1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hướng dẫn học sinh lớp 12 trường THPT dân tộc nội trú sơn la đọc hiểu tác phẩm tây tiến của quang dũng

76 336 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gần đây, nhờ mở rộng giao lưu, một số công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục các nước Phương Tây được giới thiệu Ruxso, Dewey, Skinner… - Tài liệu biên soạn trong nước có: Các giáo t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 12 TRƯỜNG THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH SƠN LA ĐỌC - HIỂU TÁC PHẨM

“TÂY TIẾN” CỦA QUANG DŨNG

Thuộc nhóm ngành khoa học: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Sơn La, tháng 4 năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 12 TRƯỜNG THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH SƠN LA ĐỌC - HIỂU TÁC PHẨM

“TÂY TIẾN” CỦA QUANG DŨNG

Thuộc nhóm ngành khoa học: Phương pháp dạy học Ngữ văn

Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Hảo Giới tính: Nữ Dân tộc: Kinh

Nguyễn Thị Dung Giới tính: Nữ Dân tộc: Kinh Nguyễn Thị Thu Hằng Giới tính: Nữ Dân tộc: Kinh

Đỗ Thị Yến Giới tính: Nữ Dân tộc: Kinh

Lớp: K54 ĐHSP Ngữ văn B Khoa: Ngữ văn

Năm thứ 4/ số năm đào tạo: 4

Trang 3

Lời cảm ơn

Trong quá trình nghiên cứu đề tài của nhóm chúng em đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Thạc sĩ Trịnh Thị Hồng - giảng viên bộ môn phương pháp, sự góp ý giúp đỡ của các thầy cô giáo trong Khoa Ngữ văn, phòng thư viện nhà trường,

sự động viên của tập thế lớp K54 ĐHSP Ngữ văn B Đồng thời chúng em cũng nhận được sự tư vấn, cộng tác của các thầy cô giáo tổ chuyên môn và các em học sinh khối

12 Trường THPT dân tộc nội trú tỉnh Sơn La

Nhân dịp hoàn thiện và công bố đề tài, chúng em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới

sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô và các bạn, đặc biệt là cô giáo Thạc sĩ Trịnh Thị Hồng

Đề tài kính mong nhận được sự góp ý bổ sung của quý thầy cô và các bạn

Xin chân thành cảm ơn !

Sơn La ngày 20 tháng 4 năm 2017

Nhóm tác giả:

Bùi Thị Hảo Nguyễn Thị Dung

Đỗ Thị Yến Nguyễn Thị Thu Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ 3

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 4

4 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 4

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 4

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

7 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 5

8 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 7

1.1 Đặc trưng của tác phẩm trữ tình 7

1.1.1 Đặc trưng về nội dung phản ánh 7

1.1.2 Đặc trưng về hình thức 7

1.1.3 Vấn đề giảng dạy thơ trữ tình trong trường phổ thông 8

1.2 Bản chất của đọc - hiểu thơ trữ tình 10

1.3 Đọc - hiểu bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng 11

1.3.1 Khổ thơ 1 11

1.3.2 Khổ thơ 2 15

1.3.3 Khổ thơ 3 17

1.4 Hiệu quả nhận thức đối với học sinh phổ thông qua đọc hiểu tác phẩm “Tây Tiến” - Quang Dũng 21

Tiểu kết 21

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY HỌC VĂN TẠI TRƯỜNG THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH SƠN LA 22

2.1 Mục đích khảo sát 22

2.2 Nội dung khảo sát 23

2.3 Thời gian , địa điểm khảo sát 23

2.4 Cách thức khảo sát 23

2.5 Kết quả khảo sát 23

2.5.1 Khảo sát chương trình 23

2.5.2 Phương pháp dạy của giáo viên 23

Trang 5

2.5.3 Phương pháp học tập của học sinh 29

Tiểu kết 32

CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP ĐỌC HIỂU BÀI THƠ TÂY TIẾN 33

3.1 Đọc sáng tạo 33

3.1.1 Cách thức đọc sáng tạo trong dạy học tác phẩm trữ tình 35

3.1.2 Những điều kiện và yêu cầu cần thiết để thực hiện phương pháp đọc sáng tạo 35

3.1.3 Nguyên tắc vận dụng phương pháp đọc sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương 36

3.1.4 Phát huy hiệu quả phương pháp đọc sáng tạo vào dạy học bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng 36

3.2 Biện pháp xây dựng hệ thống câu hỏi 37

3.2.1 Khái niệm 37

3.2.2 Câu hỏi thảo luận 37

3.2.3 Câu hỏi trắc nghiệm 39

3.3 Sử dụng Sơ đồ tư duy (SĐTD) 44

3.3.1 Khái niệm 44

3.3.2 Sử dụng sơ đồ tư duy 44

3.3.3 Các bước thiết kế một sơ đồ tư duy 45

3.3.4 Quy trình tổ chức hoạt động vẽ sơ đồ tư duy trên lớp 46

3.4 Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy tác phẩm (sử dụng giáo án điện tử) 48

3.4.1 Khái niệm 48

3.4.2 Vai trò - mục đích 49

3.4.3 Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn 50

3.4.4 Cách thức thực hiện 51

Tiểu kết 53

PHẦN KẾT LUẬN 54 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

Danh mục các từ viết tắt trong đề tài

Sách giáo khoa : SGK

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học đặt ra trong thực tế với hai hình thức:

Thay đổi phương pháp có tính toàn diện, triệt để và cải tiến, đổi mới phương pháp từng phần trong công việc hàng ngày Hiện nay, cùng với việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa, việc thay đổi phương pháp có tính chiến lược về cơ bản đã xong Nhưng việc cải tiến, đổi mới phương pháp từng phần vẫn luôn luôn đặt ra với mỗi giáo viên trong từng ngày lên lớp

Việc đổi mới nhận thức về quá trình giáo dục theo tinh thần nói trên đòi hỏi người giáo viên phải có một sự chuyển biến mạnh mẽ từ nhận thức cho tới thái độ và niềm tin vào vấn đề cơ bản, vai trò chủ thể tích cực học sinh trong học tập

Thực tiễn của hoạt động dạy học trong nhà trường thời gian qua cho thấy tác động lớn lao của việc thay đổi quan điểm giáo dục: Đó là bước chuyển biến từ lối dạy học cổ truyền lấy thầy làm trung tâm chi phối toàn bộ và tuyệt đối quá trình giáo dục,

áp đặt, nhồi nhét những giá trị đạo đức và kiến thức, kĩ năng lên người học, sang việc lấy trò là trung tâm, là chủ thể Bằng vai trò tích cực chủ động, người học tự nỗ lực tìm tòi khám phá tri thức, nắm kĩ năng với sự hướng dẫn của thầy Đây chính là tinh thần

cơ bản của giáo dục hiện đại, quan điểm giáo dục tích cực

Với quá trình triển khai thay đổi chương trình và SGK Ngữ văn THPT, việc vận dụng quan điểm dạy học tích cực lấy học sinh là trung tâm nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể người học trong giờ học văn đã mang tới những triển vọng khả quan Bước chuyển của tình hình dạy học văn theo quan điểm giáo dục tích cực đã tạo những thay đổi quan trọng về nhận thức và hành động tại các trường THPT Thế hệ học sinh ngồi trên ghế nhà trường hôm nay có điều kiện tiếp nhận cách thức dạy học tiến tiến, từ đó các em có khả năng tích lũy hiểu biết và trau dồi thái độ, cảm xúc để hoàn thiện nhân cách theo mục tiêu đào tạo đã đề ra

1.2 Môn Ngữ văn với đặc thù vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật,

là một môn học rất hấp dẫn, lý thú, bổ ích, có khả năng giúp học sinh phát triển toàn diện về trí tuệ, nhân cách, tâm hồn

Tuy nhiên, có một thực tế dễ thấy là những vướng mắc, lúng túng trong quá trình đổi mới phương thức dạy học do sự níu kéo của thói quen cũ đã làm hạn chế một phần vai trò chủ thể tích cực của học sinh để biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo Từ đó

Trang 8

dẫn tới hiện tượng học sinh kém hào hứng học văn, chất lượng dạy học văn có phần giảm sút, các em học với tâm thế bị cưỡng ép, mang tính bắt buộc, đối phó Tình hình trên đang thu hút sự chú ý của dư luận xã hội

Vì vậy, việc đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học bộ môn có vai trò rất quan trọng, quyết định đối với việc tạo hứng thú cho học sinh trong học tập, nâng cao chất lượng dạy học Chúng tôi cho rằng việc vận dụng các biện pháp dạy học tích cực vào dạy học Ngữ văn nói chung, thơ trữ tình nói riêng chính là một trong những giải pháp nhằm đổi mới phương pháp dạy học đáp ứng yêu cầu trên

1.3 Trong chương trình phổ thông, tác phẩm trữ tình là một kiểu loại văn bản

chính Có thể nói, đây là loại văn bản “khó đọc nhất trong tất cả các kiểu loại văn bản bởi đặc trưng nắm bắt thế giới một cách đặc biệt, bởi kiểu cấu trúc hình tượng phi logic, đúng hơn là chỉ tuân theo logic của cảm xúc Cũng không ít người cho rằng việc đọc và thưởng thức tác phẩm trữ tình nói chung, thơ trữ tình nói riêng là lĩnh vực của những gì thiêng liêng, huyền bí chỉ những cá nhân mang những phẩm chất “thiên phú đặc biệt mới có thể bước chân vào Không cực đoan như thế nhưng số đông đều cho rằng tác phẩm trữ tình “khó đọc”, kén người đọc hơn tác phẩm tự sự Học sinh trong nhà trường cũng vậy Thơ (nói rộng ra là tác phẩm trữ tình) đối với các em thì có vẻ ngắn hơn, dễ thuộc hơn tác phẩm tự sự nhưng cảm nhận, phân tích, lí giải, bình giá những vẻ đẹp của nó thì bội phần khó khăn thử thách

Chương trình và SGK mới được xây dựng theo hướng tăng cường khả năng hoạt động của người học Vì vậy, việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực để dạy học Ngữ văn là một hình thức góp phần tạo điều kiện giúp học sinh phát huy vai trò chủ động, năng động sáng tạo, đáp ứng yêu cầu của một công dân trong thời kì hội nhập khu vực và thế giới của đất nước

1.4 Ở tỉnh Sơn La, do hoàn cảnh và điều kiện thực tế ở một địa phương thuộc

vùng sâu vùng xa của Tây Bắc, việc đổi mới quan điểm dạy học văn nói riêng theo tinh thần phát huy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của người học còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại Bản thân chúng tôi cũng muốn tìm hiểu và góp phần vào việc cải thiện tình hình dạy học văn tại trường học ở địa bàn của mình

Với các lí do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Hướng dẫn học sinh lớp 12

trường THPT dân tộc nội trú tỉnh Sơn La đọc - hiểu tác phẩm “Tây tiến của Quang Dũng” Trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp và nâng cao chất

Trang 9

lượng dạy học cho chính mình, sau nữa có thể góp một phần vào tháo gỡ những khó khăn, lúng túng của các bạn đồng nghiệp

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước

để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung phát huy tính tích cực của người dạy Tuy nhiên, để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều

so với dạy theo phương pháp thụ động

Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1 - 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12 - 1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12 - 1998), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 - 1999)

Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”

Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động

Việc vận dụng các biện pháp dạy học tích cực vào giảng dạy tác phẩm thơ trong nhà trường có một vai trò quan trọng trong nâng cao năng lực dạy và học văn trong giai đoạn hiện nay Nó có tác dụng phát huy tối đa khả năng của học sinh trong việc tự chiếm lĩnh tri thức văn bản thơ trữ tình trên cơ sở gợi ý của giáo viên

Vấn đề vận dụng các biện pháp dạy học tích cực trong nhà trường nói chung, bộ môn Ngữ văn nói riêng được nói đến khá nhiều Tiêu biểu có các tài liệu, giáo trình về giáo dục học, Lí luận dạy học:

- Mảng sách dịch của nước ngoài (chủ yếu từ Liên Xô cũ): Giáo dục học của Babanxki; Lí luận dạy học của Exipop, Lecne, Scatkin; Giáo trình Phương pháp luận dạy văn học do Z Ia rez chủ biên

Trang 10

Gần đây, nhờ mở rộng giao lưu, một số công trình nghiên cứu của các nhà giáo dục các nước Phương Tây được giới thiệu (Ruxso, Dewey, Skinner…)

- Tài liệu biên soạn trong nước có: Các giáo trình giáo dục học và tâm lí học (Tủ sách Đại học sư phạm); Giáo trình Phương pháp dạy học văn (do Phan Trọng Luận chủ biên); Tiếp cận văn học (Nguyễn Trọng Hoàn); Lý luận và phê bình văn học (Trần Đình Sử); Nguyễn Viết Chữ thì có những quyển: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường ; Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể

Trần Thanh Đạm, Huỳnh Lý, Hoàng Như Mai, biên soạn quyển: Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể, …

Ngoài ra, chúng ta không thể bỏ qua một nguồn tài liệu tham khảo quý báu đó là các sáng kiến kinh nghiệm về dạy học văn theo hướng vận dụng các biện pháp tích cực được đúc kết từ phong trào thi đua “dạy tốt học tốt trong nhà trường thời gian qua

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học tác phẩm trữ tình, nhằm đề xuất một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 12 trường THPT dân tộc Nội trú tỉnh Sơn La

đọc – hiểu bài thơ “ Tây tiến” của Quang Dũng

4 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu đề của tài: nghiên cứu một số biện pháp dạy học nhằm hướng tới việc tích cực hoạt động học tập của học sinh trong giờ đọc - hiểu văn bản

“Tây tiến của Quang Dũng (lớp 12) cho đối tượng học sinh tại trường THPT dân tộc Nội trú tỉnh Sơn La”

- Phạm vi nghiên cứu:

Ở đề tài này chúng tôi đưa ra một số biện pháp dạy học tích cực và việc vận dụng các biện pháp đó trong giờ đọc - hiểu văn bản Vì vậy, chúng tôi quyết định lựa chọn khối lớp 12 tại trường THPT Nội trú tỉnh Sơn La để nghiên cứu

Với số lượng giáo viên dạy môn Ngữ văn lớp 12 là 2 người Số lượng học sinh được khảo sát là 92 học sinh trên 2 lớp Trong đó số lượng học sinh dân tộc thiểu số là

89 học sinh

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Tìm hiểu những kiến thức lý luận về các biện pháp dạy học tích cực và việc vận dụng các biện pháp đó trong giờ đọc - hiểu văn bản

Trang 11

Tìm hiểu tình hình thực hiện dạy học văn trên cơ sở áp dụng các biện pháp tích cực trong dạy học tác phẩm trữ tình cho học sinh lớp 12 tại trường THPT Nội trú tỉnh Sơn La

Lựa chọn một số biện pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tối đa hiệu quả giảng dạy trong giờ đọc - hiểu văn bản thơ trữ tình hiện đại, cụ thể là dạy đọc- hiểu bài thơ

“Tây tiến” của Quang Dũng cho học sinh lớp 12 trường Nội trú tỉnh Sơn La

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu lý luận

Đọc và tìm hiểu các tài liệu về thơ trữ tình hiện đại, phương pháp giáo dục học, chương trình, sách giáo khoa Ngữ văn 12, việc đổi mới phương pháp dạy học trong những năm gần đây, … được chúng tôi tập trung nghiên cứu, làm tiền đề cơ sở vững chắc cho việc thực hiện đề tài

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Tham gia dự giờ, quan sát, tìm hiểu nắm bắt tình hình dạy học thơ trữ tình ở khối lớp 12 trường THPT Nội trú tỉnh Sơn La, bao gồm các hoạt động như dạy học, chất lượng dạy học, các biện pháp dạy học, từ đó rút ra những nhận định về thực trạng cũng như phương hướng phát triển dạy học cụ thể sẽ đề xuất trong đề tài

Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Bước đầu định hướng triển khai thiết kế mô hình dạy học tác phẩm thơ trữ tình bằng các biện pháp dạy học tích cực phù hợp

Tổ chức lấy ý kiến đánh giá, nhận xét của giáo viên phổ thông về thiết kế giáo án

Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả của học sinh bằng phiếu khảo sát, bài kiểm tra

cả trước, trong và sau quá trình học tập

Trang 12

- Về thực tiễn:

Góp phần khắc phục thiếu sót, nhược điểm thường gặp trong dạy học là chưa chú

ý đúng mức hoặc còn lúng túng trong việc áp dụng các biện pháp dạy học văn bản thơ trữ tình hiện đại Thúc đẩy tối đa khả năng tích cực chủ động của học sinh trong giờ đọc – hiểu thơ trữ tình, tránh lối dạy thụ động một chiều theo kiều giảng giải - ghi nhớ, đọc - chép còn ảnh hưởng khá nặng tại trường THPT, đặc biệt ở vùng miền núi

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Đặc trưng của tác phẩm trữ tình

niềm…(Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam, Lí luận văn học, tập 2)

1.1.1.2 Đặc điểm nội dung:

Cũng theo Trần Thanh Đạm trong quyển Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể thì Trung tâm của tác phẩm trữ tình là hình tượng- tâm tư” Sự rung động,

truyền cảm của tác phẩm trữ tình chủ yếu dựa vào lời nói tràn đầy cảm xúc suy nghĩ của nhà thơ, nhà văn, những lời nói thốt ra “tự đáy lòng”

Nhân vật trữ tình là hình tượng người trực tiếp thổ lộ suy tư, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm”; “cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc, trong cách cảm, cách nghĩ

…(Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam, Lí luận văn học, tập 2) Nhân vật

trữ tình là hiện thân của tác giả còn trữ tình là lời tự thuật của tác giả nhưng không đồng nhất với tác giả

“Thường thường tác phẩm trữ tình hay viết bằng thơ, tức là thứ ngôn ngữ tràn đầy âm thanh, nhịp điệu ngưng đọng cảm xúc, suy nghĩ, kết tinh hiện thực cuộc sống,

có sức xuyên thấm mạnh mẽ vào lòng người đọc” “Tác phẩm trữ tình viết bằng văn xuôi thì thường cũng là thứ văn xuôi giàu chất thơ” Trữ tình là sự bộc lộ trực tiếp mọi trạng thái phong phú, tinh vi, sâu sắc trong đời sống tâm tư, cảm xúc của con người nảy sinh từ sự tiếp xúc, va chạm với cuộc sống- chính là linh hồn của thơ ca(Trần

Thanh Đạm, Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể)

1.1.2 Đặc trưng về hình thức

Tính hình tượng trong ngôn ngữ Nhưng “ngôn ngữ thơ là một kiểu cấu tạo đặc biệt của ngôn ngữ văn học”, đó là ngôn ngữ đã được cách điệu hóa cũng như bước

Trang 14

chân trong vũ điệu so với bước đi thường, ngôn ngữ đã được “chưng cất từ ngôn ngữ đời sống” Nó “tận dụng và phát huy cao độ cả ruột lẫn vỏ của ngôn ngữ và mục đích

nghệ thuật (Trần Thanh Đạm, Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể) Ngôn

ngữ thơ trữ tình là ngôn ngữ bão hòa cảm xúc”, “tập trung sức nặng của tình cảm(Trần

Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam, Lí luận văn học, tập 2)

Do cấu tạo đặc biệt của ngôn ngữ thơ nên thơ có những đặc trưng riêng Thơ có thể nói được những điều hết sức lắng đọng kết tinh mà nhiều khi văn xuôi không nói

được, lời thơ chặt chẽ mà ý thơ mênh mông (Trần Thanh Đạm, Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể) Thơ có khả năng bao quát sâu rộng…” (Sóng Hồng) Thơ

là sự sống tập trung cao độ, là cái lõi của cuộc sống Phải đào, phải xới, phải chắt, phải lọc mới ra thơ được…Sự sống phải ủ thành men và bốc lên trong tâm hồn thi sĩ

(Chuyển dẫn từ [Trần Thanh Đạm, Huỳnh Lý, Hoàng Như Mai, Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể], Lưu Trọng Lư, Các nhà thơ nói về thơ, tạp chí Văn nghệ

Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam, Lí luận văn học, tập 2) Người ta ngâm thơ

gần như hát và các bà mẹ du con mà hát, chí ra là họ ngâm thơ (Chuyển dẫn từ [Trần

Thanh Đạm, Huỳnh Lý, Hoàng Như Mai, Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể], Chế Lan Viên, Những ý nghĩ của một người làm thơ về nền thơ Việt Nam,

Tạp chí Văn nghệ số tháng 5/1961)

1.1.3 Vấn đề giảng dạy thơ trữ tình trong trường phổ thông

Chương trình Ngữ văn hiện hành trong trường THPT, sự phân bổ số lượng tác phẩm thơ trữ tình hiện đại với một lượng vừa phải, chủ yếu tập trung trong SGK Ngữ văn 11, tập 2 và SGK Ngữ văn 12, tập 1 Với một số lượng không phải là nhiều nên đa

Trang 15

số những tác giả được chọn đưa thơ vào SGK đều là những tên tuổi tiểu biểu trong thơ đàn Việt Nam

Văn bản văn chương là sự hư cấu Bằng một bài thơ, tác giả trình bày một bức tranh về thế giới bằng ngôn ngữ nghệ thuật Thế giới đó thường có thể có hoặc không

có trong thực tế, cho nên, thơ trữ tình là thế giới khách quan được chủ quan hoá và được cá thể hoá Như vậy, nguồn gốc và điểm tựa của trữ tình là ở chủ thể và chủ thể

là người duy nhất mang nội dung

Cái đặc biệt của một bài thơ trữ tình là luôn có một người nói bên trong về quan

hệ của họ với thế giới (thiên nhiên, xã hội, gia đình, bạn bè, có khi đề cập cả tới những vấn đề lớn lao), về mối quan hệ của họ với con người (hi vọng, thất vọng, nỗi buồn, tình bạn, tình yêu, sự trung thành hoặc phản bội ) Chẳng hạn các nhà thơ tìm hiểu: Con người là gì? Tôi là ai? Tôi muốn gì và muốn như thế nào ?

Trong thơ trữ tình, tình cảm có vai trò hết sức quan trọng Tình cảm trong thơ gắn trực tiếp với chủ thể sáng tạo nhưng không phải là một yếu tố đơn độc, tự nó nảy sinh

và phát triển Thực ra đó chính là quá trình tích tụ những cảm xúc, những suy nghĩ của nhà thơ do cuộc sống tác động và tạo nên Không có cuộc sống, không có thơ

Vì thơ thường ngắn hơn các thể loại khác (tự sự, kịch) nên các tác giả có thể thể hiện cảm xúc về con người, cuộc sống, thiên nhiên tập trung hơn thông qua hình tượng thơ, đặc biệt thông qua ngôn ngữ nghệ thuật, qua dòng thơ, qua vần điệu, tiết tấu Nhiều khi, cảm xúc vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp của ngôn từ, cho nên thơ thường lời ít, ý khôn cùng

Vì những vấn đề trên, khi dạy thơ, ta có thể tạo điều kiện cho học sinh phát hiện đời sống Nó động viên học sinh phải suy nghĩ, trăn trở để tìm kiếm ý đồ nghệ thuật của tác giả cũng như nét đặc sắc trong tư duy nghệ thuật của mỗi nhà thơ Việc học thơ còn giúp cho các em nhận thức được các phạm trù thẩm mĩ như: Cái đẹp, cái cao thượng, cái hài hoà, cái xót thương

Chính vì thế, để dạy học thơ trữ tình còn phải sử dụng những phương pháp và biện pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể

Tuy nhiên, thực tế giảng dạy tại nhà trường phổ thông hiện nay cho thấy, giáo viên dạy học tác phẩm văn chương phần lớn chỉ quan tâm đến thể loại, không quan tâm hoặc chưa quan tâm đúng mức tính chất của loại thể trong thể Ngay cả sách tham khảo và những tài liệu hướng dẫn cũng chưa chú ý đến loại thể trong quá trình phân

Trang 16

tích tác phẩm văn học, đặc biệt là vấn đề chất của loại trong thể Hệ quả tất yếu của những nguyên nhân trên dẫn đến việc nhiều tác phẩm thơ trữ tình hiện đại chưa được khai thác đúng và “trúng”

Do vậy, chúng tôi hi vọng, với bài nghiên cứu này chúng tôi có thể góp phần nhỏ vào việc tìm ra cách dạy học thơ trữ tình nói riêng, dạy học văn nói chung, một môn học vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật trong nhà trường

1.2 Bản chất của đọc - hiểu thơ trữ tình

Bản chất của đọc hiểu trong dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học phần đọc văn nói riêng, phương pháp dạy học là một vấn đề vô cùng quan trọng G.S Phan Trọng Luận cho rằng: Dạy như thế nào còn quan trọng hơn là dạy cái gì đồng thời GS cũng chỉ rõ.Vấn đề quan hệ giữa cái học và cách học cũng đã được đặt ra như một nguyên tắc của cuộc đổi mới phương pháp dạy học Học để biết là cần nhưng biết cách để biết còn quan trọng hơn nhiều” Do khi dạy học phần đọc văn trong môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông trung học một vấn đề được đặt ra là dạy học như thế nào để học sinh

có thể chủ động tiếp cận với tác phẩm văn học thông qua sự hướng dẫn của giáo viên? Như vậy học sinh là chủ thể trung tâm trong quá trình khai thác và tiếp cận tác phẩm văn học thông qua quá trình đọc hiểu tác phẩm Thuật ngữ “đọc - hiểu được nhắc đến

từ hai trăm năm nay trong hoạt động giáo dục của các quốc gia phát triển Nhưng ở Việt Nam, mãi đến những năm gần đây, thuật ngữ đọc - hiểu mới chính thức được sử dụng với tư cách là một thuật ngữ khoa học Khi chương trình mới được ban hành và sách giáo khoa mới được thực hiện, giờ học văn trở thành giờ “đọc - hiểu văn bản Ngữ văn thì đọc - hiểu đã trở thành một vấn đề thời sự khoa học được quan tâm không chỉ bởi ngành giáo dục và những người làm khoa học phương pháp giảng dạy Hoạt động đọc - hiểu văn bản Ngữ văn là một quá trình Khi đọc, học sinh đối diện với tác phẩm trong suy nghĩ sẽ nảy sinh rất nhiều mâu thuẫn Đó là mâu thuẫn giữa cách cảm thụ và hiểu biết chi tiết nghệ thuật, mâu thuẫn giữa cảm nhận của bản thân với dư luận xã hội

về tác phẩm, mâu thuẫn giữa số lượng chi ti?t đời sống sinh động cụ thể trong tác phẩm và ý nghĩa kết quả của hiện tượng nghệ thuật, mâu thuẫn giữa tính đơn nghĩa và

đa nghĩa của tác phẩm, mâu thuẫn giữa đồng nhất thẩm mĩ và khoảng cách thẩm mĩ, mâu thuẫn giữa năng lực tưởng tượng trong sáng tạo và sáng tạo trong tiếp nhận Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc hiểu bắt đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu nghĩa của từ, sắc thái biểu cảm, bố cục nắm được ý chính của chủ đề tác phẩm Sau đó cần lí giải được

Trang 17

đặc sắc về mặt nghệ thuật, ý nghĩa xuất hiện hình ảnh điển hình trong tác phẩm đó Vậy bản chất của đọc hiểu là quá trình giải mã văn bản thông qua đọc và tìm hiểu văn bản Quá trình đó bao hàm cả đọc văn bản, tìm hiểu văn bản và mở rộng những kiến thức bên ngoài văn bản Trong quá trình đó, người giáo viên phải là người định hướng cho học sinh đi đúng hướng tiếp cận và tiếp nhận tác phẩm

Tác phẩm được chọn vào giảng dạy chương trình Ngữ văn 12 Tác phẩm được đánh giá là một trong những tác phẩm hay nhất của Quang Dũng Tầm vóc của tác phẩm không thật sự lớn lao nhưng nó có giá trị to lớn về mặt nghệ thuật với cách sử dụng ngôn ngữ tinh tế, bút pháp gợi tả, hình ảnh giàu liên tưởng qua đó thấy được vẻ đẹp bức tranh thiên nhiên núi rừng Tây Bắc và chân dung người lính Tây Tiến

1.3 Đọc - hiểu bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

1.3.1 Khổ thơ 1

Nỗi nhớ của tác giả và con đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Nỗi nhớ của tác giả:

Nhà thơ Quang Dũng gắn bó với trung đoàn Tây Tiến, gắn bó với núi rừng Tây Bắc trong những năm kháng chiến Vì thế mà khi xa Tây Tiến, xa Tây Bắc – xa đơn vị

bộ đội, xa vùng đất nhiều kỉ niệm kháng chiến tác giả nhớ nhung da diết:

Trang 18

„„Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi‟‟

Mở đầu bài thơ là lời gọi tha thiết, ngọt ngào Tác giả gọi tên đơn vị Tây Tiến, gọi tên con sông vùng Tây Bắc sông mã mà thân thiết, dạt dào cảm tình như gọi tên những người thân thương trong cuộc đời mình.Phải chăng trung đoàn Tây Tiến, núi rừng Tây Bắc gần gũi, thân thương với tác giả và khi xa thì Tây Bắc, Tây Tiến trở thành một mảnh tâm hồn của tác giả

Tác giả rất thành công trong việc sử dụng nghệ thuật điệp từ nhớ và từ láy chơi vơi”, tác giả nhớ chơi vơi nỗi nhớ ấy không xác định được hết đối tượng, nhớ sông

Mã, nhớ Tây tiến, nhớ núi rừng Tây Bắc, nhớ tất cả Những nơi trung đoàn Tây Tiến

đã đi qua, những đồng đội từng gắn bó, tất cả đều trở thành kỉ niệm không thể nào quên.Chính vì thế mà khi xa Tây Tiến, xa Tây Bắc trong tâm hồn tác giả trào dâng nỗi nhớ da diết, mãnh liệt

Con đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến: Qua nỗi nhớ da diết của nhà thơ, con đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến nơi Tây Bắc hiện lên khá rõ nét

Trước hết là những vùng đất mà đoàn quân đã đi qua, gắn bó, mỗi vùng đất với một nét riêng không dễ gì quên:

“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

Trang 19

Ở Sài Khao thì sương nhiều như muốn che lấp cả đoàn quân khiến cho đoàn quân mỏi mệt Đó cũng chính là những gian khổ mà chiến sĩ phải vượt qua

Nếu như ở Sài Khao đoàn quân phải vất vả, mệt nhọc thì khi về Mường Lát thật

ấm áp, lãng mạn bởi hoa về “trong đêm hơi”, “hoa”, hơi là hai hình ảnh làm cho bức tranh Mường Lát thêm gần gũi, trìu mến

Về Pha Luông thì mưa rừng thật thú vị, vừa hành quân vừa ngắm cảnh vật dưới mưa thật lãng mạn, trữ tình

Có lẽ “ấm long nhất là khi hành quân về vùng Mai Châu, hương vị đặc sản nếp xôi của vùng đất ấy khiến các anh chiến sĩ dẫu có xa cũng không thể nào quên

Còn ghê rợn nhất là khi về Mường Hịch, cái âm thanh phát ra từ núi rừng ấy thật

là khiến cho con người cảm giác bất an: “cọp trêu người”

Mỗi vùng đất trung đoàn Tây Tiến đi qua đều để lại dấu ấn trong tâm hồn, tuy có nhiều gian nan, vất vả nhưng cũng rất lãng mạn, trữ tình

Con đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến được tác giả khái quát rõ nhất qua đoạn thơ:

„„Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người ‟‟

Đoạn thơ ngắn nhưng thể hiện nét bút tài hoa của Quang Dũng Ông thành công trong việc sử dụng ngôn từ, hình ảnh, bút pháp,

Hàng loạt từ láy gợi hình ảnh, cảm xúc “khúc khuỷu”, thăm thẳm”, Heo hút” Hình ảnh vừa hiện thực vừa táo bạo, phi thường như dốc cao khiến súng chạm trời súng ngửi trời”, dốc lên bao nhiêu thì xuống bấy nhiêu ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Kết hợp hình ảnh với những âm thanh đặc sắc như thác gầm thét”, cọp trêu người Đoạn thơ đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn

Trang 20

Nét bút tài hoa của Quang Dũng đã vẽ lại con đường hành quân chiến đấu của trung đoàn Tây Tiến trong những năm kháng chiến chống Pháp, con đường ấy thật gian khổ, hiểm nguy với đèo cao, dốc hiểm và thú rừng dữ tợn nhưng cũng thật lãng mạn, khó quên

Sau hàng loạt những câu thơ sử dụng thanh Trắc tác giả phóng bút một câu thơ toàn thanh Bằng khá độc đáo Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”

Phải chăng sau những đoạn đường hành quân, chiến đấu vất vả thì chiến sĩ Tây Tiến được thưởng thức nét lãng mạn của cơn mưa rừng, được thưởng thức nét đẹp của nhà ai thấp thoáng trong màn mưa Những giây phút lãng mạn, thơ mộng trên con đường hành quân là ngọn nguồn sức mạnh để các chiến sĩ vượt qua gian lao, thử thách Qua con đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến ta cảm nhận được vẻ đẹp riêng của núi rừng Tây Bắc và trung đoàn Tây Tiến Tây Bắc vừa hùng vĩ, tráng lệ vừa nên thơ, trữ tình Chiến sĩ Tây Tiến kiên cường, bất khuất, sẵn sàng vượt gian lao thử thách để thực hiện nhiệm vụ trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh

Và trên con đường hành quân, chiến đấu, cũng có những chiến sĩ không còn đủ sức để tiếp tục nhiệm vụ, lí tưởng của mình:

„„Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời!‟‟

Hai câu thơ gợi cái bi, sự mất mác, đau thương Nhưng dẫu các anh không bước nữa”, bỏ quên đời thì vẫn trong tư thế cầm súng Một số chiến sĩ Tây Tiến không tiếp tục sự nghiệp, lí tưởng bởi lẽ sức đã kiệt Các anh sống và chiến đấu trong điều kiện thiếu thốn thuốc men, lương thực, lại bị những cơn sốt rét rừng hoành hành nên không còn đủ sức để tiếp bước Đây là hiện thực đau thương khó tránh khỏi trong những năm kháng chiến nên Quang Dũng cũng không ngần ngại khi nhắc đến sự ra đi của đồng đội là mất mác không thể nào quên của đại đội trưởng Quang Dũng Tác giả nhắc đến

để tưởng nhớ, buồn thương, tự hào về đồng đội của mình và càng thôi thúc tinh thần chiến đấu để giành lấy sự bình yên, hạnh phúc, độc lập, tự do

Đoạn mở đầu bài thơ Tây tiến da diết nỗi nhớ đồng đội, nhớ núi rừng Tây Bắc của tác giả Quang Dũng Qua nỗi nhớ, con đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến

và bức tranh núi rừng Tây Bắc hiện về khá rõ nét

Đó cũng chính là cái “Tình mà Quang Dũng dành cho Tây Tiến,Tây Bắc: Yêu mến, gắn bó và tự hào

Trang 21

„„Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn‟‟

„„Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ‟‟

Đêm hội đuốc hoa là đêm liên hoan lửa trại giữa chiến sĩ Tây Tiến với đồng bào (Tây Bắc, Lào)

Doanh trại bừng lên – tác giả sử dụng từ bừng lên thật hay, làm bừng sáng và tỏa hơi ấm cho không gian đêm hội Đêm hội có ánh sáng, hơi ấm của đuốc hoa”, có tiếng khèn, điệu nhạc và có em trong trang phục xiêm áo đang yểu điệu, thướt tha, e ấp, dịu dàng em ở đây là cô gái, có thể là các cô gái miền núi Tây Bắc nước ta, có thể là các

cô gái Lào Sự xuất hiện của các cô gái làm cho đêm hội thêm vui vẻ, ấm áp và quyến

rũ, say lòng người

Chiến sĩ Tây Tiến đa phần là những chàng trai Hà Nội hào hoa, lãng mạn và có chút đa tình nên khi các cô gái xuất hiện trong ánh lửa, tiếng khèn điệu nhạc khiến các anh ngạc nhiên, thích thú, say mê Niềm vui, thái độ thích thú của các anh được tác giả diễn tả ở từ “Kìa” Phải chăng các anh ngạc nhiên vì nơi núi rừng ấy lại có những đóa hoa say lòng người đến thế

Say mê, thích thú trong đêm hội để về xây hồn thơ các chiến sĩ xây mộng với các

cô gái Các chiến sĩ thật là lãng mạn

Tài hoa của Quang Dũng trong đoạn thơ là kết hợp hài hòa hình ảnh, âm thanh, ánh sáng, Đoạn thơ là bức tranh đêm hội đuốc hoa thật vui vẻ, ấm áp, lãng mạn Và

đó cũng chính là một trong những kỉ niệm không thể nào quên của trung đoàn Tây

Trang 22

Tiến, minh chứng cho tình cảm đồng đội, tình quân dân nồng nàn, thắm thiết Giây phút vui vẻ, hạnh phúc cùng đồng bào, tình cảm quân dân thắm thiết là hành trang của các chiến sĩ trên chiến trường ác liệt

Trung đoàn Tây Tiến qua nhiều vùng đất nơi Tây Bắc, mỗi vùng đất với nét đẹp riêng khó quên Nếu Sài Khao có sương nhiều như che lấp cả đoàn quân Tây Tiến, Mường Hịch có tiếng cọp khiến con người ghê sợ, vùng Mai Châu có hương vị cơm nếp thật hấp dẫn, thì Châu Mộc cũng thật lãng mạn, trữ tình

„„Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa‟‟

Bốn câu thơ theo dòng hồi tưởng trôi về miền đất lạ, đó là Châu Mộc thuộc tỉnh Sơn La, nơi có những bãi cỏ bát ngát mênh mông, có dãy núi Pha Luông cao 1884 mét, nơi có bản Pha Luông sầm uất của người Thái Quang Dũng đã khám phá ra bao

vẻ kì thú của miền Châu Mộc Năm tháng đã đi qua và miền đất ấy trở thành một mảnh trong tâm hồn của bao người

„„Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn”

(Chế Lan Viên) “Chiều sương ấy là chiều thu năm 1947, sương trắng phủ mờ núi rừng chiến khu làm cho cảnh, người càng thêm thơ mộng, trữ tình Buổi chiều thu đầy sương ấy in đậm hồn người khiến cho hoài niệm thêm mênh mang Chữ “ấy bắt vần với chữ thấy tạo nên một vần lưng giàu âm điệu, như một tiếng khẽ hỏi “có thấy cất lên trong lòng Hồn lau là hồn mùa thu, hoa lau nở trắng, lá lau xào xạc trong gió thu nơi bờ sông bờ suối nẻo bến bờ”

Với tâm hồn thi sĩ tài hoa, Quang Dũng đã cảm nhận vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên Châu Mộc qua cảnh sắc chiều sương và hồn lau nẻo bến bờ”

Điệp ngữ có thấy”, có nhớ làm cho hoài niệm về chiều sương Châu Mộc thêm phần man mác, bâng khuâng Trong chia phôi còn có nhớ, nhớ cảnh rồi nhớ đến người

Có nhớ con thuyền độc mộc và dáng người chèo thuyền độc mộc? Có nhớ hình ảnh

“hoa đong đưa trên dòng nước lũ ? Hoa đong đưa là hoa rừng đong đưa làm duyên trên dòng nước hay là hình ảnh ẩn dụ gợi tả các cô gái miền Tây Bắc xinh đẹp lái thuyền

Trang 23

duyên dáng, uyển chuyển như những bông hoa rừng đang đong đưa trên dòng suối? Và nếu là hình ảnh gợi tả các cô gái Tây Bắc thì các cô gái ấy phải có “tay lái ra hoa mới có thể đong đưa được như vậy Quang Dũng thật tài tình và con người Tây Bắc thật tài hoa! Bốn câu thơ là những dòng hồi tưởng về cảnh sắc và con người nơi Tây Bắc, nơi cao nguyên Châu Mộc.Với bút pháp tài hoa và tâm hồn lãng mạn, Quang Dũng vẽ lại bức tranh tuyệt đẹp về thiên nhiên và con người Tây Bắc

Thuở ấy, núi rừng Tây Bắc thật hoang vu, là chốn rừng thiêng nước độc nhưng tác giả đã khám phá ra được nét đẹp thật thơ mộng, lãng mạn của cảnh và người.Nhà thơ gắn bó với cảnh vật, với con người Tây Bắc, vào sinh ra tử với đồng đội mới có những kỉ niệm đẹp và sâu sắc như vậy, mới có thể viết nên những vần thơ sáng giá đến như thế

Bức tranh chiều sương Châu Mộc và đêm hội đuốc hoa như một bức tranh sơn mài của một danh họa mang vẻ đẹp màu sắc cổ điển và lãng mạn, kết hợp hài hòa tính thời đại và hiện đại trong máu lửa chiến tranh

Bức tranh chiều sương Châu Mộc và đêm hội đuốc hoa là tài năng, tâm hồn và sự gắn bó sâu nặng của Quang Dũng với trung đoàn Tây Tiến, với núi rừng Tây Bắc và với quê hương đất nước trong những năm kháng chiến chống Pháp

Trang 24

cảm động Người chiến binh với quân trang màu xanh của lá rừng, với nước da phong sương vì sốt rét rừng, thiếu thuốc men, lương thực,

„„Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm‟‟

Hai câu thơ trần trụi như hiên thực chiến tranh những năm tháng kháng chiến chống Pháp Hình ảnh đoàn quân không mọc tóc vừa gợi nét bi hài vừa phản ánh cái khốc liệt của chiến tranh

Cái hình hài không lấy gì làm đẹp “không mọc tóc”, xanh màu lá tương phản với nét dữ oai hùm” Với bút pháp tài hoa, Quang Dũng làm bật chí khí hiên ngang, tinh thần quả cảm xung trận của các chiến binh Tây Tiến từng làm quân giặc khiếp sợ

Dữ oai hùm là hình ảnh ẩn dụ nói lên chí khí của người lính Tây Tiến, tuy các chiến sĩ có gầy, xanh nhưng không hề yếu, chí khí của người lính vẫn như con hổ nơi rừng xanh Cái tài của Quang Dũng là khắc họa chân dung bên ngoài của chiến sĩ Tây Tiến tuy gầy, xanh nhưng vẫn toát lên được cái oai phong, khí phách của người lính cụ Hồ

Các chiến sĩ Tây Tiến tuy hành quân, chiến đấu trong muôn vàn gian khổ, thiếu thốn, bệnh tật, nhưng vẫn có những giấc mơ, giấc mộng rất đẹp:

„„Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm‟‟

Các chiến sĩ Tây Tiến mộng và mơ gửi về hai phía chân trời: biên giới và Hà Nội, biên giới là nơi còn đầy bóng giặc, Hà Nội là nơi còn đó những kỉ niệm, những người thân thương,

Mắt trừng – hình ảnh gợi tả nét dữ dội, oai phong lẫm liệt, tinh thần cảnh giác, tỉnh táo của người lính trong khói lửa ác liệt, “gửi mộng qua biên giới là mộng tiêu diệt kẻ thù, bảo vệ biên cương, lập nên chiến công nêu cao truyền thống anh hùng của đoàn quân Tây Tiến, của chiến sĩ cụ Hồ

Các chiến sĩ Tây Tiến lại có những giấc mộng đẹp về Hà Nội,về dáng kiều thơm” Chiến sĩ Tây Tiến vốn là những thanh niên Hà Nội Xếp bút nghiên theo việc đao, cung”, họ là những chàng thanh niên trẻ hào hoa, lãng mạn và có chút đa tình Khi xa Hà Nội, tiến về Tây Bắc để thực hiện nhiệm vụ thì các chiến sĩ luôn “Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long” Sống giữa chiến trường ác liệt nhưng tâm hồn các anh luôn hướng về Hà Nội, mơ về Hà Nội Đúng vậy, làm sao các anh có thể quên

Trang 25

được hàng me, hàng sấu, phố cổ trường xưa?, Làm sao các anh quên được những tà

áo trắng, những cô gái thân thương, những “dáng kiều thơm đã từng hò hẹn, ? Hình ảnh dáng kiều thơm của Quang Dũng đem đến cho người đọc nhiều điều thú vị, ngôn

từ vốn có trong thơ lãng mạn thời “tiền chiến nhưng dưới ngòi bút của Quang Dũng nó trở nên có hồn, đặc tả được chất lính trẻ trung, hào hoa, lãng mạn của binh đoàn Tây Tiến trong trận mạc

Viết về mộng và mơ của trung đoàn Tây Tiến, Quang Dũng đã ca ngợi tinh thần lạc quan, yêu đời của đồng đội Đó cũng chính là nét khám phá của nhà thơ khi vẽ chân dung người lính cụ Hồ xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản trong những năm kháng chiến chống Pháp

Bốn câu thơ tiếp theo tô đậm chân dung chiến sĩ Tây Tiến:

Trong gian khổ chiến trận, bao đồng đội đã ngã xuống trên mảnh đất miền Tây,

họ nằm lại nơi chân đèo góc núi:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”

Câu thơ “Rải rác biên cương mồ viễn xứ để lại trong lòng ta nhiều thương cảm, biết ơn, tự hào, Câu thơ gợi cái bi, nếu đứng một mình thì nó gợi một bức tranh xám lạnh, ảm đạm, hiu hắt, và đem đến cho người đọc nhiều xót thương Nhưng cái tài của Quang Dũng là đã tạo cho nó một văn cảnh, tiếp theo sau là “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” Khi nằm trong văn cảnh ấy thì câu thơ càng thể hiện chí khí, tinh thần của người lính Tây Tiến “Đời xanh là đời trai trẻ, tuổi xuân “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh là họ sẵn sàng ra trận vì lí tưởng cao đẹp: bảo vệ biên cương, tiêu diệt kẻ thù, giành độc lập tự do, Họ là những thanh niên Hà Nội, họ tiến về miền Tây của Tố quốc vì nghĩa lớn của chí khí làm trai Dẫu thấy cái chết trước mắt họ vẫn không sợ, họ coi cái chết nhẹ như lông hồng Họ sẵn sàng quyết tử cho Tố quốc quyết sinh”

Câu thơ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh vang lên như một lời thề thiêng liêng, cao cả Các anh quyết đem xương máu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ độc lập tự do cho dân tộc Tinh thần của người lính Tây Tiến cũng như quyết tâm sắt đá của dân tộc ta trong những năm kháng chiến chống Pháp:chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”

Cảnh trường bi tráng giữa chiến trường miền Tây thuở ấy được tác giả ghi lại ở hai câu cuối của đoạn thơ:

Trang 26

Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Các chiến sĩ ngày xưa giữa chốn sa trường lấy da ngựa bọc thây làm niềm kiêu hãnh Các chiến sĩ Tây Tiến với chiếc chiếu đơn sơ, với tấm áo bào bình dị ấy “về với đất” Một sự ra đi thật nhẹ nhàng, thanh thản ! Anh giết giặc vì quê hương, anh ngã xuống là về đất, nằm trong lòng Mẹ tổ quốc thân thương Nhà thơ không dùng từ chết”, hi sinh mà dùng từ về đất để ca ngợi sự hi sinh cao cả mà bình dị, thầm lặng mà thanh thản của người lính Tây Tiến Chiến sĩ Tây Tiến đã sống và chiến đấu cho quê hương,đã hi sinh cho quê hương, “anh về đất bằng tất cả tấm lòng thủy chung son sắt với Tố quốc Vì thế mà “Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Đây là câu thơ hay, gợi tả không khí thiêng liêng, trang trọng đồng thời tạo âm điệu trầm hùng, thương tiếc “Sông mã gầm lên hay hồn thiêng sông núi đang tấu lên khúc nhạc tiễn đưa linh hồn các anh về nơi an nghỉ cùng đất Mẹ

Đoạn thơ viết về chân dung chiến sĩ Tây Tiến là đoạn thơ độc đáo nhất trong bài Đoạn thơ đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, kết hợp vận dụng sáng tạo trong miêu tả và biểu lộ cảm xúc tạo nên những câu thơ có hồn và khắc họa được vẻ đẹp bi tráng của chiến sĩ Tây Tiến Các chiến sĩ Tây Tiến đã sống anh hùng và chết vẻ vang Chính vì thế mà hình ảnh người lính Tây Tiến, người lính cụ Hồ mãi mãi là một tượng đài nghệ thuật bi tráng in sâu vào tâm hồn dân tộc:

Anh vệ quốc quân ơi Sao mà yêu anh thế !

(Tố Hữu) Khắc họa chân dung chiến sĩ Tây Tiến đậm chất bi tráng -> Quang Dũng khẳng định, ngợi ca tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng của chiến sĩ Tây Tiến, chiến sĩ Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp Đồng thời qua đó thể hiện nét bút tài năng

và tình cảm yêu mến, gắn bó, tự hào về trung đoàn Tây Tiến của Quang Dũng

Tóm lại về nội dung bài thơ thể hiện bức tranh thiên nhiên vùng Tây Bắc tổ quốc

ta vừa tráng lệ, hùng vĩ vừa nên thơ, trữ tình Khẳng định, ca ngợi vẻ đẹp đậm chất bi tráng về hình ảnh người lính Tây Tiến: tâm hồn lãng mạn, khí phách anh hùng, lí tưởng cao cả Vẻ đẹp của chiến sĩ Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp.Thể hiện tình yêu, sự gắn bó, niềm tự hào của tác giả về trung đoàn Tây Tiến và quê hương Tây Bắc trong những năm kháng chiến chống Pháp Về nghệ thuật bài thơ sử dụng ngôn từ

Trang 27

chất nhạc.Kết hợp giữa cảm hứng lãng mạn và bút pháp bi tráng =>Nét bút tài hoa của Quang Dũng

1.4 Hiệu quả nhận thức đối với học sinh phổ thông qua đọc hiểu tác phẩm

“Tây Tiến” - Quang Dũng

Thông qua đọc hiểu và tiếp nhận tác phẩm giúp học sinh có được những nhận thức về thế giới nghệ thuật trong thơ ca trữ tình, về thiên nhiên núi rừng Tây Bắc, về con người nơi đây cùng với hình ảnh của những người chiến sĩ Tây Bắc nói riêng và

mở rộng ra là cả thiên nhiên, con người Việt Nam nói chung trong những năm tháng chiến tranh ác liệt

Qua tác phẩm người đọc có được cảm nhận một cách chân thực nhất về vẻ đẹp của ý thơ và nghệ thuật ngôn từ trong thơ ca trữ tình Những năm tháng chiến tranh kiên cường nơi mảnh đất núi rừng Tây Bắc cung với tình cảm thi?t tha của con người nơi đây Khẳng định, ca ngợi vẻ đẹp đậm chất bi tráng về hình ảnh người lính Tây Tiến: tâm hồn lãng mạn, khí phách anh hùng, lí tưởng cao cả Vẻ đẹp của chiến sĩ Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp Cùng với đó là tình yêu, sự gắn bó, niềm tự hào của tác giả về trung đoàn Tây Tiến và quê hương Tây Bắc trong những năm kháng chiến chống Pháp

Bên cạnh đó thông qua tác phẩm giáo dục cho học sinh lòng yêu thiên nhiên, yêu con người và Tổ Quốc, có được những rung cảm sâu sắc trước nhiên nhiên và con người Bước đầu tạo lập cho các em khả năng hình thành cảm xúc từ đó có những tiền

đề sáng tạo trong nghệ thuật nói chung và thi ca nói riêng Từ đó hình thành nhân cách cho học sinh

Tiểu kết: Đọc – hiểu tác phẩm trữ tình trong chương trình môn Ngữ văn ở THPT

đặc biệt đối với các trường thuộc khu vực miền núi có đa số thậm chí là 100% là đối tượng dân tộc thiểu số Làm thế nào để các em biết cách đọc và hiểu được tốt hơn? Đó

là câu hỏi luôn được các thầy cô nơi đây luôn trăn trở Đề tài đẫ đi sâu tìm hiểu những vấn đề cơ bản nhất: Đặc trưng của tác phẩm trữ tình, Vấn đề giảng dạy thơ ở trường phổ thông, bản chất đọc hiểu thơ trữ tình Đồng thời cũng tìm hiểu đánh giá giá trị của tác phẩm Tây tiến, hiệu quả nhận thức đối với học sinh Thiết nghĩ đó chính là cơ sở lý luận vững chắc để đề tài phát triển và hoàn thiện ở chương sau

Trang 28

CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY HỌC VĂN TẠI

TRƯỜNG THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH SƠN LA 2.1 Mục đích khảo sát

Hiện tại việc đổi mới phương pháp dạy học văn trong nhà trường trung học phổ thông vẫn đang được tiến hành Môn Ngữ văn được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp nối tiếp chương trình trung học phổ thông Cuốn sách Ngữ văn có cả ba phân môn: Văn - Tiếng Việt - Làm văn Chương trình Ngữ văn trường trung học phổ thông coi trọng việc cung cấp và trang bị cho học sinh những công cụ và phương pháp đọc hiểu văn bản, để từ đó học sinh có thể tự tiếp cận và tiếp nhận tác phẩm văn học một cách sáng tạo và đúng hướng

Sách Giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông nói chung và Sách giáo khoa Ngữ văn 12 nói riêng thể hiện đầy đủ nội dung và phương pháp giáo dục của môn Ngữ văn, đảm bảo được tính kế thừa chương trình của lớp trước Sách giáo Ngữ văn còn phải đảm bảo tính cơ bản và sát thực với đối tượng học sinh, tạo điều kiện trực tiếp giúp học sinh nâng cao năng lực tự học và giáo viên đổi mới phương pháp dạy học

Sách Giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông được biên soạn hai bộ theo chương trình chuẩn (dành cho các lớp đại trà và các lớp chuyên ban tự nhiên) và chương trình nâng cao (dành cho các lớp chuyên ban xã hội) Môn Ngữ văn do chương trình có thời lượng lớn nên mỗi bộ sách đều có hai tập (tập 1 và tập 2) Sách giáo khoa Ngữ văn được biên soạn trên cơ sở tích hợp ba phân môn Văn - Tiếng Việt - Làm văn được kết hợp trình bày trong một cuốn Sách giáo khoa, cấu trúc hình thức và nội dung của cuốn Sách giáo khoa thể hiện rõ sự hỗ trợ cho học sinh được làm việc tích cực, chủ động, hạn chế việc cung cấp sẵn kiến thức, mô tả các quá trình Cuốn sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông đã đảm bảo được tính đổi mới thông qua việc cân nhắc lựa chọn kiến thức, xác định mức độ các kiến thức ở từng bài, hướng vào việc thực hiện mục tiêu giáo dục trong từng bài, từng chương của bộ môn ở chương trình của từng lớp và cả cấp trung học phổ thông

Đổi với chương trình lớp 12 vẫn còn gặp không ít những khó khăn trong các quan điểm và giảng dạy và tiếp cận chương trình Chương trình Ngữ văn 12 có 123 tiết Trong đó số tiết học phân môn đọc văn là 72/123 tiết Phân môn Tiếng Việt và Làm văn là 51 tiết Như vậy có thể thấy được tầm quan trọng của phân môn đọc hiểu trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông nói chung và chương trình Ngữ văn

Trang 29

12 nói riêng là chiếm tỷ lệ lớn trong các giờ học Ngữ văn Hiện nay theo định hướng của Bộ giáo dục đề thi môn Ngữ văn lớp 12 có cấu trúc đề: Câu đọc hiểu (3 đ), câu nghị luận xã hội (2 đ), Nghị luận văn học (5 đ)

2.2 Nội dung khảo sát

1, Khảo sát chương trình sách giáo khoa lớp 12

2, Phương pháp dạy thơ trữ tìnhcủa giáo viên

3, Phương pháp học thơ trữ tình của học sinh

2.3 Thời gian , địa điểm khảo sát

Đề tài được khảo sát vào tháng 4 năm 2027 tại lớp 12a trường THPT dân tộc Nội trú tỉnh Sơn La

Môn Ngữ văn là một môn học trong trường phổ thông nên nó có tính chất đặc thù

là một môn khoa học có tính nghệ thuật Yêu cầu đầu tiên của việc dạy học văn phải đảm bảo được tính chất đặc thù này Cảm xúc trong học văn là cảm xúc trí tuệ Đó là cảm xúc muốn biết những điều mới mẻ Cảm nhận văn chương cũng như sống vậy, chi bằng trái tim hoặc trí tuệ đều không thể được Sự kết hợp hài hòa hai yếu tố cảm xúc

và hiểu biết sẽ dẫn đến hiệu quả cao trong tiếp nhận và thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật Đặc biệt hơn với các tác phẩm thơ trữ tình 1945 - 1975 thì việc đọc hiểu càng cần có sự kết hợp hài hoà của cảm xúc và hiểu biết Đây cũng chính là nhiệm vụ mà người giáo viên cần tạo lập nên trong học sinh qua quá trình hướng dẫn học sinh đọc hiểu và tiếp nhận các tác phẩm

2.5.2 Phương pháp dạy của giáo viên

Tổ bộ môn Văn trường phổ thông dân tộc nội trú Tỉnh Sơn La có 6 giáo viên trực tiếp tham gia giảng dạy Với chuyên môn vững vàng, kinh nghiệm, sự sáng tạo trong dạy học và đặc biệt là lòng nhiệt tình, đam mê với công việc đã khắc phục những khó khăn, từng bước đổi mới phương pháp giảng dạy, mang đến những cách tiếp nhận bài học khá mới mẻ, tạo được sức hấp đẫn đối với học sinh trong học tập môn Ngữ văn nói chung và đọc hiểu phần thơ trữ tình 1945 - 1975 nói riêng

Trang 30

Bước đầu khảo sát và tìm hiểu trực tiếp qua các tiết đọc hiểu ở khối lớp 12 trường phô thông dân tộc nội trú Tỉnh Sơn La đã cho thấy, các phương pháp dạy học môn Ngữ văn đã được giáo viên áp dụng một cách sáng tạo vào việc giảng dạy, đặc biệt là giảng dạy các tác phẩm thơ trữ tình mang lại hiệu quả cao Tiêu biểu cho các phương pháp đã được sử dụng trong quá trình dạy học các tác phẩm thơ là: phương pháp đọc, đọc để nắm bắt tác phẩm, xây dựng các hệ thống câu hỏi gợi mở, phát hiện, phương pháp giảng bình

Chúng tôi đã tiến hành lựa chọn và khảo sát đánh giá các phương pháp này trong

tiết dạy 22-23 tác phẩm “Tây tiến của Quang Dũng ở lớp 12 trường phổ thông dân tộc

nội trú Tỉnh Sơn La do cô giáo Phạm Tuyết Loan trực tiếp giảng dạy

Phương pháp đọc để nắm bắt tác phẩm

Đọc là một trong những cách thức tiếp nhận văn học nhằm kết nối giữa đồng nhất thẩm mỹ và khoảng cách thẩm mỹ Ở đây, đọc là làm cho việc tiếp nhận mang tính khái quát hơn giúp cho người đọc tiếp cận với ý tưởng chủ quan của nhà văn và ý nghĩa khách quan của tác phẩm Đối với quá trình tiếp cận các tác phẩm thơ trữ tình thì đọc văn bản đóng vai trò quan trọng Thông qua đọc, ban đầu là đọc đúng (đúng câu từ, đúng nhịp điệu ) tiến đến đọc hay, đọc diễn cảm, học sinh có cảm nhận bước đầu về cảm xúc và hình tượng thơ được tác giả gửi gắm bên trong tác phẩm Cũng từ

đó những âm hưởng của tác phẩm khi vang lên sẽ tác động sâu sắc vào tâm thế của người tiếp nhận tác phẩm

Đối với quá trình dạy học tác phẩm thơ trữ tình ở trường trung học phổ thông dân tọc Nội trú tỉnh Sơn La thì phương pháp đọc được đánh giá là phương pháp đạt hiệu quả tối ưu nhất của quá trình dạy học Đọc giúp cho học sinh đi sâu vào thế giới hình tượng, sống cùng cảm xúc của nhà thơ Thực chất đây được xem là vấn đề cảm thụ trực tiếp tư tưởng, cảm xúc của tác giả thông qua sự sáng tạo của người đọc

Yêu cầu được giáo viên đặt ra khi hướng dẫn học sinh đọc tác phẩm, cụ thể là tác

phẩm “Tây Tiến’’ đó là: đọc văn bản phải đúng câu từ, đúng giọng điệu và nhịp điệu

thơ Đọc văn bản thơ phải nắm bắt được cái thần, nét đọc đáo riêng của tác giả Khi đọc, âm thanh của giọng đọc cần làm nổi bật vẻ đẹp thẩm mỹ mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm, qua đó tạo nên sự đồng cảm và rút ngắn khoảng cách giữa tác giả và người đọc

Trang 31

Bước đầu tiên của quá trình đọc được giáo viên thực hiện là giúp học sinh xác định thể loại, giới thiệu về hoàn cảnh cảm hứng để học sinh xác định đúng cách đọc đối với một tác phẩm thơ trữ tình và phù hợp với tâm trạng, cảm hứng của nhà thơ Cùng với đó là sự chuẩn bị tâm lý cho học sinh trong trạng thái hưng phấn nhất để có thể xử lý các thông tin thẩm mỹ một cách nhạy bén Đồng thời, dùng ý nghĩa khách quan của tác phẩm để đối chiếu, so sánh, lựa chọn những nhận biết chủ quan của học sinh

Đối với học sinh trường phổ thông dân tộc Nội trú tỉnh Sơn La nói chung và học sinh lớp 12 nói riêng số lượng học sinh là con em dân tộc thiểu số chiếm không nhỏ (cụ thể ở lớp 12 là 6 lớp 196 học sinh chủ yếu là con em dân tộc Mông chiếm 46% ; 5/196 học sinh dân tộc Kinh thuộc đối tượng vùng 3, tương đương với 2.55%), với đặc thù học sinh là con em dân tộc miền núi sự phát âm chưa được chuẩn, khả năng tiếp thu hình ảnh và ngôn từ còn có phần chậm thì việc hướng dẫn học sinh thực hiện đọc hiểu càng đòi hỏi yêu cầu cao hơn trong phương pháp của người giáo viên

Một giải pháp đã được sử dụng trong tiết đọc hiểu ở lớp 12 là hướng dẫn học sinh đọc chậm và đọc đúng (đúng từ ngữ văn bản và đúng giọng điệu) sau đó mới đọc diễn cảm và đọc sáng tạo Ban đầu Giáo viên cho học sinh đọc, nhận xét, đọc mẫu và hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm, sau đó yêu cầu học sinh đọc diễn cảm tác phẩm Với tác phẩm thơ trữ tình, để có được sự đồng cảm và cảm thụ một cách sâu sắc

về tác phẩm thì yêu cầu đọc diễn cảm tác phẩm là không thể không có

Nhờ đọc diễn cảm mà tái hiện được hình tượng, qua đó khơi dậy cảm quan nghe nhìn theo âm vang ngôn ngữ của tác phẩm

Trong tiết dạy tại lớp 12 giáo viên đã chỉ ra cho học sinh thấy giọng điệu, cách ngắt nhịp của bài thơ, chỗ nào cần nhấn mạnh, câu thơ cần đọc chậm, sự ngắt nghỉ như thế nào cho hợp lí Chính vì vậy khi học sinh đọc tác phẩm đã thể hiện được tình cảm,

ý nghĩ của tác giả Quang Dũng gửi gắm trong tác phẩm của mình Giọng điệu bài thơ thể hiện âm hưởng tráng lệ hào hùng nhưng cũng nhẹ nhàng, man mác buồn Tất cả những yêu cầu đó đều được học sinh thực hiện và tạo nên sự rung cảm trong chính học sinh trực tiếp đọc tác phẩm và những học sinh được nghe bạn đọc tác phẩm

Như vậy, để hướng dẫn học sinh tiếp cận tác phẩm thì điều đầu tiên mà giáo viên thực hiện là hướng dẫn học sinh đọc tác phẩm Nếu không có quá trình này thì sẽ gặp khó khăn trong khai thác giá trị nghệ thuật và nội dung của tác phẩm Nhờ đọc và tái

Trang 32

hiện hình tượng một cách sinh động mà sự nhận thức bằng cảm giác bước đầu của học sinh được hình thành tạo tiền đề quan trọng cho các bước tiếp cận, khai thác tác phẩm

Phương pháp sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở

Bản chất của phương pháp sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở trong dạy học chính

là phương pháp dạy học nêu vấn đề Trong quá trình giảng dạy, người giáo viên đưa ra một chuỗi các vấn đề và định hướng cho học sinh cách tiếp cận, từng bước giải quyết các vấn đề đó, từ đây học sinh nắm bắt được những kiến thức cơ bản mà bản thân vấn

đề đó bao chứa dưới sự định hướng của giáo viên

Điều quan trọng trong phương pháp này là giáo viên cần khơi dậy cảm thụ văn chương bước đầu và đặt các em vào những tình huống không thể không trả lời và từ

đó giúp các em tiếp nhận một số vấn đề then chốt về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Đối với việc dạy học tác phẩm thơ trữ tình ở khối trường phổ thông dân tộc Nội trú tỉnh Sơn La thì việc sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở là rất cần thiết và phù hợp Câu hỏi gợi mở được giáo viên sử dụng trong tiết dạy mà chúng tôi tiến hành khảo sát đánh giá là những câu hỏi mang tính chi tiết, đi từ dễ đến khó và phần lớn là những câu có tính gợi mở khá cao (điều này phù hợp với đặc điểm tiếp nhận của học sinh trường phổ thông dân tộc Nội trú tỉnh Sơn La với một phần lớn là con em dân tộc có sự tiếp nhận và sử lí thông tin chậm) Bên cạnh đó hệ thống câu hỏi được sử dụng có tính logic (câu trả lời của câu hỏi trước là tiền đề cho câu hỏi tiếp sau) Những đặc trưng đó được thể hiện rõ nét trong hệ thống câu hỏi của tiết dạy 22-23

tác phẩm “Tây tiến của Quang Dũng tại lớp 12 Trong cả tiết dạy, hệ thống câu hỏi

gợi mở được sử dụng hết sức hiệu quả Điều đó được thể hiện rõ nét nhất trong qua trình tìm hiểu khổ thơ đầu Điều đó cho thấy cách sử dụng câu hỏi gợi mở khá hệ thống và hiệu quả, mức độ câu hỏi từ dễ đến khó và học sinh cũng dễ dàng nắm bắt được yêu cầu của vấn đề để trả lời

Bước vào quá trình tìm hiểu, sau khi hướng dẫn học sinh đọc và cảm nhận bước

đầu về đoạn thơ, giáo viên đặt câu hỏi: Em có nhận xét gì về câu thơ đầu tiên? Tại sao tác giả mở đầu bằng địa danh Sông Mã? Câu hỏi được đưa ra khá sát với vấn đề cần

tìm hiểu mà lại giúp học sinh dễ dàng nắm bắt được vấn đề cần trả lời Yêu cầu về mặt kiến thức cần đạt được của câu hỏi là: câu thơ có hình thức là một câu cảm thán Nó thể hiện nỗi nhớ của tác giả về đoàn binh Tây Tiến với những kỉ niệm hết sức sâu đậm trong tâm hồn nhà thơ bởi thế nhà thơ nhớ về Tây Tiến là nhớ ngay về Sông Mã, nhớ

Trang 33

về rừng núi với bao kỉ niệm vui buồn, ấn tượng về một miền rừng núi hắc nghiệt đã để lại trong tâm hồn nhà thơ dấu ấn chẳng phai mờ Như vậy có thể thấy câu thơ mở đầu này khá phù hợp với đặc điểm tiếp nhận của học sinh và yêu cầu của bài dạy

Ở câu hỏi tiếp theo giáo viên đưa ra câu hỏi: khơi nguồn cho mạch cảm xúc của bài thơ là gì ? câu thơ nào thể hiện cảm xúc đó ? (yêu cầu kiến thức cần đạt ở câu hỏi ban đầu) nỗi nhớ dường như không kìm nén nổi, chủ thể nhớ phải thốt lên bằng tiếng gọi, và nỗi nhớ như được cụ thể hóa, hình tượng hóa bằng từ láy tượng hình chơi vơi‟‟ rất gợi cảm, tạo cảm xúc cho những dòng thơ tiếp nối với những cảnh núi cao, vực thẳm, rừng sâu xuất hiện Đó chính là tính logic được thể hiện trong hệ thống câu hỏi được giáo viên đưa ra Đặc điểm này còn được thể hiện rõ hơn khi giáo viên sử dụng

câu hỏi tiếp nối nhằm chuyển ý bước vào tìm hiểu câu thơ tiếp theo? theo em câu thơ nào được coi là tuyệt bút của nhà thơ ? vì sao ?” Câu hỏi này không khó và cũng

không quá dễ Nó đòi hỏi học sinh phải đọc, cảm nhận và nắm bắt tác phẩm qua các hình ảnh miêu tả về Tây Tiến để nhận xét và trả lời câu hỏi Và hơn nữa nó tạo thành một hệ thống khá thống nhất và có mối liên hệ chặt chẽ với các câu hỏi trước và sau Điều này giúp học sinh dễ dàng liên hệ và tìm ra câu trả lời cho vấn đề được nêu Như vậy với đối tượng học sinh Lớp 12 trường phổ thông dân tộc nội trú Tỉnh Sơn La, giáo viên đã áp dụng một cách sáng tạo phương pháp sử dụng câu hỏi gợi mở phù hợp với khả năng tiếp nhận của học sinh, Hệ thống câu hỏi có tính nêu vấn đề và tính logic cao Bên cạnh đó nó góp phần phát huy được tư duy và khả năng sáng tạo của học sinh qua các câu hỏi nêu vấn đề từ dễ đến khó trong quá trinh tìm hiểu và tiếp

nhận tác phẩm “Tây Tiến’’ nói riêng và các tác phẩm văn chương nói chung Thành

công của tiết dạy cũng chính nhờ sự sáng tạo trong việc sử dụng hệ thống câu hỏi gợi

mở của giáo viên

Bình giảng chính là từ chỗ định hướng học sinh tìm hiểu tác phẩm thông qua hệ thống các câu hỏi gợi mở, giáo viên giảng giải làm rõ những vấn đề được đưa ra và

Trang 34

bình mở rộng để học sinh hiểu sâu sắc về vẻ đẹp của nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Người giáo viên trong quá trình giảng bình cần phải từ sự cảm nhận cái hay cái đặc sắc của bản thân để truyền dẫn cho học sinh những rung cảm, kích thích các em khám phá và tiếp nhận cái tinh tuý của tác phẩm

Yêu cầu đầu tiên của bình giảng là người giáo viên cần hiểu sâu sắc và cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong tác phẩm Hơn nữa không được vượt ra ngoài những điều

mà tác giả muốn nói Bởi lẽ nếu đi thiên theo cảm nhận các nhân vượt ra khỏi phạm vi của bài học, có thể giúp học sinh cảm thấy tò mò, thích thú, nhưng trái lại cũng có thể

sẽ làm hỏng cả bài học Điều đó yêu cầu ở giáo viên không những cần phải có sự cảm nhận sâu sắc về tác phẩm mà còn cần có sự nhạy bén và sát thực trong việc lựa chọn các chi tiết, chắt lọc những tinh hoa của tác phẩm để bình giảng Có như vậy, phương pháp bình giảng mới thực sự phát huy được hiệu quả cao nhất

Với kinh nghiệm giảng dạy, bề dày kiến thức và sự nhạy bén trong chuyên môn,

giáo viên thực hiện tiết dạy “Tây tiến ở lớp 12 trường phổ thông dân tộc Nội trú tỉnh

Sơn La đã thực hiện khá thành công phương pháp này Có nhiều chi tiết, hình ảnh đã được lựa chọn để giảng bình cho học sinh Theo đánh giá chủ quan của người viết đề tài và căn cứ trên mục tiêu kiến thức của bài dạy nhận thấy những chi tiết được giảng bình đều là những chi tiết thú vị đặc sắc và có vị trí quan trọng trong tác phẩm Nhưng khi lựa chọn chi tiết này giảng mở rộng, giáo viên đã nhận được sự hưởng ứng của học sinh và nó kích thích hứng thú, sự tò mò muốn tìm hiểu, khám phá của các em khỉ bước vào đầu bài học

Bình giảng giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về bài thơ thông qua các chi tiết

Trong tiết dạy “Tây Tiến giáo viên đã thực hiện được điều này ở khổ thơ đầu tiên hình ảnh “Sông mã được lựa chọn bình giảng khá sâu sắc Như vậy bình giảng được

thực hiện không chỉ giúp cho học sinh hiểu sâu sắc hơn về tác phẩm mà còn giúp định hướng cho cảm nhận và tư duy của học sinh về tác phẩm một cách đúng đắn

Tác phẩm “Tây Tiến có rất nhiều hình ảnh đẹp và lời bình của giáo viên như tô đậm nét thêm cho vẻ đẹp đó, lời bình lúc này đóng vai trò là những "đường viền đậm nét xung quanh “bức tranh rừng núi Tây bắc câu thơ dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm như ngắt ra, như đứt đoạn thể hiện sự khó khăn, hiểm trở heo hút với những con

đường quanh co gập ghềnh, đứt đoạn của núi rừng Tây Bắc Giáo viên đã bình giảng

và làm tăng thêm vẻ đẹp cho hình ảnh thơ nhuốm đầy tâm trạng

Trang 35

Tóm lại bình giảng đã được thực hiện khá thành công trong tiết học Tây tiến ở lớp 12 Đây được xem là một phương pháp gắn liền với quá trình dạy học văn Nó góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy, tiếp nhận và khám phá một tác phẩm văn chương Như vậy việc dạy các tác phẩm thơ trữ tình ở khối lớp 12 trường phổ thông dân tộc Nội trú tỉnh Sơn La đã được các thầy cô thực hiện sáng tạo bằng các phương pháp dạy học Ngữ văn mới phù hợp với đối tượng học sinh mang lại hiệu quả dạy học khá cao, gây được hứng thú cho học sinh tiếp nhận các tác phẩm thơ trữ tình nói riêng và văn chương nói chung Đây chính là tiền đề quan trọng để thực hiện thành công việc đổi mới phương pháp giảng dạy ở nhà trường trung học phổ thông

2.5.3 Phương pháp học tập của học sinh

Chúng tôi đã tiến hành lựa chọn và khảo sát thực tế học tập môn Ngữ văn nói chung và các tác phẩm thơ trữ tình nói riêng ở lớp 12 (học theo chương trình chuẩn) trường phổ thông dân tộc Nội trú tỉnh Sơn La Kết quả cho thấy so với đặc điểm tiếp nhận và chất lượng học sinh thì kết quả học tập và tiếp nhận tác phẩm của các em là tương đối khả quan

Đặc điểm tiếp cận tác phẩm văn chương của học sinh

Số lượng học sinh được khảo sát là 92 học sỉnh/2 lớp (mỗi lớp có 46 học sinh) Đặc điểm tiếp nhận của các em được đánh giá theo độ tuổi, dân tộc, nhận thức về môn Văn trong nhà trường và kết quả học tập môn Văn

Về độ tuổi, các em tương đối đồng đều về độ tuổi Ở độ tuổi này hầu hết các em đã

có suy nghĩ mang tính chủ quan cá nhân Các em có thể tự định hướng cho mình cách khám phá tiếp nhận một tác phẩm văn học Hơn nữa đã có sự tích cực chủ động trong học tập nói chung và học tập môn Ngữ văn nói riêng Như vậy, về mặt độ tuổi quyết định không nhiều tới sự tiếp nhận của học sinh

Yếu tố thứ hai được khảo sát để đánh giá mức độ và đặc điểm tiếp nhận của học sinh là đặc điểm các em ở khu vực miền núi, là học sinh dân tộc thiểu số nên cũng chi phối tới quá trình tiếp nhận Có 5/196 học sinh là con em dân tộc Kinh chiếm 2.55%

Số lượng học sinh là con em dân tộc thiểu số chiếm đại đa số và chủ yếu là con em dân tộc mông) Như vậy số học sinh là con em dân tộc thiểu số chiếm đại đa số học sinh được khảo sát Đây là một khó khăn trong quá trình tiếp nhận của học sinh bởi số học sinh là con em dân tộc thiểu có khả năng tiếp thu hình tượng văn chương và ngôn

từ chậm Cùng với đó sự nhạy bén trong tiếp nhận và đánh giá một tác phẩm văn

Trang 36

chương còn thấp Chính vì thế đây là một yếu tố tác động không nhỏ tới đặc điểm tiếp nhận của học sinh trong học tập môn Ngữ văn nói chung và tìm hiểu các tác phẩm thơ trữ tình nói riêng

Bên cạnh đó thì sở thích trong học tập cũng là một tiêu chí để đánh giá mức độ

và đặc điểm tiếp nhận của học sinh Có 23/92 học sinh thực sự rất yêu thích môn văn tương ứng với 25%, có 68 học sinh thích ở mức độ bình thường tương đương với 74%,

số học sinh không thích học môn văn là 1 em tương đương với 1% Như vậy một đặc điểm đáng mừng là hầu hết tất cả các học sinh khi được khảo sát đều có thái độ trân trọng và yêu thích bộ môn văn Có tới 35/196 học sinh có mong muốn trở thành giáo viên dạy văn trong tương lai Thậm chí trong phiếu khảo sát mà chúng tôi thu được có rất nhiều em bày tỏ thái độ biết ơn đối với giáo viên dạy văn của mình Điều đó khẳng đinh rằng học sinh khá yêu thích văn học nói chung và bộ môn văn nói riêng

Kết quả học tập môn văn của các em là thang đánh giá một cách sát thực nhất về đặc điểm tiếp nhận tác phẩm văn học của học sinh Theo thống kê số liệu từ kết quả điều tra hai lớp 12a và 12d trường trung học phổ thông dân tộc Nội trú tỉnh Sơn La, kết quả học tập của năm học lớp 11 (2015-2016) của các em như sau: Học lực Giỏi không có; Khá có 12 học sinh bằng 1.3%; Trung bình 62 học sinh tương đương 67.4%; số học sinh lực học môn văn dưới trung bình là 18 học sinh bằng 31.3% Đánh giá chung trên kết quả học tập môn văn năm học 2015-2016 của học sinh hai lớp được khảo sát là kết quả học tập ở mức trung bình Không có học sinh giỏi và số lượng học sinh dưới trung bình còn khá nhiều 31.3% Như vậy khả năng tiếp nhận văn chương của các em cũng được đánh giá chỉ ở mức độ trung bình

Nhìn vào các đặc điểm về độ tuổi, đặc điểm dân tộc, mức độ yêu thích môn văn

và kết quả học tập của các em thì đặc điểm tiếp nhận văn chương của các em không cao Đây cũng chính là vấn đề mà các thầy cô trực tiếp giảng dạy cũng như bản thân người viết đề tài này muốn nhìn nhận và tìm ra các phương pháp khác phục để nâng cao hiệu quả giảng dạy tác phẩm văn học với học sinh trường trung học phổ thông dân tộc Nội trú tỉnh Sơn La

Kết quả tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình 1945-1975

Tiết học 22 - 23 tại lớp 12 được tiến hành với sự chuẩn bị bài đầy đủ của các em học sinh 100% học sinh có vở soạn và đã soạn, chuẩn bị bài Các em đều có ý thức xây dựng bài khá sôi nổi Các câu hỏi đưa ra đều được học sinh trả lời

Trang 37

Hơn nữa học sinh đã tạo được sự tự ý thức trong việc ghi chép những kiến thức cần thiết một cách chọn lọc

Đối với một tác phẩm thơ trữ tình, học sinh có sự hứng thú trong tiết học Theo kết quả điều tra riêng ở lớp 12 thì có 29/40 học sinh thích học tác phẩm thơ bằng 63% Điều đó khẳng định rằng tác phẩm thơ tạo được sự thích thú khi tiếp cận cho học sinh hơn một sổ thể loại khác Chúng tôi cũng nhận thấy rằng có rất nhiều học sinh thích tìm hiểu và đọc các tác phẩm thơ ngoài chương trình sách giáo khoa Nhiều em còn có riêng sổ tích luỹ kiến thức văn học chép các bài thơ hay Đây là một tiền đề thuận lợi cho sự tiếp cận các tác phẩm thơ trữ tình Cũng như sự thuận lợi trong tiết đọc hiểu tác phẩm thơ trữ tình 1945-1975

Từ thực tế học sinh như vậy, sau tiết học đọc hiểu tác phẩm “Tây tiến của Quang Dũng, chúng tôi đã tiến hành kiểm tra đánh giá mức độ tiếp nhận bài học của học sinh lớp 12 bằng việc sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra kiến thức Kết quả cụ thể như sau: có 5/46 học sinh đạt điểm Xuất sắc chiếm 11%, có 12/46 học sinh đạt điểm Giỏi bằng 26%, 20/46 học sinh đạt điểm Khá tương đương 43%, có 9 học sinh đạt điểm Trung bình chiếm 19% Đây là kết quả phản ánh khá trung thực sự tiếp nhận bài học của học sinh Bởi chúng tôi đã tiến hành kiểm tra đánh giá ngay sau tiết học với cách thức kiểm tra và chấm chặt chẽ

Kết quả trên phần nào phản ánh được hiệu quả trong việc áp dụng sáng tạo một

số phương pháp dạy học Ngữ văn vào dạy học các tác phẩm trữ tình Từ đây cũng có thể thấy, hoạt động học tập Ngữ văn của học sinh khối lớp 12 nói riêng và học sinh trường phổ thông dân tộc Nội trú tỉnh Sơn La nói chung đang được nâng cao về chất lượng Khả năng tiếp thu kiến thức văn học và đặc biệt là khả năng tiếp nhận, cảm thụ các tác phẩm văn chương của học sinh ngày một nâng cao

* Đánh giá

Ưu điểm: Với đội ngũ giáo viên có chuyên môn vững vàng, kinh nghiệm, sự sáng tạo trong dạy học và đặc biệt là lòng nhiệt tình, đam mê với công việc đã từng bước đổi mới phương pháp giảng dạy, mang đến những cách tiếp nhận bài học khá mới mẻ tạo được sức hấp dẫn với học sinh Qua đó các em học sinh có thể tự định hướng cho mình cách khám phá tiếp nhận một tác phẩm văn học, hơn nữa đã có sự tích cực chủ động trong học tập môn ngữ văn

Trang 38

Hạn chế: Đa số các em đều là học sinh dân tộc thiểu số nên việc tiếp thu hình tượng văn chương và ngôn từ còn chậm, trong quá trình học tập còn chưa thực sự chú tâm, không hứng thú với môn học

Tiểu kết: Đối tượng của quá trình dạy học văn ở trường phổ thông không thể

không nói tới những yếu tố cơ bản, cốt lõi quan trọng đó là người dạy, người học và nội dung dạy học Để tìm hiểu thực trạng dạy học môn Ngữ văn tại trường THPT Nội trú tỉnh Sơn La Chúng tôi đã tiến hành khảo sát sách giáo khoa, khảo sát hoạt động dạy học của giáo viên, hoạt động học tập của học sinh đó chính là cơ sở lý thực tiễn cần thiết, vững chắc để đề tài tiến hành đề xuất biện pháp dạy học ở chương tiếp theo

Ngày đăng: 17/07/2017, 22:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Bảo (2005), Thơ Việt Nam, tác giả, tác phẩm, lời bình (tái bản lần thứ III), NXB Gíao dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Việt Nam, tác giả, tác phẩm, lời bình (tái bản lần thứ III)
Tác giả: Lê Bảo
Nhà XB: NXB Gíao dục
Năm: 2005
2. Nguyễn Viết Chữ (2005), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ phạm Hà Nội
Năm: 2005
3. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2004
4. Lê Bá Hán (2003), Tinh hoa thơ mới thẩm bình và suy ngẫm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa thơ mới thẩm bình và suy ngẫm
Tác giả: Lê Bá Hán
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
5. Nguyễn Trọng Hoàn (2002), Tiếp cận văn học, NXB khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận văn học
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: NXB khoa học xã hội
Năm: 2002
6. Phan Trọng Luận (2001), Phương pháp dạy học văn, NXB Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
7. Nguyễn Đăng Mạnh (2003), Thơ Xuân Diệu và những lời bình, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Xuân Diệu và những lời bình
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
8. Vũ Ngọc Phan (1989), Nhà văn hiện đại (tập 2), NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn hiện đại (tập 2)
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1989
9. Vũ Dương Quý - Lê Bảo (2002), Tác phẩm văn chương trong nhà trường - những con đường khám phá (tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn chương trong nhà trường - những con đường khám phá (tập 2)
Tác giả: Vũ Dương Quý - Lê Bảo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
10. Chu Văn Sơn (2002), Ba đỉnh cao thơ mới, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba đỉnh cao thơ mới
Tác giả: Chu Văn Sơn
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2002
11. Hoài Thanh - Hoài Chân (2000), Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi nhân Việt Nam
Tác giả: Hoài Thanh - Hoài Chân
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2000
12. ( Nhiều tác giả) (2006), Bình luận văn chương - văn học trong nhà trường NXB Đại học Sƣ Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiều tác giả)" (2006), "Bình luận văn chương - văn học trong nhà trường
Tác giả: ( Nhiều tác giả)
Nhà XB: NXB Đại học Sƣ Phạm
Năm: 2006
13. (Nhiều tác giả) (2005), Giáo trình Văn học Việt Nam (1900-1935), NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Văn học Việt Nam (1900-1935)
Tác giả: (Nhiều tác giả)
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2005
14. (Nhiều tác giả) (1978), Lịch sử Văn học Việt Nam (tập 5, phần I), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Văn học Việt Nam (tập 5, phần I)
Tác giả: (Nhiều tác giả)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1978
15. Phan Trọng Luận chủ biên (2001), Giáo trình Phương pháp dạy học văn, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Trọng Luận chủ biên
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
16. Phương Lựu (chủ biên) (2004), Lí luận văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
17. Lê Bá Hán chủ biên (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán chủ biên
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
18. ( 2007), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình Sách giao khoa lớp 12 môn Ngữ Văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình Sách giao khoa lớp 12 môn Ngữ Văn
Nhà XB: NXB Giáo dục
19. (2007), Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12 (tập 1, tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12 (tập 1, tập 2)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
20. (2007), Sách giáo viên Ngữ văn lớp 12 (tập 1, tập 2), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn lớp 12 (tập 1, tập 2)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w