1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của hormone kích thích sinh sản lên đặc tính lý hóa sinh, hoạt lực và cấu trúc tinh trùng cá chẽm mõm nhọn psammoperca waigirnsis (cuvier và valenciennes, 1828)

113 272 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan kết quả của luận văn “Ảnh hưởng của hormone kích thích sinh sản lên đặc tính lý hóa sinh, hoạt lực và cấu trúc tinh trùng cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ MINH HOÀNG

Chủ tịch Hội đồng:

PGS.TS PHẠM QUỐC HÙNG

Khoa sau đại học:

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan kết quả của luận văn “Ảnh hưởng của hormone kích thích sinh sản lên đặc tính lý hóa sinh, hoạt lực và cấu trúc tinh trùng cá chẽm mõm

nhọn Psammoperca waigiensis (Cuvier và Valenciennes, 1828)” là một phần nội dung thuộc đề tài “Đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis (Cuvier và Valenciennes, 1828) thông qua thời điểm thu mẫu, tiêm

hormone và bảo quản lạnh” với mã số 106-NN.02-2013.69 được tài trợ bởi Quỹ khoa

học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) - do TS Lê Minh Hoàng - trường Đại học Nha Trang chủ nhiệm, được thực hiện từ tháng 03 năm 2014 đến tháng 03 năm 2017 là chính xác Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực và

chưa được ai khác công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác tới thời điểm này Tác giả luận văn

Võ Thị Thu Hiền

Trang 4

Tôi xin cảm ơn Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) đã

hỗ trợ kinh phí đề tài (106-NN.02-2013.69) giúp tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến tất cả quý thầy, cô giáo Viện Nuôi trồng thuỷ sản – Trường Đại học Nha Trang đã truyền đạt cho tôi những kiến thức cơ bản làm cơ sở và nền tảng cho tôi thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Nha Trang, ngày 23 tháng 3 năm 2017

Người thực hiện

Võ Thị Thu Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ix

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Một số đặc điểm sinh học cá chẽm mõm nhọn 3

1.1.1 Hệ thống phân loại 3

1.1.2 Phân bố 3

1.1.3 Đặc điểm hình thái 4

1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 4

1.1.5 Đặc điểm sinh sản 5

1.2 Đại cương về tinh trùng cá 5

1.2.1 Quá trình tạo tinh 6

1.2.2 Cấu trúc của tinh trùng cá 7

1.2.3 Đặc điểm lý học của tinh dịch cá 10

1.2.4 Đặc tính sinh hoá của dịch tương 13

1.2.5 Hoạt lực của tinh trùng 18

1.2.6 Yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thu mẫu 20

1.3 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của hormone lên chất lượng tinh trùng cá 21

1.3.1 Trên thế giới 21

Trang 6

1.3.2 Ở Việt Nam 25

1.4 Tình hình nghiên cứu trên tinh trùng cá tại Việt Nam 28

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Thời gian, địa điểm, đối tượng nghiên cứu 32

2.2 Phương pháp nghiên cứu và bố trí thí nghiệm 32

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 32

2.2.2 Cá đực và thu tinh 33

2.2.3 Hormone và liều lượng sử dụng 33

2.2.4 Xác định đặc tính lý học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn 34

2.2.5 Xác định đặc tính sinh hoá của dịch tương 35

2.2.6 Xác định hoạt lực của tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 36

2.2.7 Xác định cấu trúc tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 36

2.3 Phương pháp lưu trữ và xử lý số liệu 37

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38

3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của hormone kích thích sinh sản lên đặc tính lý học tinh dịch cá chẽm mõm nhọn 38

3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của hormone kích thích sinh sản lên đặc tính sinh hoá dịch tương cá chẽm mõm nhọn 42

3.3 Ảnh hưởng của hormone kích thích sinh sản lên hoạt lực tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 49

3.4 Ảnh hưởng của hormone kích thích sinh sản lên cấu trúc tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 52

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55

4.1 Kết luận 55

Trang 7

4.1 1 Ảnh hưởng của hormone kích thích sinh sản đến đăc tính lý hóa của tinh dịch

cá chẽm mõm nhọn 554.1 2 Ảnh hưởng của hormone kích thích sinh sản lên đặc tính sinh hóa của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn 554.1 3 Ảnh hưởng của hormone kích thích sinh sản lên hoạt lực của tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 554.1 4 Ảnh hưởng của hormone kích thích sinh sản lên cấu trúc tinh trùng cá chẽm mõm nhọn 554.2 Kiến nghị 55TÀI LIỆU THAM KHẢO 566 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Các thông số lý học của tinh dịch một số loài cá 12

Bảng 1.2 Các thông số sinh hóa trong dịch tương một số loài cá 17

Bảng 1.3 Một số loại hormone áp dụng trên một số loài cá trên thế giới 24

Bảng 1.4 Một số loại hormone áp dụng trên một số loài cá tại Việt Nam 27

Bảng 2.1 Kích cỡ cá đực được sử dụng cho các thí nghiệm (n=4) 33

Bảng 3.1 Nồng độ ion Na+ (mmol/l)trong dịch tương cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis trong thí nghiệm kích thích bằng các hormone khác nhau 45

Bảng 3.2 Nồng độ ion K+ (mmol/l) trong dịch tương cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis trong thí nghiệm kích thích bằng các hormone khác nhau 45

Bảng 3.3 Nồng độ ion Cl- (mmol/l) trong dịch tương cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis trong thí nghiệm kích thích bằng các hormone khác nhau 46

Bảng 3.4 Nồng độ ion Mg2+ (mmol/l) trong dịch tương cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis trong thí nghiệm kích thích bằng các hormone khác nhau 46

Bảng 3.5 Nồng độ ion Ca2+ (mmol/l) trong dịch tương cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis trong thí nghiệm kích thích bằng các hormone khác nhau 47

Bảng 3.6 Protein tổng số (g/l) trong dịch tương cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis trong thí nghiệm kích thích bằng các hormone khác nhau 47

Bảng 3.7 Nồng độ thẩm thấu (mOsm/kg) trong dịch tương cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis trong thí nghiệm kích thích bằng các hormone khác nhau 48

Bảng 3.8 pH trong dịch tương cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis trong thí nghiệm kích thích bằng các hormone khác nhau 48

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Hình thái ngoài cá chẽm mõm nhọn [93] 3

Hình 1.2 Vùng phân bố cá chẽm mõm nhọn trên thế giới [45] 4

Hình 1.3 Sơ đồ tạo tinh trùng cá [65] 7

Hình 1.4 Cấu tạo tinh trùng cá [112] 8

Hình 1.5 Mặt cắt ngang của đuôi tinh trùng cá xương kiểu “9+2” [112] 10

Hình 1.6 Sơ đồ biểu diễn một số kiểu chuyển động của tinh trùng cá [104] 19

Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 32

Hình 2.2 Sơ đồ xác định đặc tính lý học tinh trùng cá 35

Hình 2.3 Sơ đồ đánh giá cấu trúc tinh trùng bằng quy trình TEM 37

Hình 3.1 Thể tích tinh dịch cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis trong thí nghiệm kích thích bằng các hormone khác nhau 39

Hình 3.2 Mật độ tinh trùng cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis trong thí nghiệm kích thích bằng các hormone khác nhau 39

Hình 3.3 Độ quánh tinh dịch cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis trong thí nghiệm kích thích bằng các hormone khác nhau 40

Hình 3.4 Tổng số tinh trùng cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis trong thí nghiệm kích thích bằng các hormone khác nhau 40

Hình 3.5 Phần trăm hoạt lực tinh trùng cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis trong thí nghiệm kích thích bằng các hormone khác nhau 50

Hình 3.6 Thời gian hoạt lực tinh trùng cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis trong thí nghiệm kích thích bằng các hormone khác nhau 50

Hình 3.7 Vận tốc tinh trùng cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis trong thí nghiệm kích thích bằng các hormone khác nhau 51

Hình 3.8 Cấu trúc tinh trùng cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis trong thí nghiệm kích thích bằng các hormone khác nhau 53

Trang 10

KÝ HIỆU VIẾT TẮT

VSL Straight line velocity Vận tốc chuyển động thẳng

HCG Human chorionic gonadotropin

LHRHa Luteinizing hormone releasing

CASA Computer – Aided sperm analysis

GnRH Gonadotropin releasing hormone Hormone phóng thích kích

dục tố

SVSI Semainal vesicle-somatic index

CPE Carp pituitary extract Dịch chiết tuyến yên cá chép

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis (Cuvier và Valenciennes, 1828) là

đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao và được quan tâm trong thời gian gần đây Hiện nay, nguồn cá giống đều phụ thuộc vào khai thác tự nhiên, chỉ xuất hiện vài ngày trong năm ở những khu vực nhất định nên không thể thỏa mãn nhu cầu con giống Sản xuất giống cá chẽm mõm nhọn tại chỗ, chủ động con giống có chất lượng đáp ứng nhu cầu nuôi thương phẩm sẽ góp phần thúc đẩy nghề nuôi cá biển Việt Nam

Sự thành công của thụ tinh nhân tạo phụ thuộc vào cả chất lượng trứng và chất lượng tinh trùng Việc đánh giá chất lượng tinh dịch thường dựa vào việc đánh giá hình thái tinh trùng, mật độ, hoạt lực, nồng độ thẩm thấu, pH, thành phần sinh hóa dịch tương Chất lượng tinh trùng của cá bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như chế độ dinh dưỡng, điều kiện môi trường (nhiệt độ, ánh sáng, độ mặn), mùa vụ sinh sản, stress, di truyền và tiêm hormone kích thích sinh sản lên cá đực

Ở Việt Nam, tuy đã có một vài nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn, nhưng hiện chưa có nghiên cứu nào đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn thông qua việc tiêm các hormone kích thích sinh

sản Do đó, nghiên cứu “Ảnh hưởng của hormone kích thích sinh sản lên đặc tính

lý hoá sinh, hoạt lực và cấu trúc tinh trùng cá chẽm mõm nhọn Psammoperca

waigiensis (Cuvier và Valenciennes, 1828)” được thực hiện là điều hết sức thiết thực,

nhằm xác định loại, liều lượng hormone và thời gian sau khi tiêm kích thích sinh sản trên cá chẽm mõm nhọn để cho chất lượng tinh trùng tốt nhất

Cá chẽm mõm nhọn đực sử dụng trong nghiên cứu này được thu gom tại Vịnh Nha Trang, nuôi nhốt trong lồng có kích cỡ 4×4×3m tại Vũng Ngán, Nha Trang, Khánh Hòa Sau đó, 32 con được lựa chọn ngẫu nhiên để tiêm hormone kích thích sinh sản LHRHa (20, 50, 80 µg/kg), HCG (500, 1000, 1500 IU/kg) hoặc DOM 20 mg/kg, và nước muối sinh lý 0,9% được xem là nghiệm thức đối chứng Mẫu tinh trùng được thu thập tại thời điểm trước khi tiêm (0h), sau khi tiêm 24h, 48h, và 72h để tiến hành đánh giá chất lượng Nghiên cứu này thực hiện 04 nội dung chính bào gồm: (i) Nghiên cứu ảnh hưởng của việc tiêm hormone kích thích sinh sản lên đặc tính lý học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn, (ii) Nghiên cứu cứu ảnh hưởng của việc tiêm hormone kích thích sinh sản lên đặc

Trang 12

tính sinh hóa của dịch tương cá chẽm mõm nhọn, (iii) Nghiên cứu ảnh hưởng của việc tiêm hormone kích thích sinh sản lên các thông số hoạt lực của tinh trùng cá chẽm mõm nhọn, (iv) Nghiên cứu ảnh hưởng của việc tiêm hormone kích thích sinh sản lên hình cấu trúc tinh trùng cá chẽm mõm nhọn

Kết quả các thí nghiệm cho thấy, HCG với liều lượng 1000 IU/kg tại thời điểm 48h sau khi tiêm hormone làm tăng đáng kể thể tích tinh dịch, tổng số lượng tinh trùng, phần trăm hoạt lực, vận tốc và thời gian hoạt lực tinh trùng trên cá thể đực so với nghiệm thức đối chứng là nước muối sinh lý 0,9% Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có sự ảnh hưởng không đáng kể bởi loại, liều lượng và thời gian tiêm kích thích hormone sinh sản lên các thông số về đặc tính sinh hóa của dịch tương cũng như cấu trúc tinh trùng cá chẽm mõm nhọn đực so với nghiệm thức đối chứng nước muối sinh lý 0,9%

TỪ KHÓA: Cá chẽm mõm nhọn, Psammoperca waigiensis, hormone, đặc tính lý

hóa sinh, hoạt lực, cấu trúc tinh trùng

Trang 13

MỞ ĐẦU

Cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis (Cuvier và Valenciennes, 1828) là

đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cao và được quan tâm trong thời gian gần đây [35] Hiện nay, nguồn cá giống đều phụ thuộc vào khai thác tự nhiên, chỉ xuất hiện vài ngày trong năm ở những khu vực nhất định nên không thể thỏa mãn nhu cầu con giống Hơn nữa, con giống khai thác tự nhiên khi đưa vào nuôi thương phẩm thường có hiện tượng chết hàng loạt trong thời gian nuôi ban đầu Sản xuất giống cá chẽm mõm nhọn tại chỗ, chủ động con giống có chất lượng đáp ứng nhu cầu nuôi thương phẩm sẽ góp phần thúc đẩy nghề nuôi cá biển Việt Nam [27]

Các chuyên gia nuôi trồng thủy sản thế giới trước đây quan tâm đến việc phân tích chất lượng trứng của cá cái được tiêm hormone hơn là sự tiết tinh cũng như chất lượng tinh trùng của cá đực Tuy nhiên, sự thành công của thụ tinh nhân tạo phụ thuộc vào cả chất lượng trứng và chất lượng tinh trùng Việc đánh giá chất lượng tinh dịch thường vào việc đánh giá cấu trúc tinh trùng, mật độ, hoạt lực, nồng độ thẩm thấu, pH, thành phần sinh hóa dịch tương [48, 118, 178] Chất lượng tinh trùng của cá bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như chế độ dinh dưỡng, điều kiện môi trường (nhiệt độ, ánh sáng, độ mặn), mùa vụ sinh sản, stress, di truyền và tiêm hormone kích thích sinh sản lên cá đực [9, 32, 56]

Ở Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của các loại hormone lên

chất lượng tinh trùng cá biển nói chung và cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis

nói riêng trong mùa sinh sản Do đó, đánh giá chất lượng tinh trùng cá chẽm mõm nhọn

Psammoperca waigiensis thông qua tiêm hormone là một trong những yêu cầu thiết yếu

để phát triển ngành nuôi cá biển thương mại của nước nhà nhằm xác định loại, liều lượng hormone và thời gian sau khi tiêm kích thích sinh sản tốt nhất trên cá chẽm mõm nhọn đực

Do đó, thực hiện nghiên cứu “Ảnh hưởng của hormone kích thích sinh sản lên đặc tính lý hoá sinh, hoạt lực và cấu trúc tinh trùng cá chẽm mõm nhọn

Psammoperca waigiensis (Cuvier và Valenciennes, 1828)” là điều hết sức thiết thực

Trang 14

Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định đặc tính lý học của tinh trùng, đặc tính

sinh hóa của dịch tương, các thông số hoạt lực và cấu trúc của tinh trùng cá chẽm mõm nhọn sau khi được tiêm bởi các loại hormone kích thích sinh sản (DOM (20 mg/kg), LHRHa (20, 50, 80 µg/kg), HCG (500, 1000, 1500 IU/kg)) so với việc tiêm nước muối sinh lý 0,9% (đối chứng) tại thời điểm trước khi tiêm (0h) so với sau khi tiêm 24, 48, và 72h

Nội dung chính của nghiên cứu này là:

- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc tiêm hormone kích thích sinh sản lên đặc tính lý học của tinh dịch cá chẽm mõm nhọn

- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc tiêm hormone kích thích sinh sản lên đặc tính sinh hóa của dịch tương cá chẽm mõm nhọn

- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc tiêm hormone kích thích sinh sản lên các thông

số hoạt lực của tinh trùng cá chẽm mõm nhọn

- Nghiên cứu ảnh hưởng của việc tiêm hormone kích thích sinh sản lên cấu trúc tinh trùng cá chẽm mõm nhọn

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu này:

Ý nghĩa khoa học: Là tài liệu tham khảo, cơ sở bước đầu cho các nghiên cứu tương

tự sau này trên cá chẽm mõm nhọn và trên các đối tượng khác

Ý nghĩa thực tiễn: Xác định được loại, liều lượng, thời gian sau khi tiêm hormone

kích thích sinh sản thích hợp nhất cho chất lượng tinh trùng tốt nhất, góp phần nâng cao

tỷ lệ thành công trong sản xuất giống nhân tạo cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis (Cuvier và Valenciennes, 1828)

Nha Trang, ngày 23 tháng 3 năm 2017

Học viên thực hiện

Võ Thị Thu Hiền

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Một số đặc điểm sinh học cá chẽm mõm nhọn

Loài: Psammoperca waigiensis (Cuvier và Valenciennes, 1828)

Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt

Sand bass Cá chẽm mõm nhọn

Glass eyed perch Cá vược mõm nhọn

Waigieu sea perch Cá vược biển

1.1.2 Phân bố

Trên thế giới, cá phân bố ở các vùng biển ven bờ các nước nhiệt đới từ đông Ấn

Độ Dương đến tây Thái Bình Dương, giới hạn ở Bắc bán cầu là vùng đảo Ryukyu [53]

Hình 1.1 Hình thái ngoài cá chẽm mõm nhọn [93]

Trang 16

Vùng màu đỏ là vùng phân bố của cá chẽm mõm nhọn

Hình 1.2 Vùng phân bố cá chẽm mõm nhọn trên thế giới [45]

Ở Việt Nam, cá phân bố từ vịnh Bắc Bộ đến vịnh Thái Lan nhưng không nhiều

Chúng thường sống ở vùng đáy, ven biển, cửa sông và ở các thủy vực nước lợ Thường gặp ở các hang, hốc đá, thích nghi với đáy là các rạn san hô có nhiều thực vật lớn như rong, cỏ biển [22]

1.1.3 Đặc điểm hình thái

Cá chẽm mõm nhọn có thân dài, dẹt bên, đầu nhỏ nhọn, bắp đuôi ngắn, nền bụng hơi tròn Chiều dài thân bằng 2,7 - 3,6 lần chiều cao Mép sau xương nắp mang hình răng cưa, góc dưới có một gai khỏe kéo dài Xương nắp mang có một gai dẹp rất khỏe

ở gần góc trên Miệng rộng, hàm dưới hơi ngắn hơn hàm trên Màng nắp mang liền với

ức, có 7 tia nắp mang, lược mang dài và cứng [24] Thân phủ vảy lược lớn, dày, phần lược yếu Má và nắp mang có vảy, đỉnh đầu phủ vảy đến giữa hai mắt Hai vây lưng liền nhau, lõm ở giữa Vây đuôi tròn, lồi Thân màu nâu xám, bụng trắng bạc Chiều dài lớn nhất 47 cm, thông thường 19 - 25 cm [24]

1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng

Sự sinh trưởng của cá chẽm mõm nhọn tương đối chậm Trong cùng thời gian và điều kiện môi trường, con đực thường có kích thước nhỏ hơn con cái [24] Ở tuổi 2+

Trang 17

chiều dài trung bình là 24,3 cm ở con cái và 22,3 cm ở con đực Ở tuổi 4+ chiều dài con cái là 26,9 cm và con đực là 24,7 cm [186] Ở vùng biển Khánh Hòa, cá chẽm mõm nhọn có tuổi thọ phổ biến trong khoảng 1- 6+, trong đó, nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao từ 2+đến 4+

Theo Nguyễn Trọng Nho và Lục Minh Diệp (2003) cá chẽm mõm nhọn có tỉ lệ con đực thấp khi tuổi càng cao, cá đạt 5+ và 6+ tuổi thì không có con đực [27] Khác với kết quả nghiên cứu của Shimose và ctv (2006) cho thấy tỷ lệ cá đực càng cao khi tuổi

cá càng lớn, trên 4+ tuổi [186]

1.1.5 Đặc điểm sinh sản

Tuổi và kích thước thành thục: Tuổi thành thục lần đầu của cá chẽm mõm nhọn là

2+ với chiều dài toàn thân và khối lượng trung bình lần lượt là 25,6 cm và 233 g Tuổi tham gia sinh sản lần đầu của cá đực và cá cái là như nhau Thời gian phát triển phôi bình quân là 16-18 giờ ở nhiệt độ 27-30oC [21, 31]

Mùa vụ sinh sản: Ở Việt Nam, những nghiên cứu ban đầu về cá chẽm mõm nhọn

cho thấy loài này đẻ nhiều lần trong năm, rải rác từ tháng 3 đến tháng 10 trong điều kiện

tự nhiên [31]

Sức sinh sản: Sức sinh sản tuyệt đối của cá dao động trong khoảng

140.000-327.600 trứng/cá cái, trung bình 234.616±71.598 trứng/cá cái Sức sinh sản tương đối dao động trung bình trong khoảng 636-819 trứng/g cá cái [21]

Sự chuyển đổi giới tính: Đối với cá chẽm mõm nhọn, hiện nay vẫn còn nhiều ý

kiến đối lập nhau về vấn đề này Theo Shimose & Tachihara (2006), trong quá trình nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của loài này ở đảo Okinawa, Nhật Bản, không tìm thấy cá thể lưỡng tính Tác giả cho rằng không có hiện tượng chuyển đổi giới tính

như ở cá chẽm Lates calcarifer [186] Đối lập với ý kiến trên, Akbar và Zakimin (2005)

lại cho rằng, cá chẽm mõm nhọn là loài cá lưỡng tính với yếu tố đực chín trước Con đực thành thục khi cơ thể đạt 75-100 g tham gia sinh sản và sau đó chuyển thành con cái khi cơ thể đạt 150 g trở lên [39]

1.2 Đại cương về tinh trùng cá

Trang 18

Tinh trùng của đa phần các loài cá không hoạt động ở trong tinh sào và dịch tương Chúng chỉ hoạt động khi phóng thích ra ngoài môi trường nước Đây chính là điểm khác biệt giữa tinh trùng cá so với tinh trùng của động vật có vú Vì thế cấu tạo của chúng cũng như thành phần trong dịch tương sẽ khác nhiều so với tinh trùng ở động vật có vú [40, 42, 79, 80]

1.2.1 Quá trình tạo tinh

Sự phát triển của tinh trùng được chia làm 3 giai đoạn chính: giai đoạn tăng sinh của tinh nguyên bào gốc, sự phân chia phân bào giảm nhiễm và sự biến đổi của tinh tử thành tinh trùng

- Giai đoạn 1: Giai đoạn tăng sinh: trước khi bắt đầu phát triển tuyến sinh dục, tinh sào còn non chứa tinh nguyên bào gốc (spermatogonia) tăng sinh bằng cách phân chia nguyên phân Trong giai đoạn này, số lượng của các tế bào gốc trong tinh sào tăng lên qua một số chu kỳ phân bào từ khoảng 5 đến 15 tùy thuộc vào loài Trong quá trình phân chia, tế bào con cần duy trì trực tiếp giữa các tế bào chất với nhau Trong giai đoạn của

sự gia tăng phân bào, các spermatogonia đầu tiên thông qua một giai đoạn có tốc độ phân chia chậm được gọi là spermatogonia A và sau đó thông qua một giai đoạn có tốc

độ phân chia nhanh hơn được gọi là spermatogonia B [65]

- Giai đoạn 2: Giai đoạn phân bào giảm nhiễm: việc phân bào cuối cùng của spermatogonia B tạo ra túi tinh bào (spermatocytes) chính tham gia vào quá trình phân bào giảm nhiễm Trong suốt giai đoạn 2, spermatocytes tiếp tục sự phân chia phân bào giảm nhiễm lần đầu, trong đó bao gồm việc sao chép DNA và tái tổ hợp thông tin di truyền, dẫn đến sự hình thành của spermatocytes thứ cấp Chúng nhanh chóng đi đến phân bào giảm nhiễm thứ cấp nhưng không sao chép DNA, dẫn đến sự hình thành của các tế bào mầm đơn bội gọi là tiền tinh trùng hay tinh tử (spermatids) [65]

- Giai đoạn 3: Sự biến đổi của tinh tử và tinh trùng Tinh tử bắt đầu quá trình biến đổi trong đó các tế bào đơn bội spermatids biệt hóa thành roi tinh trùng Quá trình này làm tế bào giảm mạnh về kích thước (>80%) [65]

Trang 19

Hình 1.3 Sơ đồ tạo tinh trùng cá [65]

1.2.2 Cấu trúc của tinh trùng cá

Tinh trùng của các loài cá khác nhau thì khác nhau khá nhiều về cấu trúc, tuy nhiên tất cả đều có nét chung và có liên quan mật thiết đến khả năng sống và chức năng chủ yếu là thụ tinh [112]

Mối liên hệ giữa cấu trúc và vận động của tinh trùng, ảnh hưởng của nó đến sự thụ tinh là một trong những vấn đề hấp dẫn các nhà khoa học khi nghiên cứu về sinh sản [199] Kích thước và cấu trúc của tinh trùng được biết là có liên quan đến quá trình thụ tinh [109, 181] Những sự khác biệt trên tinh trùng giữa các con đực có thể ảnh hưởng đến kết quả cạnh tranh thụ tinh Một vài nghiên cứu chỉ ra rằng tinh trùng có kích thước dài bơi nhanh hơn tinh trùng ngắn [64, 115, 188]

Tinh trùng là những tế bào rất nhỏ, về cấu trúc, nhìn chung gồm 3 phần: phần đầu, phần cổ và phần đuôi [112]

Trang 20

Hình 1.4 Cấu tạo tinh trùng cá [112]

Phần đầu: Đầu tinh trùng là phần có khả năng kích thích trứng và chuyển vật chất

di truyền vào trong trứng Đầu tinh trùng ở các loài cá khác nhau thì khác nhau về kích thước, đầu tinh trùng có chứa nhân, chứa nhiễm sắc thể mang vật chất di truyền, và ở một vài loài có thể đỉnh bao trùm lên đầu tinh trùng Kích thước phù hợp và hình dạng của đầu tinh trùng là điều kiện tiên quyết của quá trình xâm nhập vào trứng [112] Đầu tinh trùng thường rất to so với các phần khác Đầu tinh trùng gồm có hai phần

là nhân và thể đỉnh (acrosome) Thể đỉnh nằm trên cùng của đầu Thể đỉnh có hình như chiếc mũ trùm xuống phía dưới, trong nó chứa enzyme Hialuronidaza có tác dụng hòa tan màng tế bào trứng mở đường cho tinh trùng xâm nhập vào trứng khi thụ tinh Thể đỉnh do bộ máy Golgii tạo thành Nhân tinh trùng nằm dưới thể đỉnh, rất to và đơn độc, chứa nguyên liệu di truyền của giao tử đực Bao quanh nhân và thể đỉnh là một lớp tế bào chất khá mỏng [17]

Nhìn chung, đầu tinh trùng cá xương tương đối nhỏ (2-4 µm), loại trừ một số trường hợp ngoại lệ đã được quan sát trên cá chình Đại Tây Dương, cá tầm, và cá tầm

thìa Polyodon spathula với chiều dài lên đến 10 µm và chiều rộng hơn 2 µm, có chứa

thể đỉnh (acrosome) [70, 84, 85, 97] hoặc không chứa thể đỉnh [38]

Trang 21

Hình thái của đầu tinh trùng khác nhau tùy loài, cá Esox lucius có đầu hình quả bóng [148, 175]; hình trứng ở cá Apogon imberbis [123]; hình bầu dục ở cá đù vàng Larimichthys polyactis [129]; hình quả chuối ở cá chình Đại Tây Dương Anguilla Anguilla [96, 196]; hình lưỡi liềm ở cá Conger myriaster [163]; hình móng ngựa ở cá filefish Thamnaconus modestus [128]; ở cá mè trắng Hypophtalmichthys molitrix đầu tinh trùng lớn [52, 88]; trong khi đó đầu tinh trùng cao và kéo dài ở cá Mimagoniates barberi [166]; hoặc cá Perca fluviatilis đầu tinh trùng lại bằng phẳng [174]

Phần cổ: Phần cổ tương đối ngắn, cách đầu bằng một màng mỏng Phần cổ chứa

trung tử và ty thể Trong tế bào chất có hai trung tử, một nằm sát nhân và một nằm xa nhân Phần cổ tinh trùng cá giống với cổ tinh trùng ở động vật có vú, ngoại trừ nó chứa

ít ty thể hơn và roi của nó được tách ra từ phần cổ bởi một lớp tế bào chất [123]

Từ mặt cắt ngang phần cổ tinh trùng một số loài cá xương cho thấy có sự khác

nhau về số lượng ty thể giữa các loài, như ở cá rô Perca fluviatilis chỉ có một ty thể đã

được tìm thấy trong đầu tinh trùng [174] trong khi hơn 20 ty thể được tìm thấy trong

phần cổ của tinh trùng cá Idus melanotus [98], trong các loài cá chép nó dao động từ

2-10 ty thể [50], ở cá Limanda yokohamae có tám ty thể, cá Limanda herzensteini, cá Platichthys stellatus có bảy ty thể, cá Paralichthys olivaceus có sáu ty thể [69]; và ba ty thể ở cá đù vàng Larimichthys polyactis [129].

Từ trung tử đuôi phát ra các sợi trục của tinh trùng Trung tử đầu đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân chia trứng đã được thụ tinh [112] Trong cá sụn và cá xương, chỉ có các ty thể dễ được nhận thấy, trong khi trung tử bị ẩn trong ống dẫn bên trong [98]

Phần đuôi (roi): Đuôi tinh trùng cá được bao bọc bởi một màng chung Đuôi tinh

trùng cá là cơ quan vận động, đuôi dài và mảnh tùy theo loài Đoạn đầu của đuôi tinh trùng là vòng xoắn ty thể, góp phần cung cấp năng lượng cho hoạt động của đuôi Ty thể là bào quan mang các enzyme oxy hóa và enzyme oxy phosphorine hóa do vậy nó

có liên quan đến quá trình chuyển hóa năng lượng của tinh trùng Roi đảm bảo cho tinh trùng hoạt động gặp trứng và tham gia vào quá trình thụ tinh Sự di chuyển được thực hiện bằng cách chuyển động co duỗi lượn sóng và chuyển động đập của đuôi [112]

Trang 22

Chiều dài đuôi tinh trùng thay đổi tuỳ loài, ở cá hồi O kisutch khoảng 2,6 µm [144], ở cá da trơn khoảng 94 µm [114] và ở C myriaster khoảng 37 µm [163] Chiều

dài đuôi khác nhau ở các loài cá chép, dao động trong khoảng 36 – 60 µm [2]

Cấu trúc đuôi gồm một đôi sợi trục ở trung tâm và chín đôi ở ngoại vi và được gọi

là kiểu “9+2” [52] Cấu trúc “9 + 2” và phân tử thành phần của axoneme cũng được bảo tồn giữa các sinh vật nhân chuẩn lông mao, lông roi từ sinh vật đơn bào sang đến người

[112] Cấu trúc kiểu “9+2” đã được quan sát thấy ở cá đù vàng Larimichthys polyactis [129], cá filefish Thamnaconus modestus [128], cá Hippoglossus Hippoglossus [40], cá nheo Mỹ Ictalurus punctatus (Rafinesque), cá hồi Oncorhynchuskisutch (Walbaum), cá chép Cyprinus carpio, cá Misgurnus fossilis, họ Siniperca (Siniperca chuatsi, Siniperca kneri, và Siniperca scherzeri) [52, 98, 114, 144, 145]; trong khi các loài cá thuộc bộ cá

chình Anguilliformes và bộ cá cháo Elopiformes cấu trúc roi là kiểu “9+0”, không có đôi sợi trục ở trung tâm [147]

Hình 1.5 Mặt cắt ngang của đuôi tinh trùng cá xương kiểu “9+2” [112] 1.2.3 Đặc điểm lý học của tinh dịch cá

Tinh dịch (semen or milt) của cá bao gồm tinh trùng và dịch tương sau khi ly tâm Tinh dịch là sản phẩm tiết của tinh sào vào ống dẫn tinh trùng, sự xáo trộn thành phần của nó sẽ dẫn đến thay đổi chất lượng tinh trùng [59] Trong dịch tương, có các thành phần rất quan trọng và được trình bày cụ thể ở phần sau Vai trò chính của các thành phần trong dịch tương này là môi trường giúp cho tinh trùng sống nhưng không hoạt động [180] Đây chính là lý do tại sao các nhà nghiên cứu dựa vào thành phần các chất

Head: Đầu tinh trùng cá Flagella: Roi (đuôi) tinh trùng cá

Trang 23

có trong dịch tương của mỗi loài cá riêng biệt như là chất bảo quản tinh trùng cá trong

tủ lạnh và trong nitơ lỏng [130, 137]

Các thông số lý học của tinh dịch bao gồm: Thể tích tinh dịch, mật độ tinh trùng,

độ quánh tinh dịch và tổng số tinh trùng [94] Việc nghiên cứu các thông số này rất cần thiết và hữu ích để cung cấp những thông tin về chất lượng tinh trùng cá cũng như bất

kỳ yếu tố khác ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng, thông qua đó đánh giá khả năng sinh sản của tinh trùng nhằm mục đích chuẩn bị cho sinh sản nhân tạo [57, 128] Tuy nhiên, ở mỗi loài khác nhau thì các thông số này cũng khác nhau, thậm chí trên cùng một loài nhưng tại những thời điểm sinh sản khác nhau cũng thay đổi [172]

Thể tích tinh dịch là một trong những yếu tố đánh giá chất lượng tinh trùng Các loài khác nhau, thể tích tinh dịch cũng sẽ khác nhau, thậm chí trong cùng loài nhưng khác thời điểm cũng sẽ khác nhau [106, 112] Thể tích tinh dịch cá chẽm mõm nhọn là

1,28ml [25]; cá Acanthopagruss chlegelii 1,97 ml [194], cá hồi Salmo trutta caspius 3,9

ml [107]; cá Thamnaconus modestus 0,3ml [128]; cá đù vàng Larimichthys polyactis 1,1 ml [129]; cá dìa Siganus guttatus 0,86 ml [15]; cá filefish Thamnaconus modestus 0,3 ml [128], cá mú cọp Epinephelus fuscoguttatus 38,7 ml [6], cá Brycon siebenthalae 1,80 ml [83], cá bơn châu Âu Platichthys flesus luscus 0,7 ml [179]

Độ quánh (spermatocrit) tinh dịch là một trong yếu tố ảnh hưởng tới mật độ tinh trùng loài cá đó Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng có một sự tương quan giữa mật độ tinh trùng và độ quánh tinh dịch cá như trên cá hồi Salmonids, cá chép Cyprinids và cá bơn

Đại Tây Dương Hippoglossus hippoglossus [106, 161] Độ quánh tinh dịch của loài

được xem như thước đo cho mật độ tinh trùng loài cá đó [102] Độ quánh cũng thay đổi tùy loài, đặc biệt độ quánh liên quan đến chất lượng nguồn cá đực Độ quánh cao chứng

tỏ tinh dịch con cá đó cho mật độ cao hơn so với những con cá mà khi vuốt tinh loãng hơn (độ quánh thấp hơn) [106] Mặt khác, tinh dịch thường có màu trắng sữa, khi tinh dịch cá vuốt ra có nhiễm phân hay nước tiểu màu sắc sẽ tối hơn và khi đó xác định độ quánh sẽ không chính xác Vì vậy, không nên sử dụng tinh dịch có màu quá tối so với bình thường để phân tích vì khi đó các thành phần trong tinh dịch đã bị nhiễm bẩn hay chuyển hóa Độ quánh tinh dịch khác nhau ở một số loài như: cá chẽm mõm nhọn

Psammoperca waigiensis 87,7% [131], cá mú cọp Epinephelus fuscoguttatus 92,3% [6],

Trang 24

cá dìa Siganus guttatus 91,71% [15], cá đù vàng Larimichthys polyactis 97,1% [129],

cá filefish Thamnaconus modestus 73,3% [128], cá bơn châu Âu Platichthys flesus luscus 94,0% [179], cá Brycon siebenthalae 41,5% [83], cá mè trắng Hypophthalmichthys molitrix 69%, cá trắm cỏ Ctenopharyngodon idellus 72% [201]

Mật độ tinh trùng và tổng số tinh trùng là những yếu tố đánh giá chất lượng tinh trùng cá, tuy nhiên mật độ tinh trùng và tổng số tinh trùng có sự khác nhau giữa các con đực trong cùng loài, giữa mùa sinh sản, giữa các mùa trong năm và giữa các loài khác

nhau [112] Ví dụ, cá Carassius auratus có sự thay đổi mật độ tinh trùng theo bốn mùa

trong năm; mật độ tinh trùng (tt/ml/con đực) vào mùa hè 57,30±10,41 x 109 , mùa đông 65,09±80,40 x 109, mùa xuân 48,0±7,08 x 109 và mùa thu 40,42±16,54 x 109 [207] Mật

độ tinh trùng cá trắm cỏ là 31,1±1,7 x 109; cá mè trắng là 31,6±2,8 x 109 [17]; cá mú

cọp Epinephelus fuscoguttatus là 33,1 x 109 [6]; cá dìa Siganus guttatus là 9,69±1,45 x

109 [15]; cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis là 31,35±2,12 x 109 [25]; cá đù

vàng Larimichthys polyactis là 2,5±0,2 x 109 [129], cá filefish Thamnaconus modestus

là 2,6 x 107 [128], cá bơn châu Âu Platichthys flesus luscus là 2,7 x 109 [179], cá Brycon siebenthalae là 13,9 x 109 [83], cá hồi Salmo trutta caspius là 3,3 x 109 [107], cá hồi

Salmo trutta macrostigma là 6,02 x 109 [59]

Các thông số về đặc tính lý học của tinh dịch một số loài cá được tóm tắt và thể hiện thông qua Bảng 1.1

Bảng 1.1 Các thông số lý học của tinh dịch một số loài cá

Trang 25

Cá dìa Siganus guttatus 0,86±0,2 9,69±1,45 91,71±3,35 - [15]

TSTT: Tổng số tinh trùng; tt: tinh trùng

1.2.4 Đặc tính sinh hóa của dịch tương

Thành phần dịch tương cá bao gồm có Protein, Lipid, Glucid các Acid amin và muối vô cơ Thành phần muối vô cơ, đa phần các ion hóa trị dương (cation) và ion hóa trị âm (anion) chiếm ưu thế bao gồm: Natri (Na+), Kali (K+), Clorua (Cl-), Canxi (Ca2+)

và Magiê (Mg2+) Trong đó ion Na+, Cl- chiếm chủ yếu sau đó là K+, hai ion thứ yếu là

Ca2+ và Mg2+ [43, 46, 89] Nồng độ của chúng sẽ thay đổi từ loài này sang loài khác, nhưng có một khoảng thích hợp cho mỗi ion để cung cấp những điều kiện tốt nhất hay môi trường dinh dưỡng tốt cho tinh trùng sống và không hoạt động [36, 57]

Nồng độ các ion này trong dịch tương khác nhau tùy loài Chẳng hạn như:

Nồng độ ion Na+ (mmol/l)trên cá trắm cỏ Ctenopharyngodon idella là 110±0,81;

cá mè trắng Hypophthalmichthys molitrix là 64,0±1,2 [201]; cá mú cọp Epinephelus

Trang 26

fuscoguttatus là 176,7 [6]; cá dìa Siganus guttatus là 169,5 [15]; cá chẽm mõm nhọn

Psammoperca waigiensis là 154,5 [25]; cá đù vàng Larimichthys polyactis là 148,3 [129]; cá filefish Thamnaconus modestus là 164,0 [128]; cá hồi Salmo trutta caspius là 159,3 [107]; cá hồi Salmo trutta macrostigma là 121,0 [59]; cá hồi Oncorhynchus masou masou là 144,0 [135]

Nồng độ ion K+ (mmol/l) trên cá trắm cỏ Ctenopharyngodon idella là 36,0; cá mè

trắng Hypophthalmichthys molitrix là 25,0 [201]; cá mú cọp Epinephelus fuscoguttatus

là 7,1 [6]; cá dìa Siganus guttatus là 6,1 [15]; cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis là 16,89 [25]; cá đù vàng Larimichthys polyactis là 17,1 [129]; cá filefish Thamnaconus modestus là 9,8 [128]; cá hồi Salmo trutta caspius là 33,72 [107]; cá hồi Salmo trutta macrostigma là 8,18 [59]; cá hồi Oncorhynchus masou masou là 18,0

Nồng độ ion Ca2+ (mmol/l) trên cá mú cọp Epinephelus fuscoguttatus là 2,93 [6];

cá dìa Siganus guttatus là 9,0 [15]; cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis là 12,75 [25]; cá đù vàng Larimichthys polyactis là 2,9 [129]; cá filefish Thamnaconus modestus là 14,9 [128]; cá hồi Salmo trutta caspius là 1,68 [107]; cá hồi Oncorhynchus masou masou là 83,2 [135]

Nồng độ ion Mg2+ (mmol/l)trên cá mú cọp Epinephelus fuscoguttatus là 15,1 [6];

cá dìa Siganus guttatus là 15,6 [15]; cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis là 6,58 [25]; cá đù vàng Larimichthys polyactis là 1,8 [129]; cá filefish Thamnaconus modestus là 7,2 [128]; cá hồi Salmo trutta caspius là 0,98 [107]; cá hồi Oncorhynchus masou masou là 14,8 [135]

Trang 27

Tùy thuộc vào nồng độ của các ion, hầu hết chúng đều tham gia vào việc kích hoạt tinh trùng cá hoạt động bằng cách góp phần vào ion nội bào hoặc bằng cách tăng giảm nồng độ để điều hòa áp suất thẩm thấu [126] Sự tương quan giữa các thành phần, nồng

độ các cation và hoạt lực tinh trùng đã được nghiên cứu trên nhiều loài khác nhau Lahnsteiner và ctv (1995); Erin và ctv (2012) cho rằng có sự tương quan giữa khả năng

di chuyển của tinh trùng và thành phần dịch tương trong tinh dịch cá Alburnus alburnus

và gợi ý rằng mối tương quan này có thể cho biết các thành phần ảnh hưởng tới khả năng di chuyển của tinh trùng Các tác giả kết luận rằng hàm lượng ion Na+ và K+ có mối quan hệ tích cực đôi khi là tiêu cực tương ứng với tỷ lệ phần trăm (%) tinh trùng vận động [89, 124] Trong khi đó, một số khác công nhận sự tương quan giữa tỉ lệ Na+/K+

với khả năng sinh sản tinh trùng trong cá hồi Đại Tây Dương Salmo salar mà không đưa

ra một kết luận nào về sự liên quan đến vận động của tinh trùng cá [106] Tuy nhiên, đa

số các nghiên cứu của nhiều tác giả trên những đối tượng khác nhau về cả cá biển, cá nước ngọt hay các loài cá di cư nhận xét, không chỉ có nồng độ các ion nêu trên ảnh hưởng tới sự vận động của tinh trùng cá mà tỉ lệ giữa các ion cũng có tác động lớn đến hoạt lực tinh trùng cả về mặt tích cực (tức là làm tăng hoạt lực tinh trùng) lẫn tiêu cực (tức là làm giảm, đôi khi kìm hãm hoạt lực tinh trùng) [54, 191]

Đối với cá biển, nồng độ thẩm thấu của tế bào chất tinh trùng gần bằng với dung dịch nước muối NaCl 0,75%, tức là thấp hơn so với nồng độ thẩm thấu của nước biển Khi vào nước biển, tinh trùng cá biển có khả năng điều hòa nồng độ thẩm thấu để đảm bảo cho tế bào chất không bị mất nước, nhanh chóng thích nghi với môi trường, duy trì hoạt động và khả năng thụ tinh của tinh trùng trong điều kiện môi trường có nồng độ thẩm thấu cao hơn Để thực hiện được quá trình điều chỉnh nói trên tinh trùng phải tiêu hao một phần năng lượng dự trữ dẫn đến làm giảm thời gian hoạt động của tinh trùng ngoài môi trường nước biển Tinh trùng cá biển không có khả năng điều hòa nồng độ thẩm thấu khi chúng ở trong môi trường có nồng độ thẩm thấu thấp hơn so với nồng độ thẩm thấu của tế bào chất Tức không có khả năng chống lại sự xâm nhập của nước vào

tế bào chất Do đó, khi tinh trùng cá biển vào nước ngọt thì tế bào chất của chúng hút nước, phần đuôi co lại biến thành hình tròn tựa viên bi, những tinh trùng dạng này tuy vẫn sống song không thể vận động được và không có khả năng thụ tinh Như tinh trùng

cá đối khi vào nước ngọt bị biến dạng như trên mà vẫn có thể sống được khoảng 30 phút

Trang 28

Nếu đưa chúng trở lại vào nước biển bình thường thì nước từ trong tinh trùng lại có thể thấm ra ngoài, đuôi kéo dài ra như cũ, tinh trùng lại dần dần khôi phục sự vận động có hiệu quả [2, 4]

Hàm lượng Protein tổng số trong tinh dịch thấp, khoảng 1-3 g/l [76] Protein tổng

số (g/l) ở một số loài cá như: Cá mú cọp Epinephelus fuscoguttatus là 1,3 [6]; cá dìa Siganus guttatus là 1,44[15]; cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis là 1,15 [25];

cá đù vàng Larimichthys polyactis là 1,0 [129] Mối liên hệ giữa đặc tính sinh lý của

tinh trùng là do sự tác động qua lại giữa hàm lượng Protein trong tinh dịch và mật độ tinh trùng tuy nhiên vai trò đặc biệt của Protein trong tinh dịch vẫn chưa được nghiên cứu sâu [125, 139]

Đối với hầu hết các loài cá pH dịch tương là một trong những yếu tố chính kích hoạt tinh trùng vận động Alavi và ctv (2005) nghiên cứu trên nhóm cá hồi và kết luận rằng pH dịch tương thường 7,5 đến 8,5 và đó cũng là pH tốt nhất cho hoạt lực tinh trùng loài cá này; và pH bên trong tế bào của tinh trùng thấp hơn khoảng 1 đơn vị so với pH

bên ngoài môi trường [41] pH trong tinh dịch cá chẽm mõm nhọn Psammoperca waigiensis dao động trong khoảng 7,85±0,07 [131], trong khi đó pH tinh dịch cá mú cọp Epinephelus fuscoguttatus là 8,1 [6]; pH tinh dịch cá đù vàng Larimichthys polyactis ;

cá filefish Thamnaconus modestus là 7,7 [128, 129]; pH tinh dịch cá trắm cỏ Ctenopharyngodon idella là 7,9; cá mè trắng Hypophthalmichthys molitrix là 7,8 [201];

pH tinh dịch cá dìa Siganus guttatus là 8,0-8,25 [15]

Các thông số sinh hóa trong dịch tương một số loài cá được tóm tắt và thể hiện thông qua Bảng 1.2

Trang 29

Bảng 1.2 Các thông số sinh hóa trong dịch tương một số loài cá

Tham khảo

Cá dìa Siganus guttatus 169,5±4,35 6,1±0,27 144,7±2,9 09±0,39 15,6±1,7 1,44±0,0 8,0-8,25 355,9±7,0 [15]

NĐTT: Nồng độ thẩm thấu; TP: Protein tổng số.

Trang 30

1.2.5 Hoạt lực của tinh trùng

Hoạt lực tinh trùng là một trong những thông số quan trọng để đánh giá chất lượng

tinh trùng và khả năng thụ tinh trong sinh sản nhân tạo ở cá xương [40] Cá đực thành

thục tốt thì tinh trùng khỏe mạnh và tuổi thọ kéo dài hơn so với cá đực chưa thành thục [168]

Hoạt lực của tinh trùng phụ thuộc vào đặc điểm của loài, mức độ thành thục của

nó và điều kiện môi trường mà nó đang sống Sự chuyển động và thời gian vận động của tinh trùng có thể giúp đánh giá được chất lượng tinh trùng Tinh trùng trong tinh dịch không hoạt động và chỉ hoạt động trong dung dịch hoạt hóa [9]

Các thông số hoạt lực bao gồm tỷ lệ phần trăm của các tế bào tinh trùng vận động (phần trăm hoạt lực), vận tốc, tổng thời gian vận động của tinh trùng [86, 101, 134, 149, 178]

Phần trăm hoạt lực tinh trùng: Việc đánh giá các thông số hoạt lực có thể được

xác định bằng phương pháp ước lượng chủ quan bằng mắt thường dưới kính hiển vi hoặc phương pháp khách quan hơn bằng hệ thống phân tích tinh trùng kết nối với máy tính (Computer-Aided Sperm Analysis (CASA) systems) [178]

Đánh giá phần trăm hoạt lực bằng phương pháp ước lượng chủ quan: Việc

đánh giá khả năng vận động của tinh trùng cá cơ bản được nhiều tác giả dựa trên các ước tính chủ quan về các thông số hoạt lực trong suốt thời gian qua [86, 101, 134, 149, 178] Theo đó, tỷ lệ phần trăm tinh trùng vận động tại chỗ và chuyển động mạnh khi

được kích hoạt bởi dung dịch hoạt hoá được đánh giá theo 5 mức độ, bao gồm: 0, không

có tinh trùng nào vận động; 1, có đến không quá 25% tế bào vận động; 2, có đến không quá 50% tế bào vận động; 3, có đến không quá 75% tế bào vận động và 4, có nhiều hơn 75% tế bào vận động được quan sát thấy [101, 149, 204] Việc đánh giá hoạt lực tinh trùng bằng phương pháp này phụ thuộc nhiều vào cảm quan của người quan sát, do đó còn hạn chế kết quả

Đánh giá phần trăm hoạt lực bằng hệ thống phân tích tinh trùng kết nối với máy tính (CASA): Mặc dù sự phát triển của kỹ thuật để đánh giá khả năng vận động

tinh trùng gần đây đã có nhiều tiến bộ, nhưng hầu hết các tiến bộ được đăng ký đều chỉ trên động vật có vú bao gồm con người so với cá và các sinh vật thủy sinh khác Các hệ

Trang 31

thống ban đầu đã được phát triển để kiểm tra khả năng sinh sản của nam giới trong phòng thí nghiệm lâm sàng, và sau đó được áp dụng trên các loài động vật có vú khác [90, 110, 153, 200] Hoạt lực tinh trùng cá được đo khách quan lần đầu tiên bởi Cosson

và ctv (1985), sử dụng chiếu sáng hoạt nghiệm và quay video vận động tinh trùng cá hồi sau khi được kích hoạt [81] Chỉ trong vài năm trở lại đây, hệ thống CASA hiện đại được chuyển thể để nghiên cứu trên tinh trùng cá hoặc trên các đối tượng động vật thủy sản khác [71, 118, 173, 197] Hệ thống CASA được sử dụng như là để ghi lại các hình ảnh vận động của tinh trùng, xử lý và phân tích chúng [58]

Với phương pháp ước lượng chủ quan như đã trình bày ở trên thì sự khác nhau trong vận động của tinh trùng sẽ khó hoặc không xác định được Tuy nhiên, việc đánh giá vận động tinh trùng bằng hệ thống CASA cho phép đo các thông số hoạt lực của tinh trùng chính xác và đáng tin cậy hơn Kỹ thuật này cho phép các nghiên cứu về vận động của tinh trùng được chia thành các kiểu khác nhau như chuyển động thẳng (tuyến tính), chuyển động xoay tròn (cong), chuyển động theo hình zic zắc [173]

Vận tốc tinh trùng: Để đánh giá vận tốc tinh trùng trên cá (cá da trơn châu Phi,

cá chép, cá vàng, cá rô Âu-Á, cá hồi, cá tầm) các nghiên cứu về hệ thống theo dõi tinh trùng được sử dụng Theo đó, các thông số để đánh giá vận tốc tinh trùng một cách hữu ích nhất là vận tốc chuyển động theo đường cong (VCL: curvilinear velocity), vận tốc chuyển động thẳng (VSL: straight line velocity) Nếu quỹ đạo là một đường thẳng thì VCL và VSL là giống hệt nhau [178]

Hình 1.6 Sơ đồ biểu diễn một số kiểu chuyển động của tinh trùng cá [104]

Ngay sau khi kích hoạt, tinh trùng cá xương thường di chuyển theo một quỹ đạo thẳng (VSL) hoặc hơi cong (VCL) [178] Người ta thường sử dụng VAP (average path velocity) như là vận tốc trung bình để đánh giá vận tốc tinh trùng trên các loài cá [77,

VCL (curvilinear velocity): vận tốc chuyển động cong VSL (straight line velocity): vận tốc chuyển động thẳngVAP (average path velocity): vận tốc trung bình ALH (amplitude of lateral head displacement): biên độ chuyển động của đầu tinh trùng

Trang 32

115, 118, 178] Một số kiểu chuyển động của tinh trùng cá thông qua hệ thống CASA được thể hiện qua Hình 1.6

Ở nghiên cứu này, vận tốc trung bình (VAP) được sử dụng để đánh giá vận tốc chuyển động của tinh trùng cá chẽm mõm nhọn

Thời gian hoạt lực (thời gian vận động của tinh trùng): Thời gian hoạt lực được

tính từ lúc tinh trùng bắt đầu được kích hoạt vận động đến lúc chấm dứt vận động [91] Năng lượng cung cấp cho sự vận động của tinh trùng chủ yếu dựa vào sự phân giải Glucid, năng lượng dự trữ của tinh trùng Cá đực thành thục tốt thì tinh trùng khỏe mạnh

và tuổi thọ kéo dài hơn so với cá đực chưa thành thục [168]

Ở nghiên cứu này, các thông số hoạt lực trên tinh trùng cá chẽm mõm nhọn được đánh giá một cách khách quan bởi bởi hệ thống CASA

1.2.6 Yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thu mẫu

Kỹ thuật chọn cá thu mẫu

Đây là khâu đầu tiên rất quan trọng vì chất lượng tinh trùng của cá đực có tốt hay không phụ thuộc vào mức độ thành thục và điều kiện sống của cá đực Khả năng vận động của tinh trùng chưa thành thục hay quá thành thục đều rất kém so với tinh trùng thành thục vừa Ngoài ra, việc sử dụng kích dục tố cũng ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng

Thao tác thu tinh

Trước khi thu tinh, dụng cụ cần được khử trùng và để nơi thoáng mát và kiểm tra lại cá đực Trước khi thu mẫu phải lau khô phần dọc theo bụng cá Khi thu mẫu phải hết sức cẩn thận và nhẹ nhàng, tránh không để phân cá, máu hay nước tiểu lẫn vào tinh dịch, nếu không tinh trùng dễ bị kích hoạt dẫn đến thời gian cất giữ ngắn hay không đạt kết quả mong muốn Nên lấy tinh dịch vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát để tinh dịch không

bị biến đổi, không nên lấy tinh dưới ánh nắng mặt trời để tránh tinh trùng bị tổn thương Những ống đựng tinh dịch (eppendorft tube) nên được để trên khay đá khô, không nên nắm trong tay bởi nhiệt độ cơ thể người thu mẫu có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng Tinh dịch thu xong được đặt trên đá lạnh và vận chuyển nhanh về

Trang 33

phòng thí nghiệm để kiểm tra và tiến hành phân tích các thông số cần thiết cho thí nghiệm nghiên cứu

1.3 Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của hormone lên chất lượng tinh trùng cá

Trong nuôi trồng thủy sản, việc sử dụng hormone là rất cần thiết, không chỉ áp dụng cho những loài không sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt mà còn cho cả những đối tượng có thể sinh sản tự nhiên trong điều kiện nhân tạo, nhằm thu được sản phẩm sinh dục đúng thời gian yêu cầu [32, 100, 208, 211] Hiện nay, việc điều tiết lượng tinh dịch trên cá đực bằng việc sử dụng hormone trở thành vấn đề cần thiết nhằm tăng tỷ lệ thành công trong sinh sản nhân tạo ở các trang trại sản xuất giống Hiện nay có nhiều loại chế phẩm hormone được sử dụng trong sinh sản nhân tạo cá để kích thích cơ chế sinh sản như tiết tinh ở cá đực và rụng trứng ở cá cái Nhìn chung, có thể chia thành 3 nhóm chế phẩm hormone chính được sử dụng trong sinh sản nhân tạo cá, đó là: (1) bao gồm các loại kích dục tố như tuyến yên (PG), dịch chiết tuyến yên, hay các loại kích dục tố (KDT) tinh khiết được chiết xuất và tinh chế trong phòng thí nghiệm, KDT huyết thanh ngựa chửa và HCG (Human Chorionic Gonadotropin), đây là nhóm hormone sử dụng đầu tiên trong sinh sản nhân tạo cá; (2) bao gồm các hormone của não bộ như hormone phóng thích KDT (GnRH), các loại GnRH tổng hợp và các chất kháng Dompamine như Domperidone hay Pimozid và (3) là các loại steroid như Cortexolon, Progresteron (P), Desoxycorticosteron (DOC), Desoxycorticosteron Acetat (DOCA), Methyltestosteron (MT), Hydroxyprogesteron, Oxyprogesteron và Hydrocortison [32, 121, 183]

lại hiệu quả tốt trên cá chép Cyprinus carpio và cá mè trắng [63, 105] Tiềm năng của

HCG trong việc kích thích tiết tinh và sinh tinh đã được thử nghiệm trên cá chẽm châu

Âu Dicentrarchus labrax ở giai đoạn trước 1 tuổi cho kết quả khả quan [182] Việc kết hợp HCG và PG đã được sử dụng kích thích tiết tinh ở cá chình Nhật Bản Anguilla

Trang 34

japonica [152], cá đối mục Mugil cephalus [185], cá Abramis brama [122], một số loài

cá da trơn [66] và cá chình châu Âu Anguilla Anguilla [49, 167]

LHRHa là một peptide được tổng hợp nhân tạo có thành phần cấu trúc tương tự với LHRH bản chất tự nhiên Ngày nay, LHRHa hoặc được sử dụng rộng rãi trong việc kích thích sinh sản trên các loài cá xương vì làm tăng hiệu quả đáng kể so với LHRH [177] LHRHa được sử dụng đơn, hoặc kết hợp với các chất đối kháng dompamine, hoặc kết hợp với HCG, PGE, 17α-MT có đem lại hiệu quả [82, 176] Hiệu quả được quan sát thấy bởi việc sử dụng đơn LHRHa trên một số loài cá biển như cá măng, cá chẽm, cá đối [177]

GnRHa cũng được sử dụng rộng rãi trong sinh sản nhân tạo vì chúng làm tăng hiệu quả đáng kể so với các GnRH tự nhiên GnRHa cũng được sử dụng để kích thích tiết

tinh ở cá nheo châu Âu Silurus glanis [143] , cá bơn Đại Tây Dương Hippoglossus hippoglossus [203], cá bơn xanh đen Rhombosolea tamporina [138] và cá Tor khudree

[51] Bên cạnh đó, GnRHa cũng đã được chứng minh là loại hormone kích thích gia tăng sinh tinh cho nhiều loài cá [210] Tất cả các nghiên cứu này đã được áp dụng cho các loài cá tự nhiên [122, 192] và trong điều kiện nuôi nhốt [61, 62] Kết quả của các nghiên cứu trên cho rằng loại, liều lượng và thời gian tiêm hormone cho cá đực khác nhau thì chất lượng tinh trùng cũng như đặc tính và hoạt lực cũng khác nhau và nó còn phụ thuộc tùy theo đặc trưng của loài

Abol-Munafi, và ctv (2006) nghiên cứu Ảnh hưởng của hormone sinh dục lên sự

tiết tinh của cá trê lai (giữa Clarias macrocephalus và C gariepinus) Nghiên cứu sử

dụng Ovaprim, Ovaplant, HCG, cPG, cPG kết hợp Ovaprim, cPG kết hợp HCG và nước muối sinh lý như là nghiệm thức đối chứng Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số thành thục sinh dục (GSI) của cá tăng đáng kể (P<0,05) khi sử dụng CPG và Ovaplant để tiêm (trong 10 ngày) so với nghiệm thức đối chứng (sử dụng nước biển) GSI của cá tăng khi

sử dụng Ovaprim và HCG nhưng không có ý nghĩa so với nghiệm thức đối chứng (sử dụng nước biển) Tuy nhiên, chỉ số SVSI (seminal vesicle-somatic index) của cá tăng

có ý nghĩa ở mỗi nghiệm thức sử dụng Ovaplant kết hợp HCG [37]

Kowalski và ctv (2012) đã tiến hành nghiên cứu Ảnh hưởng của thời gian sau khi

tiêm hormone lên số lượng và chất lượng tinh trùng cá Osmerus eperlanus L Nhóm

nghiên cứu sử dụng Ovaprim (sGnRHa và chất đối kháng Dompamin) để kích thích sự

tiết tinh của cá Osmerus eperlanus L Tinh dịch được thu vào các thời điểm 0, 24, 48,

Trang 35

và 72h sau khi kích thích bằng Ovaprim được xem là các nghiệm thức của nghiên cứu (mỗi nghiệm thức lặp lại 3 lần) Kết quả cho thấy rằng có sự ảnh hưởng của thời gian sau khi tiêm hormone lên số lượng và chất lượng tinh trùng cá đối Chỉ một lượng nhỏ tinh dịch (1-5 ml) đã được thu thập tại lúc ban đầu của thí nghiệm (0h), nhưng lại tăng lên đáng kể 24h sau khi kích thích bằng hormone Một sự gia tăng đáng kể trong thể tích tinh dịch được ghi nhận 48h sau khi kích thích hormone Các thông số được quan sát bởi CASA, chẳng hạn như tỷ lệ phần trăm hoạt lực, sự vận động, vận tốc, biên độ dao động của tinh trùng tăng sau 48h sau khi tiêm hormone; điều đó chứng tỏ rằng chất lượng tinh trùng cao Chất lượng tinh trùng được ghi nhận là không tăng tại thời điểm sau 72h sau khi tiêm hormone Ngoài ra, phân tích mô học cho thấy rằng sau 24h sau khi tiêm hormone, một lượng lớn tinh trùng đã được tiết ra từ tinh sào Tinh dịch của cá đối được kích thích bằng Ovaprim có màu đậm hơn so với cá đối chứng [121]

Miuravà ctv (2013) sử dụng HCG (1IU/g KL) và 17α-hydroxyprogesterone (OHP) (1 µg/g KL) để đánh giá sự thay đổi của các đặc tính (hoạt lực tinh trùng, pH tinh dịch, nồng độ ion của dịch tương) trên tinh trùng cá chình Nhật Bản trong mùa sinh sản Kết quả cho thấy việc tiêm bổ sung OHP sau khi tiêm HCG làm giảm đáng kể các đặc tính trên tinh trùng cá chình Nhật Bản [151]

Kalbassi và ctv (2014) đánh giá ảnh hưởng của LHRHa2 hoặc LHRHa2 kết hợp với chất đối kháng dopamine (MET), và CPE (Carp Pituitary Extract) lên chất lượng tinh trùng (thể tích tinh dịch, hoạt lực, độ quánh, các chỉ số sinh hóa của dịch tương, và

hiệu quả sinh sản nhân tạo (tỷ lệ nở và dị hình của cá sau khi nở)) cá Barbus sharpeyi

Phân tích sinh hóa của huyết tương tinh cho thấy rằng phần lớn các thông số bị ảnh hưởng bởi việc kích thích các nội tiết tố khác nhau Nhóm tác giả kết luận rằng chất

lượng tinh trùng cao nhất của cá Barbus sharpeyi có thể đạt được bằng cách sử dụng các

hormone LHRHA2 (10 mg kg-1 + MET) sau 8h, LHRHA2 (5 mg kg-1 + MET) sau 12h

và LHRHA2 (5 mg kg-1) sau 16h [117]

Tóm tắt một số loại hormone, liều lượng được áp dụng trên một số loài cá trên thế giới được thể hiện thông qua Bảng 1.3

Trang 36

Bảng 1.3 Một số loại hormone áp dụng trên một số loài cá trên thế giới

Cá Cirhinus mrigaha LHRHa Buserelin

KL: Khối lượng; TGHU:Thời gian hiệu ứng; TLTT(viết tắt T): Tỷ lệ thụ tinh; TLN (viết tắt N): Tỷ lệ nở; LHRHa (µg/kg); HCG (IU/kg)

Trang 37

1.3.2 Ở Việt Nam

Nghề nuôi trồng thủy sản nói chung và nghề nuôi cá biển nói riêng ở nước ta đang

có những bước phát triển vượt bậc cùng với những kỹ thuật nuôi, kỹ thuật sản xuất giống tiên tiến Nếu chúng ta có nhiều hơn nữa những nghiên cứu ban đầu về đánh giá chất lượng của tinh trùng thủy sản thì sẽ tạo cơ sở vững chắc cho những nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng thụ tinh nhân tạo cũng như làm tiền đề cho các nghiên cứu bảo quản tinh trùng, duy trì nguồn gen cho một số loài thủy sản

Tùy thuộc vào đặc điểm của từng loài cá, mức độ thành thục mà có phương pháp kích thích sinh sản khác nhau, có thể kích thích cá sinh sản bằng cách điều chỉnh các yếu tố sinh thái, hoặc sử dụng hormone Hiện nay trên thị trường ở nước ta, có một số loại chế phẩm hormone sử dụng trong sinh sản cá như Luteinizing Hormone Releasing Hormone analog (LHRHa), ovaprim (hỗn hợp LHRHa và Domperidon (DOM)), Human Chorionic Gonadotropin (HCG), … Mỗi loại hormone đều có ưu, nhược điểm, cũng như hiệu quả khác nhau khi sử dụng [18] Trong sinh sản nhân tạo động vật thuỷ sản ở Việt Nam, LHRHa, HCG, DOM được xem là những chế phẩm hormone truyền thống được

sử dụng để kích thích sự rụng trứng ở cá cái và tiết tinh ở cá đực của các loài cá biển và

cá nước ngọt [32] Sự tiết KDT của tuyến yên chịu sự kiểm soát một chất ức chế là Dompamin (DA) DA ức chế sự tổng hợp và tiết GnRH, và ức chế cả sự tiết KDT dưới ảnh hưởng của GnRH [205] Trong sinh sản nhân tạo, chất đối kháng Dompamin thường được sử dụng kết hợp với GnRH [169] Các chất đối kháng DA hiện nay trên thị trường bao gồm Domperidon (DOM), Pimozid, Metoclopramide

LHRHa được chứng minh có khả năng kích thích sự tiết kích dục tố ở một số loài

cá gây nên hiện tượng chín và rụng trứng Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh sự hiện diện của chất ức chế sự phóng thích của kích dục tố (GRIF) trên cá là catecholamine dopamine GRIF có thể bị bất hoạt bởi các cơ chất kháng dopamine như pimozide hay metoclopramide Sự hiện diện của chất kháng dopamine làm tăng khả năng kích thích

sự tiết kích dục tố ở cá của LHRHa Do vậy, việc sử dụng LHRHa kết hợp với các chất kháng dopamine mang lại hiệu quả rất cao trong kích thích sự chín của buồng trứng ở một số loài cá [140] Tùy thuộc đặc điểm của mỗi loài cá mà liều lượng khác nhau: cá

chẽm châu Âu tiêm 1 hoặc 2 lần với liều lượng là 10-200 μg/kg cá; cá chẽm Lates calcarifer là 10-200 μg/kg; cá mú là 10-20 μg/kg; cá tráp là 100 μg/kg; cá đối Mugil

Trang 38

cephalus tiêm kết hợp 10-20 μg/kg GnRHa với 15 mg DOM hoặc 20-40 mg não thùy

cá chép với 300 μg GnRHa/kg; cá bơn vỉ, cá hồng bạc là 100 μg/kg, cá chim vây vàng tiêm kết hợp 50 μg với 5 mg DOM [7]

HCG được sử dụng rộng rãi và có nhiều thuận lợi mặc dù chi phí tương đối cao Khả năng đáp ứng miễn dịch khi sử dụng HCG và não thùy liên tiếp trong nhiều năm cũng là một trong những hạn chế khi sử dụng [31, 140] HCG thường được tiêm 1 lần duy nhất với liều lượng dao động từ 100-4000 IU/kg tuỳ loài Hiệu quả của HCG có ngay trong một lần tiêm có lẽ do thời gian tồn tại trong máu lâu hơn [162] Tùy thuộc đặc điểm của mỗi loài cá mà liều lượng khác nhau Để kích thích sinh sản cá lóc bông

Channa micropeltes có thể tiêm HCG với liều lượng 2000-3000 IU/kg cá đực và 1500

IU/kg cá cái Tuy nhiên ở cá cái được tiêm 1000 IU/kg cho sức sinh sản tốt hơn so với

1500 IU/kg [3] Cá chim vây vàng được kích thích bởi HCG 2500 IU/kg cá cái và 1250 IU/kg cá đực cho tỷ lệ thụ tinh 47-49,4% [29] Có thể dùng HCG kích thích sinh sản

trên cá mú mè Epinephelus malabaricus với liều lượng 500-1000 IU/kg cá cái, 200

IU/kg cá đực hoặc LHRHa 10 µg/kg cá đực và cái [8] Liều lượng với cá chẽm châu Âu

là 800-1.000 IU HCG/kg cá; cá chẽm 2-3 mg não thùy kết hợp với 250-1.000 IU HCG/kg cá; cá mú 690 IU HCG với 46 IU MPS/kg, hoặc 2.500 IU HCG/kg, hoặc kết hợp 2-4

mg não thùy với 400-1.000 IU HCG/kg; cá tráp 500-1.000 IU HCG/kg; cá đối tiêm

14.000-48.000 IU HCG/kg với 7-40 mg não thùy/kg; cá đù đỏ Sciaenops ocellatus tiêm 500-600 IU HCG/kg; cá hồng bạc 1.000 IU HCG/kg; cá dìa Siganus spp 2.000 IU

HCG/kg; cá măng biển 400-600 IU HCG/kg [19, 111, 198] Sử dụng kết hợp HCG 500

IU và LRHa 40 µg/kg cá để kích thích sinh sản góp phần cải thiện đáng kể sức sinh sản, chất lượng trứng, ấu trùng, đồng thời rút ngắn được thời gian tái phát dục của cá bố mẹ [18]

Qua đó cho thấy, việc sử dụng LHRHa (20, 50, 80 µg/kg), HCG (500, 1000, 1500 IU/kg) và DOM (20 mg/kg) để kích thích sinh sản trên cá chẽm mõm nhọn đực ở nghiên cứu này là hoàn toàn có cơ sở Loại, liều lượng một số loại hormone được áp dụng trên một số loài cá tại Việt Nam được tóm tắt ở Bảng 1.4

Trang 39

Bảng 1.4 Một số loại hormone áp dụng trên một số loài cá tại Việt Nam

Tham khảo

N: 93,9 ±5,4

Cá giò Rachycentron canadum

T: 73,2±10,4 N: 74,2±6,9

Trang 40

1.4 Tình hình nghiên cứu trên tinh trùng cá tại Việt Nam

Ở Việt Nam, nghiên cứu về đặc tính lý hóa cũng như hoạt lực tinh trùng động vật

thủy sản được thực hiện từ những năm 2000, chủ yếu được thực hiện trên cá nước ngọt,

Ngoài ra, Nguyễn Minh Thành và ctv (2003) đã bảo quản thành công tinh trùng cá

tra (Pangasianodon hypophthalmus) dài hạn trong nitơ lỏng Các tác giả cũng có báo

cáo đánh giá chất lượng tinh trùng cá tra về mật độ và hoạt lực nhưng chưa thật sâu sắc [23]

Tiếp đó, Lê Minh Hoàng và Võ Thị Thu Hiền (2012) thực hiện Nghiên cứu bảo

quản tinh trùng cá chép Cyprinus carpio Linnaeus, 1758 trong nitơ lỏng Kết quả thí

nghiệm cho thấy chất bảo quản CCSE-2, chất chống đông là DMSO ở nồng độ 10%, quy trình làm lạnh (2) cho kết quả tốt nhất, và không có sự ảnh hưởng của thời gian lên kết quả bảo quản tinh Nghiên cứu chưa đánh giá chất lượng tinh trùng sau bảo quản bằng việc cho thụ tinh nhân tạo nhưng cũng đã góp phần cung cấp thông tin về bảo quản lạnh tinh trùng cá chép trong nitơ lỏng [16]

Tiếp tục nghiên cứu trên cá chép, Lê Minh Hoàng và Hoàng Hà Giang (2015) đã thực hiện nghiên cứu Ảnh hưởng của tỷ lệ pha loãng, môi trường và thẩm thấu lên hoạt lực tinh trùng cá chép Kết quả thí nghiệm cho thấy, tinh trùng hoạt lực tốt nhất được biểu hiện ở dung dịch với tỉ lệ pha loãng 1:25, NaCl 0,3% và nồng độ thẩm thấu là 100 mOsm/kg Tuy chưa đánh giá ảnh hưởng của các cation, pH và nhiệt độ lên hoạt lực tinh trùng cá chép, nhưng cũng đã góp phần cung cấp số liệu để hoàn chỉnh các điều kiện tối

ưu áp dụng trong bảo quản tinh cá chép và những loài cá xương khác [11]

Gần đây, cũng trên tinh trùng cá chép, Lê Minh Hoàng và Phạm Phương Linh (2016) đã thực hiện nghiên cứu Ảnh hưởng của nồng độ cation (K+, Ca2+) và việc tiêm

hormone kích thích sinh sản lên hoạt lực tinh trùng cá chép Cyprinus carpio Kết quả

Ngày đăng: 16/07/2017, 23:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm