MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích quá trình quản lý đầu tư phát triển lưới điện của Điện Lực Long Biên thời gian qua, dựa trên cơ sở lý luận khoa học về đầ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
ĐOÀN XUÂN THỦY
HÀ NỘI – 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo, Cô giáo Khoa Kinh tế và Quản lý – Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội đã tận tình giảng dạy và giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến TS Đoàn Xuân Thủy, người đã tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện hoàn thành luận văn
Mặc dù với sự cố gắng của bản thân, nhưng do thời gian và trình độ còn hạn chế, nên bản thân luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự góp ý chân thành của các Thầy, Cô giáo và các bạn đòng nghiệp nhằm bổ sung-hoàn thiện trong quá trình nghiên cứu tiếp vấn đề này
Hà Nội, tháng 10 năm 2010 Học Viên
Nguyễn Thanh Minh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan, bản luận văn này là nội dung khoa học do tác giả tự nghiên cứu và không sao chép từ bất cứ luận văn hay tài liệu tương tự nào
Số liệu sử dụng được tác giả đúc kết trong suốt quá trình công tác xây dựng cơ bản trong ngành điện nói chung và tại Điện lực Long Biên – Công ty Điện Lực TP Hà Nội nói riêng Tác giả xin cam kết các số liệu được trích dẫn trong luận văn và phụ lục thống kê có nguồn gốc rõ ràng – chính xác
Tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam kết của mình Ngoài ra, nhằm bảo vệ thông tin trong lĩnh vực kinh doanh theo luật đinh, tác giả cũng cam kết bảo mật thông tin cho Điện lực Long Biên – Công ty Điện Lực TP Hà Nội
Hà Nội, tháng 10 năm 2010 Học Viên
Nguyễn Thanh Minh
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT ……… 1
DANH MỤC CÁC BẢNG……….2
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ……… 4
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ……… 8
1.1 HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀ CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ 8
1.1.1 Khái niệm về hoạt động đầu tư 8
1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư 9
1.1.3 Chi phí và kết quả đầu tư 10
1.1.3.1 Chi phí đầu tư 10
1.1.3.2 Kết quả đầu tư 11
1.2 DỰ ÁN ĐẦU TƯ 12
1.2.1 Khái niệm 12
1.2.2 Phân loại dự án đầu tư 12
1.2.3 Các mô hình tổ chức quản lý dự án đầu tư 13
1.2.4 Chu kỳ của dự án đầu tư 18
1.2.4.1 Nghiên cứu cơ hội đầu tư ……… 20
1.2.4.2 Nghiên cứu tiền khả thi 23
1.2.4.3 Nghiên cứu khả thi 26
1.2.4.4 Thực hiện dự án 28
1.2.4.5 Vận hành (sử dụng, khai thác …) dự án 28
1.2.4.6 Đánh giá sau khi thực hiện dự án 28
1.2.4.7 Kết thúc dự án 29
1.3 ĐẶC ĐIỂM DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH ĐIỆN 29
1.3.1 Hoạt động sản xuất kinh doanh điện năng 29
1.3.2 Đặc điểm quy hoạch và đầu tư phát triển điện lực 30
Trang 51.3.2.2 Đầu tư phát triển điện lực ……… 31
1.4 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 33
1.4.1 Quan điểm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư 34
1.4.1.1 Quan điểm của nhà đầu tư 34
1.4.1.2.Quan điểm của Nhà nước 35
1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển 36
1.4.2.1 Đối với các nhà đầu tư 36
1.4.2.2 Đối với Nhà nước 39
1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển………41
1.4.3.1 Yếu tố bên ngoài 41
1.4.3.2 Yếu tố bên trong 43
1.5 QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 45
1.5.1 Những vấn đề chung 45
1.5.2 Yêu cầu 46
1.5.3 Nguyên tắc 46
1.5.4 Mục tiêu của quản lý đầu tư 47
1.6 NỘI DUNG QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 48
1.6.1 Chiến lược phát triển đầu tư 48
1.6.2 Lập kế hoạch đầu tư 48
1.6.3 Tổ chức thực hiện 49
1.6.4 Phân tích và đánh giá 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 53
CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA ĐIỆN LỰC LONG BIÊN – CÔNG TY ĐIỆN LỰC TP HÀ NỘI ……… 54
2.1 KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA QUẬN LONG BIÊN – TP HÀ NỘI 54
Trang 6LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN 59
2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Điện Lực Long Biên – Công ty Điện lực TP Hà Nội 59
2.2.2 Cơ cấu quản lý của Điện Lực Long Biên 60
2.2.3 Mô hình tổ chức quản lý 61
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN LƯỚI ĐIỆN PHÂN PHỐI TẠI ĐIỆN LỰC LONG BIÊN 64
2.3.1 Kết quả đầu tư phát triển lưới điện phân phối những năm qua 65
2.3.1.1 Kết quả đầu tư 65
2.3.1.2 Nâng cao hiệu quả công tác vận hành và kinh doanh buôn bán điện 67
2.3.2 Phân tích tình hình đầu tư phát triển lưới điện sử dụng nguồn vốn được công ty Điện Lực TP Hà Nội phân bổ 73
2.3.2.1 Công tác dự báo nhu cầu phụ tải điện và chiến lược đầu tư phát triển 73
a Công tác dự báo nhu cầu phụ tải điện 73
b Chiến lược đầu tư phát triển 75
2.3.2.2 Lập dự án và kế hoạch vốn đầu tư, phân tích và đánh giá 75
2.3.2.3 Tổ chức thực hiện, phân tích và đánh giá 84
a Công tác lựa chọn tư vấn thiết kế và thẩm định 84
b Công tác mua sắm vật tư thiết bị 88
c Công tác quản lý đấu thầu 89
d Công tác triển khai giám sát thi công xây dựng 92
e Công tác chi tiêu cấp vốn và quyết toán các công trình 93
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 94
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN LƯỚI ĐIỆN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN –TP HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2015 95
Trang 72015 CÓ XÉT ĐẾN NĂM 2020 95
3.1.1 Cơ sở pháp lý để tính nhu cầu điện Quận Long Biên 95
3.1.2 Dự báo nhu cầu điện năng quận Long Biên –TP Hà Nội đến năm 2015 có xét đến năm 2020 96
3.1.2 Mục tiêu, chiến lược đầu tư tổng quát 107
3.2 KHỐI LƯỢNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ VỐN ĐẦU TƯ GIAI ĐOẠN TỪ 2010 ĐẾN 2015 107
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN LƯỚI ĐIỆN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN – TP HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2015 111
3.3.1 Hoàn thiện công tác dự báo, quy hoạch nguồn điện và hoạch định đúng chiến lược đầu tư phát triển lưới điện 112
3.3.2 Nâng cao chất lượng lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư………… 113
3.3.2.1 Về việc lập dự án 113
3.3.2.2 Về công tác thẩm định dự án đầu tư, thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán và phê duyệt dự án đầu tư 114
3.2.3 Đổi mới mô hình quản lý dự án 115
3.2.4 Thực hiện nghiêm túc Luật đấu thầu 116
3.2.5 Nâng cao kỷ luật và chất lượng quyết toán vốn đầu tư 118
3.2.6 Chống thất thoát vốn trong đầu tư và xây dựng 119
3.2.7 Nâng cao trình độ cán bộ quản lý vốn đầu tư phát triển 122
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 124
TÓM TẮT LUẬN VĂN 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBCNV : Cán bộ công nhân viên;
TP.HN : Thành phố Hà nội;
KĐTM : Khu đô thị mới;
BCKTKT : Báo cáo kinh tế kỹ thuật;
TKKTTC-TDT : Thiết kế kỹ thuật thi công – tổng dự toán
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích các loại đất của Quận Long Biên 56
Bảng 2.2: Dân số và mật độ dân số Quận Long Biên 57
Bảng 2.3: Giá trị sản xuất và cơ cấu các ngành kinh tế trên địa bàn Quận Long Biên 58
Bảng 2.4: Bảng thống kế khối lượng quản lý vận hành và kết quả sản xuất kinh doanh Điện lực Long Biên 63
Bảng 2.5: Nguồn vốn đầu tư phát triển lưới điện phân phối Quận Long Biên thời kỳ 2006 – 2009 65
Bảng 2.6: Tổng hợp sự cố lưới điện của Điện lực Long Biên đến 2009 68
Bảng 2.7: Tình trạng vận hành quá tải lưới điện đến năm 2009 69
Bảng 2.8: Bảng thống kê kết quả kinh doanh của Điện lực Long Biên từ năm 2006 đến năm 2009 70
Bảng 2.9: Các chi phí quản lý vận hành lưới điện 71
Bảng 2.10: Số liệu dự báo nhu cầu phụ tải so với thực tế 71
Bảng 2.11: Số liệu thống kê công tác lập phương án đầu tư xây dựng 77
Bảng 2.12: Bảng tỷ lệ giá trị thực hiện các công trình SCL hàng năm so với PAKT 81
Bảng 2.13: Tỷ lệ giá trị thực hiện các công trình XDCB so với PAKT 83
Bảng 2.14: Bảng so sánh giá trị đề án thiết kế so với giá trị thực hiện 84
Bảng 2.15: Kết quả thực hiện công tác đấu thầu giai đoạn 2006 - 2009 90
Bảng 2.16: Tỷ lệ áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu 91
Bảng 2.17: Kết quả thực hiện công tác quyết toán giai đoạn 2005 - 2009 93
Bảng 3.1: Kết quả tính toán nhu cầu điện ngành công nghiệp, xây dựng 97
Bảng 3.2:Kết quả tính toán nhu cầu điện nông nghiệp, thủy lợi 98
Bảng 3.3: Chi tiêu ASSH cho Quận Long Biên đến năm 2015 99
Bảng 3.4: Kết quả tính toán nhu cầu điện thương mại và dịch vụ 100
Bảng 3.5: Kết quả tính toán nhu cầu điện cho các hoạt động khác 101
Trang 10Bảng 3.6: Tổng hợp nhu cầu điện toàn Quận Long Biên 101 Bảng 3.7: Tổng hợp kết quả dự báo nhu cầu Quận Long Biên tới năm 2020 101 Bảng 3.8: So sánh điện năng thương phẩm Quận Long Biên với toàn thành phố
Hà nội 102 Bảng 3.9: Phân vùng phụ tải tới năm 2015 104 Bảng 3.10: Khối lượng xây dựng mới, cải tạo trạm biến áp đến năm 2015 108 Bảng 3.11: Khối lượng xây dựng mới, cải tạo đường dây trung hạ thế đến năm
2015 109 Bảng 3.12: Tổng vốn ĐTXD lưới điện trung thế và hạ thế đến 2015 110
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.3: Mô hình tổ chức dự án theo chức năng 16
Hình 1.6: Sơ đồ phân loại các dự án nguồn và lưới điện 32Hình 3.1: Biểu đồ so sánh điện năng thương phẩm Quận Long Biên
Trang 12MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Ngành điện là một ngành kinh tế kỹ thuật mũi nhọn, có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn tập trung đầu tư, chỉ đạo một cách toàn diện đối với hoạt động của ngành điện
Khi Việt Nam hội nhập với thế giới, yêu cầu đổi mới ngành điện, thay đổi cơ chế vận hành thị trường điện năng càng trở nên cấp bách Thị trường điện cạnh trạnh đã dần được hình thành, cơ chế bao cấp cho ngành điện dần được xóa bỏ Vị thế độc quyền của các Công ty điện lực sẽ không còn, môi trường kinh doanh càng ngày càng khó khăn, đòi hỏi công tác quy hoạch, đầu
tư phát triển và kinh doanh điện cần được đổi mới
Là một đơn vị trực thuộc Công ty Điện lực Thành Phố Hà Nội, có chức năng phân phối và kinh doanh điện năng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cũng như đảm bảo an ninh quốc phòng trên địa bàn Quận Long Biên-TP Hà Nội, hàng năm Điện Lực Long Biên cần thiết phải đầu tư xây dựng khối lượng lớn các công trình đường dây, trạm điện phân phối và lưới điện hạ thế
Với mục tiêu đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước ở mức tăng trưởng GDP hàng năm của TP Hà Nội khoảng 10%÷12% ( giai đoạn 2010-2015 ) thì dự báo nhu cầu về điện cần phải tăng ở mức 15%÷20% mỗi năm Do đó công tác đầu tư xây dựng mới lưới điện để đáp ứng nhu cầu phát triển phụ tải, nâng cao hiệu quả kinh doanh buôn bán điện là hết sức quan trọng
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, đề tài “Phân tích và đề xuất một số
giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư phát triển lưới điện Điện Lực Long Biên -Công ty Điện lực Thành phố Hà Nội ” được chọn làm luận
văn tốt nghiệp cao học Quản trị kinh doanh
Trang 132 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích quá trình quản lý đầu tư phát triển lưới điện của Điện Lực Long Biên thời gian qua, dựa trên cơ sở lý luận khoa học về đầu tư và quản lý dự án đầu tư, luận văn đề xuất một giải pháp hoàn thiện công tác lập và quản lý các dự án đầu tư xây dựng những công trình điện của Điện lực Long Biên đến năm 2015
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu : Đề tài chủ yếu nghiên cứu các yếu tố liên quan
và có tác động đến hiệu quả công tác đầu tư xây dựng và phát triển lưới điện phân phối do Điện Lực Long Biên quản lý như:
- Công tác dự báo nhu cầu phát triển phụ tải để kịp thời xây dựng kế hoạch đầu tư trung và dài hạn các công trình điện sao cho hiệu quả
- Công tác định hướng đầu tư xây dựng mới hàng năm và công tác đầu tư vận hành sửa chữa các công trình điện của Điện Lực Long Biên
- Mô hình, phương pháp quản lý và sự phối hợp giữa các phòng chức năng trong công tác triển khai thực hiện dự án
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu thực trạng công tác đầu tư
phát triển lưới điện ( bao gồm các công trình đầu tư cơ bản và đầu tư vận hành ) của Điện lực Long Biên từ tháng 5 năm 2006 đến tháng 5 năm 2010
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Các phương pháp được sử dụng trong đề tài : Phân tích hoạt động đầu
tư phát triển dựa trên cơ sở những lý thuyết về công tác quản lý dự án đầu tư
Sử dụng phương pháp mô tả, phân tích thống kê, phân tích tổng hợp, đối chiếu so sánh để đánh giá hiệu quả công tác quản lý và hiệu quả kinh tế của các công trình đầu tư xây dựng
Trang 145 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN:
Luận văn được chia làm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về đầu tư và quản lý dự án đầu tư
Chương 2: Phân tích thực trạng công tác quản lý đầu tư phát triển của Điện Lực Long Biên – Công ty Điện Lực TP Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư phát triển lưới điện trên địa bàn Quận Long Biên-TP Hà Nội đến năm 2015
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ
VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.1 HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀ CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
1.1.1 Khái niệm về hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn nhằm thu lợi trong tương lai Không phân biệt hình thức thực hiện, nguồn gốc của vốn … mọi hoạt động có các đặc trưng nêu trên đều được coi là hoạt động đầu tư
Đầu tư trên giác độ nền kinh tế là sự hy sinh giá trị hiện tại gắn với việc tạo ra các tài sản mới cho nền kinh tế
Đầu tư phát triển là quá trình thực hiện sự chuyển hoá vốn bằng tiền thành vốn hiện vật để tạo ra những yếu tố cơ bản của sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất kinh doanh mới, thông qua việc mua sắm lắp đặt thiết bị, máy móc xây dựng nhà cửa vật kiến trúc, và tiến hành các công việc có liên quan đến sự phát huy tác dụng của các
cơ sở vật chất kỹ thuật do hoạt động đầu tư phát triển tạo ra
Đầu tư phát triển là một nhân tố quyết định đến sự phát triển kinh tế -
xã hội, là chìa khoá để tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá nhằm tạo ra thế và lực đưa nền kinh tế cả nước cũng như mỗi địa phương phát triển và hội nhập vào nền kinh tế quốc tế
Do vậy, đầu tư phát triển vừa là nhiệm vụ chiến lược vừa là một giải pháp chủ yếu để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội theo hướng tăng trưởng cao, ổn định và bền vững Bất kỳ quốc gia nào muốn có tốc độ tăng trưởng cao, đời sống nhân dân được cải thiện đều phải quan tâm đến đầu tư phát triển
Trang 16Để đầu tư phát triển ngày một đáp ứng yêu cầu về quy mô và hiệu quả, vấn đề hết sức quan trọng là phải giải quyết được nhu cầu về vốn đầu tư và các định chế về sử dụng hiệu quả vốn đầu tư
1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư
- Là hoạt động bỏ vốn nên quyết định đầu tư thường là và trước hết là
quyết định việc sử dụng các nguồn lực mà biểu hiện cụ thể dưới các hình thức khác nhau như tiền, đất đai, tài sản, vật tư thiết bị, giá trị trí tuệ …
Vốn được hiểu như là các nguồn lực sinh lợi Dưới các hình thức khác nhau nhưng vốn có thể xác định dưới hình thức tiền tệ, vì vậy các quyết định đầu tư thường được xem xét từ phương diện tài chính (tốn phí bao nhiêu vốn,
có khả năng thực hiện không, có khả năng thu hồi được không, mức sinh lợi
là bao nhiêu …) Nhiều dự án có thể khả thi ở các phương diện khác (kinh tế,
xã hội) nhưng không khả thi về phương diện tài chính và vì thế cũng không thể thực hiện trên thực tế
- Là hoạt động có tính chất lâu dài
Khác với các hoạt động thương mại, các hoạt động chi tiêu tài chính khác, đầu tư luôn luôn là hoạt động có tính chất lâu dài Do tính lâu dài nên mọi sự trù liệu đều là dự tính, chịu một xác suất biến đổi nhất định do nhiều yếu tố Chính điều này là một trong những vấn đề hệ trọng phải tính đến trong mọi nội dung phân tích, đánh giá của quá trình thẩm định dự án
- Là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai
Đầu tư vầ một phương diện nào đó là một sự hy sinh lợi ích hiện tại để đánh đổi lấy lợi ích tương lai (vốn để đầu tư không phải là các nguồn lực để dành), vì vậy luôn luôn có sự so sánh, cân nhắc giữa lợi ích hiện tại và lợi ích tương lai Rõ ràng rằng, nhà đầu tư mong muốn và chấp nhận đầu tư chỉ trong điều kiện lợi ích thu được trong tương lai lớn hơn lợi ích hiện nay họ tạm thời phải hy sinh (không tiêu dùng hoặc không đầu tư vào nơi khác)
Trang 17- Là hoạt động mang nặng rủi ro
Các đặc trưng nói trên đã cho thấy hoạt động đầu tư là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro Bản chất của sự đánh đổi lợi ích và lại thực hiện trong một thời gian dài không cho phép nhà đầu tư lượng tính hết những thay đổi có thể xảy ra trong quá trình thực hiện đầu tư so với dự tính Vì vậy, chấp nhận rủi ro như là bản năng của nhà đầu tư Tuy nhiên nhận thức rõ điều này nên nhà đầu tư cũng có những cánh thức, biện pháp để ngăn ngừa hay hạn chế để khả năng rủi ro để sự sai khác so với dự tính là ít nhất
1.1.3 Chi phí và kết quả đầu tư
1.1.3.1 Chi phí đầu tư
Một cách chung nhất, mọi nguồn lực (tiền vốn, đất đai, tài nguyên, tài sản, lao động, trí tuệ…) được sử dụng cho hoạt động đầu tư (bao gồm việc tạo
ra TSCĐ, phương tiện và các điều kiện để đảm bảo hoạt động bình thường)
Theo tính chất của các loại chi phí có thể chia ra 2 loại chính:
+ Chi phí đầu tư cố định: Đất đai, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, các cơ
sở phụ trợ, tiện ích khác và các chi phí trước vận hành
Phần chi phí trước vận hành tuy không trực tiếp tạo ra tài sản, phương tiện phục vụ cho hoạt động đầu tư nhưng là các chi phí gián tiếp hoặc liên quan đến việc tạo ra và vận hành khai thác các tài sản đó để đạt được mục tiêu đầu tư Các chi phí này thường gồm các khoản sau:
- Chi phí cho công tác chuẩn bị ban đầu, phát hiện dự án: Điều tra, khảo sát để lập, trình duyệt dự án …
- Chi phí cho tư vấn, khảo sát, thiết kế, giám sát trong quá trình triển khai thực hiện dự án …
- Chi phí quản lý dự án
- Chi phí chuyển giao công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật (đào tạo, huấn luyện
…)
Trang 18- Các chi phí tài chính: các khoản chi phí phát sinh từ việc sử dụng vốn như lãi vay trong thời gian xây dựng, phí thu xếp tài chính, phí cam kết, phí bảo lãnh
+ Vốn lưu động ban đầu: Là các chi phí để tạo ra tài sản lưu động ban đầu, các điều kiện để dự án có thể đi vào hoạt động bình thường theo các điều kiện kinh tế kỹ thuật dự tính Vốn lưu động ban đầu gồm các khoản sau:
- Dự trữ sản xuất (vật tư, vật liệu, nhiên liệu … cho một chu kỳ sản xuất kể cả dự trữ bảo hiểm cần thiết)
- Dự trữ cho bán thành phẩm, thành phẩm tồn kho
- Các khoản thuộc quỹ tiền mặt
Tuỳ thuộc vào đặc điểm, điều kiện của từng dự án mà có thể hoặc không có; có nhiều hoặc ít nhu cầu về vốn lưu động ban đầu
1.1.3.2 Kết quả đầu tư
Kết quả đầu tư là những biểu hiện của mục tiêu đầu tư dưới dạng các lợi ích cụ thể Kết quả đầu tư có thể biểu hiện ở các dạng sau:
- Kết quả tài chính: là các lợi ích về tài chính thu nhận được từ dự án biểu hiện bằng giá trị theo giá thị trường
- Kết quả kinh tế: là các lợi ích về kinh tế biểu hiện bằng giá trị tính theo giá kinh tế
- Kết quả xã hội: Kết quả biểu hiện dưới dạng các lợi ích xã hội (trình
độ dân trí, khả năng phòng chống bệnh tật, đảm bảo môi trường sống …) Kết quả xã hội biểu hiện khá phong phú và thường không thể đo lường một cách
rõ ràng
Trang 191.2 DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1.2.1 Khái niệm
Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị Sự chuẩn bị này được thể hiện trong việc soạn thảo các dự án đầu tư (lập dự án đầu tư), có nghĩa là phải thực hiện đầu tư theo dự án đã được soạn thảo với chất lượng tốt
Dự án là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hay cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp) Nói một cách ngắn gọn, dự án đầu tư là tập hợp các đối tượng được hình thành và hoạt động theo một kế hoạch cụ thể để đạt được mục tiêu nhất định (các lợi ích) trong một khoảng thời gian nhất định
1.2.2 Phân loại dự án đầu tư
Có nhiều cách phân loại dự án đầu tư tuỳ theo mục đích và phạm vi xem xét Ở đây chỉ nêu cách phân loại liên quan tới yêu cầu công tác lập, thẩm định và quản lý dự án đầu tư trong hệ thống văn bản pháp quy, các tài liệu quản lý hiện hành:
- Theo nguồn vốn: Theo nguồn vốn có thể chia dự án thành dự án đầu
tư bằng vốn ngân sách Nhà nước; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh; vốn huy động của doanh nghiệp và các nguồn vốn khác; dự án được đầu tư bằng các nguồn vốn hốn hợp …
- Theo luật chi phối: Dự án được chia ra thành dự án đầu tư theo Luật
Đầu tư; theo Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (FDI) …
- Theo hình thức đầu tư: Tự đầu tư, Liên doanh, Hợp đồng hợp tác kinh
doanh, BOT, BTO, BT …
- Theo các hình thức thực hiện đầu tư: Xây dựng, Mua sắm, Thuê …
Trang 20- Theo lĩnh vực đầu tư: Dự án sản xuất kinh doanh, dịch vụ, phát triển
cơ sở hạ tầng, văn hoá xã hội …
- Phân loại theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư
+ Đối với đầu tư trong nước chia làm 4 loại: Dự án quan trong cấp quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư; các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, C theo quy định về quản lý đầu tư và xây dựng
+ Đối với dự án đầu tư nước ngoài, gồm 3 loại A, B và loại được phân cấp cho các địa phương
1.2.3 Các mô hình tổ chức quản lý dự án đầu tư
Có nhiều mô hình tổ chức quản lý dự án Căn cứ vào điều kiện năng lực của cá nhân, tổ chức và căn cứ vào yêu cầu của dự án có thể chia thành hai nhóm hình thức chính là hình thức thuê tư vấn quản lý dự án và hình thức chủ đầu tư trực tiếp thực hiện quản lý dự án
Đối với hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp, căn cứ vào đặc điểm hình thành, vai trò và trách nhiệm của ban quản lý dự án, các mô hình tổ chức
dự án lại được chia nhỏ hơn thành các mô hình tổ chức khác nhau
1.2.3.1 Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án
Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án là hình thức tổ chức quản lý
mà chủ đầu tư hoặc tự thực hiện dự án ( tự sản xuất, tự xây dựng, tự tổ chức giám sát và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật ) hoặc chủ đầu tư lập ra ban quản lý dự án để quản lý việc thực hiện các công việc dự án theo sự ủy quyền
Hình thức chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án thường được áp dụng cho các dự án quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản và gần với chuyên môn sâu của chủ đầu tư, đồng thời chủ đầu tư có đủ năng lực chuyên môn và kinh nghiệm để quản lý dự án
Trang 21Trong trường hợp chủ đầu tư lập ban quản lý dự án thì ban quản lý dự
án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về nhiệm vụ và quyền hạn được giao Đồng thời ban quản lý dự án cũng không được thành lập các ban quản lý trực thuộc
Hình 1.1 : Mô hình chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án 1.2.3.2 Mô hình chủ nhiệm điều hành dự án
Mô hình tổ chức “ Chủ nhiệm điều hành dự án” là mô hình tổ chức trong đó chủ đầu tư giao cho ban quản lý dự án chuyên ngành hoặc thuê một
tổ chức tư vấn quản lý có đủ điều kiện, năng lực chuyên môn phù hợp với quy
mô, tính chất của dự án làm chủ nhiệm điều hành, quản lý việc thực hiện dự
án
Chủ nhiệm điều hành dự án là một pháp nhân độc lập, có năng lực, sẽ
là người quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ quá trình thực hiện dự án Mọi quyết định của chủ đầu tư liên quan đến quá trình thực hiện dự án sẽ được triển khai thông qua tổ chức tư vấn quản lý dự
TỔ CHỨC THỰC HIỆN III
Trang 22Mô hình quản lý này áp dụng cho những dự án quy mô lớn, tính chất
Mô hình tổ chức này có ưu điểm đó là sự linh hoạt trong việc sử dụng cán bộ Một người có thể tham gia vào nhiều dự án để sử dụng tối đa hiệu quả vốn kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm của các chuyên gia
CHỦ ĐẦU TƯ
BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN
TỔ CHỨC THỰC HIỆN DỰ ÁN I
TỔ CHỨC THỰC HIỆN DỰ ÁN II
THUÊ TƯ VẤN
THIẾT KẾ
THUÊ NHÀ THẦU A
THUÊ …
THUÊ TƯ VẤN GIÁM SÁT
Trang 23Tuy nhiên bên cạnh đó mô hình cũng tồn tại những nhược điểm đó là tổ chức quản lý không theo yêu cầu của khách hàng Do dự án được đặt dưới sự quản lý của một phòng chức năng nên có xu hướng không tập trung nhiều nỗ lực vào việc giải quyết các vấn đề của dự án Tình trạng tương tự cũng diễn ra đối với các phòng chức năng khác cùng thực hiện dự án Vì vậy dự án không nhận được đủ sự ưu tiên cần thiết, không đủ nguồn lực để hoạt động hoặc bị coi nhẹ
Hình 1.3 : Mô hình Tổ chức dự án theo chức năng 1.2.3.4 Mô hình tổ chức chuyên trách quản lý dự án
Mô hình tổ chức chuyên trách quản lý dự án là hình thức tổ chức quản
lý mà các thành viên ban quản lý dự án tách hoàn toàn khỏi phòng ban chức năng chuyên môn, chuyên thực hiện quản lý điều hành dự án theo yêu cầu được giao
Mô hình tổ chức chuyên trách quản lý dự án có những ưu điểm sau:
- Đây là hình thức tổ chức quản lý dự án phù hợp với yêu cầu của khách hàng nên có thể phản ứng nhanh trước yêu cầu của thị trường
- Nhà quản lý dự án có đầy đủ quyền lực hơn đối với dự án
- Các thành viên trong ban quản lý dự án chịu sự điều hành trực tiếp của chủ nhiệm dự án
PHÒNG KINH DOANH
Trang 24- Do dự án tách khỏi các phòng chức năng nên đường thông tin được rút ngắn, hiệu quả thông tin sẽ cao hơn
Hình 1.4 : Mô hình Tổ chức chuyên trách quản lý dự án
Tuy nhiên, mô hình tổ chức dạng chuyên trách quản lý dự án cũng có những nhược điểm sau:
- Khi doanh nghiệp hay chủ đầu tư thực hiện đồng thời nhiều dự án ở những địa bàn khác nhau và phải đảm bảo đủ số lượng cán bộ cần thiết cho từng dự án thì có thể dẫn đến tình trạng lãng phí nhân lực
- Do yêu cầu phải hoàn thành tốt mục tiêu về hoàn thiện, thời gian, chi phí của dự án nên các ban quản lý dự án có xu hướng tuyển hoặc thuê các chuyên gia giỏi trong từng lĩnh vực, thường là vì nhu cầu dự phòng hơn là do nhu cầu thực của hoạt động quản lý dự án
GIÁM ĐỐC
BAN QUẢ LÝ DỰ ÁN
PHÒNG HÀNH CHÍNH
PHÒNG KHÁC …
Trang 251.2.4 Chu kỳ của dự án đầu tư
Chu kỳ của dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án phải trải qua bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án được hoàn thành chấm dứt hoạt động
Hình 1.5 Chu kỳ của dự án đầu tư
Quá trình hình thành và thực hiện một dự án đầu tư trải qua 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư
LË
Nghiªn cøu c¬
héiNghiªn cøu kh¶ thi
LẬP
DỰ
ÁN ĐẦU
TƯ
Nghiên cứu tiền khả thi
Nghiên cứu
Cơ hội
Nghiên cứu khả thi
KHAI THÁC, VẬN HÀNH
Vận hành, khai thác
Đánh giá sau dự án
Kết thúc dự án
Xây dựng
Trang 26Nội dung các bước công việc của mỗi giai đoạn của các dự án không giống nhau, tuỳ thuộc vào lĩnh vực đầu tư (sản xuất kinh doanh hay kết cấu hạ tầng, sản xuất công nghiệp hay nông nghiệp …), vào tính chất tái sản xuất (đầu tư chiều rộng hay chiều sâu), đầu tư dài hạn hay ngắn hạn, …
Các bước công việc, các nội dung nghiên cứu ở các giai đoạn được tiến hành tuần tự nhưng không biệt lập mà đan xen gối đầu cho nhau, bổ sung cho nhau nhằm nâng cao dần mức độ chính xác của các kết quả nghiên cứu và tạo thuận lợi cho việc tiến hành nghiên cứu ở các bước kế tiếp
Trong 3 giai đoạn trên đây, giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại ở 2 giai đoạn sau, đặc biệt là ở giai đoạn vận hành kết quả đầu tư Do đó, đối với giai đoạn chuẩn bị đầu tư, vấn
đề chất lượng, vấn đề chính xác của các kết quả nghiên cứu, tính toán và dự đoán là quan trọng nhất Trong quá trình soạn thảo dự án phải dành đủ thời gian và chi phí theo đòi hỏi của các nghiên cứu
Tổng chi phí cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư chiếm từ 0,5 – 15% vốn đầu
tư của dự án Làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư sẽ tạo tiền đề cho việc sử dụng tốt 85 - 99,5% vốn đầu tư của dự án ở giai đoạn thực hiện đầu tư (đúng tiến
độ, không phải phá đi làm lại, tránh được những chi phí không cần thiết khác
…) điều này cũng tạo cơ sở cho quá trình hoạt động của dự án thuận lợi, nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư và có lãi (đối với các dự án sản xuất kinh doanh), nhanh chóng phát huy hết năng lực phục vụ dự kiến (đối với các dự
án xây dựng kết cấu hạ tầng và dịch vụ xã hội)
Trong giai đoạn 2, vấn đề thời gian là quan trọng hơn cả Ở giai đoạn này, 85 - 99,5% vốn đầu tư của dự án được chi ra và nằm khê đọng trong suốt những năm thực hiện đầu tư Đây là những năm vốn không sinh lời Thời gian thực hiện đầu tư càng kéo dài, vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất càng lớn Lại thêm những tổn thất do thời tiết gây ra đối với vật tư, thiết bị chưa hoặc đang
Trang 27được thi công, đối với các công trình đang được xây dựng dở dang
Đến lượt mình, thời gian thực hiện đầu tư lại phụ thuộc nhiều vào chất lượng công tác chuẩn bị đầu tư, vào việc quản lý quá trình thực hiện đầu tư, quản lý việc thực hiện những hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến các kết quả của quá trình thực hiện đầu tư đã được xem xét trong dự án đầu tư
Giai đoạn 3, vận hành các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư (giai đoạn sản xuất kinh doanh dịch vụ) nhằm đạt được các mục tiêu của dự án Nếu các kết quả do giai đoạn thực hiện đầu tư tạo ra đảm bảo tính đồng bộ, giá thành thấp, chất lượng tốt, đúng tiến độ, tại địa điểm thích hợp, với quy
mô tối ưu thì hiệu quả hoạt động của các kết quả này và mục tiêu của dự án chỉ còn phụ thuộc trực tiếp vào quá trình tổ chức quản lý hoạt động của các kết quả đầu tư Làm tốt công tác của giai đoạn chuẩn bị đầu tư và thực hiện đầu tư thuận lợi cho quá trình tổ chức quản lý phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư Thời gian phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư chính là vòng đời (kinh tế) của dự án, nó gắn với đời sống sản phẩm (do dự án tạo ra)
1.2.4.1 Nghiên cứu cơ hội đầu tư (Nhận dạng dự án, xác định dự án)
Mục đích của bước nghiên cứu này là xác định một cách nhanh chóng, nhưng ít tốn kém về các cơ hội đầu tư
Nội dung của việc nghiên cứu là xem xét các nhu cầu và khả năng cho việc tiến hành các công cuộc đầu tư, các kết quả và hiệu quả sẽ đạt được nếu thực hiện đầu tư
Đây là những ý tưởng ban đầu được hình thành trên cơ sở cảm tính trực quan của nhà đầu tư hoặc trên cơ sở quy hoạch định hướng của vùng, của khu vực hay của quốc gia, quy hoạch tổng thể phát triển ngành Thường giai đoạn này kết thúc bằng một kế hoạch mang tính chất chỉ đạo về hướng đầu tư và hình thành tổ chức nghiên cứu
Cần phân biệt 2 loại cơ hội đầu tư tuỳ thuộc vào phạm vi phát huy tác
Trang 28dụng của các kết quả đầu tư và phân cấp quản lý đầu tư Đó là:
+ Cơ hội đầu tư chung cho đất nước, cho địa phương, cho ngành kinh
tế - kỹ thuật hoặc cho một loại tài nguyên thiên nhiên của đất nước Chẳng hạn như cơ hội đầu tư phát triển du lịch của nước ta; cơ hội đầu tư để khai thác dầu mỏ và khí đốt của nước ta, cơ hội đầu tư trồng và chế biến các sản phẩm từ cà phê của các tỉnh khu vực Tây Nguyên nước ta …
Đối với loại cơ hội đầu tư này, thường có nhiều dự án Chẳng hạn các
dự án đầu tư cơ sở hạ tầng cho các khu du lịch, xây dựng khách sạn để thu hút khách du lịch …
+ Cơ hội đầu tư cụ thể cho các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ Trong trường hợp này, mỗi cơ hội đầu tư thường sẽ có một dự án đầu tư
Khi nghiên cứu để phát hiện các cơ hội đầu tư phải xuất phát từ những căn cứ sau đây:
- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hoặc chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ của ngành, của cơ sở Đây là những định hướng lâu dài cho sự phát triển của đất nước và của các cơ sở Mọi công cuộc đầu tư không xuất phát từ những căn cứ này sẽ không có tương lai và tất nhiên sẽ không được chấp nhận
- Nhu cầu trong nước và trên thế giới về những mặt hàng hoặc những hoạt động dịch vụ cụ thể Đây là nhân tố quyết định sự hình thành và hoạt động của các dự án đầu tư Không có nhu cầu thì sự hoạt động của các dự án không để làm gì mà chỉ dẫn đến sự lãng phí tiền của và công sức xã hội, ảnh hưởng không tốt đến sự hình thành và hoạt động của các dự án có nhu cầu Nhu cầu ở đây trong điều kiện nền kinh tế mở, bao gồm cả nhu cầu trong nước và nhu cầu thế giới, trong đó nhu cầu trong phạm vi thế giới lớn hơn rất nhiều so với nhu cầu trong nước Trong hoạt động đầu tư luôn chú ý tận dụng mọi cơ hội để tham gia vào phân công lao động quốc tế, để có thị trường ở
Trang 29nước ngoài
- Tình hình cung cấp những mặt hàng hoặc hoạt động dịch vụ trên đây
ở trong nước và trên thế giới còn chỗ trống cho để dự án chiếm lĩnh trong một thời gian dài Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là điều tất nhiên Tuy nhiên, ở những lĩnh vực hoạt động cung chưa đáp ứng cầu thì sự cạnh tranh trong tiêu thụ sản phẩm và tiến hành các hoạt động dịch vụ không
là vấn đề phải quan tâm nhiều Do đó, tìm chỗ trống trên thị trường để tiến hành các hoạt động đầu tư sẽ đảm bảo khả năng tiêu thụ sản phẩm không gặp phải sự cạnh tranh gay gắt với các cơ sở khác Điều này cho phép giảm chi phí tiêu thụ sản phẩm, tăng năng suất lao động, nhanh chóng thu hồi đủ vốn
đã bỏ ra
Một điều cần lưu ý là do vốn chi cho một công cuộc đầu tư phát triển thường rất lớn, các thành quả của công cuộc đầu tư cần và phải hoạt động trong một thời gian dài mới thu hồi đủ vốn đã bỏ ra Vì vậy, “chỗ trống” trong thị trường tiêu thụ sản phẩm của dự án đầu tư cũng phải tồn tại trong một thời gian dài đủ để dự án hoạt động hết đời và chủ đầu tư tiêu thụ hết sản phẩm của dự án
- Tiềm năng sẵn có cần và có thể khai thác về vốn, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động để thực hiện dự án của đất nước, của địa phương, của ngành, hoặc của các cơ sở Những lợi thế so sánh nếu thực hiện đầu tư so với nước khác, địa phương khác hoặc cơ sở khác
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, có lợi thế so sánh sẽ đảm bảo khả năng thắng đối thủ cạnh tranh rất nhiều Vì vậy, khi dự kiến tiến hành các công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận, không thể không chú ý đến vấn đề lợi thế so sánh Nếu tự nó không có lợi thế so sánh (tài nguyên thuộc loại khan hiếm, lao động vào loại có giá rẻ, vị trí rất thuận lợi
Trang 30cho tiêu thụ sản phẩm …) thì phải dự kiến phương án tạo ra lợi thế so sánh như đầu tư sang các nước khác có nhiều lợi thế so sánh hơn trong nước hoặc
ở nước dự kiến ban đầu sẽ đầu tư (không bị đánh thuế xuất khẩu hàng hoá của
dự án, nhập khẩu thiết bị của dự án - chứ không phải để bán kiếm lời - khai thác tài nguyên khan hiếm …) hoặc đề ra các biện pháp để tạo lợi thế so sánh như sử dụng vật liệu mới, vật liệu khai thác tại chỗ để giảm chi phí đầu vào, tận dụng lao động dư thừa giá rẻ của địa phương (một phần hoặc toàn bộ thời gian lao động của họ) để khai thác nguyên vật liệu tại chỗ vừa làm giảm chi phí công nhân vừa giảm chi phí vận chuyển các đầu vào thường xuyên
- Những kết quả và hiệu quả sẽ đạt được nếu thực hiện đầu tư Đây là tiêu chuẩn tổng hợp để đánh giá tính khả thi của toàn bộ dự án đầu tư Những kết quả và hiệu quả này phải lớn hơn hoặc chí ít cũng phải bằng nếu đầu tư vào dự án khác hoặc bằng định mức thì cơ hội đầu tư mới được chấp nhận để chuyển tiếp sang giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi hoặc khả thi
1.2.4.2 Nghiên cứu tiền khả thi
Đây là bước nghiên cứu tiếp theo của các cơ hội đầu tư có nhiều triển vọng đã được lựa chọn có quy mô đầu tư lớn, phức tạp về mặt kỹ thuật, thời gian thu hồi vốn lâu, có nhiều yếu tố bất định tác động Bước này nghiên cứu sâu hơn các khía cạnh mà khi xem xét cơ hội đầu tư còn thấy phân vân chưa chắc chắn, nhằm tiếp tục lựa chọn, sàng lọc các cơ hội đầu tư (đã được xác định ở cấp độ ngành, vùng hoặc cả nước) hoặc để khẳng định lại cơ hội đầu tư
đã được lựa chọn có đảm bảo tính khả thi hay không
Đối với các cơ hội đầu tư quy mô nhỏ, không phức tạp về mặt kỹ thuật
và triển vọng đem lại hiệu quả rõ ràng thì có thể bỏ qua giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi
Nội dung nghiên cứu tiền khả thi bao gồm các vấn đề sau đây:
+ Các bối cảnh chung về kinh tế, xã hội, pháp luật có ảnh hưởng đến dự án
Trang 31+ Nghiên cứu thị trường
+ Nghiên cứu kỹ thuật
+ Nghiên cứu về tổ chức và nhân sự
+ Nghiên cứu về tài chính
+ Nghiên cứu lợi ích kinh tế xã hội
Những nội dung này cũng được xem xét ở giai đoạn nghiên cứu khả thi sau này
Đặc điểm nghiên cứu các vấn đề trên ở giai đoạn này là chưa chi tiết, xem xét ở trạng thái tĩnh, ở mức trung bình mọi đầu vào, đầu ra, mọi khía cạnh kỹ thuật, tài chính kinh tế của cơ hội đầu tư và toàn bộ quá trình thực hiện đầu tư vận hành kết quả đầu tư Do đó độ chính xác chưa cao
Đối với các khoản chi phí nhỏ có thể tính nhanh chóng Chẳng hạn dự tính vốn lưu động cho một chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp bằng cách chia tổng doanh thu bình quân năm cho số chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp trong năm Đối với chi phí bảo hiểm, thuế: ước tính theo tỷ lệ phần trăm so với doanh thu, chi phí lắp đặt thiết bị: ước tính theo tỷ lệ phần trăm so với giá trị công trình hoặc thiết bị (các tỷ lệ này khác nhau đối với các dự án khác nhau) Đối với các chi phí đầu tư lớn như giá trị công trình xây dựng, giá trị thiết bị và công nghệ … phải tính toán chi tiết hơn
Sản phẩm cuối cùng của nghiên cứu tiền khả thi là luận chứng tiền khả thi Nội dung của luận chứng tiền khả thi bao gồm các vấn đề sau:
- Giới thiệu chung về cơ hội đầu tư theo các nội dung nghiên cứu tiền khả thi ở trên
- Chứng minh cơ hội đầu tư có nhiều triển vọng đến mức có thể quyết định cho đầu tư Các thông tin đưa ra để chứng minh phải đủ sức thuyết phục các nhà đầu tư
- Những khía cạnh gây khó khăn cho thực hiện đầu tư và vận hành các
Trang 32kết quả của đầu tư sau này đòi hỏi phải tổ chức nghiên cứu chức năng hoặc nghiên cứu hỗ trợ
Nội dung nghiên cứu hỗ trợ đối với các dự án khác nhau, thường khác nhau tuỳ thuộc vào những đặc điểm về mặt kỹ thuật của dự án, về nhu cầu thị trường đối với sản phẩm do dự án cung cấp, về tình hình phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật trong nước và trên thế giới Chẳng hạn đối với các dự án có quy mô sản xuất lớn thời hạn thu hồi vốn lâu, sản phẩm do dự án cung cấp sẽ phải cạnh tranh trên thị trường thì việc nghiên cứu hỗ trợ về thị trường tiêu thụ sản phẩm là rất cần thiết để từ đó khẳng định lại quy mô của dự án và thời gian hoạt động của dự án bao nhiêu là tối ưu, hoặc phải thực hiện các biện pháp tiếp thị ra sao để tiêu thụ hết sản phẩm của dự án và có lãi
Nghiên cứu thị trường đầu vào của các nguyên liệu cơ bản đặc biệt quan trọng đối với dự án phải sử dụng nguyên liệu với khối lượng lớn mà việc cung cấp có nhiều trở ngại như phụ thuộc vào nhập khẩu, hoặc đòi hỏi phải có nhiều thời gian (như trồng tre, nứa, gỗ để cung cấp nguyên liệu cho sản xuất giấy) và bị hạn chế bởi điều kiện tự nhiên (phải có đủ diện tích đất đai thích hợp cho việc trồng tre, nứa, gỗ trong ví dụ trên) Nghiên cứu quy mô kinh tế của dự án là một nội dung trong nghiên cứu hỗ trợ Có nghĩa là nghiên cứu các khía cạnh của dự án về mặt kinh tế, tài chính, kỹ thuật, quản lý, từ đó lựa chọn các quy mô thích hợp nhất để đảm bảo cuối cùng đem lại hiệu quả kinh
tế tài chính cao nhất cho chủ đầu tư và cho đất nước
Nghiên cứu hỗ trợ vị trí thực hiện dự án đặc biệt quan trọng đối với các
dự án có chi phí vận chuyển đầu vào và đầu ra lớn (kể cả hao hụt tổn thất trong quá trình vận chuyển) Nhiệm vụ của nghiên cứu hỗ trợ ở đây là nhằm xác định được vị trí thích hợp nhất về mặt địa lý vừa đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật trong hoạt động, vừa đảm bảo chi phí vận chuyển là thấp nhất
Nghiên cứu hỗ trợ để lựa chọn công nghệ, trang thiết bị được tiến hành
Trang 33đối với các dự án đầu tư có chi phí đầu tư cho công nghệ và trang thiết bị là lớn, mà công nghệ và trang thiết bị này lại có nhiều nguồn cung cấp với giá cả khác nhau, các thông số kỹ thuật (công suất, tuổi thọ …), thông số kinh tế (chi phí sản xuất, chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, giá cả sản phẩm có thể bán được) khác nhau
Các nghiên cứu hỗ trợ có thể được tiến hành song song với nghiên cứu khả thi, và cũng có thể tiến hành sau nghiên cứu khả thi tuỳ thuộc thời điểm phát hiện các khía cạnh cần phải tổ chức nghiên cứu sâu hơn Chi phí cho nghiên cứu hỗ trợ nằm trong chi phí nghiên cứu khả thi
1.2.4.3 Nghiên cứu khả thi
Đây là bước sàng lọc lần cuối để lựa chọn được dự án tối ưu Ở giai đoạn này phải khẳng định cơ hội đầu tư có khả thi hay không? Có vững chắc,
có hiệu quả hay không?
Ở bước nghiên cứu này, nội dung nghiên cứu cũng tương tự như giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi, nhưng khác nhau ở mức độ chi tiết hơn, chính xác hơn Mọi khía cạnh nghiên cứu đều được xem xét ở trạng thái động, tức
là có tính đến các yếu tố bất định có thể xảy ra theo từng nội dung nghiên cứu Xem xét sự vững chắc hay không của dự án trong điều kiện có sự tác động của các yếu tố bất định, hoặc cần có các biện pháp tác động gì để đảm bảo cho dự án có hiệu quả
Tất cả ba giai đoạn nghiên cứu nói trên phải được tiến hành đối với các
dự kiến đầu tư lớn nhằm đảm bảo từng bước phân tích sâu hơn, đầy đủ và chi tiết hơn, phát hiện và khắc phục dần những sai sót ở các giai đoạn nghiên cứu trước thông qua việc tính toán lại, đối chiếu các dữ kiện, các thông số, thông tin thu thập được qua mỗi giai đoạn Điều này sẽ đảm bảo cho các kết quả nghiên cứu khả thi đạt được độ chính xác cao
Đối với dự án đầu tư nhỏ, quá trình nghiên cứu có thể gom lại làm một bước
Trang 34Bản chất, mục đích và công dụng của nghiên cứu khả thi
- Bản chất của nghiên cứu khả thi
Xét về mặt hình thức, tài liệu nghiên cứu khả thi là một tập hồ sơ trình bày một cách chi tiết và có hệ thống tính vững chắc, hiện thực của một hoạt động sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội theo các khía cạnh thị trường, kỹ thuật, tài chính, tổ chức quản lý và kinh tế xã hội
Ở Việt Nam, nghiên cứu khả thi thường được gọi là lập luận chứng kinh tế kỹ thuật Nghiên cứu khả thi được tiến hành dựa vào kết quả của các nghiên cứu cơ hội đầu tư và nghiên cứu tiền khả thi đã được cấp có thẩm quyền chấp nhận Ở giai đoạn nghiên cứu khả thi, dự án được soạn thảo kỹ lưỡng hơn, đảm bảo cho mọi dự đoán, mọi tính toán đạt được ở mức độ chính xác cao trước khi được đưa ra để các cơ quan kế hoạch, tài chính, ngân hàng, các định chế tài chính quốc tế thẩm định
- Mục đích của nghiên cứu khả thi
Như phần trên đã đề cập, quá trình nghiên cứu khả thi được tiến hành qua 3 giai đoạn Giai đoạn nghiên cứu cơ hội đầu tư nhằm loại bỏ ngay những
dự kiến rõ ràng không khả thi mặc dù không cần đi sâu vào chi tiết Tính không khả thi này được chứng minh bằng các số liệu thống kê, các tài liệu thông tin kinh tế dễ tìm Điều đó giúp cho tiết kiệm được thời giờ, chi phí của các nghiên cứu kế tiếp
Việc nghiên cứu tiền khả thi nhằm loại bỏ các dự án bấp bênh (về thị trường, về kỹ thuật), những dự án mà kinh phí đầu tư quá lớn, mức sinh lời nhỏ, hoặc không thuộc loại ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội hoặc chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh Nhờ đó các chủ đầu tư có thể loại bỏ hẳn dự án để khỏi tốn thời gian và kinh phí, hoặc tạm xếp dự án lại chờ cơ hội thuận lợi hơn
Còn việc nghiên cứu khả thi là xem xét lần cuối cùng nhằm đi đến những kết luận xác đáng về mọi vấn đề cơ bản của dự án bằng các số liệu đã
Trang 35được tính toán cẩn thận, chi tiết, các đề án kinh tế - kỹ thuật, các lịch biểu và tiến độ thực hiện dự án trước khi quyết định đầu tư chính thức
Như vậy, nghiên cứu khả thi là một trong những công cụ thực hiện kế hoạch kinh tế của ngành, của địa phương và của cả nước, để biến kế hoạch thành hành động cụ thể và đem lại lợi ích kinh tế xã hội cho đất nước, lợi ích tài chính cho nhà đầu tư
1.2.4.4 Thực hiện dự án
Thực hiện dự án là giai đoạn biến các dự án đầu tư thành hiện thực nhằm đưa dự án vào hoạt động trong thực tế của đời sống kinh tế xã hội Giai đoạn này bao gồm một loạt các quá trình kế tiếp hoặc xen kẽ nhau từ khi thiết
kế đến khi đưa dự án vào vận hành khai thác
Thực hiện dự án là giai đoạn hết sức quan trọng, có liên quan chặt chẽ với việc đảm bảo chất lượng và tiến độ thực hiện dự án và sau đó là hiệu quả đầu tư
1.2.4.5 Vận hành (sử dụng, khai thác …) dự án
Giai đoạn này được xác định từ khi chính thức đưa dự án vào vận hành khai thác cho đến khi kết thúc dự án Đây là giai đoạn thực hiện các hoạt động theo chức năng của dự án và quản lý các hoạt động đó theo các
kế hoạch đã dự tính
1.2.4.6 Đánh giá sau khi thực hiện dự án
Thực chất đây là việc phân tích, đánh giá các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của dự án trong giai đoạn vận hành, khai thác Phân tích, đánh giá dự án trong giai đoạn này nhằm:
- Hiệu chỉnh các thông số kinh tế - kỹ thuật để đảm bảo mức đã được
dự kiến trong Nghiên cứu khả thi
- Tìm kiếm cơ hội phát triển, mở rộng dự án hoặc điều chỉnh các yếu tố của dự án cho phù hợp với tình hình thực tế để đảm bảo hiệu quả dự án Dựa vào các kết quả phân tích, đánh giá quá trình vận hành, khai thác dự án để có
Trang 36quyết định đúng đắn về sự cần thiết kéo dài hoặc chấm dứt thời hạn hoạt động của dự án
1.2.4.7 Kết thúc dự án
Tiến hành các công việc cần thiết để chấm dứt hoạt động của dự án (thanh toán công nợ, thanh lý tài sản và hoàn thành các thủ tục pháp lý khác)
Công dụng của các dự án đầu tư:
- Đối với nhà nước và các định chế tài chính thì dự án đầu tư là cơ sở
để thẩm định và ra quyết định đầu tư, quyết định tài trợ cho dự án đó
- Đối với chủ đầu tư thì dự án đầu tư là cơ sở để:
+ Xin phép được đầu tư (hoặc được ghi vào kế hoạch đầu tư) và giấy phép hoạt động
+ Xin phép được nhập khẩu vật tư, máy móc thiết bị
+ Xin hưởng các khoản ưu đãi (nếu dự án thuộc diện ưu tiên) về đầu tư + Xin gia nhập các khu chế xuất, khu công nghiệp, cụm công nghiệp + Xin vay vốn của các định chế tài chính trong và ngoài nước
+ Kêu gọi góp vốn hoặc phát hành cổ phiếu, trái phiếu
1.3 ĐẶC ĐIỂM DỰ ÁN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỦA NGÁNH ĐIỆN
1.3.1 Hoạt động sản xuất kinh doanh điện năng
Điện năng là một loại hàng hóa đặc thù, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, đời sống xã hội, nhất là trong điều kiện hiện nay Nhà nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đại hội đảng lần thứ IX đã khẳng định “ Phát triển năng lượng đi trước một bước đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an toàn năng lượng quốc gia; sử dụng tốt các nguồn thủy năng ( kết hợp với thủy lợi), khí
và than để phát triển cân đối nguồn điện…; đồng bộ hóa mạng lưới phân phối điện quốc gia; đa dạng hóa phương thức đầu tư và kinh doanh điện; có chính
Trang 37sách thích hợp về sử dụng điện ở nông thôn, miền núi; tăng cường cạnh tranh
về giá điện so với khu vực”
Việc đầu tư nhà máy điện-lưới điện, sản xuất điện năng, đưa điện năng vào sử dụng trong sản xuất và đời sống được thực hiện thông qua hoạt động điện lực, do các hoạt động điện lực có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong một hệ thống điện thống nhất nên mang tính độc quyền tự nhiên trong một phạm vi và trên địa bàn nhất định Hoạt động điện lực là hoạt động của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực quy hoạch, đầu tư phát triển điện lực, phát điện, truyền tải điện, phân phối điện, điều độ hệ thống điện, điều hành giao dịch thị trường điện lực, bán buôn điện, bán lẻ điện, tư vấn chuyên ngành điện lực và các hoạt động khác có liên quan
1.3.2 Đặc điểm quy hoạch và đầu tư phát triển điện lực
1.3.2.1 Quy hoạch phát triển điện lực
Ngành điện lực là một trong những ngành có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Việc xây dựng quy hoạch phát triển điện lực phải căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế-xã hội và các quy hoạch ngành
Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia được lập trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia được lập cho từng giai đoạn 10 năm và có định hướng cho 10 năm tiếp theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia do Bộ công nghiệp tổ chức lập và trình thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Quy hoạch phát triển điện lực địa phương (tỉnh, thành phố) được lập trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương và phải phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực quốc gia và các quy hoạch khác có liên quan Quy hoạch phát triển điện lực địa phương được lập cho từng giai đoạn 5 năm và có định hướng cho 5 năm tiếp theo Quy hoạch phát triển điện lực địa phương do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức lập, trình Bộ trưởng Bộ Công nghiệp phê duyệt
Trang 381.3.2.2 Đầu tư phát triển điện lực
Đầu tư phát triển điện lực phải phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực, các dự án đầu tư chưa có trong quy hoạch phát triển điện lực chỉ được thực hiện khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch cho phép Các dự
án điện lực phải thực hiện đúng các quy định pháp luật về đầu tư, xây dựng và bảo vệ môi trường
Công trình điện lực là tổ hợp các phương tiên, máy móc, thiết bị, kết cấu xây dựng phục vụ trực tiếp cho hoạt động phát triển điện, truyền tải điện, phân phối điện, điều độ hệ thống điện, mua bán điện, hệ thống bảo vệ công trình điện lực, hành lang bảo vệ an toàn lưới điện, đất sử dụng cho các công trình điện lực và các công trình phụ trợ khác Việc đầu tư và xây dựng các công trình điện lực thường sử dụng diện tích đất lơn, cần phải giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư v v…
Ngành điện thuộc ngành cơ sở hạ tầng, vì vậy các dự án đầu tư xây dựng mang các đặc trưng:
- Liên quan và ảnh hưởng tới tài nguyên, môi trường ( đất đai, nguồn nước, khoáng sản,….) và sự phát triển của các ngành khác ( khai thác than, dầu khí, xây dựng…)
-Vốn đầu tư lớn: bình quân dự án đầu tư 4,5- 5 tỷ USD/năm cho nguồn
và lưới điện Với năng lực hiện có của ngành điện không thể đảm bảo nhu cầu vốn đầu tư lớn như vậy Do đó chỉ có thể đáp ứng bằng các nguồn vốn khác nhau như: Vốn ngân sách, vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp thuộc EVN, vốn vay các tổ chức tài chính (WB, ADB, AFD, JIBIC,…) Việc vay vốn thực hiện dự án cũng tạo ra áp lực trả nợ ( cả gốc và lãi ) cho chủ nợ Điều này buộc các doanh nghiệp ngành điện phải không ngừng nâng cao hiệu quả mọi mặt ( hiệu quả trong đầu tư xây dựng, hiệu quả trong sản xuất kinh doanh-khai thác các công trình đã đầu tư…)
Trang 39-Thời gian chuẩn bị đầu tư và xây dựng công trình thường dài, đặc biệt
là các công trình thủy điện lớn Thời gian này dao động rất lớn, phụ thuộc nguồn phát và quy mô Thời gian này đối với các công trình thủy điện có thể lên đến hàng chục năm, ví dụ với Hòa Bình, Sơn La; nhưng cũng có thể dưới
5 năm với các công trình nhiệt điện Tuabin khí
-Tính đồng bộ trong việc phát triển nguồn điện và lưới điện Quy hoạch phát triển lưới điện quốc gia với mục tiêu đặc trưng là đảm bảo sự phát triển hài hòa của một hệ thống điện, đảm bảo đồng bộ giữa phát triển nguồn và khả năng truyền tải tới các trung tâm phụ tải một cách tin cậy, hiệu quả Các nhà máy không thể phát huy tác dụng nếu xây dựng xong nhà máy mà không có đường dây truyền tải tương ứng, hay lưới phân phối không được cải tạo, nâng cấp kịp thời Chính vì lý do đó cần có một cơ cấu phân bổ vốn đầu tư hợp lý giữa các công trình nguồn điện và lưới điện
Hình 1.6: Sơ đồ phân loại các dự án nguồn và lưới điện
TỔNG SƠ ĐỒ PHÁT TRIỂN ĐIỆN
THỦY
ĐIỆN
NHIỆT ĐIỆN
ĐIỆN NGUYÊN
TỬ
TRUYỀN TẢI
PHÂN PHỐI
ĐIỆN TÁI TẠO
Trang 401.4 HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phỏt triển là một khỏi niệm rất rộng và tổng hợp bao hàm ý nghĩa toàn diện về kinh tế, chớnh trị - xó hội
Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phỏt triển là mối quan hệ so sỏnh giữa cỏc lợi ớch trực tiếp và giỏn tiếp mà nền kinh tế xó hội thu được so với cỏc đúng gúp trực tiếp và giỏn tiếp mà nền kinh tế xó hội phải bỏ ra trong quỏ trỡnh thực hiện đầu tư
Cỏc lợi ớch ở đõy bao gồm lợi ớch mà nhà đầu tư, người lao động, địa phương và cả nền kinh tế được hưởng Những lợi ớch này cú thể được xem xột
về mặt định tớnh như sự đỏp ứng cỏc mục tiờu phỏt triển kinh tế xó hội, chống
ụ nhiễm mụi trường, mụi sinh … hoặc đo lường bằng cỏc tớnh toỏn định lượng như tăng trưởng GDP, tăng thu ngõn sỏch, mức tăng năng suất lao động
xó hội, mức tăng thu ngoại tệ, mức gia tăng số người cú việc làm …
Cũn cỏc chi phớ mà xó hội phải gỏnh chịu bao gồm chi phớ của nhà đầu
tư, của địa phương, ngành và đất nước là toàn bộ tài nguyờn thiờn nhiờn, của cải vật chất, sức lao động, mụi trường, mụi sinh mà xó hội phải bỏ ra trong quỏ trỡnh thực hiện đầu tư và khai thỏc sử dụng
Như vậy, hiệu quả kinh tế xó hội của việc sử dụng vốn đầu tư chớnh là kết quả so sỏnh giữa cỏi giỏ mà xó hội phải trả cho việc sử dụng cỏc nguồn lực sẵn cú của mỡnh và lợi ớch do hoạt động đầu tư phỏt triển tạo ra cho toàn
bộ nền kinh tế xó hội chứ khụng phải chỉ riờng cho một doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Khỏi niệm này được minh hoạ bằng cụng thức:
Hiệu quả sử dụng
vốn Đầu t− phát triển =
Các lợi ích do
Đầu t− mang lại
-Tổng chi phí để tạo ra lợi ích đó