LỜI CẢM ƠN Để thực hiện và hoàn thành luận văn “Biện pháp quản lý học sinh bán trú dân nuôi ở trường THCS Sở Đồng Sơn, huyện Tân, Sơn Sơn tỉnh Phú Thọ”, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ MÃ LƯƠNG
QUẢN LÝ HỌC SINH BÁN TRÚ DÂN NUÔI
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐỒNG SƠN,
HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ MÃ LƯƠNG
QUẢN LÝ HỌC SINH BÁN TRÚ DÂN NUÔI
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐỒNG SƠN,
HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Kiều Oanh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành luận văn “Biện pháp quản lý học sinh bán trú dân nuôi ở trường THCS Sở Đồng Sơn, huyện Tân, Sơn Sơn tỉnh Phú Thọ”, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn rất tận tình của TS Nguyễn Kiều Oanh cùng với những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô giáo Trường Đại học giáo dục - Đại học quốc gia Hà Nội Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới những sự giúp đỡ đó
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn tới: UBND, Phòng GD&ĐT huyện Tân Sơn, cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh, học sinh trường THCS Đồng Sơn, các trường THCS có HSBTDN trên địa bàn huyện Tân Sơn, cùng bạn bè đồng nghiệp, người thân đã tạo điều kiện tốt nhất về thời gian, vật chất, và tinh tần cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp của khóa học
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, mặc dù bản thân tác giả đã có nhiều cố gắng thực hiện các nội dung, nhưng có lẽ sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết Do vậy, rất kính mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của quý thầy cô và bạn các đồng nghiệp
Tác giả xin trân trọng cảm ơn./
Hà Nội, ngày 12 tháng 2 năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Mã Lương
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết tắt đầy đủ
BGD&ĐT Bộ giáo dục và đào tạo
HĐGDNGLL Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp HĐTNST Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
PGD&ĐT Phòng giáo dục và đào tạo
PTDTNT Phổ thông dân tộc nội trú
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn iii
Danh mục chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng ix
Danh mục biểu đồ, sơ đồ xi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ HỌC SINH BÁN TRÚ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CÓ HỌC SINH BÁN TRÚ DÂN NUÔI 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Trên thế giới 7
1.1.2 Trong nước 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 10
1.2.1 Quản lý 10
1.2.2 Quản lý giáo dục 12
1.2.3 Quản lý nhà trường 13
1.2.4 So sánh khái niệm về quản lý trường DTNT, DTBT để làm rõ khái niệm HSBTDN, quản lý HSBTDN ở trường THCS 15
1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục dân tộc 19
1.4 Những đặc điểm của học sinh THCS bán trú dân nuôi 21
1.4.1 Đặc điểm về đời sống xã hội 21
1.4.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh THCS 21
1.4.3 Đặc điểm của học sinh dân tộc thiểu số 22
1.5 Vị trí, ý nghĩa của trường THCS có HS BTDN 24
1.5.1 Về mặt kinh tế - xã hội 25
1.5.2 Đảm bảo an sinh xã hội 25
1.5.3 Góp phần thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước 25
1.5.4 Ý nghĩa thực tiễn đối với học sinh dân tộc ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn 26
1.6 Các nội dung chủ yếu trong quản lý HSBTDN 27
Trang 61.6.1 Công tác xây dựng kế hoạch hoạt động 27
1.6.2 Tổ chức các nội dung quản lý HSBTDN 27
1.6.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý HSBTDN 28
1.6.4 Kiểm tra đánh giá công tác hoạt động của BTDN 28
1.6.5 Quản lý đội ngũ làm công tác quản lý HSBTDN 28
1.6.6 Quản lý cơ sở vật chất và các điều kiện thiết yếu phục vụ cho HSBTDN 29
1.6.7 Quản lý quá trình thực hiện phối hợp của các tổ chức trong, ngoài nhà trường và phụ huynh HSBTDN 29
1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý HSBTDN 30
1.7.1 Nhận thức của các lực lượng giáo dục 30
1.7.2 Năng lực của người tổ chức và quản lý HSBTDN 30
1.7.3 Các điều kiện để tổ chức quản lý HSBTDN hiệu quả 31
Tiểu kết chương 1 32
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HỌC SINH BÁN TRÚ DÂN NUÔI Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐỒNG SƠN, HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 33
2.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu 33
2.1.1 Khái quát về huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 33
2.1.2 Khái quát về xã Đồng Sơn 35
2.1.3 Trường THCS Đồng Sơn huyện Tân sơn, tỉnh Phú Thọ 36
2.2 Tổ chức đánh giá thực trạng 41
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 41
2.2.2 Đối tượng khảo sát 42
2.2.3 Nội dung khảo sát 42
2.2.4 Phương pháp phân tích và sử lý số liệu 43
2.3 Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức và thực trạng quản lý HSBTDN ở trường THCS Đồng Sơn và các trường THCS, TH&THCS có HSBTDN tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 43
2.3.1 Khảo sát thực trạng nhận thức và thực trạng tổ chức bán trú dân nuôi của các trường ở huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 43
2.3.2 Đánh giá thực trạng quản lý HSBTDN tại trường THCS Đồng Sơn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 49
Trang 72.4 Đánh giá chung về thực trạng nhận thức, thực trạng quản lý HSBTDN ở
trường THCS Đồng Sơn 58
2.4.1 Điểm mạnh 58
2.4.2 Điểm yếu và nguyên nhân 59
Tiểu kết chương 2 61
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HỌC SINH BÁN TRÚ DÂN NUÔI Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐỒNG SƠN, HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 63
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý 63
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích của quản lý HSBTDN 63
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 63
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 63
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 63
3.1.5 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với lứa tuổi và đặc điểm học sinh dân tộc nội trú 64
3.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất và tính đồng bộ 64
3.2 Các biện pháp thực hiện quản lý học sinh bán trú dân nuôi 64
3.2.1 Biện pháp 1: Xây dựng hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của trường THCS có HSBTDN tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội 64
3.2.2 Biện pháp 2: Thực hiện thường xuyên công tác tham mưu với cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị xã hội, hội cha mẹ học sinh và các lực lượng khác để phối kết hợp trong công tác quản lý, giáo dục toàn diện học sinh 65
3.2.3 Biện pháp 3: Thực hiện đồng bộ các chức năng quản lý HSBTDN 69
3.2.4 Biện pháp 4: Thực hiện đầy đủ các loại chế độ chính sách đối với học sinh dân tộc, HSBTDN và CB, GV,NV đang trực tiếp quản lý, phụ trách công tác tại trường THCS có HSBTDN 72
3.2.5 Biện pháp 5: Đầu tư xây dựng CSVC đáp ứng nhu cầu về nơi ăn chốn ở, vui chơi và sinh hoạt cho học sinh BTDN góp phần xây dựng trường học tập thân thiện, học sinh tích cực cho trường THCS có học sinh BTDN 74
Trang 83.2.6 Biện pháp 6 Tổ chức hiệu quả hoạt động tăng gia sản xuất cải
thiện đời sống và môi trường sống cho HSBTDN 80
3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý HSBTD 81
3.3.1 Tính cấp thiết 82
3.3.2 Tính khả thi 84
3.3.3 Tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi 86
3.4 Mối quan hệ giữa các biện pháp 88
Tiểu kết chương 3 89
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 97
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Quy mô, cơ cấu học sinh Trường THCS Đồng Sơn 37 Bảng 2.2 Thống kê kết quả hai mặt giáo dục của học sinh trường
THCS Đồng Sơn 39 Bảng 2.3 Thống kê về trình độ chuyên môn của CBQL, GV, NV 40 Bảng 2.4 Kết quả đánh giá xếp loại cán bộ, giáo viên, nhân viên
hàng năm 41 Bảng 2.5 Số lượng và đối tượng khảo sát, nghiên cứu 42 Bảng 2.6 Tổng hợp mức độ nhận thức của CBQL, giáo viên, nhân viên về
vị trí, vai trò của BTDN, trong các trường THCS,TH&THCS có HSBTDN tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 43 Bảng 2.7 Nhận thức của CBĐP, PH HSBTDN và HSBTDN, về vị
trí, vai trò của BTDN ở trường THC THCS, TH&THCS có HSBTDN tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 46Bảng 2.8 Thống kê tình hình đội ngũ CBQL, GV, NV trường THCS
Đồng Sơn 50 Bảng 2.9 Đánh giá thực trạng thực hiện các chức năng quản lý học
sinh BTDN tại trường THCS Đồng Sơn của CB phòng GD&ĐT huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 52 Bảng 2.10 Bảng đánh giá của phụ huynh HSBTDN trường THCS
Đồng Sơn về mức độ hiệu quả đem lại của BTDN trong nhà trường 54 Bảng 2.11 Đánh giá của HSBTDN về mức độ đáp ứng của BTDN tại
trường THCS Đồng Sơn 55 Bảng 2.12 Thống kê kết quả xếp loại Học lực của học sinh BTDN ở
trường THCS Đồng Sơn 56 Bảng 2.13 Thống kê kết quả đánh giá chất lượng giáo dục hạnh kiểm
của học sinh BTDN ở trường THCS Đồng Sơn 56
Trang 10Bảng 2.14 Tình hình cơ sở vật chất chung của trường THCS Đồng Sơn 57 Bảng 3.1 Thăm dò đánh giá tính cấp thiết của biện pháp quản lý
HSBTDN ở trường THCS Đồng Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 83 Bảng 3.2 Thăm dò đánh giá tính khả thi của biện pháp quản lý
HSBTDN ở trường THCS Đồng Sơn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 85 Bảng 3.3 Xác định hệ số tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả
thi của các BP quản lí HSBTDN 87
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Biểu đồ mô tả số liệu học sinh bán trú của các trường
THCS, TH&THCS tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 35Biểu đồ 2.2 Mô tả mức độ nhận thức của CBQL, giáo viên, nhân viên về
vị trí, vai trò của BTDN ở trường các trường THCS, TH&THCS có HSBTDN tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 45 Biểu đồ 2.3 Mô tả thực trạng nhận thức của CBĐP, PHHSBTDN và
HSBTDN, về vị trí, vai trò của BTDN ở trường THC THCS, TH&THCS có HSBTDN tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ 49Biểu đồ 3.1 Mô tả tính cấp thiết của các biện pháp quả lý HSBTDN 84Biểu đồ 3.2 Mô tả tính khả thi của các biện pháp quả lý HSBTDN 86 Biểu đồ 3.3 Mô tả về tương quan của tính cấp thiết và tính khả thi
trong 6 biện pháp quản lý HSBTD 88
Sơ đồ 3.1 Mô tả mối quan hệ của các lực lượng trong giáo dục HSBTDN 69
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chiến lược phát triển Giáo dục và Đào tạo theo tinh thần Nghị quyết TW
2 khoá VIII; Hội nghị Trung ương 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ở nước ta đã và đang là việc làm hết sức cần thiết được cả hệ thống chính trị và xã hội quan tâm Đảng ta đã ban hành các Nghị quyết để phát triển giáo dục qua từng kỳ Đại hội, luôn coi trọng và nhấn mạnh vị trí, vai trò của giáo dục, đặt giáo dục và đào tạo ở thứ bậc hàng đầu cần được đặc biệt ưu tiên:
“Giáo dục và đào tạo là quốc sách, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, ưu tiên đi trước trong chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội” Hơn thế nữa, trong mục tiêu chung của giáo dục đã xác định sứ mệnh lịch sử là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam XHCN Thực hiện đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Nâng cao chất lượng GD theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Thúc đẩy xây dựng phong trào xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho mọi công dân để ai ai cũng có cơ hội được học tập và học tập suốt đời
Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội phải gắn liền với sự phát triển của giáo dục và đào tạo, và vấn đề cốt lõi là yếu tố con người quyết định Sự phát triển về quy mô, mạng lưới của hệ thống giáo dục quốc dân nói chung và phát triển giáo dục trong các địa phương, cơ sở giáo dục nói riêng, bên cạnh việc đầu
tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL, nhà giáo, chất lượng giáo dục toàn diện, vẫn cần thiết phải có sự quan tâm đầu tư
Trang 13đúng mức cho công tác nuôi - dạy, quản lý học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú và các trường THCS có học sinh bán trú dân nuôi nhưng lại không thuộc mô hình trường PTDTNT hay PTDTBT, hiện vẫn đang tồn tại ở các xã vùng sâu, vùng xa tại các huyện nghèo nhất của cả nước, để tạo được sự công bằng trong giáo dục và hạn chế sự phân hóa xã hội trong giáo dục trước tinh thần chỉ đạo đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo của Đảng, Nhà nước
Đồng Sơn là một xã vùng cao đặc biệt khó khăn của huyện Tân Sơn, tỉnh
Phú Thọ Phía Đông giáp xã Lai Đồng của huyện Tân Sơn, phía Tây giáp xã Mường Do của huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, phía Nam giáp xã Tân Sơn của huyện Tân Sơn và phía Bắc giáp xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn Dân số toàn xã có 3.117 nhân khẩu, với 713 hộ, nhưng tỷ lệ hộ nghèo chiếm hơn 50.6% Kinh tế -
xã hội ở địa phương chủ yếu là canh tác lúa nước và trồng cây lâm nghiệp Địa bàn hành chính của xã được chia làm 8 khu vực, có bốn khu vực đồi núi thấp và bốn khu vực đồi núi cao, có những khu cách xa khu trung tâm xã và điểm trường
từ khoảng 09 đến 15 km, do vậy học sinh Mầm non, Tiểu học ở những khu vực này đều phải học lớp cắm bản (khu lẻ, lớp ghép), còn học sinh THCS đi học thì phải về khu trung tâm xã, nên việc đi học của các em gặp rất nhiều khó khăn trở ngại, không thể đi học và trở về ngay trong ngày thuận lợi được, do vậy phải ở bán trú dân nôi tập trung tại trường hoặc ở trọ trong nhà dân với số lượng chiếm khoảng 50% trong tổng số học sinh toàn trường Điều này đã tạo ra tính đặc thù cho nhà trường ở miền núi, bởi vì nhà trường không chỉ thực hiện các nhiệm vụ của một trường THCS như các trường THCS trong hệ thống GD quốc dân mà còn phải thực hiện nhiệm vụ quản lý nền nếp học tập, nơi ăn ở, sinh hoạt, chế độ chính sách, đối với HSBTDN trong và ngoài nhà trường giống như một trường PTDTNT của huyện Nhưng cái khác là trường THCS có HSBTDN là dạng mô hình tự phát của nhà trường và người dân xuất phát từ trong thực tiễn giáo dục miền núi để tạo điều kiện cho học sinh xa nhà có thể học tập ổn định
Trong những năm qua, việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục và đào tạo
Trang 14trong điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Tân Sơn nói chung và địa phương Đồng Sơn nói riêng còn gặp rất nhiều những khó khăn trở ngại, nhưng cùng với sự phát triển của các mặt trong đời sống kinh tế - xã hội của địa phương, Trường THCS Đồng Sơn cũng đã có nhiều cố gắng khắc phục những khó khăn trước mắt để vươn
lên và đưa phong trào thi đua “dạy tốt - học tốt” của nhà trường từng bước phát
triển và đạt được những kết quả GD đáng khích lệ, góp phần quan trọng vào việc duy trì vững chắc các chỉ tiêu phổ cập giáo dục THCS cũng như hướng nghiệp, dạy nghề, phân luồng học sinh THCS sau khi tốt nghiệp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương chuyển biến tích cực và bền vững Tuy vậy, đối với công tác quản
lý học sinh Bán trú dân nuôi ở trường THCS Đồng Sơn vẫn còn biểu hiện nhiều tồn tại, bất cập, cần được đặc biệt quan tâm khắc phục
Với vị trí, vai trò là một người cán bộ quản lý đang công tác tại trường THCS Đồng Sơn, hàng ngày trực tiếp thực hiện các công việc quản lý HSBTDN trong điều kiện chưa có cơ chế chính sách phụ cấp hỗ trợ cho đội ngũ, cơ sở vật chất còn thiếu và yếu, cơ chế phối hợp tổ chức còn lỏng lẻo, Trước yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện GD&ĐT của ngành, trước thực tiễn yêu cầu phải nâng cao chất lượng GD cho học sinh dân tộc thiểu số trên địa bàn ở xã có điều kiện kinh - tế xã hội đặc biệt khó khăn để góp phần quan trọng vào nhiệm vụ đổi mới
GD thành công, đáp ứng nhu cầu về GD ngày càng cao của XH, cho nên tôi quyết định lựa chọn đề tài:
“Quản lý học sinh bán trú dân nuôi ở trường THCS Đồng Sơn, huyện
Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ” để nghiên cứu, với mong muốn sẽ quản lý hiệu quả
được tổ chức, nền nếp học tập, sinh hoạt ăn ở, lao động tăng gia sản xuất và vui chơi giải trí của học sinh bán trú dân nuôi ổn định, góp phần vào mục tiêu nâng cao được chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường một cách bền vững Thông qua đó, đề xuất tới các cấp quản lý để có sự quan tâm và có cơ chế quản
lý đối với mô hình nhà trường THCS ở xã đặc biệt khó khăn có HS ở BTDN mà không thuộc mô hình trường PTDT bán trú THCS trong tương lai
Trang 152 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực trạng nhận thức về quản lý học sinh bán trú dân nuôi ở trường THCS Đồng Sơn cùng các trường THCS, TH&THCS tại huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, đề xuất các biện pháp quản lý HSBTDN nhằm nâng cao chất lượng nuôi - dạy, đáp ứng mục tiêu phát triển GD toàn diện của nhà trường trên địa bàn một xã vùng cao của huyện nghèo miền núi Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản lý học sinh Trường THCS
có học sinh bán trú dân nuôi;
3.2 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng nhận thức, công tác quản lý
học sinh bán trú dân nuôi ở trường 5 trường THCS có HSBTDN và tập trung ở Trường THCS Đồng Sơn - Tân Sơn - Phú Thọ;
3.3 Đề xuất các biện pháp quản lý học sinh bán trú phù hợp và khuyến
nghị các cấp quản lý có cơ chế chính sách quản lý và phát triển mô hình Trường THCS có HSBTDN trong thời gian tới
4 Khách thể nghiên cứu, đối tƣợng nghiên cứu và đối tƣợng khảo sát
4.1 Khách thể nghiên cứu: Mô hình học sinh bán trú dân nuôi trường
THCS Đồng Sơn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ và 5 Trường THCS của huyện Tân Sơn có HSBTDN
4.2 Đối tượng nghiên cứu: Mô hình học sinh bán trú dân nuôi ở trường
THCS Đồng Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
4.3 Đối tượng khảo sát
- CBQL, giáo viên, phụ huynh, học sinh bán trú dân nuôi tại nhà trường
THCS Đồng Sơn;
- CBQL, GV, phụ huynh, học sinh 05 trường THCS có học sinh bán trú dân nuôi trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh phú thọ;
- Cán bộ PGD&ĐT huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát thực trạng nhận thức, quản lý HSBTDN tại trường
Trang 16THCS Đồng Sơn từ năm học 2013- 2014 đến năm học 2015- 2016 và 05 trường THCS có HSBTDN của huyện Tân Sơn, đề tài tập trung phân tích, đánh giá và
đề ra các Biện pháp quản lý học sinh bán trú dân nuôi ở trường THCS Đồng Sơn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ trong tương lai
6 Câu hỏi nghiên cứu
1 Hiện nay, công tác quản lý học sinh bán trú dân nuôi của trường THCS Đồng Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ có những tồn tại, hạn chế hay bất cập nào?
2 Những biện pháp để khắc phục tồn tại, hạn chế đó như thế nào?
7 Giả thuyết khoa học
Trong những năm học gần đây, Trường THCS Đồng Sơn đã tổ chức BTDN cho học sinh ở xa trường có điều kiện thuận lợi để tham gia học tập tích cực Với mô hình này, đã giúp các em đến lớp chuyên cần hơn, duy trì sĩ số học sinh được thực hiện tốt hơn, chất lượng hai mặt GD đã có sự chuyển tích cực Nhưng do những điều kiện chủ quan và khách quan mà mô hình BTDN này còn bộc lộ nhiều hạn chế, khó khăn Nếu hệ thống hóa được cơ sở lí luận, nghiên cứu kĩ thực trạng nhận thức, quản lí HSBTDN ở trường THCS Đồng Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ thì sẽ đề xuất được các biện pháp quản lí HSBTDN phù hợp, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện GD&ĐT của Đảng, Nhà nước
và chính sách giáo dục đối với học sinh dân tộc
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn thống nhất lựa chọn và kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các nguồn tài liệu
về lý luận và thực tiễn có liên quan đến công tác quản lý HSBTDN ở trường THCS;
8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1 Phương pháp quan sát
Quan sát việc tổ chức và quản lý các hoạt động của HSBTDN ở trường THCS Đồng Sơn, huyện Tân Sơn Sơn, tỉnh Phú Thọ để làm cơ sở chính cho vấn
đề nghiên cứu;
8.2.2 Phương pháp điều tra bằng bộ phiếu hỏi
Xây dựng bộ phiếu hỏi để thăm dò ý kiến của các chủ thể QL (CB Phòng
Trang 17GD&ĐT Tân Sơn, CBQL, GV 06 trường THCS có HSBTDN, phụ huynh học sinh
có con ở BTDN) về thực trạng nhận thức vị trí, vai trò, quản lý HS BTDN trong trường THCS mà không thuộc trường PTDTNT THCS và trường PTDTBT THCS cùng các đối tượng khác theo phạm vi đối tượng nghiên cứu của đề tài trong những năm học gần đây (2013 – 2014 đến 2015 – 2016)
9.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất biện pháp quản lý phù hợp với thực tế và có tính khả thi cao, giúp nâng cao hiệu quả quản lý HSBTDN ở trường THCS Đồng Sơn nói riêng và các trường THCS có HSBTDN tại huyện Tân Sơn nói chung
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý học sinh học sinh bán trú dân nuôi ở
Trường THCS (Không thuộc trường PTDTNT-THCS và PTBT- THCS);
Chương 2: Thực trạng nhận thức, quản lý học sinh bán trú dân nuôi của
trường THCS Đồng Sơn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
Chương 3: Biện pháp quản lý học sinh bán trú dân nuôi ở trường THCS
Đồng Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
Trang 18đề quản lý và giáo dục học sinh, mà tác giả có thể vận dụng để nghiên cứu và giải quyết vấn đề đặt ra trong đề tài
Thomas More (1478-1535) Nhà giáo dục không tưởng đầu thế kỷ XVI đã
đánh giá cao vai trò của lao động đối với con người và đối với xã hội nên giáo dục con người cần phải kết hợp giáo dục nhà trường và giáo dục ngoài nhà trường, trong lao động và hoạt động xã hội [35]
J.A.Kômenxki (1592-1670) người đặt nền móng cho sự ra đời của nhà trường hiện nay, ông đặc biệt quan tâm đến việc kết hợp học tập ở trên lớp và hoạt động ngoài lớp nhằm giải phóng hình thức học tập “Giam hãm trong bốn bức tường” của hệ thống nhà trường giáo hội thời trung cổ Ông khẳng định
“Học tập không phải chỉ lĩnh hội kiến thức trong sách vở mà còn lĩnh hội kiến
thức từ bầu trời mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ” [35]
Robert Oven (1771-1858) một nhà giáo dục lớn đầu thế kỷ thứ XIX muốn cải tạo xã hội bằng con đường giáo dục đi từ cuộc thực nghiệm giáo dục mới mẻ trong công xưởng của ông ở nước Anh và ông đã đưa ra một phương thức bất hủ
là “giáo dục kết hợp với lao động sản xuất” và “kết hợp giáo dục trong trường lớp với giáo dục trong lao động và hoạt động xã hội” [35]
C.Mác (1818- 1883) cùng F.Ănghen (1820-1895) người sáng lập ra học thuyết cách mạng XHCN là người khai sáng nền giáo dục hiện đại, xác định mục
Trang 19đích của nền giáo dục XHCN là tạo ra: “con người phát triển toàn diện” Muốn vậy, phải quản lý được phương thức giáo dục hiện đại: “phương thức giáo dục kết hợp với lao động sản xuất” [35]
1.1.2 Trong nước
Tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu ở trong nước, chúng tôi nhận thấy đến thời điểm này vẫn chưa có công trình khoa học nào được nghiên cứu một cách cụ thể và công bố chính thức về “Quản lý học sinh bán trú dân nuôi ở trường THCS’’ mà không thuộc Trường DTBT THCS Hiện nay, mới chỉ xuất hiện một
số bài viết trên báo chí tuyên truyền, báo GD và thời đại, báo Dân trí, báo Tuổi trẻ, trên báo chí tuyên truyền của tỉnh Phú Thọ hay các báo cáo tại kỳ họp HĐND, UBND, Sở GD&ĐT của các tỉnh miền núi phía Bắc, phía Nam Vấn đề quản lý học sinh Bán trú dân nuôi trong Trường THCS ở miền núi vùng cao chưa được nghiên cứu và tiếp cận trên góc độ khoa học quản lý giáo dục
Mặc dù chưa có các văn bản pháp lý nhưng thực tế trường THCS có HSBTDN vẫn tồn tại dưới hình thức: mỗi tuần các em học sinh về nhà một lần lần củi, gạo, nhu yếu phẩm đến và ở lại trong trường (nếu trường có chỗ ở), hoặc một số gia đình đã tự dựng lều lán tạm cho học sinh ở xung quanh trường hoặc điểm trường Đây là biện pháp mà bà con các dân tộc miền núi đã thực hiện trong thập niên đầu của thế kỷ này để giúp học sinh có thể đến trường theo học
Như thế, trong lịch sử phát triển, hệ thống trường/ lớp có HSBTDN phát triển tự phát như là một tất yếu của lịch sử GD miền núi Bởi vì, cùng với sự đổi mới và phát triển của GD thì số lượng học sinh có nhu cầu ở bán trú ngày càng đông nên nhu cầu phát triển trường lớp BT ngày càng cấp thiết
Lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục Việt Nam, ngày 17/7/2009, Phó Thủ Tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân đã chủ trì Hội nghị về trường PTDTBT tại Thành phố Điện Biên Phó Thủ tướng đánh giá cao về biện pháp bán trú dân nuôi, đồng thời chỉ đạo bắt đầu từ năm học 2009-
2010, phải tập trung thực hiện ngay phương châm: “ba đủ” (đủ ăn, đủ quần áo,
đủ sách vở) cho học sinh miền núi đến trường
Trang 20Hội nghị đã mở ra một cơ hội “3 đủ” để học tập cho con em các dân tộc ít người thuộc vùng núi được thụ hưởng chính sách ưu việt và yên tâm đến trường Đó là: Thông tư số 24/2010-TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế
và tổ chức hoạt động, Quyết định số 85/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành về một số chính sách hỗ trợ học sinh bán trú và trường PTDTBT…
Sau 3 năm triển khai Quyết định 85 của Thủ tướng Chính phủ, ngày 13/5/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức Hội nghị về trường Phổ thông dân tộc bán trú tại Hà Nội cho các đơn vị có loại hình trường này Tính đến tháng 4 năm 2014 cả nước có 25 tỉnh đã thành lập trường phổ thông DTBT gồm 797 trường với 128.645 học sinh bán trú Trong đó, cấp Tiểu học 228 trường với 29.849 học sinh bán trú; Cấp Phổ thông cơ sở (gồm Tiểu học và THCS) có 110 trường với 25.250 học sinh bán trú; cấp THCS gồm 459 trường với 73.546 học sinh bán trú
Ngoài ra, cả nước hiện có 131.899 học sinh được hưởng chế độ bán trú tại
907 trường tiểu học, 195 trường phổ thông cơ sở và 708 trường THCS thuộc vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn của 27 tỉnh
Việc thành lập trường phổ thông dân tộc bán trú là một trong những quyết sách rất có ý nghĩa để nuôi dưỡng ước mơ tri thức cho con em đồng bào dân tộc ít người đang sống tại các huyện miền núi và vùng sâu vùng xa Đồng thời sẽ giúp cho các địa phương khắc phục tình trạng nghỉ học để giữ vững tỷ lệ phổ cập GD
và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong thời kỳ đổi mới Mô hình trường THCS, TH&THCS có HSBTDN bán trú dân nuôi đã hình thành tự phát vào cuối những năm 1950 và nhân rộng trong những năm đầu thập kỷ 90 tại các tỉnh miền núi phía Bắc nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, nâng cao dân trí của con em các dân tộc thiểu số
Vấn đề huy động tối đa số trẻ trong độ tuổi THCS đến trường và đảm bảo duy trì sĩ số, cải thiện chất lượng giáo dục và đảm bảo duy trì tốt các tiêu chuẩn phổ cập giáo dục THCS tại các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đã được Đảng, Nhà nước các cấp quản lý giáo dục địa phương, các nhà
Trang 21trường, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên đặc biệt quan tâm Những trường THCS, Tiểu học và THCS có học sinh Bán trú dân nuôi theo quy định đã và đang được hình thành ở địa bàn của các xã ĐBKK trên phạm vi cả nước, bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực và được nhiều địa phương áp dụng Cách làm này được coi như là giải pháp tối ưu để việc cải thiện và nâng cao chất lượng giáo dục dân tộc vùng đồng bào thiểu số miền núi tại các xã có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý
Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, con người muốn tồn tại
và phát triển cần phải có sự phối hợp chặt chẽ với nhau trong một nhóm, một tổ chức Để tổ chức, điều khiển tạo nên sự phối hợp của nhóm người trong hoạt động theo yêu cầu nhất định, một loại hình lao động mới xuất hiện Loại hình lao động đó là hoạt động QL Vậy QL là gì?
Các nhà lý luận QL trên thế giới như: Frederick Winslow Taylor, [Mỹ, 1915)]; Max Werber, [Đức, (1864-1920)]; đều đã khẳng định: Quản lý là khoa học đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội Nói đến hoạt động QL người ta thường nhắc đến ý tưởng rất sâu sắc của K-Marx: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng”
(1856-Henri Fayol (1841 – 1925), cha đẻ của thuyết hành chính thì coi quản lý là một loại công việc đặc thù, khác các loại công việc khác của xí nghiệp và trở thành một hệ thống độc lập, phát huy tác dụng riêng của nó mà các hệ thống khác của xí nghiệp không thể nào thay thế được Ông nói về nội hàm của khái niệm quả lý như sau: “ Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” Đây là khái niệm mang tính khái quát về chức năng quản lý [33, tr.87]
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí nhằm đạt mục tiêu đề ra” [36, tr.26]
Trang 22Đặng Quốc Bảo (1999): “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng [2, tr.16]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lí là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối đa các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”; “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích đề ra” [13, tr.18]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Quản lý là tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động, nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến [28]
Phạm Thanh Nghị (2000): “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một nhóm tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [5, tr.46]
Người ta có thể tiếp cận khái niệm quản lý nhiều cách khác nhau Đó là: Cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra theo góc độ tổ chức Theo góc độ điều khiển từ “Quản Lý” là lái, điều khiển, điều chỉnh
Từ những khái niệm và quan điểm trên, có thể khái quát như sau: Quản lý
là những hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu, hay: Quản lý là sự tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch của chủ thể đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực để cùng thực hiện thành công nhiệm vụ, mục tiêu, dự kiến đề ra
Hoạt động quản lý là quá trình để nhằm đạt mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện đồng bộ các chức năng quản lý Những chức năng này hoạt động
Trang 23tương đối độc lập và được phân chia từ hoạt động quản lý Sự phân chia này có nhiều cách, nhưng các nhà quản lý đều thống nhất, trong quản lý gồm 4 chức năng cơ bản là: Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra Trong quá trình quản
lý thì đối tượng quản lý đóng trung tâm để vận hành các chức năng quản lý
1.2.2 Quản lý giáo dục
Khái niệm QL giáo dục có thể được hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau tùy theo sự xác định đối tượng QL Quản lý GD là QL mọi hoạt động GD trong xã hội Như vậy khái niệm QL giáo dục sẽ được hiểu theo nghĩa rộng nhất Tuy nhiên, hiện nay có nhiều khái niệm và định nghĩa về QLGD khác nhau
M.I.Kon - Đa- Kôp khẳng định: “Quản lý giáo dục là tập hợp những
biện pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hóa, tài chính, cung tiêu nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [5, tr 17]
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và các cộng sự: “Trong thực tế, Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là: điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người Cho nên, QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân” [4, tr.31]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý làm cho hệ vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà Trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy – học thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”
Trang 24Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản
lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định
Theo nghĩa hẹp: Quản lý giáo dục, quản lí trường học cụ thể là một chuỗi hoạt động hợp lí (có mục đích, tự giác, có kế hoạch, có hệ thống) mang tính tổ chức sư phạm của chủ thể QL đến tập thể GV và HS, đến những lực lượng GD trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào hoạt động của nhà trường, nhằm làm cho quy trình này vận hành tới việc hình thành mục đích dự kiến
Theo nghĩa rộng: Quản lý GD theo nghĩa tổng quát là là hoạt động điều hành phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh hoạt động đào tạo cho thế
hệ trẻ theo yêu cầu xã hội hiện nay
Trên cơ sở những quan niệm và khái niệm trên, có thể khái quát như sau: Quản lý GD là hệ thống những tác động có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp độ khác nhau đến tất cả các khâu, các bộ phận của hệ thống nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống giáo dục vận hành tối ưu, đảm bảo sự phát triển mở rộng cả mặt số lượng cũng như chất lượng để đạt mục tiêu
GD Như vậy, bản chất của QLGD là quá trình tác động có ý thức của chủ thể
QL tới khách thể QL và các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động GD nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục
Bàn về GD, Năm 1973 Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói bản chất của QLGD là “Quản lý thế nào để thầy dạy tốt, trò học tốt, tất cả để phục vụ cho hai tốt đó”
1.2.3 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là một bộ phận trong quản lý giáo dục Để đi đến khái niệm quản lý nhà trường, phải xuất phát từ khái niệm quản lý giáo dục Nhiều tài liệu khoa học cho rằng, QLGD được xem xét dưới hai góc độ sau:
* Quản lý giáo dục ở cấp độ vi mô
Ở cấp độ này, QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (Có ý
Trang 25thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật) của công tác quản
lý một cơ sở giáo dục đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể người học
và các lực lượng tham gia giáo dục khác trong và ngoài cơ sở giáo dục đó, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu đào tạo Với hai cấp độ về QLGD nêu trên, thì quản lý nhà trường được nhìn nhận từ hai góc độ:
- Thứ nhất: Quản lý nhà trường được hiểu theo nghĩa hoạt động của các
cơ quan, các tổ chức có trách nhiệm QLGD như Bộ Giáo dục & Đào tạo, Sở
Giáo dục & Đào tạo, Phòng Giáo dục & Đào tạo và các cấp chính quyền tương ứng đối với một cơ sở giáo dục (nhà trường) cụ thể nào đó
- Thứ hai: Quản lý nhà trường được hiểu theo nghĩa hoạt động của công tác quản lý một cơ sở giáo dục (hiệu trưởng hay một người có chức vụ tương đương như hiệu trưởng) đối với các hoạt động giáo dục của cơ sở giáo dục mà
họ được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý
Khái niệm quản lý nhà trường được hiểu theo góc độ thứ hai, cụ thể: “Quản
lý nhà trường là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có
hệ thống và hợp qui luật) của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng) đến khách thể quản lý nhà trường (giảng viên, nhân viên, người học,…) nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục”
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường ở Việt Nam là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm, đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với thế hệ trẻ và với từng học sinh [13]
Như vậy, quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình lao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập của học sinh diễn ra trong quá trình dạy học - giáo dục
Có thể nói rằng, quản lý nhà trường thực chất là quản lý quá trình dạy học - giáo dục Quản lý nhà trường là sự tác động có định hướng có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực, nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường tiến tới mục tiêu giáo dục, trọng tâm là đưa hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục tiến lên trạng thái mới nhưng tốt hơn
Trang 261.2.4 So sánh khái niệm về quản lý trường DTNT, DTBT để làm rõ khái niệm HSBTDN, quản lý HSBTDN ở trường THCS
1.2.4.1 Quản lý hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú
Thực hiện theo nội dung quyết định số 49/QĐ-BGD&ĐT ngày 25/8/2008
Về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trường PTDTNT của BGD&ĐT [8] đã ban hành Hệ thống trường PTDTNT bao gồm:
+ Trường PTDTNT cấp huyện đào tạo cấp THCS được thành lập tại các huyện miền núi, hải đảo, vùng dân tộc;
+ Trường PTDTNT cấp tỉnh đào tạo cấp THPT được thành lập tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Để đào tạo nguồn cán bộ là con em dân tộc thiểu
số ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, Ủy ban nhân dân Tỉnh có thể giao cho trường PTDTNT cấp huyện đào tạo cả cấp THPT; Bộ chủ quản có thể giao cho trường PTDTNT thuộc bộ đào tạo dự bị đại học và cấp THCS
1.2.4.2 Quản lý trường DTNT
- Hệ thống trường DTNT thuộc hệ thống trường phổ thông công lập, vì thế cho nên việc quản lý nhà trường DTNT được thực hiện theo sự phân cấp quản lý như sau:
+ Trường DTNT cấp huyện do phòng GD&ĐT quản lý
+ Trường DTNT cấp tỉnh và trường DTNT cấp huyện có mở cấp THPT do
Sở GD&ĐT quản lý
+ Trường DTNT trực thuộc Bộ do Bộ chủ quản quản lý
- Quản lý các trường DTNT nhằm tổ chức và điều khiển các hoạt động của nhà trường theo đúng kế hoạch và đạt được kết quả tốt nhất, cụ thể:
- Mục tiêu: Nhằm tổ chức và điều khiển các hoạt động của nhà trường theo đúng kế hoạch và đạt được kết quả cao nhất, đặc biệt là các hoạt động giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc
- Nội dung:
+ Thực hiện chương trình của trường phổ thông;
+ Tổ chức hoạt động nội trú: Hoạt động lao động, văn hóa, thể thao Cụ thể:
Trang 27Lao động công ích, sinh hoạt văn nghệ, thể dục thể thao, các hoạt động theo chủ đề, chủ điểm, tham quan du lịch, lễ hội, tết dân tộc, giao lưu văn hóa và các hoạt động
xã hội khác nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, xóa bỏ các tập tục lạc hậu, góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách học sinh; + Nuôi dưỡng học sinh nội trú: bao gồm tổ chức bếp ăn tập thể đảm bảo dinh dưỡng theo đúng chế độ, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, chăm sóc sức khỏe học sinh Hoạt động nuôi dưỡng thực hiện công khai dân chủ, tôn trọng phong tục tập quán tiến bộ của các dân tộc
1.2.4.3 Quản lý trường phổ thông dân tộc bán trú
Trường phổ thông dân tộc bán trú là trường chuyên biệt, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này bao gồm trường phổ thông dân tộc bán trú cấp tiểu học có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 25% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở có trên 50% học sinh
là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú, trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở có trên 50% học sinh là người dân tộc thiểu số và có từ 50% trở lên số học sinh ở bán trú
Hoạt động dạy và học
Trường PTDTBT tổ chức hoạt động dạy và học theo quy định tại Điều lệ trường phổ thông Hoạt động dạy và học phải phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý học sinh dân tộc
Hoạt động giáo dục, lao động, văn hóa thể thao và tổ chức nuôi dưỡng
1 Giáo dục tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc, kỹ năng sống, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường cho học sinh
2 Giáo dục lao động của trường PTDTBT bao gồm: lao động công ích và lao động sản xuất để cải thiện điều kiện ăn, ở, học tập của học sinh
3 Hoạt động văn hóa, thể thao bao gồm: sinh hoạt văn nghệ, thể dục thể
Trang 28thao; tham quan, lễ hội, tết dân tộc, giao lưu văn hóa khác nhằm góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá của các dân tộc, xoá bỏ các tập tục lạc hậu
4 Tổ chức nấu ăn tập thể cho học sinh bán trú đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm; chăm sóc sức khỏe cho học sinh bán trú
1.2.4.4 Trường THCS có học sinh bán trú dân nuôi
Là trường phổ thông công lập trong hệ thống GD quốc dân Bên cạnh việc thực hiện các nhiệm vụ chung của một Trường THCS theo quy định của Điều lệ trường THCS, thì Trường THCS có HSBTDN còn phải đảm nhận nhiệm vụ quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng một lượng không nhỏ học sinh dân tộc thiểu số, con hộ nghèo sống ở các khu vực xa trường, giao thông đi lại khó khăn và nguy hiểm ở BTDN tại trường trong tuần và được sự hỗ trợ một phần tài chính của nhà nước hàng tháng theo năm học để phục vụ chi phí ăn,
ở tại trường hoặc ở trọ nhà dân
1.2.4.5 Học sinh bán trú dân nuôi
Học sinh bán trú dân nuôi là khái niệm chỉ đối tượng học sinh đang học tại các trường Trường THCS, TH và THCS có HSBTDN ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; được Ủy ban nhân dân huyện phê duyệt cho phép ở lại trường để học tập trong tuần do không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày Học sinh BTDN được hưởng 40% mức lương cơ bản để chi phí cho tiền ăn cho một tháng và 10% mức lương tối thiểu/ tháng/ 1 HS để hộ trợ tiền ở đối với HSBTDN phải thuê trọ bên ngoài nhà trường khi ở BTDN (Vận dụng một phần của QĐ 85/QĐ – Thủ tướng Chính phủ năm 2010)
1.2.4.6 Quản lý HSBTDN ở trường THCS
Trường THCS có HSBTDN vốn là hình thức tổ chức có tính tự phát cho phù hợp với đặc điểm địa phương, khu vực ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn trong các huyện nghèo miền núi theo quy định của nhà nước, nơi mà học sinh không thể đi học và trở về ngay trong ngày thuận lợi được do đường giao thông xa, qua sông, suối và dốc đồi trở ngại Mô hình Trường THCS, Tiểu học và THCS có học sinh bán trú dân nuôi đã hình thành tự phát
Trang 29vào cuối những năm 1950 của thế kỷ trước và nhân rộng trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX tại các tỉnh miền núi của nước ta, nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, nâng cao dân trí cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số Mặc dù chưa có các văn bản pháp lý của Nhà nước, ngành quy định về loại hình bán trú dân nuôi, nhưng trong thực tế thì nhà Trường THCS có HSBTDN này vẫn tồn tại trong các trường THCS, TH&THCS ở miền núi như một nhu cầu tất yếu đối với thực tiễn GD vùng dân tộc của nước ta Chính vì vậy, bên cạnh việc quản lý hoạt động dạy học và các hoạt động GD khác, các nhà trường có loại hình HSBTDN còn phải thực hiện công tác quản lý HSBT thông qua các nội nội dung như học tập tự quản, chăm sóc, nôi dưỡng và tổ chức các hoạt động GD khác (GDGT,KNS,…) cho số lượng lớn học sinh như một trường PT dân tộc nội trú THCS của huyện ngay trong nhà trường hoặc trong các khu vực dân cư mà có HSBTDN ở trọ
Gọi là HSBTDN là để phân biệt với học sinh ở trường DTNT, học sinh DTBT vì đối với đối tượng HS này đã được Nhà nước quy định rõ và có chế độ nuôi dưỡng và hỗ trợ cao hơn Còn HSBTDN là đối tượng HS do cha mẹ các em phối hợp với nhà trường cùng tổ chức vào đầu mỗi năm học nhằm giải pháp duy trì sỹ số, hạn chế thấp nhất tình trạng học sinh bỏ học
Kể từ năm học 2011 – 2012 trở lại đây, Nhà nước đã ban hành chính sách
hỗ trợ một phần kinh phí cho HSBTDN (bằng 40% mức lương cơ bản) Còn đối với CBQL, GV, NV ở trường có loại hình BTDN tham gia quản lý, tổ chức các hoạt động cho các em là công việc kiêm nhiệm chưa có sự hỗ trợ, phụ cấp Cho nên nhà trường gặp rất nhiều khó khăn trong bố trí đội ngũ làm kiêm nhiệm để quản lý, tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp và thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng cho HSBTDN hàng ngày
Sự phát triển trường/ lớp theo loại hình BTDN tự phát như là một tất yếu của lịch sử GD miền núi Bởi, cùng với sự đổi mới và phát triển của GD thì số lượng học sinh có nhu cầu ở BTDN ngày tăng thêm, nên nhu cầu phát triển trường lớp BTDN cũng ngày càng trở nên cấp thiết hơn đối với các nhà trường ở miền núi thuộc diện đặc biệt khó khăn về kinh tế - xã hội
Trang 301.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giáo dục dân tộc
Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về giáo dục dân tộc và vùng đặc biệt khó khăn.Vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là vùng được quy định tại Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31 tháng 7 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa; Quyết định số 164/2006/QĐ-TTg ngày 11 tháng 7 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh sách
xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư Chương trình phát triển kinh tế - xã hội, các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi giai đoạn 2006 - 2010 (Chương trình 135 giai đoạn II); Quyết định số 69/2008/QĐ-TTg ngày 25 tháng 8 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt bổ sung danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư Chương trình 135 giai đoạn II và danh sách xã ra khỏi diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn II; Quyết định số 1105/2009/QĐ-TTg ngày 28 tháng 7 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư Chương trình 135 giai đoạn II và danh sách các xã hoàn thành mục tiêu, ra khỏi diện đầu tư của Chương trình 135 giai đoạn II; Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm
2008 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững tại 62 huyện nghèo và các Quyết định khác của Thủ tướng bổ sung
Đảng ta có quan điểm chỉ đạo: “Làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc thiểu số tiến kịp các dân tộc đa số, giúp các dân tộc phát huy tinh thần cách mạng và khả năng to lớn của mình, trong cán bộ cũng như nhân dân cần khắc phục tư tưởng dân tộc lớn và tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc để cùng nhau tiến lên xã hội chủ nghĩa” Qua các kỳ đại hội, đặc biệt là văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đại hội lần thứ X của Đảng đều xác định nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc là “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển” Bởi vì, chỉ có bình đẳng thì mới thực hiện được đoàn kết dân tộc; có đoàn kết, giúp nhau cùng phát triển thì mới
Trang 31thực hiện được bình đẳng dân tộc Để tiếp tục thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, các cấp, các ngành cần đẩy mạnh công tác xoá đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở các xã vùng đặc biệt khó khăn
Về Giáo dục và Đào tạo, tại Điều 10 trong Luật giáo dục năm 2005 có nêu
về quyền và nghĩa vụ học tập của công dân: Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học hành Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để người nghèo được học tập, tạo điều kiện để những người có năng khiếu phát triển tài năng Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi, người tàn tật, khuyết tật và đối tượng được hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền và nghĩa vụ học tập của mình Qui định về giáo dục dân tộc, “Nhà nước thành lập trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này Trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học được ưu tiên bố trí giáo viên, cơ sở vật chất, thiết
bị và ngân sách” [37, Điều 61]
Có thể khẳng định rằng, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến giáo dục cho con em đồng bào dân tộc thiểu số Đến nay, 100% xã đặc biệt khó khăn có trường học, nhà mẫu giáo và các lớp bán trú dân nuôi Các bản xa trung tâm đều có lớp cắm bản, tình trạng học ca 3 đã được xoá bỏ, tỷ lệ trẻ em trong
độ tuổi đến trường đạt 90% - 97% Mô hình trường PTDTBT, Trường THCS,
TH & THCS có HSBTDN đang được quan tâm và tổ chức thực hiện như là một biện pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng giáo dục cho HS đồng bào dân tộc thiểu số, cũng như các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
Trang 32nâng cao chất lượng giáo dục vùng khó để từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội
1.4 Những đặc điểm của học sinh THCS bán trú dân nuôi
1.4.1 Đặc điểm về đời sống xã hội
Ở các xã có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn của miền núi chủ yếu là các xã thuộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa Địa hình đồi dốc, vực sâu và
có sông suối hay lũ ống, lũ quét, cư dân phân bố trong các bản làng không đồng đều, hệ thống giao thông đi lại còn hết sức khó khăn nên chủ yếu đi lại của học sinh đến trường là đi bộ (nhiều hộ gia đình cách xã trung tâm xã hơn 17km) Đại đa số nhân dân ở đây đều thuộc người dân tộc thiểu số, phong tục tập quán vẫn còn lạc hậu, tỷ lệ sinh con thứ ba cao, thu nhập bình quân đầu người thấp, kinh tế - xã hội chủ yếu dựa vào trồng trọt, chăn nuôi và bám vào rừng phòng
hộ, Vườn quốc gia Tỷ lệ hộ nghèo chiếm đa số, nhiều gia đình còn nằm trong diện thiếu đói nên các điều kiện sống của nhân dân rất khó khăn Định cư xa khu trung tâm nên học sinh con em người dân tộc chịu ít nhiều thiệt thòi so với HS ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội thuận lợi Các em không được tiếp cận đầy đủ các nguồn thông tin đại chúng như: truyền thanh, truyền hình, phim ảnh, Internet, Thậm chí, vẫn có nhiều học sinh ăn còn chưa được đủ no, mặc chưa
đủ ấm nên vẫn còn một tỷ lệ nhất định học sinh phát triển toàn diện chậm Môi trường sống gần thiên nhiên, ít va chạm nên các em sống trầm tính hơn, ít hoà đồng trong các hoạt động tập thể, Tất cả những điều kiện ngoại cảnh ấy tác động và gây ảnh hưởng tới đời sống tâm lý học sinh DTTS
1.4.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh THCS
Học sinh THCS là các em trong độ tuổi từ 11- 15 tuổi, nắm đươc lứa tuổi của học sinh THCS sẽ giúp cho chúng ta làm tốt vai trò của mình trong công tác quản lý và giáo dục học sinh hiệu quả Ở lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau: “Thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”; “tuổi khủng hoảng”… Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể
Trang 33chất và tinh thần, các em đang tách dần tuổi thơ để bước sang tuổi trưởng thành tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức của thời kỳ này có nhiều thay đổi và rất dễ bị tổn thương về mặt tâm
lý Tuổi học sinh THCS có sự tồn tại song song: “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ của cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống, hoạt động… của các em Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn, điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên Hoàn cảnh đó có hai mặt: Những điểm yếu của hoàn cảnh sẽ kìm hãm sự phát triển tính người lớn (chỉ bận vào việc học tập không có những nghĩa vụ khác) Những yếu tố thúc đẩy
sự phát triển tính người lớn: sự gia tăng về thể chất, về giáo dục, gia đình gặp khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ em phải lao động nhiều để mưu sinh, điều đó đưa đến trẻ có tính độc lập, tự chủ hơn
Việc phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo các hướng sau: Đối với một số trẻ em tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều, nhưng còn có nhiều mặt trong cuộc sống các em chưa hiểu biết được, có những em ít quan tâm đến việc học tập ở trường mà chỉ quan tâm đến vấn đề làm thế nào để ăn mặc hợp mốt thời trang, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc trao đổi các vấn đề trong cuộc sống, để tỏ ra mình như người lớn Một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn: dũng cảm, tự chủ, độc lập Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên có những vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, và cũng là thời
kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những trưởng thành sau này, các em sẽ được phát triển trong tuổi thanh niên Hiểu vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên sẽ giúp chúng ta - những nhà quản lý GD có cách ứng xử đúng đắn và giáo dục cho các em phát triển toàn diện nhân cách
1.4.3 Đặc điểm của học sinh dân tộc thiểu số
Đối với học sinh là người DTTS, trước khi đến trường, các em đã được
Trang 34tiếp xúc với cộng đồng dân tộc, tiếp thu truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc mình Môi trường giao tiếp hẹp, đối tượng giao tiếp chủ yếu trong gia đình, làng bản nhưng có sức cuốn hút lớn hơn đối với các em Trong giao tiếp tự nhiên, học sinh dân tộc trao đổi thông tin, tâm tư tình cảm trong cuộc sống hằng ngày bằng ngôn ngữ chủ yếu là tiếng dân tộc của mình, còn ở các phương tiện giao tiếp khác thì các em rất hạn chế Do vậy mà, lối nói, cách nghĩ, hành vi của học sinh dân tộc có những cách biểu hiện riêng Trong giao tiếp, thường thì các
em không có sự mềm mỏng, bộc lộ cảm xúc rõ rệt, thiếu kỹ năng định vị Khi giao tiếp với người thân, với bạn bè là thẳng thắn bình đẳng, lời nói ít quan tâm đến chủ ngữ, thường nói trống không, đối với thầy cô giáo thì cũng rất ít dùng lời thưa gửi Gặp người lạ, các em hay lảng tránh, ngại trao đổi, chủ yếu là tò mò quan sát, kỹ năng định hướng trong giao tiếp chưa được hình thành rõ ràng
Ở học sinh THCS người dân tộc thiểu số có đầy đủ các đặc điểm lứa tuổi của HSTHCS nêu trên, song ở các em còn có một số đặc điểm tâm lý đặc thù theo vùng miền dễ nhận diện:
+ Về tình cảm: Học sinh dân tộc có tình cảm chân thực, mộc mạc, yêu ghét
rõ ràng, biểu hiện tình cảm thường thầm kín ít bộc lộ ra bên ngoài Các em sống vốn gắn bó với gia đình bản làng và người thân Coi trọng tình cảm và giải quyết các vấn đề bằng tình cảm
+ Về lối sống: Hồn nhiên, giản dị, chất phác, thật thà Có lòng tự trọng cao,
có trách nhiệm với công việc nhưng còn có tính bảo thủ và tự ty, gặp khó khăn khi phải thích nghi với hoàn cảnh mới và môi trường thay đổi HSDT rất thích tập và diễn văn nghệ, nhất là những điệu múa của dân tộc các em
+ Về đặc điểm tư duy nhận thức của học sinh dân tộc: vốn từ khi còn bé, sống trong không gian rộng, tiếp xúc nhiều với thiên nhiên, nên nhận thức cảm tính của học sinh dân tộc phát triển rất tốt Cảm giác, tri giác của các em có những nét độc đáo riêng, tuy nhiên còn thiếu tính toàn diện Cảm tính, mơ hồ, không thấy được bản chất của sự vật hiện tượng mà chủ yếu nhận ra dấu hiệu của sự vật hiện tượng Quá trình tri giác thường gắn với hoạt động trực tiếp, sờ
Trang 35mó, gắn với màu sắc hấp dẫn của sự vật đã tạo ra hưng phấn xúc cảm ở học sinh Đối tượng tri giác của học sinh dân tộc chủ yếu là sự vật gần gũi, cây cỏ, thiên nhiên xung quanh Đặc biệt hơn do vốn từ tiếng Việt của các em còn rất hạn chế nên quá trình nhận thức của các em gặp nhiều khó khăn Có nhiều câu các em đọc lên nhưng chưa thật hiểu, hoặc hiểu thì cũng còn mơ hồ, cho nên là tư duy
dễ dẫn đến sự vênh lệch Nét nổi bật trong nhận sinh dân tộc là khả năng tư duy bằng trực quan - hình ảnh Các em ưa tư duy với sự vật hình ảnh, hình ảnh cụ thể gần gũi với đời sống của mình Tuy nhiên các em dễ thừa nhận điều người khác nói, ít đi sâu tìm hiểu nguyên nhân, diễn biến hoặc hậu quả của sự vật, hiện tượng Sự linh hoạt trong tư duy, thay đổi dự kiến còn chậm, năng lực phân tích tổng hợp, khái quát hóa còn hạn chế, nên thiếu toàn diện
+ Về khả năng ngôn ngữ: tiếng phổ thông đối với các em chỉ là ngôn ngữ thứ hai, cho nên các em còn gặp nhiều khó khăn trong nói và viết, nhất là khi giao tiếp với người ở vùng xuôi lên Các em thường chỉ trả lời những câu hỏi đơn giản, tường minh theo thói quen diễn đạt của ngôn ngữ mẹ đẻ Các em có lòng tự trọng cao, nếu bị phê bình thái quá, thiếu tế nhị hoặc kết quả học tập kém, thua kém bạn
bè về điều gì đó trong sinh hoạt, các em dễ bị tổn thương tinh thần dẫn đến xa lánh thầy cô và bạn bè, bỏ bê việc học dẫn tới bỏ học hoặc có những hành động tiêu cực
Trong quá trình học tập và rèn luyện nếu có những nội dung liên quan đến đặc điểm phong tục tập quán của dân tộc mình, các em học tập và tham gia hoạt động rất tích cực Đặc điểm chung của HSDTTS thường ít nói, dụt dè, hay xấu hổ
và thiếu có ý chí tiến thủ
1.5 Vị trí, ý nghĩa của trường THCS có HS BTDN
Trường THCS có HSBTDN là trường công lập nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và củng cố an ninh, quốc phòng ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số Trường THCS
có HSBTDN mang ý nghĩa chính trị, kinh tế, xã hội rất lớn được thể hiện thông qua một số mặt sau:
Trang 361.5.1 Về mặt kinh tế - xã hội
So sánh với việc đầu tư xây dựng và chi phí cho trường PTDTNT, trường PTDTBT thì trường THCS có HSBTDN chi phí rất thấp từ ngân sách Nhà nước Tại thời điểm năm học 2015 -2016, mức chi cho một học sinh trường PTDT Nội trú, DTBT là: 968.000đ/ tháng x 12 tháng (80% của mức lương tối thiểu) Trong khi đó, mức chi cho 01 học sinh ở Trường THCS chỉ có HSBTDN chỉ có
484.000đ/ tháng x 9 tháng (40% của mức lương tối thiểu)
Với chi phí thấp hơn so với HS trường PTDT nội trú và PTDTBT khác
mà hiệu quả đem lại rất khả quan như: đã duy trì ổn định 100% sĩ số học sinh từ đầu năm đến cuối năm học, bảo đảm được tỷ lệ học sinh chuyên cần trong tháng, điều kiện cơ sở vật chất được bổ sung hàng năm, học sinh được chăm sóc, nuôi dưỡng và lưu trú tại trường có sự ổn định, không phải đi học và trở
về trên đường xa vất vả, giúp các em có điều được học tập, rèn luyện và được tham gia vào các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, được sinh hoạt trong môi trường tập thể phong phú hơn Đây chính là môi trường học tập, rèn luyện
có nhiều ưu điểm nhất, đồng thời cũng là cơ sở cho việc thực hiện kỹ năng sống bổ ích cho học sinh DT
1.5.2 Đảm bảo an sinh xã hội
Học sinh sẽ có điều kiện đi học và đi học đều không phải bỏ học giữa chừng, đây cũng chính là để đảm bảo sự bình đẳng về quyền học tập của học sinh Học THCS và ở lại BTDN đã giúp các em có cơ hội được học 2 buổi/ngày theo hình thức tự quản, được GV bồi dưỡng HS năng khiếu, được phụ đạo yếu kém, được tham gia các hoạt động sinh hoạt tập thể, sinh hoạt văn hoá văn nghệ
và Thể dục thể thao để vươn lên Các em được ở BTDN, gia đình các em sẽ giảm bớt được nhiều khó khăn trong chi phí kinh tế Vì ở BTDN, các em nhận được một phần kinh phí hỗ trợ của Nhà nước hỗ trợ tiền ăn tiền, tiền nhà nhà trọ, điều này đảm bảo cho các em có điều kiện để học tập tốt hơn
1.5.3 Góp phần thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước
Tổ chức quản lý tốt trường THCS có HSBTDN tại xã đặc biệt khó khăn
Trang 37trong tại các huyện nghèo, cũng chính là đảm bảo thực hiện tốt chủ trương chính sách Dân tộc, chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước ta
Xác định mô hình trường THCS có HSBTDN là giải pháp đúng đắn của các nhà trường có HSBTDN nhằm hạn chế tối đa HS bỏ học giữa chừng, HS ngồi nhầm lớp, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục dân tộc phát triển Loại hình BTDN có tính khả thi cao, luôn là lựa chọn phù hợp với điều kiện kinh tế -
xã hội và đặc điểm dân cư, của các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn trong 62 huyện miền núi nghèo nhất trong cả nước
1.5.4 Ý nghĩa thực tiễn đối với học sinh dân tộc ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn
Xuất phát từ đặc điểm vị trí địa lý và địa hình miền núi đi lại gặp khó khăn nguy hiểm, sự phân bố dân cư rải rác, phong tục tập quán canh tác của đại
đa số đồng bào dân tộc thiểu số là chủ yếu dựa vào rừng nên họ phải sống xa mới có thể thích ứng Học sinh dân tộc thiểu số phải chịu nhiều thiệt thòi từ điều kiện kinh tế gia đình nghèo, hằng ngày các em phải đi bộ hơn chục km đường rừng qua đèo dốc, sông suối để đến trường Có những học sinh, do không đủ điều kiện nên phải bỏ học giữa chừng hoặc thường xuyên nghỉ học dài ngày để ở nhà phụ giúp gia đình lao động kiếm sống Biện pháp trường THCS có HSBTDN đã khắc phục được một phần cơ bản khó khăn trở ngại cho các em Bên cạnh sự chu cấp của gia đình, các em còn nhận được sự hỗ trợ từ Nhà nước thông qua chế độ chính sách dân tộc để các em có điều kiện về sinh hoạt và học tập, từ đó giảm bớt những gánh nặng cơm áo cho gia đình các em
BTDN tập trung tại trường, HS không phải đi lại trong ngày nên các em
có thời gian, sức khoẻ để học tập và các em còn được tham gia các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, được tham gia các hoạt động VHVN - TDTT vui chơi bổ ích và LĐSX tăng gia cải thiện cuộc sống BT, từ đấy các em cảm thấy hứng thú hơn trong việc học tập Biện pháp quản lý HSBTDN tốt cũng là góp phần nâng cao trách nhiệm của CBQL, GV với học sinh Bởi lẽ, với phụ huynh HSBTDN đưa con em vào nhà trường ở BTDN là “trăm sự nhờ thầy cô dạy
Trang 38bảo…” Khó khăn đối với GD miền núi còn rất nhiều, song biện pháp quản lý HSBTDN cho thấy sựt phù hợp đối với những trường THCS, TH và THCS vùng sâu vùng xa trên địa bàn xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn cần tiếp tục quan tâm phát triển
1.6 Các nội dung chủ yếu trong quản lý HSBTDN
1.6.1 Công tác xây dựng kế hoạch hoạt động
Kế hoạch là bản thống kê dự kiến các nội dung công việc cụ thể của chủ thể quản lý cho một quỹ thời gian để tiến hành trong tương lai như: kế hoạch tuần, tháng, học kỳ, năm học hay cả thời gian trong dịp nghỉ hè Kế hoạch quản
lý HSBTDN là một phần kế hoạch quan trọng của quản lý nhà trường dành cho
tổ chức các hoạt động của học sinh BTDN Trình tự những nội dung dự kiến để hoạt động, các hình thức tổ chức hoạt động được sắp xếp theo thứ tự thời gian của năm học
Thời gian tiến hành, nội quy, nền nếp học tập, sinh hoạt tập thể, chú ý tới nền nếp học tập tự quản, đây là những quy định có tính bắt buộc của nhà trường, yêu cầu HSBTDN phải duy trì thường xuyên đúng kỷ luật
1.6.2 Tổ chức các nội dung quản lý HSBTDN
Bám sát vào kế hoạch, CBQL, GV, NV thực hiện tổ chức thực hiện công việc theo sự phân công trên tình hình thực tế của CSVC, phương tiện để giúp HSBTDN được chăm sóc, nuôi dưỡng và được tham gia các hoạt động GD bổ ích khác
Trang 391.6.3 Chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý HSBTDN
- Một là, cần xác định rõ yêu cầu của hoạt động đối với từng nội dung cụ
thể cho CB, GV, NV phụ trách công tác BT như: Chế độ chính sách, khẩu phần
ăn sáng trưa, chiều cho HS, việc học tập tự quản có sự giám sát của CB, GV,
NV nhà trường theo lịch phân công của BGH, Tổ chức các hoạt động sinh hoạt tập thể cuối tuần, VHVN, thể dục thể thao,…
Hai là, yêu cầu về năng lực tổ chức của CB, GV, NV đối với tổ chức các
hoạt động cho HSBTDN cụ thể;
Ba là, xác định nội dung chính và các hình thức tổ chức hoạt động;
Bốn là, chuẩn bị tốt các điều kiện cho mỗi hoạt động;
Năm là, tiến hành các hoạt động theo kế hoạch ngày, tuần, tháng, kỳ và cả
năm học;
Sáu là, rút kinh nghiệm và đánh giá kết quả hoạt động theo nội dung, hình
thức tổ chức đã xây dựng
1.6.4 Kiểm tra đánh giá công tác hoạt động của BTDN
Kiểm tra đánh giá là khâu quan trọng của các chức năng quản lý Thông qua kiểm tra đánh giá, giúp người quản lý biết được mục tiêu của tổ chứ có đạt được hay không Đối với việc kiểm tra hoạt động cho HSBTDN, nội dung về chế độ chính sách, khẩu phần ăn, sự an toàn về thực phẩm phải được đặc biệt quan tâm hơn các nội dung khá Bởi nếu không thực hiện thường xuyên và định
kỳ nội dung này rất dễ để xảy ra những hệ lụy có hại cho cá nhân và tổ chức phụ trách BTDN
1.6.5 Quản lý đội ngũ làm công tác quản lý HSBTDN
Để thực hiện quản lý HSBTDN tốt, đội ngũ CB, GV, NV tham gia giúp việc cho hiệu trưởng là rất quan trọng Cho nên việc thành lập ban quản lý HSBTDN ngay từ đầu năm học là việc làm cần thiết và có sự phân công cụ thể theo chức trách nhiệm vụ để tránh sự chồng chéo khi tổ chức thực hiện
- Hiệu trưởng: phụ trách chung công tác quản lý nhà trường và quản lý HSBTDN;
- Phó hiệu trưởng, GV: phụ trách công tác học tập, tự quản để đảm bảo chất lượng GDTD;
Trang 40- Kế toán: phụ trách công tác chế độ chính sách, phân bổ khẩu phần ăn cho HS BTDN hàn ngày công bằng và đầy đủ;
- Chủ tịch công Đoàn, TPTĐ: phụ trách công tác tăng gia sản xuất, TDTT, lao động vệ sinh và an ninh trật tự trong khu ký túc xá
1.6.6 Quản lý cơ sở vật chất và các điều kiện thiết yếu phục vụ cho HSBTDN
Để đáp ứng được mục tiêu của quản lý HSBTDN thì nhà trường phải có môi trường tương ứng, bao gồm các yếu tố có tác dụng giáo dục, và phụ vụ trực tiếp đến học sinh
- Phòng ở ký túc xá;
- Nhà vệ sinh, nhà tắm;
- Các vật dụng phục vụ bếp ăn tập thể;
- Nguồn nước ăn và nước sinh hoạt;
- Công cụ để lao động sản xuất;
- Các phương tiện nghe nhìn
- Điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm
1.6.7 Quản lý quá trình thực hiện phối hợp của các tổ chức trong, ngoài nhà trường và phụ huynh HSBTDN
Công việc GD và quản lý HS nói chung và HSBTDN nói riêng không phải là công việc riêng của nhà trường và gia đình học sinh mà nó phải là sự tham gia, thống nhất phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội Các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường cùng tham gia phối hợp Ở mỗi lực lượng GD đều có những thế mạnh riêng nên việc phối hợp GD để quản lý, GD HSBTDN chính là để thực hiện tốt công tác xã hội hóa GD, tạo nên môi trường sống, học tập, vui chơi an toàn và hữu ích cho HS Đối với HSBTDN, việc quản
lý các em sau giờ lên lớp là một vấn đề cần đặc biệt quan tâm khi tình hình văn hóa xã hội có nhiều biến chuyển mới và có cả sự du nhập thông tin văn hóa thiếu lành mạnh có thể tác động và gây ảnh hưởng xấu đến quá trình phát triển nhân cách học sinh
- Quản lý kế hoạch phối hợp giữa các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường;