1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Phân tích và đề xuất một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính của khách sạn nikko hà nội

131 244 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có những thông tin đúng đắn, chính xác về doanh nghiệp nhằm đánh giá, điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, đòi hỏi phải đánh giá đúng thực

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

Nguyễn Như Đáng

PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH

HÌNH TÀI CHÍNH CỦA KHÁCH SẠN NIKKO HÀ NỘI

Chuyên ngành : Quản Trị Kinh Doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn này chưa được công bố ở bất kỳ nơi nào

Tất cả các trích dẫn trong luận văn đều có nguồn gốc và được ghi trong phần tài liệu tham khảo

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm với lời cam đoan

Hà nội, tháng 9 năm 2011

Nguyễn Như Đáng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của TS Đoàn Xuân Thủy, PGS.TS Nguyễn Ái Đoàn và các thầy cô trong Khoa Kinh tế và Quản lý, Viện Đào tạo Sau Đại học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn anh Đặng Văn Kiên giám đốc tài chính khách sạn Nikko, chị Phạm Bích Ngọc kế toán trưởng khách sạn Nikko, chị Bùi Thu Hằng kế toán trưởng khách sạn Horison cùng toàn thể các anh chị và bạn bè đồng nghiệp đã hỗ trợ và đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này

Với trình độ hiểu biết và thời gian nghiên cứu thực tế có hạn nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong muốn nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo để đồ án

của tôi được hoàn thiện hơn

Hà nội, Tháng 9 năm 2011

Nguyễn Như Đáng

Trang 5

MỤC LỤC

Danh mục các chữ viết tắt 4 Danh mục các bảng 5 Danh mục các hình vẽ, đồ thị 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

4 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Kết cấu của luận văn 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÀI CHÍNH VÀ PHÂN

1.1 Một số khái niệm cơ bản về tài chính và phân tích tài chính

1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp 11

1.1.2 Nhiệm vụ, vai trò, chức năng tài chính doanh nghiệp 12

1.1.3 Phân tích tài chính doanh nghiệp 15

1.2 Các yếu tố và ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp 23

1.3 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 26

1.4 Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 34

1.4.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính qua các báo cáo tài chính 34

Trang 6

2.1 Giới thiệu khái quát chung về doanh nghiệp 51

2.1.1.Tên, địa chỉ doanh nghiệp 51

2.1.2 Sự thành lập, Qúa trình phát triển 51

2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của doanh nghiệp 52

2.1.4 Quy trình kinh doanh khách sạn 52

2.1.5 Chức năng, nhiệm vụ cơ bản của các bộ phận quản lý trong khách

sạn 53

2.2 Phân tích tình hình tài chính của Khách sạn Nikko Hà Nội 58

2.2.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính qua các báo cáo tài chính 58

2.1.1.1 Sự biến động của tài sản 59

2.1.1.2 Cơ cấu tài sản 61

2.2.1.3 Sự biến động của nguồn vốn 63

2.2.1.4 Cơ cấu nguồn vốn 67

2.2.1.6 Biến động doanh thu, chi phí và lợi nhuận 72

2.2.2.1 Phân tích hệ số sinh lợi 75

2.2.2.2 Phân tích tình hình quản lý tài sản 79

2.2.3.1 Phân tích khả năng thanh khoản 83

2.2.3.2 Phân tích khả năng quản lý nợ 87

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH

3.1 Định hướng phát triển của doanh nghiệp trong những năm tới 105

3.2 Đề xuất một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính khách sạn

3.3.1 Giải pháp 1: “Hoàn thiện việc quản trị tiền mặt và chứng khoán

3.3.2 Giải pháp 2: Đẩy mạnh công tác thu hồi các khoản phải thu khách

3.3.4 Kết quả các giải pháp đề xuất 117

1 Nhận xét chung về tình hình tài chính doanh nghiệp 119

Trang 7

2 Những hạn chế của quá trình phân tích 119

4 Kiến nghị 120

5 Lời kết 121

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CĐKT: Cân đối kế toán

DTT: Doanh thu thuần

KQKD: Kết quả kinh doanh

LCTT: Lưu chuyển tiền tệ

LNST: Lợi nhuận sau thuế

KPT: Khoản phải thu

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG Danh mục Trang

Bảng 2.1: Biến động tài sản 59

Bảng 2.2: Tỷ trọng các loại tài sản 61

Bảng 2.3: Tỷ suất cơ cấu tài sản 62

Bảng 2.5: Biến động nguồn vốn 64

Bảng 2.6: Phân tích vốn tín dụng và vốn chiếm dụng 65

Bảng 2.9: Phân tích tỷ suất tự tài trợ 69

Bảng 2.11: Phân tích cân đối giữa TSLĐ với nợ ngắn hạn và TSCĐ với

nợ dài hạn 71 Bảng 2.12: Phân tích biến động của doanh thu, chi phí và lợi nhuận 72

Bảng 2.18: Phân tích tỷ suất thu hồi tài sản 78

Bảng 2.19: Phân tích tỷ suất thu hồi vốn chủ sở hữu 78

Bảng 2.21: Phân tích kỳ thu nợ bán chịu 80

Bảng 2.23: Phân tích vòng quay vốn lưu động 81

Bảng 2.24: Phân tích vòng quay tổng tài sản 82

Bảng 2.27: Phân tích chỉ số thanh toán tức thời 84

Bảng 2.28: Bảng phân tích chỉ số nợ 87

Bảng 2.31: Phân tích tổng hợp ROE theo đẳng thức DUPONT tổng hợp 93

Bảng 3.35: Đánh gía tóm tắt một số chỉ tiêu tài chính cơ bản của khách 101

Trang 10

sạn NIKKO

Bảng 3.3: Những thay đổi trên bảng cân đối kế toán sau khi áp dụng giải

Bảng 3.5: Tổng hợp lãi xuất chiết khấu áp dụng 112

Bảng 3.8: Báo cáo chi tiết doanh thu và chi phí các bộ phận 113

Bảng 3.10: Bảng cân đối kế toán dự tính sau khi áp dụng các giải pháp 117

Bảng 3.11: Bảng kết quả kinh doanh dự tính khi thực hiện các giải pháp 118

Bảng cân đối kế toán khách sạn Nikko Hà Nội năm 2009 – 2010 và số

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Danh mục Trang

Hình 1.1: Quy trình phân tích và đề xuất các giải pháp cải thiện tình hình

Hình 2.1: Sơ đồ khối quy trình kinh doanh khách sạn 53

Hình 2.2: Mô hình cơ cấu bộ máy quản lý khách sạn Nikko Hà Nội 57

Đồ thị 2.2 : Vòng quay tổng tài sản 82

Đồ thị 2.5: Chỉ số thanh toán tức thời 86

Đồ thị 2.6: Đồ thị chỉ số nợ 87 Hình 2.7: Sơ đồ phân tích tổng hợp tình hình tài chính - Sơ đồ DUPONT 94

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đã và đang có những chuyển biến mạnh mẽ sau hơn 20 năm đổi mới, kinh tế thị trường dưới sự điều tiết của nhà nước giúp nền kinh tế cả nước nói chung và các doanh nghiệp nói riêng có nhiều cơ hội phát triển mạnh và thu được những thành tựu to lớn Tuy nhiên nền kinh tế thị trường cũng đặt ra nhiều thách thức, khó khăn cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong nước, việc cạnh tranh để tìm kiếm những lợi thế thương mại so với các đối thủ ngày càng trở lên gay gắt Do vậy các nhà quản lý doanh nghiệp phải hết sức linh hoạt trong quá trình tổ chức và quản lý để hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao

Để có những thông tin đúng đắn, chính xác về doanh nghiệp nhằm đánh giá, điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh, đòi hỏi phải đánh giá đúng thực trạng về hoạt động tài chính của doanh nghiệp, xác định nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố để từ đó tìm ra những biện pháp hữu hiệu và những quyết định cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đó là nhiệm vụ của việc phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp

Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra, đối

chiếu các số liệu giữa hiện tại và quá khứ, thông qua việc phân tích báo cáo tài chính cũng như để đánh giá đầy đủ, chính xác tình hình tổ chức phân phối sử dụng

và quản lý các loại vốn và nguồn vốn của doanh nghiệp, vạch rõ những khả năng tiềm tàng trong việc quản lý sử dụng vốn, đề xuất các biện pháp cần thiết và có hiệu lực để khai thác tới mức cao nhất những khả năng tiềm tàng đó Việc phân tích đầy

đủ, thường xuyên, kịp thời chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ giúp cho những người sử dụng thông tin đánh giá được tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như rủi ro trong tương lai

Tổ chức tốt công tác phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp có tầm quan trọng để thực hiện tốt công tác quản lý kinh tế, điều hành các hoạt động sản xuất

Trang 13

kinh doanh nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao

Từ những kiến thức đã học được trong nhà trường, và nhận thức vai trò đặc biệt quan trọng của phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, cùng với quá trình công tác nhiều năm công tác tại bộ phận xử lý dữ liệu trực thuộc phòng tài chính kế toán,

khách sạn Nikko Hà Nội Đó là lý do tôi đã chọn đề tài: “Phân tích và đề xuất một

số giải pháp cải thiện tình hình tài chính của khách sạn Nikko Hà Nội”

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá được tình hình tài chính của Khách sạn Nikko Hà Nội (chỉ ra ưu nhược điểm, nguyên nhân)

- Xây dựng một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính của Khách sạn Nikko

Hà Nội

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

Trên cơ sở lý thuyết về tài chính và phân tích tài chính doanh nghiệp, luận văn tập trung đi vào nghiên cứu và phân tích các báo cáo tài chính của công ty; phân tích hệ số an toàn, phân tích hiệu quả tài chính, phân tích các đòn bẩy tài chính của Khách sạn Nikko Hà Nội trong 2 năm 2009 và 2010 (đã được kiểm toán)

- Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu các cách thức vận dụng quản lý tài chính áp dụng cho Khách sạn Nikko Hà Nội trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn, đưa ra các giải pháp để cải thiện tình hình tài chính của công ty

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng lý luận và phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp lịch sử với logic, kết hợp các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp, đồng thời kết hợp với tổng kết rút kinh nghiệm thực tiễn ở cơ quan để nghiên cứu, giải quyết vấn đề đặt ra của đề tài

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn được thực hiện với mong muốn hệ thống hoá và phát triển một số vấn

đề lý luận về tài chính cũng như phân tích tài chính cho doanh nghiệp, nghiên cứu

Trang 14

các đặc điểm mang tính đặc thù trong ngành kinh doanh khách sạn Trên cơ sở đó, luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng, nêu ra được những ưu, nhược điểm, nguyên nhân của nó, những giải pháp để cải thiện tình hình tài chính trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai của khách sạn

6 Kết cấu của luận văn

Nội dung của luận văn gồm 3 phần cơ bản sau đây:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết về tài chính và phân tích tài chính doanh nghiệp Chương 2: Phân tích tình hình tài chính của Khách sạn Nikko Hà Nội

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính của Khách sạn

Nikko Hà Nội

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÀI CHÍNH VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH

DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm cơ bản về tài chính và phân tích tài chính doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm tài chính doanh nghiệp

Khi tiến hành sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định, đó là yếu tố quan trọng và cũng là tiền đề trong mọi hoạt động của doanh nghiệp Trong quá trình này đã phát sinh ra các luồng tiền tệ gắn liền với hoạt động đầu tư và các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, các luồng tiền này tạo nên sự vận động các luồng tài chính của doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền

tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp Gắn với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị tức

là quan hệ tài chính doanh nghiệp Các quan hệ đó là:

- Quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước: đây là mối quan hệ phát sinh khi

doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, khi nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp

- Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Mối quan hệ này được

thể hiện khi doanh nghiệp tìm kiếm nguồn tài trợ hoặc doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội đầu tư Các hoạt động cụ thể như: vay ngắn hạn, phát hành chứng khoán, đầu tư chứng khoán v.v

- Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường khác: Trong quá trình hoạt động

kinh doanh của mình, doanh nghiệp phải tham gia vào các thị trường hàng hóa, lao động, vật tư, bất động sản v.v và doanh nghiệp sẽ phải làm sao để hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị sao cho thỏa mãn nhu cầu thị trường

- Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là vấn đề giữa các bộ phận sản xuất

kinh doanh, giữa cổ đông với người quản lý, cổ đông với chủ nợ, quyền sử dụng

Trang 16

vốn và quyền sở hữu vốn Các mối quan hệ này thể hiện qua: chính sách cổ tức (phân phối thu nhập), chính sách đầu tư, chính sách về cơ cấu vốn, chi phí v.v

+ Quan hệ thanh toán, cấp phát và điều hoà vốn giữa các đơn vị trực thuộc trong nội bộ doanh nghiệp với tổng công ty

Những quan hệ trên một mặt phản ánh doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế độc lập, chiếm địa vị là một chủ thể trong quan hệ kinh tế, đồng thời phản ánh rõ nét mối liên hệ tài chính doanh nghiệp với các tổ chức

Tổng quát hơn, tài chính doanh nghiệp là các mối quan hệ về mặt giá trị được

biểu hiện bằng tiền trong lòng một doanh nghiệp và giữa nó với các chủ thể có liên quan ở bên ngoài mà trên cơ sở đó giá trị của doanh nghiệp được tạo lập

Giá trị của doanh nghiệp là sự hữu ích của doanh nghiệp đối với chủ sở hữu và xã hội

Các hoạt động của doanh nghiệp để làm tăng giá trị của nó bao gồm:

ƒ Tìm kiếm, lựa chon cơ hội kinh doanh và tổ chức huy động vốn

ƒ Quản lý chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh, hạch toán chi

phí và lợi nhuận

ƒ Tổ chức phân phối lợi nhuận cho các chủ thể liên quan và tái đầu tư

1.1.2 Nhiệm vụ, vai trò, chức năng tài chính doanh nghiệp

- Nhiệm vụ của tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp giúp nắm vững tình hình kiểm soát vốn sản xuất kinh doanh hiện có về mặt hiện vật và giá trị, nắm vững sự biến động vốn của từng khâu, từng thời gian của quá trình sản xuất để có biện pháp quản lý và điều chỉnh hiệu quả

Trang 17

Tài chính doanh nghiệp giúp tổ chức khai thác và huy động kịp thời các nguồn vốn nhàn rỗi phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, không cho vốn bị tồn đọng

và sử dụng vốn có hiệu quả Để thực hiện được điều này, tài chính doanh nghiệp phải thường xuyên giám sát và tổ chức sử dụng các nguồn vốn vay và tự có của doanh nghiệp, làm sao so với lượng vốn nhất định đó phải tạo ra một lượng lợi nhuận lớn dựa trên cơ sở sử dụng tối đa các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp

- Vai trò của tài chính trong doanh nghiệp

Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp có các vai trò chủ yếu sau:

+ Đảm bảo huy động đầy đủ và kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Để thực hiện mọi quá trình kinh doanh, trước hết các doanh nghiệp phải có vốn kinh doanh Vai trò của tài chính doanh nghiệp được thể hiện là xác định đúng đắn nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ Tiếp theo phải lựa chọn các phương pháp và hình thức huy động vốn thích hợp, đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn để hoạt động của các doanh nghiệp được thực hiện một cách nhịp nhàng, liên tục với chi phí huy động vốn thấp nhất

+ Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả

Việc tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả được coi là điều kiện tồn tại

và phát triển của mọi doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư, chọn ra dự án đầu tư tối ưu, lựa chọn

và huy động nguồn vốn có lợi nhất cho hoạt động kinh doanh, bố trí cơ cấu vốn hợp lý, sử dụng các biện pháp để tăng nhanh vòng quay của vốn, nâng cao khả năng sinh lời của vốn kinh doanh

+ Đòn bẩy kích thích và điều tiết kinh doanh

Vai trò này của tài chính doanh nghiệp được thể hiện thông qua việc tạo ra sức mua hợp lý để thu hút vốn đầu tư, lao động, vật tư, dịch vụ, đồng thời xác định giá bán hợp lý khi tiêu thụ hàng hóa, cung cấp dịch vụ và thông qua hoạt động phân phối thu nhập của doanh nghiệp, phân phối quỹ khen thưởng, quỹ lương, thực hiện

Trang 18

các hợp đồng kinh tế…

+ Giám sát, kiểm tra chặt chẽ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Tình hình tài chính của doanh nghiệp là một tấm gương phản ánh trung thực nhất mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua các chỉ tiêu tài chính

mà các nhà quản lý doanh nghiệp dễ dàng nhận thấy thực trạng quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những vướng mắc, tồn tại để từ đó đưa

ra các quyết định điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nhằm đạt tới mục tiêu đã định

Vai trò của tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động trước hết là phụ thuộc vào sự nhận thức và vận dụng các chức năng của tài chính, sau nữa còn phụ thuộc vào môi trường kinh doanh, cơ chế tổ chức tài chính của doanh nghiệp và các nguyên tắc cần quán triệt trong mọi hoạt động tài chính doanh nghiệp

- Chức năng của tài chính doanh nghiệp

Tài chính có hai chức năng chủ yếu có tác động qua lại lẫn nhau đó là chức năng phân phối và chức năng giám đốc

+ Chức năng phân phối là việc phân phối các nguồn tài chính để hình thành vốn

kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp có hoạt động hiệu quả hay không, sản xuất có được bôi trơn hay không là nhờ vào chức năng này Ngoài ra chức năng phân phối còn là việc sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đã huy động để tạo các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp, mua các tài sản của doanh nghiệp hay sử dụng để đầu tư nhằm đem lại lợi ích Đồng thời nó cũng đóng vai trò phân phối thu nhập tới các chủ thể của doanh nghiệp Tóm lại chức năng phân phối là chức năng chủ yếu của tài chính doanh nghiệp, chức năng này là cơ sở cho công tác tổ chức hoạch định tài chính của nhà quản trị tài chính của doanh nghiệp

+ Chức năng giám đốc: Mục tiêu cuối cùng của mọi quá trình kinh doanh là thu

lợi nhuận, vì thế ngoài khả năng phân phối, tài chính doanh nghiệp còn có khả năng giám sát, dự báo hiệu quả của quá trình phân phối Chức năng giám đốc của tài chính là chức năng mà nhờ vào đó việc kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiện với quá trình vận động của các nguồn tài chính để tạo lập các quỹ tiền tệ hay sử dụng

Trang 19

chúng theo các mục đích đã định

Chức năng giám đốc có khả năng phát hiện những khuyết tật trong khâu phân phối để từ đó điều chỉnh quá trình phân phối nhằm thực hiện phương hướng, mục tiêu, chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Tuy nhiên, chức năng khách quan của tài chính doanh nghiệp phát huy đến mức nào lại phụ thuộc vào sự nhận thức một cách tự giác và hoạt động chủ quan của người quản lý trong khi sử dụng chức năng của tài chính Đó chính là vai trò của tài chính doanh nghiệp

1.1.3 Phân tích tài chính doanh nghiệp

1.1.3.1 Khái niệm, mục tiêu và ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp

- Khái niệm

Phân tích tài chính doanh nghiệp là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính hiện hành với quá khứ Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính, người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro trong tương lai

- Mục tiêu

Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp là nhận dạng những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn về mặt tài chính của doanh nghiệp bao gồm các tiêu chí:

+ An toàn tài chính (khả năng thanh khoản và khả năng quản lý nợ)

+ Hiệu quả tài chính (hệ số sinh lợi và tình hình quản lý tài sản)

+ Tổng hợp hiệu quả và rủi ro tài chính (đẳng thức Dupont )

Sau khi nhận dạng, tìm hiểu các tiêu chí đó của doanh nghiệp để có thể giải thích các nguyên nhân đứng sau thực trạng đó, đánh giá đúng các thực trạng và tiềm năng của doanh nghiệp để đưa ra các đề xuất, giải pháp cải thiện vị thế tài chính của doanh nghiệp nhằm giúp cho doanh nghiệp lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất

- Ý nghĩa

Tình hình tài chính doanh nghiệp được nhiều cá nhân, tổ chức quan tâm cũng như nhà quản lý doanh nghiệp, chủ sở hữu vốn, khách hàng , nhà đầu tư, các cơ

Trang 20

quan quản lý chức năng…Tuy nhiên, mỗi cá nhân, tổ chức sẽ quan tâm ở những khía cạnh khác nhau khi phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Vì vậy, phân tích tình hình tài chính cũng sẽ có ý nghĩa khác nhau đối với từng cá nhân, tổ chức:

+ Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp: Mối quan

tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ Bên cạnh đó, các nhà quản trị doanh nghiệp còn quan tâm đến nhiều mục tiêu như: tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng sản phẩm, cung cấp nhiều sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chi phí thấp, đóng góp phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường Tuy nhiên, một doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện được các mục tiêu này nếu đáp ứng được hai thử thách sống còn và hai mục tiêu cơ bản là kinh doanh có lãi và trả được nợ Một doanh nghiệp bị lỗ liên tục, rút cuộc sẽ bị cạn kiệt các nguồn lực và buộc phải đóng cửa Mặt khác, nếu doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ đến hạn cũng bị buộc ngừng hoạt động và đóng cửa Như vậy, hơn ai hết, các nhà quản trị doanh nghiệp

và các chủ doanh nghiệp cần có đủ thông tin và hiểu rõ doanh nghiệp nhằm đánh giá tình hình tài chính đã qua, thực hiện cân bằng tài chính, khả năng thanh toán, sinh lợi, rủi ro và dự đoán tình hình tài chính nhằm đề ra quyết định đúng

+ Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng: Mối quan tâm của

họ hướng chủ yếu vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp Vì vậy, họ đặc biệt chú ý tới số lượng tiền và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền nhanh, từ đó so sánh với số nợ ngắn hạn để biết được khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp Ngoài ra, các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng cũng rất quan tâm đến số lượng vốn chủ sở hữu, bởi vì số vốn chủ sở hữu này là khoản bảo hiểm cho

họ trong trường hợp công ty gặp rủi ro Không mấy ai sẵn sàng cho vay nếu các thông tin cho thấy người vay không bảo đảm chắc chắn rằng khoản vay đó sẽ được thanh toán khi đến hạn Người cho vay cũng quan tâm đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp vì nó là cơ sở của việc hoàn trả vốn và lãi vay dài hạn

+ Đối với các nhà cung cấp vật tư, thiết bị, hàng hoá, dịch vụ: Họ phải biết

được khả năng thanh toán hiện tại và thời gian sắp tới của doanh nghiệp để quyết định xem có cho phép doanh nghiệp được mua chịu hàng, thanh toán chậm hay

Trang 21

không

+ Đối với các nhà đầu tư: Mối quan tâm của họ hướng vào các yếu tố như sự rủi

ro, thời gian hoàn vốn, mức sinh lãi, khả năng thanh toán vốn…Vì vậy, họ cần những thông tin về điều kiện tài chính, tình hình hoạt động, về kết quả kinh doanh

và các tiềm năng tăng trưởng của doanh nghiệp Đồng thời, các nhà đầu tư cũng rất quan tâm tới việc điều hành hoạt động và tính hiệu quả của công tác quản lý Những điều đó nhằm đảm bảo sự an toàn và tính hiệu quả cao cho các nhà đầu tư

+ Các nhóm khác: Bên cạnh các chủ doanh nghiệp (chủ sở hữu), các nhà quản

lý, các nhà đầu tư, các chủ ngân hàng còn có nhiều nhóm người khác cũng quan tâm tới tình hình tài chính doanh nghiệp Đó là các cơ quan tài chính, thuế, chủ quản, các nhà phân tích tài chính, những người lao động…Những nhóm người này có nhu cầu thông tin về cơ bản giống như các chủ ngân hàng, các nhà đầu tư, các chủ doanh nghiệp…bởi vì nó liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm, đến khách hàng hiện tại và tương lai của họ

1 1.3.2 Đối tượng của phân tích tài chính doanh nghiệp

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có các hoạt động trao đổi điều kiện và kết quả sản xuất thông qua những công cụ tài chính và vật chất Chính vì vậy, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải tham gia vào các mối quan

hệ tài chính đa dạng và phức tạp Các quan hệ tài chính đó có thể chia thành các nhóm chủ yếu sau:

- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp và nhà nước Quan hệ này biểu hiện trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa ngân sách nhà nước với các doanh nghiệp thông qua các hình thức:

+ Doanh nghiệp nộp các loại thuế vào ngân sách theo luật định

+ Nhà nước cấp vốn kinh doanh cho các doanh nghiệp (DNNN) hoặc tham gia với tư cách người góp vốn (trong các doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp)

- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính và các tổ chức tài chính Thể hiện cụ thể trong việc huy động các nguồn vốn dài hạn và ngắn hạn cho nhu cầu kinh doanh

Trang 22

+ Trên thị trường tiền tệ đề cập đến việc doanh nghiệp quan hệ với các ngân hàng, vay các khoản ngắn hạn, trả lãi và gốc đến hạn

+ Trên thị trường tài chính, doanh nghiệp huy động các nguồn vốn dài hạn bằng cách phát hành các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu) cũng như việc trả các khoản lãi, hoặc doanh nghiệp gửi các khoản vốn nhàn rỗi vào ngân hàng hay mua chứng khoán của các doanh nghiệp khác

- Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác huy động các yếu

tố đầu vào (thị trường hàng hoá, dịch vụ lao động,…) và các quan hệ để thực hiện tiêu thụ sản phẩm ở thị trường đầu ra (với các đại lý, các cơ quan xuất nhập khẩu, thương mại,…)

- Quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp Đó là các khía cạnh tài chính liên quan đến vấn đề phân phối thu nhập và chính sách tài chính của doanh nghiệp như vấn đề cơ cấu tài chính, chính sách tái đầu tư, chính sách lợi tức cổ phần, sử dụng ngân quỹ nội bộ doanh nghiệp Trong mối quan hệ quản lý hiện nay, hoạt động tài chính của các DNNN có quan hệ chặt chẽ với hoạt động tài chính của

cơ quan chủ quản là tổng công ty Mối quan hệ đó được thể hiện trong các quy định

+ Doanh nghiệp do tổng công ty vay quỹ khấu hao cơ bản và chịu sự điều hoà vốn trong tổng công ty theo những điều kiện ghi trong điều lệ của tổng công ty Như vậy, đối tượng của phân tích tài chính, về thực chất là các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hình thành, phát triển và biến đổi vốn dưới các hình thức có liên quan trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.3.3 Tổ chức công tác phân tích tài chính

Quá trình tổ chức công tác phân tích tài chính được tiến hành tuỳ theo loại hình

Trang 23

tổ chức kinh doanh ở các doanh nghiệp nhằm mục đích cung cấp, đáp ứng nhu cầu thông tin cho quá trình lập kế hoạch, công tác kiểm tra và ra quyết định Công tác tổ chức phân tích tài chính phải làm sao thoả mãn cao nhất cho nhu cầu thông tin của từng loại hình quản trị khác nhau

- Công tác phân tích tài chính có thể nằm ở một bộ phận riêng biệt đặt dưới quyền kiểm soát trực tiếp của ban giám đốc và làm tham mưu cho giám đốc Theo hình thức này thì quá trình phân tích được thể hiện toàn bộ nội dung của hoạt động kinh doanh Kết quả phân tích sẽ cung cấp thông tin thường xuyên cho lãnh đạo trong doanh nghiệp Trên cơ sở này các thông tin qua phân tích được truyền từ trên xuống dưới theo chức năng quản lý và quá trình giám sát, kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh, chấn chỉnh đối với từng bộ phận của doanh nghiệp theo cơ cấu từ ban giám đốc đến các phòng ban

- Công tác phân tích tài chính được thực hiện ở nhiều bộ phận riêng biệt theo các chức năng của quản lý nhằm cung cấp thông tin và thoả mãn thông tin cho các

bộ phận của quản lý được phân quyền, cụ thể:

+ Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về chi phí, bộ phận này sẽ tổ chức thực hiện thu nhập thông tin và tiến hành phân tích tình hình biến động chi phí, giữa thực hiện so với định mức nhằm phát hiện chênh lệch chi phí cả về hai mặt động lượng và giá để từ đó tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp

+ Đối với bộ phận được phân quyền kiểm soát và ra quyết định về doanh thu (thường gọi là trung tâm kinh doanh), là bộ phận kinh doanh riêng biệt theo địa điểm hoặc một số sản phẩm nhóm hàng riêng biệt, do đó họ có quyền với bộ phận cấp dưới là bộ phận chi phí Ứng với bộ phận này thường là trưởng phòng kinh doanh, hoặc giám đốc kinh doanh tuỳ theo doanh nghiệp Bộ phận này sẽ tiến hành thu thập thông tin, tiến hành phân tích báo cáo thu nhập, đánh giá mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận làm cơ sở để đánh giá hoàn vốn trong kinh doanh và phân tích báo cáo nội bộ

1.1.3.4 Các loại hình phân tích tài chính

Trang 24

- Căn cứ theo thời điểm kinh doanh

Căn cứ theo thời điểm kinh doanh thì phân tích chia làm 3 hình thức:

+ Phân tích trước khi kinh doanh: còn gọi là phân tích tương lai, nhằm dự báo,

dự toán cho các mục tiêu trong tương lai

+ Phân tích trong khi kinh doanh: còn gọi là phân tích hiện tại (hay tác nghiệp)

là quá trình diễn ra cùng quá trình kinh doanh Hình thức này rất thích hợp cho chức năng kiểm tra thường xuyên nhằm điều chỉnh, chấn chỉnh những sai lệch lớn giữa kết quả thực hiện với mục tiêu đề ra

+ Phân tích sau khi kinh doanh: là phân tích sau khi kết thúc quá trình kinh

doanh (hay phân tích quá khứ) Quá trình này nhằm định kỳ đánh giá kết quả giữa thực hiện so với kế hoạch hoặc định mức đề ra Từ kết quả phân tích cho ta nhận rõ tình hình thực hiện kế hoạch của các chỉ tiêu đề ra và làm căn cứ để xây dựng kế hoạch tiếp theo

- Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo

Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo, phân tích được chia làm phân tích thường xuyên và phân tích định kỳ

+ Phân tích thường xuyên: được đặt ra ngay trong quá trình kinh doanh Kết quả

phân tích giúp phát hiện ra sai lệch, giúp doanh nghiệp đưa ra được các điều chỉnh kịp thời và thường xuyên trong quá trình hoạt động kinh doanh Tuy nhiên biện pháp này thường công phu và tốn kém

+ Phân tích định kỳ: được đặt ra sau mỗi chu kỳ kinh doanh khi các báo cáo đã

được thành lập Phân tích định kỳ là phân tích sau quá trình kinh doanh, vì vậy kết quả phân tích nhằm đánh giá tình hình thực hiện kết quả hoạt động kinh doanh của từng kỳ và là cơ sở cho xây dựng kế hoạch kinh doanh kỳ sau

- Căn cứ theo nội dung phân tích

+ Phân tích chỉ tiêu tổng hợp: là việc tổng kết tất cả các kết quả phân tích để

đưa ra một số chỉ tiêu tổng hợp nhằm đánh giá toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh trong mối quan hệ nhân quả giữa chúng cũng như dưới tác động của các yếu

tố thuộc môi trường

Trang 25

Ví dụ: Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả khối lượng, chất lượng sản xuất kinh doanh

Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả doanh thu và lợi nhuận

+ Phân tích chuyên đề: còn được gọi là phân tích bộ phận, là việc tập trung vào

một số nhân tố của quá trình kinh doanh tác động, ảnh hưởng đến những chỉ tiêu tổng hợp

Ví dụ: Các yếu tố về tình hình sử dụng lao động

Các yếu tố về sử dụng nguyên vật liệu

1.1.3.5 Các chỉ tiêu đánh giá tài chính doanh nghiệp

* Nhóm chỉ tiêu an toàn tài chính

Nhóm chỉ tiêu này thể hiện tình hình tài chính doanh nghiệp có an toàn hay không, do những nhân tố nào tác động Mức độ an toàn thể hiện ở ba hệ số: Hệ số tài trợ, hệ số quản lý nợ và hệ số thanh toán

- Hệ số tài trợ và hệ số quản lý nợ: Hai hệ số này cho biết doanh nghiệp có đủ

khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không và tài sản cố định có được tài trợ một cách vững chắc bằng nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu hay không

- Hệ số thanh toán: Hệ số này nói lên khả năng đảm bảo trả được các khoản nợ

đến hạn bất cứ lúc nào Đây là những chỉ tiêu rất được nhiệu người quan tâm như nhà đầu tư, người cho vay, người cung cấp nguyên vật liệu… Họ luôn đặt ra câu hỏi: Hiện doanh nghiệp có khả năng trả các món nợ ngắn hạn hay không? Khi phân tích chỉ tiêu hệ số thanh toán của doanh nghiệp người ta thường phân tích các hệ số sau:

+ Hệ số thanh toán hiện hành: Hệ số này được sử dụng để đo lường khả năng

trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp (nợ và các khoản phải trả) bằng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp như: tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho

+ Hệ số thanh toán nhanh: Là hệ số thể hiện liệu công ty có đủ tài sản ngắn

hạn để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không cần phải bán hàng tồn kho đi hay không

+ Hệ số thanh toán tức thời: Hệ số này nói lên khả năng doanh nghiệp sử

Trang 26

dụng tiền mặt để thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả của doanh nghiệp

* Nhóm chỉ tiêu hiệu quả tài chính

Để đánh giá tình hình tài chính của công ty, người ta phải tính toán được hiệu quả sử dụng tài sản Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng tài sản, nguồn lực của doanh nghiệp Bao gồm hai nhóm chỉ tiêu cụ thể: Nhóm chỉ tiêu hiệu quả hoạt động và nhóm chỉ tiêu về sức sinh lợi

- Nhóm chỉ tiêu về hệ số sinh lợi

+ Hệ số doanh lợi doanh thu sau thuế(Lợi nhuận biên - Return on Sales-ROS):

Phản ánh một trăm đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi nhuận cho chủ sở hữu Trị

số của chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ khả năng sinh lời của vốn càng cao và hiệu

quả kinh doanh càng lớn

+ Hệ số doanh lợi trước thuế (Sức sinh lợi cơ sở BEP): Hệ số này phản ánh một

trăm đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo được bao nhiêu đồng lãi cho toàn xã hội

+ Tỷ suất thu hồi tài sản (Return on Asset-ROA): Chỉ số này cho biết một trăm

đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu đồng lãi cho chủ sở hữu

+ Tỷ suất thu hồi vốn chủ sở hữu ROE: Chỉ tiêu này cho biết một trăm đồng vốn

chủ sở hữu đầu tư vào doanh nghiệp góp phần tạo ra bao nhiêu đồng lãi cho chủ sở

hữu

- Nhóm chỉ tiêu về tình hình quản lý tài sản

+ Vòng quay tổng tài sản (VQTTS): Một đồng tài sản góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu

+ Vòng quay tài sản ngắn hạn: Một đồng tài sản ngắn hạn góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu

Chỉ tiêu hiệu quả tài sản ngắn hạn có thể được đánh giá bởi hai chỉ tiêu:

bán chịu

tồn kho góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu

Trang 27

+ Vòng quay tài sản dài hạn: Một đồng tài sản dài hạn góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu

1.2 Các yếu tố và ảnh hưởng đến tình hình tài chính doanh nghiệp

1.2.1 Những yếu tố bên trong

Những yếu tố bên trong là những yếu tố mang tính chủ quan của các doanh nghiệp Có các yếu tố sau:

- Yếu tố con người

Con người là yếu tố rất quan trọng, đó là những cán bộ quản lý và lực lượng lao động trong doanh nghiệp Cán bộ quản lý là những người cần nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của phân tích tài chính doanh nghiệp, những người có toàn quyền quản lý và sử dụng toàn bộ tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp và là người chịu trách nhiệm quyết định mọi vấn đề tài chính trong doanh nghiệp

Phân tích tài chính doanh nghiệp đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên viên đủ lớn, lực lượng cán bộ phân tích tài chính cần phải thường xuyên được nâng cao, đảm bảo cả về mặt số lượng và chất lượng

- Yếu tố về công nghệ sản xuất

Việc nghiên cứu chính sách đầu tư của doanh nghiệp vào công cụ sản xuất cũng

là điều rất cần thiết trong việc phân tích chiến lược, nhằm mục đích nghiên cứu và phát triển những chi tiết cho việc đầu tư và máy móc thiết bị, và các tài sản hữu hình là hoàn toàn cần thiết Ví dụ như khi doanh nghiệp đầu tư vào máy móc thiết

bị, doanh nghiệp phải khấu hao từng phần trong nhiều năm, không cho phép khấu trừ toàn bộ chi phí ngay từ đầu năm Vậy, khi doanh nghiệp nhận thấy có sự giảm sút về các khoản khấu hao, cũng có nghĩa là tăng về kết quả kinh doanh, thì cần phải biết nguyên nhân vì sao, có phải do máy móc thiết bị đã lỗi thời, hoặc do doanh nghiệp không có dự án khả thi, dẫn đến nguy cơ suy giảm về sản xuất, giảm sút về năng lực cạnh tranh Do vậy, yếu tố công nghệ là một trong những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả sản xuất cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp

- Yếu tố về chiến lược kinh doanh

Chiến lược kinh doanh được nói đến ở đây là cách phân chia những giới khách

Trang 28

hàng khác nhau trong tổng doanh thu của nó Trên thực tế, một doanh nghiệp phải luôn phụ thuộc vào khách hàng và nhà cung cấp Nếu một khách hàng quen và luôn mua với số lượng nhiều nhưng chuyển sang mua của nhà cung cấp khác thì tình trạng gì sẽ xảy ra, như vậy doanh nghiệp phải chấp nhận những điều kiện ưu đãi hơn cho khách hàng này Tình hình này sẽ dẫn đến những khó khăn lâu dài về mặt tài chính Vì vậy, điều quan trọng với một doanh nghiệp là không nên tập trung quá vào một nhóm đối tượng khách hàng Mở rộng nhiều nhóm khách hàng tốt hơn là tập trung vào một khách hàng lớn

1.2.2 Những yếu tố bên ngoài

- Yếu tố lạm phát

Khi lạm phát tăng cao, việc huy động vốn của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn, ngân hàng nhà nước cũng phải thắt chặt tiền tệ để giảm khối lượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số ít khách hàng với những hợp đồng đã ký hoặc những dự án thực sự có hiệu quả, với mức độ rủi ro cho phép Như

Trang 29

vậy, nếu lạm phát tăng cao có thể làm suy yếu, thậm chí phá vỡ thị trường vốn, ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp

- Yếu tố lãi suất

Lãi suất là biến số kinh tế nhạy cảm, sự thay đổi của lãi suất sẽ tác động làm thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dung của xã hội, về phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn các nước đã chứng minh, sự thay đổi lãi suất sẽ tác động đến sản lượng và giá cả, người ta thường phải đánh giá giá trị của các chi phí và các khoản thu lợi đó qua các đơn vị tiền tệ và chúng được gọi là chi phí và thu nhập Các khoản chi phí và thu nhập đó lại xảy ra ở các mốc thời gian khác nhau, do đó phải xét đến vấn đề thời giá của tiền tệ hay giá trị theo thời gian của đồng tiền, giá trị theo thời gian của tiền được biểu hiện qua tiền lãi, tiền lãi là giá cả mà người đi vay phải trả để sử dụng vốn vay trong khoảng thời gian nhất định hoặc là tiền thuê vốn

để sử dụng

- Yếu tố tỷ giá

Tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của doanh nghiệp Chênh lệch hối đoái là khoản chênh lệch dương hoặc âm giữa giá trị nợ phải thu và nợ phải trả bằng đồng ngoại tệ đổi sang đồng nội tệ Chênh lệch này có thể làm lợi nhưng ngược lại cũng có thể là khoản lỗ cho doanh nghiệp

- Yếu tố tình hình phát triển kinh tế - xã hội

Bao quanh doanh nghiệp là một môi trường kinh tế - xã hội phức tạp và luôn biến động, đó chính là thách thức đối với doanh nghiệp trong các hoạt động cạnh tranh

Trang 30

Kết quả của hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính

Số dư thuần tiền mặt trong

kì và số

dư cuối kì

Biến động của doanh thu, chi phí và lợi nhuận

HIỆU QUẢ TÀI

CHÍNH -Khả năng sinh lời

- Khả năng quản lý tài sản

PHÂN TÍCH TỔNG HỢP -Phân tích

Du Pont

-Phân tích các đòn bẩy

RỦI RO TÀI CHÍNH -Khả năng thanh toán -Khả năng quản lý nợ

CÁC CHỈ SỐ TÀI CHÍNH hiện nay

Bảng CĐKT sau giải pháp

So sánh, nhận xét và đề xuất giải pháp cải thiện tình hình tài chính

CÁC CHỈ SỐ TÀI CHÍNH mục tiêu

Bảng KQKD sau giải pháp

VỊ THẾ TÀI CHÍNH SAU KHI CÓ GIẢI PHÁP (0)

1.3 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp

Hình 1.1: Quy trình phân tích và đề xuất các biện pháp cải thiện tình hình

tài chính

Trang 31

1.3.1 Các bước trong quá trình tiến hành phân tích tài chính

- Thu thập thông tin

Phân tích hoạt động tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải

và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phục vụ cho quá trình dự đoán, đánh giá, lập kế hoạch Nó bao gồm với những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán

và thông tin quản lý khác, những thông tin về số lượng và giá trị… Trong đó các thông tin kế toán là quan trọng nhất, được phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp, đó là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy, phân tích hoạt động tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp

- Xử lý thông tin

Giai đoạn tiếp theo của phân tích hoạt động tài chính là quá trình xử lý thông tin

đã thu thập Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được nhằm phục

vụ cho quá trình dự đoán và quyết định

- Dự đoán và ra quyết định

Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết

để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra quyết định hoạt động kinh doanh Đối với chủ doanh nghiệp, phân tích hoạt động tài chính nhằm đưa ra các quyết định liên quan tời mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng trưởng, phát triển, tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu Đối với cho vay và đầu tư vào doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định về tài trợ đầu tư Đối với cấp trên của doanh nghiệp thì đưa ra các quyết định quản lý doanh nghiệp

1.3.2 Các thông tin cơ sở để phân tích hoạt động tài chính

Các thông tin cơ sở được dùng để phân tích hoạt động tài chính trong các doanh nghiệp nói chung là các báo cáo tài chính, bao gồm:

- Bảng cân đối kế toán (CĐKT – Balance sheet)

Trang 32

Bảng cân đối kế toán là bảng tổng hợp – cân đối tổng thể phản ánh tổng hợp tình hình vốn kinh doanh của doanh nghiệp cả về tài sản và nguồn vốn ở một thời điểm nhất định Thời điểm quy định là ngày cuối cùng của kỳ báo cáo

Đây là một bản báo cáo tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh doanh và quan hệ quản lý với doanh nghiệp Thông thường, bảng CĐKT được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán Một bên phản ánh tài sản và một bên phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp

Các khoản mục trên bảng CĐKT được sắp xếp theo khả năng chuyển hoá thành tiền giảm dần từ trên xuống

Bên tài sản: Phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lập báo

cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp Đó là tài sản cố định và tài sản lưu động Tài sản lưu động (tiền và chứng khoán ngắn hạn dễ bán, các khoản phải thu, dự trữ) Tài sản cố định hữu hình và vô hình

Bên nguồn vốn: Phản ánh số vốn để hình thành các loại tài sản của doanh

nghiệp đến thời điểm lập báo cáo Đó là vốn chủ sở hữu (vốn tự có) và các khoản

nợ Nợ ngắn hạn (nợ phải trả cho nhà cung cấp, các khoản phải nộp, phải trả khác,

nợ ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác) Nợ dài hạn (nợ

vay dài hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, vay bằng cách phát

hành trái phiếu) Vốn chủ sở hữu (thường bao gồm: Vốn góp ban đầu, lợi nhuận

không chia, phát hành cổ phiếu mới)

Về mặt kinh tế, bên tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài sản, bên nguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng như khả năng độc lập về tài chính của doanh nghiệp

Bên tài sản và nguồn vốn của bảng CĐKT đều có các cột chỉ tiêu: Số đầu kỳ, số cuối kỳ Ngoài các khoản mục trong nội dung bảng còn có một số khoản mục ngoài bảng như: Một số tài sản thuê ngoài, vật tư, hàng hoá giữ hộ, nhận gia công, hàng hoá nhận bán hộ, ngoại tệ các loại…

Nhìn vào bảng CĐKT, nhà phân tích có thể nhận biết được loại hình doanh

Trang 33

nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp Bảng CĐKT là một tư liệu quan trọng bậc nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá được khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Income Statement)

Báo cáo “Kết quả hoạt động kinh doanh” là một báo cáo kế toán tài chính phản ánh tổng hợp doanh thu, chi phí và kết quả của các hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp Ngoài ra, báo cáo này còn phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước cũng như tình hình thuế GTGT được khấu trừ, được hoàn lại, được giảm và thuế giá trị gia tăng hàng bán nội địa trong một kỳ kế toán Khác với bảng CĐKT, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cùng là báo cáo tài chính quan trọng cho nhiều đối tượng cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng

là báo cáo tài chính quan trọng nhất cho nhiều đối tượng khác nhau nhằm phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của doanh nghiệp

Thông qua số liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh, có thể kiểm tra được tình hình thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước về các khoản thuế và các khoản phải nộp khác, đánh giá được xu hướng phát triển của doanh nghiệp qua các thời kỳ khác nhau

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm 3 phần:

+ Phần phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau mỗi thời

kỳ hoạt động (Phần I “Lãi, lỗ”) Phản ánh có nhiều chỉ tiêu liên quan đến doanh thu, chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh và các chỉ tiêu liên quan đến thu nhập, chi phí của từng hoạt động tài chính và các hoạt động bất thường cũng như toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các chỉ tiêu thuộc thành phần này đều được theo dõi chi tiết theo số quý trước, quý này và luỹ kế từ đầu năm

+ Phần phản ánh trách nhiệm, nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước gồm các chỉ tiêu liên quan đến các loại thuế, các khoản phí và các khoản phải nộp

Trang 34

khác (Phần II “Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước”) Các chỉ tiêu ở phần này cũng được chi tiết thành số còn phải nộp kỳ trước, số phải nộp kỳ này, số

đã nộp trong kỳ này và số còn phải nộp đến cuối kỳ này cùng với số phải nộp, số đã nộp luỹ kế từ đầu năm đến cuối kỳ báo cáo

+ Phần phản ánh số thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, được giảm và thuế giá gia tăng hàng bán nội địa (Phần III “Thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, thuế GTGT được giảm, thuế GTGT hàng bán nội địa”) Phần này chi tiết các chỉ tiêu liên quan đến thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, đã khấu trừ, được hoàn lại, đã hoàn lại, được giảm, đã giảm và số thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ, còn được hoàn lại, còn được giảm cuối kỳ…

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Cash Flow)

Lưu chuyển tiền tệ là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh việc hình thành

và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp

Thông tin về lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp cung cấp cho người sử dụng thông tin có cơ sở để đánh giá khả năng tạo ra các khoản tiền và việc sử dụng khoản tiền đã tạo ra đó trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Luồng tiền phát sinh từ hoạt động kinh doanh là luồng tiền có liên quan đến các hoạt động tạo ra doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp và các hoạt động khác không phải hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính, nó cung cấp thông tin cơ bản để đánh giá khả năng tạo tiền của doanh nghiệp từ các hoạt động kinh doanh để trang trải các khoản nợ; duy trì các hoạt động, trả cổ tức và tiến hành các hoạt động đầu tư mới mà không cần đến các nguồn tài chính bên ngoài

Luồng tiền phát sinh từ hoạt động đầu tư là luồng tiền có liên quan đến việc mua sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không thuộc các khoản tương đương tiền, còn luồng tiền phát sinh từ hoạt động tài chính là luồng tiền có liên quan đến việc thay đổi về quy mô kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của doanh nghiệp

1.3.3 Các phương pháp phân tích tài chính

Phương pháp phân tích tài chính là hệ thống các công cụ, biện pháp nhằm tiếp

Trang 35

cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các nguồn dịch chuyển và biến đổi về tài chính, các chỉ tiêu tổng hợp, các chỉ tiêu chi tiết, các chỉ tiêu tổng quát chung nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp

Về lý thuyết, có rất nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp như: Phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp liên hệ, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp Dupont , phương pháp chi tiết,… Trong đề tài này, tôi xin giới thiệu 4 phương pháp: So sánh, tỷ lệ, thay thế liên hoàn và phương pháp Dupont

độ phấn đấu hoàn thành kế hoạch thì chỉ tiêu làm căn cứ là số kế hoạch…

- Điều kiện so sánh:

+ Phải xác định rõ “gốc so sánh” và “kỳ phân tích”

+ Khi so sánh các chỉ tiêu với nhau phải có cùng điều kiện, đảm bảo thống nhất

về nội dung kinh tế, tiêu chuẩn biểu hiện là phương pháp tính toán, thời gian tương ứng và đại lượng biểu hiện, thống nhất về đơn vị tính các chỉ tiêu (cả về hiện vật, giá trị và thời gian)

- Nội dung bao gồm:

+ So sánh giữa các số thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinh doanh trước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ kinh doanh

+ So sánh thực tế kỳ phân tích với số kỳ kế hoạch nhằm xác định mức phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch

Trang 36

+ So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với mức trung bình của ngành

+ So sánh theo chiều dọc: Xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể + So sánh theo chiều ngang ở nhiều kỳ phân tích để thấy được sự biến động cả

về số tuyệt đối và số tương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp Trên cơ sở đó đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp tốt hay xấu, hiệu quả hay không hiệu quả

1.3.3.2 Phương pháp tỷ lệ

- Định nghĩa: Là phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để phân tích Đó

là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác

- Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn, bởi vì:

+ Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn

Đó là cơ sở để hình thành những tỷ lệ tham chiếu tin cậy cho việc đánh giá một tỷ

số của doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp

+ Việc áp dụng công nghệ tin học cho phép tích lũy dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ số

+ Phương pháp phân tích này giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn

- Về nguyên tắc, với phương pháp tỷ số yêu cầu cần xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu

1.3.3.3 Phương pháp thay thế liên hoàn

Phương pháp thay thế liên hoàn được sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh khi các nhân tố này có quan hệ tích số, thương số hoặc kết hợp cả tích và thương với kết quả kinh tế Khi sử dụng phương pháp này, cần thực hiện theo các trình tự sau:

- Trước hết, phải biết được các nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ của chúng với chỉ tiêu phân tích, từ đó xác định được công thức tính các chỉ tiêu đó

Trang 37

- Thứ hai, cần sắp xếp thứ tự các nhân tố theo một trình tự nhất định: Nhân tố số lượng xếp trước, nhân tố chất lượng xếp sau, trường hợp có nhiều nhân tố số lượng cùng ảnh hưởng thì nhân tố chủ yếu xếp trước, nhân tố thứ yếu xếp sau và không đảo lộn trình tự này

- Thứ ba, tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố một theo trình tự nói trên Nhân tố nào được thay thế, nó sẽ lấy giá trị thực tế từ đó, còn nhân tố chưa được thay thế phải giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch Thay thế xong một nhân

tố, phải tính ra một kết quả cụ thể của lần thay thế đó Lấy kết quả này so với (trừ đi) kết quả của bước trước nó thì chênh lệch tính được chính là kết quả do ảnh hưởng của nhân tố vừa được thay thế

Cuối cùng, có bao nhiêu nhân tố phải thay thế bấy nhiêu lần và tổng hợp ảnh hưởng của các nhân tố phải bằng với đối tượng cụ thể của phân tích (chính là chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích)

1.3.3.4 Phương pháp Dupont

Đây là phương pháp giúp cho nhận biết được hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp như thu nhập trên tài sản (ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE), thành tích số của các chuỗi tỉ số có mối quan hệ nhân quả với nhau

Các câu hỏi khi phân tích chỉ số tài chính

- Chỉ số này tăng hay giảm?

-Sự biến động này tốt hơn hay xấu đi?

+ So với kì trước

+ So với đối thủ cạnh tranh trực tiếp

+ So với mức trung bình ngành

+ So với chỉ số kế hoạch

+ So với chỉ số mong muốn

- Nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp gây ra sự biến động này

- Các phương án khả dĩ để cải thiện chỉ số này

Trang 38

- Hành động này gây ảnh hưởng như thế nào tới các báo cáo tài chính và các chỉ tiêu tài chính khác

- Phương án tối ưu trong bối cảnh các nguồn lực hiện tại

1.4 Nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp

1.4.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính qua các báo cáo tài chính

Mục đích: Đánh giá khái quát là để xem xét nhận định về tình hình tài chính

doanh nghiệp Điều này nhằm cung cấp cho người sử dụng thông tin biết được tình hình tài chính doanh nghiệp có khả quan hay không thông qua hệ thống chỉ tiêu dùng để đánh giá khái quát tình hình tài chính

Trình tự:

- Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn: Phân tích cơ cấu tài sản là việc xác

định tỉ trọng các loại tài sản của doanh nghiệp từ đó cho người phân tích biết được một cách tổng quát về các loại tài sản của doanh nghiệp cũng như tỷ trọng của mỗi loại trong tổng tài sản

- Phân tích sự biến động cơ cấu tài sản: là việc so sánh loại tài sản ở cuối kì so

với đầu kì Bằng việc so sánh này ta có thể xác định mức độ thay đổi cụ thể của chỉ tiêu cơ cấu tài sản, để từ đó có thể kết hợp với số liệu liên quan như số liệu kế hoạch, số liệu của đối thủ cạnh tranh trực tiếp, số liệu trung bình ngành, số liệu mong muốn, và đặc trưng của ngành để rút ra được kết luận về mức độ hợp lý của

cơ cấu tài sản tại thời điểm đang xét Đồng thời tìm ra các nguyên nhân cụ thể gây

ra sự biến động này

- Phân tích cơ cấu nguồn vốn: cho biết được doanh nghiệp sử dụng những

nguồn tài trợ nào, tỉ trọng mỗi nguồn tài trợ đó là bao nhiêu?

- Phân tích sự biến động cơ cấu nguồn vốn: là so sánh sự tăng giảm dịch

chuyển thay đổi của các loại nguồn vốn kì này so với kì trước từ đó đánh giá về mức độ hợp lý và tìm nguyên nhân của sự thay đổi

Trang 39

- Phân tích cân đối tài chính

Hình 1.2: Phân tích cân đối tài chính

+ Cân đối giữa TSLĐ và nguồn vốn ngắn hạn: TSLĐ nên được tài trợ bởi nguồn vốn ngắn hạn

+ Cân đối giữa TSCĐ và nguồn vốn dài hạn: TSCĐ nên được tài trợ bởi nguồn vốn dài hạn

+ Sự phân bổ nguồn vốn chủ sở hữu cho các hoạt động thiết yếu của doanh nghiệp

- Phân tích báo cáo thu nhập

- Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ

1.4.2 Phân tích hiệu quả tài chính

Phân tích chỉ tiêu hiệu quả tài chính nhằm xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp hiệu quả hay không, hiệu quả do những nhân tố nào tác động và nguyên nhân gây nên những tác động đó Phân tích chỉ tiêu hiệu quả tài chính có ý nghĩa rất quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà tín dụng và các cổ đông vì nó gắn liền lợi ích của họ cả về hiện tại và tương lai

Để đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả tài chính, người phân tích thường tính và so sánh các chỉ tiêu sau:

1.4.2.1 Phân tích hệ số sinh lợi

- Hệ số doanh lợi doanh thu sau thuế(Lợi nhuận biên): Return on ROS:

Sales-Công thức:

TSLĐ

Tiền Phải thu HTK

TSCĐ

NNH

Phải trả Vay ngắn hạn

Nợ định kì NDH

NGUỒN VỐN CHỦ SỞ

HỮU

Trang 40

Lãi ròng là khoản lãi sau khi đã trừ đi các chi phí, nộp thuế lợi tức

- Hệ số doanh lợi trước thuế: (Sức sinh lợi cơ sở BEP)

Công thức:

EBIT Doanh lợi trước thuế BEP =

và phạm vi so sánh mà người ta lựa chọn thu nhập trước thuế và lãi hoặc thu nhập sau thuế để so sánh với tổng tài sản

- Tỷ suất thu hồi vốn chủ sở hữu: Return on Equity - ROE

Công thức:

Ngày đăng: 15/07/2017, 20:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm