Để có những thông tin đúng đắn, chính xác nhằm đánh giá, điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, đòi hỏi phải đánh giá đúng thực trạng về hoạt đ
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỦNG CỐ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN KINH DOANH KHÍ HÓA
LỎNG TẠI NAM ĐỊNH
TRẦN THỊ KIM YẾN Người hướng dẫn Luận văn: NGUYỄN ÁI ĐOÀN
Hà Nội, 2010
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế nước ta đã và đang có những chuyển biến mạnh mẽ Kinh tế thị trường dưới sự điều tiết của Nhà nước làm cho nền kinh tế cả nước nói chung và các doanh nghiệp, các tế bào của nền kinh tế quốc dân nói riêng có nhiều cơ hội phát triển mới Tuy nhiên nền kinh tế thị trường cũng đặt ra nhiều thách thức, khó khăn cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước Cạnh tranh để tìm kiếm thị trường (cả đầu vào lẫn đầu ra) nhu cầu về vốn, chất lượng sản phẩm…Do vậy các nhà quản lý doanh nghiệp phải hết sức linh hoạt trong quá trình tổ chức và quản lý để hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, doanh nghiệp có vị thế trong nền kinh tế thị trường
Để có những thông tin đúng đắn, chính xác nhằm đánh giá, điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, đòi hỏi phải đánh giá đúng thực trạng về hoạt động tài chính của doanh nghiệp, xác định nguyên nhân
và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố để từ đó tìm ra những biện pháp hữu hiệu và những quyết định cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đó là nhiệm vụ của việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra,
đối chiếu các số liệu giữa hiện tại và quá khứ, thông qua việc phân tích báo cáo tài chính cũng như để đánh giá đầy đủ, chính xác tình hình tổ chức phân phối sử dụng
và quản lý các loại vốn và nguồn vốn của doanh nghiệp, vạch rõ những khả năng tiềm tàng trong việc quản lý sử dụng vốn, đề xuất các biện pháp cần thiết và có hiệu lực để khai thác tới mức cao nhất những khả năng tiềm tàng đó Việc phân tích đầy
đủ, thường xuyên, kịp thời chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ giúp cho những người sử dụng thông tin đánh giá được tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro trong tương lai
Tổ chức tốt công tác phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp có tầm quan trọng để thực hiện tốt công tác quản lý kinh tế, điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao
Trang 3Từ những kiến thức đã học được trong nhà trường và nhận thức vai trò đặc biệt quan trọng của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Đây chính là lý do
Tôi đã chọn đề tài: “Phân tích và đề xuất một số giải pháp củng cố tình hình tài
chính của Công ty TNHH một thành viên kinh doanh khí hoá lỏng Nam Định”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Đánh giá được tình hình tài chính của Công ty TNHH một thành viên kinh doanh khí hoá lỏng Nam Định (chỉ ra ưu nhược điểm, nguyên nhân)
- Xây dựng một số giải pháp củng cố tình hình tài chính của Công ty TNHH một thành viên kinh doanh khí hoá lỏng Nam Định
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Trên cơ sở lý thuyết về tài chính và phân tích tài chính doanh nghiệp, luận văn tập trung đi vào nghiên cứu và phân tích các báo cáo tài chính của Công ty; phân tích hệ số an toàn, phân tích hiệu quả tài chính, phân tích các đòn bẩy tài chính của Công ty TNHH một thành viên kinh doanh khí hoá lỏng Nam Định trong 2 năm
2008 và 2009 (đã được kiểm toán)
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu các cách thức vận dụng quản lý tài chính áp dụng cho Công ty TNHH một thành viên kinh doanh khí hoá lỏng Nam Định trong lĩnh vực kinh doanh khí hoá lỏng, đưa ra các giải pháp để củng cố tình hình tài chính của Công ty
4 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng lý luận và phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử, kết hợp lịch sử với logic, kết hợp các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích
và tổng hợp, đồng thời kết hợp với tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn ở địa phương
để nghiên cứu, giải quyết vấn đề đặt ra của đề tài
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Luận văn được thực hiện với mong muốn hệ thống hoá và phát triển một số vấn đề lý luận về tài chính cũng như phân tích tài chính cho doanh nghiệp, nghiên
Trang 4cứu các đặc điểm mang tính đặc thù trong ngành kinh doanh khí hoá lỏng Trên cơ
sở đó, luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng, nêu ra được những ưu, nhược điểm, nguyên nhân của nó, những giải pháp để củng cố tình hình tài chính trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai của Công ty nói riêng, ngành kinh doanh khí hoá lỏng nói chung
Luận văn là một công trình nghiên cứu kết hợp lý luận với thực tiến về vấn
đề tài chính và thực hiện chiến lược kinh doanh cho công ty đến năm 2015 Tôi hy vọng luận văn sẽ trở thành một tài liệu hữu ích cho các nhà hoạch định chiến lược của công ty sau này
6 Kết cấu của luận văn:
Nội dung của luận văn gồm 3 phần cơ bản sau đây:
Phần I: Hệ thống cơ sở lý thuyết về tài chính và phân tích tài chính doanh
nghiệp
Phần II: Phân tích tình hình tài chính của Công ty TNHH một thành viên
kinh doanh khí hoá lỏng Nam Định
Phần III: Xây dựng một số giải pháp củng cố tình hình tài chính Công ty
TNHH một thành viên kinh doanh khí hoá lỏng Nam Định
Để hoàn thành luận văn này, Tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn đến các Thầy giáo, Cô giáo, các anh chị và bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ Tôi những kiến thức cần thiết cho công việc
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo – PGS.TS Nguyễn Ái Đoàn và các thầy cô trong Khoa Kinh tế và Quản lý, Viện Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
đã giúp đỡ Tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Với trình độ hiểu biết và thời gian nghiên cứu thực tế có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong muốn nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo để
đồ án của Tôi được hoàn thiện hơn
Học viên: Trần Thị Kim Yến
Trang 5CHƯƠNG 1: HỆ THỐNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ
TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1 Cơ sở lý luận chung về tài chính và phân tích tài chính
1.1.1 Về tài chính doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp
Ở bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh cũng phải
có một lượng vốn tiền tệ nhất định, đó là yếu tố quan trọng và cũng là tiền đề trong mọi hoạt động của doanh nghiệp Trong quá trình này đã phát sinh ra các luồng tiền
tệ gắn liền với hoạt động đầu tư và các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các luồng tiền này tạo nên sự vận động các luồng tài chính của doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống những quan hệ kinh tế biểu hiện bằng tiền dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và các nhu cầu chung của xã hội Hay nói cách khác tài chính doanh nghiệp
là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp Gắn với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị tức là quan hệ tài chính doanh nghiệp Các quan hệ đó là:
- Thứ nhất: Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà nước:
Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, khi nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp
- Thứ hai: Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính:
Quan hệ này được biểu hiện thông qua việc doanh nghiệp kiếm các nguồn tài trợ Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng vốn nhu cầu ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu và trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn Đồng thời, doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các tài trợ Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tư chứng khoán bằng
Trang 6số tiền tạm thời chưa sử dụng
- Thứ ba: Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các thị trường khác:
Trong nền kinh tế, doanh nghiệp có mối quan hệ với các doanh nghiệp khác trên thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường sức lao động Đây là thị trường mà tại
đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, tìm kiếm lao động…Điều quan trọng là thông qua thị trường, doanh nghiệp có thể xác định được nhu cầu hàng hóa và dịch vụ cần thiết cung ứng Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường
- Thứ tư: Quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp:
Các mối quan hệ này được thể hiện thông qua hàng loạt chính sách của doanh nghiệp như: chính sách tổ chức, chính sách tái đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí… Cụ thể là:
+ Quan hệ kinh tế giữa Doanh nghiệp với các Phòng ban, phân xưởng, tổ, đội sản xuất trong việc tạm ứng thanh toán
+ Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên trong quá trình phân phối thu nhập cho người lao động dưới hình thức tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt, lãi cổ phần
+ Quan hệ thanh toán, cấp phát và điều hoà vốn giữa các đơn vị trực thuộc trong nội bộ doanh nghiệp với Tổng Công ty
+ Những quan hệ trên một mặt phản ánh doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế độc lập, chiếm địa vị là một chủ thể trong quan hệ kinh tế, đồng thời phản ánh rõ nét mối liên hệ tài chính doanh nghiệp với các tổ chức
1.1.1.2 Nhiệm vụ, vai trò, chức năng tài chính doanh nghiệp
a Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp giúp nắm vững tình hình kiểm soát vốn sản xuất kinh doanh hiện có về mặt hiện vật và giá trị, nắm vững sự biến động vốn của từng khâu, từng thời gian của quá trình sản xuất để có biện pháp quản lý và điều chỉnh hiệu quả
Trang 7Tài chính doanh nghiệp giúp tổ chức khai thác và huy động kịp thời các nguồn vốn nhàn dỗi phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, không cho vốn bị ứ đọng và sử dụng vốn có hiệu quả Để thực hiện được điều này, tài chính doanh nghiệp phải thường xuyên giám sát và tổ chức sử dụng các nguồn vốn vay và tự có của doanh nghiệp, làm sao so với lượng vốn nhất định đó phải tạo ra một lượng lợi nhuận lớn dựa trên cơ sở sử dụng tối đa các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp
b Vai trò của tài chính trong doanh nghiệp
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp có các vai trò chủ yếu sau:
- Đảm bảo huy động đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp:
Để thực hiện mọi quá trình kinh doanh, trước hết các doanh nghiệp phải có vốn kinh doanh Vai trò của tài chính doanh nghiệp được thể hiện là xác định đúng đắn nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ Tiếp theo phải lựa chọn các phương pháp và hình thức huy động vốn thích hợp, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn để hoạt động của các doanh nghiệp được thực hiện một cách nhịp nhàng, liên tục với chi phí huy động vốn thấp nhất
- Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả:
Việc tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư, chọn ra dự án đầu tư tối ưu, lựa chọn và huy động nguồn vốn có lợi nhất cho hoạt động kinh doanh, bố trí cơ cấu vốn hợp lý, sử dụng các biện pháp để tăng nhanh vòng quay của vốn, nâng cao khả năng sinh lời của vốn kinh doanh
- Đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh:
Vai trò này của tài chính doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc tạo ra sức mua hợp lý để thu hút vốn đầu tư, lao động, vật tư, dịch vụ, đồng thời xác định giá bán hợp lý khi tiêu thụ hàng hóa, cung cấp dịch vụ và thông qua hoạt động phân phối thu nhập của doanh nghiệp, phân phối quỹ khen thưởng, quỹ lương, thực hiện
Trang 8các hợp đồng kinh tế…
- Giám sát, kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:
Tình hình tài chính của doanh nghiệp là một tấm gương phản ánh trung thực nhất mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua các chỉ tiêu tài chính
mà các nhà quản lý doanh nghiệp dễ dàng nhận thấy thực trạng quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những vướng mắc, tồn tại để từ đó đưa
ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nhằm đạt tới mục tiêu đã định
Vai trò của tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động trước hết
là phụ thuộc vào sự nhận thức và vận dụng các chức năng của tài chính, sau nữa còn phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, cơ chế tổ chức tài chính của doanh nghiệp và các nguyên tắc cần quán triệt trong mọi hoạt động tài chính doanh nghiệp
c Chức năng của tài chính doanh nghiệp
Cũng giống như các khâu tài chính khác, tài chính doanh nghiệp cũng có các chức năng khách quan đó là chức năng phân phối và chức năng giám đốc
- Chức năng phân phối: Chức năng phân phối là chức năng mà nhờ vào đó,
các nguồn tài lực đại diện cho những bộ phận của cải doanh nghiệp được đưa vào quỹ tiền tệ khác nhau để sử dụng cho những mục đích khác nhau Nhờ chức năng phân phối mà doanh nghiệp có khả năng động viên, khai thác và thu hút các nguồn tài chính trong nền kinh tế để hình thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp Sau khi
đã hình thành vốn kinh doanh, để sử dụng vốn, chức năng phân phối của vốn đồng nghĩa với việc đầu tư vốn: Đầu tư bên trong hay bên ngoài, lợi nhuận thu được là yếu tố quan trọng nhất, quyết định phương hướng và cách thức đầu tư của doanh nghiệp
- Chức năng giám đốc: Mục tiêu cuối cùng của mọi quá trình kinh doanh là
thu lợi nhuận, vì thế ngoài khả năng phân phối, tài chính doanh nghiệp còn có khả năng giám sát, dự báo hiệu quả của quá trình phân phối Chức năng giám đốc của tài chính là chức năng mà nhờ vào đó việc kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiện với quá trình vận động của các nguồn tài chính để tạo lập các quỹ tiền tệ hay sử
Trang 9dụng chúng theo các mục đích đã định
Chức năng giám đốc có khả năng phát hiện những khuyết tật trong khâu phân phối để từ đó điều chỉnh quá trình phân phối nhằm thực hiện phương hướng, mục tiêu, chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tuy nhiên, chức năng khách quan của tài chính doanh nghiệp phát huy đến mức nào lại phụ thuộc vào sự nhận thức một cách tự giác và hoạt động chủ quan của người quản lý trong khi sử dụng chức năng của tài chính Đó chính là vai trò của tài chính doanh nghiệp
1.1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá tài chính doanh nghiệp
Đánh giá tài chính doanh nghiệp gồm hai nhóm chỉ tiêu chủ yếu:
a Nhóm chỉ tiêu an toàn tài chính
Nhóm chỉ tiêu này thể hiện tình hình tài chính doanh nghiệp có an toàn hay không, do những nhân tố nào tác động Mức độ an toàn thể hiện ở ba hệ số: Hệ số tài trợ, hệ số quản lý nợ và hệ số thanh toán
- Hệ số tài trợ và hệ số quản lý nợ: Hai hệ số này cho biết doanh nghiệp có
đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không và tài sản cố định có được tài trợ một cách vững chắc bằng nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu hay không
- Hệ số thanh toán: Hệ số này nói lên khả năng đảm bảo trả được các khoản
nợ đến hạn bất cứ lúc nào Đây là những chỉ tiêu rất được nhiệu người quan tâm như nhà đầu tư, người cho vay, người cung cấp nguyên vật liệu… Họ luôn đặt ra câu hỏi: Hiện doanh nghiệp có khả năng trả các món nợ ngắn hạn hay không? Khi phân tích chỉ tiêu hệ số thanh toán của doanh nghiệp người ta thường phân tích các
hệ số sau:
+ Hệ số thanh toán hiện hành: Hệ số này được sử dụng để đo lường khả
năng trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp (nợ và các khoản phải trả) bằng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp như: tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho + Hệ số thanh toán nhanh: Là hệ số thể hiện liệu công ty có đủ tài sản ngắn
hạn để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán hàng tồn kho đi hay không
Trang 10+ Hệ số thanh toán tức thời: Hệ số này nói lên khả năng doanh nghiệp sử
dụng tiền mặt để thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả của doanh nghiệp
b Nhóm chỉ tiêu hiệu quả tài chính
Khi đầu tư vốn, các nhà đầu tư, người cho vay luôn luôn đặt ra câu hỏi: Tài sản của mình được sử dụng có hiệu quả hay không? Mức độ hiệu quả là bao nhiêu? Hay nói cách khác là họ rất quan tâm đến khả năng sinh lời trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Do vậy, để đánh giá tình hình tài chính của công ty, người ta phải tính toán được hiệu quả sử dụng tài sản Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng tài sản, nguồn lực của doanh nghiệp Bao gồm hai nhóm chỉ tiêu cụ thể: Nhóm chỉ tiêu hiệu quả hoạt động và nhóm chỉ tiêu hiệu quả tài chính
- Nhóm chỉ tiêu hiệu quả hoạt động:
+ Vòng quay tổng tài sản (VQTTS): Một đồng tài sản góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
+ Vòng quay tài sản ngắn hạn: Một đồng tài sản ngắn hạn góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Chỉ tiêu hiệu quả tài sản ngắn hạn có thể được đánh giá bởi hai chỉ tiêu:
• Vòng quay khoản phải thu (VQKPT): Thể hiện kỳ thu nợ các khoản bán chịu
• Vòng quay hàng tồn kho (VQHTK): Một đồng vốn đầu tư vào hàng tồn kho góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
+ Vòng quay tài sản dài hạn: Một đồng tài sản dài hạn góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
1.1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp
a Những yếu tố bên trong
Những yếu tố bên trong là những yếu tố mang tính chủ quan của các doanh nghiệp Có các yếu tố sau:
- Yếu tố con người:
Con người là yếu tố rất quan trọng, đó là những cán bộ quản lý và lực lượng lao động trong doanh nghiệp Cán bộ quản lý là những người cần nhận thức đầy đủ
Trang 11về tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp, những người có toàn quyền quản lý và sử dụng toàn bộ tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp và là người chịu trách nhiệm quyết định mọi vấn đề tài chính trong doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên viên đủ lớn, lực lượng cán bộ phân tích tài chính cần phải thường xuyên được nâng cao, đảm bảo cả về mặt số lượng và chất lượng
- Yếu tố về công nghệ sản xuất:
Việc nghiên cứu chính sách đầu tư của doanh nghiệp vào công cụ sản xuất cũng là điều rất cần thiết trong việc phân tích chiến lược, nhằm mục đích nghiên cứu và phát triển những chi tiết cho việc đầu tư và máy móc thiết bị, và các tài sản hữu hình là hoàn toàn cần thiết Ví dụ như khi doanh nghiệp đầu tư vào máy móc thiết bị, doanh nghiệp phải khấu hao từng phần trong nhiều năm, không cho phép khấu trừ toàn bộ chi phí ngay từ đầu năm Vậy, khi doanh nghiệp nhận thấy có sự giảm sút về các khoản khấu hao, cũng có nghĩa là tăng về kết quả kinh doanh, thì cần phải biết nguyên nhân vì sao, có phải do máy móc thiết bị đã lỗi thời, hoặc do doanh nghiệp không có dự án khả thi, dẫn đến nguy cơ suy giảm về sản xuất, giảm sút về năng lực cạnh tranh Do vậy, yếu tố công nghệ là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp
- Yếu tố về chiến lược kinh doanh:
Chiến lược kinh doanh được nói đến ở đây là cách phân chia những giới khách hàng khác nhau trong tổng doanh thu của nó Trên thực tế, một doanh nghiệp phải luôn phụ thuộc vào khách hàng và nhà cung cấp Nếu một khách hàng quen và luôn mua với số lượng nhiều nhưng chuyển sang mua của nhà cung cấp khác thì tình trạng gì sẽ xảy ra, như vậy doanh nghiệp phải chấp nhận những điều kiện ưu đãi hơn cho khách hàng này Tình hình này sẽ dẫn đến những khó khăn lâu dài về mặt tài chính Vì vậy, điều quan trọng với một doanh nghiệp là không nên tập trung quá vào một nhóm đối tượng khách hàng Mở rộng nhiều nhóm khách hàng tốt hơn
là tập trung vào một khách hàng lớn
Trang 12b Những yếu tố bên ngoài
- Yếu tố lạm phát:
Khi lạm phát tăng cao, việc huy động vốn của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn, lạm phát tăng cao, ngân hàng Nhà nước cũng phải thắt chặt tiền tệ để giảm khối lượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số ít khách hàng với những hợp đồng đã ký hoặc những dự án thực sự có hiệu quả, với mức độ rủi ro cho phép Như vậy, nếu lạm phát tăng cao có thể làm suy yếu, thậm chí phá
vỡ thị trường vốn, ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp
- Yếu tố lãi suất:
Lãi suất là biến số kinh tế nhạy cảm, sự thay đổi của lãi suất sẽ tác động làm thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dung của xã hội, về phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn các nước đã chứng minh, sự thay đổi lãi suất sẽ tác động đến sản lượng và giá cả, người ta thường phải đánh giá giá trị của các chi phí và các khoản thu lợi đó qua các đơn vị tiền tệ và chúng được gọi là chi phí và thu nhập Các
Trang 13khoản chi phí và thu nhập đó lại xảy ra ở các mốc thời gian khác nhau, do đó phải xét đến vấn đề thời giá của tiền tệ hay giá trị theo thời gian của đồng tiền, giá trị theo thời gian của tiền được biểu hiện qua tiền lãi, tiền lãi là giá cả mà người đi vay phải trả để sử dụng vốn vay trong khoảng thời gian nhất định hoặc là tiền thuê vốn
- Yếu tố tình hình phát triển kinh tế - xã hội:
Bao quanh doanh nghiệp là một môi trường kinh tế - xã hội phức tạp và luôn biến động, đó chính là thách thức đối với doanh nghiệp trong việc cạnh tranh
1.1.2 Phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm, mục tiêu và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp
a Khái niệm
Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và
so sánh số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi rao trong tương lai
b Mục tiêu
Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp là nhận dạng những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn về mặt tài chính của doanh nghiệp bao gồm các tiêu chí:
- An toàn tài chính (khả năng thanh khoản và khả năng quản lý nợ)
- Hiệu quả tài chính (khả năng sinh lợi và khả năng quản lý tài sản)
- Tổng hợp hiệu quả và rủi ro tài chính (đẳng thức Dupont)
Sau khi nhận dạng, tìm hiểu các tiêu chí đó của doanh nghiệp để có thể giải thích các nguyên nhân đứng sau thực trạng đó, đánh giá đúng các thực trạng và tiềm
Trang 14năng của doanh nghiệp để đưa ra các đề xuất, giải pháp cải thiện vị thế tài chính của doanh nghiệp nhằm giúp cho doanh nghiệp lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất
c Ý nghĩa
Tình hình tài chính doanh nghiệp được nhiều cá nhân, tổ chức quan tâm cũng như nhà quản lý doanh nghiệp, chủ sở hữu vốn, khách hàng , nhà đầu tư, các cơ quan quản lý chức năng…Tuy nhiên, mỗi cá nhân, tổ chức sẽ quan tâm ở những khía cạnh khác nhau khi phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Vì vậy, phân tích tình hình tài chính cũng sẽ có ý nghĩa khác nhau đối với từng cá nhân, tổ chức:
- Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp: Mối
quan tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Bên cạnh đó, các nhà quản trị doanh nghiệp còn quan tâm đến nhiều mục tiêu như: tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, cung cấp nhiều sản phẩm hàng hóa và dịch
vụ chi phí thấp, đóng góp phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường Tuy nhiên, một doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện được các mục tiêu này nếu đáp ứng được hai thử thách sống còn và hai mục tiêu cơ bản là kinh doanh có lãi và trả được nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục, rút cuộc sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa Mặt khác, nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng bị buộc ngừng hoạt động và đóng cửa Như vậy, hơn ai hết, các nhà quản trị doanh nghiệp
và các chủ doanh nghiệp cần có đủ thông tin và hiểu rõ doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua, thực hiện cân bằng tài chính, khả năng thanh toán, sinh lợi, rủi ro và dự đoán tình hình tài chính nhằm đề ra quyết định đúng
- Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng: Mối quan tâm
của họ hướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ đặc biệt chú ý tới số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh: từ
đó, so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp Ngoài ra, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm đến số lượng vốn chủ sở hữu, bởi vì số vốn chủ sở hữu này là khoản bảo hiểm cho
họ trong trường hợp công ty gặp rủi ro Không mấy ai sẵn sàng cho vay nếu các thông tin cho thấy người vay không bảo đảm chắc chắn rằng khoản vay đó sẽ được
Trang 15thanh toán khi đến hạn Người cho vay cũng quan tâm đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp vì nó là cơ sở của việc hoàn trả vốn và lãi vay dài hạn
- Đối với các nhà cung cấp vật tư, thiết bị, hàng hoá, dịch vụ: Họ phải biết
được khả năng thanh toán hiện tại và thời gian sắp tới của doanh nghiệp để quyết định xem có cho phép doanh nghiệp được mua chịu hàng, thanh toán chậm hay không
- Đối với các nhà đầu tư: Mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố như sự
rủi ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn…Vì vậy, họ cần những thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh
và các tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp Đồng thời, các nhà đầu tư cũng rất quan tâm tới việc điều hành hoạt động và tính hiệu quả của công tác quản lý Những điều đó nhằm đảm bảo sự an toàn và tính hiệu quả cao cho các nhà đầu tư
- Bên cạnh các chủ doanh nghiệp (chủ sở hữu), các nhà quản lý, các nhà đầu
tư, các chủ ngân hàng còn có nhiều nhóm người khác cũng quan tâm tới tình hình tài chính doanh nghiệp Đó là các cơ quan tài chính, thuế, chủ quan, các nhà phân tích tài chính, những người lao động…Những nhóm người này có nhu cầu thông tin
về cơ bản giống như các chủ ngân hàng, các nhà đầu tư, các chủ doanh nghiệp…bởi
vì nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến khách hàng hiện tại và tương lai của họ
1.1.2.2 Đối tượng của phân tích tài chính doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có các hoạt động trao đổi điều kiện và kết quả sản xuất thông qua những công cụ tài chính và vật chất Chính vì vậy, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải tham gia vào các mối quan hệ tài chính đa dạng và phức tạp Các quan hệ tài chính đó có thể chia thành các nhóm chủ yếu sau:
Thứ nhất: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và Nhà nước Quan hệ này
biểu hiện trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa Ngân sách Nhà nước với các doanh nghiệp thông qua các hình thức:
- Doanh nghiệp nộp các loại thuế vào ngân sách theo luật định
Trang 16- Nhà nước cấp vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp (DNNN) hoặc tham gia với tư cách người góp vốn (trong các doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp)
Thứ hai: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính và các
tổ chức tài chính Thể hiện cụ thể trong việc huy động các nguồn vốn dài hạn và ngắn hạn cho nhu cầu kinh doanh:
- Trên thị trường tiền tệ đề cập đến việc doanh nghiệp quan hệ với các ngân hàng, vay các khoản ngắn hạn, trả lãi và gốc đến hạn
- Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp huy động các nguồn vốn dài hạn bằng cách phát hành các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) cũng như việc trả các khoản lãi, hoặc doanh nghiệp gửi các khoản vốn nhàn rỗi vào ngân hàng hay mua chứng khoán của các doanh nghiệp khác
Thứ ba: Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác huy
động các yếu tố đầu vào (thị trường hàng hoá, dịch vụ lao động,…) và các quan hệ
để thực hiện tiêu thụ sản phẩm ở thị trường đầu ra (với các đại lý, các cơ quan xuất nhập khẩu, thương mại,…)
Thứ tư: Quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp Đó là các
khía cạnh tài chính liên quan đến vấn đề phân phối thu nhập và chính sách tài chính của doanh nghiệp như vấn đề cơ cấu tài chính, chính sách tái đầu tư, chính sách lợi tức cổ phần, sử dụng ngân quỹ nội bộ doanh nghiệp Trong mối quan hệ quản lý hiện nay, hoạt động tài chính của các DNNN có quan hệ chặt chẽ với hoạt động tài chính của cơ quan chủ quản là Tổng Công ty Mối quan hệ đó được thể hiện trong các quy định về tài chính như:
- Doanh nghiệp nhận và có trách nhiệm bảo toàn vốn của Nhà nước do Tổng Công ty giao
- Doanh nghiệp có nghĩa vụ đóng góp một phần quỹ khấu hao cơ bản và trích một phần lợi nhuận sau thuế vào quỹ tập trung của Tổng Công ty theo quy chế tài chính của Tổng Công ty và với những điều kiện nhất định
- Doanh nghiệp do Tổng Công ty vay quỹ khấu hao cơ bản và chịu sự điều hoà vốn trong Tổng Công ty theo những điều kiện ghi trong điều lệ của Tổng Công
Trang 17ty
Như vậy, đối tượng của phân tích tài chính, về thực chất là các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hình thành, phát triển và biến đổi vốn dưới các hình thức có liên quan trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.2.3 Tổ chức công tác phân tích tài chính
Quá trình tổ chức công tác phân tích tài chính được tiến hành tuỳ theo loại hình tổ chức kinh doanh ở các doanh nghiệp nhằm mục đích cung cấp, đáp ứng nhu cầu thông tin cho quá trình lập kế hoạch, công tác kiểm tra và ra quyết định Công tác tổ chức phân tích tài chính phải làm sao thoả mãn cao nhất cho nhu cầu thông tin của từng loại hình quản trị khác nhau
- Công tác phân tích tài chính có thể nằm ở một bộ phận riêng biệt đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của ban giám đốc và làm tham mưu cho giám đốc Theo hình thức này thì quá trình phân tích được thể hiện toàn bộ nội dung của hoạt động kinh doanh Kết quả phân tích sẽ cung cấp thông tin thường xuyên cho lãnh đạo trong doanh nghiệp Trên cơ sở này các thông tin qua phân tích được truyền từ trên xuống dưới theo chức năng quản lý và quá trình giám sát, kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh, chấn chỉnh đối với từng bộ phận của doanh nghiệp theo cơ cấu từ ban giám đốc đến các phòng ban
- Công tác phân tích tài chính được thực hiện ở nhiều bộ phận riêng biệt theo các chức năng của quản lý nhằm cung cấp thông tin và thoả mãn thông tin cho các
bộ phận của quản lý được phân quyền, cụ thể:
+ Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về chi phí, bộ phận này sẽ tổ chức thực hiện thu nhập thông tin và tiến hành phân tích tình hình biến động chi phí, giữa thực hiện so với định mức nhằm phát hiện chênh lệch chi phí cả về hai mặt động lượng và giá để từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp
+ Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về doanh thu (thường gọi là trung tâm kinh doanh), là bộ phận kinh doanh riêng biệt theo địa điểm hoặc một số sản phẩm nhóm hàng riêng biệt, do đó họ có quyền với bộ phận
Trang 18cấp dưới là bộ phận chi phí Ứng với bộ phận này thường là trưởng phòng kinh doanh, hoặc giám đốc kinh doanh tuỳ theo doanh nghiệp Bộ phận này sẽ tiến hành thu thập thông tin, tiến hành phân tích báo cáo thu nhập, đánh giá mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận làm cơ sở để đánh giá hoàn vốn trong kinh doanh và phân tích báo cáo nội bộ
1.1.2.4 Các loại hình phân tích tài chính
a Căn cứ theo thời điểm kinh doanh
Căn cứ theo thời điểm kinh doanh thì phân tích chia làm 3 hình thức:
- Phân tích trước khi kinh doanh: còn gọi là phân tích tương lai, nhằm dự
báo, dự toán cho các mục tiêu trong tương lai
- Phân tích trong khi kinh doanh: còn gọi là phân tích hiện tại (hay tác
nghiệp) là quá trình diễn ra cùng quá trình kinh doanh Hình thức này rất thích hợp cho chức năng kiểm tra thường xuyên nhằm điều chỉnh, chấn chỉnh những sai lệch lớn giữa kết quả thực hiện với mục tiêu đề ra
- Phân tích sau khi kinh doanh: là phân tích sau khi kết thúc quá trình kinh
doanh (hay phân tích quá khứ) Quá trình này nhằm định kỳ đánh giá kết quả giữa thực hiện so với kế hoạch hoặc định mức đề ra Từ kết quả phân tích cho ta nhận rõ tình hình thực hiện kế hoạch của các chỉ tiêu đề ra và làm căn cứ để xây dựng kế hoạch tiếp theo
b Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo
Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo, phân tích được chia làm phân tích thường xuyên và phân tích định kỳ
- Phân tích thường xuyên: được đặt ra ngay trong quá trình kinh doanh Kết
quả phân tích giúp phát hiện ra sai lệch, giúp doanh nghiệp đưa ra được các điều chỉnh kịp thời và thường xuyên trong quá trình hoạt động kinh doanh Tuy nhiên biện pháp này thường công phu và tốn kém
- Phân tích định kỳ: được đặt ra sau mỗi chu kỳ kinh doanh khi các báo cáo
đã được thành lập Phân tích định kỳ là phân tích sau quá trình kinh doanh, vì vậy kết quả phân tích nhằm đánh gái tình hình thực hiện kết quả hoạt động kinh doanh
Trang 19của từng kỳ và là cơ sở cho xây dựng kế hoạch kinh doanh kỳ sau
c Căn cứ theo nội dung phân tích
- Phân tích chỉ tiêu tổng hợp: là việc tổng kết tất cả các kết quả phân tích để
đưa ra một số chỉ tiêu tổng hợp nhằm đánh giá toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trong mối quan hệ nhân quả giữa chúng cũng như dưới tác động của các yếu
tố thuộc môi trường
Ví dụ: + Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả khối lượng, chất lượng sản xuất kinh doanh
+ Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả doanh thu và lợi nhuận
- Phân tích chuyên đề: còn được gọi là phân tích bộ phận, là việc tập trung
vào một số nhân tố của quá trình kinh doanh tác động, ảnh hưởng đến những chỉ tiêu tổng hợp
Ví dụ: + Các yếu tố về tình hình sử dụng lao động
+ Các yếu tố về sử dụng nguyên vật liệu
1.2 Phương pháp phân tích tài chính
1.2.1 Các bước trong quá trình tiến hành phân tích tài chính
1.2.1.1 Thu thập thông tin
Phân tích hoạt động tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán, đánh giá, lập kế hoạch Nó bao gồm với những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị… Trong đó các thông tin kế toán là quan trọng nhất, được phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, đó là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy, phân tích hoạt động tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp
1.2.1.2 Xử lý thông tin
Giai đoạn tiếp theo của phân tích hoạt động tài chính là quá trình xử lý thông tin đã thu thập Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên
Trang 20cứu, ứng dụng khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được nhằm phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định
1.2.1.3 Dự đoán và ra quyết định
Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra quyết định hoạt động kinh doanh Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích hoạt động tài chính nhằm đưa ra các quyết định liên quan tời mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng trưởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu Đối với cho vay và đầu tư vào doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định về tài trợ đầu tư Đối với cấp trên của doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định quản lý doanh nghiệp
1.2.1.4 Các thông tin cơ sở để phân tích hoạt động tài chính
Các thông tin cơ sở được dùng để phân tích hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp nói chung là các báo cáo tài chính, bao gồm:
a Bảng cân đối kế toán (CĐKT – Balance sheet)
Bảng cân đối kế toán là bảng tổng hợp – cân đối tổng thể phản ánh tổng hợp tình hình vốn kinh doanh của doanh nghiệp cả về tài sản và nguồn vốn ở một thời điểm nhất định Thời điểm quy định là ngày cuối cùng của kỳ báo cáo
Đây là một bản báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh và quan hệ quản lý với doanh nghiệp
Thông thường, bảng CĐKT được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán: Một bên phản ánh tài sản và một bên phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp
Các khoản mục trên bảng CĐKT được sắp xếp theo khả năng chuyển hoá thành tiền giảm dần từ trên xuống
Bên tài sản: Phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lập
báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp Đó là tài sản cố định và tài sản lưu động Tài sản lưu động (tiền và chứng khoán ngắn hạn dễ bán, các khoản
Trang 21phải thu, dự trữ); Tài sản tài chính; Tài sản cố định hữu hình và vô hình
Bên nguồn vốn: Phản ánh số vốn để hình thành các loại tài sản của doanh
nghiệp đến thời điểm lập báo cáo: Đó là vốn chủ sở hữu (vốn tự có) và các khoản
nợ Nợ ngắn hạn (nợ phải trả cho nhà cung cấp, các khoản phải nộp, phải trả khác,
nợ ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác); Nợ dài hạn (nợ
vay dài hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, vay bằng cách phát
hành trái phiếu); Vốn chủ sở hữu (thường bao gồm: Vốn góp ban đầu, lợi nhuận
không chia, phát hành cổ phiếu mới)
Về mặt kinh tế, bên tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài sản, bên nguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng như khả năng độc lập về tài chính của doanh nghiệp
Bên tài sản và nguồn vốn của bảng CĐKT đều có các cột chỉ tiêu: Số đầu kỳ,
số cuối kỳ Ngoài các khoản mục trong nội dung bảng còn có một số khoản mục ngoài bảng như: Một số tài sản thuê ngoài, vật tư, hàng hoá giữ hộ, nhận gia công, hàng hoá nhận bán hộ, ngoại tệ các loại…
Nhìn vào bảng CĐKT, nhà phân tích có thể nhận biết được loại hình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp Bảng CĐKT là một tư liệu quan trọng bậc nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá được khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp
b Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Income Statement)
Báo cáo “Kết quả hoạt động kinh doanh” là một báo cáo kế toán tài chính phản ánh tổng hợp doanh thu, chi phí và kết quả của các hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp Ngoài ra, báo cáo này còn phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước cũng như tình hình thuế GTGT được khấu trừ, được hoàn lại, được giảm và thuế giá trị gia tăng hàng bán nội địa trong một kỳ kế toán
Khác với bảng CĐKT, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cùng là báo cáo tài chính quan trọng cho nhiều đối tượng cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng
Trang 22là báo cáo tài chính quan trọng nhất cho nhiều đối tượng khác nhau nhằm phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Thông qua số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, có thể kiểm tra được tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước về các khoản thuế và các khoản phải nộp khác, đánh giá được xu hướng phát triển của doanh nghiệp qua các thời kỳ khác nhau
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm 3 phần:
- Phần phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau mỗi thời kỳ hoạt động (Phần I “Lãi, lỗ”) Phản ánh có nhiều chỉ tiêu liên quan đến doanh thu, chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh và các chỉ tiêu liên quan đến thu nhập, chi phí của từng hoạt động tài chính và các hoạt động bất thường cũng như toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các chỉ tiêu thuộc thành phần này đều được theo dõi chi tiết theo số quý trước, quý này và luỹ kế từ đầu năm
- Phần phản ánh trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước gồm các chỉ tiêu liên quan đến các loại thuế, các khoản phí và các khoản phải nộp khác (Phần II “Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước”) Các chỉ tiêu ở phần này cũng được chi tiết thành số còn phải nộp kỳ trước, số phải nộp kỳ này, số
đã nộp trong kỳ này và số còn phải nộp đến cuối kỳ này cùng với số phải nộp, số đã nộp luỹ kế từ đầu năm đến cuối kỳ báo cáo
- Phần phản ánh số thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, được giảm và thuế giá gia tăng hàng bán nội địa (Phần III “Thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, thuế GTGT được giảm, thuế GTGT hàng bán nội địa”) Phần này chi tiết các chỉ tiêu liên quan đến thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, đã khấu trừ, được hoàn lại, đã hoàn lại, được giảm, đã giảm và số thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ, còn được hoàn lại, còn được giảm cuối kỳ…
c Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
Trang 23Thông tin về lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp cung cấp cho người sử dụng thông tin có cơ sở để đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền và việc sử dụng khoản tiền đã tạo ra đó trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh là luồng tiền có liên quan đến các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp và các hoạt động khác không phải hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính, nó cung cấp thông tin cơ bản
để đánh giá khả năng tạo tiền của doanh nghiệp từ các hoạt động kinh doanh để trang trải các khoản nợ; duy trì các hoạt động, trả cổ tức và tiến hành các hoạt động đầu tư mới mà không cần đến các nguồn tài chính bên ngoài
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động đầu tư là luồng tiền có liên quan đến việc mua sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền, còn luồng tiền phát sinh từ hoạt động tài chính là luồng tiền có liên quan đến việc thay đổi về quy mô kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp
1.2.2 Phương pháp phân tích tài chính
Phương pháp phân tích tài chính là hệ thống các công cụ, biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các nguồn dịch chuyển và biến đổi về tài chính, các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêu chi tiết, các chỉ tiêu tổng quát chung nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Về lý thuyết, có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp như: Phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp liên hệ, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp Dupont, phương pháp chi tiết,… Trong đề tài này, tôi xin giới thiệu 4 phương pháp: So sánh, tỷ lệ, thay thế liên hoàn và phương pháp Dupont
1.2.2.1 Phương pháp so sánh
- Định nghĩa: Là phương pháp được sử dụng để xác định xu hướng phát triển
và mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích
- Tiêu chuẩn so sánh: Là chỉ tiêu được chọn làm căn cứ so sánh Tùy theo
Trang 24yêu cầu của phân tích mà chọn làm căn cứ thích hợp như: Khi đánh giá tốc độ tăng trưởng thì chỉ tiêu làm căn cứ so sánh là số liệu kỳ trước, khi cần đánh giá các mức
độ phấn đấu hoàn thành kế hoạch thì chỉ tiêu làm căn cứ là số kế hoạch…
- Điều kiện so sánh:
+ Phải xác định rõ “gốc so sánh” và “kỳ phân tích”
+ Khi so sánh các chỉ tiêu với nhau phải có cùng điều kiện, đảm bảo thống nhất về nội dung kinh tế, tiêu chuẩn biểu hiện là phương pháp tính toán, thời gian tương ứng và đại lượng biểu hiện, thống nhất về đơn vị tính các chỉ tiêu (cả về hiện vật, giá trị và thời gian)
- Nội dung bao gồm:
+ So sánh giữa các số thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinh doanh trước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ kinh doanh
+ So sánh thực tế kỳ phân tích với số kỳ kế hoạch nhằm xác định mức phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch
+ So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với mức trung bình của ngành
+ So sánh theo chiều dọc: Xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể + So sánh theo chiều ngang ở nhiều kỳ phân tích để thấy được sự biến động
cả về số tuyệt đối và số tương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp Trên cơ sở đó đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu, hiệu quả hay không hiệu quả
1.2.2.2 Phương pháp tỷ lệ
- Định nghĩa: Là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để phân tích
Đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác
- Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn, bởi vì:
+ Thứ nhất: Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp
đầy đủ hơn Đó là cơ sở để hình thành những tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho việc đánh
Trang 25giá một tỷ số của doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp
+ Thứ hai: Việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc
đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ số
+ Thứ ba: Phương pháp phân tích này giúp nhà phân tích khai thác có hiệu
quả những số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn
- Về nguyên tắc, với phương pháp tỷ số yêu cầu cần xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên
cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu
1.2.2.3 Phương pháp thay thế liên hoàn
Phương pháp thay thế liên hoàn được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh khi các nhân tố này có quan hệ tích
số, thương số hoặc kết hợp cả tích và thương với kết quả kinh tế Khi sử dụng phương pháp này, cần thực hiện theo các trình tự sau:
- Trước hết, phải biết được các nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ của chúng với chỉ tiêu phân tích, từ đó xác định được công thức tính các chỉ tiêu đó
- Thứ hai, cần sắp xếp thứ tự các nhân tố theo một trình tự nhất định: Nhân tố
số lượng xếp trước, nhân tố chất lượng xếp sau, trường hợp có nhiều nhân tố số lượng cùng ảnh hưởng thì nhân tố chủ yếu xếp trước, nhân tố thứ yếu xếp sau và không đảo lộn trình tự này
- Thứ ba, tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố một theo trình tự nói trên Nhân tố nào được thay thế, nó sẽ lấy giá trị thực tế từ đó, còn nhân tố chưa được thay thế phải giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch Thay thế xong một nhân
tố, phải tính ra một kết quả cụ thể của lần thay thế đó Lấy kết quả này so với (trừ đi) kết quả của bước trước nó thì chênh lệch tính được chính là kết quả do ảnh hưởng của nhân tố vừa được thay thế
Cuối cùng, có bao nhiêu nhân tố phải thay thế bấy nhiêu lần và tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố phải bằng với đối tượng cụ thể của phân tích (chính là chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích)
Trang 261.2.2.4 Phương pháp Dupont
SƠ ĐỒ 1.1: PHÂN TÍCH ĐẲNG THỨC DUPONT
+
Tổng Tài sản / Vốn CSH (Hệ số tài trợ)
Sức sinh lợi vốn chủ sở hữu ROE
Tỷ suất thu hồi tài sản ROA
Lợi nhuận sau
thuế Doanh thu thuần
CP bán hàng
+ CP
QL
DN
+ Giá vốn + Thuế
Các khoản ĐTTC ngắn hạn +
Khoản phải thu +
Hàng tồn kho
hạn khác
+
Trang 27Phân tích Dupont:
* Đẳng thức Dupont thứ nhất:
LNST DTT ROA =
Theo đẳng thức này, có hai hướng để tăng ROA là: tăng ROS hoặc tăng Vòng quay TTS
- Muốn tăng ROS cần phấn đấu tăng lãi ròng bằng cách tiết kiệm chi phí và tăng giá bán
- Muốn tăng VQTTS cần phấn đấu tăng doanh thu bằng cách giảm giá bán và tăng cường các hoạt động xúc tiến bán hàng
* Đẳng thức Dupont thứ hai:
ROE =
DTT x Tổng TSBQ x VCSH bình quân
Có hai hướng để tăng ROE là: tăng ROA hoặc tăng hệ số tài trợ
- Muốn tăng ROA cần làm theo đẳng thức Dupont thứ nhất
- Muốn tăng hệ số tài trợ cần phấn đấu giảm VCSH bình quân và tăng nợ Đẳng thức này cho thấy tỷ số nợ càng cao thì lợi nhuận của VCSH càng cao Tuy nhiên, khi tỷ số nợ càng cao thì rủi ro cũng sẽ tăng
* Đẳng thức Dupont tổng hợp:
ROE =
DTT x Tổng TSBQ x VCSH bình quân
ROE phụ thuộc vào ba nhân tố: ROS, VQTTS và hệ số tài trợ; các nhân tố này có thể ảnh hưởng trái chiều nhau đối với ROE
Phân tích Dupont mục đích là xác định ảnh hưởng của ba nhân tố này đến ROE của doanh nghiệp để tìm hiểu nguyên nhân làm tăng, giảm chỉ số này
Bản chất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh
Trang 28lợi của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên VCSH (ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với tỷ số tổng hợp
Việc triển khai phương trình Dupont giúp cho người phân tích có một cái nhìn toàn diện và cụ thể về các nhân tố tác động đến chỉ tiêu hoàn vốn
Trên đây là một số phương pháp phân tích tài chính tương đối phổ biến Mỗi phương pháo đều có ưu, nhược điểm nhất định Do vậy, khi phân tích chúng ta có thể kết hợp các phương pháp phân tích để có hiệu quả tốt nhất
1.3 Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1.3.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính qua các báo cáo tài chính
Phân tích khái quát tình hình tài chính là việc xem xét, nhận định về tình hình tài chính của doanh nghiệp Công việc này sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin biết được tình hình tài chính của doanh nghiệp là khả quan hay không khả quan
Thông qua hệ thống chỉ tiêu dùng để đánh giá khái quát tình hình tài chính, các nhà phân tích sử dụng phương pháp so sánh: So sánh giữa cuối kỳ với đầu năm,
so sánh kỳ này với kỳ trước, so sánh thực tế với kế hoạch… Căn cứ vào kết quả so sánh và tình hình biến động của các chỉ tiêu phản ánh khái quát tình hình tài chính, các nhà phân tích sẽ rút ra những nhận xét khái quát về tình hình tài chính doanh nghiệp
1.3.2 Phân tích chỉ tiêu an toàn
Phân tích chỉ tiêu an toàn nhằm mục đích xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp có an toàn hay không an toaà và do những nhân tố nào tác động, nguyên nhân nào gây ra những tác động ấy
1.3.2.1 Phân tích cân đối TS và NV
- Doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không?
- TSDH của doanh nghiệp có được tài trợ một cách vững chắc bằng nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu hay không?
Theo nguyên tắc quản lý tài chính và sử dụng nguồn vốn: Nợ ngắn hạn
Trang 29không nên sử dụng để đầu tư cho TSDH vì áp lực trả nợ lớn, gây mất an toàn tài chính; Nợ dài hạn không nên dùng để hình thành TSNH vì nó gây ra lãng phí
Mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn để tình hình tài chính doanh nghiệp an toàn thì:
- Nợ ngắn hạn dùng để đầu tư cho TSNH
- TSDH được tài trợ bằng nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu
Khi phân tích ta cần tính toán và so sánh giữa nguồn vốn với tài sản:
* Nợ dài hạn + Nguồn vốn chủ sở hữu < TSDH
TSNH < Nợ ngắn hạn
Như vậy, nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu không đủ đầu tư cho TSDH, doanh nghiệp phải đầu tư vào TSDH một phần nợ ngắn hạn TSNH không đủ đáp ứng nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn, cán cân thanh toán của doanh nghiệp mất thăng bằng, doanh nghiệp phải dùng một phần TSDH để thanh toán nợ ngắn hạn đến hạn trả
* Nợ dài hạn + Nguồn vốn chủ sở hữu > TSDH
TSNH > Nợ ngắn hạn
Như vậy, nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu là tối ưu sau khi đầu tư vào TSDH, đồng thời TSNH > Nợ ngắn hạn, doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán
nợ ngắn hạn Tình hình tài chính doanh nghiệp an toàn
* Nợ dài hạn + Nguồn vốn chủ sở hữu = TSDH
TSNH = Nợ ngắn hạn
Như vậy, nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu đủ đầu tư cho TSDH, TSNH
đủ để doanh nghiệp trả các khoản nợ ngắn hạn Tình hình tài chính của doanh nghiệp an toàn
1.3.2.2 Phân tích khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán là khả năng doanh nghiệp dùng tiền và các khoản tương đương tiền (tài sản có thể chuyển đổi thành tiền) để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Thông qua nghiên cứu khả năng thanh toán, người ta có thể đánh giá được thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp và thông qua đó người ta biết được xu
Trang 30hướng phát triển của doanh nghiệp
Mặt khác, để phân tích khả năng thanh toán, người ta còn sử dụng các hệ số thanh toán hiện hành, hệ số thanh toán nhanh và hệ số thanh toán tức thời để xem xét mức độ thanh toán các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp
- Hệ số thanh toán hiện hành:
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành của doanh nghiệp được chấp nhận hay không tuỳ thuộc vào sự so sánh với giá trị trung bình ngành mà doanh nghiệp đang kinh doanh Bên cạnh đó nó cũng được so sánh với các giá trị của tỷ số này trong những năm trước đó của doanh nghiệp
Khi giá trị của tỷ số khả năng thanh toán hiện hành giảm, chứng tỏ khả năng trả nợ của doanh nghiệp đã giảm và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn tài chính trong thời gian tới
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành có giá trị cao cho thấy doanh nghiệp có khả năng thanh toán cao
Nếu hệ số này càng lớn hơn (lớn hơn 1) chứng tỏ doanh nghiệp có đầy đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và có khi nó báo hiệu dấu hiệu tài chính của doanh nghiệp là lành mạnh
Tuy nhiên, nếu tỷ số này quá cao có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào TSLĐ hay đơn giản là việc quản trị TSLĐ của doanh nghiệp không hiệu quả bởi có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi gây lãng phí trong việc sử dụng vốn vì nó có thể làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp
Trang 31- Hệ số thanh toán nhanh:
Hệ số này càng lớn (lớn hơn 1) chứng tỏ doanh nghiệp có đầy đủ khả năng
để thanh toán các khoản nợ đến hạn và đã quá hạn tại một thời điểm nhất định
Nếu hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn hệ số thanh toán hiện hành rất nhiều chứng tỏ tài sản ngắn hạn phụ thuộc rất lớn vào hàng tồn kho Cần phải so sánh hệ
số thanh toán nhanh của năm nay so với năm trước, so sánh với hệ số của doanh nghiệp cùng ngành để có đánh giá tương quan và tìm biện pháp giải quyết
- Hệ số thanh toán tức thời:
Công thức:
Tiền
Hệ số thanh toán tức thời =
Nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết doanh nghiệp sử dụng tiền mặt để thanh toán các khoản
nợ ngắn hạn Hệ số này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ lớn Tuy nhiên, nếu hệ số này quá cao lại không tốt vì điều đó có nghĩa là doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt và không đưa tiền vàotrong lưu thông
1.3.3 Phân tích hiệu quả tài chính
Phân tích chỉ tiêu hiệu quả tài chính nhằm xem xét tình hình tài chính cảu doanh nghiệp hiệu quả hay không, hiệu quả do những nhân tố nào tác động và nguyên nhân gây nên những tác động đó Phân tích chỉ tiêu hiệu quả tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà tín dụng và các cổ đông vì nó gắn liền lợi ích của họ cả về hiện tại và tương lai
Để đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả tài chính, người phân tích thường tính và
Trang 32so sánh các chỉ tiêu sau:
1.3.3.1 Phân tích tình hình sinh lợi
- Hệ số doanh lợi doanh thu thuần: Return on Sales-ROS:
Công thức:
Lợi nhuận sau thuế Sức sinh lợi của doanh thu ROS =
Doanh thu thuần
Hệ số này phản ánh một đồng doanh thu thuần đem lại mấy đồng lợi nhuận Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ khả năng sinh lợi của vốn càng cao và hiệu quả kinh doanh càng lớn
Lợi nhuận là khoản lãi ròng sau khi đã trừ đi các chi phí, nộp thuế lợi tức
- Tỷ suất thu hồi tài sản: Return on Asset-ROA:
Công thức:
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất thu hồi tài sản ROA =
- Tỷ suất thu hồi vốn chủ sở hữu: Return on Equity-ROE:
Công thức:
Lợi nhuận sau thuế Sức sinh lợi của Vốn chủ sở hữu ROE =
Vốn CSH bình quân
Chỉ tiêu này được xác định bằng cách chia thu nhập sau thuế cho vốn sở hữu,
nó cho biết một đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào doanh nghiệp góp phần tạo ra bao nhiêu đồng lãi cho chủ sở hữu Nó phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu
và được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm khi họ bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp
Trang 33Tăng mức doanh lợi vốn chủ sở hữu là một mục tiêu quan trọng nhất trong hoạt động quản lý tài chính doanh nghiệp Đây là chỉ tiêu tài chính quan trọng và thiết thực nhất đối với chủ sở hữu
Những chỉ số tài chính trên phản ánh bức tranh về tình hình tài chính của doanh nghiệp Khi tính toán phải so sánh giữa năm này so với năm trước, so sánh với trung bình ngành để biết được tình hình tài chính hiện nay của doanh nghiệp mình
1.3.3.2 Phân tích tình hình sử dụng tài sản
Các chỉ số này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của doanh nghiệp được đặc trưng bởi: Năng suất sử dụng tổng tài sản, năng suất sử dụng tài sản ngắn hạn, vòng quay các khoản phải thu, vòng quay hàng tồn kho, năng suất sử dụng tài sản dài hạn Sau khi xác định được các chỉ số tài chính đặc trưng của doanh nghiệp thì lập bảng phân tích so sánh với năm trước và rút ra những nhận xét, đánh giá
- Vòng quay của tổng tài sản: (Năng suất sử dụng tổng tài sản):
sử dụng tổng tài sản càng nhỏ, hiệu quả sử dụng tổng tài sản càng giảm
Tổng tài sản bình quân trong kỳ được tính như sau:
Tổng giá trị tài sản hiện có đầu kỳ và cuối kỳ Tổng tài sản bình quân =
Trang 34Tài sản ngắn hạn là những tài sản dự trữ hoặc trong thnah toán để đảm bảo nhu cầu hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị tài sản ngắn hạn tạo ra bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần
Năng suất sử dụng tài sản ngắn hạn cho biết trong kỳ tài sản ngắn hạn quay được bao nhiêu vòng Nếu số vòng này càng cao chứng tỏ tài sản lưu động có chất lượng cao, được tận dụng đầy đủ, không bị nhàn rỗi và không bị ứ đọng trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh
Năng suất sử dụng của tài sản ngắn hạn cao là cơ sở tốt để có lợi nhuận cao nhờ tiết kiệm được chi phí và giảm được lượng vốn đầu tư
Năng suất sử dụng của tài sản ngắn hạn thấp do nhiều nguyên nhân như: tiền mặt nhàn rỗi, thu hồi khoản phải thu kém, chính sách bán chịu quá nhiều, quản lý vật tư chưa tốt, quản lý hàng bán chưa đạt yêu cầu
+ Vòng quay các khoản phải thu: (Kỳ thu tiền bình quân):
Công thức:
Doanh thu thuần
Số vòng quay các khoản phải thu =
Khoản phải thu bình quân
Kỳ thu tiền được sử dụng để đánh giá khả năng thu tiền trong thanh toán trên
cơ sở các khoản phải thu và doanh thu bình quân một ngày Khoản phải thu là phần giá trị vốn bị ứ đọng trong khâu thanh toán bao gồm phải thu của khách hàng, tạm ứng, ứng trước cho người bán,… Các khoản phải thu lớn hay nhỏ phụ thuộc vào chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp và các khoản trả trước
Phân tích kỳ thu tiền nhằm đo lường khả năng thu hồi vốn của doanh nghiệp
+ Kỳ thu nợ bán chịu:
Công thức:
360 ngày
Kỳ thu nợ bán chịu =
Số vòng quay các khoản phải thu
Kỳ thu nợ bán chịu là số ngày cần thíêt để thu được các khoản nợ phải thu Hay là số ngày của một vòng quay các khoản phải thu, nhằm đánh giá việc quản lý
Trang 35của công ty đối với các khoản phải thu do bán chịu
Kỳ thu nợ bán chịu ngắn (số ngày thu tiền ít) chứng tỏ doanh nghiệp không
bị ứ đọng vốn trong khâu thanh toán, doanh nghiệp không gặp phải những khoản
“nợ khó đòi” Ngược lại, nếu tỷ số này cao, doanh nghiệp cần phải tiến hành phân tích chính sách bán hàng để tìm ra nguyên nhân tồn đọng nợ
+ Vòng quay hàng tồn kho:
Công thức:
Doanh thu thuần
Số vòng quay hàng tồn kho =
Giá trị hàng tồn kho bình quân
Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ Số vòng quay càng cao thì càng tốt
Doanh thu thuần là doanh số của toàn bộ hàng hoá tiêu thụ trong kỳ, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa, trừ đi phần hoa hồng chiết khấu, giảm giá hay hàng bán bị trả lại
Hàng hoá tồn kho bao gồm toàn bộ các nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hoá,…
Nếu giá trị của tỷ số này thấp chứng tỏ rằng các loại tồn kho quá cao so với doanh số bán Một vấn đề mà chúng ta phải lưu ý là mặc dù doanh thu thuần được tạo ra trong suốt năm, song giá trị của hàng tồn kho trong bảng cân đối kế toán là mức tồn kho tại một thời điểm cụ thể và trong nhiều trường hợp tồn kho lại mang tính thời vụ Bởi vậy, khi tính toán tỷ số này phải sử dụng mức tồn kho trung bình trong năm, dựa trên kết quả trung bình cộng mức tồn kho hàng tháng
- Vòng quay của tài sản dài hạn: (Năng suất sử dụng tài sản dài hạn):
Công thức:
Doanh thu thuần Vòng quay tài sản dài hạn =
Tài sản dài hạn bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh một đơn vị tài sản dài hạn bình quân tạo ra bao nhiêu đơn vị doanh thu thuần
Giá trị tài sản dài hạn là giá trị thuần của các loại tài sản cố định tính theo giá
Trang 36trị ghi trên sổ sách kế toán, tức là nguyên giá của tài sản dài hạn trừ đi phần hao mòn của tài sản dài hạn cộng dồn tính đến thời điểm tính toán
Năng suất sử dụng của tài sản dài hạn càng lớn phản ánh tình hình hoạt động tốt của doanh nghiệp đã tạo ra mức doanh thu thuần cao hơn so với tài sản dài hạn, mặt khác chứng tỏ tài sản dài hạn có chất lượng cao, được tận dụng đầy đủ, không
bị nhàn rỗi và phát huy hết tác dụng
Năng suất sử dụng của tài sản dài hạn thấp là do nhiều tài sản dài hạn không hoạt động, chất lượng tài sản cố định kém hoặc không hoạt động hết công suất
1.3.4 Phân tích đòn bẩy tài chính
1.3.4.1 Đòn bẩy tác nghiệp DOL (đòn bẩy định phí)
Đòn bẩy tác nghiệp là một khái niệm phản ánh mức độ doanh nghiệp sử dụng chi phí cố định trong hoạt động của mình Doanh nghiệp có đòn bẩy tác nghiệp cao khi tỷ trọng chi phí cố định (định phí) trong tổng chi phí của doanh nghiệp cao Đòn bẩy tác nghiệp cao sẽ khiến cho một thay đổi nhỏ về doanh thu có thể gây ra một thay đổi lớn về lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)
Độ nghiêng của đòn bẩy tác nghiệp (DOL) là mức thay đổi tính bằng tỷ lệ phần trăm của EBIT ứng với mức thay đổi tính bằng phần trăm của doanh thu
Mức thay đổi tính bằng phần trăm của EBIT ∆EBIT/EBIT DOL =
Mức thay đổi tính bằng phần trăm của doanh thu = ∆Q/Q
Trang 37Trong đó: Q là sản lượng bán ra
V là chi phí biến đổi đơn vị
P là giá bán sản phẩm
F là chi phí cố định
Để xác định lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ thay đổi như thế nào so với mức
sản xuất thì cần phải phân tích điểm hoà vốn Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó mức
doanh thu tạo ra bằng tổng chi phí hoạt động
Công thức tính điểm hoà vốn như sau:
Ta có: EBIT = Q x (P - V ) - F
= Q x P - (Q x V + F) ∆EBIT = ∆Q(P - V)
Tại điểm hoà vốn thì EBIT = 0, sản lượng hoà vốn Q* và doanh thu hoà vốn
S* được tính như sau:
Tổng định phí Tổng biến phí
S* =
1 -
Tổng doanh thu Trong đó:
Tổng biến phí
1 -
Tổng định phí là tỷ lệ số dư đảm phí
Trang 381.3.4.2 Đòn bẩy tài chính DFL (đòn bẩy nợ)
Đòn bẩy tài chính là một khái niệm phản ánh mức độ doanh nghiệp sử dụng các khoản nợ vay có lãi suất tương đối ổn định trong cơ cấu vốn của mình Doanh nghiệp được coi là có đòn bẩy tài chính cao khi tỷ trọng nợ trên tổng nguồn vốn của doanh nghiệp cao Đòn bẩy nợ càng cao thì rủi ro tài chính càng lớn
Độ tác nghiệp của đòn bẩy tài chính là mức thay đổi tính bằng tỷ lệ phần trăm của lãi ròng cổ đông đại chúng (EPS) với mức thay đổi tình bằng phần trăm của lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT)
=EBIT - I Nên:
∆EBIT
∆EBIT DEL =
EBIT
= EBIT - I
x
∆EBIT
= EBIT - I Trong đó: I là lãi vay phải trả
T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Trang 39S - VC - F - I Đòn bẩy tổng là kết quả tổng hợp của đòn bẩy định phí và đòn bẩy nợ, do đó nếu doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy định phí và đòn bẩy nợ cao thì chỉ tác động nhỏ
về doanh thu sẽ gây ra tác động lớn về lợi nhuận trên mỗi cổ phần (EPS) tăng lên nhanh chóng Chính vì thế doanh nghiệp cần phải lựa chọn một mức độ sử dụng hợp lý để đem lại hiệu quả cao nhất
Trang 40TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Phân tích tình hình tài chính là một vấn đềđược rất nhiều người quan tâm vì chỉ có phân tích tình hình tài chính thì các nhà quản trị mới có thể biết được sức mạnh về tài chính của doanh nghiệp
Trên đây là những cơ sở lý luận trong phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp Trong phần cơ sở lý luận đề cập đến những vấn đề cơ bản của việc phân tích tài chính doanh nghiệp, áp dụng cái chung để đi đến cái riêng, đó là mục tiêu của nhà phân tích Vì vậy, qua quá trình nghiên cứu đồ án này sẽ đi đến phân tích
cái riêng, cái cụ thể của tình hình tài chính tại Công ty TNHH một thành viên kinh
doanh khí hóa lỏng Nam Định để biết được điểm mạnh cũng như điểm yếu, từ đó
xây dựng một số giải pháp củng cố tình hình tài chính của Công ty trong thời gian tới