1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hoạt động xử lý vi phạm hành chính tại UBND thị trấn sao vàng, huyện thọ xuân, tỉnh thanh hóa

39 364 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 260 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống quy định về xử phạt vi phạm hành chính ở nước ta cơ bản nhưsau: Trong lĩnh vực hành chính, ngay từ những ngày đầu Nhà nước non trẻ đãthi hành các biện pháp "có tính cách hành ch

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ THANH HÓA

Sinh viên : Lê Thị Duyên Lớp : QLNN Thường Xuân Khoa : QLNN&CTXH

GV hướng dẫn: TS Lê Thị Thảo

THANH HÓA, THÁNG 6/2017

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 8

7 Kết cấu của báo cáo 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN 9

1.1 Khái quát về vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính 9

1.2 Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của UBND cấp xã 17

1.3 Xác định và phân định thẩm quyền xử phạt hành chính 19

1.4 Hình thức, trình tự xử lý VPHC tại UBND cấp xã 20

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TẠI UBND THỊ TRẤN SAO VÀNG, HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA 23

2.1 Khái quát về UBND thị trấn Sao Vàng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa 23

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển UBND thị trấn Sao Vàng 23

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của UBND 23

2.1.3 Kết quả thực hiện nhiệm vụ của UBND thị trấn Sao Vàng 25

2.2 Thực tiễn xử lý vi phạm hành chính của UBND thị trấn Sao Vàng 26

2.2.1 Bộ phận địa chính - xây dựng: 26

2.2.2 Bộ phận Công an thị trấn: 28

CHƯƠNG 3: MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ 31

XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH CỦA UBND THỊ TRẤN SAO VÀNG 31

3.1 Mục tiêu 31

3.2 Giải pháp 31

3.2.1 Về đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn 31

3.2.2 Quy định về lĩnh vực và mức phạt tiền tối thiểu, tối đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước 31

3.2.3 Quy định về thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả 32

Trang 4

3.2.4 Về xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính 33

3.2.5 Quy định về vấn đề uỷ quyền xử phạt 33

3.2.6 Biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính 34

3.2.7 Biện pháp khám người theo thủ tục hành chính 35

3.2.8 Biện pháp khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính 35

3.2.9 Về quyết định xử phạt 35

3.2.10 Về thủ tục phạt tiền 35

KẾT LUẬN 37

TÀI LIỆU THAM KHẢO 38

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trên con đường hội nhập kinh tế thế giới đang tạo ra nhiều cơ hội thuận lợicũng như những thách thức đòi hỏi chúng ta không ngừng đổi mới trên mọi lĩnhvực nhằm nâng cao hiệu quả cạnh tranh Để tận dụng một cách hiệu quả những

cơ hội đó đòi hỏi trong công tác điều hành và quản lý xã hội về các lĩnh vựccũng phải nâng cao năng lực, hiệu quả của bộ máy lãnh đạo Con người buộcphải có vốn kiến thức, năng lực và nghiệp vụ chuyên môn thì mới đáp ứng đượcnhu cầu của xã hội

Trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước chính quyền địa phương làmột công cụ thiết yếu để bảo vệ vững chắc chủ quyền của Tổ quốc, chống lạimọi âm mưu xâm lược của bọn đế quốc, thực dân, đồng thời cũng là bộ phậnthiết yếu được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, là cơ quan cấp cơ sở đểđưa chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến các tầng lớp nhân dân Chính từ những yêu cầu của xã hội, UBND xã trở thành một bộ phận quantrọng không thể thiếu của một chế độ xã hội, do vậy bên cạnh sợ nỗ lực của cánhân còn có sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà Nước Để giúp cho UBNDcấp xã phát huy hết thế mạnh của mình

Trong thực tiễn hiện nay UBND cấp xã được trao nhiều quyền trong đó có

xử lý vi phạm hành chính, việc xử lý VPHC ở UBND cấp xã được thực hiện ởrất nhiều bộ phận và xử lý ở nhiều lĩnh vực khác nhau

Mục đính áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính là nhằm giáo dục ýthức chấp hành pháp luật của đối tượng vi phạm, giáo dục và tạo điều kiện chongười vi phạm pháp luật trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội, ngănngừa khả năng tái phạm của họ

Áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính nhằm góp phần tích cực vàoviệc giữ gìn trật tự, kỷ cương quản lý hành chính của đất nước, an ninh, trật tự

an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Đấu tranh phòng,chống có hiệu quả đối với vi phạm hành chính

Chính vì những lý do đó tôi chọn đề tài: Hoạt động xử lý vi phạm hành

chính ở UBND thị trấn Sao Vàng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa làm đề tài

báo cáo thực tập của mình.

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trang 6

Trên thế giới các đề tài nghiên cứu về xử phạt vi phạm hành chính nóichung đã được thực hiện trong nhiều năm qua Tuy nhiên, vấn đề xử phạt viphạm hành chính ở cấp xã, phường, thị trấn dường như vẫn chưa nhận được sựquan tâm, nghiên cứu nhiều.

Trong những năm gần đây, ở Việt Nam đã có một số tác giả quan tâmnghiên cứu đến vấn đề quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước đối vớingành, lĩnh vực nói riêng nhưng lại ít nghiên cứu đến vấn đề xử phạt vi phạmhành chính - một công cụ trong hoạt động quản lý nhà nước

Hệ thống quy định về xử phạt vi phạm hành chính ở nước ta cơ bản nhưsau:

Trong lĩnh vực hành chính, ngay từ những ngày đầu Nhà nước non trẻ đãthi hành các biện pháp "có tính cách hành chính" thể hiện bằng việc ban hànhcác văn bản quy định các hình thức xử phạt đối với các hành vi vi phạm cácchính sách của Nhà nước lúc bấy giờ Các văn bản đó quy định các hành vi viphạm và biện pháp chế tài cụ thể Về hành vi vi phạm hành chính, pháp luật thời

kỳ này quy định những hành vi rất đặc trưng của thời kỳ đó như: người trên 8

tuổi mà không biết đọc viết chữ quốc ngữ hạn sau một năm (Sắc lệnh số 20

ngày 8-9-1945 của Chính phủ lâm thời); vi phạm về sử đụng điện thoạt (Sắc lệnh số 174 ngày 6-9-1946 của Bộ Nội vụ); thành lập hoạt động hội trái pháp

luật; không chịu nộp thuế, những hành vi đã phạm tội nhưng chưa đáng phạt tù như làm tay sai cho địch v.v Các chế tài được quy định gồm: phạt tiền (đối với

các hành vi vi phạm về không biết đọc, viết chữ quốc ngữ, vi phạm về sử dụng

điện thoại); giải tán hội (đối với hội thành lập, hoạt động hội trái pháp luật); cưỡng chế nộp thuế; tịch thu tang vật phương tiện; tước quyền sử dụng

giấy phép; phê bình (Điều lệ số 185/TTg ngày 14-7-1952 của Thủ tướng Chính

phủ về huy động vả sử dụng nhân công), cưỡng chế làm thêm ngày công (văn bản trên); cảnh cáo (đối với hành vi vi phạm quy tắc sử dụng ánh sáng trên

đường giao thông và trên phương tiện vận tải)

Nhìn chung, hệ thống vi phạm hành chính và chế tài giai đoạn này mặc dùcòn có các nhược điểm như còn ít, chưa thống nhất, nhiều khi không nhất quán,rời rạc, nhưng về cơ bản đã đáp ứng các nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nướcthời đó Pháp lệnh quy định một hệ thống các hình thức xử phạt mới, hiện đạiđáp ứng yêu cầu mới của quá trình dân chủ hoá, xây dựng Nhà nước XHCN,bảo vệ quyền con người, quyền công dân Hình thức xử phạt bao gồm hình thức

phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền và hình thức phạt bổ sung là: tước quyền sử

Trang 7

dụng giấy phép và tịch thu tang vật phương tiện vi pham Ngoài hình thức phạt,

cá nhân, tổ chức còn có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả

như: buộc khôi phục lại tình trạng đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra

hoặc buộc thào dỡ công trình xây dựng trái phép; buộc bồi thường thiệt hại

Như vậy, so với những quy định của thời kỳ trước l989, có thể thấy phápluật về xử phạt hành chính đã có bước tiến lớn trong việc quy định về hành vi viphạm hành chính; đối với các chế tài hành chính, đã có sự phân biệt về tính chất,mức độ và cách thức áp dụng đối với từng loại chế tài chứ không áp dụng tùynghi như trước đây Một số chế tài quá nghiêm khắc dưới góc độ hành chínhnhư cưỡng chế lao động, phạt lao đông công ích, phạt giam hành chính, tậptrung cải tạo đã bị huỷ bỏ

Bước phát triển tiếp theo của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính là việc

Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh mới về xử lý vi phạm hànhchính ngày 6-7-1995

Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 Điểm mới nổi bật của Pháp

lệnh là Pháp lệnh quy định áp dụng các biện pháp hành chính khác đối với cá

nhân có hành vi vi phạm pháp lý về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa

đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự Cũng vì sự mở rộng này mà Pháp

lệnh xử phạt hành chính được gọi là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính Các

biện pháp xử lý hành chính khác bao gồm: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưavào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quảnchế hành chính

Đến năm 2002, sau 7 năm thực hiện Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chínhnăm 1995, trước sự phát triển nhanh chóng của đời sống kinh tế- xã hội, sự giatăng của các vi phạm hành chính với các biểu hiện đa dạng, gây ảnh hưởng đến

an ninh trật tự, an toàn xã hội và sự phát triển nói chung, ảnh hưởng đến hiệuquả quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Ủy ban Thường vụQuốc hội đã sứa đổi một cách cơ bản Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm

1995, bổ sung nhiều quy định mới đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng ngừa vàchống các vi phạm hành chính trong tình hình mới Có thể nói, sự ra đời củaPháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 có ý nghĩa quan trọng cả về thựctiễn và lý luận, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong công tác xử

lý vi phạm hành chính, tăng cường tác dụng răn đe, giáo dục người vi phạm,thiết lập trật tự, kỷ cường trong đời sống xã hội

Trang 8

Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống các hành

vi vi phạm hành chính diễn ra ngày càng phức tạp trong đời sống xã hội, ngày

02 tháng 4 năm 2008, Ủy ban thường vụ quốc hội thông qua Pháp lệnh sửa đối,

bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 nhằmgiải quyết những hạn chế bất cập trước mắt của công tác xử lý vi phạm hànhchính

Nhìn chung, qua mỗi lần sửa đổi bổ sung hoặc thay thế, Pháp lệnh đã đượchoàn thiện thêm một bước, góp phần đắc lực vào việc đảm bảo an ninh trật tự,

an toàn xã hội, trật tự quản lý nhà nước

Với cấp độ báo cáo thực tế ngành Quản lý Nhà nước, người làm chủ yếu đềcập đến vấn đề lý luận về xử lý vi phạm hành chính, từ đó nghiên cứu, đánh giáthực trạng xử lý vi phạm hành chính ở UBND thị trấn Sao Vàng, huyện ThọXuân, tỉnh Thanh Hóa, đồng thời đề xuất một số giải pháp, kiến nghị

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về xử lý vi phạm hành chính và thẩm quyền

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về

xử lý vi phạm hành chính

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về thời gian: Số liệu nghiên cứu trong 2 năm 2015 – 2016

+ Về không gian: Thị trấn Sao Vàng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.+ Về nội dung: nghiên cứu thực tiễn xử lý vi phạm hành chính của UBNDthị trấn Sao Vàng

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tổng hợp: Phương pháp này chủ yếu tập trungnghiên cứu, tham khảo, phân tích các sách, tài liệu, công trình nghiên cứu khoahọc, các số liệu khoa học đã được công bố có liên quan đến đề tài

- Phương pháp khảo sát thực tiến: Để đánh giá thực trạng công tác xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế một cách khách quan, trung thực và đánhgiá tính khả thi của các giải pháp được xây dựng

Trang 9

- Các phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác: Để tăng thêm độ tin cậy củacác thông tin đã thu thập được từ các phương pháp khác, đề tài còn sử dụngthêm một số phương pháp bổ trợ khác như so sánh, quy nạp diễn giải và tiếnhành thu thập, phân tích ý kiến của các chuyên gia có kinh nghiệm về quản lý,chính sách, pháp luật

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Ý nghĩa lý luận: Đề tài hệ thống hóa những lý luận về xử lý vi phạm hànhchính của UBND cấp xã, đặc biệt là thẩm quyền xử phạt hành chính của lựclượng công an xã, phường, thị trấn

- Ý nghĩa thực tiễn: Qua nghiên cứu thực trạng xử lý vi phạm hành chínhcủa UBND thị trấn Sao Vàng, đánh giá những ưu, nhược điểm; từ đó đưa ra một

số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt hành chính của UBND thị trấn SaoVàng

7 Kết cấu của báo cáo

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, bố chục củabáo cáo bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về xử lý vi phạm hành chính của UBND cấp xã,phường, thị trấn

Chương 2: Thực trạng hoạt động xử lý vi phạm hành chính ở UBND thịtrấn Sao Vàng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa

Chương 3: Mục tiêu và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xử lý viphạm hành chính ở UBND thị trấn Sao Vàng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa

Trang 10

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH CỦA ỦY BAN

NHÂN DÂN CẤP XÃ, PHƯỜNG, THỊ TRẤN

vi phạm hành chính, thì việc thực hiện xử lý hành chính mới bảo đảm chính xác,bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân, phát huy đượchiệu quả và mục đích của việc xử lý hành chính là nhằm lập lại trật tự quản lýnhà nước bị xâm hại, góp phần giáo dục, người vi phạm và răn đe, phòng ngừa

vi phạm trong tương lai

Trong thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật hiện nay, vi phạm hànhchính thường được hiểu một cách chung nhất là hành vi vi phạm các quy tắcquản lý của Nhà nước nhưng không phải là tội phạm và bị xử lý theo thủ tụchành chính do những người có thẩm quyền trong các cơ quan hành chính nhànước tiến hành Trước khi Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 1989được Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành thì các văn bản pháp luật chỉ đề cậpđến khái niệm “vi cảnh” Khái niệm này chính thức được sử dụng trong “Điều lệ

xử phạt vi cảnh” ban hành kèm theo Nghị định số 143/CP của Hội đồng Chínhphủ ngày 27/5/1977 Theo quy định của Điều lệ xử phạt vi cảnh thì tất cả nhữnghành vi xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội mà có tính chất đơn giản, rõ ràng vàhậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc

áp dụng các biện pháp hành chính khác là phạm pháp vi cảnh Về sau, trong cácvăn bản pháp luật do Nhà nước ta ban hành, khái niệm “vi cảnh” được hiểu rộnghơn, không chỉ là những vi phạm luật lệ sinh hoạt nơi công cộng mà được hiểu

là những vi phạm nhỏ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự

Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm “vi phạm hành chính” lần đầu tiênđược định nghĩa một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính

ngày 30/11/1989, Điều 1 của Pháp lệnh này nêu rõ “vi phạm hành chính là hành

Trang 11

vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” Định nghĩa này sau đó đã được áp dụng

rộng rãi trong thực tiễn thi hành pháp luật và đưa vào các giáo trình giảng dạy vềpháp luật Theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và sau đó làPháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì khái niệm vi phạm hành chínhkhông được định nghĩa riêng biệt nữa mà được đưa “lẩn” vào trong khái niệm

“xử lý vi phạm hành chính”, nếu trích dẫn từ định nghĩa về “xử lý vi phạm hànhchính” được quy định tại khoản 2 Điều 1 xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì

vi phạm hành chính được hiểu là hành vi cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức, vi

phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính” Về

ngôn ngữ thể hiện, có thể thấy có đôi chút khác nhau giữa định nghĩa về vi phạmhành chính được quy định trong các Pháp lệnh về xử phạt/xử lý vi phạm hànhchính 1989, 1995 và 2002, tuy nhiên về bản chất hành vi vi phạm hành chính thìcác định nghĩa trong các văn bản pháp luật này, về cơ bản, không có gì khácnhau

vệ Khách thể của vi phạm hành chính là quan hệ xã hội bị vi phạm hành chínhxâm hại Khách thể là yếu tố đặc biệt quan trọng ấn định tính chất, mức độ nguyhiểm cho xã hội của hành vi trái pháp luật

Tính chất của khách thể (quan hệ xã hội) bị xâm hại là tiêu chí đầu tiên màNhà nước sử dụng để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, cónghĩa là để phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm, với các vi phạm khác Vídụ: Hành vi giết người - tội phạm, còn lái xe mô tô không có bằng là vi phạmhành chính Nhưng khi một khách thể bị nhiều hành vi xâm hại, thì tiêu thức đểphân biệt chúng là hậu quả trực tiếp của hành vi hoặc hành vi đó đã bị cơ quannhà nước có thẩm quyền xử lý hành chính hay chưa Ví dụ, đối với hành vi kinh

Trang 12

doanh trái phép, lừa dối khách hàng, buôn bán thuốc lá trái phép Với khốilượng nhỏ chưa gây hậu quả nghiêm trọng, nếu đã bị xử lý hành chính mà còn viphạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự Nhưng cũng những hành vi đó tuychưa bị xử lý hành chính nhưng gây hậu quả nghiêm trọng thì bị truy cứu tráchnhiệm hình sự Hoặc đối với hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sứckhoẻ của người khác dưới 11% mà không thuộc các trường hợp: dùng hung khínguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hiểm cho nhiều người; gây thương tậtnhẹ cho nạn nhân; phạm tội nhiều lần; phạm tội có tổ chức; để cản trở người thihành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân thì không truy cứu tráchnhiệm hình sự mà chỉ truy cứu trách nhiệm hành chính.

Khách thể cụ thể của những vi phạm hành chính rất đa dạng Đó là: sở hữuNhà nước; sở hữu công dân; quyền tự do, lợi ích hợp pháp của công dân; trật tự

an toàn nơi công cộng; an toàn giao thông; trật tự quản lý hành chính nhà nướctrong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng, y tế, văn hoá - xã hộiv.v

Như vậy, khách thể của vi phạm hành chính là những quan hệ xã hội tronglĩnh vực quản lý hành chính nhà nước được bảo vệ bởi các quy phạm luật hànhchính, bằng các biện pháp trách nhiệm hành chính

Hai là: Về mặt khách quan

Bất kỳ một hiện tượng nào cũng có hình thức biểu hiện của nó Vi phạmhành chính có hình thức biểu hiện là hành vi Không có vi phạm thì không có viphạm pháp luật nói chung, vi phạm hành chính nói riêng C.Mác chỉ rõ: "Ngoàihành vi của mình thì con người không tồn tại đối với pháp luật"

Những suy nghĩ, quan điểm, tư tưởng xấu chưa thể hiện ra bên ngoài bằnghành vi thì chưa phải là vi phạm pháp luật Con người chỉ chịu trách nhiệm vềnhững hành vi của mình và việc đánh giá con người phải thông qua hành vi củahọ

Hành vi có thể biểu hiện dưới hình thức hành động, ví dụ: hành vi làm hànggiả, kinh doanh trái phép, đi xe máy vào đường cấm hoặc dưới hình thứckhông hành động như: đi xe mô tô không có bằng lái; không có phương tiệnphòng cháy, chữa cháy tại cơ sở sản xuất kinh doanh Chỉ cần có hành độnghoặc không hành động nêu trên cũng có thể truy cứu trách nhiệm hành chính,bất luận là hậu quả của hành vi đã xảy ra hay chưa Khi vi phạm hành chính đãgây ra hậu quả, cần xác định mối liên hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậuquả của hành vi Ngoài ra, khi xem xét mặt khách quan của vi phạm hành chính

Trang 13

trong những vụ việc cụ thể cần tính đến một số yếu tố như thời gian, địa điểm,hoàn cảnh, phương tiện vi phạm.

Ba là: Về mặt chủ quan

Mặt chủ quan của vi phạm hành chính thể hiện ở yếu tố lỗi của người viphạm Lỗi là dấu hiệu pháp lý bắt buộc của vi phạm hành chính Cần phân biệthành vi trái pháp luật với vi phạm pháp luật, nếu chưa xác định yếu tố chủ quan:thái độ, động cơ, ý chí của người vi phạm đối với hành vi của họ và đối với hậuquả của hành vi

Có hai hình thức là lỗi cố ý và lỗi vô ý Lỗi cố ý thể hiện ở chỗ người cóhành vi vi phạm hành chính nhận thức được tính chất nguy hại cho xã hội củahành vi của mình nhưng vẫn thực hiện, hoặc để mặc cho hậu quả hành vi đó xảy

ra Lỗi vô ý thể hiện ở chỗ người vi phạm hành chính không biết hoặc khôngnhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật mặc dù cần phải biết và nhậnthức được, hoặc nhận thức được nhưng cho rằng có thể ngăn ngừa được hậu quảcủa hành vi trái pháp luật đó

Khi xem xét, đánh giá một hành vi trái pháp luật có phải là vi phạm hànhchính hay không cần phải nghiên cứu khách quan, đầy đủ các dấu hiệu, yếu tốcấu thành pháp lý của vi phạm Dựa vào các yếu tố cấu thành của vi phạm nhằmxác định vi phạm đó là vi phạm gì, để chọn cách thức xử phạt cho đúng

Các chủ thể phải chịu trách nhiệm hành chính gồm:

Công dân từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hành chính về mọi viphạm hành chính do mình gây ra

Trang 14

Người có đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hành chính về viphạm hành chính do cố ý.

Người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo.Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính thì có thể bị áp dụngcác hình thức xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật xử lý viphạm hành chính, khi phạt tiền đối với họ thì người có thẩm quyền áp dụng mứcphạt không được quá một phần hai mức phạt đối với người thành niên Nếungười chưa thành niên không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc người giám hộcủa người đó phải nộp thay

Quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện vànhững người thuộc lực lượng Công an nhân dân nếu thực hiện vi phạm hànhchính thì bị xử lý như đối với công dân khác; trong trường hợp cần áp dụng hìnhthức phạt tước quyền sử dụng một số giấy phép hoạt động vì mục đích an ninh,quốc phòng thì người xử phạt không trực tiếp xử lý mà đề nghị cơ quan, đơn vịquân đội, công an có thẩm quyền xử lý theo điều lệnh kỷ luật

Cán bộ, công chức nhà nước nói chung, những người có chức vụ nói riêngchịu trách nhiệm hành chính đối với những vi phạm hành chính liên quan đếnviệc thi hành công vụ nhà nước, có nghĩa là liên quan đến việc thực hiện quyềnhạn, nhiệm vụ được trao Nếu không liên quan tới việc thực hiện công vụ thì xử

lý họ như đối với công dân bình thường ở đây, có yếu tố liên quan tới hoạt độngcông vụ, nên họ bị xử phạt nặng hơn Cũng có trường hợp, tuy không có yếu tốcông vụ, nhưng là cán bộ, công chức vi phạm vẫn bị xử lý nặng hơn, chẳng hạnnhư khi có hành vi mua, bán dâm

Pháp luật nhà nước ta quy định tổ chức cũng là chủ thể của vi phạm hànhchính Tổ chức có thể là cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế nếuthực hiện vi phạm hành chính thì cũng bị phạt cảnh cáo hay phạt tiền, tướcquyền sử dụng giấy phép, tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm.Nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm cá nhân, pháp luật hành chính nước taquy định khi tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính thì tổ chức đó phải tiếnhành xác định cá nhân có lỗi gây ra vi phạm hành chính để xác định trách nhiệmpháp lý của người đó theo quy định của pháp luật

Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ,vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam thì bị xử phạt theo quy định của pháp luật Việt Nam về xử phạt vi phạmhành chính, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia

Trang 15

có quy định khác Đồng thời lại không áp dụng các biện pháp xử lý hành chínhkhác quy định tại Điều 23, 24, 25, 26 và 27 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hànhchính đối với người nước ngoài, như áp dụng biện pháp trục xuất.

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của xử lý vi phạm hành chính

1.1.2.1 Khái niệm xử lý vi phạm hành chính

Sự cần thiết phải nghiên cứu một khái niệm khác cũng rất cơ bản và liênquan mật thiết đến vấn đề này, đó là khái niệm xử lý vi phạm hành chính đểphân biệt với khái niệm xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp

xử lý hành chính khác.Vậy, xử lý vi phạm hành chính là gì?

Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biệnpháp xử lý hành chính khác

Xử phạt VPHC là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do các cơ quan Nhànước hay cán bộ có thẩm quyền áp dụng đối với cá nhân hoặc các tổ chức cóhành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý Nhà nước

mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hànhchính

Các biện pháp xử lý hành chính khác đối với cá nhân, tổ chức có hành vi viphạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứutrách nhiệm hình sự được quy định trong các điều luật của pháp lệnh

1.1.2.2 Đặc điểm xử lý vi phạm hành chính

Trên thực tế bản chất của hoạt động xử lý vi phạm hành chính là áp dụngmột số loại biện pháp cưỡng chế hành chính do pháp luật quy định Cưỡng chếhành chính được xác định là biện pháp cưỡng chế nhà nước do cơ quan hoặcngười có thẩm quyền quyết định áp dụng theo thủ tục hành chính đối với cánhân có hành vi vi phạm hành chính hoặc đối với một số cá nhân nhất định vớimục đích ngăn chặn, phòng ngừa hoặc thực hiện công vụ vì lí do an ninh, quốcphòng và vì lợi ích quốc gia

Thứ nhất, xử lý vi phạm hành chính chính là việc áp dụng trách nhiệm hànhchính (bao gồm xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp xử lý hành chínhkhác) đối với đối tượng vi phạm hành chính theo trình tự, thủ tục do pháp luậtquy định Chủ thể có thẩm quyền áp dụng các chế tài xử phạt hành chính hoặccác biện pháp xử lý hành chính khác là những chức danh thuộc cơ quan hànhchính nhà nước do pháp luật quy định cụ thể Trong khi đó, chủ thể áp dụng cácchế tài pháp lý khác đối với đối tượng vi phạm pháp luật có thể là Toà án (đốivới vi phạm pháp luật hình sự, dân sự) hoặc thủ trưởng cơ quan nhà nước có

Trang 16

thẩm quyền trong việc quản lý và sử dụng cán bộ, công chức (đối với vi phạmpháp luật của cán bộ, công chức).

Thứ hai, đối tượng bị xử lý vi phạm hành chính bao gồm cá nhân, tổ chức

đã cố ý hoặc vô ý vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước Như vậy, đối tượng bị

áp dụng xử lý hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ chức đã thực hiện vi phạmhành chính Trong khi đó, đối tượng bị xử lý do vi phạm pháp luật khác thường

là cá nhân (đối với việc xử lý hình sự, xử lý kỷ luật thì đối tượng bị xử lý phải lànhững cá nhân cụ thể) hoặc cũng có thể là pháp nhân (đối với việc xử lý vi phạmpháp luật dân sự, ví dụ quy định về trách nhiệm dân sự đối với pháp nhân).Thứ ba, việc xử lý vi phạm hành chính được thực hiện theo một trình tự,thủ tục riêng do pháp luật hành chính quy định Hiện nay, trình tự thủ tục xửphạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác đượcquy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửađổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh này ban hành năm 2008 Các loại xử lý

vi phạm pháp luật khác cũng theo trình tự, thủ tục riêng tương ứng đối với mỗiloại xử lý vi phạm pháp luật Ví dụ, trình tự, thủ tục áp dụng xử lý vi phạm phápluật hình sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Trình tự,thủ tục áp dụng xử lý vi phạm pháp luật dân sự được thực hiện theo quy địnhcủa Bộ luật tố tụng dân sự Đối với việc xử lý vi phạm pháp luật cán bộ côngchức thì áp dụng theo trình tự, thủ tục áp dụng chế tài kỷ luật đối với cán bộ,công chức

Thứ tư, cơ sở pháp lý của xử lý vi phạm hành chính là vi phạm hành chínhđược quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật (đối với việc xử phạt viphạm hành chính) và các quy định pháp luật về đối tượng áp dụng các biện pháp

xử lý hành chính khác được quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính

và các nghị định của Chính phủ quy định chế độ áp dụng các biện pháp này Đốivới việc xử lý các loại vi phạm pháp luật khác thì cơ sở pháp lý để áp dụng chếtài trách nhiệm pháp lý cũng khác nhau Ví dụ, đối với việc xử lý vi phạm phápluật hình sự thì cơ sở pháp lý là Bộ luật hình sự Đối với việc xử lý vi phạmpháp luật dân sự thì cơ sở pháp lý chủ yếu là Bộ luật dân sự và các văn bản quyphạm pháp luật liên quan Đối với việc xử lý kỷ luật cán bộ công chức thì cơ sởpháp lý là Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm2003), các nghị định của Chính phủ và các văn bản quy phạm pháp luật liênquan

Trang 17

Xử phạt vi phạm hành chính bao gồm các chế tài hành chính thông thường,

áp dụng đối với chủ thể là cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính, baogồm hình thức xử phạt chính (cảnh cáo, phạt tiền, trục xuất), hình thức phạt bổsung (tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, tịch thu tang vật,phương tiện vi phạm hành chính, trục xuất khi không áp dụng là hình phạtchính) và các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính gây ra nhằm lậplại trật tự quản lý bị xâm hại

Các biện pháp xử lý hành chính khác là những biện pháp hành chính cótính đặc thù và tính cưỡng chế cao hơn các hình thức xử phạt hành chính thôngthường, chỉ áp dụng đối với chủ thể vi phạm là cá nhân, căn cứ vào nhân thân vàquá trình vi phạm pháp luật của đối tượng Các biện pháp xử lý hành chính khácbao gồm giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào

cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính

1.1.2.3 Vai trò của xử lý vi phạm hành chính

Thứ nhất: Xuất phát từ vấn đề có tính cương lĩnh về việc loại trừ dần nhữngbiểu hiện chống đối xã hội, vai trò của xử lý vi phạm hành chính là loại trừnhững vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, bảo vệtrật tự pháp luật xử lý vi phạm hành chính là phương tiện bảo vệ những quan hệ

xã hội xã hội chủ nghĩa trước hành vi chống đối pháp luật, ngăn chặn nhữngviệc phạm pháp, gây trở ngại cho trật tự xã hội, trật tự quản lý, góp phần bảođảm hiệu quả của công tác quản lý hành chính nhà nước

Thứ hai: Xuất phát từ mục đích chung, xử lý vi phạm hành chính có vai tròtrực tiếp là giáo dục người vi phạm và phòng ngừa các vi phạm pháp luật Việc

áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính là phương tiện giáo dục conngười ý thức tôn trọng pháp luật Nhà nước ta khi thực hiện cuộc đấu tranh vớinhững vi phạm pháp luật, không xuất phát từ mục đích đàn áp mà nhằm khôiphục những giá trị đạo đức tốt đẹp của cá nhân, tạo ra thói quen thực hiện ý thức

và tự giác những quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân

Thứ ba: Vai trò phòng ngừa vi phạm pháp luật của xử lý vi phạm hànhchính bao gồm phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung, ở đây phòng ngừa riêngđược hiểu là phòng ngừa sự tái phạm và thực hiện vi phạm pháp luật mới từ phíangười vi phạm hành chính và bị xử phạt hành chính, còn phòng ngừa chung làphòng ngừa các vi phạm pháp luật từ những cá nhân khác nhằm lập lại trật tựquản lý hành chính bị xâm hại, đồng thời ngăn chặn các hành vi vi phạm phápluật hành chính

Trang 18

Xử lý VPHC nói chung và xử phạt VPHC nói riêng là công cụ quan trọngtrong hoạt động quản lý nhà nước nhằm duy trì trật tự, kỷ cương trong quản lýhành chính của Nhà nước ta Đây cũng là vấn đề liên quan trực tiếp đến cuộcsống hàng ngày của nhân dân được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đặc biệt quantâm.

1.2 Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của UBND cấp xã

Một trong những nguyên tắc cơ bản trong xử phạt hành chính là chỉ cónhững chức danh được pháp luật quy định có thẩm quyền xử phạt mới được tiếnhành việc xử phạt hành chính

Tại cấp xã, những chức danh sau đây có thẩm quyền xử phạt: Chủ tịchUBND cấp xã, Trưởng Công an cấp xã, Chiến sỹ Công an nhân dân thuộc công

an cấp xã, Đội trưởng, Trạm trưởng của Chiến sỹ Công an đóng tại xã, phường,thị trấn

a Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi viphạm trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Uỷ ban nhân dâncấp xã, đặc biệt là trong các lĩnh vực như bảo vệ trật tự, trị an, giữ gìn vệ sinhmôi trường, quản lý và bảo vệ rừng, lâm sản, quản lý đất đai v.v

Theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính (năm 2008), Chủ tịch Uỷ ban nhân dâncấp xã có thẩm quyền:

- Phạt cảnh cáo;

- Phạt tiền đến 2.000.000 đồng: thẩm quyền phạt tiền này là thẩm quyền ápdụng đối với một hành vi vi phạm, ví dụ nếu một người thực hiện 2 hành vi viphạm khác nhau, mức phạt đối với mỗi hành vi vi phạm là 2.000.000 đồng thìvẫn thuộc thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã

- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính cógiá trị đến 2.000.000 đồng;

- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hànhchính gây ra (Ví dụ: Buộc trồng lại cây rừng đã bị chặt phá, buộc làm lại đoạnđường đã bị đào bới…)

Ở đây, cần phân biệt biện pháp “Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu” vớibiện pháp “Buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép” Theo quy định, thì Chủtịch Uỷ ban nhân dân cấp xã không có thẩm quyền áp dụng biện pháp “Buộctháo dỡ công trình xây dựng trái phép” Tuy nhiên, khi xử phạt hành chính trong

Trang 19

lĩnh vực xây dựng, lấn chiếm đất đai thì 2 biện pháp này về cơ bản có nhiều nétgiống nhau, nên khi áp dụng cũng không thể máy móc mà phải xác định từngtrường hợp cụ thể Ví dụ: một người lấn chiếm đất công, dựng hàng rào, lều,quán trên đất đó hoặc người xây dựng trái phép chỉ mới đổ móng, xây tường(chưa đổ mái, chưa làm kiên cố thành một “công trình”) thì Chủ tịch Uỷ bannhân dân cấp xã có thể áp dụng biện pháp “buộc khôi phục lại tình trạng banđầu” Còn “buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép” được hiểu là biện pháp

áp dụng đối với một công trình đã được xây dựng tương đối kiên cố (trongtrường hợp này có thể hiểu là công trình đã được xây tường, đổ mái xong)

- Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lâylan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra (ví dụ: buộc thực hiện các biện pháplàm trong sạch nước bị gây ô nhiễm);

- Buộc tiêu huỷ vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con người, vật nuôi và câytrồng, văn hoá phẩm độc hại (ví dụ: buộc tiêu hủy tài liệu bói toán, mê tín dịđoan; buộc tiêu hủy các thực phẩm ôi thiu, gây hại cho sức khoẻ );

- Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

b Trưởng Công an cấp xã

Trưởng Công an cấp xã được áp dụng các hình thức xử phạt hành chínhnhư Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã đã nêu tại điểm a trên đây, trừ quyết định

áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

c Chiến sỹ Công an nhân dân đang thi hành công vụ có quyền:

Ngày đăng: 17/07/2017, 13:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Luật Tổ chức Chính quyền Địa phương ngày 15 tháng 06 năm 2015 Khác
3. Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ Khác
4. Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước Khác
5. Nghị định số 142/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24/11/2003 của Chính phủ quy định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng Khác
6. -Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước Khác
7. Nghị định số 151/2003/NĐ-CP ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng Khác
8. Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02/04/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ Khác
9. Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự - an toàn xã hội, Phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy chữa chays; phòng chống bạo lực gia đình Khác
10.Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai Khác
11.-Thông tư số 09/2004/TT-BNV ngày 19 tháng 02 năm 2004 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 117/2003/NĐ-CP Khác
12.Thông tư số 10/2004/TT-BNV ngày 19 tháng 02 năm 2004 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 116/2003/NĐ-CP Khác
13.Quy chế làm việc mẫu của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn Khác
14.Quyết định số 169/2003/QĐ-TTg ngày 12 tháng 8 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới phương thức điều hành và hiện đại hoá công sở của hệ thống hành chính nhà nước giai đoạn I Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cơ cấu tổ chức của UBND thị trấn Sao Vàng - Hoạt động xử lý vi phạm hành chính tại UBND thị trấn sao vàng, huyện thọ xuân, tỉnh thanh hóa
Sơ đồ c ơ cấu tổ chức của UBND thị trấn Sao Vàng (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w