1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hoạt động theo cơ chế một cửa tại UBND xã xuân lẹ, huyện thường xuân, tỉnh thanh hóa

32 297 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 221,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với mục đích đơn giản, công khai và minh bạch thủ tục hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 38/CP ngày 4-5-1994 về cải các

Trang 1

BÁO CÁO THỰC TẾ NGHỀ NGHIỆP 1

TÊN ĐỀ TÀI HOẠT ĐỘNG THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA TẠI

ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ XUÂN LẸ, HUYỆN THƯỜNG XUÂN,

TỈNH THANH HÓA

Sinh viên : Lớp : Khoa :

GV hướng dẫn:

THANH HÓA, THÁNG 6/2017

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

1 Tính cấp thiết của đề tài 2

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3 Mục tiêu nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu: 4

5 Kết cấu của báo cáo 4

CHƯƠNG 1 5

KHÁI QUÁT VỀ XÃ XUÂN LẸ, 5

HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA 5

1.1 Vị trí địa lý, tình hình kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội 5

1.2 Đặc điểm về kinh tế- xã hội: 7

CHƯƠNG 2 10

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA TẠI UBND XÃ XUÂN LẸ, HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA 10

2.1 Khái quát về cơ chế một cửa 10

2.2 Thực trạng cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tại UBND xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa 12

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA TẠI UBND XÃ XUÂN LẸ 23

3.1 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp Ủy Đảng và lãnh đạo địa phương 23

3.2 Hoàn thiện thể chế pháp lý gắn liền với đơn giản hóa các thủ tục hành chính, xóa bỏ những thủ tục rườm rà 24

3.3 Đầu tư cơ sở vật chất gắn liền với ứng dụng công nghệ thông tin 25

3.4 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát 26

3.5 Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức 26

3.6 Xây dựng văn hóa công sở 28

3.7 Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến kiến thức về cải cách hành chính cho CB, CC và tổ chức, công dân 29

KẾT LUẬN 31

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lâu nay, trong con mắt của người dân thì thủ tục hành chính luôn phức tạp, rườm rà, thiếu công khai, minh bạch thậm chí là nhiêu khê Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết công việc của người dân, giảm lòng tin của nhân dân đối với nhà nước và bộ máy hành chính nhà nước.

Bước vào thời kỳ hội nhập phát triển kinh tế, để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các thành phần kinh tế và thu hút nguồn đầu tư nước ngoài thì cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hoá các khâu trong quá trình giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức có một vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Với mục đích đơn giản, công khai và minh bạch thủ tục hành chính nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 38/CP ngày 4-5-1994 về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức, mở đầu cho hoạt động thực hiện đơn giản hóa thủ tục hành chính, đã tạo bước đột phá lớn trong hoạt động nâng cao hiệu quả quản lý của các cơ quan nhà nước đối với mọi lĩnh vực, là sự chuyển biến rõ rệt trong việc xây dựng và hoàn thiện thể chế Nhà nước Tiếp đó, Chính phủ đã ban hành một loạt các nghị quyết về cải cách thủ tục hành chính, tạo hành lang pháp lý cơ bản cho việc triển khai thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo hướng đổi mới, đáp ứng được nhu cầu của xã hội như Nghị quyết số 30c/NQ-CP với Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg về việc ban hành quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan nhà nước ở địa phương và gần đây nhất là Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg về Ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”, cơ chế “một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương.

Xuất phát từ những lý do trên mà hiện nay trong cả nước nói chung và địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói riêng, tại các cơ quan quản lý nhà nước đặc biệt là Ủy ban nhân dân các cấp hoạt động của mô hình “một cửa” trong cải cách thủ tục hành chính đã và đang được đẩy mạnh Hòa chung vào công cuộc cải cách thủ

Trang 4

tục hành chính trong cả nước và các địa phương trong toàn tỉnh Thanh Hóa, UBND xã Xuân Lẹ cũng đã tiến hành triển khai cơ chế “một cửa” vào tháng 5 năm 2006 So với các địa phương khác cùng cấp trong tỉnh, mô hình “một cửa” tại UBND xã được triển khai khá muộn Trên cơ sở học hỏi mô hình của các tỉnh bạn đã triển khai có hiệu quả, chuẩn bị tốt về mặt cơ sở vật chất và tuyển chọn đội ngũ CB, CC nhiệt tình, có trình độ chuyên môn, Bộ phận “một cửa” của UBND xã Xuân Lẹ thuộc quản lý của Văn phòng Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân xã Xuân Lẹ hoạt động độc lập, mang lại hiệu quả cao, được đông đảo nhân dân đồng thuận và ủng hộ Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, bên cạnh những kết quả đạt được như thủ tục hành chính được công khai, giảm hẳn tình trạng gây phiền hà, sách nhiễu tổ chức, công dân; tinh thần, trách nhiệm, năng lực chuyên môn của cán bộ, công chức được nâng lên đáng kể thì vẫn còn những tồn tại nhiều vấn đề bức xúc Biểu hiện thủ tục hành chính còn rườm rà, thủ tục chồng chéo, trùng lặp, chưa ban hành kịp thời gây khó khăn cho công dân trong quá trình giải quyết công việc Những hạn chế này, cần phải được khắc phục kịp thời để phù hợp với những thay đổi của thực tiễn địa phương cũng như tình hình phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Công cuộc cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng phải được thực hiện thường xuyên, liên tục Vì vậy việc nghiên cứu về thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính và rút ra tổng kết cho địa phương là rất cần thiết Chính vì những lý do đó mà tác giả chọn đề tài: “Hoạt động theo cơ chế một cửa tại UBND xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa” với mong muốn hoàn thiện kiến thức ở trường, áp dụng có hiệu quả vào công tác quản lý hành chính, đóng góp ý kiến để nâng cao chất lượng mô hình “một cửa” đang được thực hiện tại tỉnh nhà Do thời gian nghiên cứu có hạn và kinh nghiệm của bản thân chưa nhiều nên không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để bài báo cao thêm hoàn thiện.

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: Đề tài nghiên cứu những thủ tục hành chính được giải quyết tại UBND xã Xuân Lẹ và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng qua mô

Trang 5

hình “một cửa” Tổng hợp tình hình thực tiễn để cung cấp những căn cứ chính xác cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” ở địa phương Đồng thời, nghiên cứu quy trình xử lý và giải quyết thủ tục hành chính ở địa phương để có được cái nhìn tổng quát về thủ tục hành chính và giải quyết thủ tục hành chính đang áp dụng trong thực tế.

Phạm vi: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lĩnh vực giải quyết công việc thực hiện cơ chế một cửa tại UBND xã Xuân Lẹ.

3 Mục tiêu nghiên cứu

Thứ nhất, cung cấp những căn cứ khoa học cho việc xác định nguyên nhân của từng mặt hạn chế còn tồn tại của mô hình “một cửa” đang vận hành hiện nay ở UBND xã Xuân Lẹ

Thứ hai, tìm hiểu thực trạng triển khai hoạt động cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” tại UBND xã Xuân Lẹ;

Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”, phục vụ cho công tác quản lý và điều hành hoạt động ở địa phương trong giai đoạn hiện nay.

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp điều tra xã hội học

- Phương pháp học, nghiên cứu tài liệu, sách báo.

- Phương pháp xử lý số liệu

- Đi khảo sát tại cơ sở

5 Kết cấu của báo cáo

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung báo cáo gồm

Trang 6

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ XÃ XUÂN LẸ, HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA

1.1 Vị trí địa lý, tình hình kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội

Xuân Lẹ là một xã miền núi nằm ở phía Tây huyện Thường Xuân là một

xã đặc biệt khó khăn, vùng 135 của Chính phủ, có tổng diện tích tự nhiên là 4.407,07ha Phía Tây tiếp giáp với Nghệ An, ba phía Bắc, Đông, Nam đề tiếp giáp với các xã miền núi cao của Thanh Hóa

Tổng dân số toàn xã là 5887 người/1.194 hộ và có 3 dân tộc chính sinh sống trên địa bàn cụ thể như dân tộc Thái: 49,6%; dân tộc Mường: 48,7%; dân tộc Kinh và các dân tộc khác: 1,7%.

Xuân Lẹ là xã gần trung tâm huyện, nên thường có được sự chỉ đạo trực tiếp, kịp thời của cấp trên Phối hợp với cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương

có các chính sách ưu đãi về phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi, giao thông

đi lại thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hoá, chỉ đạo thực hiện thành công để chăn nuôi theo mô hình trang trại, tập huấn theo mô hình trang trại, tập huấn có hiệu quả theo các chương trình dự án về kỹ thuật canh tác trên đất dốc và một lớp học nghề đan lát đã có sản phẩm ban đầu Nhìn chung đời sống của nhân dân được nâng lên rõ rệt.

Bên cạnh những thuận lợi trên thì Xuân Lẹ cũng gặp không ít những khó khăn như: giá cả hàng hoá trên thị trường tăng nhanh, các loại dịch bệnh có nguy cơ xuất hiện trên địa bàn, tình hình thời tiết không ổn định, thường xuyên xảy ra lũ lụt gây thiệt hại nhiều công trình thuỷ lợi, tiếp tục gia tăng nhiều diện tích hạn hán,một bộ phận nhân dân còn chưamạnh dạn đầu tư chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi, các tệ nạn xã hội có xu hướng xuất hiện.

Trước tình hình đó, cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dâna trong xã đã

cố gắng vượt qua tiếp tục chỉ đạo và thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội Đảng các cấp Trong năm qua xã Xuân Lẹ đã đạt được những thành tựu và kết quả như sau:

Trang 7

* Về kinh tế: Xuân Lẹ chủ yếu là sản xuấtnông nghiệp, chăn nuôi và lâm nghiệp.

Cụ thể về trồng trọt: tổng diện tích gieo trồng cả năm là 593,7ha đạt 118,5%.

Về cây lúa: diện tích gieo cấy cả năm là 291 ha, đạt 92,97% kế hoạch, diện tích lúa bị hạn hán là 14,2ha được chuyển qua trồng rau đậu và trồng ngô.

Diện tích cây ngô: 45,5ha, năng suất bình quân đạt 50 tạ/ha, diện tích cây mía: 104ha, diện tích sắn: 120,6ha.

Do có sự chỉ đạo của Đảng uỷ, chính quyền và các ban ngành địa phương, ngày từ đầu năm cùng với nhân dân đã kịp thời khắc phục những khó khăn về thời tiết Chủ động chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh có hiệu quả đem lại năng suất cao và hiệu quả kinh tế cho nhân dân.

* Về chăn nuôi:

Tổng đàn trâu hiện nay có là: 1.621 con, tăng 271 con

Tổng đàn bò: 482 con, tăng 204 con, trong đó bò lai sin là 6con.

Tổng đàn trâu bò đạt 110,6% kế hoạch tăng 21% so với cùng kỳ.

Tổng đàn gia cầm là: 12.852 con đạt 64,16% kế hoạch.

Nhìn chung công tác chăn nuôi đã cơ bản đã thực hiện thắng lợi bước đầu theo tinh thần nghị quyết BTV huyện uỷ, theo đề án phát triển chăn nuôi đại gia súc.

Sản xuất lâm nghiệp: tổng diện tích cây lâm nghiệp là 2.325 ha, trong đó trồng mới được 25ha, đạt 62,5% kế hoạch.

* Về văn hoá: Hoạt động văn hoá thông tin truyền thông ngày càng bám sát vào nhiệm vụ chính trị của xã hội đó là tuyên truyền các chính, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, cuộc vận động toàn dân đoàn

kết xây dựng đời sống văn hoá ở các khu dân cư, nâng cao chất lượng hoạt động của các làng văn hoá đang được đẩy mạnh.

Tổ chức khai trương một làng văn hoá thông Tân Thủy (2007) đưa tổng

số cơ quan văn hoá lên 8 đơn vị Với những thuận lợi và khó khăn trên, Đảng bộ

Trang 8

xã và nhân dân Xuân Lẹ quyết tâm đoàn kết cùng nhau khắc phục những khó khăn, làm cho Xuân Lẹ ngày càng khởi sắc.

1.2 Đặc điểm về kinh tế- xã hội:

- Đặc điểm về kinh tế:

Năm 2015 Đảng uỷ, HĐND, UBND xã tập trung lãnh đạo vận động nhân dân làm thuỷ lợi, xây dựng, gia cố, tôn cao các tuyến đê bao để đảm bảo về diện tích sản xuất lúa 2 vụ và từng bước nâng lên 3 vụ ở những khu vực đủ điều kiện Năm 2004 diện tích sản xuất lúa 2 vụ là 6.800 ha, năng suất bình quân là 5 tấn/ha, sản lượng lúa đạt 32.000 tấn Đến năm 2010 diện tích sản xuất lúa 2 vụ

là 7.538 ha (trong đó có 800 ha sản xuất lúa 3 vụ) năng suất bình quân là 6,37 tấn/ha, sản lượng lúa đạt 47.730,4 tấn tăng đáng kể so với năm 2004

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế cây trồng vật nuôi cũng được quan tâm đầu

tư, trong năm diện tích trồng các loại hoa màu là 28 ha; trong đó, sen là 16,8 ha, dưa hấu 10 ha, ớt 1,2 ha, lợi nhuận trên 50.000đ/ ha Xã hiện đang duy trì và tiếp tục phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm theo hướng an toàn sinh học có sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan thú y; chăn nuôi cá từng bước phát triển tận dụng khai thác lợi thế mùa lũ, chủ yếu là nuôi trong ao hầm, lồng bè.

Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ lần thứ II, UBND xã xác định phải hoàn thành hệ thống tưới tiêu bằng điện để phục vụ sản xuất là nhiệm vụ trọng tâm Trong năm xã đã xây dựng được 04 trạm bơm điện phục vụ tưới tiêu cho 1.450,3 ha chiếm 38,7% diện tích sản xuất toàn xã Đồng thời, triển khai chương trình cơ giới hóa vào sản xuất, thu hoạch, sau thu hoạch và quản lý chống thất thoát được nhân dân đồng tình cao Trong năm, đã có 45% diện tích sản xuất thu hoạch bằng máygặt đập liên hợp, góp phần tích cực vào giảm giá thành sản xuất, hạ tỷ lệ hao hụt, từng bước nâng cao chất lượng hạt lúa

Về giao thông xây dựng cơ bản, năm 2010 xã xây dựng được 01 cây cầu ở Ngã 5 Hồng kỳ, sữa chửa 04 cây cầu ở dọc theo tuyến lộ kênh Lô ba, kinh phí

do nhân dân đóng góp 30% và huyện hỗ trợ 70% Ngoài ra địa phương còn phối hợp với Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng hoàn thành và đưa vào sử dụng 1000 mét lộ đal và 01 căn nhà tình thương cho hộ

Trang 9

nghèo ở ấp 2, tổng kinh phí trên 500 triệu đồng do trường Đại học bách khoa vận động tài trợ…

- Đặc điểm về xã hội:

UBND xã quan tâm chỉ đạo Ban chỉ đạo toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa thường xuyên theo dõi diễn biến về môi trường kịp thời khống chế các loại dịch bệnh có thể xảy ra, từ đó trong những năm qua không xảy ra dịch bệnh gây tác hại nghiêm trọng trên địa bàn xã Công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân có nhiều tiến bộ, mạng lưới y tế cơ sở được tập trung củng cố và kiện toàn, 4/5 ấp điều có tổ y tế Trạm y tế có bác sĩ, nữ hộ sinh phục vụ Công tác khám chữa bệnh cho nhân dân được nâng cao, các chương trình y tế quốc gia được quan tâm thực hiện tốt, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cuối năm 2010 đạt 14,48% Công tác an toàn vệ sinh thực phẩm và vệ sinh môi trường được kiểm tra thường xuyên nên hạn chế được các loại dịch bệnh xảy ra.

Tiếp tục thực hiện tốt cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, trong năm 2015 có 991 hộ đạt chuẩn gia đình văn hoá chiếm tỷ lệ 86,93% Ấp đạt chuẩn văn hóa là 03/05 ấp, chiếm tỷ lệ 60% Toàn

xã có 52 hộ gia đình chính sách, 204 hộ nghèo, 59 hộ cận nghèo; trong năm cũng đã cất 22 căn nhà cho hộ nghèo theo Quyết định 167 của Chính phủ.

Hiện nay xã có 01 bưu điện văn hóa, gồm 10 máy vi tính được kết nối Internet; 01 trạm truyền thanh, công suất 1200W với 20 loa phóng, chủ yếu tiếp

âm các đài cấp trên nhằm tuyên truyền Chủ trương đường lối của Đảng, Chính sách pháp luật của Nhà nước và những việc làm thiết thực của địa phương; toàn

xã có một sân bóng đá mini tại trung tâm xã và 05 sân bóng chuyền của 05 ấp đảm bảo có sân rèn luyện thể dục, thể thao cho nhân dân trong xã.

- Về Quốc phòng- An ninh:

Trong năm, tình hình an ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội xảy

ra 6 vụ trong đó, huỹ hoại tài sản 02 vụ, trộm cắp tài sản 03 vụ và xâm hại sức khẻ, tính mạng người khác 01 vụ ngành công an đã phát hiện và xử lý kịp thời theo pháp luật Ngoài ra, ngành Công an đã phối hợp với ngành Quân sự xã tuần tra giao thông đường bộ, nhằm hạn chế tình trạng vi phạm an toàn giao thông.

Trang 10

Năm 2015, ngành quân sự xã đã tổ chức xét duyệt chính trị cho thanh niên trong độ tuổi từ 18 – 25 cho 344 thanh niên, trong đó có 30 thanh niên đủ điều kiện bình nghị và đã tuyển 5 thanh niên được bình nghị lên đường nhập ngũ đạt 100% chỉ tiêu trên giao Ngành cũng đã trực sẳn sàn chiến đấu tại chỗ, tổ chức tốt công tác huấn luyện cho lực lượng Dân quân tự vệ và Dự bị động viên được trên đánh giá cao.

Trang 11

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THEO CƠ CHẾ MỘT CỬA TẠI UBND

XÃ XUÂN LẸ, HUYỆN THƯỜNG XUÂN, TỈNH THANH HÓA

2.1 Khái quát về cơ chế một cửa

2.1.1 Khái niệm cơ chế một cửa

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng ta đã chỉ rõ sự cần thiết phải cải cách thủ tục hành chính, coi đây là một giải pháp quan trọng góp phần đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội Yêu cầu chung của cải cách thủ tục hành chính là giảm bớt thủ tục hành chính rườm rà và phức tạp, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn và cản trở việc giải quyết công việc chung, làm ảnh hưởng đến quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức, công dân Cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” là một giải pháp đổi mới về phương thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương các cấp, nhằm tạo chuyển biến cơ bản trong quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức, công dân

Nhận rõ mục đích, ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác cải cách thủ tục hành chính, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 38/CP ngày 4-5-1994 về cải cách một bước thủ tục hành chính mà mục tiêu quan trọng là hướng đến việc giải quyết tốt hơn các công việc của công dân, tổ chức, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp Cùng với yêu cầu phát triển và hội nhập, cải cách thủ tục hành chính ở nước ta từng bước được định hình về nội dung, phương hướng triển khai với những bước đi, cách làm nhằm bảo đảm bộ máy hành chính phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Trên lộ trình thực hiện Nghị quyết 38/CP của Chính phủ, cơ chế “một cửa” đã ra đời và được thí điểm rộng rãi trên cả nước.

“Cơ chế “một cửa” là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân bao gồm

cả tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước, từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối duy nhất là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan hành chính nhà nước đó” Việc cải cách theo hướng đơn giản

Trang 12

hóa thủ tục hành chính gắn với việc thực hiện cơ chế “một cửa”, được triển khai mạnh trong quá trình thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001–2010, tiếp sau đó là giai đoạn 2011-20120 Theo chủ trương đó, Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 4-9-2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương ra đời, đã tạo ra một cách thức giải quyết công việc hiệu quả cho công dân, tổ chức, đã thể chế hóa mối quan hệ giữa chính quyền và công dân thông qua việc thực hiện cơ chế “một cửa” Khi cơ chế

“một cửa” ra đời, thay vì việc công dân tổ chức khi muốn giải quyết hồ sơ hành chính thì phải tự mình đi liên hệ với nhiều bộ phận chuyên môn khác nhau của

cơ quan hành chính nhà nước thì nay công dân, tổ chức chỉ cần tới Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan hành chính nhà nước thuộc lĩnh vực chuyên môn đó nộp hồ sơ và nhận phiếu hẹn chờ ngày nhận kết quả hồ sơ, còn các công việc liên hệ làm việc với các phòng ban chuyên môn thì thuộc trách nhiệm của

cơ quan hành chính tiếp nhận hồ sơ đó Mô hình “một cửa” ra đời nhanh chóng được triển khai và nhân rộng khắp các địa phương trong cả nước, được người dân hoan nghênh, hưởng ứng do hiệu quả tích cực của mô hình này mang lại Có thể nhận thấy, cơ chế “một cửa” là giải pháp đổi mới hữu hiệu về phương thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương các cấp, nhằm tạo chuyển biến cơ bản trong quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức và công dân, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, giảm phiền hà, chi phí, thời gian, công sức; đồng thời, điều chỉnh một bước về tổ chức bộ máy và đổi mới, cải tiến chế độ làm việc và quan hệ công tác trong cơ quan hành chính nhà nước.

2.1.2 Nguyên tắc thực hiện cơ chế một cửa.

Việc tuân thủ các nguyên tắc này khi thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” là rất cần thiết và không thể thiếu nhằm đảm bảo thực hiện thống nhất, chính xác, có hiệu quả cơ chế “một cửa” tại tất cả các cơ quan hành chính nhà nước.Các nguyên tắc đó là:

Thứ nhất, thủ tục hành chính đơn giản, rõ ràng, đúng pháp luật.

Trang 13

Thứ hai, công khai các thủ tục hành chính, mức thu phí, lệ phí, giấy tờ, hồ

sơ và thời gian giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân.

Thứ ba, nhận yêu cầu và trả kết quả tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Thứ tư, bảo đảm giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện cho tổ chức, cá nhân.

Thứ năm, đảm bảo sự phối hợp giải quyết công việc giữa các bộ phận, cơ quan hành chính nhà nước để giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân.

2.1.3 Phạm vi và quy trình thực hiện cơ chế một cửa

Cơ chế “một cửa” được áp dụng đối với các cơ quan quy định tại khoản 1 Điều 3 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 93 /2007/QĐ-TTg, ngày 22-6 -2007 của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ các quy định của pháp luật và tình hình thực tế của địa phương quyết định những loại công việc thực hiện theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” để giải quyết một số lĩnh vực công việc liên quan trực tiếp tới tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật cùng thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước Bao gồm các cơ quan sau:

- Văn phòng UBND, các sở và cơ quan tương đương (sau đây gọi là cơ quan chuyên môn cấp tỉnh) thuộc UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là UBND cấp tỉnh);

- UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi là UBND cấp huyện);

- Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là UBND cấp xã);

- Các cơ quan được tổ chức và quản lý theo hệ thống dọc đặt tại địa phương của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.

2.2 Thực trạng cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tại UBND xã Xuân Lẹ, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa

2.2.1 Căn cứ pháp lý để tổ chức Bộ phận “một cửa” tại UBND xã Xuân Lẹ

Thực hiện Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg, ngày 17-9-2001 về phê duyệtchương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001- 2010; Quyết định181/2003/QĐ-TTg, ngày 04-9-2003 về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một

Trang 14

cửa” tại cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương; Quyết định 93/2007/QĐ-TTg,ngày 22-6-2007 về việc ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” liên thông tại

cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Thanh Hóa đã xâydựng và ban hành hàng loạt các đề án, quyết định để triển khai áp dụng mô hình giảiquyểt công việc theo cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông” trên địa bàn toàn tỉnh

đó là:

- Quyết định 1367/ QĐ- UB ngày 08-6-2007 về việc phê duyệt kế hoạch triểnkhai thực hiện nhiệm vụ đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực Quản lýNhà nước tỉnh Thanh Hóa 2007- 2010

- Quyết định số 1248/2008/QĐ-UB ngày 25-6-2008 của UBND tỉnh ThanhHóa về việc ban hành quy định phân công, phân cấp quản lý tổ chức bộ máy và CB,

CC, viên chức nhà nước

- Quyết định số 2197/2007/QĐ-UB ngày 19-9-2007 của UBND tỉnh Thanh Hóa

về việc thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa” liên thông tại cơ quan hành chính nhànước trên địa bàn tỉnh

- Quyết định số 1130/2006/QĐ-UB ngày 26-5-2006 của UBND tỉnh Thanh Hóa

về việc ban hành Quy trình, thủ tục giải quyết công việc theo cơ chế “một cửa” tạiUBND cấp xã

- Quyết định số 328/QĐ-UB ngày 21-7-2003 của UBND tỉnh Thanh Hóa thànhlập Bộ phận tiếp nhận và hoàn trả hồ sơ hành chính

- Quyết định 1367/QĐ-UB ngày 08-6-2007 về việc phê duyệt kế hoạch triểnkhai thực hiện nhiệm vụ đơn giản hoá thủ tục hành chính trên các lĩnh vực Quản lýNhà nước tỉnh Thanh Hóa 2007- 2010

Trên cơ sở những căn cứ pháp lý nêu trên, UBND xã Xuân Lẹ đã triển khai xâydựng và thực hiện Đề án cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” gắn liềnvới công tác cải cách hành chính của địa phương Đồng thời, xây dựng quy chế hoạtđộng và làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ hành chính cũng như sựphối kết hợp giữa các phòng ban chuyên môn trong việc giải quyết hồ sơ hành chínhcho công dân, tổ chức, đảm bảo đúng, đủ, kịp thời, công khai, minh bạch trong việcgiải quyết hồ sơ hành chính của công dân, bước đầu đã mang lại những thay đổi tíchcực trong việc giải quyết thủ tục hành chính cho công dân, được nhân dân tin tưởng vàủng hộ

Trang 15

2.2.2 Tổ chức và hoạt động của Bộ phận “một cửa” tại UBND xã Xuân Lẹ

Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên Tỉnh uỷ, UBND tỉnhThanh Hóa và UBND huyện Thường Xuân đã xây dựng và ban hành hàng loạt các đề

án, quyết định để triển khai áp dụng mô hình giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế

“một cửa” trên địa bàn toàn tỉnh và UBND huyện Thường Xuân UBND huyện đã chỉđạo các phòng chuyên môn tiến hành rà soát lại các quy trình thủ tục theo quy định vềthời gian, các khoản thu phí, lệ phí… qua đó điều chỉnh cho phù hợp Đồng thời, hệthống lại chức năng, nhiệm vụ của các phòng để xác định mức độ trách nhiệm của cáctrưởng phòng, ban chuyên môn Trên cơ sở đó UBND huyện ban hành quy định tạmthời thực hiện các thủ tục hành chính và trình tự giải quyết hành chính tại bộ phận tiếpnhận và hoàn trả hồ sơ; Tiến hành mẫu hoá các quy trình, thủ tục để công khai tại bộphận “một cửa” các lĩnh vực đã được UBND tỉnh phê duyệt UBND huyện đã chỉ đạotập trung cho công tác nhân sự, lựa chọn cán bộ có trình độ, am hiểu về các thủ tụchành chính của các phòng ban, cán bộ có ý thức tổ chức kỷ luật tốt, có khả năng tiếpdân, để thành lập bộ phận tiếp nhận và hoàn trả hồ sơ hành chính,

Tháng 5 năm 2006, UBND xã Xuân Lẹ đã thành lập bộ phận tiếp nhận hồ sơ vàtrả kết quả theo cơ chế một cửa Đây là một thay đổi căn bản bước đầu trong giao dịchcủa người dân với các phòng ban của UBND xã Người dân không phải đi qua nhiềuphòng, ban mà chỉ cần nộp hồ sơ tại bộ phận một cửa và chờ giải quyết , điều nàytránh được phiền hà, nhũng nhiễu và những tiêu cực có thể phát sinh, vì vậy đã được

dư luận đồng tình ủng hộ

2.2.3 Quy trình thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa”

Tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ hành chính của UBND xã, mô hình

“một cửa” được thực hiện theo quy trình khép kín Công dân đến giải quyết thủ tụchành chính nộp hồ sơ tại bộ phận tiếp nhận hồ sơ của bộ phận một cửa, cán bộ chuyênmôn tiếp nhận hồ sơ và gửi đến cán bộ chuyên môn để hẹn lịch trả kết quả, cán bộchuyên môn giải quyết hồ sơ theo quy định và trả về nơi tiếp nhận hồ sơ để trả kết quảcho công dân đúng lịch hẹn

Quy trình giải quyết các công việc được diễn giải như sau:

Tiếp nhận hồ sơ:

Khi tiếp nhận hồ sơ của tổ chức cũng như của công dân; CB, CC của Bộ phậntiếp nhận và trả kết quả có trách nhiệm:

Trang 16

- Xem xét, kiểm tra kỹ các loại giấy tờ cần thiết của từng loại hồ sơ;

- Hướng dẫn việc kê khai, bổ sung (nếu thiếu);

- Tiếp nhận các hồ sơ đã được kiểm tra đúng yêu cầu, viết phiếu hẹn trả kết quảtheo quy định

- Những hồ sơ thuộc các lĩnh vực được quy định giải quyết tại Bộ phận tiếpnhận và trả kết quả theo cơ chế “một cửa” cho công dân và tổ chức thì các phòng, banchuyên môn không trực tiếp nhận Hồ sơ không có kiểm tra xác nhận của Bộphận”một cửa” được coi là không đủ điều kiện để xem xét

Xem xét giải quyết hồ sơ của các, ban chuyên môn liên quan:

- Trưởng các ban chuyên môn chịu trách nhiệm giải quyết các hồ sơ thuộcquyền hạn của mình, ban do Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả chuyển đến

- Hồ sơ liên quan đến nhiều ban chuyên môn thì cần xem xét nội dung chủ yếuliên quan đến ban chuyên môn nào để báo cáo UBND xã quy định trách nhiệm phốihợp giải quyết

Thẩm quyền ký giải quyết công việc

- Thẩm quyền ký thuộc Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND xã thì các banchuyên môn trình Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch ký thông qua Văn phòng HĐND vàUBND

Trả kết quả

Sau khi nhận hồ sơ đã giải quyết của các ban chuyên môn, các cán bộ thụ lýtrực tiếp mang hồ sơ đến Bộ phận Văn thư để đóng dấu; ghi sổ theo dõi; cập nhậtthông tin vào máy tính; hướng dẫn cách nộp phí, lệ phí theo quy định và trả kết quả hồ

sơ theo đúng ngày ghi trên giấy biên nhận hồ sơ

Những hồ sơ không đủ điều kiện giải quyết hoặc cần có thêm thời gian đểnghiên cứu thêm thì các ban chuyên môn cần thông báo bằng văn bản về lý do cụ thể

và chuyển đến Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả để thông báo cho tổ chức hoặc côngdân được biết và viết phiếu hẹn lại

2.2.4 Hệ thống thủ tục hành chính giải quyết theo cơ chế “một cửa” tại UBND xã Xuân Lẹ

UBND xã Xuân Lẹ thực hiện cơ chế “một cửa” vào tháng 5/2006 để thực hiệncải cách thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” Bao gồm 03 lĩnh vực sau:

- Lĩnh vực địa chính – xây dựng, giao thông – thủy lợi- môi trường

Ngày đăng: 17/07/2017, 13:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w