp lý ở nhiều góc độ khác nhau của nghề cá ven bờ huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam nhằm định hướng quy hoạch, quản lý và hoạch định chính sách nghề cá

có đầy đủ cơ sở khoa học Đây là vấn đề thời sự có tính cấp bách mà các cơ quan quản

lý nghề cá từ trung ương đến địa phương hiện nay đang quan tâm Chính vì vậy,

nghiên cứu sinh thực hiện đề tài luận án tiến sĩ: “Khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam”

2 Mục tiêu của đề tài

Mục tiêu cụ thể của đề tài là nhằm:

- Đánh giá toàn diện thực trạng khai thác thủy sản tại vùng biển nghiên cứu, bao gồm: tàu thuyền, ngư cụ, trang bị an toàn hàng hải, hiệu quả sản xuất, ngư trường khai thác, thành phần loài, kích thước các loài thủy sản, mức độ hợp lý trong khai thác NLTS… Ước lượng tỷ lệ vi phạm các quy định về kích thước loài thủy sản, kích thước mắt lưới, trang bị an toàn hàng hải…từ đó đánh giá tính hợp lý trong hoạt động khai thác NLTS, đề xuất giải pháp khả thi

- Tính toán giá trị cường lực và sản lượng khai thác hợp lý theo mô hình được áp dụng phổ biến trên thế giới

Trang 18

- Áp dụng mô hình kinh tế sinh học là cách tiếp cận mới chưa được áp dụng phổ biến tại Việt Nam để ước tính trữ lượng nguồn lợi và tính toán giá trị tối ưu hóa nguồn lợi thủy sản

- Áp dụng mô hình tái tạo, bảo vệ và phát triển nguồn lợi, tạo môi trường sinh sôi nảy nở… nhằm bù đắp nguồn lợi thủy sản để đạt mức khai thác hợp lý, thông qua mô hình chà – rạn nhân tạo

- Đề xuất một số giải pháp để khai thác hợp lý NLTS tại vùng biển ven bờ huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghề, hoạt động khai thác nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Vùng biển ven bờ huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

- Thời gian: Từ 2011 đến 2014

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp các nhà quản lý, nhà khoa học có cách tiếp cận khác trong lập kế hoạch và chính sách nghề cá nói chung; góp phần khai thác hợp

lý nguồn lợi thủy sản, quản lý và phát triển thủy sản vùng biển ven bờ huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam nói riêng, đặc biệt trong bối cảnh nguồn lợi ven bờ cạn kiệt, hoạt động khai thác thủy sản chưa hợp lý

5 Bố cục của luận án

Mở đầu

Chương 1: Tổng quan

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết luận và kiến nghị

Danh mục công trình đã công bố của tác giả

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 19

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1.1 Đặc điểm tự nhiên huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Núi Thành là một trong sáu huyện thị và nằm ở phía Nam của tỉnh Quảng Nam, được thành lập năm 1983 trên cơ sở tách huyện Tam Kỳ (cũ) thành huyện Núi Thành

và thị xã Tam Kỳ (nay thành phố Tam Kỳ, tỉnh lị của Quảng Nam) Phía Bắc giáp Tam

Kỳ, phía Nam giáp huyện Bình Sơn, huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi, phía Tây giáp huyện Bắc Trà My, phía Đông giáp Biển Đông Huyện có bờ biển trải dài 37 km với nhiều bãi tắm, làng chài đẹp như Biển Rạng, Tam Hải, Tam Tiến [6, 40]

Hình 1.1: Bản đồ địa chính khu vực huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

Nguồn: Công thông tin điện tử huyện Núi Thành, http://nuithanh.quangnam.gov.vn

Trang 20

1.1.1.2 Diện tích

Huyện Núi Thành có diện tích đất là 533,03 km2 Trong đó đất dành cho sản xuất nông nghiệp là 110,048 km² chiếm 21% diện tích đất tự nhiên của huyện Phần lớn đất nông nghiệp được dành cho trồng lúa 2 vụ Tam Xuân I, Tam Xuân II, Tam Hòa là các vựa lúa chính của huyện Ngoài ra, Núi Thành cũng là huyện có diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản lớn nhất tỉnh Quảng Nam Đất lâm nghiệp với diện tích 172,09 km², chiếm 32,3% diện tích đất tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các xã phía tây của huyện gồm Tam Sơn, Tam Thạnh, Tam Trà, Tam Mỹ Đông và Tam Mỹ Tây Điểm đáng chú ý là trong thành phần sử dụng đất, đất quân sự chiếm diện tích khá lớn so với các địa phương khác do có sự hiện diện của sân bay Chu Lai với diện tích hơn 40 km² chiếm gần 10% diện tích tự nhiên của huyện, còn lại là rừng núi [39]

1.1.1.3 Địa hình

Địa hình Núi Thành có độ nghiêng lớn từ Tây Nam sang Đông Bắc, có thể chia làm 3 dạng như sau:

- Dạng địa hình trung du và miền núi

Gồm các xã Tam Trà, Tam Sơn, Tam Thạnh, Tam Mỹ Đông, Tam Mỹ Tây, một phần xã Tam Nghĩa và Tam Anh Nam, Tam Anh Bắc Phía cực tây có nhiều núi cao, nơi cao nhất là núi Hú, Tam Trà 1.132m

- Dạng địa hình đồng bằng

Gồm các xã Tam Xuân 1, Tam Xuân 2, Tam Anh Nam, Tam Anh Bắc, Tam Hiệp, thị trấn Núi Thành, Tam Nghĩa Vùng này địa hình tương đối bằng phẳng, có một số đồi gò có độ dốc nhỏ Nơi cao nhất là 69 m so với mặt biển

- Dạng địa hình ven biển

Gồm các xã Tam Tiến, Tam Hòa, Tam Giang, Tam Hải, Tam Quang và một phần Tam Nghĩa Vùng này địa hình bằng phẳng và thấp, có nhiều cồn cát ổn định; một phần đồng bằng do các sông ngòi bồi đắp trên nền cát biển Ngoài ra, vùng này còn có nhiều bãi đá trầm tích nhô lên khỏi mặt biển từ 10 đến 12m thuộc xã Tam Tiến, Tam Hải, Tam Quang như đảo hòn Mang, Hòn Dứa, Bàn Than [39, 40]

1.1.1.4 Sông ngòi

Hệ thống sông ngòi chảy qua huyện gồm sông Tam Kỳ, sông Trường Giang, sông Ba Túc, sông An Tân, sông Trâu Các con sông này đều bắt nguồn từ phía Tây,

Trang 21

Tây Bắc chảy về phía Đông đổ ra biển qua cửa An Hòa và cửa Lở, qua đây hình thành nên khu vực cửa biển rộng là nơi neo đậu tàu thuyền, khu tránh trú bão Ngoài ra, các dòng sông của huyện đều hội tụ về phía Đông tạo thành những vùng xoáy bồi đắp nên cồn cát ở xã Tam Quang, Tam Anh Nam, Tam Anh Bắc, Tam Hòa, Tam Giang, Tam Hải, Tam Tiến [39]

1.1.1.5 Đặc điểm khí tượng thủy văn

Với tọa độ địa lý trên đất liền: huyện Núi Thành nằm phía Đông dãy Trường Sơn và phía Nam đèo Hải Vân, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa

Nhiệt độ trung bình hằng năm: 25,7oc, nhiệt độ cao từ tháng 4 đến tháng 8, trong khi từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau nhiệt độ thấp Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, chỉ có 2 mùa là mùa khô và mùa mưa, ít chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc [41, 42]

- Chế độ nắng: cũng như dải ven biển tỉnh Quảng Nam, vùng ven bờ huyện Núi

Thành, có chế độ bức xạ khá dồi dào, số giờ nắng/năm thuộc loại khá của nước ta

Tổng số giờ nắng trung bình 2.153 giờ/năm

- Chế độ mưa: Tổng lượng mưa hàng năm dao động 2.500 ÷ 4.000mm, nhưng

phân bố không đều theo thời gian và không gian, mưa tập trung vào tháng 9 ÷ 12, chiếm 80% lượng mưa cả năm, lượng mưa trung bình trong năm là 2.531,5mm Mùa khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 4, ít mưa nhất là các tháng 2, 3, 4 khoảng 40 ÷ 50mm/tháng dẫn đến sự xâm thực của nước biển vào sâu trong đất liền qua các hệ thống sông từ 20 ÷ 40km Mùa hè tuy khô nhưng lượng mưa hàng tháng vẫn được hơn

Trang 22

Hằng năm thường xuất hiện từ 8 đến 10 cơn bão ảnh hưởng đến huyện Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 11 kết hợp với mưa lớn gây ra lũ lụt [41, 42]

Đánh giá chung:

Với vị trí địa lý, đất nông nghiệp ít (chỉ chiếm 1/5), hoạt động trên đất liền khó khăn nên hoạt động nghề khai thác thủy sản được coi là chủ yếu và quan trọng, đặc biệt là khu vực ven bờ có các bãi bồi

Địa hình ven biển đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển cộng đồng ngư dân, hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản, đặc biệt ở các xã ven biển như: Tam Tiến, Tam Hòa, Tam Giang, Tam Hải, Tam Quang

Khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt (mùa khô và mùa mưa), mùa mưa kéo dài

từ tháng 9 đến 12, do vậy ảnh hưởng lớn đến hoạt động khai thác thủy sản, đặc biệt khai thác ven bờ Ngoài ra, thuộc khu vực ven biển miền Trung, hàng năm hứng chịu

nhiều cơn bão nên ảnh hưởng đến hoạt động khai thác thủy sản gần và xa bờ

1.1.2 Tổng quan nghề cá huyện Núi Thành

1.1.2.1 Giới thiệu khái quát nghề cá huyện Núi Thành

1 Lao động nghề cá

Dân số toàn huyện có khoảng 140.000 người, với hai dân tộc chủ yếu là người Kinh và người Cor, cư ngụ trong gần 40.000 hộ gia đình Số người trong cơ cấu độ tuổi lao động khoảng 73.000 người (chiếm 52%) [38, 41] Trong số đó,

- Nhóm lao động Nông – Lâm – Thủy sản: chiếm 58,2%

- Nhóm lao động Công nghiệp, xây dựng: chiếm 23,5%

- Nhóm lao động thương nghiệp dịch vụ: chiếm 18,3%

Năm 2014, tổng số lao động làm nghề thủy sản là 17.545 người (chiếm 24,82% lao động của toàn huyện) [10, 11], trong đó:

- Khai thác thủy sản: 9.410 người, chiếm 53,63%

- Nuôi trồng thủy sản: 6.250 người, chiếm 35,62%

- Chế biến và dịch vụ thủy sản: 1.885 người, chiếm 10,75%

Lao động khai thác thủy sản chiếm số lượng lớn trong tổng số lao động làm nghề thủy sản của huyện

Trang 23

2 Tình hình phát triển kinh tế thủy sản qua các năm

Theo số liệu thống kê, tình hình phát triển chỉ tiêu sản xuất kinh doanh về các giá trị sản xuất thủy sản (bao gồm: giá trị sản xuất khai thác thủy sản, giá trị sản xuất nuôi trồng thủy sản) đều có xu hướng tăng mạnh theo thời gian, trong khi giá trị dịch vụ thủy sản có xu hướng ngược lại [10, 11] (chi tiết tại Phụ lục 1) Cụ thể, năm 2004 giá trị sản xuất thủy sản vào khoảng 192,5 tỷ đồng, trong đó: giá trị khai thác và nuôi trồng thủy sản lần lượt là khoảng 167,3 tỷ và 10,7 tỷ Tuy nhiên, 10 năm sau đó (2014), các giá trị sản xuất thủy sản chung, khai thác và nuôi trồng tương ứng là: 437,4

tỷ, 363,5 tỷ và 75,1 tỷ đồng; với tốc độ tăng trưởng bình quân cụ thể như sau: giá trị sản xuất thủy sản chung là 8,58%; giá trị khai thác thủy sản là 7,95% và giá trị nuôi trồng thủy sản khoảng 25% Ngược lại, giá trị dịch vụ thủy sản từ khoảng 14,5 tỷ năm 2004 xuống còn khoảng 4,8 tỷ đồng năm 2014 với tốc độ giảm bình quân là 12,89% [9, 10, 11] Tỷ lệ các thành phần giá trị sản xuất được biểu diễn tại biểu đồ 1.1 dưới đây

Biểu đồ 1.1: Tổng thành phần các giá trị sản xuất thủy sản giai đoạn 2004-2014

Đáng chú ý, giá trị sản xuất thủy sản chiếm khoảng 1/3 tỷ trọng giá trị sản xuất toàn ngành kinh tế và chiếm gần 2/3 tỷ trọng giá trị nông – lâm – thủy sản của toàn huyện Núi Thành trong chuỗi thời gian này Như vậy, nghề cá Núi Thành, bên cạnh các ngành công nghiệp quan trọng khác, đóng vai trò quan trọng trong tỷ trọng kinh tế của toàn huyện, góp phần sinh kế, giải quyết công ăn việc làm cho cộng đồng ngư dân ven biển

1.1.2.2 Tổng quan nghề khai thác thủy sản huyện Núi Thành

1 Cơ cấu tàu thuyền khai thác thủy sản

Tổng số tàu thuyền toàn huyện năm 2014 là 2.437 chiếc, trong đó tàu thuyền gắn máy có 1.527 chiếc (chủ yếu các tàu có công suất từ 90CV trở xuống) được thể

Trang 24

hiện tại Bảng 1.1 Tàu không gắn máy là 910 chiếc (gồm: thuyền thủ công, bè, thúng), chỉ khai thác ở vùng nước nội địa như sông, ngòi, kênh rạch và số liệu sản lượng khai thác không được thống kê Cơ cấu tàu thuyền được thể hiện chi tiết tại bảng dưới đây:

Bảng 1.1: Thống kê tàu thuyền huyện Núi Thành qua các năm theo dải công suất

Thống kê tàu thuyền qua các năm Dải công

2 Tình hình tàu thuyền và sản lượng khai thác giai đoạn 2004 ÷ 2014

Thống kê về tàu thuyền và sản lượng khai thác thủy sản ở huyện Núi Thành được thống kê ở bảng 1.2 dưới đây:

Bảng 1.2: Thống kê năng lực tàu thuyền, sản lượng giai đoạn 2004 ÷ 2014

Số lượng tàu thuyền (chiếc)

Tổng công suất (CV)

Trang 25

Tình hình biến động tàu thuyền và sản lượng khai thác được biểu diễn qua các biểu đồ 1.2, 1.3

Biểu đồ 1.2: Biểu diễn biến động sản

lượng khai thác giai đoạn 2004÷2014

Biểu đồ 1.3: Biểu diễn biến động sản lượng và tàu thuyền giai đoạn

2004÷2014

Từ biểu đồ 1.2 và 1.3 cho thấy: tàu thuyền và sản lượng khai thác thủy sản huyện Núi Thành có xu hướng tăng liên tục trong giai đoạn 2004 ÷ 2014 Cụ thể: về tổng số lượng tàu thuyền khai thác đã tăng từ 1.415 chiếc năm 2004 (trong đó: tàu gắn máy là 975 chiếc và thuyền thủ công là 440 chiếc) lên đến 2.437 chiếc năm 2014 (trong đó: 1.527 chiếc tàu gắn máy và 910 thuyền thủ công) Trong khi về mặt sản lượng khai thác thủy sản, thì năm 2004 toàn huyện Núi Thành mới chỉ có 17.000 tấn nhưng đến 2014 đã tăng vọt lên 34.750 tấn – tăng hơn gấp 2 lần trong khoảng 10 năm vừa qua

Biểu đồ 1.4: Biểu diễn xu hướng sản lượng và cường lực khai thác (CV)

Trang 26

Qua biểu đồ 1.4 cho thấy: cường lực khai thác (theo công suất tàu) trong giai đoạn 2004 ÷ 2009 có xu hướng tăng nhẹ Sau đó, có xu hướng tăng nhanh ở giai đoạn tiếp theo (2010 ÷ 2014) Trong khi đó, sản lượng khai thác thủy sản có xu hướng tăng

ổn định trong toàn bộ chuỗi thời gian trên Thực tế cho thấy, tổng số tàu thuyền tăng không nhiều, nhưng tổng công suất lại tăng mạnh ở giai đoạn 2010 ÷ 2014 Chứng tỏ, ngư dân đang có xu hướng đầu tư vào nâng cấp tàu thuyền, ngư cụ để tăng hiệu quả đánh bắt

1.1.2.3 Cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá

Dịch vụ hậu cần nghề cá từ sản xuất nước đá, đóng mới/sửa chữa tàu thuyền, thu mua sản phẩm hay các nhu yếu phẩm cần thiết khá nhiều, tập trung chủ yếu ở các xã có hoạt động nghề cá phát triển mạnh (Tam Quang, Tam Hải), đây là nguồn lực giúp nghề cá địa phương phát triển mạnh, được thể hiện ở bảng 1.3

Bảng 1.3 Thống kê cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá

Cơ sở dịch vụ, hậu cần nghề cá (cơ sở)

nước đá

Đóng mới, sửa

2 Tam Quang

Nguyễn Văn Giáo Huỳnh Văn Sang Trần Đức

Phan Văn Vương

Lê Thị Cúc Thủy Duy (2) Toàn Lai Trịnh Minh Tân Trần Thị Hạnh Trần Thị Đông Phạm Hoài Nhơn (2) Ngô Ngọc Hậu

Trần Dũng Chinh Trần Quang

Huỳnh Minh Cảnh Hoàng Ngọc Thúy Trương Văn Lời Thảo Trinh

Kỳ Hà

Nguyễn Ánh Trần Quốc Tùng Trần Thanh Năm

Nguyễn Thanh Tùng Trần Quốc Thảnh Trần Quốc Tuấn

(có 10 hộ thu mua

Trần Công Nho Phạm Minh Phạm Hòa

Trang 27

Qua bảng 1.3 cho thấy, dịch vụ hậu cần tập trung chủ yếu tại các địa phương có nghề khai thác thủy sản phát triển, đặc biệt là khai thác ven bờ Có đến 15 cơ sở hoạt động đóng mới và sửa chữa tàu thuyền, chủ yếu là sửa chữa nhỏ lẻ, đáp ứng lượng lớn tàu thuyền thô sơ khai thác ven bờ Điều này phản ánh đúng thực trạng tàu thuyền (số lượng nhiều, lâu năm ), duy trì hoạt động đánh bắt nhỏ lẻ gần bờ, chưa thể vươn ra khai thác xa bờ

Thực tế cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc phát triển nghề cá nói chung, và hoạt động khai thác thủy sản ven bờ của huyện Núi Thành còn nhiều hạn chế Cụ thể: cảng

cá, bến cá và khu neo đậu còn ít và xuống cấp, chưa thuận tiện cho việc tàu thuyền đưa sản phẩm về bờ, hạn chế về khả năng cung ứng, các hoạt động xả thải không đúng qui định tất cả không đáp ứng được tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của cảng cá, bến cá, khu neo đậu theo Nghị định 80/2012/NĐ-CP ngày 08/10/2012 của Chính phủ về quy định cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá; tất cả chưa đảm bảo được điều kiện

để phát triển nghề cá bền vững về cung ứng, hậu cần, dịch vụ nghề cá Một số hình ảnh phản ánh thực trạng cảng cá, bến cá ở huyện Núi Thành thể hiện ở Phụ lục 2

1.1.2.4 Lực lượng quản lý nghề cá huyện Núi Thành

Hiện nay, công tác quản lý nghề cá nói chung và khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ huyện Núi Thành còn nhiều bất cập về con người và cơ chế chính sách, cụ thể:

1 Chi cục Thủy sản

Công tác quản lý nghề cá nói chung và khai thác ven bờ huyện Núi Thành nói riêng tuân theo mô hình quản lý từ trên xuống dưới như mô hình quản lý nghề cá Việt Nam Trong đó, đơn vị quản lý chuyên môn nghề cá của tỉnh là Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng Nam, chỉ có 20 cán bộ, một lực lượng quá mỏng để thực thi công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực thủy sản, quản lý đội tàu từ 20CV trở lên

Bộ phận Thanh tra thủy sản (Kiểm ngư) thuộc Chi cục, có 01 tàu kiểm ngư biên

chế 3 cán bộ Với lực lượng mỏng đã chưa thể kiểm tra, kiểm soát hết tình hình hoạt động khai thác toàn vùng biển Bên cạnh đó, hạn chế về kinh phí nhiên liệu, cán bộ thực địa ít, dẫn đến tuần tra, giám sát ngoài biển không thường xuyên Vùng biển ven

bờ huyện Núi Thành khá rộng, nằm cách xa khu vực neo đậu của tàu kiểm ngư Khi có

Trang 28

kế hoạch tuần tra hoặc nhận được thông tin từ ngư dân về hoạt động khai thác bất hợp

lý, không đúng qui định thì khó tiếp cận hiện trường một cách kịp thời Trong khi quản

lý cấp huyện và xã không có phương tiện tuần tra, chỉ phản ánh thông tin lên cấp trên khi có phát sinh sự việc, dẫn đến thực thi nhiệm vụ đạt hiệu quả không cao

2 Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Núi Thành

Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) biên chế 4 cán bộ, trong đó có 1 cán bộ chuyên trách về nông nghiệp, diêm nghiệp và thủy sản Phòng NN&PTNT quản lý đội tàu 20 CV trở xuống, với số lượng tàu thuyền nhiều, trong khi đội ngũ mỏng nên khó kiểm soát hoạt động khai thác thủy sản ven bờ Phòng NN&PTNT phối hợp với Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng Nam và các đơn vị liên quan tổ chức đào tạo, tập huấn cho cán bộ quản lý chuyên trách cấp xã, ngư dân nhưng vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ

3 Bộ đội biên phòng

Bộ đội biên phòng Kỳ Hà có 20 cán bộ, trong đó có 5 cán bộ trực tại Trạm kiểm soát biên phòng, với chức năng kiểm soát tàu thuyền khai thác thủy sản ra vào khu vực cửa biển, khu neo đậu, bến cá Trạm chủ yếu kiểm soát tàu thuyền khai thác xa bờ, hầu như không có sự quản lý đối với tàu khai thác ven bờ, chỉ hỗ trợ Cảng vụ hàng hải cảng Kỳ Hà đưa tàu hàng vào cảng

1.1.2.5 Quy định quản lý của địa phương liên quan đến khai thác ven bờ NLTS

Bên cạnh áp dụng và tuân thủ các quy định về quản lý nghề cá cấp trung ương, thì việc khai thác NTLS vùng biển ven bờ huyện Núi Thành cũng chịu sự quản lý bởi các quy định địa phương, cụ thể:

a/ Quy định về tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát khai thác rong Mơ tại các thủy vực tự nhiên trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ban hành theo Thông báo số 250/SNN&PTNT-BVNLTS ngày 27/02/2013 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam, chủ yếu là việc khai thác rong mơ tại vùng biển huyện Núi Thành, nơi có rạn san hô Bàn Than

Theo đó, sử dụng phương pháp khai thác không làm tổn hại đến nguồn lợi rong

và hệ sinh thái rạn san hô Cụ thể: không được nhổ cả gốc khi khai thác, chỉ dùng liềm cắt để lại gốc bám và một đọan thân rong dài khoảng 10cm, không dẫm đạp lên san hô Tăng cường tuyên truyền, giám sát và xử lý trường hợp vi phạm

Trang 29

b/ Thông báo số 171/UBND-NN, ngày 20/3/2013 của Ủy ban Nhân dân huyện Núi Thành về việc tăng cường công tác bảo vệ NLTS trên địa bàn huyện Cụ thể, nâng cao nhận thức của ngư dân về BVNLTS nói chung và hệ sinh thái san hô, nguồn lợi rong Mơ nói riêng; ký cam kết không thu mua tôm hùm, rong mơ trong thời gian cấm khai thác

c/ Đặc biệt, với tính cấp thiết của việc khai thác hợp lý và phát triển bền vững nghề cá, Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số 28/2014/QĐ-UBND ngày 20/10/2014 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy chế Quản lý khai thác, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Đây là văn bản pháp quy hoàn chỉnh nhất về quản lý khai thác NLTS, đặc biệt

là vùng biển ven bờ, theo đó, một số nội dung chính được đề cập đối với khai thác thủy sản ven bờ, cụ thể:

Quy định về đánh dấu nhận biết tàu thuyền, chẳng hạn: tàu thuyền được quy định khai thác ở vùng khơi thì có 2 vạch màu vàng cam ở hai bên mạn; tàu khai thác vùng lộng có 1 vạch màu vàng cam, tàu khai thác ven bờ không thực hiện đánh dấu tàu cá

Quy định ngư cụ cấm, bên cạnh quy định của Thông tư 02 thì địa phương còn quy định rõ thêm: vùng ven bờ cấm các nghề kết hợp ánh sáng (nghề câu có tổng công suất nguồn sáng không vượt quá 500W)

Khai thác rong mơ từ 15/5 ÷ 30/11, không được nhổ cả gốc, chỉ dùng liềm để cắt, để lại đoạn thân dài 10cm, chừa lại ít nhất 25% diện tích có rong theo từng luống

để còn nơi cư trú, sinh sản của các loài thủy sản, không được giẫm đạp lên san hô khi cắt rong hoặc thả neo tàu làm hư hại đến san hô

Đối tượng cấm khai thác có thời hạn trong năm: các loại tôm hùm (01/4 ÷ 31/7); cá Mối, Bánh đường (01/3 ÷ 31/5)

1.1.3 Đặc điểm tự nhiên vùng biển ven bờ huyện Núi Thành

1.1.3.1 Phạm vi vùng biển ven bờ huyện Núi Thành

Theo Nghị định 33/2010/NĐ-CP ngày 31/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ, vùng biển Việt Nam được phân thành ba vùng khai thác thủy sản theo thứ tự: vùng biển ven

bờ, vùng lộng và vùng khơi [2]

Vùng biển ven bờ huyện Núi Thành nằm trong khu vực của đoạn thẳng nối liền điểm 7 (tọa độ 17009’39’’N; 107020’35’’E) và điểm 8 (tọa độ 15022’40’’N; 108008’23’’E) của tuyến

Trang 30

bờ - là đường lối liền giữa đảo Cồn Cỏ tỉnh Quảng Trị và đảo Lý Sơn tỉnh Quảng Ngãi)

Phụ lục 3 Từ đó, vùng biển ven bờ huyện Núi Thành được xác định – cũng là khu vực

nghiên cứu, như hình 1.2 dưới đây

Qu¶ng Nam

Nói Thµnh

Qu¶ng Ng·i

Vïng Nghiªn Cøu (S = 896 Km2)

Hình 1.2: Sơ đồ vùng biển ven bờ huyện Núi Thành - vùng biển nghiên cứu 1.1.3.2 Đặc điểm địa hình, chất đáy

Địa hình đáy biển có độ dốc lớn, gần bờ có nhiều bãi rạn san hô và gò rạn Nền đáy biển từ độ sâu 50m nước trở vào bờ chủ yếu là cát và cát sỏi; trên 50m trở ra chủ yếu là cát pha vỏ sò Địa hình chất đáy vùng biển ven bờ có sự khác nhau khá lớn theo hướng Bắc Nam [24, 25, 26]

Vùng phía Tây mũi Bàn Than (phía ngoài cửa Lở): Đây là khu vực có hình thái địa hình đáy đơn giản, bề mặt đáy thoải với độ sâu và độ dốc tăng dần từ bờ ra ngoài theo hướng Đông Bắc Bãi cạn Rạn Lớn là một trong những bãi cạn có kích thước lớn của vùng này (trên 1.000 x 800m), có bề mặt trên nằm cách mặt nước khoảng 1,2  1,5m có nơi chỉ 0,4  0,5m khi triều xuống thấp nhất Bãi cạn Rạn Mơ có hình dạng một elip với trục dài gần như theo hướng Bắc - Nam Bề mặt bãi cạn này thường nằm cách mặt nước khoảng 1,8  2,0m khi triều xuống thấp nhất [25, 26]

Trang 31

Vùng phía Đông mũi Bàn Than (bao gồm cả vùng biển trước cửa vụng An Hòa) Có thể phân chia thành hai đới (đới trong và đới ngoài)

+ Đới trong, từ bờ và chân các đảo, dải đá ngầm, các bãi cạn trước cửa vụng An Hòa xuống tới độ sâu 10  12m Bề mặt địa hình khá dốc, độ sâu thay đổi nhanh, hình thành các rãnh sâu trên 10m Rãnh sâu giữa mũi Bàn Than và dải đá ngầm ở phía Đông Bắc đảo Hòn Khô, có độ sâu 14  16m, chạy song song với bờ theo hướng Đông Nam - Tây Bắc vòng qua mũi vào phía trong vụng An Hòa thì giảm dần độ sâu Hai rãnh phía Bắc và Nam bãi cạn trước cửa vụng có độ sâu 11  14m

+ Đới ngoài, từ độ sâu 10  12m trở ra, bao gồm toàn bộ vùng biển phía Đông, nối liền với phần trong thềm lục địa khu vực Tây vịnh Bắc Bộ Địa hình đáy biển ở đới này tương đối đơn giản với bề mặt thoải, khá bằng phẳng, được phủ bởi trầm tích cát bùn, bùn cát và bùn sét Một số nơi cũng gặp các gò ngầm nhô lên trên bề mặt đáy ở

độ sâu 25  30m [25, 26]

1.1.3.3 Đặc điểm các hệ sinh thái vùng biển ven bờ

a Phân bố rạn san hô

Rạn san hô phát triển mạnh ở khu vực Bàn Than – An Hòa (xã Tam Hải và Tam Quang huyện Núi Thành) Có hơn 130 loài san hô với 2 kiểu rạn san hô chính là rạn

riềm ven đảo và rạn nền trên các bãi cạn, đồi ngầm, thuộc nhóm rạn hở [25]

Khu vực phía Nam và Đông Nam đảo Hòn Dứa mật độ san hô thưa thớt, càng

đi về phía Đông Nam số lượng san hô sống tăng lên San hô cứng sống chủ yếu là các loài dạng khối bám chắc vào các khối đá gốc, ít gặp các loài san hô dạng cành, dạng tán [25]

Từ bờ ra có vách dốc cắm xuống độ sâu 10  12m Dưới lòng rãnh sâu này được phủ bởi trầm tích bùn cát và bùn sét Có hai kiểu san hô là dạng khối và dạng cành nhưng hiếm khi gặp san hô dạng cành San hô mềm sống thành từng cụm, có nơi thành tập đoàn, rộng tới vài chục m2 trên bề mặt các khối đá gốc San hô sống thường chỉ tới

độ sâu 7  8m (trên bề mặt thềm rạn) Từ 8  9 m đến 10  12m, là đới chân rạn được cấu tạo bởi cát sinh vật chứa bùn Rong biển phát triển mạnh trên các khối, nhiều nơi chúng bao trùm lên toàn bộ khối san hô sống hoặc đã chết [25]

Khu vực Đông Bắc đảo Hòn Dứa tồn tại kiểu rạn riềm rất điển hình Có thể phân biệt địa hình rạn ở đây thành 4 đới:

Trang 32

Đới I Sát bờ đảo hình thành vách dốc đứng, xuống tới độ sâu trên 1m, được cấu tạo bởi tập đá gốc là đá phiến kết tinh Trên bờ vách dốc thỉnh thoảng gặp san hô sống

Hình 1.3: Hình thái địa hình rạn san hô phía Đông Bắc đảo Hòn Dứa

Đới II Bề mặt rạn tương đối bằng phẳng và thoải Cấu tạo rạn là các loài san hô cứng và san hô mềm Thành phần loài tương đối đa dạng Trong số các loài san hô

cứng thì Acropora và Montipora phát triển thành từng đám có diện tích tới vài chục m2

với độ phủ 100% và chiếm ưu thế so với các loài san hô dạng khối Độ phủ san hô trung bình trong đới này vào khoảng 60  65% Ngoài các loài san hô, còn gặp nhiều

loài rong như rong Sargassum, rong vôi, rong câu chân vịt,…

Đới III Chủ yếu là đá phiến kết tinh, bề mặt cao nhất của đới này chỉ lộ ra chút

ít khi triều xuống thấp nhất San hô phát triển khá tốt cả ở sườn trong và ngoài của đới

Số lượng các loài san hô mềm chiếm ưu thế về diện tích phân bố với độ phủ đạt tới 65

 70% Khu vực này có sự phát triển rất mạnh của các loài san hô mềm, các loài rong

và các loài san hô cứng dạng khối

Đới IV Thềm ngoài rạn có bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng, thoải đều, từ

độ sâu 2  3m, ở chân đới III tới độ sâu 10  12m và sâu hơn Các loài san hô mềm, san hô cứng sống xen kẽ nhau và xen kẽ với rong và cỏ biển Nhiều nơi rong phát triển thành đám khá rộng phủ kín bề mặt đáy, nhất là rong vôi Độ phủ trung bình của san

hô vào khoảng 55  60%

b Cỏ biển

Có 8 loài cỏ biển, phân bố thành các thảm cỏ với diện tích khoảng 1.000 ha Khu vực An Hoà, cỏ biển phân bố đến hơn 600 hecta, thuộc địa bàn các xã Tam Giang, Tam Hải, Tam Quang Chúng bao phủ hầu hết các vùng nước nông, các cồn gò,

Trang 33

từ mực triều thấp đến độ sâu 1  2 mét, ngoại trừ các lạch sâu Thảm có biển là nơi có

tài nguyên nguồn lợi thủy sản khá đa dạng, nơi cư ngụ các loài tôm, cá, cua, ghẹ, hàu,

ốc, đặc biệt là nguồn giống cá mú, tôm hùm [25]

c Rong biển

Vùng biển ven bờ huyện Núi Thành đã xác định được 41 loài rong biển (25 giống, 15 họ, 3 ngành) Trong đó, đã xác định được 7 loài có giá trị kinh tế và mức độ phân bố của chúng khá phổ biến

Rong biển chủ yếu sống trú bám trên các rạn san hô, tập trung chủ yếu ở vùng biển ven bờ của các xã Tam Hải, Tam Quang và Tam Giang Các loài chủ yếu như

rong Sargassum, rong vôi, rong câu chân vịt,… [25]

1.1.3.4 Hiện trạng nguồn lợi thủy sản vùng biển nghiên cứu

Vùng biển ven bờ mũi Bàn Than đã xác định được 137 loài thuộc 12 bộ và 38

họ cá rạn san hô Họ cá thia (Pomacentridae) có 19 loài chiếm 13,9% tổng số loài, họ

cá bàng chài (Labridae) có 17 loài chiếm 12,4%, họ cá bướm (Chaetodontidae) có 16 loài chiếm 11,7%, họ cá hồng (Lutjanidae) 16 loài, họ cá mú (Serranidae) có 8 loài chiếm 5,8%, cá dìa (Siganidae), cá bò (Balistidae) mỗi họ có 4 loài chiếm 2,9%; cá họ

còn lại mỗi họ có từ 1  3 loài Cá rạn san hô ở vùng biển này có kích thước cá thể tương đối nhỏ Nhóm kích thước <20cm, chiếm 97,6%; nhóm kích thước lớn hơn bắt gặp không đáng kể, chỉ chiếm 2,4% [24, 26, 62]

Mật độ cá rạn san hô ở khu vực Bàn Than dao động từ 295  662 cá thể/400m2, trung bình đạt 434 cá thể/400m2 và phụ thuộc vào độ sâu Ở độ sâu <10m, mật độ dao động từ 451  662 cá thể/400m2, trung bình đạt 557 cá thể/400m2; ở độ sâu từ 10m trở lên dao động từ 295  329 cá thể/400m2, trung bình đạt 312 cá thể/400m2 [24, 26]

Các loài cá thương mại có thể chia thành 3 nhóm chính là cá có giá trị thương phẩm và cá cảnh Đối với nhóm cá thương phẩm tập trung các loài thuộc họ cá mú

(Serranidae), cá hồng (Lutjanidae), cá Dìa (Siganidae) và cá mó (Scaridae), chiếm tỷ

lệ khoảng 14,7%, với mật độ 74 cá thể/400m2 Nhóm cá khai thác phổ biến như cá

chuồn (Cypselurus spp), nục (Decapterus maruadsi), cơm (Anchoviella spp.), bánh đường, liệt Nhóm cá cảnh tập trung các loài thuộc họ cá thia (Pomacentridae), cá bướm (Chaetodontidae), cá bàng chài (Labridae), cá thần tiên (Pomacanthidae) và cá

Trang 34

đuôi gai (Acanthuridae) Ngoài ra, một số loại cá thuộc các họ khác chiếm tỷ lệ 26,9%

với mật độ 117 cá thể/400m2 [24, 26, 62]

Ngoài các loài cá, vùng biển mũi Bàn Than còn có các loài sinh vật đáy cỡ lớn như: Trai môi đen, Ốc gai, Trai tai tượng, Ốc đụn, Ốc tu hú, Ốc bông, Bàn mai Trai

môi đen Pinctada margaritifera mật độ trung bình dao động từ 7  8 cá thể/400 m2,

Ốc gai (Cricoreus microphyllus) mật độ trung bình 9  10 cá thể/400 m2 Trai tai

tượng (Tridacna maxima) mật độ trung bình thường không quá 1 cá thể/400 m2 Ốc

đụn (Trochus macularus) khoảng 2 cá thể/400 m2 Ốc bông và Bàn mai thuộc đối tượng ít gặp [24, 26, 62]

Đối với tôm hùm, có 2 trong 4 loài tôm hùm có giá trị kinh tế cao phân bố ở vùng biển miền Trung, đó là tôm hùm đỏ và tôm hùm sỏi (Parulinus longipes, P Stimpsoni) Chúng phân bố ở phần thềm ngoài của rạn Đông Bắc Hòn Dứa Đây cũng chính là hai loài được cộng đồng dân cư trong vùng, đặc biệt là dân thôn Thuận An, Tam Hải khai thác làm con giống phục vụ nuôi trồng [26]

1.1.3.5 Khí tượng thủy văn vùng biển ven bờ huyện Núi Thành

Khu vực vùng biển ven bờ huyện Núi Thành mang đặc tính của vùng biển Nam Trung bộ, vào mùa Đông nhiệt độ nước tầng mặt trung bình khoảng 210 ÷ 240C, mùa

hè 280 ÷ 300C Mùa đông, nhiệt độ tăng dần từ bờ ra khơi và từ Bắc vào Nam Mùa hè, nhiệt độ biến đổi theo hướng ngược lại Biên độ dao động nhiệt độ giữa tầng mặt và tầng đáy trong mùa đông khoảng 100C, trong mùa hè khoảng 60 ÷ 100C Sự thay đổi nhiệt độ dẫn đến sự di cư của cá theo chiều thẳng đứng và giữa ven bờ và ngoài khơi,

về mùa đông cá có xu hướng dịch chuyển ra vùng xa bờ là nơi ấm áp hơn [24, 25]

Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, vùng biển Trung bộ còn chịu ảnh hưởng của nhiều đợt gió mùa Đông Bắc với sức gió cấp 5  7, sóng to, biển động tàu đánh cá khó

có thể hoạt động được Trong năm ở vùng biển miền Trung có khoảng 200 ÷ 250 ngày

có gió cấp 3 trở xuống, tàu thuyền đánh cá hoạt động khá thuận lợi

- Chế độ thủy triều Quảng Nam có thể chia ra 2 chế độ sau:

+ Nam Thừa Thiên Huế - Bắc Quảng Nam: Chế độ bán nhật triều không đều,

độ lớn thủy triều kỳ nước cường trung bình 0,8  1,2m và tăng dần về phía Nam

+ Giữa Quảng Nam - Bình Thuận: Chế độ nhật triều không đều, độ lớn thủy triều kỳ nước cường trung bình 1,2  2,0m tăng dần về phía Nam

Trang 35

Đánh giá chung:

Như vậy, các công trình nghiên cứu liên quan đến yếu tố khí tượng, thủy văn, địa hình, chất đáy, hợp phần nền đáy và nguồn lợi sinh vật ở vùng biển địa phương nghiên cứu khá đầy đủ Thực tế cho thấy nguồn lợi thủy sản của vùng biển ven bờ trước kia khá đa dạng, phong phú; nhưng do tác động của quá trình khai thác không có kiểm soát, khai thác bằng các loại ngư cụ có tính hủy diệt với môi trường hệ sinh thái, nên nguồn lợi đã và đang bị suy giảm

Vì vậy, cần phải đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện về thực trạng khai thác NLTS tại đây, xác định tính hợp lý trong hoạt động nghề cá để từ đó có giải pháp khai thác nguồn lợi, giúp khôi phục và phát triển NLTS trên cơ sở hướng tới nghề cá phát triển bền vững và đảm bảo ổn định sinh kế cho cộng đồng ngư dân ven biển

1.2.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước

1.2.1.1 Các nghiên cứu về cường lực khai thác hợp lý NLTS

Cường lực khai thác được hiểu đơn giản là “khả năng của một con tàu hay đội tàu để đánh bắt được cá” [60, 84] Bên cạnh đó, nó bao gồm cả “khả năng của các thiết

bị khai thác và các phương pháp khai thác để đánh bắt cá”, bao gồm các thiết bị khai thác có chi phí đầu tư thấp như lưới rê, ngư cụ bẫy và các thiết bị dụ cá khác [57]

Khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản được hiểu là ta sử dụng quy mô ngư cụ phù hợp để khai thác sản lượng hợp lý mà không làm ảnh hưởng bất lợi đến sự sinh sản, sinh trưởng và bổ sung (recruitment) NLTS trong tương lai [60, 57] Có nhiều công trình đưa ra các kết quả nghiên cứu về cường lực khai thác hợp lý (được hiểu là cường lực khai thác sản lượng bền vững tối đa) và sản lượng khai thác hợp lý (sản lượng bền vững tối đa) ở nhiều nghề cá khác nhau trên thế giới

Một vài công trình nghiên cứu tiêu biểu, cụ thể :

Công trình nghiên cứu về “Ước tính các giá trị tham chiếu trong tiềm năng quản lý nguồn lợi thủy sản nghề cá Thu ở Vịnh Thái Lan, Campuchia” của tác giả Em

Puthy năm 2007 [98], sử dụng phương pháp mô hình sản xuất thặng dư, kinh tế sinh học để xác định các giá trị tham chiếu trong quản lý nghề cá như MSY, fMSY, trữ lượng ban đầu (virgin stock biomass) và tối đa hóa hiệu quả khai thác nguồn lợi thủy sản

Trang 36

Kết quả của công trình nghiên cứu, tác giả đưa ra hai giá trị cường lực khai thác hợp lý

fMSY ứng với hai mô hình, cụ thể: theo mô hình Schaefer thì fMSY bằng 152 tàu, theo

mô hình Fox thì fMSY là 151 tàu Và theo cả hai mô hình thì giá trị cường lực đã vượt qua fMSY ở năm 2005

Trong công trình nghiên cứu của hai nhà khoa học họ Yu (Huiguo Yu và

Yunjun Yu), năm 2008, “Quản lý cường lực khai thác ở Trung Quốc: xét về khía cạnh

lý thuyết và thực tế” [98] Ủy ban nghề cá (COFI) của tổ chức Nông lương thế giới

(FAO) đã thông qua kế hoạch hành động quốc tế cho quản lý cường lực khai thác, trong đó kêu gọi tất cả các quốc gia thành viên cần đạt được mục tiêu quản lý cường lực khai thác minh bạch, công bằng và hiệu quả vào năm 2005

Bằng các phương pháp tính toán quy hoạch dựa trên số liệu cường lực, sản lượng và khả năng cho phép khai thác của các vùng biển trên toàn quốc, nghiên cứu đã chỉ ra rằng: để khai thác bền vững nguồn lợi thủy sản thì cần thu hồi giấy phép và phá

hủy khoảng 30.000 đơn vị cường lực khai thác (trong nghiên cứu, đơn vị cường lực là

tàu thuyền khai thác) Theo đó, cường lực khai thác hợp lý là 192.390 tàu thuyền vào

năm 2010, so với 222.390 tàu (năm 2002) (tức là phải cắt giảm 3.750 tàu mỗi năm) Xét về khía cạnh công suất máy, giảm 1.269.663 kW, từ 12.696.631 kW cuối năm

2002 xuống còn 11.426.968 kW năm 2010 (hay giảm 158.708 kW mỗi năm) [98]

Có thể nói, công trình nghiên cứu đã xác định được cường lực khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản cho toàn vùng biển của Trung Quốc Tuy nhiên, do có quá nhiều tàu thuyền khai thác ven bờ, trong khi số liệu thống kê thiếu và độ tin cậy thấp, chỉ tiêu sản lượng khai thác năm sau cao hơn năm trước, và việc thực thi chính sách của cơ quan quản lý và ngư dân không nghiêm… đã dẫn đến tình hình khai thác quá mức ngày càng tồi tệ hơn, nguồn lợi thủy sản bị cạn kiệt và ngư cụ đánh bắt có tính hủy diệt vẫn tồn tại ở đất nước đông dân nhất thế giới này

Bên cạnh đó, công trình nghiên cứu “Tính toán cường lực khai thác tối đa (f MSY ) để đưa ra sản lượng bền vững tối đa (MSY) cho nghề khai thác Tôm ở vùng nước xa bờ Tây Nam, Đài Loan” [50], Wu và các cộng sự sử dụng chuỗi dữ liệu về

sản lượng trên đơn vị cường lực khai thác (CPUE) được ghi nhận hàng ngày bởi các

Trang 37

nhà quản lý từ 1997 – 2008, sử dụng mô hình sản xuất thặng dư (The surplus production model) để tính toán ra MSY và fMSY cho nghề khai thác Tôm thuộc khu vực nghiên cứu Theo mô hình này, giá trị trữ lượng trong biến động sinh khối (X) đóng vai trò quan trọng, từ công thức:

Trong đó: Xt là sinh khối của năm thứ t; r là tỷ lệ tăng trưởng nội tại của quần thể; K là sức tải của môi trường Từ đó, sử dụng mô hình Schaefer kết hợp với thành phần sai số được quan sát ngẫu nhiên hoặc được xác định

Kết quả nghiên cứu xác định cường lực khai thác hợp lý NLTS là fMSY = 11.292 ngày tàu

mô hình Bên cạnh giá trị MSY, bằng việc sử dụng các hàm: i) hàm tăng trưởng trữ lượng sinh khối (G(x)), ii) hàm sản lượng khai thác y(e,x) và iii) hàm chi phí khai thác C(e,x), công trình nghiên cứu cũng ước lượng được giá trị trữ lượng sinh khối ban đầu của nguồn lợi cá thu (sức tải môi trường, K = Xmax), cụ thể bằng 15.467 tấn, với tối

đa hóa hiệu quả từ việc khai thác NLTS được ước tính bằng 2 triệu USD mỗi năm

Trong công trình nghiên cứu “Tính toán cường lực khai thác tối đa (F MSY ) để đưa ra sản lượng bền vững tối đa (MSY) cho nghề khai thác Tôm ở vùng nước xa bờ Tây Nam, Đài Loan” [50], nghiên cứu chỉ ra rằng, sản lượng bền vững tối đa (MSY) =

1.008 tấn, tổng sản lượng cho phép đánh bắt (TAC), được ước lượng là 90% của MSY, bằng 907 tấn

Ngoài ra, nghiên cứu cũng đưa ra các giá trị tính toán từ các công trình nghiên cứu khác, cụ thể:

Trang 38

Bảng 1.4: MSY và TAC của nghề khai thác tôm ở Tây Nam Đài Loan

Các nghiên

Chen (1999) Fox model 1992 - 1996

865 (1153)

840 (1120)

Jong (2001) Schaefer model 1996 - 2000

720 (960)

576 (768) Mieo et al

591 (788)

Hong (2008) Fox model 1998 - 2007

732 (976)

-

Hong (2008) Schaefer model 1998 - 2007

749 (999)

-

Hong (2008) Pella - Tomlinson

748 (997)

711 (948)

Present study

Schaefer model with deterministic observation-error

Nguồn: [50]

Từ bảng 1.4 cho thấy sự đa dạng về mô hình tính toán ước lượng khác nhau về các giá trị sản lượng và cường lực, tuy nhiên các giá trị tính toán chênh lệch không đáng kể

Cũng liên quan đến nghiên cứu sản lượng khai thác hợp lý, trong công trình

nghiên cứu “Sử dụng mô hình sản xuất thặng dư đa loài để ước lượng sản lượng bền vững tối đa mức độ hệ sinh thái” [54], bằng phương pháp sử dụng chuỗi sinh khối và

sản lượng theo thời gian của nghề cá đáy thương mại ở biển phía Đông Bering/vùng đảo Aleutian và Vịnh Alaska để tính toán sản xuất thặng dư cho giai đoạn 1977 

2004 Sử dụng hai mô hình sản xuất thặng dư (Mô hình Graham – Schaefer và Mô

Trang 39

hình Pella – Tomlinson) để quan sát mối quan hệ, ước lượng sản lượng bền vững tối

đa cho nghề cá đáy đa loài phức tạp Theo đó, giá trị MSY nghề cá đáy đa loài được xác định xấp xỉ 2,5 triệu tấn ở biển Bering/quần đảo Aleutian và 330 ngàn tấn ở Vịnh Alaska Công trình nghiên cứu sử dụng các mô hình tính toán tập trung về các tham số khía cạnh sinh học để tính toán ra giá trị cường lực và sản lượng khai thác hợp lý

Ngoài ra, ở công trình nghiên cứu “Ước tính sản lượng bền vững tối đa của nghề cá chẽm từ vùng biển phía Bắc Ả Rập” của Memon và cộng sự [73], nhóm tác

giả sử dụng hai gói phần mềm CEDA (phân tích dữ liệu cường lực – sản lượng) và ASPIC (mô hình sản xuất thặng dư kết hợp đồng biến) được ứng dụng Ba mô hình Fox, Schaefer và Pell – Tomlinson với ba giả định lỗi khác nhau, với bộ dữ liệu từ

1995  2009 Kết quả cho thấy, MSY của mô hình Fox và Schaefer sử dụng phần mềm ASPIC lần lượt là 118 tấn (+/- 10,856 tấn) và 109 (+/- 10,384 tấn), trong khi sử dụng phần mềm CEDA cho 3 mô hình Fox, Schaefer và Pella – Tomlinson thì dao động từ

107 117 tấn (+/- 8,131 – 15,260 tấn) Tất cả các giá trị tính toán MSY của 3 mô hình trên đều gần hoặc nhỏ hơn giá trị sản lượng hiện tại Do vậy, kết quả nghiên cứu cũng

đề nghị cần cắt giảm cường lực để khai thác hợp lý, hướng đến bền vững NLTS

Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã đưa ra được những bước tính toán, xác định giá trị sản lượng và cường lực khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản Tuy nhiên, một số công trình nghiên cứu sử dụng mô hình tính toán không phù hợp với nghề cá đa loài,

đa ngư cụ như ở Việt Nam Cần tiếp tục nghiên cứu và đưa ra các phương pháp tính toán đơn giản hơn để phù hợp với đặc trưng nghề cá ven bờ Việt Nam

1.2.1.3 Giải pháp khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản

Với nghề khai thác cá thu ở Vịnh Thái Lan, theo [91, 97] khai thác hợp lý NLTS thì cần cắt giảm 35 tàu khai thác (từ 187 năm 2006 xuống còn 152 tàu) để đạt MSY là 5.876 tấn trong dài hạn Tối đa hóa hiệu quả từ việc khai thác NLTS, nghiên cứu cũng đề xuất cần thiết phải có hợp tác trong quản lý và khai thác nguồn lợi cá thu giữa các quốc gia liên quan như Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Việt Nam

Với công trình khoa học “Đảm bảo một nghề cá hiệu quả và bền vững ở Iceland” của tác giả Gunnar Haraldsson và David Carey [67], với phương pháp nghiên

cứu tổng hợp từ sử dụng mô hình kinh tế sinh học, mô hình quản lý nghề cá dựa vào quyền sở hữu (property rights) để thiết lập tổng sản lượng được phép đánh bắt (TACs),

Trang 40

hệ thống hạn ngạch chuyển nhượng cá nhân (ITQ) Công trình nghiên cứu chỉ ra rằng, nghề cá Iceland đã và đang rất thành công với mô hình TACs và ITQs Theo đó, Viện nghiên cứu biển là cơ quan đưa ra đề xuất khoa học, Bộ Thủy sản Iceland căn cứ vào

đó quyết định TACs cho từng loài thủy sản khai thác Trữ lượng nghề cá của Iceland được dựa trên nghiên cứu đánh giá một số loài sản phẩm chính Một số giải pháp chính

đó là: Iceland công bố TACs hàng năm (thông thường có biến động từ 5 – 7%) cụ thể: i) Cơ quan quản lý thiết lập TAC cho từng năm; ii) căn cứ vào số lượng tàu thuyền khai thác, cơ quan quản lý đưa ra tỷ lệ chia sẻ TAC cho từng tàu (ai); cuối cùng, iii) ngư dân nhận được quyền khai thác của mình theo công thức qi = ai*TAC Đặc biệt, giá trị qi sẽ bị ảnh hưởng bởi sản lượng vượt quá hay chưa đủ hạn ngạch cho phép của năm trước đó

Đối với nghề cá Trung Quốc, theo [98], khi nhận thấy nghề cá đang bị khai thác bất hợp lý, các giải pháp được đưa ra nhằm khai thác hợp lý NLTS Trên thực tế, theo hai nhà nghiên cứu họ Yu, các nỗ lực chính và giải pháp giải quyết quá tải cường lực mà Trung Quốc đã áp dụng là: triển khai áp dụng hệ thống giấy phép khai thác cho tàu thuyền trước khi ra biển; tạm ngừng khai thác theo mùa vụ; cấm khai thác theo khu vực

vùng biển; chính sách “tăng trưởng không”, “tăng trưởng âm”; từ chính sách “kiểm soát đơn” đến “kiểm soát kép”; chương trình phá hủy và mua lại tàu; giải pháp đối với

việc khai thác trái phép, không báo cáo và không theo qui định (IUU fishing)…

Trong qui định tạm ngừng khai thác theo mùa vụ, theo khu vực hoặc kết hợp cả hai: Chính phủ Trung Quốc đã thiết lập một hệ thống tuyến đường liên kết 17 tọa độ gần bờ nhằm ngăn cấm các tàu lưới Kéo vào khai thác bên trong tuyến đường đó (cấm khai thác khu vực gần bờ)

Đặc biệt, giải pháp chính sách “tăng trưởng không” được Chính phủ thực hiện quyết liệt năm 1999 để kiểm soát sự gia tăng không hợp lý cường lực khai thác nhằm đạt tới phát triển bền vững Chính sách này qui định rõ rằng sản lượng đánh bắt không được phép vượt quá mức số liệu cuối năm 1998 Tuy nhiên, đã bộc lộ ra một hiện tượng “tăng trưởng âm” xuất hiện những số liệu không thể kiểm chứng Năm 2000, Chính sách “tăng trưởng âm” đã được thực thi và kết quả là sản lượng đánh bắt khoảng 14,78 triệu tấn (ít hơn 0,202 triệu tấn so với năm 1999 – giảm 1,35% ở năm đầu tiên)

và 2,1% năm 2002 Một quy định liên quan đó là chủ tàu không được đóng mới trừ khi

Ngày đăng: 17/07/2017, 23:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chính phủ (2006). Quyết định số 10/2006/QĐ-TTg ngày 11/01/2006 của Thủ tưởng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 10/2006/QĐ-TTg ngày 11/01/2006 của Thủ tưởng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành thuỷ sản đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
2. Chính phủ (2010). Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày 31/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân trên vùng biển Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày 31/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân trên vùng biển Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
3. Chính phủ (2010b). Quyết định số 1690/QĐ-TTg ban hành ngày 16/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1690/QĐ-TTg ban hành ngày 16/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2006). Thông tư 02/2006/TT-BTS ngày 20/3/2006 về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định của Chính phủ số 59/2005/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2005 về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 02/2006/TT-BTS ngày 20/3/2006 về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định của Chính phủ số 59/2005/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2005 về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 2006
5. Tổng cục Thủy sản (2012). Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, Viện Kinh tế quy hoạch thủy sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030
Tác giả: Tổng cục Thủy sản
Năm: 2012
6. Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam (2013). Lập đồ án điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Tam Kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập đồ án điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Tam Kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
Tác giả: Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam
Năm: 2013
7. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khánh Hòa (2015). Kế hoạch đồng quản lý nghề cá ven bờ: Phường Ninh Hải, Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, Dự án nguồn lợi ven biển vì sự phát triển bền vững, Khánh Hòa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch đồng quản lý nghề cá ven bờ: Phường Ninh Hải, Thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa
Tác giả: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Khánh Hòa
Năm: 2015
8. Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng Nam (2014). Báo cáo tổng kết hoạt động khai thác thủy sản năm 2014 tỉnh Quảng Nam, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết hoạt động khai thác thủy sản năm 2014 tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng Nam
Năm: 2014
9. Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng Nam (2014). Báo cáo tổng kết nghề cá và thống kê tàu thuyền qua các năm 2003 - 2014, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết nghề cá và thống kê tàu thuyền qua các năm 2003 - 2014
Tác giả: Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng Nam
Năm: 2014
10. Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Núi Thành (2014a). Báo cáo kết quả sản xuất khai thác thủy sản và diêm nghiệp huyện Núi Thành năm 2014, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả sản xuất khai thác thủy sản và diêm nghiệp huyện Núi Thành năm 2014
11. Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Núi Thành (2014b). Thống kê tàu thuyền dưới 20CV huyện Núi Thành, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê tàu thuyền dưới 20CV huyện Núi Thành
12. Viện Hải dương học Nha Trang (2003). Phục hồi hệ sinh thái rạn san hô tại ven biển tỉnh Bình Định, Báo cáo tổng kết dự án “Xây dựng mô hình QLTH đới bờ cho tỉnh Bình Định 2001 – 2003, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục hồi hệ sinh thái rạn san hô tại ven biển tỉnh Bình Định
Tác giả: Viện Hải dương học Nha Trang
Năm: 2003
13. Viện Hải dương học Nha Trang (2003). Xây dựng mô hình Quản lý tổng hợp đới bờ cho tỉnh Bình Định 2001 – 2003, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng mô hình Quản lý tổng hợp đới bờ cho tỉnh Bình Định 2001 – 2003
Tác giả: Viện Hải dương học Nha Trang
Năm: 2003
14. Viện Khoa học Thống kê (2005). Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu
Tác giả: Viện Khoa học Thống kê
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2005
15. Viện Nghiên cứu hải sản Hải phòng (2007). Hiện trạng công nghệ khai thác hải sản xa bờ ở Việt Nam, Báo cáo khoa học, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng công nghệ khai thác hải sản xa bờ ở Việt Nam
Tác giả: Viện Nghiên cứu hải sản Hải phòng
Năm: 2007
16. Trung tâm hỗ trợ phát triển bền vững (SSDC) (2012). Đồng quản lý nghề cá và các bài học kinh nghiệm, SPSS II, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng quản lý nghề cá và các bài học kinh nghiệm
Tác giả: Trung tâm hỗ trợ phát triển bền vững (SSDC)
Năm: 2012
17. Nguyễn Thị Kim Anh (2010). Thử nghiệm khả năng ứng dụng các mô hình đồng quản lý ở tỉnh Bến Tre, Việt Nam, Tạp chí NN&amp;PTNN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nghiệm khả năng ứng dụng các mô hình đồng quản lý ở tỉnh Bến Tre, Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Anh
Năm: 2010
18. Hoàng Xuân Bền (2005). Nghiên cứu phân vùng chức năng cho khu bảo tồn Biển Rạn Trào - Vạn Ninh, BC tổng kết đề tài – Viện Hải dương học Nha Trang, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phân vùng chức năng cho khu bảo tồn Biển Rạn Trào - Vạn Ninh
Tác giả: Hoàng Xuân Bền
Năm: 2005
19. Thái Ngọc Chiến (2010). Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển bền vững nghề khai thác hải sản ven bờ Việt Nam, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển bền vững nghề khai thác hải sản ven bờ Việt Nam
Tác giả: Thái Ngọc Chiến
Năm: 2010
20. Phan Thị Dung (2009). Chỉ số đánh giá phát triển bền vững trong khai thác thủy sản vùng duyên hải Nam Trung Bộ, Tạp chí Khoa học và Công nghệ thủy sản, Đại học Nha Trang, Số đặc biệt 2009: p. 253-258 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ số đánh giá phát triển bền vững trong khai thác thủy sản vùng duyên hải Nam Trung Bộ
Tác giả: Phan Thị Dung
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm