DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ASAI : Mức độ sẵn sàng cung cấp điện trong tháng Average Service Availability Index; ASUI : Mức độ không sẵn sàng cung cấp điện Average Service Una
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ HỘI
*************************
NGUYỄN MINH TƯỞNG
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH
LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI CỦA CÔNG TY ĐIỆN LỰC
ỨNG HÒA ĐẾN NĂM 2015
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THỊ BÍCH NGỌC
Hà Nội - 2010
Trang 2Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, được tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu tham khảo và qua liên hệ thực
tế, tổng hợp số liệu từ Công ty nơi tôi làm việc, không sao chép của bất kỳ luận văn nào trước đó
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Minh Tưởng
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 6
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI 10
I.1 Khái niệm về lưới điện 12
I.2 Phân loại lưới điện 12
I.3 Các yêu cầu về công tác quản lý vận hành lưới điện 12
I.4 Một số phương hướng hoàn thiện công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối 17
I.5 Tóm tắt chương I 19
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI ĐIỆN TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC ỨNG HOÀ 20
II.1 Giới thiệu về Công ty điện lực Ứng Hòa 21
II.2 Giới thiệu về thực trạng của lưới điện phân phối tại Ứng Hòa 21
II.3 Phân tích thực trạng đội ngũ quản lý vận hành lưới điện 21
II.4 Phân tích thực trạng công tác lập kế hoạch cho quản lý vận hành lưới điện 21
II.5 Phân tích thực trạng công tác tổ chức vận hành lưới điện 21
II.6 Phân tích thực trạng công tác kiểm soát lưới điện 21
II.7 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý vận hành lưới điện 21
II.8 Tổng kết các tồn tại và nguyên nhân trong quản lý vận hành lưới điện 21 II.9 Tóm tắt chương II 21
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI CỦA CÔNG
Trang 4III.1 Những định hướng phát triển của Công ty điện lực Ứng Hòa 21
III.2 Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối của Công ty điện lực Ứng Hòa đến năm 2015 21
III.3 Tóm tắt chương III 21
KẾT LUẬN 21
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
TÓM TẮT LUẬN VĂN 21
THESIS SUMMARY 21
PHỤ LỤC 21
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ASAI : Mức độ sẵn sàng cung cấp điện trong tháng (Average Service
Availability Index);
ASUI : Mức độ không sẵn sàng cung cấp điện (Average Service
Unavailability Index);
AENS : Điện năng trung bình không cung cấp đến một khách hàng
(Average Energy Not Supplied);
ACCI : Điện năng trung bình không cung cấp đến một khách hàng bị
ảnh hưởng mất điện (Average Customer Curtailment Index); CAIFI : Số lần mất điện trung bình của khách hàng (Customer Average
Interruption Frequency Index);
CAIDI : Thời gian mất điện trung bình của khách hàng (Customer
Average Interruption Duration Index);
CMIS : Hệ thống thông tin quản lý khách hàng (Customer Management
Information System);
CBCNV : Cán bộ công nhân viên;
CSDL : Cơ sở dữ liệu;
ĐTXD : Đầu tư xây dựng;
ENS : Tổng điện năng không cung cấp (Energy Not Supplied);
EVN : Tập đoàn Điện lực Việt Nam;
GIS : Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System); KĐTM : Khu đô thị mới;
Trang 6QLĐK : Quản lý điện kế;
QLVH : Quản lý vận hành;
SCL : Sửa chữa lớn;
SAIFI : Số lần gián đoạn cung cấp điện trung bình của lưới điện
(System Average Interruption Frequency Index);
SAIDI : Thời gian gián đoạn cung cấp điện trung bình của lưới điện
(System Average Interruption Duration Index);
TBA : Trạm biến áp;
TSCĐ : Tài sản cố định;
TP.HN : Thành phố Hà Nội;
VHLĐ : Vận hành lưới điện;
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp các khối lượng lưới điện do Công ty điện lực Ứng
Bảng 2.2: Tổng kết, so sánh việc thực hiện công tác ĐTXD năm 2009
Bảng 2.6: Bảng tổng hợp sự cố lưới điện của Công ty Điện lực Ứng
Hòa đến trong năm 2009 và 2010……… …… 43 Bảng 2.7: Bảng kê so sánh các nguyên nhân gây sự cố lưới điện của
Bảng 2.8: Bảng thống kê một số vụ sự cố lưới điện điển hình của Công
Bảng 2.9: Bảng thống kê kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh của
Công ty Điện lực Ứng Hòa năm 2010……… 50
Bảng 2.10: Hạn mức giao vốn đầu tư xây dựng, sửa chữa lớn……… 59
Bảng 3.1: Dự kiến xây dựng mới các TBA giai đoạn 2010-2015 tại
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1: Chỉ số độ tin cậy SAIDI lưới điện phân phân phối một số
Hình 2.2: Chỉ số độ tin cậy SAIDI lưới điện phân phân phối một số
thành phố trên thế giới năm 2004……… 40 Hình 2.3: Chỉ số độ tin cậy SAIFI lưới điện phân phân phối một số
nước trên thế giới năm 2004……… 41 Hình 2.4: Chỉ số độ tin cậy SAIFI lưới điện phân phân phối một số
thành phố trên thế giới năm 2004……… 42 Hình 2.5: Sơ đồ hình cây về các nguyên nhân tác động đến chất lượng
Trang 9MỞ ĐẦU
A TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngành điện là một ngành kinh tế kỹ thuật mũi nhọn, có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tập trung đầu tư, chỉ đạo một cách toàn diện đối với hoạt động của ngành điện Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của mình, ngành điện đã luôn cố gắng hoàn thành một cách có hiệu quả nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội đã được Đảng và Nhà nước giao phó, đóng góp xứng đáng vào công cuộc đấu tranh bảo vệ và giải phóng đất nước trước đây cũng như công cuộc đổi mới xây dựng đất nước, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngày nay
Từ khi chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, ngành điện nói chung và Chi nhánh điện Ứng Hòa (nay là Công ty Điện lực Ứng Hòa) nói riêng đã phải cố gắng rất nhiều để thích nghi và tồn tại trong điều kiện mới
Khi Việt Nam hội nhập với thế giới, yêu cầu đổi mới ngành điện, thay đổi cơ chế vận hành thị trường điện năng càng trở nên cấp bách Thị trường phát điện cạnh trạnh đã dần được hình thành, cơ chế bao cấp cho ngành điện
từ từ bị loại bỏ Vị thế độc quyền của các Công ty điện lực dần được xóa bỏ, môi trường kinh doanh càng ngày càng khó khăn, nguy cơ phải cạnh tranh với đối thủ trên thương trường đã hiện hữu
Là một cán bộ đã gần năm năm công tác trong ngành điện, tôi ý thức được rằng đã đến lúc phải thay đổi cơ chế hoạt động cho phù hợp với điều kiện mới, phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế thế giới, đáp ứng đầy đủ hơn nữa nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng và thị trường Vì vậy tôi
chọn đề tài: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối của Công ty Điện lực Ứng Hòa đến
năm 2015”
Trang 10B MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Hệ thống hoá các cơ sở lý luận về quản lý vận hành lưới phân phối điện
về phương diện lý luận và trên cơ sở đó phân tích thực trạng chất lượng quản
lý vận hành lưới phân phối của Công ty Điện lực Ứng Hòa và đề xuất một giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vận hành lưới phân phối của Công ty Điện lực Ứng Hòa đến năm 2015
C ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Đối tượng nghiên cứu là chất lượng điện năng và chất lượng quản lý vận hành lưới điện của Công ty Điện lực Ứng Hòa
Phạm vi nghiên cứu là thực trạng công tác quản lý vận hành lưới điện của Công ty Điện lực Ứng Hòa từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 8 năm 2010
D PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Các phương pháp được sử dụng trong đề tài: Phân tích chất lượng dựa trên cơ sở những lý thuyết về quản trị chất lượng, phân tích trên các số liệu thống kê, so sánh với các tiêu chuẩn kỹ thuật của ngành điện, phân tích hệ thống để tìm nguyên nhân khách quan, chủ quan của các vấn đề về chất lượng…
Phân tích thực trạng chất lượng quản lý vận hành lưới điện Huyện Ứng Hòa - Thành phố Hà Nội
Đề xuất một số giải pháp về hoàn thiện lưới điện, hệ thống thông tin quản lý, đảm bảo nguồn nhân lực, giảm tổn thất điện năng và nâng cao sự hài lòng của khách hàng tại Công ty Điện lực Ứng Hòa đến năm 2015
Trang 11F KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Tên đề tài : “Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối của Công ty Điện lực Ứng Hòa
đến năm 2015”
Bố cục: Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về quản lý vận hành lưới điện phân phối Chương II: Phân tích thực trạng công tác quản lý vận hành lưới điện
tại Công ty Điện lực Ứng Hòa
Chương III: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vận
hành lưới điện phân phối của Công ty Điện lực Ứng Hòa đến năm 2015
Trang 12CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI ĐIỆN
PHÂN PHỐI
Trang 13Ngày nay mọi tổ chức năng động có qui mô lớn hay nhỏ, hoạt động mang tính địa phương hay toàn cầu đều đối mặt với những thách thức phải sản xuất ra những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu các đối tượng tiêu dùng của mình Nhu cầu của khách hàng đối với những sản phẩm và dịch vụ tốt có thể là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến những dự đoán trong tương lai Chất lượng được xác định bằng việc một sản phẩm hay dịch vụ được tạo ra hay cung cấp phải tạo được sự tin cậy và gần gũi với khách hàng
Một trong những phổ biến của nền kinh tế thị trường là “cạnh tranh”
Có nhiều loại vũ khí cạnh tranh: chất lượng, giá cả, thời hạn giao hàng, các dịch vụ bán hàng và sau bán hàng, các hoạt động xúc tiến bán hàng… Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng môi trường kinh doanh mà doanh nghiệp vận dụng các loại vũ khí trên ở mức độ khác nhau
Đứng trên quan điểm của khách hàng, các yếu tố tác động đến quyết định của khách hàng trong việc mua một sản phẩm hay dịch vụ chính là chất lượng sản phẩm, giá cả và thời gian giao hàng Ở bất kỳ đối tượng khách hàng nào, chất lượng đều là mối quan tâm hàng đầu ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng của họ Trước đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng khi mà thị trường người tiêu dùng thay thế cho thị trường người sản xuất trước kia, các doanh nghiệp đang gặp một bài toán khó, vừa làm sao sản xuất ra những mặt hàng
có chất lượng cao, giá thành rẻ để đảm bảo lợi nhuận, đồng thời luôn sẵn có với giá cả cạnh tranh, bên cạnh đó phải đáp ứng yêu cầu luật pháp
Vì thế để tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải đảm bảo được niềm tin cho khách hàng về chất lượng sản phẩm và dịch vụ của mình thông qua một môi trường sản xuất mà trong đó, từng cá nhân ở mọi cấp độ đều tham gia và có ý thức về chất lượng
Trang 14I.1 Khái niệm về lưới điện
Khái niệm về lưới điện: Là hệ thống đường dây tải điện, máy biến áp
và trang thiết bị phụ trợ để truyền dẫn điện
I.2 Phân loại lưới điện
Lưới điện, theo mục đích sử dụng và quản lý vận hành, được phân biệt thành lưới điện truyền tải và lưới điện phân phối
Lưới điện truyền tải là lưới điện dùng để đưa năng lượng điện từ nơi sản xuất điện đến lưới điện phân phối
Lưới điện phân phối là lưới điện dùng để chuyển năng lượng điện từ lưới truyền tải đến tổ chức, cá nhân sử dụng điện
I.3 Các yêu cầu về công tác quản lý vận hành lưới điện
Đối với khách hàng sử dụng điện
Đó là chất lượng điện năng được cung cấp, đảm bảo thiết bị sử dụng điện đạt hiệu năng cao
Đối với ngành điện (Điện lực - nhà cung ứng)
Việc đánh giá chất lượng quản lý vận hành lưới điện phân phối thông
qua xác định chất lượng điện năng, với một số yêu cầu chính như sau:
Tần số hệ thống điện: dao động trong phạm vi ±0,2Hz so với tần số danh định 50Hz Trong trường hợp hệ thống điện chưa ổn định cho phép làm việc với độ lệch tần số ±0,5Hz (Theo Luật điện lực 2005)
Điều chỉnh tần số hệ thống điện quốc gia được chia làm 3 cấp:
Điều chỉnh tần số cấp 1 ở các tổ máy phát điện được quy định trước sao cho hệ thống ổn định ở tần số (50±0,2)Hz
Điều chỉnh tần số cấp 2 ở các tổ máy phát điện được quy định trước sao cho hệ thống trong giới hạn (50±0,5)Hz
Điều chỉnh tần số cấp 3 điều chỉnh bằng sự can thiệp của kỹ sư điều hành hệ thống điện
Khi có sự thay đổi về tần số thì có thể gây ra một số hậu quả xấu vì:
Trang 15Các thiết bị được thiết kế và tối ưu ở tần số định mức Biến đổi tần số dẫn đến giảm năng suất làm việc của thiết bị
Làm giảm hiệu suất của thiết bị
Ảnh hưởng đến chất lượng của quá trình sản xuất
Độ lệch điện áp: dao động trong khoảng ±5% so với điện áp danh định (Qui phạm trang bị điện tập 1 – mục I.2.39, Bộ Công nghiệp) Trong trường hợp lưới điện chưa ổn định, điện áp được dao động từ +5%÷-10% (Theo Luật điện lực 2005)
Các thiết bị điện trên lưới điện cũng như các thiết bị dùng điện của khách hàng đều được thiết kế để vận hành trong một dải điện áp nhất định Điện áp thấp các phụ tải khách hàng vận hành đều kém chất lượng, gây tổn thất lớn, thiết bị phát nhiệt, già cỗi cách điện và máy móc không chạy được hết công suất, ảnh hưởng đến năng suất tạo ra sản phẩm của khách hàng và các yếu tố xã hội khác Điện áp cao quá gây phá hoại cách điện, giảm tuổi thọ thiết bị của khách hàng
Các số liệu báo cáo của Tổng Công ty điện lực Hà nội năm 2008 như
409 vụ/366.37 giờ sự cố, 1094 vụ/859.34 giờ cắt điện đột xuất, chưa thể hiện được mức độ, phạm vi mất điện, trình độ quản lý lưới điện
Các Công ty điện lực trên thế giới thường xây dựng một số chỉ số định lượng cụ thể để đánh giá Các thông số báo cáo như bình quân khách hàng khu vực sinh hoạt bị mất điện 3 vụ/năm, 120 phút/năm, sẽ cụ thể, dễ hiểu,
dễ đánh giá hơn
Mỗi đơn vị (Công ty Điện lực hoặc Hiệp hội điện lực) tự xây dựng các chỉ tiêu để đánh giá Các tổ chức điện lực uy tín như IEEE, EEI (Edison
Trang 16Electric Institue), EPRI (Electric Power Reasearch Institute) và CEA (Canadian Electric Association) xây dựng được nhiều chỉ số được nhiều đơn
vị áp dụng Trong đó, hệ thống chỉ số của IEEE (The Institute of Electrical and Electronics Engineers nghĩa là "Viện của các Kỹ Sư Điện và Điện Tử") là phổ biến nhất Đây là thước đo chính về chất lượng điện năng cung cấp cho khách hàng và doanh nghiệp quản lý vận hành lưới điện
SAIFI (System Average Interruption Frequency Index): Số lần gián đoạn cung cấp điện trung bình của lưới điện;
) lân ( N
N
= huu hiên hàng khách Sô
điêi mât hàng khách Sô
=
‡”
N : tổng số công tơ điện khách hàng hiện hữu
Ni : số công tơ điện khách hàng mất điện trong lần mất điện thứ i
SAIDI (System Average Interruption Duration Index): Thời gian gián đoạn cung cấp điện trung bình của lưới điện;
) phut ( N
N U
= huu hien hang khach So
dien mat hang khach gian thoi
=
‡”
Ui: thời gian mất điện (phút) của khách hàng trong lần mất điện thứ i
CAIFI (Customer Average Interruption Frequency Index): Số lần mất điện trung bình của khách hàng;
) lan ( N
N
= huong anh bi hàng khách Sô
điêi mât hàng khách Sô
=
‡” ‡”
N* : số công tơ điện khách hàng bị ảnh hưởng mất điện do sự cố
CAIDI (Customer Average Interruption Duration Index): Thời gian mất điện trung bình của khách hàng;
) phut ( N
N U
= SAIFI
SAIDI
= CAIDI
‡”
‡”
i i i
Trang 17ASAI (Average Service Availability Index): Mức độ sẵn sàng cung cấp điện trong tháng;
) 1
<
SAI A ( t
× N
N U t
× N
=
ASAI
t: số giờ cung cấp điện trong tháng
ASUI (Average Service Unavailability Index): Mức độ không sẵn sàng cung cấp điện;
SAI A 1
=
ASUI
ENS (Energy Not Supplied): Tổng điện năng không cung cấp;
) kWh ( U L
=
ENS ‡” i i
Li : công suất không phân phối đến khách hàng trong lần mất điện thứ i
Ui : thời gian mất điện (phút) của khách hàng trong lần mất điện thứ i
AENS (Average Energy Not Supplied): Điện năng trung bình không cung cấp đến một khách hàng;
) kWh ( N
ENS
= N
U L
= AENS ‡” i i
ACCI (Average Customer Curtailment Index): Điện năng trung bình không cung cấp đến một khách hàng bị ảnh hưởng mất điện
) kWh ( N
Các chỉ tiêu phản ảnh chất lượng quản lý vận hành lưới điện:
- Sự cố lưới điện, trạm điện
Trang 18- Tổn thất điện năng (*)
- Chi phí bảo trì, sửa chữa
- Giá bán điện bình quân
- Doanh thu bán điện
- Mức độ thực hiện các mục tiêu kế hoạch về quản lý vận hành lưới điện
(*) Khái niệm về tổn thất điện năng
Tổn thất điện năng trong hệ thống điện: Là sự mất mát xảy ra trong quá trình chuyển giao điện năng từ nhà máy đến hộ tiêu thụ gồm: nhà máy, đường dây truyền tải, trạm biến áp, hệ thống phân phối và hộ tiêu thụ Gồm có các loại tổn thất sau:
- Tổn thất truyền tải (transmission losses): là lượng điện năng tiêu hao
do các đặc tính điện của đường dây như tổn thất do điện trở dây, do vầng quang, do dòng điện rò qua sứ…
- Tổn thất trạm biến áp (Substation losses): là lượng điện năng tiêu hao qua việc chuyển cấp điện áp lên hoặc xuống ở trạm biến áp trung gian hoặc TBA phân phối
- Tổn thất phân phối (distribution substation): là lượng điện năng tiêu hao trong lưới phân phối điện: lưới phân phối sơ cấp, máy biến áp phân phối, lưới phân phối thứ cấp, nhánh rẽ khách hàng, công tơ trong từng khách hàng
sử dụng điện, mất cắp
Ý nghĩa về việc nâng cao chất lượng quản lý vận hành lưới điện
Việc nâng cao chất lượng quản lý vận hành lưới điện có tầm quan trọng sống còn đối với doanh nghiệp, thể hiện ở chỗ:
Chất lượng quản lý vận hành luôn là một trong những nhân tố quan trọng quyết định khả năng đáp ứng chất lượng điện năng, quyết định sự phát triển của xã hội
Tạo uy tín, danh tiếng, cơ sở cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp
Trang 19Tăng chất lượng quản lý vận hành tương đương với tăng năng suất lao động xã hội
Nâng cao chất lượng quản lý vận hành còn là biện pháp hữu hiệu kết hợp các lợi ích của doanh nghiệp, người tiêu dùng, xã hội và người lao động
Tiết kiệm chi phí vận hành, quản lý lưới điện, sửa chữa bảo trì
Xây dựng được tác phong làm việc khoa học có tính hệ thống
Nâng cao năng suất lao động
Nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao năng lực để phát triển và sẵn sàng cho giai đoạn tiếp theo của ngành điện – thị trường điện cạnh tranh hoàn toàn
Đối với người lao động trong ngành điện đó là khả năng nâng cao thu nhập thông qua việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong ngành điện
Đối với người tiêu dùng thì đó là được sử dụng điện năng có chất lượng tốt hơn, độ tin cậy cao hơn
I.4 Một số phương hướng hoàn thiện công tác quản lý vận hành lưới điện phân phối
Nhằm nâng cao chất lượng quản lý vận hành lưới điện cần đề ra một số phương hướng như sau:
I.4.1.Về nhân lực
Hợp lý hóa công tác tổ chức quản lý vận hành lưới điện Sắp xếp bộ máy tổ chức thật tinh gọn, đáp ứng được yêu cầu quản lý hiệu quả và linh hoạt
Nâng cao trình độ chất lượng đội ngũ nhân lực quản lý vận hành lưới điện, khả năng giao tiếp khách hàng
Tổ chức các lớp học và thi nâng cao trình độ cho kỹ sư, công nhân trực tiếp sản xuất và đội ngũ lao động gián tiếp khối quản lý vận hành lưới điện
I.4.2 Về cung cấp điện
Giải quyết đăng ký cắt điện phục vụ thi công cho các đơn vị thi công trên lưới điện một cách khoa học và hợp lý, như là đề ra biện pháp thi công, tổ
Trang 20chức thi công hợp lý khoa học, kết hợp nhiều cấp điện áp cùng lúc trên cùng một tuyến dây, kết hợp nhiều công việc trên cùng một lộ đường dây, trường hợp nào giải quyết được bằng giải pháp thi công hotline thì không giải quyết cắt điện để giảm tối đa thời gian gián đoạn cung cấp điện
Hoàn chỉnh qui trình tiếp nhận thông tin, giải quyết các phản ánh về sự
cố trong sử dụng điện của khách hàng
Dự báo chính xác nhu cầu sử dụng điện của khách hàng để có kế hoạch chuẩn bị nguồn điện kịp thời
Đánh giá chính xác khả năng tải của các đường dây, trạm biến áp để có thể đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng của phụ tải
I.4.3 Về quản lý vận hành
Nghiên cứu các biện pháp giảm sự cố
Đảm bảo vận hành lưới điện ở điện áp ổn định
Nghiên cứu phương pháp vận hành tối ưu hệ thống điện
Phân tích sự cố theo các phương pháp hiện đại nhằm tìm ra chính xác nguyên nhân dẫn đến sự cố để có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu
Tăng cường công tác kiểm tra lưới điện định kỳ để kịp thời xử lý các điểm có nguy cơ gây ra sự cố trên lưới điện
Đảm bảo công tác bảo trì, bảo dưỡng lưới điện vào mùa khô để giảm sự
cố thường xảy ra vào mùa mưa, thời tiết nắng nóng
Triển khai phòng trào thi đua xây dựng đường dây, trạm biến áp kiểu mẫu, an toàn, sạch đẹp
Ứng dụng GIS (GIS-Geographic Information System –Hệ thống thông tin địa lý) vào quản lý vận hành lưới điện
Ứng dụng các thiết bị kỹ thuật số vào để khai thác, thu thập thông tin lưới điện từ xa
Quản lý và khai thác các phần tử lưới điện bằng các chương trình tin học chuyên dụng
Trang 21Chuẩn hóa các tiêu chuẩn vật tư thiết bị lưới điện
I.4.4 Về công tác ĐTXD mới lưới điện và sửa chữa lớn lưới điện
Đại tu sửa chữa đúng định kỳ, đảm bảo các tiêu chuẩn vận hành lâu dài Nâng cao chất lượng công tác khảo sát thiết kế, giám sát thi công lưới điện
Nâng cao chất lượng vật tư, thiết bị
Nâng cao chất lượng nghiệm thu công trình
Đầu tư thêm nguồn công suất dự trữ đúng quy hoạch và tiến độ
Xây dựng các tuyến dây có thể kết nối, chuyển tải công suất với nhau Từng bước ngầm hóa lưới điện nhằm giảm sự cố và tăng mỹ quan đô thị
Trang 22CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VẬN HÀNH LƯỚI ĐIỆN TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC ỨNG HOÀ
Trang 23
II.1 Giới thiệu về Công ty điện lực Ứng Hòa
Công ty Điện lực Ứng Hòa (Tiền thân là Chi nhánh điện Ứng Hòa- Một Chi nhánh của Công ty điện lực TP Hà Nội được thành lập từ ngày 1/1/2009)
là một doanh nghiệp nhà nước được thành lập từ ngày 01/7/2010 theo quyết định của Hội đồng quản trị Tổng Công ty Điện lực TP Hà Nội
Công ty Điện lực Ứng Hòa là đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc của Tổng Công ty điện lực TP.Hà Nội chịu sự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ với Tổng Công ty điện lực TP.Hà Nội, không có quyền tự chủ hoàn toàn trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh và hoạt động tài chính của mình Điện lực hoạt động trên địa bàn Huyện Ứng Hòa – TP.Hà Nội về chuyên ngành kinh doanh điện năng phục vụ nhu cầu tiêu dùng và phát triển kinh tế, xã hội của Huyện
Do những đặc thù về kinh tế - kỹ thuật, trình độ công nghệ của ngành điện và đặc điểm của sản phẩm điện năng đòi hỏi phải tập trung thống nhất về
tổ chức và quản lý ở trình độ cao mới đưa lại hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất và kinh doanh điện năng nên Công ty Điện lực Ứng Hòa được tổ chức và hoạt động với các nhiệm vụ chính sau:
- Kinh doanh điện năng
- Quản lý vận hành lưới điện phân phối
- Sửa chữa, cải tạo lưới điện phân phối và một số dịch vụ khác có liên quan
- Xây lắp các công trình lưới điện từ cấp điện áp 35 kV trở xuống
- Tư vấn thiết kế, giám sát thi công các công trình lưới điện từ cấp điện
áp 35kV trở xuống
- Thiết kế lưới điện cấp điện áp < 35kV
- Đại lý các dịch vụ viễn thông công cộng
- Kinh doanh vật tư thiết bị điện, phụ kiện điện và đồ dùng dân dụng
- Xây lắp các công trình viễn thông công cộng
Trang 24- Đại lý bảo hiểm
- Quảng cáo và các dịch vụ liên quan đến quảng cáo (trừ dịch vụ quảng cáo thuốc lá)
Trụ sở Công ty Điện lực Ứng Hòa: Số 105 Đường Trần Đăng Ninh – Thị Trấn Vân Đình - Huyện Ứng Hòa - Hà Nội
Công ty Điện lực Ứng Hòa được Tổng Công ty Điện lực TP Hà Nội giao vốn và tài sản của Nhà nước, Công ty Điện lực Ứng Hòa có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn được giao và làm tròn nghĩa vụ với nhà nước, với Tổng Công ty điện lực TP.Hà Nội theo luật định và theo phân cấp của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, không ngừng cải tiến, phát triển, đổi mới thiết bị - công nghệ, thực hiện giảm chi phí giá thành sản phẩm, giảm tổn thất điện năng
Công ty Điện lực Ứng Hòa là đơn vị hạch toán phụ thuộc Tổng Công ty điện lực TP.Hà Nội, có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu riêng và được mở tài khoản tại ngân hàng để hoạt động theo sự phân cấp, uỷ quyền của Tổng Công ty điện lực TP.Hà Nội và Tập đoàn Điện lực Việt Nam
II.2 Giới thiệu về thực trạng của lưới điện phân phối tại Ứng Hòa
Hiện tại Công ty điện lực Ứng Hòa đang quản lý vận hành toàn bộ lưới điện phân phối trên địa bàn Huyện Ứng Hòa, số liệu thống kê kỹ thuật tính đến tháng 8/2010, Công ty điện lực Ứng Hòa quản lý lượng vật tư thiết bị trên lưới điện phân phối như sau:
Bảng 2.1: Tổng hợp các khối lượng lưới điện do Công ty điện lực Ứng Hoà đang quản lý
TT HẠNG MỤC LƯỢNG SỐ ĐƠN VỊ CHÚ GHI
Tổng (Công ty + khách hàng): 263 Trạm
Trang 252 Số lượng máy biến áp
2.1 Máy biến áp công ty (máy): 244 Máy
2.2 Máy biến áp khách hàng (máy): 43 Máy
Tổng (Công ty + khách hàng): 287 Máy
3.1 Dung lượng TBA Công ty (kVA) 72,935 kVA
3.2 Dung lượng TBA Khách hàng (kVA) 22,537 kVA
Tổng (Công ty + khách hàng): 95,472 kVA
4.1 Đường dây không (m): 197,334 m
Tổng số chiều dài nhánh rẽ hạ thế (ĐDK +
Tổng chiều dài đường trục + nhánh rẽ (km): 443.800 km
Trang 26Cầu dao phụ tải 10 kV 3 Bộ
7.2 Cầu dao phụ tải khách hàng: 3 Bộ
Tổng (Công ty + khách hàng): 17 Bộ
8.1 Cầu dao cách ly công cộng: 100 Bộ
9.1 Cầu chì tự rơi (SI) Công cộng: 184 Bộ
Trang 27(Nguồn: Báo cáo QLKT tháng 8/2010-Công ty Điện lực Ứng Hòa)
II.3 Phân tích thực trạng đội ngũ quản lý vận hành lưới điện
II.3.1 Cơ cấu quản lý của Công ty Điện lực Ứng Hòa
Khi chuyển sang mô hình hoạt động mới (1/2009), Công ty Điện lực Ứng Hòa có tổng số 38 CBCNV, trong đó:
• 1 trên đại Học: Thạc sĩ
• 7 kỹ sư, cử nhân kinh tế
• 20 trung cấp
• 5 thợ bậc 7/7
• 5 công nhân các bậc khác và nhân viên
Đến tháng 8/2010, tổng số người lao động của Công ty đã là 72 CBCNV với cơ cấu như sau:
• 1 trên đại Học: Thạc sĩ
• 12 kỹ sư, cử nhân kinh tế
• 42 trung cấp
• 5 thợ bậc 7/7
• 12 công nhân các bậc khác và nhân viên
II.3.2 Mô hình tổ chức quản lý
Theo quyết định của Hội đồng quản trị Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, mô hình tổ chức quản lý hiện nay của Công ty Điện lực Ứng Hòa như sau:
Cơ cấu tổ chức của Công ty điện lực Ứng Hòa bao gồm:
Trang 28• 01 Giám đốc : Phụ trách chung
• 03 Phó Giám đốc: Phó Giám đốc Kỹ thuật, Phó Giám đốc Kinh doanh điện năng, Phó Giám đốc Kinh doanh viễn thông và CNTT
Tổng số CBCNV của toàn Công ty là 72 người
Giám đốc trực tiếp chỉ đạo: Phòng Hành chính Tổng hợp, Phòng Tài chính - Kế toán, Phòng Kế hoạch Vật tư, Đội kiểm tra và giám sát điện năng, các đội quản lý điện tổng hợp
Phó Giám đốc Kỹ thuật: trực tiếp chỉ đạo công tác kỹ thuật vận hành: Phòng Kỹ thuật, Phòng Điều độ vận hành, Đội kiểm tra và giám sát điện năng, các đội quản lý điện tổng hợp
Phó Giám đốc Kinh doanh điện năng: chỉ đạo công tác kinh doanh bán điện: Phòng kinh doanh, các đội quản lý điện tổng hợp
Phó Giám đốc Kinh doanh viễn thông và CNTT: chỉ đạo công tác kinh doanh viễn thông Phòng Viễn thông – Công nghệ thông tin, các đội quản lý điện tổng hợp
Công ty điện lực Ứng Hòa có:
• 09 phòng chuyên môn, nghiệp vụ:
Trang 295 Ðội Quản lý tổng hợp 5
6 Ðội Quản lý tổng hợp 6
7 Đội Quản lý tổn thất và Kiểm tra giám sát mua bán điện
Để kinh doanh điện năng, Công ty Điện lực Ứng Hòa phải tổ chức xây dựng mạng lưới phân phối Tuy nhiên, mạng phân phối này không giống như thông thường mà là hệ thống lưới điện trung thế, hạ thế, máy biến áp, thiết bị bảo vệ và điều khiển
II.4 Phân tích thực trạng công tác lập kế hoạch cho quản lý vận hành lưới điện
Hàng năm Điện lực phải lập kế hoạch cho công tác phát triển lưới điện, bảo trì, sửa chữa lưới điện như kế hoạch hoàn thiện và phát triển lưới điện bằng nguồn vốn đầu tư xây dựng (kế hoạch ĐTXD), kế hoạch sửa chữa lớn lưới điện (kế hoạch SCL) Ngoài ra còn có các kế hoạch như: kế hoạch bảo trì
vệ sinh công nghiệp lưới điện, kế hoạch nhu cầu vật tư nhằm chuẩn bị vật tư cho các phương án phát triển, sửa chữa lưới điện của năm sau, kế hoạch giảm tổn thất điện năng, kế hoạch giảm mất điện (sự cố), kế hoạch giảm vi phạm hành lang bảo vệ an toàn lưới điện cao áp, kế hoạch kiểm tra định kỳ, kế hoạch thí nghiệm định kỳ
Kế hoạch ĐTXD:
Kế hoạch đầu tư hoàn thiện và phát triển lưới điện bằng nguồn vốn đầu
tư xây dựng (vốn khấu hao cơ bản, vốn đầu tư phát triển, vốn tín dụng thương mại, vốn ODA…) được áp dụng cho các công trình xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp thuộc chuyên ngành điện, kiến trúc Đối với các dự án có quy mô nhỏ (≤ 7 tỷ) thì từ khi lên danh mục đầu tư đến khi hoàn thành công trình cũng phải mất 2 năm, các dự án có quy mô lớn, phức tạp thì thời gian kéo dài đến 3 năm đôi khi còn kéo dài hơn do thay đổi quy hoạch hoặc không huy động được vốn vay hoặc vướng mắc trong khâu giải phóng mặt bằng
Trang 30Bảng 2.2: Tổng kết, so sánh việc thực hiện công tác ĐTXD năm
2009 và 2010
So sánh kế hoạch/Thực hiện Nội dung ĐVT
Năm 2009 Năm 2010 Ghi chú
Kế hoạch sửa chữa lớn lưới điện được lập từ tháng 3 hàng năm để thực
hiện cho năm sau, kế hoạch bảo trì lưới điện lập từ tháng 10 hàng năm
Bảng 2.3: Tổng kết, so sánh việc thực hiện công tác SCL năm 2009
và 2010
So sánh kế hoạch/Thực hiện Nội dung ĐVT
Năm 2009 Năm 2010 Ghi chú
(Nguồn: Công ty Điện lực Ứng Hòa – tháng 8/2010)
Nhận xét: Những bài học kinh nghiệm về công tác ĐTXD, SCL, nhằm
nâng cao hiệu quả đầu tư, tiến tới đạt kế hoạch đề ra tại Công ty điện lực Ứng
Hoà:
- Cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương khi triển khai dự
án
- Hoàn thiện các thủ tục về hồ sơ cấp đất, đền bù và hồ sơ vay vốn
trước khi triển khai thi công công trình
- Lựa chọn các nhà thầu thi công có đủ năng lực về tài chính, kinh
nghiệm thi công và thanh quyết toán
Trang 31- Tăng cường củng cố, đào tạo nâng cao năng lực thẩm định, giám sát
và triển khai dự án
- Thường xuyên liên hệ với cấp trên để được trợ giúp Cập nhật kịp thời những thay đổi về chế độ, chính sách của nhà nước trong công tác đầu tư xây dựng
- Tăng cường theo dõi giám sát thi công các công trình ĐTXD
- Quyết toán các công trình đã hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng thật nhanh, gọn và chính xác
Một số công tác kế hoạch khác:
Qui hoạch về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp địa phương còn yếu kém nên việc giải quyết nhu cầu cung cấp điện cho khách hàng đáp ứng không đồng bộ và kịp thời làm cho rất nhiều khu vực trạm phân phối bị quá tải, sụt áp, độ tin cậy cung cấp điện giảm Trong khi đó lại đồng thời tồn tại rất nhiều trạm biến áp phân phối non tải làm cho tổn thất kỹ thuật tăng cao
Các công trình mở rộng đường của địa phương không đồng bộ với việc
di dời lưới điện do không bố trí vốn đền bù giải tỏa, không phối hợp với điện lực dẫn đến đường được mở rộng trong khi đó thì cột điện nằm giữa đường gây cản trở giao thông, xe đụng gẫy cột làm sự cố lưới điện
Theo qui định của Luật điện lực thì doanh nghiệp bán điện phải đầu tư
hệ thống đường dây, trạm điện đến điện kế cho khách hàng có nhu cầu sử dụng điện, tuy nhiên với qui định của điện lực về đầu tư đường dây và trạm điện cho khách hàng bằng nguồn vốn đầu tư xây dựng thì để cung cấp điện được cho khách thì phải kéo dài thời gian quá lâu (nhanh nhất cũng 1 năm) làm cản trở sự phát triển của doanh nghiệp cũng như của điện lực
Phương án trong kế hoạch giảm tổn thất điện năng còn chung chung, chưa cụ thể hóa phân công cụ thể những bộ phận nào phải làm gì, giải pháp
cụ thể ra sao, đánh giá đúng tổn thất điện năng là do nguyên nhân nào, các thành viên trong ban chỉ đạo giảm tổn thất điện năng không có được phân công cụ thể, không hiểu biết đầy đủ về tổn thất điện năng Tại điện lực có một
bộ phận làm công tác kiểm tra các hoạt động mua bán điện bất hợp pháp
Trang 32nhưng mối liên hệ giữa bộ phận này và ban chỉ đạo giảm tổn thất điện năng không có hoặc rất ít cho nên việc kiểm tra không hiệu quả, không có kế hoạch, không có những phân tích chính xác về tình hình ăn cắp điện
Về kế hoạch nhu cầu vật tư cho năm sau cũng thực hiện không đạt yêu cầu Bộ phận mua sắm vật tư chưa đáp ứng kịp nhu cầu vật tư cho các công trình xây dựng mới cũng như công tác sửa chữa thường xuyên lưới điện làm ảnh hưởng rất nhiều đến việc vận hành lưới điện an toàn và độ tin cậy cao
Kế hoạch giảm mất điện do sự cố lúc nào cũng nêu câu “tăng cường công tác kiểm tra bảo trì lưới điện” nhưng với cách làm thủ công thì không thể nào tăng cường được vì lực lượng nhân sự không thay đổi
Các chỉ tiêu kế hoạch về chất lượng quản lý vận hành lưới điện, chất lượng điện năng:
Chỉ tiêu sự cố lưới và trạm điện
Chỉ tiêu tổn thất điện năng
Chỉ tiêu doanh thu bán điện
Chi phí vận hành
Chỉ tiêu xây dựng các công trình đầu tư xây dựng (xây dựng mới) và sửa chữa lớn lưới điện
Bảng 2.4: Các chi phí quản lý vận hành lưới điện
Nội d ung Năm 2009 Từ 1/1/2010 đến T8/2010
Trang 33Chi phí sửa chữa thường xuyên
Chi phí quản lý doanh nghiệp x106
(Nguồn: Công ty Điện lực Ứng Hòa – tháng 8/2010)
Chi phí giải quyết sự cố là chi phí vật liệu nhằm khắc phục sau khi đã xảy ra sự cố lưới và trạm điện Chi phí dùng cho giải quyết sự cố tăng hàng năm một phần là do giá cả vật tư tăng nhưng cốt lõi vẫn là sự cố của các năm sau nhiều hơn năm trước, vật tư dùng cho giải quyết sự cố tăng nhiều
Chi phí sản xuất chung gồm có các chi phí như chi phí nhân viên, chi phí vật liệu, chi phí dụng cụ sản xuất, chi phí sửa chữa lớn, chi phí sửa chữa thường xuyên, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí sản xuất chung khác Trong các chi phí trên thì chi phí sửa chữa lớn và chi phí sửa chữa thường xuyên là ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng quản lý vận hành lưới điện Thông thường thì hai loại chi phí này phải tăng theo tốc độ phát triển của lưới điện, nhằm sửa chữa bảo trì lưới điện tránh sự cố xảy ra Nếu không kịp thời sửa chữa lưới điện bằng các nguồn vốn này thì có thể lưới điện bị sự cố, tổn thất điện năng, giảm độ tin cậy cung cấp điện…
Chi phí quản lý doanh nghiệp gồm có các chi phí như chi phí nhân viên quản lý, chi phí vật liệu quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí thuế - phí - lệ phí, chi phí bằng tiền khác
Tóm lại:
Bên cạnh những khó khăn khách quan cho công tác kế hoạch của điện lực như vẫn còn tồn tại các quy định, văn bản mang tính pháp lý còn mâu thuẫn, sự thiếu hoàn thiện về quy họach phát triển hạ tầng tổng thể
Trang 34của địa phương thì Công tác lập kế hoạch đã bộc lộ chưa kịp thời và chưa sát với thực tế của các đơn vị, chưa đồng bộ giữa các khâu trong dây chuyền sản xuất và kinh doanh điện năng do đó ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh và vận hành của toàn đơn vị
Mặc dù rất cố gắng bám sát và thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch, nhưng Điện lực vẫn chưa tìm ra giải pháp phù hợp để thực hiện các kế hoạch của Công ty giao và của đơn vị tự đặt ra
II.5 Phân tích thực trạng công tác tổ chức vận hành lưới điện
Hoạt động chính của Điện lực là kinh doanh điện năng Sử dụng các thiết bị, công nghệ phân phối điện năng đến nơi tiêu thụ, đo đếm sản lượng điện bán cho khách hàng Do đó công nghệ Điện lực ứng dụng chủ yếu là công nghệ chế tạo các thiết bị điện để biến đổi điện áp như máy biến áp, tụ
bù, biến dòng, các thiết bị đóng cắt tự động, hệ thống đo đếm điện năng
Theo đánh giá chung, trong những năm sắp tới cùng với chiến lược phát triển theo chiều sâu của Thành phố thì tốc độ tăng trưởng các thành phần phụ tải công nghiệp, quản lý tiêu dùng dân cư và kinh doanh dịch vụ sẽ tăng cao Do đó sản lượng tiêu thụ điện trên địa bàn hàng năm gia tăng rất lớn
Công ty Điện lực Ứng Hòa hiện có (số liệu đến 30/8/2010) là 72 CBCNV, tổng số lao động nữ là 15 người - chiếm 20% lao động, nam là 57 người - chiếm 80% Nếu chia theo từng độ tuổi thì khoảng tuổi dưới 30 tuổi là
32 người - chiếm 44,44%; khoảng tuổi từ 30 - 39 tuổi có 15 người - chiếm 20,83%; độ tuổi từ 40 - 49 tuổi có 17 người chiếm 23,61%; độ tuổi từ 50 - 59
có 8 người - chiếm 11,11% Độ tuổi trung bình ước tính khoảng 30 tuổi
Đây cũng là một điểm mạnh của Điện lực vì lực lượng trẻ nhiều, năng lực tiềm tàng rất mạnh
Theo định biên lao động (trên khối lượng quản lý lưới điện, trạm điện
và khách hàng) của Tập Đoàn Điện lực Việt Nam thì Công ty Điện lực Ứng
Trang 35Hòa chỉ cần có 65 lao động, tuy nhiên hiện nay với số lượng lao động là 72 người và như vậy thì chất lượng nhân lực của Công ty Điện lực Ứng Hòa chưa thật sự cao xuất phát từ cung cách quản lý nhân lực lâu nay của Điện lực
đã không còn phù hợp, đang dần chuyển biến theo mô hình mới
Lý do thứ nhất và cũng là lý do chung trong tất cả các doanh nghiệp nhà nước là chế độ lương thưởng, thu nhập của CBCNV quá thấp so với mức sống thành thị Thu nhập bình quân 1 tháng là 3,5 triệu đồng trong năm 2009 chỉ đủ dùng cho sinh hoạt tối thiểu của 1 cá nhân trong mức giá sinh hoạt của Thành phố đang tăng từng ngày một Trong khi đó việc thừa nhân lực so với định biên sẽ rất khó tăng thêm thu nhập trong những năm sau mặc dù lương
cơ bản của nhà nước tăng dần theo lộ trình Việc tìm kiếm một chỗ làm có thu nhập cao ở các doanh nghiệp nước ngoài là xu hướng hiện nay của giới công nhân viên chức trong các doanh nghiệp nhà nước
Lý do thứ hai gây khó khăn cho việc có được nhân tài là Điện lực chưa
có được chế độ tuyển dụng hấp dẫn để thu hút nhân lực (việc tuyển dụng là do Tổng Công ty cấp trên), ngay cả với những sinh viên xuất sắc được Công ty cấp học bổng ngay còn ngồi trên ghế Trường Đại học để đào tạo, khi về làm Công ty chỉ là một sự ràng buộc trách nhiệm mà cũng chỉ tồn tại được vài tháng, họ chấp nhận trả lại một lúc toàn bộ số tiền học bổng đã nhận trong suốt các năm học để xin thôi việc, không phục vụ cho Công ty nữa, ra làm cho các doanh nghiệp nước ngoài hoặc tiếp tục học cao thêm
Lý do thứ ba cũng là lý do ảnh hưởng đến bộ máy nhân lực là Điện lực chưa thật sự có chế độ đãi ngộ xứng đáng; đánh giá nhân lực dựa theo cảm tính nên việc nhìn nhận và đánh giá nhân lực cũng bị ảnh hưởng, các cuộc họp bình bầu đánh giá thường chỉ là hình thức Căn cứ chỉ tiêu cấp trên giao
và dựa theo công tác chuyên môn mà đếm thứ tự từ trên xuống Vì thế có những cán bộ được phong nhiều danh hiệu, khen thưởng mà có khi bản thân người ấy chưa hề biết gì về hoạt động khác ngoài hoạt động chính của mình,
Trang 36còn nhiều cá nhân khác thì không có được bất cứ sự động viên khen thưởng nào
Chính sách đào tạo của Công ty (phân bổ cho điện lực) cũng chưa thật
sự hợp lý để khuyến khích, động viên CBCNV học nâng cao trình độ và trau dồi kiến thức Đi học bổ sung nâng cao trình độ từ trung cấp lên đại học hay học bằng 2, học Cao học… hiện nay không được sử dụng giờ hành chính ngoại trừ các lớp học do Công ty liên kết với các Trường tổ chức CBCNV nếu tự chọn và thi vào trường học theo ý riêng, không đăng ký nhu cầu theo các loại hình đào tạo của Công ty thì sẽ không được Công ty hỗ trợ học phí, điều đó làm trở ngại các ý tưởng phát huy năng khiếu sở trường của bản thân mỗi người
Cán bộ quản lý chưa thật sự quan tâm, tạo cơ hội phát triển cho những nhân lực có đóng góp tích cực Có thể vì tính chất công việc và quá bộn bề nên nhà lãnh đạo, quản lý chỉ thấy được qua báo cáo, hoặc thấy ra những cá nhân có “bề nổi” giỏi thăm viếng, giỏi văn từ, khéo ăn nói…mà chưa sâu sát được với những cá nhân chỉ cặm cụi làm việc, không còn thời gian để “quan hệ”, “ngoại giao” Do đó, không phát hiện và khai thác hết tài năng của nhân viên, sử dụng đúng chỗ, đúng người để CBCNV có cơ hội phát triển và toàn tâm cho công việc
Vẫn còn nặng về tình cảm, cả nể, CBCNV không mạnh dạn đấu tranh
và phê bình với những vị thuộc diện “chính sách”, gây ra sự không công bằng, làm bất bình và nhụt chí, mất niềm tin người khác
Nhu cầu được đào tạo của cán bộ công nhân viên về các khóa học như tin học văn phòng, ngoại ngữ, các chương trình quản lý và tính toán lưới điện trên máy tính là rất cao, mỗi năm điện lực đều có lên kế hoạch đăng ký với công ty nhưng từ năm 2009 đến nay các lớp học được mở ra rất ít
Hầu hết các lớp học để nâng cao trình độ ngoại ngữ, kiến thức về kinh
tế hoặc các lớp học cao học quản trị kinh doanh, kỹ thuật điện chỉ dành cho
Trang 37các nhân viên trong các phòng, ban Tổng công ty hoặc là những người có quen biết
Các khóa tham quan học tập ở nước ngoài thì chỉ dành cho các cán bộ, nhân viên của văn phòng Tổng Công ty và lãnh đạo các Công ty điện lực, kết quả chỉ là đi du lịch mà không học tập được gì để về triển khai, áp dụng trong đơn vị mình
Chưa có quy hoạch về phát triển nguồn nhân lực cho các công việc mới như trong thời gian vừa qua ngành điện phát triển kinh doanh dịch vụ viễn thông tuy nhiên không chuẩn bị nhân lực (về con người cũng như chuyên môn) cho công việc này dẫn đến phải điều động nhân viên kỹ thuật điện sang làm công tác kinh doanh dịch vụ viễn thông Vì thế phát sinh lỗ hổng rất lớn
về nhân lực cho công tác quản lý vận hành lưới điện
Tóm lại: Đội ngũ nhân lực hiện nay của Điện lực tuy tuổi trung bình
là tương đối trẻ, tuy nhiên trình độ đào tạo kỹ thuật của các công nhân vận hành kỹ thuật chưa cao, ý thức trách nhiệm trong công việc còn nhiều hạn chế do những nguyên nhân về cơ chế quản lý nhân lực hiện hành trong các điên lực nhà nước, trang bị các lý thuyết về quản trị kinh doanh của đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong chính điện lực còn chưa được chú trọng, Tất
cả những nhân tố đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng quản lý lưới phân phối của Công ty Điện lực Ứng Hòa hiện nay, bởi vì suy cho cùng con người vẫn là nhân tố quan trọng nhất trong tổ chức, doanh nghiệp, nó ảnh hưởng quan trọng đến kết quả thực hiện mọi công việc trong tổ chức, doanh nghiệp đó
II.6 Phân tích thực trạng công tác kiểm soát lưới điện
Trên lưới điện của Công ty Điện lực Ứng Hòa có 3 thành phần được kiểm tra, kiểm soát trong quá trình vận hành, đó là lưới điện trung thế, trạm biến áp phân phối và lưới hạ thế
Trang 38Đối với lưới điện trung thế được qui định kiểm tra gồm có: kiểm tra
đinh kỳ ngày (tối thiểu 1 tháng/1 lần), kiểm tra định kỳ đêm (tối thiểu 3 tháng/1 lần), kiểm tra đột xuất (trước hoặc sau khi có mưa bão, thời tiết bất thường, trước dịp lễ và các ngày quan trọng), kiểm tra sự cố (ngay khi xảy ra
sự cố), kiểm tra dự phòng (các thiết bị bằng dụng cụ thí nghiệm, cần phải cắt điện), kiểm tra kỹ thuật (6 tháng một lần)
Đối với trạm biến áp phân phối qui định kiểm tra gồm có:
- Kiểm tra định kỳ ngày : 1 tháng 1 lần đối với trạm biến áp có tải từ 80% hoặc từ 250kVA trở lên Các trạm biến áp còn lại 2 tháng 1 lần
- Kiểm tra định kỳ đêm : 3 tháng 1 lần vào giờ cao điểm tối cho tất cả các trạm
- Kiểm tra bất thường: trước và sau khi có lụt bão, trước các dịp lễ, tết, máy biến áp quá tải, trạm biến áp có dấu hiệu bất thường hay các ngày thời tiết nắng nóng
- Kiểm tra sự cố: thực hiện ngay sau khi xảy ra sự cố
- Kiểm tra thí nghiệm: đối với thiết bị trong trạm có nghi ngờ không đạt tiêu chuẩn vận hành
(Theo Quy trình quản lý vận hành và bảo dưỡng trạm biến áp - EVN)
Đối với lưới điện hạ thế qui định: kiểm tra ngày mỗi 3 tháng 1 lần
Theo qui định thì việc kiểm tra lưới điện hết sức chặt chẽ và kỹ lưỡng
từ nội dung kiểm tra cho đến định kỳ Tuy nhiên để thực hiện đầy đủ và đúng qui định thì cần rất nhiều nhân lực mà đôi khi không hiệu quả vì hiện tại người công nhân kiểm tra lưới điện chỉ có thể thực hiện kiểm tra trực quan bằng mắt chứ không có thiết bị hiện đại hỗ trợ cũng như ghi chép các thông tin lưới điện vào giấy mà không có thiết bị kỹ thuật số nào để cập nhật Từ đó
có thể thấy rằng công tác kiểm tra lưới điện đang vận hành không đạt hiệu quả cao
Trang 39Đối với các công trình đang thi công thì công tác giám sát là hết sức quan trọng, cán bộ giám sát phải luôn luôn có mặt tại hiện trường công trình Tuy nhiên tình hình chất lượng giám sát công trình hiện nay là rất thấp thể hiện qua các công trình phải thường xuyên sửa đổi khi đơn vị quản lý vận hành phát hiện những thiếu sót
Tóm lại: Công tác kiểm tra định kỳ và kiểm tra đột suất còn mang tính chất đối phó, chất lượng kiểm tra còn chưa cao, không đánh giá đúng tình trạng hoạt động của các thiết bị vận hành trên lưới, đây cũng là nguyên nhân ảnh hưởng lớn đến việc cung cấp các thông tin đầy đủ và kịp thời để phục vụ cho công tác quản lý vận hành hệ thống lưới
II.7 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý vận hành lưới điện
II.7.1 Phân tích độ tin cậy cung cấp điện
Việc tính toán các chỉ số độ tin cậy được điện lực áp dụng bắt đầu từ tháng 1/2009
Các chỉ số độ tin cậy bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:
+ Cắt điện để công tác bảo trì sửa chữa lưới điện theo kế hoạch
+ Cắt điện đột xuất để xử lý các điểm có thể gây ra sự cố tức thì
+ Sự cố lưới điện từ lưới điện trung thế, trạm biến áp, lưới hạ thế và nguồn, sa thải phụ tải do thiếu nguồn
So sánh với một số khu vực trên thế giới về chỉ số SAIFI, SAIDI như Singapore, Tokyo, Hongkong, NewYork, Chicago, Dublin… trong năm 2004 thấy rằng chỉ số SAIDI lớn nhất cũng chỉ là 157 phút, chỉ số SAIFI lớn nhất là 2,16 lần; một số nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines, Indonesia… trong năm 2008 thì chỉ số SAIDI lớn nhất là 1.496 phút và SAIFI
là 18,85 lần thuộc nước Thái Lan trong khi đó chỉ số độ tin cậy SAIDI, SAIFI tính đến tháng 8 năm 2010 của Công ty Điện lực Ứng Hòa lần lượt là SAIFI = 1.89 lần, SAIDI = 345.54 phút, điều này cho thấy độ tin cậy cung cấp điện của Công ty Điện lực Ứng Hòa là rất thấp so với các nước trong khu vực