1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Báo cáo thực tập địa chất tại THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

43 258 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 198,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU Địa chất là môn khoa học chuyên nghiên cứu về trái đất , các vật liệu hình thành trái đất , cấu trúc của những vật liệu đó và các quá trình hoạt động của chúng , nó bao gồm các nghiên cứu về nguồn gốc sinh vật trên trái đất , địa chất học là môn nghiên cứu về thành phần , nguồn gốc của quá trình , cấu trúc của trái đất thay đổi theo thời gian . Để không ngừng củng cố thêm kiến thức đã được học là làm quen với công việc địa chất sau này . Đợt thực tập ngoài thực địa nhằm mục đích củng cố các kiến thức từ giáo trình môn học : Địa chất Đại cương , Địa chất cấu tạo , Thạch học , … Qua việc vận dụng lý huyết thực tế , tìm tòi sáng tạo trong thực tập và làm tổng kết lý luận . Đợt thực tập giúp sinh viên làm quen với những công việc sau này , giúp sinh viên hình dung và định hướng được công việc sẽ làm trong tương lai . Để đạt được mục đích và kết quả cao trong đợt thực tập sinh viên phải tuân thủ những yêu cầu đặt ra trong đợt thực tập , phải đảm bảo thực tập đúng nội dung , đúng quy chế thực tập do nhà trường đề ra như : Đảm bảo lộ trình , tuân thủ quy định lao động , đàm bảo việc thu nhập mẫu , ghi chép đầy đủ cá nhân , bảo quản tài liệu thực tập và các nhu cầu sinh hoạt . Yêu cầu chuyên môn có 3 phần lớn : + Phải nhận biết , nghiên cứu và xác định các cấu tạo địa chất theo các tuyến lộ trình cũng như trong vùng nghiên cứu . + Bước đầu làm quen với công việc đo vẽ bản đồ địa chất . + Tăng khả năng nhận biết đất đá , sử dụng bản đồ địa hình , địa bàn địa chất , búa và các dụng cụ khác trong khi thực tập . Trong đợt thực tập chúng tôi đã vận dụng các phương pháp phân tích cấu trúc địa chất như : các phương pháp địa mạo , viễn thám , môi trường ,… Nhằm phát hiện và làm rõ các cấu trúc nằm dưới sâu , những cấu trúc bị lộ hoặc bị che khuất bởi đất phong hóa và trầm tích Đệ Tứ . Đợt thực tập này gồm 2 phần lớn : phần thực địa và phần trong phòng , diễn ra trong 2 tuần từ 362017 đến 1762017 và được chia làm 3 giai đoạn : Giai đoạn 1 : từ ngày 362017 đến ngày 562017 . Đây là thời gian chuẩn bị dụng cụ học tập , tư trang , tài liệu địa chất cấu tạo và đo vẽ bản đồ địa chất và các điều kiện về vật chất để tiến hành thực tập . Giai đoạn này được thực hiện ở nhà và một phần ở Lạng Sơn . Giai đoạn 2 : Sau giai đoạn chuẩn bị đó là giai đoạn thực địa . Giai đoạn này chúng tôi thực hiện tại khu vực TP Lạng Sơn gồm những lộ trình có sự hướng dẫn của thầy giáo và những lộ trình độc lập . Lộ trình 1 : Nhị Thanh – Nà Pàn Lộ trình 2 : Đông Kinh – Kéo Tào Lộ trình 3 : Phai Vệ Nà Chuông Lộ trình 4: Khòn Pát – Bình Cầm Lộ trình 5 : Kỳ Lừa – Nậm Dân Giai đoạn 3: Giai đọan trong phòng, giai đọan này chúng tôI làm một phần ở Lạng Sơn và phần lớn tại Hà Nội. Đâyy là giai đọan làm báo cáo tổng kết, sơ đồ địa chất, địa mạo, kiến tạo, vẽ mặt cắt địa chất và bảo vệ kết quả thực tập. Lớp ĐH5KS và lớp CĐ14CĐC gồm 19 thành viên được chia làm 4 nhóm , mỗi nhóm có từ 45 thành viên , trong đó chúng tôi thuộc nhóm 3 gồm các thành viên sau : 1. BÙI ĐĂNG ĐỒNG ( Nhóm trưởng ) 2. HOÀNG THÙY DUNG ( Viết nhật ký ) 3. NGUYỄN MINH HOÀNG ( Lấy mẫu ) 4. BÙI CÁT LINH ( Đo địa bàn ) 5. NGUYỄN QUANG TRƯỜNG ( Viết Etiket và bảo quản mẫu ) Dưới sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô trong khoa địa chất đã giúp chúng tôi trong đợt thực tập này . 1. NGUYỄN CHÍ CÔNG 2. PHẠM VĂN CHUNG 3. Ts NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG Với sự nỗ lực của từng thành viên trong nhóm, cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của các thầy, chúng tôi đá hoàn thành báo cáo thực tập địa chất cấu tạo và đo vẽ bản đồ địa chất vùng thánh phố Lạng Sơn. Báo cáo gồm 3 chương : Chương 1 : ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN – KINH TẾ NHÂN VĂN VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT VÙNG THÀNH PHỐ LẠNG SƠN Chương 2 : ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1. Địa tầng 2.2. Kiến tạo 2.3. Địa mạo 2.4. Địa chất thủy văn và địa chất công rình 2.5. Khoáng sản có ích 2.5.1 Khoáng sản kim loại 2.5.2 Khoáng sản phi kim loại 2.5.3 Khoáng sản nguyên liệu Chương 3 . CÁC LỘ TRÌNH THỰC HIỆN

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦUĐịa chất là môn khoa học chuyên nghiên cứu về trái đất , các vật liệu hình thành trái đất , cấu trúc của những vật liệu đó và các quá trình hoạt động của chúng , nó bao gồm các nghiên cứu về nguồn gốc sinh vật trên trái đất , địa chất học là môn nghiên cứu về thành phần , nguồn gốc của quá trình , cấu trúc của trái đất thay đổi theo thời gian Để không ngừng củng cố thêm kiến thức đã được học là làm quen với công việc địa chất sau này Đợt thực tập ngoài thực địa nhằm mục đích củng cố các kiến thức từ giáo trình môn học :Địa chất Đại cương , Địa chất cấu tạo , Thạch học , … Qua việc vận dụng lý huyết thực tế, tìm tòi sáng tạo trong thực tập và làm tổng kết lý luận Đợt thực tập giúp sinh viên làm quen với những công việc sau này , giúp sinh viên hình dung và định hướng được công việc sẽ làm trong tương lai

Để đạt được mục đích và kết quả cao trong đợt thực tập sinh viên phải tuân thủ những yêu cầu đặt ra trong đợt thực tập , phải đảm bảo thực tập đúng nội dung , đúng quy chế thực tập do nhà trường đề ra như : Đảm bảo lộ trình , tuân thủ quy định lao động , đàm bảo việc thu nhập mẫu , ghi chép đầy đủ cá nhân , bảo quản tài liệu thực tập và các nhu cầu sinh hoạt

Yêu cầu chuyên môn có 3 phần lớn :

+ Phải nhận biết , nghiên cứu và xác định các cấu tạo địa chất theo các tuyến lộ trình cũng như trong vùng nghiên cứu

+ Bước đầu làm quen với công việc đo vẽ bản đồ địa chất

+ Tăng khả năng nhận biết đất đá , sử dụng bản đồ địa hình , địa bàn địa chất , búa và các dụng cụ khác trong khi thực tập

Trong đợt thực tập chúng tôi đã vận dụng các phương pháp phân tích cấu trúc địa chấtnhư : các phương pháp địa mạo , viễn thám , môi trường ,… Nhằm phát hiện và làm rõ các cấu trúc nằm dưới sâu , những cấu trúc bị lộ hoặc bị che khuất bởi đất phong hóa và trầm tích Đệ Tứ

Đợt thực tập này gồm 2 phần lớn : phần thực địa và phần trong phòng , diễn ra trong 2 tuần từ 3/6/2017 đến 17/6/2017 và được chia làm 3 giai đoạn :

- Giai đoạn 1 : từ ngày 3/6/2017 đến ngày 5/6/2017 Đây là thời gian chuẩn bị dụng cụ học tập , tư trang , tài liệu địa chất cấu tạo và đo vẽ bản đồ địa chất và

Trang 2

các điều kiện về vật chất để tiến hành thực tập Giai đoạn này được thực hiện ở nhà và một phần ở Lạng Sơn

- Giai đoạn 2 : Sau giai đoạn chuẩn bị đó là giai đoạn thực địa Giai đoạn này chúng tôi thực hiện tại khu vực TP Lạng Sơn gồm những lộ trình có sự hướng dẫn của thầy giáo và những lộ trình độc lập

- Giai đoạn 3: Giai đọan trong phòng, giai đọan này chúng tôI làm một

phần ở Lạng Sơn và phần lớn tại Hà Nội Đâyy là giai đọan làm báo cáo

tổng kết, sơ đồ địa chất, địa mạo, kiến tạo, vẽ mặt cắt địa chất và bảo vệ

kết quả thực tập

Lớp ĐH5KS và lớp CĐ14CĐC gồm 19 thành viên được chia làm 4 nhóm , mỗi nhóm

có từ 4-5 thành viên , trong đó chúng tôi thuộc nhóm 3 gồm các thành viên sau :

1 BÙI ĐĂNG ĐỒNG ( Nhóm trưởng )

2 HOÀNG THÙY DUNG ( Viết nhật ký )

3 NGUYỄN MINH HOÀNG ( Lấy mẫu )

4 BÙI CÁT LINH ( Đo địa bàn )

5 NGUYỄN QUANG TRƯỜNG ( Viết Etiket và bảo quản mẫu )

Dưới sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô trong khoa địa chất đã giúp chúng tôi trong đợt thực tập này

1 NGUYỄN CHÍ CÔNG

2 PHẠM VĂN CHUNG

3 Ts NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG

Với sự nỗ lực của từng thành viên trong nhóm, cùng với sự hướng dẫn

nhiệt tình của các thầy, chúng tôi đá hoàn thành báo cáo thực tập địa

chất cấu tạo và đo vẽ bản đồ địa chất vùng thánh phố Lạng Sơn

Trang 3

Báo cáo gồm 3 chương :

Chương 1 : ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN – KINH TẾ - NHÂN VĂN VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT VÙNG THÀNH PHỐ LẠNG SƠN Chương 2 : ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.5.1 Khoáng sản kim loại

2.5.2 Khoáng sản phi kim loại

2.5.3 Khoáng sản nguyên liệu

Chương 3 CÁC LỘ TRÌNH THỰC HIỆN

Trang 4

Chương 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ - NHÂN VĂN VÀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT VÙNG THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên.

1.1.1 Vị trí

Vùng thực tập là thành phố Lạng Sơn, ở phía Đông Bắc nước ta Trung tâm thành phố cách Hà Nội khoảng 154 km theo đường thẳng, cách biên giới Việt Trung 18km Khu vực thực tập có diện tích 81 km2 phía Bắc giáp với khu vực thị trấn Đồng Đăng, Phía Tây giáp với huyện Cao Lộc, phía Đông và Đông Nam giáp với huyện Lộ Bình

1.1.2 Địa hình

Vùng thành phố Lạng Sơn thuộc địa hình núi thấp có độ cao tuyệt đối từ 250m – 800m Thành phố Lạng Sơn nằm trong thung lũng dạng hình thoi, kéo dài theo phương Tây Bắc – Đông Nam Chiều dài thung lũng khoảng 6m, chiều rộng khoảngvài trăm mét đến 44,5 km, chiều rộng nơi rộng nhất phần trung tâm thành phố và hẹp ở hai đầu Bề mặt thung lũng có độ chênh cao không lớn và hơi nghiên về phía trung tâm và phía Đông Nam Trong thung lũng của các núi sót đá vôi phía Tây Kỳ Lừa như Tam Thanh, Nhị Thanh và nằm rải rác ở một số nơi như: Chùa Tiên, Đông Kinh ở phía Nam và Đông Nam thành phố Lạng Sơn phân bố hai khu đồng bằng khá bằng phẳng , bề mặt phủ bởi phù sa sông Kỳ Cùng Một số nơi ở khoảng giữa các đồi và núi có nhiều dải thung lũng nhỏ có bề mặt tương đối bằng phẳng Đây là nơi canh tác nông nghiệp của nhân dân địa phương

1.1.2.1 Địa hình đồi núi

Đồi núi chiếm diện tích khá lớn trong vùng nghiên cứu , phân bố xung quanh thành phố Lạng Sơn Đặc điểm địa hình ở đây là không có núi cao, hầu hết là đồi núi thấp, phân bố thành từng dải liên tục hoặc ở dạng các đồi núi riêng biệt Độ cao phổ biến từ 280 đến 800m Đỉnh núi cao nhất ở phía Tây Bắc có độ cao 800m Các đồi có vòm rộng, sườn thoải, độ dốc thay đổi từ 150 đến 450 Các núi thường có đỉnh sườn dốc từ 35 đến 600.Cấu tạo nên địa hình này là là các đá trầm tích lục nguyên, lục nguyên cacbonat và magma phun trào Phần lớn bề mặt đồi núi bị phong hóa với mức độ khác nhau Một số nơi vỏ phong hóa dày, sườn dốc mạnh mẽ

dễ gây ra tai biến địa chất như: trượt nở, lũ quét

Trang 5

1.1.2.2 Địa hình núi đá vôi

Trang 6

Địa hình núi đá vôi là một trong những đặc trưng của địa hình của khu vực thành phố Lạng Sơn Núi đá vôi ở đây không cao hoặc nằm đơn lẻ dạng núi sót Độ cao tuyệt đối phần lớn các núi là 300m Mức độ phân cắt hay độ chênh cao giữa các đỉnh núi và địa hình xung quanh không quá 200m Các núi đá vôi tập trung ở khu vực Tam Thanh, Nhị Thanh Các núi đá vôi ở đây có dạng tháp, sườn dốc, đỉnh lởm chởm tai mèo , răng cưa sắc nhọn như ở khu vực Đông Kinh Trong khối đá vội phát triển nhiều hang động Một

số hang động có cảnh đẹp như ở Tam Thanh, Nhị Thanh, động Chùa Tiên

1.1.2.3 Địa hình đồng bằng và thung lũng.

Địa hình đồng bằng và thung lũng phân bố ở phía Nam và một số nơi xung quanh thànhphố Lạng Sơn Về nguồn địa hình này được tao thành do các quá trình ngoại sinh như: bóc mòn và tích tụ

Thung lũng lớn nhất là thung lũng thành phố Lạng Sơn, ngoài ra còn xuất hiện thung lũng ở khu vực Mai Pha, và thung lũng Nà Chuông Do địa hình bằng phẳng nên ở trung tâm thành phố giao thông khá thuận tiện, là nơi tập trung dân cư, kinh tế phát triển

1.1.3 Sông suối.

Các sông suối phân bố ở phía Nam thành phố Lạng Sơn và một số nơi khác trong vùng Sông Kỳ Cùng chảy qua thành phố theo hướng từ Đông sang Tây

Sông Kỳ Cùng bắt nguồn từ dãy núi Mẫu Sơn ở phía Đông, chảy theo hướng Đông Nam

- Tây Bắc Sông Kỳ Cùng độ dài 243 km, diện tích lưu vực: 6660 km2 , bắt nguồn từ vùng núi Bắc Xa cao khoảng 1166m thuộc huyện Đình Lập, sông Kỳ Cùng thuộc lưu vựcsông Tây Giang Trung Quốc Đây là con sông duy nhất ở miền Bắc Việt Nam chảy theo hướng Đông Nam – Tây Bắc, do vậy mảnh đất xứ Lạng còn được gọi là “ nơi dòng sông chảy ngược”

1.1.3 Khí hậu.

Vùng thành phố Lạng Sơn nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa Một năm có hai mùa

rõ diệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, lượng mưa trung bình thay đổi từ 1700mm đến 1800mm Trong mùa mưa xuất hiện những trận lũ bấtthường làm cho nhân dân thành phố và công tác nghiên cứu địa chất gặp không ít khó

Trang 7

khăn Mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa ít từ 100mm đến 200mm Nhiệt độ trung bình từ 10 – 200C , cá biệt có ngày đến dưới 00C , có hiện tượng tuyết rơi trên đỉnh núi Mẫu Sơn Trong mùa khô có nhiều đợt gió mùa Đông Bắc kèm theo mưa phùn Tuy nhiên về mùa này cơ bản về thời tiết khô ráo phù hợp với công tác nghiên cứu khảo sát địa chất

- Quốc lộ 1A: Hà Nội - Lạng Sơn

- Quốc lộ 1B: Lạng Sơn – Thái Nguyên

- Quốc lộ 4A: Lạng Sơn – Cao Bằng

- Quốc lộ 4B: Lạng Sơn –Quảng Ninh

Đặc biệt là tuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn đã được nâng cấp, mở rộng rút ngắn thờigian đi lại giữa hai thành phố, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông giữa các khu vựcnói trên Ngoài đường quốc lộ trong vùng còn có tuyến đường liên huyện từ thành phố đi các nơi trong tỉnh

1.2.2 Công nghiệp

Nhìn chung công nghiệp trong vùng chưa phát triển không có nhiều công trường và các công sở công nghiệp có quy mô lớn và hiện đại Khu vực thành phố chưa thu hút được

Trang 8

nhiều các doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đầu tư sản xuất tại nơi đây Các cơ sở lớn nhất là Công ty Vật liệu Xây dựng Lạng Sơn.

1.2.2 Nông nghiệp.

Nông nghiệp của vùng phát triển chưa cao, một phần do điều kiện địa hình khí hậu không thuận lợi cho khai trồng các loại cây công nghiệp và phần cơ bản khác là phương thức canh tác còn lạc hậu Tuy nhiên, địa hình khí hậu thuận lợi cho việc trồng cây hoa màu và rau có chất lượng cao Sản phẩm rau quả ở đây được ưa chuộng tại địa phương vàcác vùng xung quanh Trong những năm gần đây nông nghiệp và lâm nghiệp đã được chú

ý hơn nên diện tích đồi núi trọc đã giảm đáng kể đồng thời nạn phá rừng đã cơ bản được hạn chế

1.2.3 Thương nghiệp.

Trong những năm gần đây chính sách mở cửa Nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế thương nghiệp Giao lưu hàng hóa giữa Lạng Sơn với Trung Quốc lưu thông hàng hóa tập trung tại các khu vực Kỳ Lừa, Đông Kinh, Tân Thanh, Đồng Đăng Hàng năm lưu lượng hàng hóa qua biên giới là rất lớn

Tuy nhiên, ở khu vực này buôn lậu hàng hóa qua biên giới rất khó khăn được giải quyết gây không ít khó khăn cho đời sống, kinh tế ở nơi này

1.3.1 Dân số, dân cư.

Thành phố Lạng Sơn là trung tâm kinh tế, văn hoá giáo dục của tỉnh Lạng Sơn Hiện tại thành phố có hơn 5 vạn dân, chủ yếu là người Kinh, bên cạnh đó là người Tày, người Dao, người Nùng Tuy có nhiều dân tộc khác nhau cư trú trên cùng địa bàn, nhưng hầu hết đồng bào có tính đoàn kết xây dựng Điều này đã được chứng minh qua những năm chiến tranh và xây dựng đất nước

1.3.2 Văn hoá.

Phần lớn trình độ văn hóa của người dân thành phố Lạng Sơn và vùng lân cận ở

Trang 9

mức trung bình Tuy nhiên trong vùng có khá nhiều trẻ em thất học đặc biệt là con

em dân tộc ít người

Vùng nghiên cứu là một trong những khu vực có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Thành Nhà Mạc - Động Tam Thanh, Nhị Thanh, chù Tam Thanh, cửa Nhị Thanh, Chùa Tiên Hàng năm lượng khách du lịch đến Lạng Sơn là khá đông Trên cơ sở đặc điểm địa lý - kinh tế - nhân văn, chúng tôi thấy rằng vùng thành phố Lạng Sơn rất thuận lợi cho việc thực tập nghiên cứu địa chất Nơi này có nhiều đồi núi thấp cây cao và thưa dễ dàng phát hiện các đất đá và đặc điểm địa chất

1.4 Lịch sử nghiên cứu địa chất vùng thành phố Lạng Sơn.

Việc nghiên cứu địa chất vùng thành phố Lạng Sơn có liên quan trực tiếp đến lịch sử địa chất vùng Đông Bắc Việt Nam Nghiên cứu lịch sử địa chất được bắt đầu vào cuối thế kỷ XIX và có thể sớm hơn nữa Dựa vào mức độ nghiên cứu và kết quả theo thời gian, có thể chia lịch sử nghiên cứu địa chất vùng thành phố Lạng Sơn thành 3 giai đoạn

1.4.1 Giai đoạn trước 1945

Việt Nam nằm dưới sự cai trị của thực dân Pháp từ cuối thế kỷ XIX đến trước năm

1945, do đó việc nghiên cứu địa chất vùng cơ bản là do các nhà Địa chất người Pháp tiến hành với mục đích phục vụ cho chính quyền ở đây

Năm 1945, Bausset đã có công trình nghiên cứu vùng Đông Bắc Việt Nam Ông gọi các đá trầm tích sét kết, bột kết, có hóa đá chân rìu ở Lạng Sơn là đá phiến đới sông Hiến

Năm 1926, Epatte đã nghiên cứu đá phun trào ở Bắc Bộ và xếp các trầm tích ở Lạng Sơn vào tuổi Trias

1.4.2. Giai đoạn 1945 - 1954

Trong thời kỳ do chiến tranh nên việc nghiên cứu địa chất ở nước ta nói chung và ở Lạng Sơn nói riêng chưa tiến hành được nhiều

1.4.3 Giai đoạn 1954 đến nay

Trong giai đoạn này miền Bắc Việt Nam đã trở lại hoà bình và bắt tay vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế Việc thăm dò khoáng sản là một trong những nhu cầu quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nhờ sự giúp đỡ của Liên Xô, Việt nam đã

Trang 10

thành lập bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam với tỷ lệ 1:500.000.

Năm 1965 A.E.Dopjicop cùng các nhà Địa chất Việt Nam đã phân chia các đá vùng thành phố Lạng Sơn thành các phân vị địa tầng sau:

Năm 1972 Trần Văn Trị và một số nhà Địa chất khác đã thành lập bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam với tỷ lệ 1: 1.000.000 Trong đó đá phun trào ryolit ở khu vực thành phố Lạng Sơn được xếp vào bậc Anizi, trầm tích có hóa đá chân rìu, chân đầu nằm trên đá phun trào xếp vào bậc Lađini

Từ đầu năm 1969 đến nay các thầy giáo và sinh viên Trường Đại học Mỏ - Địa chất

đã khảo sát khu vực này với mục đích đào tạo và nghiên cứu khoa học, phục vụ đời sống kinh tế quốc phòng đã làm rõ cấu trúc địa chất khu vực cùng những vấn đề liên quan, trong đó có địa chất được phân chia từ trẻ đến già như sau:

+ Thống trên, hệ tầng Mẫu Sơn (T3cms)

+ Thống giữa, hệ tầng Nà Khuất (T2lnk); hệ tầng Sông Hiến (T2ash)

+ Thống dưới, hệ tầng Kỳ Cùng (T1okc); hệ tầng Lạng Sơn (T1ils)

Giới Paleozoi (PZ)

- Hệ Pecmi

+ Thống trên, hệ tầng Đồng Đăng (P3đđ)

- Hệ Cacbon, hệ Pecmi thống giữa, hệ tầng Bắc Sơn (C-P2bs)

Các công việc này đã góp phần đào tạo đội ngũ kỹ sư địa chất công trình phục vục cho các ngành kinh tế của nước ta

Trang 11

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT KHU VỰC NGHIÊN CỨU

ĐỊA TẦNG

Trong tài liệu bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1965, khu vực thành phố Lạng Sơn là nơi giao nhau của ba đới tướng cấu trúc: đới sông Hiến từ Nà Pàn về phía Tây Bắc, đới An Châu từ Nà Chuông về phía Đông Nam, đới Hạ Lang từ Lộc Bình về phía Đông Bắc

Khu vực nghiên cứu gồm các địa tầng có tuổi từ già đến trẻ được phân chia như sau:Giới Paleozoi (PZ)

- Hệ Cacbon - hệ Pecmi, thống giữa - Hệ tầng Bắc Sơn (C-P2bs)

- Hệ Pecmi, thống trên - Hệ tầng Đồng Đăng (P3đđ)

Giới Mezozoi (MZ)

- Hệ Triat thống dưới - bậc Indi - hệ tầng Lạng Sơn (T1ils)

- Hệ Triat thống dưới - bậc Olenec - hệ thầng Kỳ Cùng (T1okc)

- Hệ Triat thống dưới - bậc Anizi - hệ tầng Khôn Làng (T1akl)

- Hệ Triat thống dưới - bậc Lanizi - hệ tầng Nà Khuất (T2lnk)

Trang 12

- Hệ Triat thống trên - bậc Cacni - hệ tầng Mẫu Sơn (T3cms)

- Hệ Jura thống trên - bậc Kreta - hệ tầng Tam Lung (J3-Ktl)

Giới Mezozoi - Giới Kainozoi (MZ - KZ)

- Hệ Kreta thống trên - hệ Paleozoi - Hệ tầng Tam Danh (K3-Etd)

Giới Kainozoi (KZ)

- Hệ Neogen thống Mioxen - Hệ tầng Na Dương (N1nd)

- Hệ Đệ Tứ (Q)

Sự phân bố các hệ tầng trong thành phố Lạng Sơn có quy luật khá rõ Phần trung tâm là

hệ tầng Bắc Sơn, sau đó xa dần là hệ tầng Đồng Đăng, Lạng Sơn, Kỳ Cùng, Khôn Làng,

Nà Khuất và Mẫu Sơn

1 Giới Paleozoi (PZ)

1.1 Hệ cacbon - hệ Pecmi thống dưới, giữa - hệ tầng Bắc Sơn (C-p2bs)

Hệ tầng Bắc Sơn được nhà Địa chất người Pháp Sauriu đã nghiên cứu và đặt ra năm 1956 Năm 1965 nhà Địa chất người Liên Xô A.E.Dopjcov trong loại bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 do ông chủ biên đã xác định các đá vôi ở vùng Bắc Sơn và ở thành phố Lạng Sơn có tuổi Cacbon trung - Pecmi sớm (C-P1bs)

Năm 1977, Trần Văn Trị và một số tác giả khác xếp các đá vôi nói trên vào loạt Bắc Sơn Sự phân bố của thành tạo này khá rộng Ở khu vực thành phố Lạng Sơn loại hệ tầng Bắc Sơn chiếm phần lớn diện tích thành phố, kéo dài theo phương TâyBắc - Đông Nam, rộng nhất ở khu vực thành phố và kéo dài ở đầu Tây Bắc và Đông Nam

Nghiên cứu mặt cắt hệ tầng Bắc Sơn từ Đông Kinh qua Nhị Thanh, Tam Thanh và

ở khu vực Cò Lèng, Việt Thắng cũng như một số nơi lân cận, thấy rõ:

+ Phần dưới chủ yếu là đá vôi dạng khối, màu xanh xám, xám sáng, kết tinh yếu, khá đồng nhất

+ Phần trên là đá vôi màu xám sáng, xám đen, cấu tạo phân lớp vừa đến dày.+ Trong đá vôi vó hệ tầng có nhiều hóa đá trùng lỗ, san hô, tay cuộn Các hóa đá điển hình là: Verbeekina Verbecki Misellina Compretsa, Fusulinellbocki…

Về dạng nằm và cấu trúc của các đá của hệ tầng Bắc Sơn thấy rõ ở phần dưới cùngcủa cột địa tầng Trong vùng nghiên cứu chưa thấy hệ tầng nào có tuổi già hơn hệ tầng Bắc Sơn Các lớp đá vôi ở đây thường nằm nghiêng và nghiêng thoải trong cấu tạo nếp uốn ngắn có vòm rộng, cánh thoải, dạng vung, dạng chảo

Căn cứ vào các hóa đá, vị trí địa tầng, căn cứ vào cấu trúc địa chất, liên hệ so với các vùng lân cận xếp các đá vôi ở trên vào hệ tầng Bắc Sơn, tuổi Cacbon đến Pecmi trung

Quan hệ phía dưới của hệ tầng Bắc Sơn với hệ tầng già hơn chưa quan sát được

Trang 13

Một số nơi ở Cao Bằng và miền Bắc nước ta thấy chúng phủ bất chỉnh hợp lên các

đá già hơn Phía trên các đá này bị các trầm tích của hệ tầng Đồng Đăng phủ bất chỉnh hợp lên

Nghiên cứu các mặt cắt khoan tìm kiếm Bauxit ở khu vực phía Tây Tam Thanh thấy Bauxit ở đây ở dạng vỉa nằm trong các tập đá vôi nằm nghiêng, phía dưới là

hệ tầng Bắc Sơn, phía trên được cho là hệ tầng Đồng Đăng, nhưng không rõ tính chất riêng biệt của chúng

Trên mặt cắt này Bauxit có nguồn gốc trầm tích thực thụ, được thành tạo trong mặtcắt liên tục từ dưới lên trên Như vậy có thể xếp ba tập trên vào một hệ tầng: hệ tầng Bắc Sơn

Từ kết quả nghiên cứu trong các lỗ khoan, ta thấy Bauxit ở khu vực thành phố Lạng Sơn khả năng có ba loại:

+ Bauxit dạng vỉa có tuổi đầu Pecmi giữa

+ Bauxit dạng vỉa có tuổi Pecmi muộn như ở Bản Lóng

+ Bauxit được hình thành do phóng hóa làm giàu thứ sinh các lớp xét giàu nhôm

và silic như ở Tam Lung, Bản Pịt, Chi Mạc và Bản Lóng…

Như vậy quy mô hệ tầng Bắc Sơn có thể từ Cacbon kéo dài từ Pecmi trung, còn hệtầng Đồng Đăng thực thụ có tuổi Pecmi muộn (P3) và chuyển tiếp dần lên Trias sớm Trên cơ sở đã nêu có thể xếp đá vôi Quán Lóng, đá vôi ở Nam Mai Pha vào

hệ tầng Bắc Sơn Bauxit Quán Lóng và Bauxit ở Tam Lung xếp vào hệ tầng Đồng Đăng

Chiều dày của hệ tầng Bắc Sơn trên 1000m

1.2 Hệ Pecmi thống trên – hệ tầng Đồng Đăng (P3dđ)

Năm 1956, nhà Địa chất người Pháp F.Sauriu đã nghiên cứu trầm tích silíc, Bauxit đá vôi

ở Lạng Sơn và xác định chúng có tuổi Pecmi sớm Sau đó năm 1962, một số nhà Địa chấtLiên Xô cũ như Gazenco, Trepotaricov và nhà Địa chất Việt Nam Bùi Phú Mỹ đã nghiên cứu trâm tích lục nguyên, silic, Bauxit, đá vôi ở Lạng Sơn và xếp chúng vào Trias sớm.Năm 1966, Nguyễn Văn Liêm đã nghiên cứu trầm tích silic, Bauxit và đá vôi nói trên và xếp chúng vào hệ tầng Đồng Đăng, tuổi Pecmi muộn (P2)

Từ năm 1969 đến nay, các thầy giáo của bộ môn Địa chất cảu Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội đã nghiên cứu các trầm tích Đồng Đăng phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đã xếp các thành tạo nói trên vào hệ tầng Đồng Đăng tuổi Pecmi muộn (P3)

ở khu vực thành phố Lạng Sơn trầm tích của hệ tầng Đồng Đăng tạo thành các dải không rộng dạng viễn quanh trầm tích và hệ tầng Bắc Sơn

ở phía Tây Nam trầm tích hệ tầng Đồng Đăng mở rộng ở khu vực Chùa Tiên, chủ yếu là các thành tạo lục nguyên và sét than

Trang 14

ở một số nơi khác trầm tích này độc lập và bị bao quanh là các trầm tích trẻ hơn như ở khu vực Quán Lóng, gần UBND xã Quang Lạc.

Mặt cắt trầm tích hệ tầng Đồng Đăng quan sát tốt ở khu vực Quán Lóng, Phai Lây, Cao Lộc, Kéo Tàu… Từ dưới lên trên, hệ tầng Đồng Đăng gồm các phần:

+ Phần dưới gồm cuội kết, cát kết, sét kết, đá silic có chứa hóa đá fusullina… các lớp cấu tạo phân lớp mỏng đến vừa Các trầm tích này thường đóng vai trò nhân nếp lồi như ở Quán Lóng, Chùa Tiên…

+ Phần giữa chủ yếu là đá vôi màu xám sáng, xám đen, đá vôi dăm kết, vôi silic Phần lớn chúng có cấu tạo phân lớp dày, cấu tạo khối

+ Phần trên là silic, đá vôi phân lớp mỏng có nhiều tạp chất sét, sét kết, đá silic dạng khối,các bột sét kết silic

Các trầm tích nói trên bị chính các hoạt động đứt gãy, bóc mòn yếu tác động trong quá trình trầm tích nên tạo ra hiện tượng mất lớp, mất vỉa, vát vỉa hoặc vỉa và các lớp dôc, dốc mạnh điều này rõ nét ở nơi các trầm tích Pecmi – Trias và gần đá vôi hệ tầng Bắc Sơn

Về thành phần của trầm tích hệ tầng Đồng Đăng có một số điểm đặc trưng là:

+ Tập dưới cùng và trên cùng đều là trầm tích lục nguyên, cát kết, bột kết, sét kết

+ Phần trên của tập dưới và có các lớp Bauxit

+ Phần trên cùng có đá silic và đá vôi

Sự có mặt của các trầm tích trên phản ánh quá trình thay đổi môi trường trầm tích và điềukiện cổ địa lý tương đá trong quá trình thành tạo Ban đầu mới hạ vọng, trầm tích ven bờ, môi trường pH thấp Sau đó biển tiến mạch hơn, đáy trầm tích sâu hơn, nhiệt độ nóng ẩm hơn, trầm tích các thành tạo cácbonat Cuối Pecmi muộn có hiện tượng biển lùi, đáy biển nông dần, trầm tích các sản phẩm cơ học vụn thô lẫn silic

Về cấu trúc, phần lớn hệ tầng Đồng Đăng nằm ở dưới dạng cánh các phức nếp lồi các đá già hơn thuộc hệ tầng Bắc Sơn Một số nơi chúng phát triển hoàn chỉnh cấu tạo nếp lồi, nếp lõm với biên độ đứng không lớn

Trên cơ sở tuổi của các đá có ở tầng này trong khu vực thành phố Lạng Sơn, xem xét các khu vực xung quanh và căn cứ vào các thành tạo già hơn và trẻ hơn, xếp các đá trên vào

hệ tầng Đồng Đăng, tuổi Pecmi muộn (P3)

Quan hệ phía dưới là quan hệ bất chỉnh hợp trên đá vôi hệ tầng Bắc Sơn Đây là bất chỉnhhợp khá lớn, gặp ở nhiều nơi trong vùng và miền Bắc

Quan hệ phía trên là quan hệ chỉnh hợp, được các đá cát kết, bột kết, sét kết, sét vôi, sét than của hệ tầng Lạng Sơn phủ chỉnh hợp lên trên Các vết lộ ở khu cực nhà hàng Hoàng

Di, Cao Lộc và Mai pha đã xác định điều đó

Xác định được đúng các quan hệ địa tầng nhờ đó mà giải quyết các mấu chốt vấn đề cấu trúc thành phố Lạng Sơn Trước đây nhiều chỗ của vùng được vẽ dưới dạng quan hệ kiến

Trang 15

tạo, chủ yếu là đứt gãy nghịch, mặt trượt thường nghiêng về phía tầng Bắc Sơn Trong đó

hệ tầng Bắc Sơn nâng lên, hệ tầng Đồng Đăng hạ xuống

Hiện nay các nghiên cứu trong vùng cho thấy cơ bản quan hệ giữa hệ tầng Đồng Đăng vàLạng Sơn là quan hệ chỉnh hợp địa tầng Điều này có ý nghĩa to lớn trong nghiên cứu cấutrúc, khoáng sản, môi sinh, môi trường và quy hoạch thành phố Chiều dày hạ tầng 100-200m

2 Giới Mezozoi (MZ)

2.1 Hệ Trias thống dưới, bậc Indi – hệ tầng Lạng Sơn (T1ils)

Điệp Lạng Sơn do A.E.Dovjieov xác lập cho các trầm tích lục nguyên chứa hóa đá chân rìu tuổi Trias sớm vào năm 1965 Đến năm 1977 Đoàn Kỳ Thuỷ tách điệp này ra thành hệtầng Lạng Sơn (T1ils) và hệ tầng Kỳ Cùng (T1oks) Trên cơ sở khác nhau về thành phần thạch học, cấu trúc lớp, các tầng, các hóa đá và điều kiện thành tạo trầm tích

Phạm vi lộ ra của hệ tầng Lạng Sơn khoảng 9km2, phân bố ven khu vực trung tâm thành phố Lạng Sơn Dải phía Tây kéo dài khoảng 3,5 km, dải phía Đông kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, dài 8km

Mặt cắt quan sát tốt của hệ tầng này là từ Đông Kinh đi Bản Lỏng (dọc quốc lộ 1A) và theo tuyến lộ trình Đông Kinh – Nà Pàn Mặt cắt gồm hai phần:

+ Phần dưới chủ yếu gồm các trầm tích lục nguyên như cát kết, bột kết, sét kết có cấu tạo phân nhịp điển hình, đôi nơi gặp đá vôi màu xám xanh

+ Phần trên: Cát kết, bột kết, sét kết có mãu xám lục, màu vàng

Các lớp của hệ tầng này có mặt lớp rõ ràng, có cấu tạo phân lớp gợn sóng, xiên chéo songsong đặc trưng cho cấu tạo trầm tích biển nông

Hóa đá đặc trưng của hệ tầng này là hóa đá chân rìu, chân đầu Đây là hóa đá định tầng dùng để xác định tuổi cho hệ tầng Lạng Sơn

Quan hệ dưới với hệ tầng Đồng Đăng là quan hệ chỉnh hợp Quan hệ trên với hệ tầng Kỳ Cùng cũng là quan hệ chỉnh hợp Bề dày của hệ tầng là 800-100m

2.2 Hệ Trias thống dưới – Bậc Olenec – hệ tầng Kỳ Cùng (T1okc)

Trước đây hệ tầng này là phần trên của hệ tầng Lạng Sơn Hiện nay, Kỳ Cùng đã tách ra thành một hệ tầng riêng Hệ tầng Kỳ Cùng phân thành hai dải kéo dài theo phương Tây Bắc - Đông Nam

Dải thứ nhất nằm ở phía Tây thành phố dài khoảng 6km, dải thứ hai nằm ở phía Đông thành phố, dài khoảng 2,5km

Các đất đá thuộc hệ tầng này được quan sát rõ nhất là ở khu cực Nà Pàn, Nà Chuông và phía Đông Mai Pha Mặt cắt của hệ tầng được chia làm ba phần

Trang 16

+ Phần dưới: gồm bột sét kết, cát kết có cấu tạo phân lớp mỏng, xen kẽ là các lớp sét vôi mỏng.

+ Phần giữa: đá vôi phân lớp mỏng, có màu xám xanh, xám đen Trong thành phần có nhiều sét, quan sát ở đây có các mạch canxit, bề mặt bị phong hóa rạn nứt dạng dăm, dạng que…

Hóa đá có trong hệ tầng này là Nordophicerassp

Do hóa đá có trong tầng mà xác định tuổi của hệ tầng này, là hệ tầng độc lập với hệ tầng Lạng Sơn

Quan hệ trên của hệ tầng là quan hệ chỉnh hợp và bất chỉnh hợp với hệ tầng Khôn Làng Quan hệ dưới nằm chỉnh hợp lên trên hệ tầng Lạng Sơn Hệ tầng có chiều dày khoảng 200m

2.3 Hệ Trias – thống giữa – bậc Aniz – hệ tầng Khôn Làng (T2akl)

Nhà Địa chất Pháp E.Patte đã xếp phun trào ở Bắc Bộ vào hệ Trias Năm 1992 các tác giảcủa cục Địa chất xếp hệ tầng này vào một đơn vị riêng gọi là hệ tầng Khôn Làng

Cấu trúc của hệ tầng này có hai phần rõ rệt:

+ Phần dưới: chủ yếu là ryolit, tuf, tufit có cấu tạo khối Đá có màu lục, xám xanh, xanh

lá cây tuỳ thuộc vào hàm lượng sắt và độ sâu thành tạo, đá khá rắn chắc

Một số nơi ryolit xuyên cắt các đá phần dưới của hệ tầng Kỳ Cùng và hệ tầng Lạng Sơn, chúng trẻ hơn các đá nêu trên

+ Phần trên của hệ tầng chủ yếu là cát, bột, sét kết, chuyển tiếp dần lện hệ tầng nà Khuất Một số lớp của hệ tầng Nà Khuất có hóa đá xác định tuổi lađini

Màu sắc phụ thuộc vào điều kiện thành tạo Trong môi trường khử (biển), điều kiện khí hậu bình thường, mát mẻ, chúng thường có màu xanh Tuy nhiên trong điều kiện thiếu oxi, môi trường khử khô nóng, giàu các vật chất tro, tuf… chúng có màu tím nâu như ở khu vực Phai Lây đi Phai Luông

Các đá phan trào của hệ tầng Khôn Làng phủ chỉnh hợp trên sét, bột kết hạ tầng Kỳ Cùng(Khu Nà Pàn) Trong đó phun trào thấy cát, bột, sét kết hệ tầng Kỳ Cùng bị ryolit bao quanh Vì vậy các đá nói trên trẻ hơn hệ tầng Kỳ Cùng, xếp vào tuổi Olene, đầu Anizi.Như thế hệ tầng Khôn Làng được thành tạo trong khoảng thời gian từ cuối Trias sớm đến đầu Trias trung, ứng với kỳ Anizin (T2a) Chiều dày của hệ tầng khoảng 450m

2.4 Hệ Trias – thống giữa – bậc Ladizi – Hệ tầng Nà Khuất (T2lnk)

Năm 1965, Dovjicov thành lập hệ tầng này đặc trưng cho các trầm tích ở khu vực Nà Khuất

Năm 1977, Trần Văn Trị xếp các trầm tích trên vào tuổi Ladizi

Trang 17

Năm 1984, Trần Đăng Tuyết xếp các trầm tích nói trên vào hệ tầng Nà Khuất.

Hiện nay tập thể các thầy giáo bộ môn Địa chất gọi trầm tích đã nêu là hệ tầng Nà Khuất

Hệ tầng có diện lộ khá lớn ở phía Đông Bắc - Đông Nam vùng nghiên cứu gồm các đá cát, bột, sét kết có màu vàng, xám xanh, màu tím gan gà đặc trưng Mặt cắt nghiên cứu rõcủa hệ tầng này là tuyến Đông Kinh – Lộc Bình và tuyến Pò Lèo – Bản Cằm:

+ Phần dưới là các lớp cát kết, bột kết, sét kết màu xám lục, xám xanh ghi, màu vàng.+ Phần trên là các lớp cát sét, bột kết, sét kết phân nhịp có màu vàng, xám vàng, nâu vàng, tím gan gà

+ Phần trên cùng là các lớp cát kết, bột kết, sét kết màu đỏ nâu

Các trầm tích hệ tầng Nà Khuất nằm chuyển tiếp dần lên các trầm tích lục nguyên trào của hệ tầng Khôn Làng Dọc tuyến lộ Phai Lây – Phai Luông và một số nơi khác, phía trên các trầm tích này chuyển dần sang các trầm tích của hệ tầng Mẫu Sơn

Tuy nhiên một số nơi do bào mòn cục bộ hoặc đứt gãy thấy các đá hệ tầng Mẫu Sơn phủ bất chỉnh hợp lên phía trên các đá của hệ tầng Nà Khuất

Cơ sở xác định tuổi của hệ tầng Nà Khuất là các hóa đá chân rìu và chân đầu ở một số nơinhư Phai Luông, Nà Chuông… Căn cứ vào các hóa đá này, xếp các trầm tích nói trên vào

kỳ Ladizi Chiều dài của hệ tầng từ 550-1200m

2.5 Hệ Trias – thống trên – Bậc Cacni – Hệ tầng Mẫu Sơn (T3cms)

Điệp Mẫu Sơn do A.E.Dovjicov xác lập năm 1965 cho các trầm tích lục nguyên có màu nâu đỏ ở Đồng Bằng Bắc Bộ

Năm 1977 Trần Văn Trọ xếp các trầm tích nói trên vào hệ tầng Mẫu Sơn (T3cms)

Phạm vi phân bố của hệ tầng khoảng 7km2 chủ yếu ở khu vực Đông bắc của vùng thực tập

Mặt cắt quan sát tốt nhất dọc tuyến lộ trình cầu Nà Mừng đi Lộc Bình và Pò Lèo qua bản Nậm Dần đến Bản Cằm Trầm tích của hệ tầng gồm các phần sau:

+ Phần dưới chủ yếu là dăm, cuội, sạn kết, cát kết có màu nâu đỏ phân lớp dày

+ Phần giữa chủ yếu là bột kết, sét kết màu đỏ, tím nâu

+ Phần trên là cuội sạn kết, cát kết màu đỏ

Trong vùng nghiên cứu, trầm tích này thường nằm ở cấu trúc phức nếp lõm, ứng với địa hình đảo ngược như ở khu vực Nam Bản Nậm Dần, Đông Bắc Nà Chuông và một số nơi khác

Phía dưới là các trầm tích của hệ tầng Nà Khuất chuyển tiếp dần lên hệ tầng Mẫu Sơn Quan hệ phía trên thấy ở một số nơi ngoài vùng nghiên cứu là quan hệ bất chỉnh hợp với trầm tích Jura, Kreta

Chiều dài của hệ tầng khoảng 500m

Trang 18

2.6 Hệ tầng Tam Lung (J3-Ktl)

Hệ tầng Tam Lung do Nguyễn Kinh Quốc thành lập năm 1992 Hệ tầng phân bố ở phía Tây Bắc vùng nghiên cứu thuộc khu vực xã Hoàng Đồng Các đá cơ bản là: cuội kết, sạn kết, cát kết, bột kết, ryolit porphyry và tur của chúng

ở khu vực Hoàng Đồng, bên trái đường Lạng Sơn - Đồng Đăng gần Đồng én đã khoan thăm dò cấu trúc hệ tầng này Cột địa tầng lỗ khoan cho thấy các đá chính như đã nêu Căn cứ vào quan hệ của hệ tầng với các đá già hơn và trẻ hơn, căn cứ vào đặc điểm địa chất khu vực (khu vực Tú Lệ, Đông Nam Bộ, Lạng Sơn…) căn cứ vào tuổi tuệt đối của các đá mangan, xếp các thành tạo đã nêu vào tuổi Jura muộn - Kreta

Tổng chiều dài của hệ tầng là 350-380m

3 Giới Mezozoi - Giới Kainozoi (MZ - KZ)

3.1 Hệ Kreta - Hệ Paleogen - Hệ tầng Tam Danh (K3-Etd)

Hệ tầng Tam Danh do Nguyễn Kinh Quốc xác lập năm 1992 Trong khu vực nghiên cứu,

hệ tầng phân bố ở khu vực phía Bắc và Tây Bắc xã Hoàng Đồng

Các đá chủ yếu của hệ tầng là: bazan, varyolit, andezit, andezito bazan, sạn kết lẫn tro núilửa, cát kết tufogen, sạn kết tufogen Các đá của hệ tầng nằm bất chỉnh hợp trên hệ tần Tam Lung

Chiều dày của hệ tần khoảng 150-200m

4 Giới Kainozoi (KZ)

4.1 Hệ Neogen- Thống - Hệ tần Na Dương (N1nd)

Hệ tầng này do A.E Dovjicov xác lập năm 1965

Năm 1977 Trần Văn Trị, Trần Đình Nhân, Trịnh Danh và một số tác giả khác xác lập hệ tầng này

Trong vùng nghiên cứu hệ tầng phân bố ở phía Đông kéo dài từ phía Đông Phai Lây qua Hợp Thành đến phía Tây Bắc Cầu Nà Mừng Chiều rộng thay đổi từ vài chục mét đến 1km

Mặt cắt quan sát ở khu vực Hợp Thành, từ Cao Lộc đến Pò Lèo.Có thể thấy thành tạo của

Trang 19

+ Phần trên là các lớp cuội sạn kết, cát kết, bột kết, sét kết và các lớp than nâu mỏng Cáclớp nói trên thường ở dạng thấu kính, vát vỉa, thay đổi nhanh về góc dốc, chiều dàu và đường phương Phần lớn chúng nằm dốc về phía Tây Nam, càng gần đứt gãy Cao Bằng - Lộc Bình - Tiên Yên chúng càng dốc hơn Như thế các trầm tích đã nêu thực sự được thành tạo trong các trũng kéo toác dọc theo đứt gãy Cao Bằng - Lộc Bình - Tiên Yên vào cuối Neogen sớm.

Các thành tạo nói trên nằm bắt chỉnh hợp địa tầng và kiến tạo trên hệ tầng Khôn Làng,

Nà Khuất, Mẫu Sơn

Chiều dày của hệ tầng khoảng 80-200m

là cuội, mảnh vụn, sạn, cát, cát pha, sét pha, sét than và mùn hữu cơ

Chiều dày của các thành tạo Đệ Tứ nói trên từ vài chục cm đến 20cm

Do sự phát triển của khoa học kỹ thuật đặc biệt là công nghệ vũ trụ và các phương pháp địa vật lý trong thời gian gần đây đã đi đến nhận định cấu trúc cơ bản của Trái Đất Trong

đó, phần ngoài cùng là thạch quyển gồm phần trên của Manti và vỏ Trái Đất là các thành tạo cứng có thành phần chủ yếu là các silicat chuyển dịch về các phía khác nhau trên quyển mềm của Manti trên

Do chuyển động quay của Trái Đất, các dòng đối lưu, các tác động va chạm hành tinh và mối quan hệ hấp dẫn giữa các hành tinh mà từng phần của thạch quyển chuyển dịch về các phía khác nhau, trượt trên quyển mềm tạo thành các mảng Quan hệ giữa các mảng

Trang 20

cùng với các đột biến về va chạm hành tinh là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến hình thành cấu trúc vùng thành phố Lạng Sơn và phần lớn cấu trúc ở nước ta…

Ở đây các đá già nhất có tuổi Cacbon- Pecmi trung Đồng thời có phổ biến các thành tạo lục nguyên, cacbonat, phun trào tuổi Mezozoi - Kainozoi Tuy nhiên về mặt cấu trúc, chưa quan sát thấy hiện tượng hút chìm và các cấu tạo nên tăng trưởng cũng như đặc trưng của các cấu trúc trên

Cấu trúc của khu vực mang tính cấu trúc vùng rift - địa hào cạnh khu vực hoạt động mạnh như Lai Châu - Sơn La - Ninh Bình và liên quan với đột biến chảy vỏ phun trào magma có nguyên nhân là các vụ va chạm hành tinh vào cuối Pecmi muộn đầu Trias sớm Trên cơ sở khoa học đã nêu phân tích cấu trúc và lịch sử hình thành cấu trúc vùng thành phố Lạng Sơn và sát thực tế hơn

Theo các tài liệu của thế giới và Việt Nam, thì khu vực thực tế ở Đông Nam của mảnh Đông á Một số tác giả xếp khu vực này vào phần Nam của mảng Dương tử hoặc mảng Việt Trung Một vài tác giả phân chia ra rìa thụ động, rìa tích cực…

ĐỊA MẠO

Vùng TP Lạng Sơn thuộc vùng đồi núi thấp ở Đông Bắc nước ta, nơi đây có địa hình đồi núi, núi đá vôi, thung lũng và đồng bằng được cấu thành bởi các trầm tích lục nguyên carbonat, đá phun trào, phát triẻn trên cấu trúc dạng phức nếp lồi thành tạo từ kỷ cacbon đến nay Vùng ghiên cứu trải qua chế độ lục địa lâu dài trong dới khí hậu nóng ẩm mư nhiều thuận lợi cho quá trình xói mòn, hòa tan, xâm thực thành tạo các kiểu địa hình có nguồn gốc khác nhau

Do các thnàh tạo carbonat hệ tầng Bắc Sơn có tuổi cổ nhất có vai trò nhận dạng các nếp uốn và nằm trong các điều kiện không gian thời gian đã nêu Mà đây là nơi các đá bị hòa tan, xâm thực bóc mòn mạnh nhất tạo nên dải thung lũng thấp nhất trong vùng nghiên cứu, càng xa trung tâm các đá càng trẻ hơn tạo thành địa hình đảo ngược rất đặc trưng Trên cơ sở đã trình bày thấy rõ địa hình ở đây có mối quan hệ chặt chẽ với thành phần đất

đá với cấu trúc địa chát kiêns tạo trẻ Và với điều kiện trong điều kiện tổng hòa các mối quan hệ ở trên đá hình thành tại đây là kiểu địa hình nguồn gốc hình thái đặc trưng đó

là :

- Kiểu địa hình xâm thực bóc mòn

- Kiểu địa hình Karst

- Kiểu địa hình tích tụ

Kiểu địa hình xâm thực bóc mòn

Kiểu địa hình này phân bố chủ yếu trên các đồi núi tháp xung quanh thành phố Lạng Sơn.Đây là kiểu địa hình có diện tích lớn nhất trong toàn vùng nghiên cứu nh Phần lớn kiểu

Trang 21

địa hình này là đồi, núi thấp xen các thung lũng nhỏ kéo dài hoặc dạng phức tạp Mức độ phân cắt và cường độ phân cắt ngang ở mức độ trung bình do mật dộ sông ở đây khá lớn.Trên cơ sở nghiên cứu mức độ và đặc điểm bóc mòn, vận động kiến tạo, chúng tôi chia kiểu địa hình này làm hao phụ kiểu sau:

- Phụ kiểu địa hình xâm thực bóc mòn mạnh

- Phụ kiểu dịa hình xâm thực bóc mòn yếu

1 Phụ kiểu địa hình xâm thực bóc mòn mạnh

Phụ kiểu địa hình này phân bố chủ yếu ở các đồi cao và các núi thấp thuộc các dải nâng tương đối mạnh Chúng được phân bố ở phía Bắc Nà Chuông và phía Tây Chùa Tiên

Các đá cấu thành nên phụ kiểu địa hình này là các đá phụn trào ryolit, đá trần tích cát kết, bột kết, cuội kết của hệ tầng Khôn Làng, Lạng Sơn, Mẫu Sơn Cấu trúc địachất phần lớn là cấu trúc đơn nghiêng, nếp uốn và nếp lõm nhỏ Độ nứt nẻ của đá không lớn tạo điều kiện cho độ vững cho độ cao của địa hình có dạng dốc

Đặc điểm chính của phụ kiểu địa hình này là: độ dốc địa hình không lớn khoảng từ20-30, vó phong hoá mỏng có chỗ lộ ra đá gốc, sườn địa hình phần lớn là dạng lồi.Quá trình xâm thực bóc mòn này phát triển manh dạng chữ V ở phía Đông Bắc và Tây bắc của vùng nghiên cứu, vì vậy mà phụ kiểu địa hình này có nhiều đặc điểm

để phân biệt với các kiểu mà phụ kiểu khác của nó

2 Phụ Kiểu xâm thực bóc mòn yếu

Phụ kiểu địa hình này phát triển trên các dải đồi, đồi thấp xung quanh thành phố Lạng Sơn, nằm gần trung tâm hơn kiểu địa hình xâm thực bóc mòn mạnh

Các đá cấu thành nên phụ kiểu địa hình này là cát kết, bột kết, sét kết, sạn kết và đá phun trào ryolit thuộc hệ tàng Đồng Đăng, Lạng Sơn, Kỳ Cùng, Khôn Làng, Nà Khuất, Mẫu Sơn Cấu trúc chủ yếu là các nếp uốn nhỏ, thoải, đơn nghiêng Địa hình của phụ kiểu này

là cấc đồi thoải có góc dốc nhỏ vừa từ 15-300 Đỉnh đồi thường tròn hoặc vuông, vỏ phong hoá phát triển mạnh Do địa hình đồi thoải và khí hậu nóng ẩm nên vỏ phong hoá dầy, từ vài mét đến vài chục mét Đây cũng là điều kiện thuận cho thực vật phát triển trênkiểu địa hình này

3 Kiểu đại hình Karst

Kiểu địa hình này được hình thành do quá trình hoà tan đá vôi dưới tác dụng của nước, cácbonic và các yếu tố khác

Kiểu địa hình này được phân bố ở thung lũng Lạng Sơn ứng với dạng nhân phức nếp lồi,

nó còn phân bố ở một số nơI khác Do đặc điểm cấu trúc các lớp đá vôi nhất là các khe

Ngày đăng: 16/07/2017, 23:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w