1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NHỮNG vấn đề cơ bản về HÀNH CHÍNH NHÀ nước và CHẾ độ CÔNG vụ, CÔNG CHỨC (sách dùng cho thi nâng ngạch từ chuyên viên lên chuyên viên chính)

237 2,2K 25

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 237
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhân dân tham gia vào đời sống chính trị với nhiều hình thức như: thông qua hoạt động bầu cử đại biểu vào các cơ quan quyền lực nhà nước, hoạt động trưng cầu ý kiến cử tri vào những chín

Trang 1

BỘ NỘI VỤ VIỆN KHOA HỌC TỔ CHỨC NHÀ NƯỚC

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN

VỀ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

VÀ CHẾ ĐỘ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC

(Sách dùng cho thi nâng ngạch

từ chuyên viên lên chuyên viên chính)

CHỈ ĐẠO BIÊN SOẠN

TS TRẦN ANH TUẤN, THỨ TRƯỞNG BỘ NỘI VỤ

BAN BIÊN SOẠN

TS TRẦN ANH TUẤN Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng

ban Ban biên soạn GS,TS ĐINH VĂN TIẾN Nguyên Phó Giám đốc Học viện

Hành chính, thành viên PGS,TS NGUYỄN HỮU HẢI Trưởng khoa Khoa Hành chính

học - Học viện Hành chính, Phó Trưởng ban Ban biên soạn PGS,TS NGUYỄN MINH MẪN Ủy viên Hội đồng chức danh giáo

sư nhà nước, thành viên PGS, TS NGUYỄN MINH PHƯƠNG Phó Hiệu trưởng Trường Đại học

Nội vụ Hà Nội, thành viên

TS TRẦN NGHỊ Trưởng phòng, Viện Khoa học tổ

chức nhà nước - Bộ Nội vụ, thành viên kiêm Thư ký Ban biên soạn THS NGUYỄN TIẾN TRUNG Vụ trưởng Vụ Công chức - Viên

chức, Bộ Nội vụ, thành viên

CN NGUYỄN QUỐC KHÁNH Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ -

Bộ Nội vụ, thành viên THS LÊ MINH HƯƠNG Phó Vụ trưởng Vụ Công chức -

Viên chức, Bộ Nội vụ, thành viên THS VŨ THỊ HIỀN Phó Viện trưởng Viện Khoa học

tổ chức nhà nước - Bộ Nội vụ, thành viên

Trang 2

HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH GS,TS TẠ NGỌC TẤN Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương

Đảng, Giám đốc Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng

GS,TS NGUYỄN XUÂN THẮNG Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương

Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng

GS,TS PHAN TRUNG LÝ Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Ủy viên

TS ĐINH TRUNG TỤNG Thứ trưởng Bộ Tư pháp, Ủy viên

CN LÊ HỒNG SƠN Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy,

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội, Ủy viên

GS,TS NGUYỄN HỮU KHIỂN Nguyên Phó Giám đốc Học viện

Hành chính, Ủy viên PGS,TS LƯU KIẾM THANH Phó Giám đốc Học viện Hành chính,

Ủy viên PGS,TS LÊ THỊ VÂN HẠNH Phó Giám đốc Học viện Hành chính,

TS ĐINH DUY HÒA Vụ trưởng Vụ Cải cách hành chính,

Bộ Nội vụ, Ủy viên PGS,TS TRIỆU VĂN CƯỜNG Hiệu trưởng Trường Đại học Nội vụ

Hà Nội, Bộ Nội vụ, Ủy viên THS VŨ THANH XUÂN Hiệu trưởng Trường Đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ, công chức Bộ Nội vụ,

Ủy viên

PGS,TS VŨ THANH SƠN Phó Vụ trưởng Vụ Đào tạo, bồi dưỡng

cán bộ, Ban Tổ chức Trung ương Đảng,

Ủy viên THS TRƯƠNG HẢI LONG Phó Vụ trưởng Vụ Công chức - Viên

chức, Bộ Nội vụ, Ủy viên

TS TẠ NGỌC HẢI Trưởng phòng, Viện Khoa học Tổ chức

nhà nước, Bộ Nội vụ, Ủy viên kiêm Thư ký Hội đồng thẩm định

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức

nhà nước là một nhiệm vụ quan trọng, nhằm mục đích nâng

cao hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính quốc gia Luật

Cán bộ, công chức năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi

hành đã tạo cơ sở pháp lý để thực hiện nhiệm vụ này Trong

đó, việc quy định thi nâng ngạch là một nội dung trong công

tác xây dựng và quản lý đội ngũ công chức, là biện pháp

quan trọng để lựa chọn những người đủ năng lực bố trí vào

các vị trí yêu cầu trình độ, năng lực cao hơn trong các cơ

quan, đơn vị của Nhà nước Đối với cá nhân công chức, việc

dự thi nâng ngạch là cơ hội để khẳng định mình trong quá

trình hoạt động công vụ

Nội dung cuốn sách được sử dụng phục vụ cho công

chức ôn tập thi nâng ngạch từ chuyên viên lên chuyên viên

chính Trên cơ sở kế thừa nội dung của các tài liệu phục vụ

thi nâng ngạch chuyên viên lên chuyên viên chính từ năm

2012 trở về trước và cập nhật, bổ sung các nội dung mới phù

hợp với điều kiện hiện nay, cuốn sách giới thiệu cô đọng và

có tính hệ thống về hệ thống chính trị, Nhà nước, quản lý

hành chính nhà nước và chế độ công vụ, công chức, bao gồm

6 chuyên đề Ngoài ra, cuốn sách còn giới thiệu các tài liệu cần nghiên cứu để phục vụ môn thi hành chính trong kỳ thi nâng ngạch từ chuyên viên lên chuyên viên chính

Tài liệu này do Tiến sĩ Trần Anh Tuấn, Thứ trưởng Bộ Nội

vụ - Chủ tịch Hội đồng thi nâng ngạch từ chuyên viên lên chuyên viên chính năm 2014 chỉ đạo biên soạn và trực tiếp làm Trưởng ban biên soạn cùng tập thể tác giả là các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, các công chức, viên chức của Bộ Nội

vụ, Văn phòng Chính phủ và Học viện Hành chính quốc giatrực thuộc Bộ Nội vụ

Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cuốn Những vấn đề

cơ bản về hành chính nhà nước và chế độ công vụ, công chức với bạn đọc Rất mong nhận được những ý kiến đóng

góp của bạn đọc để cuốn sách này ngày một tốt hơn

BAN BIÊN SOẠN

Trang 4

Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự xuất hiện của

giai cấp, nhà nước nhằm thực hiện đường lối chính trị của

giai cấp, đảng phái cầm quyền, do đó nó mang bản chất, lý

tưởng chính trị và phản ánh lợi ích của giai cấp cầm quyền

Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã

hội, bao gồm các thiết chế và thể chế có quan hệ với nhau về

mặt mục tiêu, chức năng trong việc thực hiện quyền lực chính

trị Trong các sách, báo và công trình nghiên cứu khoa học

hiện nay, khái niệm “hệ thống chính trị” thường được hiểu

theo hai nghĩa:

Theo nghĩa rộng, khái niệm “hệ thống chính trị” được sử

dụng để chỉ toàn bộ lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội với

tư cách là một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm các tổ chức, các chủ thể chính trị, các quan điểm, quan hệ chính trị, hệ tư tưởng và các chuẩn mực chính trị

Theo nghĩa hẹp, khái niệm “hệ thống chính trị” được sử

dụng để chỉ hệ thống các cơ quan, tổ chức, cá nhânthực hiện các hoạt động mang tính chính trị trong xã hội gồm nhân dân, các tổ chức chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với quyền lực chính trị Trong đó, nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị và là nền tảng của hệ thống chính trị

Trong các xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản, hệ thống chính trị hình thành và phát triển cùng với quá trình vận động của mâu thuẫn đối kháng giữa các giai cấp gắn với cuộc đấu tranh của nhân dân lao động và các lực lượng tiến

bộ chống lại chế độ xã hội đó, làm thay đổi các hệ thống chính trị theo hướng tiến bộ, hoặc thủ tiêu và thay thế nó bằng một hệ thống chính trị dân chủ, tiến bộ hơn

Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, nhân dân là chủ thể thực

sự của quyền lực chính trị, tự mình định đoạt quyền chính trị của mình Điều căn bản nhất của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đảng cộng sản

Ở Việt Nam, khái niệm “hệ thống chính trị” lần đầu tiên được Đảng ta sử dụng trong Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá VI (tháng 3-1989) thay cho khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản” Hệ thống chính trị đó bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc và các

Trang 5

đoàn thể nhân dân Hệ thống chính trị nước ta vận hành theo

cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ

Đây không chỉ đơn giản là sự thay đổi tên gọi mà là một bước

đổi mới quan trọng trong tư duy chính trị của Đảng ta Hệ

thống chính trị xã hội chủ nghĩa là sự kế thừa và phát triển

các thành tựu về tổ chức và hoạt động của hệ thống chuyên

chính vô sản trong các giai đoạn trước “đổi mới”, đồng thời

phản ánh một hiện thực mới về chính trị và dân chủ trong

điều kiện đổi mới kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay

2 Vai trò của nhân dân trong việc thực hiện quyền

lực chính trị

Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, là lực lượng quyết

định quá trình cải biến xã hội Vai trò quyết định của nhân

dân thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:

- Nhân dân là lực lượng chủ yếu sản xuất ra của cải vật

chất và của cải tinh thần, góp phần quyết định vào sự tồn tại

và phát triển của xã hội

- Nhân dân là chủ thể của mọi quá trình cải biến xã hội

- Lợi ích của nhân dân là động lực cơ bản của cách mạng

xã hội, của những quá trình cải biến xã hội

Trên phương diện quyền lực chính trị, nhân dân vừa là

chủ thể, vừa là khách thể của quyền lực chính trị Tương

quan chủ thể, khách thể quyền lực chính trị của nhân dân

trong các xã hội cũng rất khác nhau

Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến, nhân dân (chủ

yếu là người lao động) chỉ là khách thể của quyền lực chính

trị - quyền lực nhà nước Trong xã hội hiện đại, do sự phát

triển dân chủ, vai trò chính trị của nhân dân tăng lên Nhân dân không chỉ là khách thể mà còn là chủ thể của quyền lực chính trị

Sự tham gia của nhân dân vào đời sống chính trị vừa với

tư cách từng cá nhân, vừa có tính nhóm cộng đồng, vừa thông qua những tổ chức, cơ quan mà họ là những thành viên.Với nhiều phương thức khác nhau, nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp tác động vào cơ cấu chính trị và cơ cấu quyền lực chính trị của xã hội Nhân dân tham gia vào các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức

xã hội và thông qua hoạt động của các tổ chức này chi phối quyền lực nhà nước ở các mức độ khác nhau, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của tổ chức, cộng đồng và bản thân Nhân dân tham gia vào đời sống chính trị với nhiều hình thức như: thông qua hoạt động bầu cử đại biểu vào các cơ quan quyền lực nhà nước, hoạt động trưng cầu ý kiến cử tri vào những chính sách, quyết định của nhà nước, hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước và cán bộ, công chức, viên chức…

Hệ thống chính trị là một hệ thống các thiết chế và thể chế gắn liền với quyền lực chính trị của nhân dân và để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do nhân dân giao phó và uỷ quyền Như vậy, về thực chất hệ thống chính trị không phải là một hệ thống tổ chức có quyền lực tự thân, quyền lực của hệ thống chính trị bắt nguồn từ quyền lực của nhân dân, phát sinh từ sự ủy quyền của nhân dân

Ở chế độ ta, nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử và chính họ là chủ thể duy nhất, tối cao của

Trang 6

quyền lực chính trị Do đó, toàn bộ hoạt động của hệ thống

chính trị phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính

đáng của nhân dân Sức mạnh của các tổ chức trong hệ

thống chính trị là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân Đồng

thời trong một chính thể dân chủ, việc thực hiện quyền lực

chính trị đòi hỏi phải bảo đảm tính thống nhất của quyền

lực đồng thời loại bỏ mọi nguy cơ độc quyền quyền lực từ

bất kỳ một tổ chức hay lực lượng chính trị nào Vì vậy,

việc thực hiện quyền lực chính trị luôn cần đến sự phân

công, phối hợp giữa các tổ chức trong việc thực hiện quyền

quyết định đường lối chính trị, quyền thi hành đường lối

chính trị và quyền kiểm tra, giám sát đối với việc quyết

định đường lối chính trị và thực thi đường lối chính trị

Điều này có ý nghĩa quan trọng bảo đảm cho quyền lực

chính trị luôn phục vụ lợi ích và ý chí của nhân dân, ngăn

ngừa nguy cơ lạm quyền, tha hoá quyền lực làm phương

hại đến quyền lực của nhân dân

Tất cả quyền lực chính trị đều thuộc về nhân dân Nhân

dân thực hiện quyền lực của mình chủ yếu thông qua Nhà

nước Nhà nước quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật, dưới

sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Ngoài Nhà nước,

nhân dân thực hiện quyền lực chính trị thông qua tổ chức

Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội và thông qua tư cách cá

nhân công dân, cử tri tham gia vào việc xây dựng, chỉnh đốn

Đảng, vào việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vì lợi ích xã hội, lợi ích tổ chức

và cá nhân Qua đó phấn đấu thực hiện một mục đích: dân

giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

II BẢN CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM

1 Các tổ chức trong hệ thống chính trị ở Việt Nam

Hệ thống chính trị Việt Nam ra đời từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, sau khi lật đổ nền thống trị của thực dân, phong kiến, thiết lập Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á Các tổ chức hợp thành hệ thống chính trị hiện nay ở nước ta bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân Mỗi một tổ chức đều có vị trí, vai trò và phương thức hoạt động khác nhau với những chức năng, nhiệm vụ khác nhau dưới

sự lãnh đạo của một Đảng duy nhất cầm quyền, sự quản lý của Nhà nước nhằm thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân vì mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

a) Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp

công nhân,đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động

và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Điều 4 Hiến pháp năm 2013

Trang 7

khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của

giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân

lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi

ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân

tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm

nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội

Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân,

phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách

nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình Các tổ

chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt

động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Như vậy, Điều

4 Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung nội dung quan trọng về

trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết

với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân

dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định

của mình Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản

Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật

Sự lãnh đạo của đảng cộng sản đối với hệ thống chính trị

là điều kiện cần thiết và tất yếu để bảo đảm cho hệ thống

chính trị giữ được bản chất giai cấp công nhân, bảo đảm mọi

quyền lực thuộc về nhân dân Bài học kinh nghiệm của cải tổ,

cải cách ở Liên Xô (trước đây) và các nước xã hội chủ nghĩa

ở Đông Âu cho thấy, khi đảng cộng sản không giữ được vai

trò lãnh đạo hệ thống chính trị, sẽ dẫn đến hậu quả làm rối

loạn hệ thống chính trị và xã hội, quyền lực chính trị sẽ

không còn trong tay nhân dân và chế độ chính trị sẽ thay đổi

Vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện trên những nội dung chủ

yếu sau:

Một là, Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến

lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn phát triển kinh tế - xã hội để Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật; đồng thời Đảng là lực lượng lãnh đạo và tổ chức thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng

Hai là, Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và xã hội chủ

yếu thông qua Nhà nước và các đoàn thể quần chúng Đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng được Nhà nước tiếp nhận, thể chế hoá bằng pháp luật và những chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình cụ thể Vì vậy, Đảng luôn quan tâm đến việc xây dựng Nhà nước và bộ máy của Nhà nước, đồng thời kiểm tra việc Nhà nước thực hiện các Nghị quyết của Đảng

Ba là, Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản

lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị

Bốn là, Đảng lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền,

thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu

Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật Đảng thường

Trang 8

xuyên nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng

lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo

Để thực hiện vai trò lãnh đạo của mình, Đảng phải vững

mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thường xuyên tự đổi

mới, tự chỉnh đốn, nâng cao trình độ trí tuệ; giữ vững truyền

thống đoàn kết, thống nhất trong Đảng, tăng cường dân chủ

và kỷ luật trong hoạt động của Đảng; thường xuyên tự phê

bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ

nghĩa cơ hội, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và mọi hành

động chia rẽ, bè phái

Đảng phải phát huy vai trò chủ động, sáng tạo và trách

nhiệm của các cơ quan nhà nước, các đoàn thể nhân dân,

khắc phục tệ quan liêu độc đoán, chuyên quyền, bao biện

làm thay; mặt khác, Đảng không được buông lỏng sự lãnh

đạo, mất cảnh giác trước những luận điệu cơ hội, mị dân đòi

Đảng phải trả quyền lực cho Nhà nước và nhân dân Thực

chất của những đòi hỏi đó chỉ nhằm chia rẽ Đảng với nhân

dân, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và làm thay đổi chế

độ ở một vài nước xã hội chủ nghĩa, trong những điều kiện

lịch sử cụ thể, đã hình thành hệ thống chính trị đa đảng Đó

là các đảng liên minh với đảng cộng sản, thừa nhận sự lãnh

đạo của đảng cộng sản chứ không phải là đảng đối lập Kinh

nghiệm lịch sử cho thấy, thành lập đảng đối lập là nguy cơ

trực tiếp để mất chính quyền vào tay các lực lượng thù địch

với chủ nghĩa xã hội Các thế lực thù địch, phản động hiện

nay cũng đang lợi dụng chiêu bài đa đảng, đa nguyên chính

trị, dân chủ nhằm xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa bằng

“diễn biến hoà bình”

b) Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tổ

chức quyền lực thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội Mặt khác, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thực hiện đường lối chính trị của giai cấp công nhân, thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam

Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị ở nước ta, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản

lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội Đó chính là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Nhà nước quản lý, điều hành nền kinh tế bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết trên cơ sở tôn trọng quy luật khách quan của thị trường.Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện

và bảo đảm đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân Như vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là

bộ máy chính trị, hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội của nhân dân Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và

tư pháp

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có vị trí

và vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính trị Chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong hệ thống chính trị, trong đời sống xã hội được thể hiện bằng mối quan hệ giữa Nhà nước với Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội Nhà

Trang 9

nước thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành Hiến

pháp, pháp luật và chính sách làm công cụ để thực hiện quản

lý nhà nước đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Việc xác định đúng vị trí, vai trò và nhiệm vụ của Nhà

nước trong hệ thống chính trị có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị, khắc phục sự

chồng chéo, lấn sân giữa các thành tố trong hệ thống chính

trị, nhất là trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong

điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đẩy

mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Kế

thừa và phát triển các Hiến pháp trước, Hiến pháp năm 2013

tiếp tục thể hiện rõ bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước dân

chủ, pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do

nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân

dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai

cấp nông dân và đội ngũ trí thức (Điều 2 Hiến pháp năm

2013) Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ nguyên

tắc tổ chức quyền lực nhà nước là “Quyền lực nhà nước là

thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ

quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành

pháp, tư pháp” Theo đó, “kiểm soát quyền lực” là một nguyên

tắc của Nhà nước pháp quyền, là một vấn đề mới trong tổ

chức quyền lực của Nhà nước ta Nguyên tắc này đã được thể

hiện trong các Chương V, VI, VII, VIII và IX của Hiến pháp

năm 2013 Đây là cơ sở hiến định để tiếp tục thể chế hóa

trong các quy định của các luật có liên quan Bên cạnh đó,

Hiến pháp năm 2013 còn quy định cụ thể hơn các phương thức để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước (Điều 6) mà không chỉ thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân như Hiến pháp năm 1992

Trong bộ máy nhà nước, Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc hội do nhân dân trực tiếp bầu ra, là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của Nhà nước Với ý nghĩa đó, Quốc hội được gọi

là cơ quan lập pháp

Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và phải báo cáo công tác với Quốc hội, Với ý nghĩa đó, chính phủ được gọi là

cơ quan hành pháp Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước

Cơ quan tư pháp gồm Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các cơ quan điều tra Đây là những cơ quan được lập ra

để xử lý những tổ chức và cá nhân vi phạm pháp luật, bảo đảm việc thực thi pháp luật một cách nghiêm minh, chính xác

Trang 10

Toà án các cấp là cơ quan nhân danh Nhà nước, thể hiện

thái độ và ý chí của Nhà nước trước các vụ án thông qua hoạt

động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Toà án là cơ quan

duy nhất có quyền áp dụng chế tài hình sự, không ai bị coi là

có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của

Toà án đã có hiệu lực pháp luật

Để bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, bảo

đảm việc xét xử đúng người đúng tội, Viện kiểm sát nhân dân

được tổ chức thành hệ thống, tập trung thống nhất và độc lập

thực hiện thẩm quyền của mình đối với các cơ quan khác của

Nhà nước Viện kiểm sát nhân dân thực hiện các quyền khởi

tố, kiểm sát các hoạt động điều tra, truy tố

Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật,

đồng thời coi trọng giáo dục nâng cao ý thức chấp hành

pháp luật của nhân dân Vì vậy, cần tăng cường pháp chế

xã hội chủ nghĩa

Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân

và vì nhân dân Đó là tổ chức trung tâm thực hiện quyền lực

chính trị, là trụ cột của hệ thống chính trị, là bộ máy thực

hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực kinh tế, văn

hoá, xã hội theo quy định của pháp luật; thay mặt nhân dân

thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại Để Nhà nước hoàn

thành nhiệm vụ quản lý xã hội bằng pháp luật, thực hiện

quyền lực nhân dân giao phó, phải thường xuyên chăm lo

kiện toàn các cơ quan nhà nước, với cơ cấu gọn nhẹ, hoạt

động có hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, công

chức, viên chức có phẩm chất chính trị vững vàng, năng lực

chuyên môn giỏi; thường xuyên giáo dục pháp luật, nâng cao

ý thức sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; có cơ chế

và biện pháp ngăn ngừa tệ quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm ; nghiêm trị những hành động gây rối, thù địch; phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, của các

tổ chức xã hội, xây dựng và tham gia quản lý nhà nước Nhận thức về vai trò quản lý xã hội bằng pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa, cần thấy rằng:

Một là, toàn bộ hoạt động của cả hệ thống chính trị, kể cả

sự lãnh đạo của Đảng cũng phải trong khuôn khổ pháp luật, chống mọi hành động lộng quyền, lạm quyền, coi thường và

vi phạm pháp luật;

Hai là, duy trì mối liên hệ thường xuyên và chặt chẽ giữa

Nhà nước và nhân dân, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, quản lý đất nước vì lợi ích của quảng đại nhân dân, vì lợi ích của quốc gia, dân tộc chứ không phải vì quyền lợi hoặc lợi ích của thiểu số;

Ba là, không có sự đối lập giữa nâng cao vai trò lãnh đạo

của Đảng với tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước Phải luôn luôn bảo đảm sự thống nhất để tăng cường sức mạnh của Nhà nước Tính hiệu lực và sức mạnh của Nhà nước chính là thể hiện hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng

c) Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân

có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên, thực hiện dân chủ và xây dựng

xã hội lành mạnh; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; giáo

Trang 11

dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công

dân, thắt chặt mối liên hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính

trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -

xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai

cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam

định cư ở nước ngoài Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc tự

nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành

động giữa các thành viên Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là

thành viên vừa là người lãnh đạo Mặt trận

Các đoàn thể nhân dân vừa là thành viên của Mặt trận

Tổ quốc, vừa có vai trò, vị trí, chức năng và nhiệm vụ nhất

định do Hiến pháp, pháp luật quy định và được bảo đảm có

hiệu lực thực sự trong thực tế Tùy theo tính chất, tôn chỉ và

mục đích đã được xác định, các đoàn thể nhân dân vận

động, giáo dục đoàn viên, hội viên chấp hành luật pháp,

chính sách; chăm lo, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp,

chính đáng của đoàn viên, hội viên; giúp đoàn viên, hội viên

nâng cao trình độ về mọi mặt và xây dựng cuộc sống mới;

tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội; giữ vững và tăng

cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân

dân, góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và thực hiện

có hiệu quả cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân

dân làm chủ

Trong điều kiện mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các

đoàn thể nhân dân cần tăng cường tổ chức, đổi mới nội dung,

phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng hành chính hóa,

nắm chắc tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên, hội viên và

nhân dân; vận động các tầng lớp nhân dân phát huy sức sáng tạo và mọi tiềm năng trong việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, luật pháp và chính sách của Nhà nước; thực hiện tốt chức năng đại diện, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân

Đồng thời, Nhà nước có cơ chế phối hợp và bảo đảm các điều kiện cần thiết để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phản ánh trung thực tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân; tích cực tham gia xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật; tập hợp, động viên nhân dân đồng tâm hiệp lực thực hiện thắng lợi những chủ trương, nhiệm vụ của Nhà nước; đồng thời, làm tốt vai trò giám sát đối với cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, góp phần xây dựng và bảo vệ chính quyền trong sạch vững mạnh

Hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức thành một một

hệ thống từ Trung ương đến cơ sở Cơ sở phân cấp theo quản

lý hành chính gồm có xã, phường, thị trấn Hệ thống chính trị

ở cơ sở bao gồm: tổ chức cơ sở đảng, Hội đồng nhân dân và

Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã, phường, thị trấn và các tổ chức chính trị - xã hội khác như: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam xã, phường, thị trấn… Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức

và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân đưa Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn vào cuộc sống;

Trang 12

huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức

cuộc sống của cộng đồng dân cư

2 Bản chất của hệ thống chính trị ở nước ta

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên

phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong

của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, nhân dân ta

đã đứng lên làm cách mạng, giành lấy quyền lực nhà nước và

tổ chức ra hệ thống chính trị của mình Do đó, nhân dân thực

hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của

cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân

chủ đại diện

Bản chất của hệ thống chính trị nước ta được quy định

bởi các cơ sở nền tảng sau:

- Cơ sở chính trị của hệ thống chính trị nước ta là chế

độ nhất nguyên chính trị với một Đảng duy nhất cầm

quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ

xã hội chủ nghĩa

- Cơ sở kinh tế của hệ thống chính trị là nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa, dựa trên lực lượng sản

xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp Đồng

thời, cơ sở kinh tế này tạo ra các xung lực để đổi mới, hoàn

thiện hệ thống chính trị, nâng cao khả năng tác động tích cực

vào quá trình phát triển kinh tế

- Cơ sở xã hội của hệ thống chính trị là dựa trên nền tảng

liên minh giai cấp giữa công nhân, nông dân, tầng lớp trí thức

và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.Với cơ sở xã hội là khối đại

đoàn kết toàn dân tộc, hệ thống chính trị nước ta không chỉ là

hình thức tổ chức của chính trị nhằm thực hiện quyền lực của nhân dân mà còn là hình thức tổ chức đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền lợi của mọi tầng lớp nhân dân, là biểu tượng của đại đoàn kết toàn dân tộc

- Cơ sở tư tưởng của hệ thống chính trị là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là các căn

cứ lý luận để xây dựng hệ thống chính trị với chế độ nhất nguyên chính trị và định hướng phát triển xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam

Sự nhất quán về cơ sở chính trị, kinh tế, xã hội và tư tưởng là nhân tố vừa bảo đảm tính định hướng chính trị vừa bảo đảm tính năng động và khả năng thích ứng của hệ thống chính trị trước sự vận động phát triển của đất nước

và thế giới

Hệ thống chính trị ở nước ta là một hệ thống các thiết chế và thể chế gắn liền với quyền lực chính trị của nhân dân

và để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do nhân dân giao phó và uỷ quyền Về thực chất, hệ thống chính trị không phải là một hệ thống tổ chức có quyền lực tự thân, quyền lực của hệ thống chính trị bắt nguồn từ quyền lực của nhân dân, phát sinh từ sự uỷ quyền của nhân dân, thể hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” Trong chế độ do nhân dân là chủ thể duy nhất và tối cao của quyền lực chính trị, nhân dân uỷ quyền cho một hệ thống các tổ chức bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốcViệt Nam và các đoàn thể nhân dân

Trang 13

Hệ thống chính trị ở nước ta là một hình thức tổ chức

thực hành dân chủ; mỗi một tổ chức trong hệ thống chính trị

đều là những hình thức để thực hiện dân chủ đại diện và dân

chủ trực tiếp của nhân dân Các tổ chức này được tổ chức và

hoạt động trên cơ sở các nguyên tắc dân chủ và vì các mục

tiêu dân chủ Điều đó bắt nguồn từ bản chất của chế độ chính

trị xã hội chủ nghĩa “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất

của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát

triển đất nước”1 Mỗi một tổ chức trong hệ thống chính trị

vừa là một hình thức thực hành dân chủ, tổ chức các quá trình

dân chủ vừa là công cụ bảo đảm dân chủ trong xã hội, một

trường học dân chủ để giáo dục ý thức dân chủ, nâng cao

năng lực làm chủ của nhân dân

3 Đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta

duy nhất cầm quyền, mặc dù trong những giai đoạn lịch sử

nhất định, trong chế độ chính trị Việt Nam ngoài Đảng Cộng

sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội Tuy

nhiên hai Đảng này được tổ chức và hoạt động như những

_

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr 84-85

đồng minh chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam, thừa nhận vai trò lãnh đạo và vị trí cầm quyền duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam Do vậy, về thực chất chế độ chính trị không tồn tại các đảng chính trị đối lập

Hệ thống chính trị Việt Nam gắn liền với vai trò tổ chức

và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Mỗi tổ chức thành viên của hệ thống chính trị đều do Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập vừa đóng vai trò là hình thức tổ chức quyền lực của nhân dân (Nhà nước), tổ chức tập hợp đoàn kết quần chúng, đại diện ý chí và nguyện vọng của quần chúng (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân)vừa là tổ chức đóng vai trò là phương tiện để Đảng Cộng sản thực hiện sự lãnh đạo chính trị của mình

Toàn bộ hệ thống chính trị đều được tổ chức và hoạt động trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Điều đó quy định tính nhất nguyên tư tưởng, nhất nguyên ý thức hệ chính trị của toàn bộ hệ thống

và của từng thành viên trong hệ thống chính trị

b) Tính thống nhất của hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm nhiều tổ chức có tính chất, vị trí, vai trò, chức năng khác nhau nhưng lại quan

hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau tạo thành một thể thống nhất Sự

đa dạng, phong phú về tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị tạo điều kiện

để phát huy “tính hợp trội” của hệ thống, tạo ra sự cộng hưởng sức mạnh trong toàn bộ hệ thống để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị của mỗi tổ chức thành viên và của toàn bộ hệ thống chính trị

Trang 14

Nhân tố quyết định tính thống nhất của hệ thống chính trị

nước ta là sự lãnh đạo thống nhất của một Đảng duy nhất cầm

quyền là Đảng Cộng sản Việt Nam theo nguyên tắc tập trung

dân chủ Việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc tập trung

dân chủ trong tổ chức và hoạt động là nhân tố cơ bản bảo

đảm cho hệ thống chính trị có được sự thống nhất về tổ chức

và hành động nhằm phát huy sức mạnh đồng bộ của toàn hệ

thống cũng như của mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị

Đồng thời, tính thống nhất của hệ thống chính trị còn thể hiện

ở mục tiêu chính trị là xây dựng xã hội chủ nghĩa Việt Nam

với nội dung: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn

minh Hệ thống chính trị được tổ chức như một chỉnh thể

thống nhất từ Trung ương đến địa phương và cấp cơ sở

Các quan điểm và nguyên tắc của chủ nghĩa Mác -

Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được các tổ chức trong

hệ thống chính trị ở nước ta vận dụng, ghi rõ trong Điều lệ

của từng tổ chức

c) Hệ thống chính trị gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu

sự giám sát của nhân dân

Hệ thống chính trị Việt Nam là một hệ thống không chỉ

gắn với chính trị, quyền lực chính trị mà còn gắn với xã hội

Do vậy trong cấu trúc của hệ thống chính trị bao gồm các tổ

chức chính trị như Đảng, Nhà nước và các tổ chức vừa có

tính chính trị vừa có tính xã hội như Mặt trận Tổ quốc và các

đoàn thể nhân dân

Hệ thống chính trị không đứng trên xã hội, tách khỏi xã

hội như những lực lượng chính trị áp bức xã hội như trong

các xã hội bóc lột mà là một bộ phận của xã hội, gắn bó với

xã hội Sự gắn bó mật thiết giữa hệ thống chính trị với nhân dân được thể hiện ngay trong bản chất của các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị: Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân là hình thức tập hợp, tổ chức của chính các tầng lớp nhân dân

Sự gắn bó giữa hệ thống chính trị với nhân dân còn được xác định bởi ý nghĩa: hệ thống chính trị là trường học dân chủ của nhân dân; mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị là phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân

d) Hệ thống chính trị có sự kết hợp chặt chẽ giữa tính giai cấp và dân tộc

Từ ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam, cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp gắn liền với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Giai cấp và dân tộc hoà đồng, các giai cấp, tầng lớp xã hội đoàn kết, hợp tác

để cùng phát triển Trong mọi giai đoạn xây dựng và phát triển của hệ thống chính trị (kể cả thời kỳ còn mang tên hệ thống chuyên chính vô sản) vấn đề dân tộc, quốc gia luôn là

cơ sở đoàn kết mọi lực lượng chính trị - xã hội để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam Vấn đề đặt

ra đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị là đoàn kết giai cấp, tập hợp lực lượng trên nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Trang 15

Mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội quy định hệ thống

chính trị mang bản chất giai cấp công nhân, đại diện trung

thành lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã gắn kết vấn

đề dân tộc và vấn đề giai cấp Do vậy trong thực tiễn cách

mạng Việt Nam, sự phân biệt giữa dân tộc và giai cấp đều

mang tính tương đối và không có ranh giới rõ ràng, tạo nên

sức mạnh tổng hợp của toàn bộ hệ thống chính trị Nhờ vậy

hệ thống chính trị luôn là đại biểu cho dân tộc, là yếu tố đoàn

kết dân tộc, gắn bó mật thiết với nhân dân và là hệ thống của

dân, do dân, vì dân

III ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA

1 Sự cần thiết phải đổi mới hệ thống chính trị ở

nước ta

Hệ thống chính trị chỉ phát huy tác dụng khi sự vận hành

các yếu tố của nó phù hợp với những quy luật khách quan Từ

khi thực hiện đường lối của Đảng đến nay, hệ thống chính trị

ở nước ta đã có những đổi mới đáng kể: Đảng đã được củng

cố cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức; vai trò lãnh đạo của

Đảng trong xã hội ngày càng tăng; Nhà nước tiếp tục được

xây dựng và hoàn thiện theo hướng Nhà nước pháp quyền xã

hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân; Mặt trận Tổ quốc,

các đoàn thể chính trị - xã hội từng bước đổi mới nội dung và

phương thức hoạt động, đem lại hiệu quả thiết thực; quyền

làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính

trị, văn hoá, tư tưởng được phát huy

Tuy nhiên bên cạnh những thành công quan trọng đó, hệ thống chính trị ở nước ta cũng còn bộc lộ nhiều nhược điểm:

tổ chức bộ máy vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian; chức năng, nhiệm vụ của một số tổ chức trên một số lĩnh vực còn chồng chéo; thẩm quyền, trách nhiệm của cán

bộ, công chức, nhất là người đứng đầu chưa rõ Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc

và các đoàn thể chính trị - xã hội chậm đổi mới Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của nhà nước ở nhiều nơi còn hạn chế Chưa đổi mới mạnh mẽ tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công Chưa phân định rạch ròi tổ chức chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn Việc đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động, vận động quần chúng của Mặt trận

Tổ quốc, các đoàn thể chưa đáp ứng được yêu cầu Đổi mới

tổ chức bộ máy chưa gắn với việc tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Số lượng cán bộ, công chức, nhất là viên chức ở các đơn vị sự nghiệp công lập

và cán bộ công chức xã, phường, thị trấn tăng nhanh Một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm

vụ1 Những biểu hiện chủ yếu là:

- Quyền làm chủ của nhân dân ở một số nơi, trên một vài lĩnh vực còn bị vi phạm Việc thực hành dân chủ còn mang _

1 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI): Kết luận số 64-KL/TW ngày 28-05-2013 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị

từ Trung ương đến cơ sở”

Trang 16

tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ, làm

mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn

xã hội Việc tuyên truyền, vận động, tập hợp, thu hút nhân

dân tham gia các phong trào, cuộc vận động của Mặt trận Tổ

quốc, các đoàn thể nhân dân còn hạn chế Hoạt động của Mặt

trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân chưa sâu sát các tầng

lớp nhân dân và cơ sở

- Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất

nước Năng lực xây dựng thể chế, quản lý, điều hành, tổ

chức thực thi pháp luật còn yếu Tổ chức bộ máy ở nhiều

cơ quan còn chưa hợp lý, biên chế cán bộ, công chức tăng

thêm; chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan chưa đủ rõ,

còn chồng chéo Cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu đề

ra; thủ tục hành chính còn gây phiền hà cho tổ chức và

công dân Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí

chưa đạt được yêu cầu đề ra Quan liêu, tham nhũng,

nhũng nhiễu, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những

biểu hiện tinh vi, phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi,

gây bức xúc xã hội

- Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa

làm sáng tỏ được một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ

nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư

tưởng còn hạn chế; thiếu sắc bén trong đấu tranh chống âm

mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”

- Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối

sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình

trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành, ngày càng làm tăng thêm bức xúc trong nhân dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe doạ sự ổn định, phát triển của đất nước

- Việc đổi mới công tác cán bộ còn chậm Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương chưa được khắc phục Công tác cán bộ thiếu tầm nhìn xa Môi trường làm việc, chính sách cán bộ chưa tạo được động lực để khuyến khích, thu hút, phát huy năng lực, sự cống hiến của cán bộ; chưa cổ vũ ý chí phấn đấu vươn lên, sự gắn bó, tận tuỵ của cán bộ đối với công việc

- Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp; công tác quản lý đảng viên chưa chặt chẽ, sinh hoạt đảng chưa nền nếp, nội dung sinh hoạt nghèo nàn, tự phê bình và phê bình yếu Việc xây dựng tổ chức cơ

sở đảng trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn chậm, vai trò của tổ chức đảng ở đây

mờ nhạt

- Nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng chưa làm tốt công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng, chất lượng và hiệu quả kiểm tra, giám sát chưa cao; chưa coi trọng việc kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối, chủ trương, chỉ thị, nghị quyết, thi hành Điều lệ Đảng, kiểm tra, giám sát phòng ngừa tiêu cực và phát huy nhân tố tích cực Sự đoàn kết, nhất trí ở không ít cấp uỷ chưa tốt

Trang 17

- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước,

Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trên một số nội

dung chưa rõ, chậm đổi mới Phong cách, lề lối làm việc đổi

mới chậm; hội họp vẫn nhiều Nguyên tắc tập trung dân chủ

còn bị vi phạm, ảnh hưởng đến sự đoàn kết, thống nhất

trong Đảng

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc

tế đòi hỏi một hệ thống chính trị tương thích Đất nước đang

cần một hệ thống chính trị được tổ chức và hoạt động không

chỉ phù hợp với các yêu cầu đòi hỏi của nền kinh tế thị

trường, của chế độ pháp quyền và hội nhập quốc tế mà còn

phải thật sự trở thành một nhân tố thúc đẩy tích cực sự phát

triển kinh tế thị trường, tăng cường dân chủ và đẩy mạnh hợp

tác quốc tế, đủ năng lực để giải quyết mọi khó khăn, các diễn

biến phức tạp về chính trị, kinh tế, xã hội trong tiến trình phát

triển Do vậy, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị

đang và luôn là đòi hỏi có tính cấp thiết, là một trong những

nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược to lớn đối với sự

phát triển bền vững của đất nước

Bối cảnh mới của đất nước và thế giới ngày nay đang tạo

ra nhiều cơ hội và thách thức đối với sự phát triển bền vững

của đất nước Để tranh thủ tối đa các thời cơ phát triển và

vượt qua các thách thức của thời đại, Đảng ta chủ trương tiếp

tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới một cách toàn diện, trong đó

đổi mới hệ thống chính trị là một trong những nhiệm vụ quan

trọng đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi có tính khách quan đối với sự

phát triển tiếp theo của đất nước Do đó, cần nhận thức rõ đổi

mới kinh tế phải gắn liền với đổi mới hệ thống chính trị và sự tương đồng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị là điều kiện tiên quyết để tiếp tục phát triểnđất nước, vượt qua thách thức, tiến kịp thời đại Tuy nhiên, tiếp tục đổi mới kinh tế và tiếp tục đổi mới hệ thống chính trị chỉ có thể được xác lập bền vững trên cơ sở một đường lối đổi mới nhất quán với các mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc đổi mới được xác định một cách khoa học và rõ ràng với những lộ trình và bước đi thích hợp

2 Quan điểm đổi mới hệ thống chính trị

a) Đổi mới hệ thống chính trị nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm giữ vững độc lập dân tộc, ổn định chính trị và sự phát triển bền vững của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Đổi mới hệ thống chính trị không nhằm mục tiêu tạo ra một hệ thống chính trị mới hay thay đổi bản chất của hệ thống chính trị hiện nay Trên cơ sở tổ chức và hoạt động của

hệ thống chính trị hiện nay, việc đổi mới được thực hiện theo hướng hoàn thiện để khắc phục các bất cập, yếu kém trong toàn bộ hệ thống và trong từng tổ chức thành viên của hệ thống chính trị; tạo nên sự phù hợp của hệ thống chính trị với các yêu cầu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân và chủ động hội nhập quốc tế Đổi mới hệ thống chính trị, đoàn kết các giai cấp, tầng lớp nhân dân, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, góp phần củng cố nền

Trang 18

tảng xã hội của hệ thống chính trị, nhằm giữ vững ổn định

chính trị, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chống lại mọi

âm mưu “diễn biến hoà bình” đồng thời khắc phục sự bảo

thủ, trì trệ, tâm lý ngại đổi mới, sợ đổi mới

Đổi mới hệ thống chính trị gắn liền với mục tiêu, nhiệm

vụ xây dựng, tăng cường và phát huy dân chủ xã hội chủ

nghĩa phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của

dân, do dân và vì dân trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm

quyền.Tăng cường và phát huy dân chủ theo hướng hoàn

thiện các hình thức và phương thức dân chủ của người dân

thông qua Nhà nước và các tổ chức cấu thành hệ thống chính

trị; mặt khác đa dạng hoá các hình thức thực hành dân chủ để

các tầng lớp nhân dân có nhiều cơ hội tham gia tích cực vào

các quá trình dân chủ trong đời sống xã hội

Dân chủ trong hệ thống chính trị chỉ thật sự được bảo

đảm khi xây dựng và thực hiện được cơ chế kiểm tra, giám

sát ngay trong từng tổ chức trong hệ thống chính trị và trong

toàn bộ hệ thống chính trị cùng với sự kiểm tra, giám sát của

chính nhân dân Dân chủ gắn liền với trách nhiệm, kỷ cương,

kỷ luật Do vậy, phát huy dân chủ phải đồng thời tăng cường

củng cố kỷ cương, trật tự kỷ luật trong từng tổ chức của hệ

thống chính trị và trong thực tiễn xã hội

b) Đổi mới hệ thống chính trị trên cơ sở những nguyên lý

cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế

thừa truyền thống văn hoá, lịch sử của dân tộc, tiếp thu có

chọn lọc kinh nghiệm của các nước trên thế giới

Quán triệt các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin

trong việc xây dựng cơ sở lý luận và triển khai thực tiễn các giải pháp đổi mới hệ thống chính trị đòi hỏi một mặt đấu tranh chống lối vận dụng giáo điều, rập khuôn máy móc hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam Mặt khác, phải vận dụng sáng tạo và không ngừng phát triển các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin trong các điều kiện cụ thể của Việt Nam ở từng giai đoạn phát triển

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền, về Nhà nước của dân, do dân, vì dân, về dân chủ, về khối đại đoàn kết toàn dân tộc, về xây dựng, rèn luyện, đào tạo đội ngũcán

bộ của hệ thống chính trị là những cơ sở lý luận và tư tưởng trực tiếp đối với tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị Việc nghiên cứu tổng kết tư tưởng Hồ Chí Minh, phổ biến, tuyên truyền, giáo dục và học tập tư tưởng Hồ Chí Minh là một hoạt động cơ bản để tổng kết lý luận về hệ thống chính trị, xây dựng luận cứ để đổi mới hệ thống chính trị

Hệ thống chính trị của nước ta kế thừa truyền thống lịch

sử chính trị và bản sắc văn hoá Việt Nam được chắt lọc trong lịch sử xây dựng và trưởng thành của dân tộc Việt Nam Do vậy, các giá trị lịch sử truyền thống về chính trị, văn hoá, các kinh nghiệm lịch sử của các thế hệ người Việt Nam được đúc kết từ lịch sử hàng nghìn năm cần được quán triệt và vận dụng trong đổi mới hệ thống chính trị Đồng thời, đổi mới hệ thống chính trị vừa phải giữ vững bản chất

và đặc điểm của chế độ chính trị nước ta, vừa phải tiếp thu

có chọn lọc các giá trị tư tưởng chính trị tiến bộ của văn minh nhân loại, các kinh nghiệm tốt của nền chính trị ở các nước trên thế giới

Trang 19

c) Đổi mới hệ thống chính trị trên cơ sở nâng cao năng

lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất cầm quyền,

là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội nên trong đổi

mới hệ thống chính trị, vấn đề có ý nghĩa quyết định nhất là

xây dựng được một Đảng Cộng sản cầm quyền trong sạch,

vững mạnh, kết tinh được tinh hoa, trí tuệ, đạo đức của dân

tộc, được nhân dân tin tưởng, ủng hộ, bảo vệ; nhờ đó chính

quyền được giữ vững, địa vị cầm quyền của Đảng được

khẳng định

Đổi mới hệ thống chính trị nhằm nâng cao năng lực

cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo của Đảng trong điều kiện

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân,

phát huy mạnh mẽ dân chủ, đòi hỏi phải đổi mới toàn diện

công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức,

cán bộ Đổi mới tổ chức và hoạt động của Đảng, đổi mới

phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận

Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân là tiền đề để đổi mới Nhà

nước và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị Phát huy

dân chủ trong Đảng là cơ sở để phát huy dân chủ trong toàn

bộ hệ thống chính trị và xã hội Do vậy, đổi mới hệ thống

chính trị phải được bắt đầu từ chính quá trình đổi mới và

chỉnh đốn Đảng

Đổi mới hệ thống chính trị vừa củng cố vị trí, vai trò lãnh

đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các

đoàn thể nhân dân, vừa bảo đảm tính độc lập của các tổ chức

này trên cơ sở xử lý hài hoà các quan hệ lãnh đạo và quan hệ đối thoại dân chủ của Đảng với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc

và các tổ chức chính trị - xã hội trong tư cách Đảng là hạt nhân lãnh đạo chính trị, đồng thời là thành viên của hệ thống chính trị

d) Đổi mới hệ thống chính trị bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là trụ cột của hệ thống chính trị, tập trung xây dựng bộ máy tinh gọn, năng động, trong sạch và hiệu quả

Nhà nước là tổ chức trụ cột của hệ thống chính trị, do đó việc đổi mới, hoàn thiện nhà nước có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả tổ chức và hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị Các giải pháp đổi mới nhà nước nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Do vậy, Nhà nước trong hệ thống chính trị đổi mới phải thể hiện được các giá trị phổ biến đặc trưng cho nhà nước pháp quyền nói chung và các giá trị đặc thù của nhà nước pháp quyền Việt Nam

Nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải xây dựng và thực hiện được một hệ thống các nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước một cách thật sự dân chủ và khoa học; cơ cấu lại chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong các điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hoàn chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phân nhiệm và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp

Trang 20

Bộ máy nhà nước phải được đổi mới đồng bộ cả ở trung

ương và địa phương để tạo ra một nền hành chính hiệu quả và

thông suốt, bảo đảm sự quản lý, điều hành thống nhất của

trung ương và quyền tự chủ của các cấp chính quyền địa

phương Do vậy việc đổi mới, kiện toàn các cấp chính quyền

địa phương cần phải được nhận thức đầy đủ tính cấp thiết

trước các yêu cầu phát triển hiện nay của đất nước

Tăng cường vai trò, hiệu lực của Nhà nước trong hệ

thống chính trị là tăng cường năng lực, trách nhiệm phục vụ

nhân dân của bộ máy công quyền Do vậy, mọi giải pháp cải

cách bộ máy nhà nước đều nhằm mục tiêu bảo đảm để nhân

dân thật sự là chủ thể duy nhất của quyền lực nhà nước, tham

gia tích cực vào quá trình thực hiện quyền lực nhà nước

Để bảo đảm yêu cầu này, bộ máy nhà nước phải được cơ

cấu gọn nhẹ, năng động, trong sạch và hiệu quả Mọi hoạt

động nhà nước đều công khai, minh bạch, thật sự dân chủ Có

như vậy mới thật sự khắc phục được tình trạng tha hoá quyền

lực, quan liêu hoá và tham nhũng trong bộ máy công quyền

e) Đổi mới hệ thống chính trị bảo đảm Mặt trận Tổ quốc

và các đoàn thể nhân dân thật sự là các tổ chức đại diện,

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng

lớp nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và thực

hiện chức năng phản biện, giám sát xã hội đối với hoạt

động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, của cán bộ, đảng

viên, công chức

Đổi mới Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân

trong hệ thống chính trị cần được tiến hành trên cơ sở tôn

trọng và phát huy vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các

tổ chức quần chúng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân là các tổ chức quần chúng gắn bó với Đảng, có vai trò tập hợp quần chúng, là các hình thức dân vận của Đảng, có chức năng tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng trong các tầng lớp nhân dân Do vậy, tổ chức và hoạt động của các

tổ chức này đều chịu sự lãnh đạo của Đảng Mặt khác, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân là tổ chức tự nguyện của quần chúng, là hình thức tập hợp của chính quần chúng, thể hiện ý chí, nguyện vọng của quần chúng, bảo vệ lợi ích của quần chúng, là phương thức hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các hội viên Trong ý nghĩa này, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức xã hội là các đối tác dân chủ của Đảng, Nhà nước; độc lập với Nhà nước để thực hiện quyền của nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức Đảng và Nhà nước vì các mục tiêu dân chủ

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta nhấn mạnh một số quan điểm chỉ đạo về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở như sau1:

Một là, đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị phải bám

sát, cụ thể hóa, thể chế hóa các quan điểm của Cương lĩnh, Điều lệ, văn kiện Đại hội XI của Đảng, đồng bộ với nội dung sửa đổi Hiến pháp 1992; bảo đảm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà _

1 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI): Kết luận số 64-KL/TW ngày 28-05-2013 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị

từ Trung ương đến cơ sở”

Trang 21

nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; giữ vững ổn

định chính trị, xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất

nước trong thời kỳ mới

Hai là, đổi mới, hoàn thiện đồng bộ giữa các tổ chức

trong hệ thống chính trị, đồng bộ với đổi mới thể chế kinh

tế, phù hợp với đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo

của Đảng trong điều kiện Đảng duy nhất cầm quyền, xây

dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Đổi

mới, kiện toàn tổ chức bộ máy phải gắn với hoàn thiện chức

năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công

chức; xác định rõ quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân

phụ trách; quyền hạn đi đôi với trách nhiệm và đề cao trách

nhiệm của người đứng đầu

Ba là, về tổ chức bộ máy, không nhất thiết ở Trung ương

có tổ chức nào thì ở địa phương cũng có tổ chức đó Căn cứ

điều kiện cụ thể, tiêu chí và quy định khung của Trung ương,

địa phương có thể lập (hoặc không lập) tổ chức sau khi được

sự đồng ý của cấp trên có thẩm quyền, về biên chế, cần tăng

cường kiêm nhiệm một số chức danh trong các tổ chức của

hệ thống chính trị Đổi mới mạnh mẽ về tổ chức và cơ chế

hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công

Bốn là, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị cần

thực hiện mạnh mẽ với quyết tâm chính trị cao Những vấn

đề thực tiễn đòi hỏi, đã đủ rõ, chín muồi thì kiên quyết thực

hiện Những vấn đề chưa đủ rõ thì khẩn trương nghiên cứu,

làm thí điểm và tổng kết thực tiễn để làm rõ, có bước đi thích

hợp, không nóng vội, chủ quan, duy ý chí Những chủ trương

đã thực hiện, nhưng thực tiễn khẳng định là không phù hợp thì điều chỉnh, sửa đổi ngay

Đảng ta nhấn mạnh mục tiêu của việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở nhằm xây dựng tổ chức bộ máy đồng bộ, tinh gọn, có tính ổn định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có số lượng hợp lý, có phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao, đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị và có tiền lương, thu nhập bảo đảm cuộc sống

3 Một số giải pháp đổi mới hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn hiện nay

Đổi mới hệ thống chính trị không chỉ là đổi mới tổ chức, hoạt động của từng tổ chức trên cơ sở tiếp tục xác định rõ chức năng, nhiệm và mô hình tổ chức của các tổ chức trong

hệ thống chính trị mà còn đổi mới mối quan hệ giữa các tổ chức, trong đó đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân có ý nghĩa quyết định

a) Những giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Tổng kết từ thực tiễn đổi mới, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, một số nội dung xây dựng và chỉnh đốn Đảng được đặc biệt chú ý nhằm phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối Nhà nước và xã hội

- Tăng cường xây dựng Đảng về chính trị Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo

và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam, kiên định mục

Trang 22

tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Nâng cao bản lĩnh

chính trị, trình độ trí tuệ của toàn Đảng và của mỗi cán bộ,

đảng viên, trước hết của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp;

không dao động trong bất cứ tình huống nào Kiên định

đường lối đổi mới, chống giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc chủ

quan, nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc

- Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý

luận, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ

nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và

những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình đổi mới, không

ngừng phát triển lý luận, đề ra đường lối và chủ trương đáp

ứng yêu cầu phát triển đất nước; khắc phục một số mặt lạc

hậu, yếu kém của công tác nghiên cứu lý luận

Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn

nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư

tưởng, tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách,

pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, cổ vũ động viên các

nhân tố mới, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, giáo

dục truyền thống yêu nước, cách mạng Kiên quyết đấu tranh

làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hoà bình”

của các thế lực thù địch Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê

phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong

nội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo

đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên

- Rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ

nghĩa cá nhân Mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng tu dưỡng,

rèn luyện đạo đức cách mạng, thực sự là một tấm gương về

phẩm chất đạo đức, lối sống Cán bộ cấp trên phải gương mẫu trước cán bộ cấp dưới, đảng viên và nhân dân Cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Tổ quốc, trước Đảng và nhân dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân Các tổ chức đảng tạo điều kiện để đảng viên công tác, lao động có năng suất, chất lượng, hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng Triển khai thực hiện tốt Quy chế dân vận trong hệ thống chính trị; đổi mới và nâng cao chất lượng công tác vận động nhân dân Định kỳ lấy

ý kiến nhận xét của nhân dân về tư cách, đạo đức của cán bộ, đảng viên Xử lý nghiêm mọi cán bộ, đảng viên vi phạm về trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, lối sống

- Tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng Kiện toàn, nâng cao chất lượng các cơ quan tham mưu, đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu, nhất là ở cấp chiến lược; củng cố và đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của các tổ chức đảng, nhất là của đảng đoàn, ban cán sự đảng Tập trung chỉ đạo, củng cố những tổ chức đảng yếu kém;kịp thời kiện toàn cấp uỷ và tăng cường cán bộ ở nơi có nhiều khó khăn, nội bộ mất đoàn kết Coi trọng đổi mới và nâng cao chất lượng sinh hoạt cấp uỷ, tổ chức đảng, chất lượng tự phê bình, phê bình trong sinh hoạt đảng Thật sự phát huy dân chủ trong sinh hoạt đảng từ sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt cấp ủy ở cơ sở đến sinh hoạt Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, chống quan liêu, bè phái, cục bộ, địa phương, độc đoán, vi phạm dân chủ, dân chủ hình thức

Trang 23

- Kiện toàn tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng

đảng viên Củng cố nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến

đấu của tổ chức cơ sở đảng, tạo chuyển biến rõ rệt về chất

lượng hoạt động của các loại hình cơ sở đảng, nhất là tổ

chức đảng trong các đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp

thuộc các thành phần kinh tế Đổi mới, tăng cường công tác

quản lý, phát triển đảng viên, bảo đảm chất lượng đảng viên

theo yêu cầu của Điều lệ Đảng Xây dựng các tiêu chí, yêu

cầu cụ thể về tư tưởng chính trị, trình độ năng lực, phẩm

chất đạo đức, lối sống của đảng viên đáp ứng yêu cầu giai

đoạn cách mạng mới; phát huy tính tiên phong, gương mẫu,

chủ động, sáng tạo của đội ngũ đảng viên trong thực hiện

nhiệm vụ được giao

- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác cán bộ

Thực hiện tốt Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công

nghiệp hoá, hiện đại hoá; đổi mới tư duy, cách làm, khắc

phục những yếu kém trong từng khâu của công tác cán bộ

Xây dựng và thực hiện nghiêm các cơ chế, chính sách phát

hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; trọng dụng

những người có đức, có tài Nâng cao chất lượng công tác

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; khắc phục tình trạng chạy theo

bằng cấp Làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán

bộ, chú ý cán bộ trẻ, nữ, dân tộc thiểu số, chuyên gia trên

các lĩnh vực; xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược

Đánh giá và sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở những tiêu

chuẩn, quy trình đã được bổ sung, hoàn thiện, lấy hiệu quả

công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước

đo chủ yếu

- Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát Các cấp uỷ, tổ chức đảng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo Điều lệ Đảng Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và hoạt động của hệ thống uỷ ban kiểm tra các cấp Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa uỷ ban kiểm tra đảng với các tổ chức đảng

và các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc xem xét khiếu nại,

tố cáo và xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên

- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Tập trung rà soát, bổ sung, điều chỉnh, ban hành mới, xây dựng đồng bộ hệ thống các quy chế, quy định, quy trình công tác

để tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị Khắc phục tình trạng Đảng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đổi mới phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ trung ương đến địa phương, cơ sở

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng xác định một số nhiệm vụ trọng tâm đối với công tác xây dựng Đảng: Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh đạo Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng

Trang 24

cường dân chủ và kỷ luật trong hoạt động của Đảng Thường

xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá

nhân, chủ nghĩa cơ hội, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và

mọi hành động chia rẽ, bè phái Đảng chăm lo xây dựng đội

ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có

sức chiến đấu cao theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh,

quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách

mạng của Đảng và dân tộc

Để tạo chuyển biến mạnh mẽ về công tác xây dựng

Đảng trong thời gian tới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư

Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã nhấn mạnh: ngoài

việc cần tiếp tục thực hiện tốt tám nhiệm vụ trong công tác

xây dựng Đảng mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI

của Đảng đã đề ra, coi đó là những nhiệm vụ vừa cơ bản,

vừa lâu dài và phải thực hiện thường xuyên, có hiệu quả,

đồng thời tập trung cao độ để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt

ba vấn đề cấp bách sau đây:

“Một là, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình

trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của

một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ

lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức

chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của

nhân dân đối với Đảng

Hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các

cấp, nhất là cấp trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp

công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Ba là, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng

đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp

ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”1

Trong ba vấn đề nêu trên, vấn đề thứ nhất được Đảng ta xác định là trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất

Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI) đã xác định rõ các giải pháp đặt ra đối với cơ quan lãnh đạo của Đảng là: Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với

hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X); bổ sung, hoàn thiện Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhiệm vụ, quyền hạn của đảng đoàn, ban cán sự đảng và cấp ủy đảng các cấp theo hướng tăng thẩm quyền, trách nhiệm, mở rộng dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, các chức danh lãnh đạo cấp cao của Đảng

và cấp ủy các cấp có chất lượng Bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện các quy chế, quy định về quy trình công tác của các cấp

ủy, tổ chức đảng, về quan hệ lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị Tiếp tục đổi mới cách ra nghị quyết, tập trung vào lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết của Đảng Điều chỉnh chức năng, nhiệm

vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn cho phù hợp với thực tế và yêu cầu, nhiệm vụ mới; sơ kết việc thành lập chi bộ cơ quan xã, phường, thị trấn; thống nhất mô hình tổ _

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tr 26

Trang 25

chức đảng ở cơ sở phù hợp với tổ chức dân cư dưới cấp xã

Tiếp tục nghiên cứu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của các

đảng ủy khối ở Trung ương, địa phương, Đảng ủy ngoài

nước; mô hình tổ chức đảng ở các tổng công ty, tập đoàn kinh

tế nhà nước

Các giải pháp đặt ra đối với các cơ quan tham mưu

giúp việc, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương là cơ

bản giữ ổn định về tổ chức Chuyển Học viện Hành chính

từ Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

về Bộ Nội vụ và tổ chức lại cho hợp lý; điều chỉnh chức

năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của Học viện Chính trị

quốc gia Hồ Chí Minh để phù hợp với vị trí, chức năng là

cơ quan trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Thực hiện

chủ trương không nhất thiết ở Trung ương có ban đảng,

đảng bộ nào thì ở địa phương cũng phải có ban đảng, đảng

bộ đó; căn cứ điều kiện cụ thể, tiêu chí và quy định khung

của Trung ương, cấp ủy địa phương có thể lập (hoặc không

lập) tổ chức sau khi được sự đồng ý của cấp ủy cấp trên có

thẩm quyền Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định về

chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế các cơ

quan tham mưu giúp việc, đơn vị sự nghiệp của cấp ủy cấp

tỉnh, cấp huyện Xem xét việc thành lập ban kinh tế ở một

số tỉnh ủy, thành ủy1

_

1 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI):

Kết luận số 64-KL/TW ngày 28-05-2013 của Hội nghị Trung ương 7

khóa XI “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị

từ Trung ương đến cơ sở”

b) Những giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước

Để có được một chính quyền mạnh mẽ, bộ máy nhà nước phải được tổ chức và vận hành một cách khoa học, dân chủ phù hợp với các yêu cầu của nền kinh tế thị trường vừa thể hiện được các giá trị chính trị, văn hoá, xã hội truyền thống của dân tộc, vừa tiên tiến và hiện đại tương thích với các yêu cầu của thế giới ngày nay Theo đó, quyền lực nhà nước phải được chế định chặt chẽ bởi luật pháp, bảo đảm vừa có sự phân công, phối hợp vừa có sự kiểm soát giữa các

cơ quan thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp

Trong cơ chế kinh tế thị trường, Nhà nước không thể ôm đồm nhiệm vụ, công việc như trước đây, mà phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của mình theo hướng phân định rành mạch quyền hạn và trách nhiệm giữa hệ thống kinh tế, Nhà nước và hệ thống xã hội Đây chính là cơ sở để tinh gọn bộ máy và nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của bộ máy nhà nước theo đúng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân

- Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân,

cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Hoàn thiện cơ chế bầu

cử đại biểu Quốc hội Nâng cao năng lực của đại biểu Quốc hội theo hướng vừa bảo đảm cơ cấu đại diện vừa bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng, có cơ chế để đại biểu gắn bó chặt chẽ

và có trách nhiệm với cử tri; tăng hợp lý số lượng đại biểu chuyên trách Cải tiến, nâng cao chất lượng hoạt động của

Trang 26

Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội Nghị quyết

Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI) nêu rõ: Trước mắt, giữ ổn

định Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội Nghiên

cứu bổ sung một số thẩm quyền cho Ủy ban Thường vụ Quốc

hội để thực hiện nhiệm vụ cơ quan thường trực giữa 2 kỳ họp

Quốc hội; bổ sung thêm thẩm quyền, trách nhiệm của Hội

đồng dân tộc, các Ủy ban, điều chỉnh số lượng lãnh đạo cho

phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của từng cơ quan Kiện toàn

bộ máy giúp việc của Văn phòng Quốc hội theo các khối

công việc bảo đảm tinh gọn, hiệu quả, gắn với hoạt động của

Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội Nghiên cứu việc

chuyển một số ban của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành

ban của Quốc hội và việc lập chức danh Tổng thư ký của

Quốc hội Từng bước tăng hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội

chuyên trách trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tính chuyên

nghiệp, nâng cao tiêu chuẩn, chất lượng đại biểu; tăng đại

biểu chuyên trách làm việc ở Hội đồng dân tộc và các Ủy ban

là các chuyên gia, am hiểu sâu các lĩnh vực chuyên môn Xây

dựng cơ chế gắn trách nhiệm của đại biểu với cử tri, trước hết

là cử tri tại nơi bầu cử Tiếp tục đổi mới quy trình và nâng

cao chất lượng xây dựng pháp luật, giám sát và quyết định

các vấn đề quan trọng của đất nước

- Hoàn thiện chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp và

pháp luật nhằm xác định rõ và cụ thể hơn quyền hạn và

trách nhiệm của Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước,

thay mặt Nhà nước về đối nội, đối ngoại, thống lĩnh các lực

lượng vũ trang; quan hệ giữa Chủ tịch nước với các cơ quan

lập pháp, hành pháp và tư pháp Nghiên cứu làm rõ quan hệ

lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với Chủ tịch nước

- Tiếp tục đổi mới hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, quản lý thống nhất, thông suốt, tinh gọn, hợp lý; nâng cao hiệu lực, hiệu quả các cơ quan nhà nước, khắc phục tình trạng buông lỏng trên một số lĩnh vực Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, chế độ công vụ, công chức Trước mắt, giữ cơ bản ổn định tổ chức của Chính phủ, tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực phù hợp với thực tiễn đất nước Phát huy vai trò, trách nhiệm của tập thể Chính phủ, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng Chính phủ và các thành viên Chính phủ Điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của các bộ, ngành tập trung vào quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, khắc phục những chồng chéo hoặc bỏ trống

về chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng quản lý; làm rõ mối quan hệ phối hợp giữa các bộ, cơ quan ngang bộ; bảo đảm nguyên tắc một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính Hoàn thiện cơ chế phân cấp theo hướng tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương, đồng thời bảo đảm sự quản lý thống nhất của Trung ương Chuyển những nhiệm vụ mà các cơ quan nhà nước không cần thiết phải thực hiện để giao cho các

tổ chức xã hội đảm nhận

Xem xét, điều chỉnh một số tổ chức không cần thiết, chưa phù hợp bên trong một số bộ, việc thành lập một số tổng cục; khắc phục những hạn chế khi tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; nghiên cứu việc thành lập tổ chức thực hiện chức

Trang 27

năng chủ sở hữu, quản lý, giám sát hoạt động của các doanh

nghiệp nhà nước

Nghiên cứu phạm vi quản lý đa ngành, đa lĩnh vực của

một số bộ, việc thành lập cơ quan quản lý chuyên ngành về

năng lượng và tài nguyên nước phù hợp với trình độ, năng

lực quản lý và đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước

Đổi mới mạnh mẽ tổ chức và cơ chế hoạt động của

các đơn vị sự nghiệp công để cung ứng tốt hơn các dịch vụ cơ

bản thiết yếu cho người dân, nhất là các đối tượng chính sách

xã hội, người nghèo Nhà nước tăng cường đầu tư cho các

đơn vị sự nghiệp công lập ở vùng sâu, vùng xa, địa bàn khó

khăn Tiếp tục đẩy mạnh giao quyền tự chủ, tự chịu trách

nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập gắn với tăng cường

chức năng quản lý của Nhà nước Đẩy mạnh xã hội hóa,

khuyến khích thành lập các tổ chức cung ứng dịch vụ công

thuộc các thành phần ngoài Nhà nước trên cơ sở các định

mức, tiêu chuẩn, các quy định của pháp luật và sự kiểm tra,

giám sát của các cơ quan nhà nước và nhân dân

- Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành

chính; giảm mạnh và bãi bỏ các loại thủ tục hành chính gây

phiền hà cho tổ chức và công dân Nâng cao năng lực, chất

lượng xây dựng và tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách

Đẩy mạnh xã hội hoá các loại dịch vụ công phù hợp với cơ

chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

- Nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân

và Uỷ ban nhân dân các cấp, bảo đảm quyền tự chủ và tự

chịu trách nhiệm trong việc quyết định và tổ chức thực hiện

những chính sách trong phạm vi được phân cấp Nghiên cứu

tổ chức, thẩm quyền của chính quyền ở nông thôn, đô thị, hải đảo Tiếp tục thực hiện thí điểm chủ trương không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, quận, phường

- Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người Tập trung cải cách hệ thống toà án, bảo đảm cho toà án thật sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử Toà án cần được tổ chức theo cấp xét xử và tích cực cải cách thủ tục tư pháp theo hướng tranh tụng, bảo đảm quyền bình đẳng thật sự giữa các bên khi tham gia các quá trình xét xử của toà án

- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới Rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy chế quản lý cán bộ, công chức; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền của mỗi cán bộ, công chức; tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm của hoạt động công vụ Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước Có chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích cán bộ, công chức hoàn thành nhiệm vụ và có cơ chế loại bỏ, bãi miễn những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân

c) Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân

- Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và của từng đoàn thể nhân dân vừa tránh được trùng chéo trong tổ chức, vận động, tập hợp quần chúng nhân

Trang 28

dân, vừa khắc phục tình trạng hành chính hóa, phát huy vai

trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân xây dựng cơ sở chính

trị của chính quyền nhân dân; thực hiện dân chủ Trong điều

kiện hiện nay, vai trò chính trị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và

của từng đoàn thể nhân dân cần được thể hiện trong các hoạt

động: tập hợp và phản ảnh trung thực tâm tư, nguyện vọng

của đoàn viên, hội viên và bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp

pháp của đoàn viên, hội viên; tham gia thực hiện tốt Quy chế

dân chủ ở cơ sở; tham gia xây dựng chủ trương, chính sách,

luật pháp của Đảng và Nhà nước; góp phần xây dựng Đảng,

Nhà nước trong sạch, vững mạnh; giám sát hoạt động của các

cơ quan nhà nước, đội ngũ cán bộ, công chức và phản biện xã

hội đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật

của Nhà nước; xây dựng lực lượng cốt cán chính trị - xã hội

quần chúng tích cực trong tổ chức, giới thiệu quần chúng tiên

tiến cho Đảng đào tạo cán bộ…

Đổi mới tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

và các đoàn thể nhân dân theo hướng đa dạng, linh hoạt sát

với tính chất, chức năng, nhu cầu hoạt động của từng loại tổ

chức, phù hợp với tính chất của một tổ chức quần chúng Do

vậy, bộ máy của các tổ chức này cần được tổ chức gọn nhẹ,

có khả năng thích ứng linh hoạt với những biến đổi của đời

sống xã hội và dân chủ

Đa dạng hoá các hình thức tập hợp quần chúng, đồng

thời củng cố, kiện toàn tổ chức và hoạt động của các tổ chức

chính trị - xã hội theo hướng thu gọn các “tổ chức cứng”, tinh

gọn biên chế chuyên trách, hướng mạnh về cơ sở, lấy cơ sở

làm địa bàn hoạt động chủ yếu, nhất là đối với vùng có đông

đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều người theo tôn giáo, khu vực kinh tế ngoài nhà nước…; xây dựng cơ sở vững mạnh, thu hẹp số lượng tổ chức yếu kém, khắc phục tình trạng ”trắng”

Tạo chủ động trong việc sử dụng kinh phí được cấp và cơ chế tự chủ tài chính cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân thông qua việc tổ chức các hoạt động kinh doanh (được ưu đãi hoặc miễn thuế) và thu hút các nguồn tài trợ, ủng hộ từ các nguồn tài chính hợp pháp trong xã hội để phục vụ mục tiêu của tổ chức

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân, nhằm phát huy tính độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức này theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XI) chỉ rõ cần tiếp tục rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội theo hướng tinh gọn,

rõ chức năng, nhiệm vụ, không chồng chéo Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý nhà nước, đổi mới cơ chế tài chính đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính

Trang 29

trị - xã hội tăng thêm tính tự chủ, chủ động hơn trong hoạt

động; không “hành chính hóa” để gần dân, sát dân hơn Thực

hiện có hiệu quả quy chế phối hợp, quy định về giám sát,

phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính

trị - xã hội, cơ chế để nhân dân tham gia góp ý xây dựng

Đảng, chính quyền Quy định chặt chẽ về tổ chức và hoạt

động của các hội theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự bảo

đảm kinh phí hoạt động và tuân thủ pháp luật Sửa đổi, bổ

sung các quy định của Nhà nước về quản lý tổ chức và hoạt

động hội phù hợp với tình hình mới

Tóm lại, tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ

thống chính trị nước ta nhằm làm cho hệ thống chính trị trở

nên mạnh hơn, hiệu quả hơn, dân chủ xã hội chủ nghĩa được

tăng cường, kỷ cương, kỷ luật và pháp chế được củng cố,

chính trị được giữ vững, kinh tế tiếp tục phát triển vì mục tiêu

xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước

mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

1 Hiểu rõ khái niệm “hệ thống chính trị” và vấn đề căn

bản nhất của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa

2 Hiểu và phân tích được nguyên lý: Nhân dân là người

sáng tạo ra lịch sử, là lực lượng quyết định quá trình cải biến

xã hội

CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

3 Bản chất hệ thống chính trị ở nước ta và nắm được: Các tổ chức hợp thành hệ thống chính trị hiện nay ở nước ta hoạt động dưới sự lãnh đạo của một Đảng như thế nào?

4 Quan điểm và các giải pháp đổi mới hệ thống chính trị

ở nước ta hiện nay

5 Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân

Trang 30

CHUYÊN ĐỀ 2

HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

I KHÁI QUÁT VỀ CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

1 Khái niệm và đặc điểm

1.1 Khái niệm

Cơ quan nhà nước là một tổ chức tương đối độc lập trong

bộ máy nhà nước do chủ thể có thẩm quyền thành lập theo

quy định của pháp luật Mỗi cơ quan nhà nước có vị trí, chức

năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức xác định nhằm

thực hiện các chức năng của Nhà nước

1.2 Đặc điểm

Thứ nhất, cơ quan nhà nước là một tổ chức tương đối

độc lập trong bộ máy nhà nước và do cơ quan có thẩm

quyền thành lập Thẩm quyền thành lập cơ quan nhà nước

được quy định cụ thể trong Luật Cơ quan nhà nước chỉ hoạt

động trong phạm vi thẩm quyền của mình và trong phạm vi

đó, nó hoạt động độc lập, chủ động và chịu trách nhiệm về

hoạt động của mình Thẩm quyền của cơ quan nhà nước phụ

thuộc vào địa vị pháp lý của nó trong bộ máy nhà nước Tuy nhiên, thẩm quyền của các cơquan nhà nước có những giới hạn về không gian (lãnh thổ), về thời gian có hiệu lực, về đối tượng chịu sự tác động Giới hạn thẩm quyền của các cơ quan nhà nước là giới hạn mang tính pháp lý vì được pháp luật quy định

Thứ hai, mỗi cơ quan nhà nước có chức năng, nhiệm vụ,

thẩm quyền xác định và có mối quan hệ với nhau tạo thành

hệ thống cơ quan nhà nước Mỗi cơ quan nhà nước đều có thẩm quyền do pháp luật quy định - đó là tổng thể những quyền và nghĩa vụ mang tính quyền lực - pháp lý mà nhà nước trao cho để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Yếu tố cơ bản của thẩm quyền là quyền ban hành những văn bản pháp luật có tính bắt buộc chung, văn bản áp dụng pháp luật phải thực hiện đối với các chủ thể có liên quan (có thể là cơ quan, tổ chức nhà nước khác, công chức, viên chức, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và công dân)

Cơ quan nhà nước có tính độc lập tương đối với các tổ chức khác trong việc thực hiện thẩm quyền mà pháp luật trao Bản thân nó cũng bao gồm các bộ phận khác nhau bảo đảm tính chuyên nghiệp trong việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ nhưng hợp thành thể thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu chung

Thứ ba, cơ quan nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước trong thực thi nhiệm vụ Đây là đặc điểm cơ bản của cơ quan

nhà nước làm cho nó khác với các tổ chức khác Các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lực được nhân dân giao cho Tính quyền lực thể hiện ở chỗ các cơ quan nhà nước đều có thẩm

Trang 31

quyền được pháp luật quy định chặt chẽ, được quyền ban

hành các quyết định pháp luật mang tính chất chung, tính quy

phạm có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với mọi cơ quan, tổ

chức khác hoặc công dân trong phạm vi lãnh thổ hoặc ngành

lĩnh vực mà nó phụ trách; cũng như được quyền ban hành các

quyết định cá biệt có hiệu lực thi hành đối với từng cơ quan,

tổ chức, người có chức vụ hoặc từng công dân cụ thể

Thứ tư, các hoạt động thực thi công vụ của cơ quan nhà

nước được đảm bảo bằng ngân sách nhà nước

2 Hệ thống các cơ quan nhà nước trong bộ máy

nhà nước

Hệ thống các cơ quan nhà nước được tổ chức và hoạt

động theo những nguyên tắc chung thống nhất tạo thành một

cơ chế đồng bộ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của

Nhà nước

Theo Hiến pháp năm 2013, nước ta có các loại cơ quan

nhà nước sau đây:

Một là, các cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội

đồng nhân dân);

Hai là, các cơ quan hành chính nhà nước gồm: Chính

phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh,

cấp huyện, cấp xã và các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban

nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện;

Ba là, các cơ quan xét xử: Toà án nhân dân tối cao, Toà

án quân sự, các Toà án nhân dân địa phương, Toà án đặc biệt

và các Toà án khác do luật định;

Bốn là, các cơ quan kiểm sát: Viện kiểm sát nhân dân

tối cao, Viện kiểm sát quân sự, Viện kiểm sát nhân dân địa phương

Chủ tịch nước là một thiết chế nhà nước, thể hiện sự thống nhất của quyền lực, thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, nên tồn tại tương đối độc lập với các cơ quan nhà nước khác

Tất cả các cơ quan nhà nước tạo thành bộ máy nhà nước Tuy nhiên, bộ máy nhà nước không phải là một tập hợp đơn giản các cơ quan nhà nước mà là một thể thống nhất, các cơ quan có mối liên hệ qua lại với nhau và vận hành theo một cơ chế đồng bộ

Từ giác độ hệ thống cho thấy, mỗi cơ quan nhà nước là một khâu (mắt xích) không thể thiếu của bộ máy nhà nước Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước tuỳ thuộc vào hiệu lực, hiệu quả hoạt động của từng cơ quan nhà nước

3 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Về nguyên tắc, quyền lực nhà nước bao gồm ba nhóm yếu tố cấu thành là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Tuy nhiên, mối quan hệ giữa các tổ chức trong việc thực thi ba nhóm quyền lực này không giống nhau giữa các nước tùy thuộc vào thể chế chính trị, hình thức chính thể mà có thể ra đời các mô hình phân chia quyền lực nhà nước theo: cứng nhắc, mềm dẻo hay thống nhất tập trung Trên phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn, nguyên tắc chi phối mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước dựa trên việc phân bổ quyền lực nhà

Trang 32

nước theo các hướng khác nhau: thứ nhất quyền lực nhà

nước được phân chia thành ba nhóm quyền (lập pháp, hành

pháp, tư pháp), giao cho ba cơ quan nhà nước khác nhau độc

lập nắm giữ, thứ hai quyền lực nhà nước là thống nhất,

không phân chia

Bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ

chức theo nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất,

nhưng có sự phân công chức năng, phân định thẩm quyền

rành mạch và có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước

trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”

Đồng thời trong bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng tạo

ra một cơ chế kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan

nhà nước nhằm bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý

nhà nước

II CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

1 Quốc hội

Vị trí của Quốc hội trong bộ máy nhà nước được ghi

nhận trong Hiến pháp Điều 69 Hiến pháp năm 2013 ghi

nhận: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân,

cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã

hội chủ nghĩa Việt Nam”

Là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, Quốc hội

do cử tri cả nước trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổ

thông bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Quốc hội có

nhiệm kỳ là 5 năm

Là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốc hội có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây1:

- Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật;

- Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước và cơ quan khác

dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước;

- Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;

- Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;

_

1 Điều 70 Hiến pháp năm 2013

Trang 33

- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ

tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy

viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân

tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ,

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm

sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia,

Tổng Kiểm toán Nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do

Quốc hội thành lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn

nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và

thành viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân

tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng quốc

phòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia

Sau khi được bầu, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ

tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải

tuyên thệ trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp;

- Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc

hội bầu hoặc phê chuẩn;

- Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của

Chính phủ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới

hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị

hành chính - kinh tế đặc biệt; thành lập, bãi bỏ cơ quan khác

theo quy định của Hiến pháp và luật;

- Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ

Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân

tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp,

luật, nghị quyết của Quốc hội;

- Quyết định đại xá;

- Quy định hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân

dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;

- Quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;

- Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội;

- Quyết định trưng cầu ý dân

Vị trí của Quốc hội thể hiện thông qua mối quan hệ giữa Quốc hội với các cơ quan khác của Nhà nước: Chủ tịch nước,

Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao Quan hệ đó thể hiện qua một số quyền hạn của Quốc hội: xem xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; quy định tổ chức và hoạt động của Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà

án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương; bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà

án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội

Trang 34

Quốc hội hoạt động thông qua hình thức: kỳ họp của

Quốc hội, hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội

đồng dân tộc, các uỷ ban của Quốc hội, các đoàn đại biểu

Quốc hội và các đại biểu Quốc hội

Để bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao

nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất

cần phải nâng cao chất lượng các hình thức hoạt động của

Quốc hội Trước hết là: “Đổi mới, nâng cao chất lượng công

tác lập pháp Ban hành các đạo luật cần thiết để điều chỉnh

các lĩnh vực của đời sống xã hội Ưu tiên xây dựng các luật

về kinh tế, về các quyền công dân và các luật điều chỉnh

công cuộc cải cách bộ máy nhà nước, các luật điều chỉnh

các hoạt động văn hoá, thông tin Nâng cao chất lượng,

hiệu lực và hiệu quả hoạt động của Quốc hội các Uỷ ban

của Quốc hội ; phân định rõ tính chất, chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn khác nhau giữa hoạt động giám sát của Quốc

hội với hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm sát của các cơ

quan và tổ chức khác”.1

Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của

Quốc hội do Quốc hội bầu ra và chịu trách nhiệm trước

Quốc hội Uỷ ban thường vụ Quốc hội gồm có: Chủ tịch

Quốc hội; các Phó Chủ tịch Quốc hội và các uỷ viên do Chủ

tịch Quốc hội làm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Quốc hội làm

các Phó Chủ tịch Thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội

không thể đồng thời là thành viên Chính phủ và làm việc

_

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc

lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.130

theo chế độ chuyên trách Trong cơ cấu tổ chức của Quốc hội còn có Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội: số lượng uỷ ban của Quốc hội là 9; tách Uỷ ban Pháp luật thành Uỷ ban Pháp luật và Uỷ ban Tư pháp; tách Uỷ ban Kinh tế - Ngân sách thành Uỷ ban Kinh tế và Uỷ ban Ngân sách; Uỷ ban Pháp luật, Uỷ ban Tư pháp, Uỷ ban Kinh tế,

Uỷ ban Ngân sách, Uỷ ban Quốc phòng và An ninh; Uỷ ban Văn hoá, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; Uỷ ban về các vấn đề xã hội; Uỷ ban Khoa học, công nghệ và môi trường; Uỷ ban Đối ngoại

Ủy ban Thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây1:

- Tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì kỳ họp Quốc hội;

- Ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao; giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;

- Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước và

cơ quan khác do Quốc hội thành lập;

- Đình chỉ việc thi hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất; bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ _

1 Điều 74 Hiến pháp năm 2013

Trang 35

tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát

nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội;

- Chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của Hội đồng

dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; hướng dẫn và bảo đảm

điều kiện hoạt động của đại biểu Quốc hội;

- Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch

nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy

ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ

nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc

gia, Tổng Kiểm toán Nhà nước;

- Giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân

dân; bãi bỏ nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành

phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và văn

bản của cơ quan nhà nước cấp trên; giải tán Hội đồng nhân

dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong trường hợp

Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích

của Nhân dân;

- Quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh

địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc

trung ương;

- Quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh trong

trường hợp Quốc hội không thể họp được và báo cáo Quốc

hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;

- Quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ;

ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở

từng địa phương;

- Thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội;

- Phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

- Tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội Như vậy, so với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm

2013 đã sửa đổi, bổ sung một số quy định sau đây về Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội để phù hợp với chức năng của cơ quan thực hiện quyền lập pháp và mối quan hệ giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, cụ thể như sau:

- Quy định rõ, khả thi và phù hợp hơn trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa quyền quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước được chuyển thành quyền quyết định mục tiêu, chỉ tiêu

và nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội (khoản 3 Điều 70) để xác định rõ hơn vai trò, trách nhiệm và mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ;

- Bổ sung thẩm quyền của Quốc hội trong việc phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phù hợp với yêu cầu đổi mới mô hình Tòa án nhân dân nhằm làm rõ hơn vai trò của Quốc hội trong mối quan hệ với cơ quan thực hiện quyền tư pháp, đồng thời nâng cao vị thế của Thẩm phán theo tinh thần cải cách tư pháp (khoản 7 Điều 70);

- Giao thẩm quyền điều chỉnh địa giới hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho Ủy ban thường vụ Quốc hội theo đề nghị của Chính phủ; làm rõ hơn thẩm quyền

Trang 36

của Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của

Quốc hội (Điều 74);

- Kế thừa các quy định của Hiến pháp năm 1959, Hiến

pháp năm 1980, Hiến pháp quy định Ủy ban thường vụ Quốc

hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm đại sứ đặc

mệnh toàn quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

(Điều 74)

2 Chủ tịch nước

Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại

Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội

Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc

hội Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội

Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm

vụ cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu ra Chủ tịch nước

Theo Điều 88 Hiến pháp năm 2013, Chủ tịch nước có

những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

- Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh; đề nghị Ủy ban

Thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn

mười ngày, kể từ ngày pháp lệnh được thông qua; nếu pháp

lệnh đó vẫn được Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết tán

thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước

trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;

- Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ

tịch nước, Thủ tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của

Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng,

Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ;

- Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh

án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội công bố quyết định đại xá;

- Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam;

- Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh, quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thể họp được công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;

- Tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bổ

Trang 37

nhiệm, miễn nhiệm; quyết định cử, triệu hồi đại sứ đặc

mệnh toàn quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

phong hàm, cấp đại sứ; quyết định đàm phán, ký điều ước

quốc tế nhân danh Nhà nước; trình Quốc hội phê chuẩn,

quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc

tế quy định tại khoản 14 Điều 70; quyết định phê chuẩn, gia

nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân

danh Nhà nước

Phó Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu

Quốc hội Phó Chủ tịch nước giúp Chủ tịch nước làm nhiệm

vụ và có thể được Chủ tịch nước uỷ nhiệm thay Chủ tịch

nước làm một số nhiệm vụ Khi Chủ tịch nước không làm

được việc trong thời gian dài, thì Phó Chủ tịch nước quyền

Chủ tịch nước Trong trường hợp khuyết Chủ tịch nước, thì

Phó Chủ tịch nước quyền Chủ tịch nước cho đến khi Quốc

hội bầu Chủ tịch nước mới

Như vậy, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định Chủ

tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng

hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại, thống

lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng

quốc phòng và an ninh Hiến pháp đã làm rõ thẩm quyền của

Chủ tịch nước trong từng lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư

pháp và quy định mối quan hệ giữa Chủ tịch nước với Quốc

hội, Chính phủ, cơ quan tư pháp Đồng thời, đã làm rõ hơn

vai trò thống lĩnh lực lượng vũ trang của Chủ tịch nước trong

việc quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp

tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm,

miễn nhiệm, cách chức Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm

Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam…; cùng với

đó là bổ sung quy định thẩm quyền của Hội đồng quốc phòng

và an ninh do Chủ tịch nước làm Chủ tịch quyết định việc lực lượng vũ trang nước ta tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới

3 Chính phủ

Theo Điều 94 Hiến pháp năm 2013, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước

Với vị trí như vậy, Chính phủ có hai tư cách: là cơ quan chấp hành của Quốc hội, Chính phủ phải chấp hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật đó; là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ có toàn quyền giải quyết các vấn đề quản lý nhà nước trên phạm vi toàn quốc, trừ những vấn đề thuộc quyền giải quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước

Với vị trí cơ quan hành chính nhà nước cao nhất “Thống nhất quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và

Trang 38

các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính

mạng, tài sản của nhân dân”1, Chính phủ chỉ đạo tập trung,

thống nhất các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính

phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp

Chính phủ được lập ra trong kỳ họp thứ nhất của mỗi

khoá Quốc hội Trong kỳ họp này, Quốc hội bầu Thủ tướng

Chính phủ từ số đại biểu Quốc hội theo đề nghị của Chủ tịch

nước và phê chuẩn theo đề nghị của Thủ tướng danh sách

các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các thành viên khác

của Chính phủ Phương thức thiết lập Chính phủ như vậy

nhằm xác định rõ vai trò trách nhiệm của tập thể Chính phủ

trước Quốc hội, đồng thời xác định rõ vai trò, trách nhiệm

cá nhân của Thủ tướng trước Quốc hội và trách nhiệm của

các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các thành viên khác

của Chính phủ trước Thủ tướng, vai trò, trách nhiệm của Bộ

trưởng và các thành viên Chính phủ về ngành, lĩnh vực do

mình phụ trách

Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo

công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ

tịch nước

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác

của Chính phủ chịu sự giám sát của Quốc hội, Uỷ ban thường

vụ Quốc hội trực tiếp hoặc thông qua sự giám sát của Hội

đồng Dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội Trong các kỳ họp

của Quốc hội, Thủ tướng và các thành viên của Chính phủ

Như vậy, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1992 về vị trí, chức năng, cơ cấu tổ chức

và nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ và khẳng định Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp và là cơ quan chấp hành của Quốc hội, làm

rõ hơn trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ

4 Chính quyền địa phương

Điều 111 Hiến pháp 2013 quy định chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định

4.1 Hội đồng nhân dân

Điều 113 Hiến pháp 2013 quy định: Hội đồng nhân dân là

cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân địa phương, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát

Trang 39

việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc

thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân

Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí,

nguyện vọng của Nhân dân ở địa phương; liên hệ chặt chẽ

với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri, thực hiện chế độ tiếp

xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội

đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri;

xem xét, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo Đại biểu

Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ vận động nhân dân thực hiện

Hiến pháp và pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết

của Hội đồng nhân dân, động viên Nhân dân tham gia quản lý

nhà nước

Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch

Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân,

Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân

dân và Thủ trưởng các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân

Người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân Đại

biểu Hội đồng nhân dân có quyền kiến nghị với các cơ quan

nhà nước, tổ chức, đơn vị ở địa phương Người đứng đầu cơ

quan, tổ chức, đơn vị này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem

xét, giải quyết kiến nghị của đại biểu

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cấp

mình và xuất phát từ lợi ích chung của đất nước, của nhân

dân địa phương, Hội đồng nhân dân dân quyết định những

chủ trương, biện pháp để xây dựng và phát triển địa phương

về mọi mặt: kinh tế, văn hoá - xã hội, y tế, giáo dục , làm

tròn nghĩa vụ của địa phương với cả nước

Để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và các văn bản của cấp trên, Hội đồng nhân dân ban hành các nghị quyết và giám sát việc thực hiện các nghị quyết đó Khi thực hiện chức năng giám sát, Hội đồng nhân dân có quyền bãi bỏ những nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp, những quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp

Các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân được thực hiện thông qua các hình thức: kỳ họp của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân, qua hoạt động của từng đại biểu Hội đồng nhân dân Kỳ họp của Hội đồng nhân dân là hình thức hoạt động cơ bản nhất của Hội đồng nhân dân Trên kỳ họp, Hội đồng nhân dân thảo luận và ra nghị quyết về các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân Nghị quyết của Hội đồng nhân dân phải được quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành, trừ trường hợp bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân

Thường trực Hội đồng nhân dân là thiết chế bảo đảm các hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp, chịu giám sát và hướng dẫn của Hội đồng nhân dân cấp trên, của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội

Thường trực Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau:

Trang 40

- Triệu tập và chủ tọa kỳ họp của Hội đồng nhân dân;

phối hợp với Uỷ ban nhân dân chuẩn bị kỳ họp của Hội đồng

nhân dân

- Đôn đốc, kiểm tra Uỷ ban nhân dân cùng các cơ quan

nhà nước khác ở địa phương

- Điều hoà, phối hợp hoạt động của các ban của Hội

đồng nhân dân, giữ mối quan hệ với các đại biểu Hội đồng

nhân dân

- Tiếp dân, đôn đốc kiểm tra và xem xét tình hình giải

quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân

- Phối hợp với Uỷ ban nhân dân quyết định việc đưa ra

Hội đồng nhân dân hoặc đưa ra cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội

đồng nhân dân

- Báo cáo hoạt động của Hội đồng nhân dân cùng cấp lên

Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp

- Giữ liên hệ và phối hợp công tác với Uỷ ban Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam cùng cấp

Hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân được bảo

đảm bằng các kỳ họp của Hội đồng nhân dân, hiệu quả hoạt

động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân,

các ban của Hội đồng nhân dân và của các đại biểu Hội đồng

nhân dân

b) Vấn đề thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân

huyện, quận, phường

Nghị quyết số 17/NQ-TW ngày 01-8-2007 của Hội nghị

lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đẩy

mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực, hiệu quả của

bộ máy nhà nước đã đề ra chủ trương thí điểm: đối với

chính quyền nông thôn không tổ chức Hội đồng nhân dân cấp huyện; đối với chính quyền đô thị không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, phường Trên cơ sở Nghị quyết số 17/NQ-TW, ngày 15-11-2008, Quốc hội khoá XII đã ban hành Nghị quyết số 26/2008/QH12 về thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường Tiếp đó ngày 23-02-2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 241/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội Bộ Nội vụ đã tham mưu giúp Chính phủ trình Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 31-CT/TW ngày 12-3-2009 để lãnh đạo thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tại 69 huyện, 32 quận và 483 phường thuộc 3 thành phố: Hải Phòng, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, cùng

7 tỉnh: Lào Cai, Vĩnh Phúc, Nam Định, Quảng Trị, Phú Yên,

Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang

Mục tiêu của việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường nhằm tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước; qua thí điểm đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành để tiếp tục tổ chức hợp lý chính quyền địa phương đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

Việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng; sự thống nhất, đồng bộ giữa cải cách tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương với cải cách tổ chức và hoạt động của các

Ngày đăng: 16/07/2017, 21:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa IX): Nghị quyết về hội nhập kinh tế quốc tế, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về hội nhập kinh tế quốc tế
5. Bộ Nội vụ: Hướng dẫn ôn tập môn hành chính (Tài liệu tham khảo phục vụ kỳ thi nâng ngạch chuyên viên lên chuyên viên chính năm 2009), Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn ôn tập môn hành chính (Tài liệu tham khảo phục vụ kỳ thi nâng ngạch chuyên viên lên chuyên viên chính năm 2009)
Tác giả: Bộ Nội vụ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
6. Các tài liệu, giáo trình về quản lý hành chính nhà nước, văn bản quản lý nhà nước và kỹ thuật soạn thảo văn bảnquản lý nhà nước do Học viện Hành chính biên soạn và xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tài liệu, giáo trình về quản lý hành chính nhà nước, văn bản quản lý nhà nước và kỹ thuật soạn thảo văn bản quản lý nhà nước
Tác giả: Học viện Hành chính
Nhà XB: Học viện Hành chính
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: Nxb. Sự thật
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1991
10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Nhà XB: Nxb. Sự thật
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII
Nhà XB: Nxb. Sự thật
12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
13. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
15. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
2. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa IX): Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02-6- 2005 về một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách tư pháp trong thời gian tới Khác
3. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa X): Chỉ thị số 31-CT/TW ngày 12-3- 2009 về lãnh đạo thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường Khác
4. Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa X): Nghị quyết 48/NQ-TW về ban hành Chiến lược xây dựng, phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2010, định hướng đến 2020 Khác
7. Chính phủ: Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 Khác
14. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước Khác
16. Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 17/NQ-TW ngày 01-8-2007 của Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm