Để có thể khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên du lịch thì cần phải tiến hành đánh giá các điều kiện tự nhiên ĐKTN và tài nguyên nhằm xác định mức độ thuận lợi hay thích hợ
Trang 1PHẠM THU THỦY
§¸NH GI¸ C¸C §IÒU KIÖN Tù NHI£N Vµ TµI NGUY£N DU LÞCH
TR£N QUAN §IÓM PH¸T TRIÓN BÒN V÷NG
Chuyên ngành: Địa lí tự nhiên
Mã số: 62.44.02.17
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Trung Lương
Hà Nội – 2017
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả
Trang 3dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Trung Lương Tác giả xin bày
tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy hướng dẫn, người đã chỉ bảo tận tình tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận án
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Phòng Sau đại học, Ban chủ nhiệm Khoa Địa lí Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội, Ban chủ nhiệm Khoa Địa lí Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả có cơ hội phấn đấu vươn lên trong công tác cũng như trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Kạn; Ban lãnh đạo các khu du lịch: VQG Ba Bể, suối khoáng Mỹ Lâm, khu du lịch hồ Núi Cốc…
đã tận tình giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập tài liệu và đi thực địa tại địa phương Cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các nhà khoa học trong khoa Địa lí Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Địa lí – Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch – Tổng cục Du lịch Việt Nam… đã có những nhận xét, góp ý xây dựng luận án trong quá trình nghiên cứu
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đối với sự giúp
đỡ, động viên của gia đình, người thân và bạn bè trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận án
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Trang 51 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Giới hạn nghiên cứu đề tài 3
4 Các luận điểm bảo vệ 3
5 Những điểm mới của luận án 4
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 4
7 Cơ sở tài liệu 5
8 Cấu trúc luận án 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU,
ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG 6
1.1 Tổng quan tài liệu 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Tại Việt Nam 9
1.1.3 Tại địa bàn nghiên cứu 13
1.2 Cơ sở lí luận 15
1.2.1 Một số khái niệm về du lịch 15
1.2.4 Phát triển du lịch bền vững 23
1.2.5 Hệ thống các quan điểm nghiên cứu 29
1.2.6 Nguyên tắc và phương pháp đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho phát triển du lịch 33
1.3 Phương pháp nghiên cứu 38
1.3.1 Hệ phương pháp nghiên cứu chung 38
1.3.2 Phương pháp đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch 39
Trang 6Tiểu kết chương 1 44
Chương 2 ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN -
TÀI NGUYÊN DU LỊCH CHO PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG LÃNH THỔ THÁI NGUYÊN – TUYÊN QUANG – BẮC KẠN 45
2.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch tự nhiên lãnh thổ Thái Nguyên – Tuyên Quang – Bắc Kạn 46
2.1.1 Vị trí địa lí 46
1.1.2 Địa hình 46
2.1.3 Khí hậu 48
2.1.4 Thủy văn 60
2.1.5 Sinh vật 61
2.2 Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch cho phát triển du lịch 64
2.2.1 Đánh giá cho du lịch tham quan 64
2.2.2 Đánh giá cho du lịch nghỉ dưỡng 78
2.2.3 Đánh giá cho du lịch sinh thái 86
2.2.4 Đánh giá chung cho 3 loại hình du lịch 89
Tiểu kết chương 2 92
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG LÃNH THỔ THÁI NGUYÊN – TUYÊN QUANG – BẮC KẠN 93
3.1 Hiện trạng phát triển du lịch và những vấn đề đặt ra trong khai thác tài nguyên du lịch lãnh thổ TN – TQ – BK trên quan điểm bền vững 93
3.1.1 Hiện trạng phát triển du lịch 93
Trang 73.2 Định hướng phát triển du lịch lãnh thổ Thái Nguyên – Tuyên Quang
– Bắc Kạn 105
3.2.1 Cơ sở xây dựng định hướng 105
3.2.2 Định hướng phát triển du lịch bền vững lãnh thổ Thái Nguyên - Tuyên Quang - Bắc Kạn 107
3.3 Giải pháp phát triển du lịch bền vững lãnh thổ TN – TQ – BK 116
3.3.1 Khai thác hợp lý, bảo tồn và tôn tạo tài nguyên du lịch 116
3.3.2 Ưu tiên phát triển các loại hình du lịch lợi thế của lãnh thổ 117
3.3.3 Giải pháp quy hoạch cho phát triển du lịch 118
3.3.4 Giải pháp phát triển hạ tầng 119
3.3.5 Giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu để góp phần đảm bảo phát triển du lịch bền vững 120
3.3.6 Một số giải pháp khác 121
Tiểu kết chương 3 125
KẾT LUẬN 126
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ 128
TÀI LIỆU THAM KHẢO 129
PHỤ LỤC
Trang 8BK( 0 C) 50
Bảng 2.2 Lượng mưa trung bình tháng và năm các trạm lãnh thổ TN – TQ – BK (mm) 51
Bảng 2.3 Độ ẩm trung bình của các tháng trong năm tại TN – TQ – BK (%) 52
Bảng 2.4 Chỉ tiêu và phân cấp nhiệt độ trung bình năm 55
Bảng 2.5 Chỉ tiêu và phân cấp độ dài mùa lạnh 56
Bảng 2.6 Chỉ tiêu và phân cấp lượng mưa trung bình năm 56
Bảng 2.7 Chỉ tiêu và phân cấp số ngày mưa 57
Bảng 2.8 Hệ chỉ tiêu tổng hợp đánh giá điều kiện sinh khí hậu TN – TQ – BK 58
Bảng 2.9 Đánh giá mức độ thuận lợi của kiểu địa hình cho phát triển DLTQ 65 Bảng 2.10 Chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi của các loại sinh khí hậu cho DLTQ 66
Bảng 2.11 Đánh giá tổng hợp theo các loại sinh khí hậu cho DLTQ 67
Bảng 2.12 Kết quả đánh giá mức độ thuận lợi của các loại sinh khí hậu cho DLTQ 67
Bảng 2.13 Đánh giá mức độ thuận lợi của tài nguyên sinh vật cho phát triển DLTQ 68
Bảng 2.14 Đánh giá mức độ thuận lợi của thắng cảnh tự nhiên cho phát triển DLTQ 69
Bảng 2.15 Đánh giá tổng hợp cho phát triển DLTQ 70
Bảng 2.16 Đánh giá giá trị phát triển du lịch của các điểm thắng cảnh 74 Bảng 2.17 Chỉ tiêu đánh giá mức độ thuận lợi của các loại sinh khí hậu cho DLND 78
Bảng 2.18 Đánh giá tổng hợp theo các loại sinh khí hậu cho DLND 79
Trang 9Bảng 2.20 Đánh giá mức độ thuận lợi của địa hình cho phát triển DLND 80
Bảng 2.21 Đánh giá tổng hợp cho phát triển DLND 81
Bảng 2.22 Đánh giá tổng hợp cho phát triển DLST 87
Bảng 2.23 Phân cấp đánh giá mức độ thuận lợi của 3 loại hình du lịch 89 Bảng 3.1 Khách du lịch đến các địa phương TN- TQ - BK giai đoạn 2010 - 201594 Bảng 3.2 Thu nhập du lịch các địa phương TN – TQ - BK giai đoạn 2010 – 2015 95
Trang 10Hình 1.2 Quan niệm về phát triển bền vững 25
Hình 1.3 Sơ đồ đánh giá ĐKTN – TNDL theo quan điểm tổng hợp 30
Hình 1.4 Sơ đồ hệ thống mối quan hệ giữa hệ TN, dân cư xã hội, du lịch 31
Hình 1.5 Sơ đồ quy trình các bước thực hiện luận án 45
Hình 2.1 BĐ vị trí – hành chính lãnh thổ TN – TQ – BK 47
Hình 2.2 BĐ địa hình lãnh thổ TN – TQ – BK 48
Hình 2.3 BĐ nhiệt độ trung bình năm lãnh thổ TN – TQ – BK 51
Hình 2.4 BĐ lượng mưa trung bình năm lãnh thổ TN – TQ – BK 52
Hình 2.5 BĐ phân loại SKH sức khỏe con người lãnh thổ TN – TQ – BK 60
Hình 2.6 BĐ các kiểu thảm thực vật lãnh thổ TN – TQ – BK 64
Hình 2.7 BĐ đánh giá địa hình lãnh thổ TN – TQ – BK phục vụ phát triển DLTQ 72
Hình 2.8 BĐ đánh giá SKH lãnh thổ TN – TQ – BK phục vụ phát triển DLTQ 79 73
Hình 2.9 BĐ đánh giá tài nguyên sinh vật lãnh thổ TN – TQ – BK phục vụ phát triển DLTQ 74
Hình 2.10 BĐ đánh giá thắng cảnh lãnh thổ TN – TQ – BK phục vụ phát triển DLTQ 76
Hình 2.11 BĐ đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNDL lãnh thổ TN – TQ – BK phục vụ phát triển DLTQ 78
Hình 2.12 BĐ đánh giá SKH lãnh thổ TN- TQ -BK phục vụ phát triển DLND 83
Hình 2.13 BĐ đánh giá địa hình lãnh thổ TN – TQ – BK phục vụ phát triển DLND 84
Hình 2.14 BĐ đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNDL lãnh thổ TN – TQ – BK phục vụ phát triển DLND 86
Hình 2.15 BĐ đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNDL lãnh thổ TN – TQ – BK phục vụ phát triển DLST 89
Hình 2.16 BĐ đánh giá chung cho 3 loại hình du lịch 92
Hình 3.1 BĐ định hướng không gian phát triển và tuyến điểm du lịch TN – TQ – BK 115
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch là ngành kinh tế có sự định hướng tài nguyên rất rõ ràng Tài nguyên có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo ra hiệu quả kinh tế cũng như ảnh hưởng tới việc tổ chức không gian lãnh thổ du lịch, hình thành các điểm, cụm, tuyến du lịch Để có thể khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên du lịch thì cần phải tiến hành đánh giá các điều kiện tự nhiên (ĐKTN)
và tài nguyên nhằm xác định mức độ thuận lợi (hay thích hợp) của tài nguyên đối với phát triển du lịch nói chung và từng loại hình du lịch nói riêng
Trong bối cảnh tài nguyên và môi trường tự nhiên ở Việt Nam nói chung, ở vùng trung du miền núi phía Bắc nói riêng đang đối mặt với sự suy thoái và xuống cấp dưới tác động của con người và biến đổi khí hậu (BĐKH), việc đánh giá các ĐKTN và tài nguyên du lịch (TNDL) trên quan điểm phát triển bền vững là một phương thức tiếp cận quan trọng, góp phần tích cực vào phát triển du lịch bền vững lãnh thổ, đặc biệt đối với những lãnh thổ vùng sâu, vùng xa, nơi có tiềm năng du lịch song cuộc sống của cộng đồng còn nhiều khó khăn, phụ thuộc nhiều vào khai thác tự nhiên
Lãnh thổ Thái Nguyên – Tuyên Quang – Bắc Kạn (TN – TQ – BK) thuộc vùng trung du miền núi Bắc Bộ, nằm trong tiểu vùng du lịch Đông Bắc So với các tỉnh còn lại trong tiểu vùng thì lãnh thổ 3 tỉnh TN – TQ – BK có tiềm năng
du lịch đa dạng hơn và sự phân hóa về ĐKTN ở địa bàn này cũng thể hiện rõ rệt hơn vì vừa mang đặc điểm của vùng núi cao lại vừa mang đặc điểm của khu vực trung du Các tiềm năng du lịch tiêu biểu của lãnh thổ như: hồ Núi Cốc (TN), vườn quốc gia (VQG) Ba Bể gắn với hồ Ba Bể (BK); khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Na Hang (TQ), khu di tích lịch sử - cách mạng ATK (TN), Tân Trào (TQ) v.v… Đặc biệt, VQG Ba Bể hiện nay đã được công nhận là vườn di sản
Trang 12ASEAN Ngoài ra, TQ còn có điểm nước khoáng Mỹ Lâm có giá trị đặc biệt trong phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng (DLND) Việc đánh giá ĐKTN cho phát triển du lịch cần lựa chọn lãnh thổ có sự đa dạng về tài nguyên nên việc lựa chọn lãnh thổ này sẽ mang tính đại diện
Trên thực tế, từ lâu Thái Nguyên cũng được coi là trung tâm du lịch của vùng, là địa bàn có vị thế quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của trung
du miền núi Bắc Bộ cũng như của cả nước song lại ít có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch do giao thông đi lại chưa thuận tiện Đứng dưới góc độ bền vững, lãnh thổ 3 tỉnh TN – TQ – BK là nơi chịu tác động mạnh của hoạt động phát triển kinh tế cũng như sự tác động của trung tâm Hà Nội nên các giá trị tự nhiên, đặc biệt là cảnh quan thiên nhiên, đa dạng sinh học và môi trường đang
bị xuống cấp, ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững của lãnh thổ nhưng
đến nay chưa được xác định một cách rõ ràng Việc nghiên cứu đề tài “Đánh
giá các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch lãnh thổ Thái Nguyên - Tuyên Quang - Bắc Kạn trên quan điểm phát triển bền vững” sẽ góp phần làm rõ
những vấn đề thiếu bền vững trong hoạt động du lịch cũng như đề ra những định hướng cho sự phát triển du lịch bền vững của lãnh thổ
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu, đánh giá ĐKTN, TNDL, xây dựng cơ sở khoa học cho phát triển bền vững du lịch lãnh thổ TN – TQ – BK
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan cơ sở lý luận và phương pháp đánh giá tổng hợp các ĐKTN
và TNDL làm căn cứ để hình thành quan điểm và phương pháp đánh giá vận dụng trong đề tài
- Đánh giá các ĐKTN, TNDL; Hiện trạng phát triển du lịch lãnh thổ TN –
TQ – BK và những vấn đề đặt ra ảnh hưởng đến tính bền vững trong phát triển
du lịch của lãnh thổ
Trang 13- Nghiên cứu đề xuất tổ chức lãnh thổ du lịch TN – TQ – BK trên quan điểm khai thác có hiệu quả các điều kiện và giá trị TNDL hướng tới mục tiêu phát triển bền vững
- Nghiên cứu đề xuất hệ thống các giải pháp cho phát triển du lịch bền
vững lãnh thổ TN – TQ – BK
3 Giới hạn nghiên cứu đề tài
- Về lãnh thổ nghiên cứu
Giới hạn trong lãnh thổ 3 tỉnh TN, TQ và BK
- Về đối tượng nghiên cứu
+ ĐKTN và TNDL tự nhiên (trong một số phân tích có thể đề cập đến TNDL nhân Văn), hiện trạng phát triển du lịch, tổ chức lãnh thổ du lịch và các giải pháp gắn với phát triển du lịch bền vững
+ Tiến hành đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNDL để xác định mức độ thuận lợi của tài nguyên đối với phát triển 3 loại hình du lịch được lựa chọn: DLTQ, DLND, DLST
- Về thời gian
Luận án nghiên cứu, phân tích các số liệu về tự nhiên, kinh tế - xã hội (KT – XH) và du lịch của lãnh thổ TN – TQ – BK trong giai đoạn 2010 đến nay, có xem xét các số liệu dự báo đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
4 Các luận điểm bảo vệ
Luận điểm 1: Lãnh thổ TN – TQ – BK có ĐKTN, TNDL đa dạng, phong phú, đặc thù cho khu vực vùng núi và trung du Bắc Bộ; Đây vừa là tiềm năng vừa là lợi thế cạnh tranh cho phát triển các loại hình du lịch đặc thù của lãnh thổ trong hiện tại và tương lai
Luận điểm 2: Lãnh thổ TN – TQ – BK có lợi thế phát triển 3 loại hình du lịch: DLTQ, DLND, DLST dựa trên tính đặc trưng của ĐKTN và TNDL tự nhiên Kết quả đánh giá cho thấy mức độ thuận lợi của ĐKTN, TNDL tự
Trang 14nhiên cũng như các yếu tố tác động đến tính bền vững của 3 loại hình du lịch trên Đó là cơ sở khoa học quan trọng để đề xuất các định hướng và giải pháp khai thác hợp lý, có hiệu quả nguồn tài nguyên nhằm mục tiêu phát triển du
lịch bền vững
5 Những điểm mới của luận án
- Thành lập được bản đồ phân loại sinh khí hậu (SKH) lãnh thổ TN – TQ – BK và các bản đồ đánh giá thành phần, bản đồ đánh giá chung về tài nguyên cho phát triển 3 loại hình du lịch: tham quan, nghỉ dưỡng, sinh thái ở tỷ lệ 1/100.000
- Xác định các mức độ thuận lợi phát triển đối với từng loại hình du lịch
và điểm du lịch dựa trên hệ thống các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá ĐKTN và TNDL ở lãnh thổ TN – TQ – BK
- Đề xuất định hướng và một số các giải pháp phát triển du lịch phù hợp với các đặc điểm về ĐKTN, TNDL, môi trường sinh thái và các điều kiện KT – XH của lãnh thổ nghiên cứu nhằm đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững trên lãnh thổ nghiên cứu
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa khoa học
Các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần hệ thống hóa những vấn đề
lí luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu về đánh giá mức độ thuận lợi của các ĐKTN, TNDL trong mối quan hệ với tác động của phát triển KT - XH và BĐKH để phục vụ mục tiêu phát triển du lịch bền vững của lãnh thổ
- Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả nghiên cứu của luận án, với hệ thống các bản đồ đánh giá, các đề xuất kiến nghị sẽ là cơ sở giúp cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách và các nhà quy hoạch trong quá trình xác định định hướng tổ
Trang 15chức không gian lãnh thổ du lịch của TN – TQ – BK phù hợp với thực tiễn và đảm bảo tính bền vững trong sử dụng tiềm năng TNDL của lãnh thổ
7 Cơ sở tài liệu
Luận án được thực hiện trên cơ sở các nguồn tài liệu do nghiên cứu sinh thu thập được trong suốt quá trình thực hiện luận án, bao gồm:
- Các công trình dự án, các đề tài, báo cáo khoa học nghiên cứu về ĐKTN, TNDL của TN – TQ – BK
- Các số liệu thống kê, báo cáo quy hoạch phát triển KT – XH, du lịch của các Sở, Ban, Ngành: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân của các tỉnh TN, TQ, BK, Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch, Viện Điều tra Quy hoạch phát triển rừng
- Các tư liệu ghi chép và các ảnh chụp của tác giả trong quá trình đi thực địa tại địa bàn nghiên cứu
- Nguồn bản đồ bao gồm: Bản đồ địa hình, bản đồ thảm thực vật ở tỉ lệ 1:100.000 và bản đồ quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh TN, tỉnh TQ, tỉnh
BK (tỉ lệ 1:320.000)
8 Cấu trúc luận án
Luận án được trình bày trong 127 trang, gồm 17 bản đồ, 25 bảng biểu, 5 hình - sơ đồ, 124 tài liệu tham khảo và 4 phụ lục Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận - phương pháp nghiên cứu, đánh giá các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch bền vững
Chương 2: Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch cho phát triển du lịch bền vững lãnh thổ TN – TQ – BK
Chương 3: Định hướng và những giải pháp phát triển du lịch bền vững lãnh thổ TN – TQ – BK
Trang 16Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN DU LỊCH
- Tại Liên Xô cũ và các nước Đông Âu
Vào thập kỷ 60 – 70 ở Nga và các nước Đông Âu đã có nhiều công trình nghiên cứu, đánh giá TNDL Công trình tiêu biểu của I.A Vedenhin và N.N Misônhitrencô đã đánh giá toàn bộ các tiêu chí tự nhiên làm tiền đề cho việc
tổ chức các vùng DLND [117]
L.I.Mukhina (1973) trong công trình đánh giá phục vụ du lịch tại vùng
hồ Xelighe đã sử dụng đơn vị cơ sở là hệ thống tự nhiên trên đất liền hay dưới nước thuận lợi cho một dạng hay nhóm dạng nghỉ ngơi nào đó Việc xác định những yếu tố tự nhiên như tính chất trầm tích, yếu tố địa hình (độ cao, độ dốc, tần suất khúc ngoặt…), kiểu đất, thực vật (kiểu thực bì, độ cao cây cỏ, độ chiếu tán, loài cây đang tái sinh…) làm cơ sở phân hóa không gian của lãnh thổ vùng hồ cho các dạng nghỉ ngơi [118]
E.E.Phêrôrốp đề xuất phương pháp đánh giá khí hậu tổng hợp bằng các tổ hợp thời tiết và đã được các tác giả Subukốp, I.X.Kanđôrốp, D.N.Đêmina… hoàn thiện Phương pháp này dựa trên cơ sở phân loại thời tiết trong đánh giá SKH, qua đó xây dựng tổ hợp các kiểu thời tiết đặc trưng trong ngày với các mức độ khác nhau đến sức khỏe con người cũng như đến các hoạt động du lịch Đây là công trình nghiên cứu về SKH con người có giá trị sử dụng của các nhà khí hậu trên thế giới
Trang 17A.G.Ixatsenko (1985) căn cứ vào sự đa dạng của môi trường, mức độ thích hợp của các điều kiện khí hậu, môi trường địa lí, điều kiện vệ sinh và các thuộc tính tự nhiên khác đặc trưng để xác định mức độ thích hợp cho mỗi loại hình du lịch, đồng thời đánh giá ảnh hưởng của ĐKTN, TNTN đến các công trình du lịch
I.I.Pirôjnhic (1985) đã tiến hành đánh giá tổng hợp TNDL, cấu trúc các luồng khách và cơ sở vật chất phục vụ du lịch theo các vùng và các đới du lịch nghỉ dưỡng Công trình này đã đề cập rất nhiều đến hoạt động khai thác lãnh thổ du lịch và không gian du lịch [119]
Kế thừa các nghiên cứu của các học giả Liên Xô (cũ), các nhà khoa học Bungari đã phát triển cả về phương pháp luận cũng như thực tiễn nghiên cứu Các công trình nghiên cứu dựa trên các tiêu chí về vị trí địa lí, ĐKTN, giao thông; Xây dựng mô hình đánh giá tài nguyên tự nhiên cho mục đích du lịch; Đánh giá các nguồn nước khoáng nóng nhằm phục vụ quy hoạch phát triển DLND và chữa bệnh [120 - 124]
- Tại các nước châu Á
Một số nước ở châu Á như: Ấn Độ, Nhật Bản, từ những năm 70 của thế
kỉ trước do chịu ảnh hưởng lớn của trường phái địa lí Liên Xô (cũ) nên các công trình đánh giá về ĐKTN và TNDL cũng chủ yếu theo hướng phân loại, kiểm kê đánh giá các thành phần tự nhiên để xây dựng các chỉ tiêu phù hợp với mục đích du lịch như: đánh giá bãi biển cho mục đích tắm biển Từ năm
1980, các nhà địa lý Trung Quốc đã dựa trên bảng phân loại TNDL của UNTWO để kiểm kê, phân loại, đánh giá tài nguyên và các nguồn lực phát triển du lịch trên phạm vi cả nước và các địa phương [26,54]
- Tại Mỹ và các nước Tây Âu
Các công trình đánh giá ĐKTN phục vụ mục đích du lịch, nghỉ dưỡng được phát triển và đề cập thêm nhiều yếu tố như: Dựa vào khả năng tiếp cận,
Trang 18hiện trạng sử dụng đất, chất lượng môi trường, hệ thống đường trong rừng, địa hình, các loại tài nguyên nước; Xây dựng các tiêu chí đánh giá dựa trên mức độ thuận lợi của số ngày mưa trong năm thích hợp với hoạt động du lịch; Xây dựng giản đồ tương quan giữa nhiệt độ và độ ẩm tuyệt đối phù hợp với khách du lịch (dẫn theo [46])
Một số tác giả phương Tây như P.David, H.Robinson… đã tiến hành đánh giá và sử dụng tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục đích giải trí
Nhiều phương pháp mới mang tính định lượng cao được áp dụng trong đánh giá ĐKTN và tài nguyên như phương pháp ma trận, phương pháp phân tích chi phí lợi ích, chi phí du hành, phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
1.1.1.2 Các công trình nghiên cứu về du lịch bền vững
Nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững đã được tiến hành từ những năm 80 của thế kỉ 20 tại nhiều nước trên thế giới đặc biệt là tại các quốc gia sớm có định hướng xác định du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn Các nghiên cứu này được tiến hành theo hai hướng:
- Hướng nghiên cứu một cách tổng thể những vấn đề đặt ra liên quan đến phát triển du lịch bền vững trên quy mô quốc gia rồi sau đó tiến tới xây dựng các mô hình điểm về du lịch bền vững Theo hướng này, điển hình là ở Úc bước đầu việc nghiên cứu được tiến hành với việc xây dựng chính sách về du lịch bền vững, chiến lược du lịch sinh thái (DLST) quốc gia… rồi sau đó tiến tới xây dựng mô hình điểm về phát triển du lịch bền vững ở Great Barrier Reef
Ở Mỹ bước đầu là chính sách phát triển du lịch bền vững tại các VQG, khu bảo tồn rồi đến xây dựng mô hình điểm ở khu bảo tồn san hô ngầm Florida
Ở Malaysia là chiến lược quốc gia về DLST và văn hóa bản địa rồi đến xây dựng mô hình ở Langkawi…
Trang 19- Hướng nghiên cứu dựa trên việc xây dựng các mô hình điểm về phát triển du lịch bền vững để rút kinh nghiệm xây dựng các chính sách triển khai trên toàn quốc Điển hình là: Ở Nepal việc nghiên cứu phát triển du lịch bền vững được bắt đầu từ nghiên cứu mô hình phát triển du lịch ở khu bảo tồn Annapurna rồi đến xây dựng chính sách phát triển DLST quốc gia Ở Ecuado được bắt đầu từ xây dựng mô hình phát triển du lịch tại quần đảo Galapagos rồi đến xây dựng chính sách phát triển du lịch bền vững Ở Senegal là mô hình phát triển du lịch tại vùng Casamance rồi đến chính sách du lịch bản địa
1.1.2 Tại Việt Nam
1.1.2.1 Các nghiên cứu đánh giá tổng hợp cho phát triển du lịch
Ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về TNDL Đánh giá ĐKTN và tài nguyên thiên nhiên (TNTN) phục vụ mục đích du lịch đã được
đề cập khá nhiều Trên phạm vi toàn quốc đã có một số các công trình tiêu
biểu như: “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 1995 -
2010” [96]; “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng du lịch Bắc Bộ đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” [97]; “Quy hoạch tổng thể phát triển
du lịch Việt nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” [98]; “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ đến năm
2010, định hướng đến năm 2020” [99] “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng Trung du và miền n i Bắc Bộ đến năm 2020” [100]; “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng đồng b ng sông Hồng và Duyên hải Đông Bắc đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” [101]; được thực hiện bởi Viện
Nghiên cứu Phát triển Du lịch
Tác giả Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc trong công trình “Khí hậu với
đời sống” [82] đã đưa ra một số chỉ tiêu khí hậu đối với người Việt Nam
Các tác giả Vũ Tuấn Cảnh, Đặng Duy Lợi, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ
trong công trình “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” [3] đã xác định nội
Trang 20dung đánh giá dựa vào tính chất của TNDL như: tính nguyên vẹn, tính hấp dẫn, tính dung lượng, tính ổn định của môi trường tự nhiên
Nguyễn Khanh Vân, Đặng Kim Nhung (1994) đã xây dựng tổ hợp thời tiết chính trong ngày dựa trên các tiêu chí: nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, hiện tượng sương mù… đưa ra chỉ tiêu đánh giá điều kiện thời tiết đối với nghỉ dưỡng
Cũng tác giả Nguyễn Khanh Vân trong giáo trình “Cơ sở sinh khí hậu”
[91] đã đi sâu vào phân tích kiểu SKH người nói chung và cho DLND nói riêng Tác giả đã đưa ra nhiều tiêu chí đánh giá mức độ thích hợp của SKH người cho du lịch, đồng thời xây dựng cơ sở cho việc thành lập bản đồ SKH
Trong lĩnh vực nghiên cứu về điều kiện phát triển du lịch, giáo trình “Địa
lí du lịch” của Nguyễn Minh Tuệ và nnk [89] đã hệ thống hóa những khái
niệm cơ bản về du lịch, tài nguyên du lịch và bước đầu định hướng khai thác tiềm năng du lịch của một số tiểu vùng du lịch Việt Nam Bùi Thị Hải Yến,
Phạm Hồng Long [106] trong giáo trình “Tài nguyên du lịch”, “Quy hoạch du
lịch” đã đề cập đến đánh giá TNDL
Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Cơ sở khoa học của phát triển
du lịch sinh thái ở Việt Nam” do Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch chủ trì và
hội thảo “Du lịch sinh thái với phát triển bền vững ở Việt Nam” [95]… nhiều
báo cáo, tham luận và một số kết quả nghiên cứu đánh giá về tiềm năng DLST
ở Việt Nam đã được thể hiện Những nghiên cứu này đều tập trung đánh giá tiềm năng TNDL theo từng thành phần hoặc tổng hợp trên phạm vi cả nước nhằm phục vụ công tác quy hoạch tổ chức lãnh thổ và phân vùng du lịch
Phạm Trung Lương trong công trình “Tài nguyên và môi trường du lịch
Việt Nam” [46] đã hệ thống khá toàn diện cơ sở lí luận và thực tiễn trong đánh
giá TNDL, đề cập đến khả năng ứng dụng GIS trong việc xây dựng hệ thống
cơ sở dữ liệu du lịch, sử dụng GIS trong đánh giá tài nguyên theo phương
pháp phân tích không gian Trong đề tài “Cơ sở khoa học để phát triển các
Trang 21sản phẩm du lịch thể thao mạo hiểm vùng n i phía Bắc” [52] tác giả Phạm
Trung Lương đã tiến hành đánh giá địa hình cho du lịch Các tiêu chí về đặc điểm hình thái, trắc lượng hình thái của các dạng địa hình, độ dốc, hang động… được xem xét, phân cấp đánh giá cho một số loại hình du lịch
Các công trình: “Cơ sở khoa học của việc xác định các điểm, tuyến du
lịch Nghệ An” của Nguyễn Thế Chinh (1995), “Tổ chức lãnh thổ du lịch thành phố Hải Phòng” của Nguyễn Thanh Sơn (1997), “Đánh giá TNTN tỉnh Thừa Thiên Huế phục vụ du lịch” của Lê Văn Tin [79], “Cơ sở khoa học của việc tổ chức không gian du lịch dải ven biển Thừa Thiên Huế - Quảng Nam –
Đà Nẵng” của Nguyễn Tưởng… đã tiến hành theo hướng đánh giá mức độ
thuận lợi của các điều kiện và tài nguyên trong khu vực cho việc phát triển du lịch bằng phương pháp đánh giá tổng hợp hoặc cho điểm theo phương pháp trung bình cộng của các điểm thành phần
Nguyễn Thị Sơn trong luận án tiến sĩ “Cơ sở khoa học cho việc định
hướng phát triển du lịch sinh thái ở vườn quốc gia C c Phương”[62] đã đánh
giá mức độ đa dạng sinh học của VQG Cúc Phương cho DLST, đã xác định một số tuyến tham quan trong rừng đến một số đối tượng sinh vật đặc hữu, quí hiếm
Đánh giá ĐKTN, TNTN cho phát triển du lịch trên phạm vi hẹp (vùng, tỉnh, huyện) mới chỉ được tiến hành chủ yếu ở các công trình nghiên cứu, đề tài luận án tiến sĩ:
Đặng Duy Lợi với công trình “Đánh giá và khai thác các ĐKTN, TNTN
huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch”[41] đề cập đánh giá tổng hợp
ĐKTN cho phát triển du lịch trên cơ sở các chỉ tiêu định tính và bước đầu định lượng, qua đó xác định mức độ thuận lợi cho phát triển du lịch và bước đầu đề xuất hướng khai thác tài nguyên cho phát triển một số loại hình du lịch
Trang 22Đỗ Trọng Dũng trong luận án “Đánh giá điều kiện tự nhiên để phát triển
du lịch sinh thái ở tiểu vùng du lịch miền n i Tây Bắc Việt Nam”[12] đã tiến
hành đánh giá tổng hợp ĐKTN cho một số điểm du lịch tiêu biểu ở tiểu vùng
du lịch Tây Bắc, trên cơ sở đó định hướng xây dựng mô hình không gian phát triển DLST
Nguyễn Hữu Xuân với luận án “Đánh giá ĐKTN, TNTN thành phố Đà
Lạt và phụ cận phục vụ phát triển một số loại hình du lịch”[103] đã tiến hành
đánh giá tổng hợp các thành phần tự nhiên cho các mục đích du lịch cụ thể và
đề ra giải pháp khai thác tự nhiên hiệu quả cho mỗi loại hình du lịch
1.1.2.2 Các công trình nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững
Ở Việt Nam, do nhiều điều kiện khách quan và chủ quan, nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững mới chỉ hạn chế ở một số công trình có liên quan
như: “Du lịch sinh thái – những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” [47];
“Cơ sở khoa học phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” [45]; “Sổ tay hướng
dẫn đánh giá tác động môi trường cho phát triển du lịch” [48]; đề tài nghiên
cứu khoa học độc lập cấp nhà nước “Cơ sở khoa học cho phát triển du lịch
bền vững ở Việt Nam” [50]; “Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Hòa Bình trên quan điểm phát triển bền vững” [74]
Gần đây, Tổng cục Du lịch đã phối hợp với Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Thế giới (IUCN), Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV) triển khai nghiên cứu du lịch bền vững dưới góc độ du lịch cộng đồng tại SaPa (Lào Cai), ở thành phố Điện Biên (tỉnh Điện Biên), ở A Lưới (Thừa Thiên – Huế)… Những nghiên cứu này đã đề cập đến các vấn đề liên quan đến lý luận và thực tiễn của việc phát triển du lịch bền vững, phân tích những ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến môi trường, các vấn đề thiếu bền vững còn tồn tại và đề ra những định hướng, giải pháp cho việc quy hoạch phát triển du lịch, định hướng tổ chức không gian
du lịch gắn với việc bảo tồn các giá trị tự nhiên, văn hóa và môi trường
Trang 23Trong những năm gần đây nghiên cứu về ứng phó với BĐKH trong lĩnh vực du lịch cũng đã được quan tâm nghiên cứu như một hướng tiếp cận mới để đảm bảo sự phát triển du lịch bền vững trong điều kiện hoạt động phát triển du lịch, đặc biệt ở vùng ven biển và vùng núi, đã và đang chịu những tác động rất
lớn của BĐKH Một số nghiên cứu theo hướng này có thể kể đến là “Các giải
pháp thích ứng và ứng phó, góp phần giảm nh tác động của BĐKH đối với hoạt động du lịch ở Việt Nam” [102]; “Đánh giá tác động và kế hoạch ứng phó với tác động của BĐKH đến l nh vực du lịch”; “Phát triển du lịch sinh thái ở Việt nam trong bối cảnh BĐKH”; của Phạm Trung Lương
Những nghiên cứu trên đã xác định được những tác động chủ yếu của BĐKH đến các lĩnh vực hoạt động du lịch ở Việt Nam, đồng thời cũng đã đề xuất một số giải pháp ứng phó, góp phần hạn chế tác động cho phát triển du lịch bền vững
1.1.3 Tại địa bàn nghiên cứu
Trên phạm vi lãnh thổ TN – TQ – BK đã có một số công trình nghiên
cứu chung về TNDL như công trình: “Quy hoạch không gian phát triển du
lịch tỉnh Bắc Kạn” do Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Kạn thực hiện
[65]; “Dự án quy hoạch phát triển du lịch Thái Nguyên 1997 – 2010” do Sở
Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên thực hiện [66], các công trình này đã tiến hành nghiên cứu về tiềm năng du lịch cũng như định hướng không gian phát triển du lịch của tỉnh
Đặc biệt, công trình nghiên cứu mang tính chất tổng hợp “Địa chí Thái
Nguyên”, “Địa chí Tuyên Quang” đã phân tích các đặc điểm về ĐKTN, KT -
XH, văn hóa, du lịch… và mối liên hệ giữa các lĩnh vực đó trong quá trình phát triển của địa phương [80,81]
Một số đề tài luận văn, luận án cũng đã đề cập đến thực trạng phát triển
du lịch và vấn đề khai thác TNDL của lãnh thổ nghiên cứu như: “Phát triển
Trang 24du lịch bền vững tỉnh Thái Nguyên” của Trần Thị Thảo; “Phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên với việc khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận” của
Nguyễn Lan Anh [1]; “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất phát triển du lịch
mạo hiểm tại VQG Ba Bể tỉnh Bắc Kạn” của Đỗ Tuyết Ngân
Tóm lại: Từ các công trình nghiên cứu trên có thể rút ra một số kết luận
- Đánh giá TNDL là một công việc phức tạp, hiện tại chưa có sự thống nhất về quan niệm, phương pháp, chỉ tiêu đánh giá
- Đánh giá TNDL mang tính chất định tính cao, một số chỉ tiêu được xây dựng dựa trên chủ quan của nhà quản lý hoặc cảm nhận của khách du lịch
- Đánh giá TNDL được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau và được tiến hành trên nhiều lãnh thổ từ rộng đến hẹp Hầu hết các đề tài tập trung đánh giá tiềm năng cho phát triển du lịch
- Sử dụng GIS trong đánh giá tài nguyên phục vụ du lịch bước đầu đã được đề cập nhưng mức độ đánh giá còn sơ lược
- Phương pháp đánh giá bằng cách cho điểm số từng yếu tố đánh giá, tính điểm tổng hay điểm tích vẫn là phương pháp phù hợp với đánh giá cho du lịch Tuy nhiên, phương pháp này còn nhiều yếu tố chủ quan
- Những nghiên cứu đánh giá trên còn chưa có sự lồng ghép với mục tiêu
về phát triển bền vững
Trang 25- Về mặt nội dung nghiên cứu, ít có công trình nghiên cứu đánh giá ĐKTN, TNDL trên quan điểm bền vững và cũng chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá cho lãnh thổ TN – TQ – BK
Những hạn chế trên đây cũng chính là những gợi mở để có những nghiên cứu sâu hơn trong khuôn khổ luận án này nhằm góp phần làm rõ hơn những
lý luận và thực tiễn về đánh giá
Cùng với sự phát triển du lịch, người ta nhận thấy yếu tố kinh tế là không thể thiếu trong khái niệm du lịch Theo xu hướng đó, khái niệm "du lịch" đã có những thay đổi phù hợp hơn bao hàm các nội dung liên quan đến sự chuyển cư, những hoạt động tại nơi đến cũng như các vấn đề KT - XH liên quan
Định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới đã xác định rõ: "Du lịch là hành động rời khỏi nơi thường trú để đi đến một nơi khác, một môi trường khác trong một thời gian ngắn nhằm mục đích tìm hiểu, khám phá, vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng"
Ở Việt Nam khái niệm du lịch được định nghĩa chính thức trong Luật Du lịch [61]: "Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan,
tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định"
1.2.1.2 Điểm du lịch
“Điểm du lịch là nơi có TNDL hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch” [61]
Trang 26Điều kiện để công nhận điểm du lịch
- Điểm du lịch quốc gia: Có TNDL đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch; Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết,
có khả năng đảm bảo phục vụ ít nhất một trăm nghìn lượt khách tham quan mỗi năm
- Điểm du lịch địa phương: Có TNDL hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch; Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng đảm bảo phục vụ ít nhất mười nghìn lượt khách tham quan một năm
Quy mô điểm du lịch có thể là một quốc gia, địa phương, một vùng đất nơi có nguồn tài nguyên du lịch phong phú dựa trên một số tiêu chuẩn quy định của mỗi quốc gia về mức độ hấp dẫn của tài nguyên; Cơ sở hạ tầng, cơ
sở vật chất kĩ thuật, khả năng phục vụ du khách và những đóng góp tích cực cho nền KT – XH, môi trường từ hoạt động du lịch [61]
1.2.1.3 Tuyến du lịch
“Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không” [61]
Điều kiện để công nhận là tuyến du lịch
- Tuyến du lịch quốc gia: Nối các khu du lịch, điểm du lịch trong đó có khu du lịch, điểm du lịch quốc gia, có tính chất liên vùng, liên tỉnh, kết nối với các cửa khẩu quốc tế; Có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ
sở dịch vụ phục vụ khách du lịch dọc theo tuyến
- Tuyến du lịch địa phương: Nối các khu du lịch, điểm du lịch trong phạm vi địa phương; Có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du lịch dọc theo tuyến Và trong từng trường hợp cụ thể, các tuyến du lịch có thể là tuyến nội vùng hoặc là tuyến liên vùng [61]
Trang 27Theo Tổ chức Du lịch Thế giới thì “Sản phẩm du lịch là sự tổng hợp của
3 yếu tố cấu thành : (i) kết cấu hạ tầng du lịch; (ii) tài nguyên du lịch; và (iii)
cơ sở vật chất kỹ thuật, dịch vụ, lao động và quản lý du lịch”
Thực tế cho thấy khái niệm này là “bao trùm” và thể hiện đầy đủ những
gì chứa đựng trong một sản phẩm du lịch
Những đặc điểm cơ bản của “sản phẩm du lịch” bao gồm :
Tính tổng hợp, đa dạng, nhiều cấp độ;
Tính không dự trữ, lưu kho được;
Tính không thể chuyển dịch, phân chia được;
Tính đồng thời của hoạt động sản xuất và tiêu thụ;
Tính vô hình, dễ thay đổi, không đồng nhất;
Tính không chuyển giao quyền sở hữu;
Tính mới cho cả chủ thể (khách du lịch), khách thể (môi trường, cảnh quan, tài nguyên) và môi giới du lịch (ngành kinh doanh du lịch)
Như vậy khi nghiên cứu “sản phẩm du lịch” ngoài việc chú trọng đến các yếu tố hình thành nên “sản phẩm”, cần thiết phải lưu ý đến những đặc điểm
cơ bản của sản phẩm du lịch
Đánh giá hiện trạng sản phẩm du lịch và tính bền vững của nó cần dựa trên việc đánh giá các yếu tố cấu thành nên sản phẩm gồm: sự hấp dẫn của sản phẩm du lịch, cơ sở vật chất, giá cả, hình ảnh của điểm đến, khả năng tiếp cận với sản phẩm du lịch
Trang 28Tổ chức Du lịch Thế giới cũng đã phân loại các loại hình du lịch chính
theo các mục đích cơ bản của thị trường khách bao gồm: tham quan, nghỉ
dưỡng, chữa bệnh, tiêu khiển giải trí; thăm người thân, bạn bè; thương mại, công vụ; tín ngưỡng và các mục đích khác Tất cả những mục đích đi du lịch
đều xuất phát từ sở thích, ý muốn cá nhân của khách du lịch (tham quan, nghỉ dưỡng, tiêu khiển giải trí, .) hoặc là nghĩa vụ mà khách du lịch có trách nhiệm thực hiện đối với xã hội hoặc với chính bản thân mình (thương mại, công vụ, chữa bệnh, ) Nội dung phân loại được thể hiện trên Hình 1.1
Hình 1.1: Phân loại loại hình du lịch (theo UNWTO)
Trang 29Dựa trên các tiêu chí khác nhau mà loại hình du lịch có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau: Du lịch tham quan (DLTQ), DLND, du lịch chữa bệnh, du lịch thể thao, DLST, du lịch lịch sử
Mỗi một loại hình du lịch sẽ có những yêu cầu và đặc điểm riêng vì vậy
sẽ có những yêu cầu khác nhau trong việc sử dụng tài nguyên để phát triển các loại hình du lịch đó
- Một số loại hình du lịch liên quan đến nội dung nghiên cứu bao gồm: + Du lịch tham quan
DLTQ được hiểu “Là hoạt động của khách du lịch trong ngày tới thăm nơi
có TNDL với mục đích tìm hiểu, thưởng thức những giá trị của TNDL” [61]
Mục đích của DLTQ là quan sát, khám phá, tìm hiểu, cảm nhận, nâng cao hiểu biết về giá trị cảnh quan, môi trường tự nhiên, văn hoá, lịch sử, xã hội Hoạt động đặc trưng của DLTQ bao gồm: Nghe hướng dẫn viên thuyết minh để nâng cao hiểu biết; Tự quan sát để cảm nhận các giá trị cảnh quan tự nhiên, văn hóa xã hội của cộng đồng; Chụp ảnh, ghi chép những điều cảm nhận được; Di chuyển bằng các phương tiện để tiếp cận đối tượng tham quan + Du lịch nghỉ dưỡng
DLND là loại hình du lịch phục vụ khách du lịch có nhu cầu nghỉ ngơi (nghỉ mát, nghỉ đông) nhằm nhanh chóng phục hồi sức khỏe [89]
DLND thường được hình thành và phát triển ở những nơi có khí hậu phù hợp, cảnh quan đẹp, yên tĩnh như: Bãi biển, các vùng hồ có rừng cây, vùng núi, nơi có nguồn nước khoáng
Mục đích của DLND là nghỉ ngơi, tái sản xuất sức lao động, bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho con người kết hợp tham quan
Các hoạt động đặc trưng của DLND bao gồm: Nghỉ ngơi ở những khu vực có khí hậu mát mẻ, có cảnh quan đẹp; Thể thao nhẹ (bóng chuyền, bóng
Trang 30rổ, bơi lội ); Vui chơi giải trí (chơi cờ, cắm trại, câu cá ); Tự quan sát cảm nhận các giá trị cảnh quan tự nhiên, văn hóa xã hội của cộng đồng nơi nghỉ dưỡng; Lưu trú
+ Du lịch sinh thái
DLST là loại hình du lịch mới xuất hiện trong thập kỉ 90 và hiện có rất nhiều định nghĩa khác nhau
Theo Hector Ceballos (1992): “DLST là du lịch đến những khu vực tự
nhiên ít bị thay đổi với những mục tiêu đặc biệt : nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và giới thực – động vật hoang dã, cũng như những biểu thị văn hóa (cả quá khứ và hiện tại) được khám phá trong những khu vực này” (dẫn theo [62])
Trong luật du lịch Việt Nam (2005), DLST được quan niệm: “DLST là
hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nh m phát triển bền vững” [61]
Các hoạt động đặc trưng của DLST bao gồm: Đi bộ (trên cạn), lặn (dưới nước) tiếp cận quan sát các hệ sinh thái đặc thù; Quan sát, chụp ảnh các loài động thực vật quý hiếm, đặc hữu, các cảnh quan đặc sắc, các sinh hoạt văn hóa bản địa; Nghe thuyết minh, trao đổi với hướng dẫn viên, cộng đồng về các giá trị tự nhiên, văn hóa bản địa; Lưu trú
1.2.2 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch
1.2.2.1 Khái niệm
ĐKTN là khả năng của toàn bộ các thành phần trong môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến cuộc sống và các hoạt động của con người trên một lãnh thổ nhưng không tham gia trực tiếp vào hoạt động sản xuất vật chất của con người Ví dụ như: vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, các nguồn nước, các nguồn động thực vật…
Trang 31TNDL là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch [61]
Cần phân biệt giữa ĐKTN và TNDL ĐKTN là các yếu tố tác động đến cuộc sống và hoạt động của con người nhưng khi các yếu tố đó được con người khai thác cho mục đích phát triển du lịch thì nó lại trở thành TNDL Ví dụ: Yếu
tố gió trong thành phần khí hậu, nếu tốc độ gió to sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động đi lại của tàu thuyền trên sông, biển hay ảnh hưởng đến việc đánh bắt thủy hải sản nhưng lại là lợi thế và trở thành TNDL khi con người lợi dụng tốc
độ gió để tổ chức hoạt động du lịch thể thao mạo hiểm như thuyền buồm, lướt ván, dù lượn…
1.2.2.2 Phân loại tài nguyên du lịch
a Tài nguyên du lịch tự nhiên
TNDL tự nhiên bao gồm các thành phần, các thể tổng hợp tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp được khai thác và sử dụng để tạo ra sản phẩm du lịch phục vụ cho mục đích phát triển du lịch “TNDL tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục
vụ mục đích du lịch”[61] Chính vì vậy, nhóm TNDL tự nhiên thường được chia thành: tài nguyên địa hình, khí hậu, nước và tài nguyên sinh vật [46, 89]
- Địa hình là yếu tố tạo nên phong cảnh, trong hoạt động du lịch, đặc điểm hình thái địa hình có vai trò quan trọng Bằng các dấu hiệu bên ngoài của địa hình và các dạng địa hình đặc biệt là những yếu tố cấu thành nên các loại hình du lịch Các khu vực núi, đồi địa hình phân hóa đa dạng, có ý nghĩa hơn địa hình đồng bằng đơn điệu Ngoài ra còn nhiều dạng địa hình có giá trị cao cho các hoạt động du lịch như các hồ, đầm, các đảo và quần đảo, bãi biển ven bờ, các di tích tự nhiên…
Trang 32- Các điều kiện khí hậu được xem như một dạng tài nguyên đặc biệt và được khai thác, phục vụ cho các mục đích du lịch, nghỉ dưỡng khác nhau Nhìn chung, đối với nhu cầu nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe hoặc các hoạt động du lịch thuần túy đòi hỏi các yếu tố thuận lợi về áp suất không khí, nhiệt
độ, độ ẩm, ánh nắng, lượng ôxy và độ trong lành của không khí Tuy nhiên đối với các loại hình du lịch thể thao đặc thù như nhảy dù, tàu lượn, khinh khí cầu… lại yêu cầu các yếu tố thời tiết thích hợp như: hướng gió, tốc độ gió, quang mây, không có sương mù Do các hoạt động du lịch, nghỉ dưỡng phụ thuộc nhiều vào điều kiện khí hậu nên tính mùa vụ của khí hậu có ảnh hưởng rất rõ đến tính mùa vụ trong hoạt động du lịch
- Tài nguyên nước có vai trò điều hòa vi khí hậu, tạo phong cảnh khi kết hợp với tài nguyên địa hình, sinh vật và trực tiếp tạo nên các sản phẩm du lịch đặc trưng như tham quan, nghỉ dưỡng, chữa bệnh và du lịch thể thao Tài nguyên nước được khai thác cho hoạt động du lịch chủ yếu ở khu vực mặt nước, các bãi nông ven bờ và các điểm nước khoáng
- Tài nguyên sinh vật có ý nghĩa quan trọng với các loại hình DLST, DLTQ, nghiên cứu khoa học Tài nguyên sinh vật khai thác cho du lịch tập trung tại các nơi như: các VQG, KBTTN, một số hệ sinh thái đặc biệt và các điểm tham quan sinh vật
Các TNDL tự nhiên luôn gắn liền với các ĐKTN và được khai thác đồng thời với các TNDL nhân văn Khi tìm hiểu, nghiên cứu về TNDL tự nhiên, người ta nghiên cứu từng thành phần của tự nhiên, các thể tổng hợp tự nhiên và các hiện tượng đặc sắc của tự nhiên
b Tài nguyên du lịch nhân văn
TNDL nhân văn là các đối tượng, hiện tượng do con người tạo ra trong suốt quá trình tồn tại và phát triển; có giá trị văn hóa, tinh thần và phục vụ cho nhu cầu du lịch TNDL nhân văn bao gồm: di tích lịch sử văn hóa, lễ hội, làng
Trang 33nghề, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, các đối tượng văn hóa – thể thao, sự kiện và các TNDL nhân văn khác
Như vậy, TNDL nhân văn là nhóm TNDL có nguồn gốc nhân tạo, là toàn
bộ những sản phẩm có giá trị về vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra Vì vậy, TNDL nhân văn cũng được coi như tài nguyên văn hóa Tuy nhiên, không phải sản phẩm văn hóa nào cũng đều là TNDL nhân văn Những
sản phẩm văn hóa có giá trị phục vụ du lịch mới được coi là TNDL nhân văn
1.2.3 Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch vùng lãnh thổ
Đánh giá ĐKTN là sự ước lượng vai trò hay giá trị của các thành phần
tự nhiên, hoặc đánh giá xác định mức độ thuận lợi của môi trường tự nhiên đối với một yêu cầu KT – XH nhất định (ở đây là đánh giá cho mục đích phát triển du lịch)
Đánh giá TNDL được hiểu là việc xác định số lượng, chất lượng, giá trị, khả năng sử dụng và mức độ ảnh hưởng của chúng đến phát triển du lịch cũng như mức độ ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến các dạng tài nguyên Việc khai thác, sử dụng tài nguyên cần phải có sự kết hợp nhiều loại tài nguyên của lãnh thổ để đạt hiệu quả tốt nhất chứ không đơn thuần là chỉ khai thác từng loại tài nguyên riêng biệt
Từ kết quả đánh giá ĐKTN, TNDL ta có thể xác định được: 1) hướng phát triển các loại hình du lịch phù hợp; 2) mức độ huy động tối đa tài nguyên của lãnh thổ cho mục đích du lịch; 3) hướng phát triển du lịch bền vững của lãnh thổ
1.2.4 Phát triển du lịch bền vững
1.2.4.1 Khái niệm chung về phát triển bền vững
Khái niệm bền vững được hiểu là tỷ lệ sử dụng một tài nguyên không vượt quá tỷ lệ bổ sung tài nguyên đó Sử dụng bền vững tồn tại khi nhu cầu về
Trang 34một tài nguyên thấp hơn cung cấp mới hay sự phân phối và tiêu dùng một tài nguyên được giữ ở mức thấp hơn sản lượng bền vững tối đa
Lý thuyết về phát triển bền vững xuất hiện khoảng giữa những năm 80 và chính thức được đưa ra tại Hội nghị của Ủy ban thế giới về Phát triển và Môi trường (WCED) nổi tiếng với tên gọi Ủy ban Brundtlant, năm 1987 Trong
định nghĩa Brundtlant thì “Phát triển bền vững được hiểu là hoạt động phát
triển kinh tế nh m đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của các thế hệ mai sau” [50] Tuy
nhiên nội dung chủ yếu đề cập đến trong định nghĩa này xoay quanh vấn đề
về phát triển kinh tế
Một định nghĩa khác về phát triển bền vững được các nhà khoa học trên
thế giới đề cập đến một cách tổng quát hơn: “Phát triển bền vững là các hoạt
động phát triển của con người nh m phát triển và duy trì trách nhiệm của cộng đồng đối với lịch sử hình thành và hoàn thiện các sự sống trên trái đất” [50]
Theo quan điểm của Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) đưa ra
năm 1980, “Phát triển bền vững phải cân nhắc đến hiện trạng khai thác các
nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn đan xen nhau” Điều này khẳng định rằng mục tiêu phát triển KT - XH của hầu hết
các nước trên thế giới phải được xác định trong mối quan hệ bền vững
Tại hội nghị về Môi trường toàn cầu RIO – 92 và RIO – 92 + 5, quan niệm
về phát triển bền vững được các nhà khoa học bổ sung, theo đó “Phát triển bền vững được hình thành trong sự hòa nhập, xen cài và thỏa hiệp của 3 hệ thống tương tác là hệ tự nhiên, hệ kinh tế và hệ văn hóa - xã hội” (Hình 1.2)
Trang 35Hình 1.2 Quan niệm về phát triển bền vững
Gần đây quan niệm về phát triển bền vững đã được mở rộng hơn để phù hợp với thực tiễn Theo đó Phát triển bền vững = Con người ở điều kiện tốt +
Hệ sinh thái ở điều kiện tốt Ở đây muốn nhấn mạnh đến mối quan hệ mật thiết giữa con người với hệ sinh thái, con người nằm trong hệ sinh thái và hai đối tượng này hoàn toàn phụ thuộc, tác động, chi phối lẫn nhau
1.2.4.2 Khái niệm về du lịch bền vững và phát triển du lịch bền vững
Khái niệm về phát triển du lịch bền vững không tách rời khái niệm về phát triển bền vững Ngay từ những năm 1980, khi các vấn đề về phát triển bền vững bắt đầu được đề cập, tiến hành nghiên cứu thì đã có nhiều nghiên cứu khoa học được thực hiện nhằm đưa ra các khía cạnh ảnh hưởng của du lịch có liên quan đến phát triển bền vững Nhiệm vụ trọng tâm của những nghiên cứu này nhằm để giải thích cho sự cần thiết phải đảm bảo tính toàn vẹn của môi trường sinh thái, các giá trị văn hóa trong khi tiến hành các hoạt động khai thác tài nguyên phục vụ phát triển du lịch, góp phần tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới đưa ra tại Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên hợp quốc tại Rio de Janeiro năm 1992 thì
Hệ xã hội
Hệ tự nhiên
Hệ kinh tế
Phát triển bền vững
Trang 36“Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của con người”
Du lịch bền vững ở Việt Nam là một khái niệm còn mới Tuy nhiên, nhận thức về một phương thức phát triển du lịch có trách nhiệm với môi trường, có tác dụng giáo dục, nâng cao hiểu biết cho cộng đồng đã bước đầu hình thành thể hiện bằng việc một số loại hình du lịch thân thiện với môi trường đã xuất hiện ở Việt Nam với tên gọi là DLST, du lịch tự nhiên… Tuy nhiên DLST chỉ
là một hướng phát triển của du lịch bền vững nói chung Việc tập trung nghiên cứu DLST và các quy luật phát triển của nó không thể đề cập hết được các quy luật phát triển chung của du lịch bền vững
Mặc dù còn những quan niệm chưa thật thống nhất về khái niệm “Phát triển du lịch bền vững” , tuy nhiên cho đến nay đa số ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực có liên quan khác ở Việt Nam đều
cho rằng: “Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý
các giá trị tự nhiên và nhân văn nh m thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn v n về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương” [ 50]
Trang 37Như vậy có thể coi “Phát triển du lịch bền vững” là một nhánh của “Phát triển bền vững” đã được Hội nghị của Ủy ban Thế giới về Phát triển và Môi trường (hay Ủy ban Brundtlant) xác định năm 1987 Hoạt động phát triển du lịch bền vững là hoạt động phát triển ở một khu vực cụ thể sao cho nội dung, hình thức và quy mô là thích hợp và bền vững theo thời gian, không làm suy thoái môi trường, làm ảnh hưởng đến khả năng hỗ trợ các hoạt động phát triển khác Ngược lại tính bền vững của hoạt động phát triển du lịch được xây dựng trên nền tảng sự thành công trong phát triển của các ngành khác, sự phát triển bền vững chung của khu vực
Có thể thấy rằng nói đến du lịch bền vững là nói đến các yếu tố tạo điều kiện cho nó phát triển bền vững, các yếu tố đó bao gồm:
- Về môi trường: Các ĐKTN, tiềm năng TNTN Các điều kiện này càng tốt thì du lịch càng có điều kiện phát triển tốt
- Các yếu tố kinh tế: hạ tầng, thu nhập… càng tốt thì du lịch cũng sẽ phát triển tốt
- Các yếu tố xã hội: Trình độ dân trí cao sẽ đảm bảo yếu tố an ninh, an toàn cho hoạt động du lịch
Nhưng trong quá trình phát triển, bản thân du lịch sẽ tác động đến cả tự nhiên, kinh tế và xã hội:
- Tự nhiên: Nếu phát triển tự phát, không kiểm soát thì sẽ tác động mạnh đến ĐKTN, môi trường làm cho chúng bị suy thoái, không bền vững
- Kinh tế: Nếu phát triển chỉ quan tâm đến số lượng, không quan tâm đến chất lượng, khả năng có thể đáp ứng được thì tự bản thân du lịch sẽ bị phá sản
- Xã hội: Du lịch phát triển không quan tâm đến vấn đề xã hội có thể sẽ dẫn tới tăng cường các tệ nạn: mại dâm, cờ bạc… tạo ra môi trường xã hội xấu cho du lịch
Trang 38Vì vậy, theo quan điểm về phát triển bền vững, hoạt động du lịch có tính bền vững sẽ được phát triển sao cho các bản chất, quy mô và phương thức phù hợp và bền vững theo thời gian, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường, có hỗ trợ cho bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hóa, cho cuộc sống của cộng đồng Như vậy phát triển du lịch bền vững cần chú trọng giải quyết một số vấn đề sau:
+ Góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương, nơi diễn ra các hoạt động du lịch
+ Đưa lại cho du khách những chuyến du lịch có chất lượng, có trách nhiệm và an toàn
+ Đảm bảo duy trì chất lượng của môi trường (môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn) vì lợi ích không chỉ của cộng đồng địa phương mà cả
du khách
Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch bền vững còn tập trung vào các khía cạnh khác của cuộc sống, bao gồm:
+ Khuyến khích sự tăng cường hiểu biết của các thành viên trong xã hội
về các tác động từ hoạt động du lịch tới môi trường và tập quán sinh sống của cộng đồng
+ Bảo đảm phân phối công bằng các lợi ích có được từ hoạt động phát triển du lịch
+ Đảm bảo quyền quyết định của mọi thành phần trong xã hội đối với các nguồn lực mà du lịch và các ngành kinh tế khác cùng sử dụng trong quá trình phát triển
+ Xây dựng các quy hoạch phát triển du lịch nhằm đảm bảo việc phát triển các hoạt động du lịch phù hợp với khả năng chịu đựng của các hệ sinh thái tự nhiên
Trang 39+ Phản ánh tầm quan trọng của các nguồn lực tự nhiên và văn hóa đối với sự phát triển KT - XH
+ Thẩm định và quản lý các tác động của du lịch, phát triển các phương pháp giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và văn hóa xã hội
Quá trình phát triển du lịch đảm bảo giải quyết các vấn đề nêu trên của cuộc sống sẽ được đánh giá là bền vững Tuy nhiên sự phát triển đó chỉ mang tính tương đối bởi trong một xã hội “động” tức một xã hội luôn có sự thay đổi
và phát triển thì sự bền vững của yếu tố này có thể sẽ là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự bền vững của những yếu tố khác Không một xã hội nào, một nền kinh tế nào có thể đạt được sự bền vững tuyệt đối Mọi hoạt động, mọi biện pháp của con người chỉ nhằm đạt mục đích đảm bảo khả năng khai thác lâu, bền các nguồn tài nguyên trên Trái đất
1.2.5 Hệ thống các quan điểm nghiên cứu
1.2.5.1 Quan điểm tổng hợp
Quan điểm tổng hợp coi môi trường tự nhiên không phải là một tập hợp ngẫu nhiên của các vật thể và hiện tượng tự nhiên mà là một tổ hợp có tổ chức của chúng Sự tác động của con người vào một hợp phần hay bộ phận tự nhiên nào đó có thể gây ra những biến đổi lớn trong hoạt động của cả tổng thể Đồng thời do tính chất mở của các hệ địa lý và tính liên tục của tự nhiên
mà những tác động có thể được truyền theo những kênh khác nhau và hiệu quả của chúng không chỉ giới hạn trong phạm vi mà hoạt động đó xảy ra Tuy nhiên quan điểm này không yêu cầu nhất thiết phải nghiên cứu tất cả các thành phần mà có thể lựa chọn một số đại diện có vai trò chủ đạo, đó là những nhân tố có tính chất quyết định đến các thuộc tính cơ bản nhất của tổng thể Quan điểm này được vận dụng vào đề tài thông qua việc phân tích, đánh giá các giá trị tự nhiên cho phát triển du lịch của lãnh thổ TN – TQ – BK trong mối quan hệ tổng hợp của các yếu tố, và được thể hiện qua sơ đồ hình 1.3
Trang 40Hình 1.3 Sơ đồ đánh giá ĐKTN – TNDL theo quan điểm tổng hợp 1.2.5.2 Quan điểm hệ thống
Quan điểm hệ thống chỉ đạo phương pháp nghiên cứu các hệ địa - sinh thái là phương pháp tiếp cận hệ thống Lãnh thổ nghiên cứu là một hệ thống không gian với cấu trúc đứng và cấu trúc ngang đặc trưng của nó, đồng thời là một hệ thống hở, các mối quan hệ bên trong hệ thống và với bên ngoài đều phức tạp, khó kiểm soát
Vận dụng quan điểm hệ thống trong luận án, lãnh thổ TN – TQ – BK được nghiên cứu như là một hệ thống tổng hợp các yếu tố tự nhiên - kinh tế - xã hội, gồm 3 hệ thống phụ là hệ thống môi trường tự nhiên, hệ thống dân cư - xã hội
và tài nguyên thiên nhiên Các bộ phận của hệ thống đó có quan hệ (Hình 1.4)
Đặc điểm của các
điều kiện tự nhiên,
tài nguyên du lịch
Đặc điểm của các điều kiện kinh tế -
xã hội
Đề xuất các ý kiến khai thác tổng hợp tự nhiên cho phát triển du lịch trên quan điểm bền vững
Đánh giá tổng hợp trên quan điểm bền vững: xác định mức độ thuận lợi của các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch cho phát triển các
loại hình du lịch