1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Phân tích thực trạng việc chuyển đổi công ty nhà nước (thuộc bộ công nghiệp quản lý) trên địa bàn thành phố hồ chí minh thành công ty mẹ con

113 190 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 595,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế sau hơn 10 năm hoạt động theo Quyết định 90 - 91/TTg của Chính phủ, mô hình tổng công ty nhà nước đã có những thành công nhất định, tuy nhiên so với yêu cầu, nội dung đổi mới doa

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

NGUYỄN HỮU LONG

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VIỆC CHUYỂN ĐỎI CÔNG TY NHÀ NƯỚC (THUỘC BỘ CÔNG NGHIỆP QUẢN LÝ )TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ

CHÍ MINH THÀNH CÔNG TY MẸ -CON

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : NGUYỄN ÁI ĐOÀN

Hà Nội – 2006

Trang 2

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TẬP ĐOÀN KINH DOANH

1.1 Tập đoàn kinh doanh 1 1.2 Bản chất của mối quan hệ “Mẹ - con” trong cơ

cấu tổ chức của tập đoàn kinh doanh 5 1.3 Một số kinh nghiệm về tổ chức quản lý của các

tập đoàn kinh doanh lớn trên thế giới 12 CHƯƠNG 2

CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ CHUYỂN ĐỔI SANG MÔ HÌNH TỔ CHỨC CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON 2.1 Tình hình phát triển của các doanh nghiệp nhà nươc,

sựcần thiết phải chuyển đổi sang mô hình tổ chức

công ty mẹ - công ty con 26

2.1.1 Tình hình phát triển của các doanh nghiệp nhà nước 26 2.1.2 Mô hình Tổng công ty 90, 91 cơ sở cho việc thành

lập tập đoàn kinh tế mạnh 29 2.1.3 Sự cần thiết phải chuyển đổi sang mô hình tổ chức

công ty mẹ - công ty con 35

2.2 Chủ trương, chính sách của nhà nước về chuyển đổi các

Tổng công ty, Công ty nhà nước độc lập, Công ty thành

viên hạch toán độc lập sang mô hình tổ chức công ty

mẹ - công ty con 40 2.3 Nội dung và các bước tiến hành chuyển đổi các

Tổng công ty, Công ty nhà nước độc lập, Công ty

thành viên hạch toán độc lập sang mô hình tổ chức

công ty mẹ - công ty con 42

2.3.1 Nội dung chuyển đổi chuyển đổi các Tổng công ty, công ty

nhà nước độc lập, công ty thành viên hạch toán độc lập

sang mô hình tổ chức công ty mẹ-công ty con 42

Trang 3

CHƯƠNG 3

THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI CÁC TỔNG CÔNG TY, CÔNG TY NHÀ NƯỚC ĐỘC LẬP (THUỘC BỘ CÔNG NGHIỆP QUẢN LÝ) TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH; NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ

3.1 Tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước thuộc

Bộ Công nghiệp quản lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 47 3.2 Chương trình chuyển đổi các Tổng công ty, Công ty nhà nước độc

lập thuộc Bộ Công nghiệp quản lý trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh, sang mô hình công ty mẹ - công ty con 50 3.3 Thực trạng chuyển đổi các Tổng công ty, Công ty nhà nước độc

lập thuộc Bộ Công nghiệp quản lý trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh, sang mô hình công ty mẹ - công ty con 55 3.3.1.Đánh giá thực trạng tổ chức quản lý, tổ chức kinh doanh và kết

quả sản xuất , kinh doanh tham gia chuyển đổi thí điểm 56 3.3.1.1 Thực trạng của doanh nghiệp trước khi chuyển đổi 56 3.3.1.2 Đánh giá thực trạng quá trình thực hiện chuyển đổi tổ chức

quản lý, tổ chức kinh doanh của các doanh nghiệp tham gia

chuyển đổi thí điểm 63 3.3.1.3 Tình hình tài chính, đầu tư, góp vốn và giám sát hiệu quả

hoạt động về vốn của tổng công ty, công ty nhà nước độc lập …

(công ty mẹ)và các đơn vị thành viên ở các doanh nghiệp khác 75 3.3.1.4 Xây dựng mô hình, cơ cấu tổ chức, chúc năng nhiệm vụ của

công ty mẹ, các công ty con, xác định mối quan hệ giữa công ty

mẹ với các công ty con, công ty liên kết và giữa các công ty

con với nhau 78 3.3.1.5 Phương án chuyển giao quyền lợi, nghĩa vụ, công nợ, lao động

cho công ty mẹ và các công ty con 79 3.3.1.6 Xây dựng phương án sản xuất kinh doanh sau khi chuyển đổi

mô hình hoạt động 79

Trang 4

CHƯƠNG 4

NHỮNG GIẢI PHÁP CHIẾN LƯỢC NHẰM HOÀN THIỆN VIỆC CHUYỂN ĐỔI CÁC TỔNG CÔNG TY, CÔNG TY NHÀ NƯỚC ĐỘC LẬP SANG HOẠT ĐỘNG THEO MÔ HÌNH CÔNG

TY MẸ - CÔNG TY CON

4.1 Những giải pháp chiến lược đồng bộ hoàn thiện việc chuyển đổi tổng công ty, công ty nhà nước độc lập sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con 92 4.1.1 Quán triệt tư tưởng đối với cán bộ công nhân viên về đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp 92 4.1.2 Đẩy mạnh công tác tổ chức, sắp xếp các doanh nghiệp thành viên tổng công ty, công ty nhà nước độc lập 92 4.1.3 Đa dạng hoá sở hữu, đa dang hoá ngành nghề kinh doanh, tăng cường đầu tư liên kết liên doanh 93 4.1.4 Đổi mới công tác bồi dưỡng, đào tạo sử dụng đội ngũ cán bộ quản lý và giám đốc doanh nghiệp 93 4.1.5 Xây dựng chiến lược kinh doanh chung của tổ hợp công ty mẹ - công ty con 94 4.1.6 Xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu mạnh 94 4.1.7 Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính trong công ty mẹ 94 4.1.8 Ứng dụng khoa học công nghệ thông tin vào công tác quản lý tài chính 95 4.2 Các chính sách, giải pháp tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước 96 4.2.1 Bổ xung hoàn thiện cơ chế quản lý, chính sách nhà nước để đẩy mạnh đổi mới sắp xếp doanh nghiệp nhà nước 96 4.2.2 Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của công ty 96

PHẦN KẾT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

Sơ đồ 1.2 Quản lý theo mô hình mạng lưới Trang 15

Sơ đồ 3.1 Mô hình Tổ chức của Công ty mẹ

(tổng công ty Bia-Rượu-Nước giải khát Sài gòn)

Trang 71

Sơ đồ 3.2 Mô hình Tô chức bộ máy điều hành sản xuất

-kinh doanh theo mô hình công ty mẹ - con

(công ty Dầu thực vật Hương liệu mỹ phẩm

Việt nam)

Trang 72

Sơ đồ 3.3 Mô hình Tô chức bộ máy điều hành sản xuất

-kinh doanh theo mô hình công ty mẹ - con

(công ty May Việt tiến)

Trang 73

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Kết quả hoạt động SX-KD của một số doanh

nghiệp tiêu biểu năm 2003, 2004, 2005

Trang 49

Bảng 3.2 Kết quả hoạt động SX-KD của tổng công ty

Bia-Rượu - Nước giải khát Sài gòn

(đối với sản phẩm Bia)

Trang 58

Bảng 3.3 Kết quả hoạt động SX-KD của công ty Dầu thực

vật Hương liệu mỹ phẩm Việt nam

Trang 61

Bảng 3.4 Kết quả hoạt động SX-KD của công ty May Việt

tiến

Trang 62

Bảng 3.5 Kết quả hoạt động SX-KD của tổng công ty

Bia-Rượu - Nước giải khát Sài gòn

Trang 80

Bảng 3.6 Kết quả hoạt động SX-KD của công ty Dầu thực

vật Hương liệu mỹ phẩm Việt nam

Trang 81

Bảng 3.7 Kết quả hoạt động SX-KD của công ty May Việt

tiến

Trang 82

Trang 7

Sự cần thiết của đề tài

Sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước để loại hình doanh nghiệp này trở thành động lực chủ yếu của nền kinh tế là một trong những yêu cầu bức thiết của Đảng và Nhà Nước hiện nay Trong đó phải hoàn thiện các tổng công ty nhà nước là hết sức cần thiết với những giải pháp hữu hiệu về mặt tổ chức và công tác cán bộ, cả về cơ chế chính sách để một mặt ngăn chặn được tình trạng kém hiệu quả như hiện nay, mặt khác hiện đại hóa công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, từng bước nâng cao sức cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường trong nước, vươn ra khu vực quốc tế

Một trong những giải pháp quan trọng đó là hoàn thiện các liên lết kinh tế của doanh nghiệp nhà nước Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nhấn mạnh việc phải hoàn thiện các liên kết kinh tế của doanh nghiệp nhà nước theo hướng chuyển sang mô hình công ty mẹ - công ty con Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) đã khẳng định lại chủ trương này “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổng công ty nhà nước Tổng kết công tác thí điểm việc chuyển sang mô hình công ty mẹ - công ty con; tích cực chuẩn bị để hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh do tổng công ty nhà nước làm nòng cốt”

Thực hiện chủ trương này Chính phủ đã chọn 52 tổng công ty nhà nước, doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn để xây dựng đề án thí diểm chuyển sang mô hình công ty mẹ - công ty con Việc thực hiện thí điểm theo mô hình công ty mẹ - công ty con thời gian qua đã cho thấy những kết quả tích cực, tạo ra mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp mới phù hợp với

cơ chế thị trường và xu hướng phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam, thay đổi căn bản về quan hệ, trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích giữa tổng công ty - công ty mẹ với các công ty con, công ty liên kết, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục hoàn chỉnh Sau thời gian thí điểm thực

Trang 8

Nghị định số 199/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về việc quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh của công ty mẹ nhà nước đã chính thức thực hiện ở nước ta

Thực tế sau hơn 10 năm hoạt động theo Quyết định 90 - 91/TTg của Chính phủ, mô hình tổng công ty nhà nước đã có những thành công nhất định, tuy nhiên so với yêu cầu, nội dung đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo chủ trương của Đảng và Nhà Nước trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, thì việc tổ chức, sắp xếp lại các tổng công ty, công ty nhà nứơc độc lập theo mô hình công ty mẹ -công ty con là cần thiết Để việc chuyển đổi mô hình hoạt động có hiệu quả, Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành và địa phương xây dựng chương trình, kế hoạch và bước đi cụ thể, phù hợp để các tổng công ty, công ty nhà nứơc độc lập tạo được những bước đột phá mới trong tổ chức quản lý nhằm đạt được những mục tiêu về kinh tế, xã hội mà Đảng và Nhà Nước đã định Bộ Công nghiệp xây dựng đề án chuyển đổi thí điểm 8 doanh nghiệp trực thuộc Bộ quản lý, trong đó có 03 đoanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là: Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn, Công ty Dầu thực vật Hương liệu mỹ phẩm Việt Nam, Công ty May Việt Tiến

Từ những suy nghĩ trên, do yêu cầu thực tiễn công tác tôi mạnh dạn

chọn đề tài Phân tích thực trạng việc chuyển đổi công ty nhà nước (thuộc Bộ Công nghiệp quản lý) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, sang mô hình “công ty mẹ - công ty con”; một số giải pháp hoàn thiện;

làm luận văn tốt nghiệp của Lớp Cao học Quản trị kinh doanh của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Mục đích của Luận văn

Luận văn nhằm giải quyết các vấn đề sau:

- Trên cơ sở lý luận về tổ chức, cơ chế hoạt động của mô hình công ty mẹ

- công ty con, từ kinh nghiệm của các tập đoàn đa quốc gia và từ các nước trên thế giới, trên cơ sở lý luận về chuyển đổi mô hình tổ chức các

Trang 9

thực vật Hương liệu mỹ phẩm Việt Nam, Công ty May Việt Tiến khi chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con

- Tổng kết, phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của 03 doanh nghiệp trên trong giai đoạn (2001-2003), thực trạng của giai đoạn thực hiện mô hình chuyển đổi (từ năm 2004 đến 6 tháng năm 2006), từ đó rút ra được những thành công và những tồn tại để đề ra những giải pháp nhằm từng bước hoàn thiện mô hình công ty mẹ - công ty con tại 03 doanh nghiệp trên nói riêng và các doanh nghiệp trên toàn quốc nói chung

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

1- Đối tượng nghiên cứu:

Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn, Công ty Dầu thực vật Hương liệu mỹ phẩm Việt Nam và Công ty May Việt Tiến

2- Phạm vi nghiên cứu:

Việc thực hiện những nội dung chủ yếu trong công tác đổi mới doanh nghiệp nhà nước tại 03 doanh nghiệp trên đại diện cho 03 mô hình doanh nghiệp (tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập, công ty thành viên hạch toán độc lập), từ đó đưa ra các giải pháp nhằm từng bước hoàn thiện mô hình công ty mẹ -công ty con

3- Giai đoạn, thời gian nghiên cứu:

Phân tích thực trạng về tổ chức hoạt động sau khi doanh nghiệp chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, từ năm 2004 đến tháng 6/2006

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Lý luận của học thuyết Mác - Lê nin, các quan điểm của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà Nước kết hợp với những lý thuyết về quản trị hiện đại (chiến lược, cơ cấu và hành vi tổ chức…) vận dụng vào thực tế ở Việt Nam

- Sử dụng phương pháp Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử làm công cụ chủ đạo trong quá trình nghiên cứu, ngoài ra còn sử dụng lý thuyết

Trang 10

- Phân tích thực trạng của việc chuyển đổi tổ chức doanh nghiệp sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con ở 03 doanh nghiệp (Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài gòn, Công ty Dầu thực vật Hương liệu mỹ phẩm Việt Nam, Công ty May Việt Tiến), ứng với 03 mô hình doanh nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp quản lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, đánh giá những thành công và những tồn tại trong quá trình chuyển đổi, đề suất những giải pháp về tổ chức, quản lý hoạt động của doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con

- Khẳng định sự cần thiết của việc chuyển đổi tổ chức hoạt động các Tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập theo mô hình công ty mẹ - công ty con

Kết cấu của luận văn

Để thực hiện được mục đích của luận văn như trên, ngoài phần mở đầu, kết luận, bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, sơ đồ tổ chức, phần nội dung chính của luận văn chia làm 4 phần sau:

- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về tập đoàn kinh doanh;

- Chương 2: Chủ trương, chính sách của Nhà Nước về chuyển đổi sang mô

hình công ty mẹ - công ty con;

- Chương 3: Thực trạng chuyển đổi các tổng công ty, công ty nhà nước độc

lập (thuộc Bộ Công nghiệp quản lý) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; những nhân tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi mô hình tổ chức quản lý

- Chương 4: Những giải pháp chiến lược nhằm hoàn thiện việc chuyển đổi

các tổng công ty, công ty nhà nước độc lập sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con

Trang 11

mang tính thời sự, nên với thời gian và kiến thức bản thân còn hạn chế, chắc chắn Luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong Thầy, Cô, đồng nghiệp và bạn đọc quan tâm chân thành góp ý để Luận văn được hoàn chỉnh và mang tính thiết thực hơn./

Trang 12

CHƯƠNG I:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH DOANH

1.1 Tập đoàn kinh doanh:

Tập đoàn kinh doanh là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường Nó được ra đời và phát triển xuất phát từ yêu cầu tích tụ và tập trung hoá sản xuất, của cạnh tranh, liên kết và tối đa hóa lợi nhuận, của tiến bộ khoa học công nghệ Tập đoàn kinh doanh có vai trò quan trọng trong việc tăng cường sức mạnh kinh tế của mỗi quốc gia và tăng khả năng cạnh tranh, tăng lợi nhuận của các công ty thành viên Đối với các nước đang phát triển, tập đoàn kinh doanh là lực lượng nòng cốt thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và là giải pháp chiến lược để cạnh tranh với các công ty nước ngoài

+ Sự ra đời và phát triển của tập đoàn kinh doanh:

Kinh tế thị trường phát triển làm cho nhu cầu tích tụ, tập trung, chuyên môn hoá và hợp tác hoá trong quá trình sản xuất – kinh doanh trở lên càng bức thiết Từ lâu, tại các nước có nền kinh tế thị trường phát triển như : Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Nhật v.v nhiều doanh nghiệp đã tìm cách hợp tác với nhau để hình thành tổ hợp doanh nghiệp có quy mô hơn, ngành nghề kinh doanh đa dạng hơn, phạm vi hoạt động rộng hơn (không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn vươn ra nhiều quốc gia khác trên thế giới) Những tổ hợp các doanh nghiệp như vậy gọi là tập đoàn kinh doanh, chúng có vai trò chi phối và tác động rất lớn đối với nền kinh tế của nhiều nước, khu vực và thế giới

Lịch sử phát triển của các tập đoàn kinh doanh cho thấy, chúng phát triển nhanh và liên tục, có sức sống mãnh liệt bởi vì phù hợp với những quy luật tất yếu khách quan và xu thế phát triển nền sản xuất, những quy luật đó là:

Trang 13

Thứ nhất: Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình

độ Phát triển của lực lượng sản xuất: Dưới tác động của những tiến bộ

khoa học công nghệ và quản lý, quá trình phân công lao động xã hội đã đạt đến trình độ cao vượt ra khỏi phạm vi quốc gia; quá trình quốc tế hoá, khu vực hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới là tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất, quan hệ kinh tế ngày càng đa dạng, quy mô sản xuất càng lớn, thị trường tiêu thụ sản phẩm được mở rộng v.v Tập đoàn kinh doanh là loại hình tổ chức kinh tế tiên tiến, hiện đại biểu hiện được mối quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất đồng thời là động lực

tác động và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển

Thứ hai: Quy luật cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận: là quy luật của

nền kinh tế thị trường, là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển Các doanh nghiệp phải dùng mọi biện pháp để độc quyền hoặc chiếm ưu thế thị trường về sản phẩm, nhờ nó mà lợi nhuận kinh tế thu được rất cao trong phạm vi cho phép Có 2 xu thế chính xảy ra trong cạnh tranh:

Nếu doanh nghiệp thất bại thì bị sát nhập và trở thành một bộ phận của doanh nghiệp chiến thắng hoặc bị tiêu diệt, còn doanh nghiệp chiến thắng thì có quy mô về vốn, trình độ công nghệ và sản xuất v.v càng được mạnh lên

Nếu cuộc canh tranh bất phân thắng bại trong thời gian dài thì một số doanh nghiệp sẽ tự tìm đến sự liên kết để tồn tại đồng thời cũng làm tăng khả năng cạnh tranh qua đó thu được lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh đạt mức tối đa

Thứ ba: Quy luật tích tụ, tập trung vốn và sản phẩm: Trong cơ chế thị

trường, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải không ngừng tích tụ và tập trung vốn để tái sản xuất mở rộng, đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp tích tụ vốn từ việc thu lợi nhuận của hoạt động sản xuất kinh doanh, vay vốn, liên doanh, thôn tính doanh nghiệp yếu, nhỏ

hơn v.v Quá trình này làm xuất hiện tập đoàn kinh doanh

Thứ tư: Quy luật tiến bộ về khoa học công nghệ và khoa học quản lý:

Sự tiến bộ về khoa học công nghệ và khoa học quản lý là yếu tố quan trọng trong cạnh tranh, nó giúp cho việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm mạnh các chi phí cấu thành trong sản phẩm, góp phần tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Tuy nhiên vốn đầu tư cho nghiên cứu khoa học công nghệ là rất lớn, rủi ro cao, nếu doanh nghiệp

Trang 14

nhỏ hoặc riêng lẻ thì không thể thực hiện đuợc, nên đã ra đời tập đoàn kinh doanh

+ Khái niệm của tập đoàn kinh doanh:

Trong nền kinh tế thị trường, không có khái niệm và tên chung về tập đoàn kinh doanh, tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị và môi trường pháp lý của mỗi nước mà tập đoàn kinh doanh có những tên gọi khác nhau, ở Đức, Pháp Mỹ gọi là Cartel, Syndicate, Trust, Group; Nhật Bản gọi là Zaibatsu, Keiretsu, Hàn Quốc gọi là Chaebol; Trung Quốc gọi là tập đoàn Doanh nghiệp; ở Việt Nam tổ hợp này mới được hình thành và gọi là tập đoàn kinh tế hay tập đoàn kinh doanh (theo Quyết định số 91 ngày 7/3/1994 của Thủ tướng Chính phủ gọi là tập đoàn kinh doanh)

Theo pháp luật của một số quốc gia thì Cartel là sự liên kết của các nhà sản xuất bất cứ sản phẩm nào nhằm kiểm soát sản xuất, tiêu thụ và giá cả của sản phẩm đó đồng thời để tạo ra độc quyền và hạn chế sự cạnh tranh trong những lĩnh vực nhất định; Trust là những liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm tạo ra độc quyền trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đối với một số loại hàng hoá và dịch vụ nhất định; Syndicate là hình thức liên kết giữa các nhà sản xuất với các nhà đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực tài chính Ở Hàn Quốc Chaebol là thuật ngữ dùng để chỉ liên minh gồm nhiều công ty hình thành xung quanh một công ty mẹ, số cổ phiếu ở mỗi công ty khác nhau, thường là do một gia đình điều hành Ở Nhật Bản Keiretsu là thuật ngữ dùng để chỉ gồm một nhóm các doanh nghiệp có tính pháp lý độc lập, nắm giữ cổ phần của nhau được tổ chức quanh một ngân hàng để phục vụ lợi ích của các bên

Có rất nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên có thể hiểu một cách đầy

đủ và chung nhất về tập đoàn như sau: Tập đoàn kinh doanh là tổ hợp các

công ty thuộc môt ngành hay những ngành khác nhau, trong phạm vi một

nước hay nhiều nước, trong đđó có một “công ty mẹ” nắm quyền lãnh đạo,

kiểm soát và chi phối hoạt động của các “công ty con” về mặt tài chính và

chiến lược phát triển Tập đoàn kinh doanh là một tổ chức vừa có chức

năng kinh doanh vừa có chức năng liên kết, nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đđa hoá lợi nhuận

Trang 15

+ Những đặc điểm cơ bản của tập đoàn kinh doanh:

- Tập đoàn kinh doanh là một tổ chức kinh doanh có quy mô rất lớn về vốn, lao động, doanh thu và thị trường Nhiều tâp đoàn kinh doanh có quy mô hoạt động rộng, có các chi nhánh không chỉ trên các vùng lãnh thổ rộng lớn của một quốc gia mà còn nhiều quốc gia hoặc ở phạm vi toàn cầu Trong những điều kiện thích hợp, tập đoàn kinh doanh phát huy được lợi thế quy mô lớn

- Tập đoàn kinh doanh là một tổ hợp các công ty, có quan hệ nhiều tầng, nhiều bậc bao gồm “công ty mẹ” các “ công ty con” và các “ công ty cháu” phần lớn mang họ công ty mẹ… Công ty mẹ sở hữu lượng vốn lớn trong các công ty con, cháu, nó chi phối, kiểm soát các công ty con, cháu về mặt tài chính và chiến lược phát triển Sở hữu vốn của tập đoàn kinh doanh là sở hữu hỗn hợp (nhiều chủ), có một chủ “ công ty mẹ” giữ vai trò chi phối, khống chế về tài chính Dạng phổ biến của tập đoàn kinh doanh là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn; các công ty con đều có pháp nhân độc lập

- Tập đoàn kinh doanh chuyên ngành, đa ngành hoặc đa lĩnh vực, trong đó kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực là phổ biến Bên cạnh các đơn

vị sản xuất còn có các tổ chức ngân hàng, thương mại, dịch vụ, đào tạo, nghiên cứu khoa học và ứng dụng… Xu hướng chung là các tổ chức tài chính, ngân hàng, nghiên cứu khoa học và thị trường ngày càng được chú ý và phát triển, vì nó là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của tập đoàn

- Tập đoàn kinh doanh tiến hành hoạt động và quản lý tập trung ở một số mặt như: Huyđđộng, điều hoà và quản lý vốn; nghiên cứu và triển khai; đào tạo nguồn nhân lực; thương mại; xuất nhập khẩu; xây dựng chiến lược phát triển (chiến lược thị trường, chiến lược sản phẩm, chiến lược cạnh tranh, chiến lược đầu tư…) Như vậy tập đoàn kinh doanh làm hai chức năng cơ bản: Chức năng kinh doanh của doanh nghiệp, chức năng liên kết kinh tế giữa các doanh nghiệp

Trang 16

1.2 Bản chất cuả mối quan hệ “ Mẹ - con” trong cơ cấu tổ chức tập đoàn kinh doanh

1.2.1 Khái niệm về công ty mẹ, công ty con:

Chưa có một định nghĩa chung nhất về công ty mẹ – công ty con được công nhận, tuy nhiên có rất nhiều ý kiến khác nhau về công ty mẹ – công ty con, như:

Theo Bonbright và Means thì: “ Bất kỳ công ty nào, sát nhập hoặc

không được sát nhập, ở vào vị trí có thể kiểm soát, hoặc có ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động quản lý của một hay nhiều công ty, ít nhất là một phần, nhờ có quyền sở hữu chứng khoán của công ty kia” Định nghĩa này coi khả

năng kiểm soát là yếu tố quyết định, bao hàm các công ty có khả năng ảnh hưởng quan trọng đến chính sách của các công ty khác thông qua việc sở hữu tỷ lệ số vốn cổ phần

Theo các luật cả nước Anh và Niu Di Lân thì “ Một công ty được coi

là công ty mẹ của các công ty khác, nếu và chỉ nếu khi công ty khác đó là công ty của công ty mẹ nói trên” Tuỳ thuộc vào một số những điều kiện

nhất định, những đạo luật này quy định rằng: “Một công ty là công ty con

của một công ty khác, nếu công ty khác đó là thành viên của công ty này và kiểm soát hội đồng quản trị, hoặc nắm giữ hơn một nửa giá trị danh nghĩa của vốn cổ phần; hoặc công ty được đề cập đầu tiên là một công ty con của bất kỳ công ty nào là công ty con của công ty khác đó”

Theo đạo luật công ty các bang nước Oâxtrâylia, thì quy định rằng:

“ Công ty A là một công ty con của công ty B nếu: Công ty B kiểm soát cơ cấu thành phần của hội đồng quản trị của công ty A; hoặc kiểm soát hơn một nửa quyền biểu quyết của công ty A; hoặc nắm giữ hơn một nửa tỷ lệ vốn cổ phần đã phát hành của công ty A (không bao gồm phần không tạo quyền tham gia vượt quá mức phân phối lợi nhuận hoặc vốn); hoặc công ty

A là công ty con của bất kỳ công ty nào là công ty con của công ty B”…

Qua các định nghĩa trên, có nhận xét như sau:

- Sự khác biệt chính giữa những định nghĩa pháp lý trên chủ yếu là mức độ kiểm soát được coi là cần thiết để tạo nên một công ty mẹ

- Sự kiểm soát hiệu qủa đối với chính sách của các công ty khác có thể được thực hiện bởi một công ty nắm giữ tỷ lệ cổ phần thiểu số tại

Trang 17

những công ty này, và rất nhiều các tổ chức công ty mẹ tại Mỹ thi hành quyền kiểm soát đối với các công ty liên kết theo cách đó

- Định nghĩa của Oâxtrâylia có phạm vi rộng hơn cả vì nó bao gồm khả năng kiểm soát “ cơ cấu thành phần hội đồng quản trị” của công ty con mà trong một số trường hợp, có thể tiến hành không cần phải sở hữu bất cứ một tỷ lệ cổ phần nào

1.2.2 Bản chất của mối quan hệ “ mẹ - con” trong cơ cấu tổ chức của tập đoàn kinh doàn kinh doanh:

Trong hệ thống pháp luật của các nước, cũng như trong thực tế thì khái niệm về mô hình tổ chức công ty mẹ – công ty con không được tồn tại mà chỉ tồn tại khái niệm về tập đoàn kinh doanh, các tập đoàn liên kết với nhau theo các cơ chế khác nhau, nhưng về bản chất đều có chung về mô hình là một công ty trung tâm kiểm soát và chi phối hoạt động các công ty

khác; có ý kiến cho rằng: Tập đoàn là một thực thể kinh doanh, thực thể

này thể hiện ra bên ngoài bằng những đặc trưng để có thể nhận biết nó Còn nói đến cấu trúc bên trong liên kết các thành tố của thực thể đó là nói đến mô hình công ty mẹ – công ty con Muốn hiểu bản chất của mô hình công ty mẹ- công ty con thì chỉ cần hiểu bản chất của tập đoàn kinh doanh và ngược lại

Trong tập đoàn kinh doanh, bản chất của mối quan hệ mẹ con (mô hình công ty mẹ – công ty con) đựợc thể hiện ở những điểm cơ bản sau:

+ Mô hình công ty mẹ – công ty con là mô hình liên kết kinh tế giữa các chủ thể kinh tế độc lập, các chủ thể này vẫn giữ nguyên tính kinh tế và pháp lý của mình Đây là ưu thế quan trọng của mô hình này, vì giữ nguyên được tính chủ động, độc lập trong hoạt động của các chủ thể

+ Sự vận động của vốn là nền tảng của mối liên kết được thông qua các hợp đồng kinh tế (hợp đồng chuyển nhượng cổ phần) trong mô hình công ty mẹ – công ty con… Vốn của công ty mẹ được hình thành theo cơ chế góp hay chuyển nhượng cổ phần Cơ sở pháp lý là các hợp đồng chứ

Trang 18

không phải là các quyết định hành chính Quan hệ công ty mẹ – công ty con được tổ chức với các hình thức sau:

- Công ty mẹ thành lập công ty con và đầu tư vốn ở mức độ tuyệt đối (100%) hay chi phối (> 50%)

- Công ty tiếp quản hay thôn tính công ty mục tiêu bằng hình thức giao dịch mua bán cổ phần để đạt mức kiểm soát công ty mục tiêu, phương thức này thường sảy ra ở một số nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ, Châu Âu…

- Các công ty tự nguyện góp vốn để hình thành các công ty có quy mô lớn hơn (công ty mẹ), có đủ khả năng về vốn để thực hiện các hợp đồng góp vốn hoặc chuyển nhượng vốn

+ Cơ chế kiểm soát giữa công ty mẹ- công ty con được thông qua lượng vốn góp, căn cứ vào lượng vốn góp (lượng cổ phần) do công ty mẹ sở hữu mà công ty mẹ có khả năng chi phối và kiểm soát hoạt động của công ty con hay không? Khi có lượng cổ phần tối thiểu đủ khả năng chi phối công ty con, thông qua người đại diện phần vốn của mình tại hội đồng quản trị của công ty con Toàn bộ quá trình ra quyết định và hoạt động của chiến lược phát triển công ty con đều do hội đồng quản trị thực hiện trên

cơ sở chiến lược phát triển chung của toàn công ty, không có một quyết định hành chính nào từ công ty mẹ chi phối hoạt động của công ty con + Trong mô hình công ty mẹ – công ty con không có một cơ chế hành chính nào được tồn tại Công ty mẹ có bộ máy quản lý riêng, bộ máy này phụ thuộc vào quy mô và loại hình doanh nghiệp mà công ty mẹ hoạt động Công ty mẹ không có bộ máy quản lý riêng để theo dõi hoạt động của công ty con Đây là yếu tố cơ bản, quan trọng để tách riêng chức năng quản lý với chức năng sản xuất kinh doanh của tập đoàn kinh doanh hoạt động theo mô hình tổ chức công ty mẹ- công ty con, làm cho tập đoàn hoạt động được năng động hơn, phù hợp với khả năng của chính nó, không bị kìm hãm bởi các thủ tục hành chính từ công ty mẹ…

+ Lợi nhuận của các doanh nghiệp tham gia tập đoàn kinh doanh hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con được phân phối theo tỷ lệ sở hữu cổ phần đóng góp: Lợi nhuận của các công ty sau khi đã thực hiện xong các nghĩa vụ pháp luật và điều lệ hoạt động của công ty quy định sẽ được phân chia đều theo các cổ phần (gọi là cổ tức) Lợi tức của các cổ đông tỷ lệ với tỷ lệ cổ phần tham gia đóng góp

Trang 19

1.2.3 Cơ cấu của mô hình công ty mẹ – công ty con

Bao gồm một công ty mẹ và nhiều công ty con được tổ chức theo mô hình cơ bản như sau:

+ Công ty mẹ là doanh nghiệp có quyền chi phối các doanh nghiệp khác (công ty con), được tổ chức dưới hình thức là công ty nhà nước, công

ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hay công ty cổ phần

+ Công ty con là doanh nghiệp được tổ chức dưới hình thức là công

ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (do công ty mẹ nắm giữ 100% vốn điều lệ), công ty cổ phần có vốn góp chi phối (> 50%) của công ty mẹ, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công

ty liên doanh với nước ngoài, công ty ở nước ngoài

+ Công ty liên kết là công ty cổ phần có vốn góp không chi phối của công ty mẹ, được tổ chức dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty liên doanh với nước ngoài, công ty ở nước ngoài

+ Công ty con có thể tiếp tục tham gia góp vốn, mức độ chi phối để hình thành các công ty cháu… , được tổ chức dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty liên doanh với nước ngoài, công ty ở nước ngoài Các công ty cháu thường được mang họ công ty mẹ Việc đầu vốn của công ty con để hình thành công ty cháu tuỳ thuộc vào đặc điểm tình hình và sự cần thiết phát triển của tập đoàn, do vậy phải được sự chấp thuận của công ty mẹ

1.2.4 Cơ chế quản lý trong mô hình công ty mẹ – công ty con:

+ Cơ chế quản lý

Là công cụ có tính pháp lý để quản lý, điều hành hoạt động kinh tế của mô hình công ty mẹ – công ty con, gồm:

- Điều lệ hoạt động của công ty mẹ và công ty con trong mô hình công ty mẹ – công ty con, quy định các vấn đề về cơ cấu tổ chức, mối quan hệ giữa công ty mẹ với công ty con, công ty liên kết và giữa các công ty con với nhau

- Chính sách tài chính của công ty mẹ và của các công ty con

Trang 20

- Chính sách về chiến lược phát triển của công ty mẹ và của các công ty con

- Hợp đồng kinh tế giữa công ty mẹ với các công ty con và giữa các công ty con với nhau

Cơ chế quản lý chủ yếu được xây dựng trên mối quan hệ giữa công

ty mẹ với công ty con, công ty liên kết, giữa các công ty con với nhau và các quan hệ được quy định trong hợp đồng kinh tế

* Những đặc điểm cơ bản của cơ chế hoạt động giữa công ty mẹ và các công ty con:

- Công ty mẹ là chủ sở hữu của phần vốn tham gia đóng góp vào các công ty con Cử người đại diện phần vốn góp của mình tham gia hội đồng quản trị của các công ty con

- Công ty con nào được công ty mẹ góp vào nhiều vốn hơn thì có mối quan hệ với công ty mẹ chặt chẽ hơn Các công ty con có 100% vốn điều lệ do công ty mẹ chiếm giữ, tuy có pháp nhân độc lập nhưng lại bị công ty mẹ chi phối mạnh mẽ, như: Việc quyết định cơ cấu tổ chức quản lý, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ, khen thưởng, kỷ luật… ; xây dựng chiến lược phát triển công ty; quyết định điều chỉnh vốn điều lệ; quyết định đầu tư; quyết định nội dung, sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty; đánh giá, thông qua báo cáo tài chính hàng năm; quyết định phương án sử dụng, phân phối lợi nhuận; quyết định việc tham gia vốn góp để hình thành các công ty

“cháu”…

- Công ty con là công ty cổ phần có vốn góp chi phối, không chi phối của công ty mẹ được hình thành do thành lập công ty mới theo luật doanh nghiệp hoặc do cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước có sự tham gia góp vốn của nhiều thành phần khác nhau

Mặc dù có sự chi phối của công ty mẹ với công ty con được xác định bằng yếu tố vốn (gồm tài sản hữu hình và vô hình…) nhưng trong sản xuất kinh doanh thì mối quan hệ phải dựa trên các hợp đồng kinh tế được đảm bảo xác định bằng pháp luật

+ Quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con

Mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con được xây dựng trên các mối quan hệ như sau:

Trang 21

- Quan hệ về tổ chức:

Công ty mẹ vừa trực tiếp hoạt động kinh doanh, vừa tác động mang tính chỉ đạo và hợp tác với các công ty con về thị trường, định hướng phát triển đồng thời cũng điều khiển việc tác nghiệp đối với các dự án lớn thông qua việc ký kết các hợp đồng kinh tế với các công ty con

Các công ty con bao gồm nhiều loại hình tổ chức: Công ty 100% vốn nhà nước hạch toán độc lập, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên, công ty liên doanh và công ty cổ phần có vốn góp ở mức độ chi phối của công ty mẹ

- Quan hệ về vốn tài sản:

Ngoài số vốn điều lệ ban đầu, công ty mẹ tự huy động vốn để phát triển kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về phần vốn tự huy động Công ty mẹ chịu trách nhiệm về dân sự đối với các hoạt động kinh doanh trước pháp luật trong phạm vi vốn của doanh nghiệp quản lý và sử dụng

Công ty mẹ đầu tư vốn vào các loại hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn cả về hợp tác đầu tư với bên ngoài Từng công ty hạch toán độc lập, lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh và từ các hoạt động khác mang lại sau khi hoàn thành xong nghĩa vụ do pháp luật và điều lệ công ty quy định sẽ được phân phối theo chế độ tài chính hiện hành đối với từng loại công ty

- Quan hệ về kinh tế và tài chính:

Công ty mẹ có trách nhiệm tiếp thị, khai thác thị trường, phân công thị trường và chỉ đạo việc phân phối kinh doanh giữa các công ty con nhằm quản lý thị trường, thống nhất giá cả, chống cạnh tranh nội bộ, xây dựng, định hướng chiến lược phát triển chung của toàn công ty

Công ty mẹ có quyền giám sát mọi hoạt động tài chính của các công

ty con thông qua các yêu cầu báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả tài chính của công ty con

Công ty mẹ tổ chức kiểm tra định kỳ các hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả tài chính của các công ty con và kiểm tra bất thường khi có yêu cầu cần thiết

Quản lý các quỹ của công ty mẹ phục vụ cho việc định hướng phát triển chung của toàn công ty

Với công ty con là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, lợi nhuận mang lại từ các hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi nộp đủ thuế

Trang 22

doanh nghiệp sẽ được phân phối và trích lập các quỹ theo chế độ nhà nước quy định

Với công ty con là công ty cổ phần, công ty liên doanh có vốn góp từ công ty mẹ: Việc trích lập các quỹ thực hiện theo luật doanh nghiệp và luật đầu tư trong nước hoặc luật đầu tư nước ngoài, công ty mẹ thông qua quyền lực và giá trị phần vốn góp của nhà nước hay bản thân công ty mẹ vào các công ty này mà chia lơi nhuận theo tỷ lệ phần vốn góp Riêng quỹ phúc lợi, quỹ đầu tư phát triển tuỳ tình hình cụ thể có thể được quyết định tăng bổ xung thêm vào giá trị vốn góp hoặc huy động vào mục đích phát triển chiến lược chung cho toàn công ty mẹ theo tỷ lệ phần trăm vốn góp

- Quan hệ về kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty

Mỗi công ty con căn cứ vào chiến lược phát triển của công ty mẹ và tình hình thực tế cung, cầu sản phẩm hàng hoá, dịch vụ từng thời kỳ để xây dựng kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty mình Công ty mẹ căn cứ kế hoạch đầu tư của các công ty con để lập kế hoạch tổng hợp cân đối chung toàn công ty, xoá bỏ những hạng mục trùng lặp, không mang lại hiệu quả hoặc không phù hợp với chiến lược kinh doanh của công

ty Sau khi thống nhất các hạng mục đầu tư thì các công ty con sẽ lập dự án và trình lên cấp trên có thẩm quyền phê duyệt Đầu tư mang lại lợi ích chung cho toàn công ty, từng giai đoạn sẽ có sự thống nhất giữa công ty mẹ với công ty con để hình thành quỹ đầu tư phát triển chung

- Quan hệ về tổ chức nhân sự:

Với các công ty con hạch toán độc lập sẽ hoàn toàn chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao (từ việc bố trí nguồn lực, tổ chức sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm) Công ty mẹ chỉ can thiệp

ở mức độ đủ đảm bảo với quyền kiểm soát của mình trong phạm vi tỷ lệ vốn góp

- Quan hệ về đảm bảo yếu tố chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Đối với các công ty con, do giữ nguyên tính độc lập về mặt pháp lý trong kinh tế nên mỗi công ty phát huy tính độc lập, chủ động của mình trong việc quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh hợp lý sao cho có hiệu quả, hiệu năng cao nhất

Đối với một số nguyên liệu, thiết bị (đầu vào) và thị trường (đầu ra) thì công ty mẹ và công ty con xem xét thống nhất đầu mối, giao dịch nhằm mang lại hiệu quả cao hơn, việc triển khai giao cho các công ty con đảm nhận

Trang 23

1.3 Một số kinh nghiệm về tổ chức quản lý của các tập đoàn kinh doanh lớn và của một số nước trên thế giới:

1.3.1 Kinh nghiệm của một số tập đoàn lớn trên thế giới:

Từ việc xem xét một số tập đoàn kinh doanh lớn có tính điển hình trên thế giới, như: Tập đoàn General Electric, Citigroup, CocaCola, Mitsubishi, Daewoo, Samsung… Có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm chủ yếu, như sau:

+ Thứ nhất: Về con đường hình thành và phát triển:

Tập đoàn kinh doanh là kết quả tất yếu của qúa trình tích tụ và tập trung về sản xuất và vốn Khâu đột phá, hạt nhân để thành lập tập đoàn kinh doanh là bắt đầu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại hoặc ngoại thương

Kinh nghiệm cho thấy rằng, nguồn vốn tự tích luỹ đóng vai trò cơ bản trong việc hình thành các tập đoàn kinh doanh Tuy nhiên quá trình tích tụ đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh hoặc xây dựng các nhà máy mới chỉ là một bộ phận trong toàn bộ quá trình hình thành tập đoàn kinh doanh mà cách đi phổ biến ở các nước tư bản phát triển đã góp phần quá trình đẩy nhành quá trình thành lập các tập đoàn kinh doanh là quá trình tập trung sản xuất, tập trung vốn Quá trình này diễn ra theo những phương thức khác nhau bằng con đường thôn tính theo kiểu cá lớn nuốt cá bé thông qua việc mua lại các công ty nhỏ yếu hơn, biến chúng trở thành một bộ phận không thể tách rời công ty mẹ hay theo con đường tự nguyện hợp nhất với nhau để hình thành các công ty lớn hơn chống lại nguy cơ bị thôn tính và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Mặt khác tại các nước công nghiệp hoá đi sau, các tập đoàn kinh doanh được hình thành và phát triển chủ yếu bằng việc tích tụ và liên doanh nhằm tăng khả năng vốn, khả năng sản xuất, khả năng chuyển giao công nghệ và khả năng cạnh tranh nhằm chống lại nguy cơ bị các công ty nước ngoài thôn tính… Khâu đột phá trong quá trình thành lập tập đoàn kinh doanh trên thế giới thường có hai cách lựa chọn xuất phát điểm, đó là:

- Đi từ sản xuất kinh doanh: Đối với các tập đoàn kinh doanh chủ

yếu ở Mỹ, Châu âu… ; thường bắt đầu từ quá trình tích tụ và tập trung các

Trang 24

hoạt động sản xuất Thông qua kết quả của các hoạt động sản xuất mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực khác như thương mại, vận tải, bảo hiểm, ngân hàng… Đặc điểm của các tập đoàn đi theo hướng này là ngay từ đầu đã rất chú trọng đầu tư cho nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ mới

- Đi từ thương mại hoặc xuất nhập khẩu: Hướng đi này chủ yếu là

của Nhật và các nước mới phát triển NICs; chủ yếu khởi đầu từ lĩnh vực thương mại hoặc ngoại thương Các tập đoàn kinh doanh này thường chuyên môn hóa trong các hoạt động thương mại với một số sản phẩm nhất định Qua quá trình hoạt động, phát triển, quy mô và cơ cấu kinh doanh dần được mở rộng, đa dạng hoá các loại hình kinh doanh Cùng với sự phát triển của thị trường, những đòi hỏi phát triển của nền kinh tế quốc dân, những kinh nghiệm quản lý và nguồn vốn tích luỹ được từ các nguồn kinh doanh, những công ty này đã bành trướng sang hoạt động các ngành nghề, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác Thay vì lúc đầu chỉ kinh doanh thương mại, chúng được bổ xung dần trong lĩnh vực dịch vụ, rồi đến các ngành sản xuất, tài chính, ngân hàng, hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ Nét điển hình đối với các tập đoàn này là ngoại thương đóng vai trò hết sức quan trọng, chú ý đến hoạt động mở rộng thị trường, xây dựng mạng lưới tiêu thụ quốc gia và quốc tế

Do những nét đặc thù của môi trường kinh doanh ở mỗi nước đã quyết định điểm xuất phát, khâu đột phá trong hình thành và phát triển của tập đoàn kinh doanh; xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế và phát triển mạnh mẽ các hoạt động liên doanh, liên kết đã và đang tạo ra những điều kiện thuận lợi, khả năng lựa chọn khác nhau về khâu đột phá để hình thành tập đoàn kinh doanh Đối với các nước kém phát triển, khởi điểm bắt đầu từ các doanh nghiệp sản xuất có vai trò rất lớn đến xây dựng và hình thành cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, tạo sức mạnh thực sự và khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới

+ Thứ hai: Về mô hình tổ chức- quản lý:

Nhìn chung tập đoàn kinh doanh là một tổ chức kinh tế lỏng vì chúng không có tư cách pháp nhân, còn các công ty thành viên đều có tư các cách pháp nhân độc lập Trong tập đoàn các công ty thành viên vẫn giữ nguyên tính pháp lý độc lập của mình Mối quan hệ giữa các công ty thành viên chủ yếu dựa trên quan hệ thị trường và quan hệ kinh tế

Trang 25

Trong thực tế, ngày nay các tập đoàn thường áp dụng những mô hình quản lý điều hành cơ bản, như sau:

- Quản lý điều hành theo mô hình “kim tự tháp”; về thể chế quản lý: Tập trung quyền lực theo chiều dọc và trực tuyến; mô hình này có nhược điểm là kém năng động, kém hiệu quả, quan hệ ngang giữa các công ty con ít, thông tin chồng chéo, tách rời cung - cầu… đặc biệt là đối với tập đoàn kinh doanh đa ngành, do vậy ngày nay ít được áp dụng

Sơ đồ 1.1: Quản lý điều hành theo mô hình kim tự tháp

- Quản lý điều hành theo mô hình “ mạng lưới”; về thể chế quản lý: Phân tán quyền lực cho các bộ phận chi nhánh Mô hình này cho phép khai thác triệt để những quan hệ kinh tế đa phương, tạo ra phản ứng linh hoạt, phù hợp với biến đổi thường xuyên của kinh tế thị trường, mô hình này được áp dụng nhiều đối với các tập đoàn ở Nhật Bản, Hàn Quốc…

Công ty con

Công ty mẹ

Công Ty cháu

Trang 26

Sơ đồ 1 2: Quản lý điều hành theo mô hình mạng lưới

- Quản lý theo mô hình “hỗn hợp”; về thể chế quản lý: Phối hợp giữa tập trung và phân tán quyền lực Mô hình này là kết hợp hai mô hình trên nên cũng giải quyết tốt hơn những mâu thuẫn nội tại: Giữa lợi ích của tổng thể tập đoàn với từng bộ phận, giữa tập trung và phân tán quyền lực, giữa kiểm soát của “công ty mẹ” với tính độc lập của các “công ty con” v.v Cho nên cơ cấu tổ chức – quản lý của hầu hết các tập đoàn kinh doanh được thiết lập dưới Concern (liên quan) hoặc Conglomerate (kết tụ)

công ty mẹ

Công ty con

Công ty con Công ty con

Công ty con

Chi nhánh

Công

ty con

Công

ty cháu

Công ty cháu

Công

ty con

Công

ty cháu

Công

ty

con

Trang 27

Trong đó Hoding Company (giữ vị trí như “ công ty mẹ”) thực hiện việc quản trị điều hành Concern; còn Conglomerate có cơ cấu quản lý gọn nhẹ, linh hoạt và luôn biến đổi phù hợp với sự đổi mới của cơ cấu ngành nghề kinh doanh

+ Thứ ba: Về loại hình tập đoàn kinh doanh: Phần lớn các tập đoàn

kinh doanh đều là các công ty cổ phần đa sở hữu, kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực Những tập đoàn kinh doanh quy mô lớn ngày nay, phần lớn là công ty đa quốc gia hoặc công ty xuyên quốc gia

Tập đoàn có đa sở hữu về vốn, trong đó có vốn của nhà nước, vốn của các doanh nghiệp, tổ chức tài chính và nhà đầu tư trong và ngoài nước… nhằm tăng khả năng tích tụ và tập trung vốn sản xuất kinh doanh Ngoài ra các tập đoàn thực hiện kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực nhằm để phân tán, tránh rủi ro, mạo hiểm vào các mặt hàng, các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, bảo đảm cho hoạt động của tập đoàn được bảo toàn và hiệu quả, đồng thời tận dụng được cơ sở vật chất và khả năng lao động của tập đoàn

1.3.2 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về chuyển đổi mô hình tổ chức quản lý kinh tế

1.3.2.1 Mô hình các nước Đông Nam á (ASEAN 5) (ASEAN 5: gồm 5

nước Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, Myanmar)

1 Con đường và chính sách phát triển các thành phần kinh tế:

Sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, các nước Đông Nam Á lần lượt giành độc lập chủ quyền ở các nước này kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu, công nghiệp nhỏ bé, què quặt, kém phát triển

Từ những năm 1950 - 1960, với chiến lược “phát triển công nghiệp thay thế hàng nhập khẩu” Nhằm mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, chính sách kinh tế được chính phủ áp dụng là khuyến khích tư nhân phát triển sản xuất hàng tiêu dùng, cùng với chính phủ xây dựng nhiều ngành mới, hướng vào thị trường nhằm giảm bớt hàng nhập khẩu Chiến lược này có một số tích cực là giúp các nước này xây dựng được một số cơ sở công nghiệp then chốt chủ yếu dựa vào nguồn vốn trong nước, tăng cường vị trí của giới tư sản dân tộc và khu vực kinh tế nhà nước, song cũng

Trang 28

còn có một số yếu điểm là họat động kinh tế nhìn chung còn kém hiệu quả

do nguồn lực yếu, nền kinh tế chủ yếu vẫn còn lệ thuộc, thị trường trong nước không được mở rộng và phát triển, một số doanh nghiệp bị phá sản, dẫn đến việc ra đời chiến lược kinh tế khác

Vào thập niên 1970 -1980, mô hình quản lý kinh tế được chuyển sang hoạt động theo mô hình“ chiến lược công nghiệp hướng ra xuất khẩu”, làm cho nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng khá, cho đến cuối những năm 1980 thì bị chậm lại do bị ảnh hưởng của suy thóai kinh tế thế giới Cuối những năm 1980, bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến chuyển, xu thế hội nhập và tòan cầu hóa ngày càng hình thành rõ nét, xuất hiện những liên minh kinh tế khu vực, liên kết kinh tế ở trình độ cao Hội nhập và liên kết kinh tế trở thành xu thế tất yếu, các chính sách kinh tế giai đọan trước đã bộc lộ những hạn chế, gây khó khăn cho nền kinh tế Sau hai thập kỷ thực hiện mô hình hướng ra xuất khẩu, nền kinh tế các nước đã đạt được một số thành tựu đáng kể, song cũng bộc lộ một số hạn chế cơ bản, như: Sự tập trung quá mức vào một số ngành hướng ra xuất khẩu đã tạo ra mất cân đối trong cơ cấu kinh tế, sự phụ thuộc vào một số thị trường xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn đầu

tư công nghệ từ bên ngòai, làm cho nền kinh tế bị phụ thuộc nhiều vào thị trường ấy; nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng không đồng bộ với sự phát triển của cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực, đặc biệt là thiếu đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ có trình độ cao, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề, không chú trọng đúng mức thị trường nội địa; mặt khác sự phát triển của một số nền kinh tế khác như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc… đang là đối thủ cạnh tranh của ASEẠN 5 trên thị trường thế giới

2- Về Mô hình tổ chức quản lý ơÛ Thái Lan

+ Mô hình quản lý:

Nhà nước Thái Lan chủ trương quản lý các doanh nghiệp ngành công nghiệp được đặt dưới cơ quan quản lý của Bộ Công nghiệp trên cơ sở kết hợp chặt chẽ với một số Bộ - Ngành khác, như Bộ Tài chính, Bộ đầu

tư, Ngân hàng, Bộ Thương mại, Ban phát triển kinh tế - Xã hội quốc gia v.v

Trang 29

- Bộ Công nghiệp: Ban hành giấy phép sản xuất, xây dựng ngành công nghiệp, hỗ trợ công nghệ , đào tạo quản lý, cung cấp tín dụng cho các ngành công nghiệp quy mô vừa và nhỏ

- Bộ Tài chính: Quản lý thuế và cung cấp hòan thuế cho các họat động xuất khẩu, tham gia vào các dự án quy mô lớn trong vai trò quyết định tham gia cổ phần của Chính phủ sắp xếp việc vay nguồn ngọai tệ để cung cấp cho dự án mở rộng…

- Bộ Đầu tư: Cung cấp các chính sách khuyến khích đầu tư

- Ngân hàng: Đảm bảo các chính sách khuyến khích thông qua tỷ giá hối đóai và tái chiết khấu cho một số ngành và doanh nghiệp xuất khẩu được ưu tiên ở từng giai đọan nhất định

- Bộ Thương mại: Kiểm sóat giá cả và ngọai thương

- Ban phát triển kinh tế - Xã hội quốc gia: Hướng dẫn thực hiện mục tiêu chính sách của ngành

+ Mô hình tổ chức quản lý nhà nuớc qua từng giai đọan:

- Thập kỷ 60: Việc quản lý nhà nứơc đối với các doanh nghiệp nhà nước thông qua chiến lược “ Thay thế hàng xuất khẩu” Chú trọng đến các ngành công nghiệp sử dụng nhiều nguyên liệu và lao động trong nước Chính phủ đã đề ra các chính sách khuyến khích đầu tư, bảo hộ công nghiệp trong nước sản xuất sản phẩm cạnh tranh với hàng nhập khẩu

- Từ thập kỷ 70 đến nay: Trong giai đọan này nhà nước chuyển dần từ mô hình quản lý trực tiếp sang mô hình quản lý gián tiếp và chuyển sang chiến lược mới “ Hướng về xuất khẩu” thông qua hàng lọat các công cụ sau:

Về Luật pháp: Luật đầu tư nước ngòai ra đời và việc khuyến khích

đầu tư được coi là cơ chế đẩy nhanh quá trình công nghệ hóa

Về Chính sách kinh tế: Phát triển nhanh các khu công nghiệp tập

trung; đẩy nhanh chính sách phi tập trung hóa công nghiệp và công nghiệp hóa nông thôn, làm giảm sức ép tập trung hóa vào các đô thị; cân bằng cơ cấu công nghiệp giữa các vùng miền; coi đầu tư nước ngòai là nhân tố quan trọng để phát triển đất nước; coi khu vực kinh tế tư nhân là thành phần chủ đạo; khi chuyển sang chiến lược “Hướng về xuất khẩu” thì áp dụng các biện pháp khuyến khích các ngành xuất khẩu thông qua các chính sách thuế ưu đãi

Trang 30

Thái Lan chủ trương tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt trong đầu tư cơ sở hạ tầng, chuyển dần vai trò từ nhà đầu tư sang hộ tiêu thụ, tùy theo năng lực sản xuất mà có lộ trình (kế họach) tư nhân hóa… Chính phủ Thái Lan dự kiến ba năm nữa (đến năm 2009) sẽ hòan thành cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước; để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và lợi ích quốc gia, ở một số doanh nghiệp nhà nước thì nhà nước vẫn giữ một số lượng cổ phần nhất định

Chính sách đầu tư của nhà nước trong thời gian qua là khá thông thóang, tạo điều kiện để các doanh nghiệp nước ngòai vào đầu tư như: Giảm thuế VAT cho một số hàng hóa, dịch vụ xuống bằng 0% v.v

+ Kết quả và những bài học kinh nghiệm:

Kết quả đạt được:

Do có những chính sách, chiến lược quản lý phù hợp, nên trong thập kỷ 90 (từ 1990 - 1997) GDP của Thái Lan tăng 6,3%/ năm; năm 2003 tăng 6%; năm 2004 tăng 7%; năm 2004 tăng 8%

Những bài học kinh nghiệm:

- Chính phủ Thái Lan đã thành công trong việc can thiệp sâu vào quản lý các doanh nghiệp với phương thức là quản lý trực tiếp và các biện pháp bảo trợ đối với những ngành công nghiệp non trẻ, đặc biệt các ngành sử dụng nhiều nguyên liệu và lao động trong nước

- Chính phủ chuyển dần từ nhà đầu tư sang hộ tiêu thụ đã khuyến khích công nghiệp phát triển năng động và hiệu qủa hơn

- Chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn và chiến lược tái cơ cấu là thành quả lớn trong việc phát triển đều các vùng, miền nhằm giải quyết tốt các vấn đề kinh tế- xã hội rút ngắn quá trình công nghiệp hóa đồng thời giảm áp lực tập trung vào thành thị v.v Đây là bài học rất có giá trị với Việt Nam trong hiện nay

- Quản lý công nghiệp dưới hình thức “Ngành công nghiệp” đã tách giữa công nghiệp với thương mại, dịch vụ, làm hạn chế phần nào năng lực phát triển của công nghịêp và làm tăng khả năng mất cân đối giữa các vùng miền, khỏang cách giữa thành thị và nông thôn ngày càng lớn…

Trang 31

1.3.2.2 Mô hình tổ chức quản lý nhà nước của các nước công nghiệp phát triển sau (NICs)

Mô hình chiến lược công nghiệp hóa “Hướng về xuất khẩu” là một trong những thành công của các nước NICs (đặc biệt là các nước Châu Aù) Đó là kết quả của sự lựa chọn thận trọng có tính kế thừa từ kết quả của những giai đọan trước đó là: Sự thất bại của chiến lược thay thế hàng xuất khẩu; sự giảm sút viện trợ của Mỹ và vai trò nổi lên của các công ty tư bản độc quyền

1- Kinh nghiệm của Hàn Quốc:

- Mô hình quản lý:

Chịu trách nhiệm về vấn đề kinh tế của Hàn Quốc là các Bộ Công nghiệp, Thương mại, và Năng lượng (MOCIE), đặc biệt là các chính sách liên quan tới công nghiệp, thương mại, năng lượng và tài nguyên Vai trò của các bộ thay đổi theo sự thay đổi của sự phát triển kinh tế nhà nước

- Mô hình tổ chức quản lý qua các thời kỳ:

Sau chiến tranh Triều tiên (những năm 50) nhà nước tập trung vào mô hình phát triển kinh tế tư nhân, giai đoạn này đã xuất hiện các tập đoàn kinh tế tư nhân với quy mô lớn (Cheabol) với sự hậu thuẫn của chính quyền trung ương

Từ những năm 60 kinh tế Hàn Quốc đã chuyển sang mô hình chiến lược phát triển công nghiệp hướng về xuất khẩu: Tập trung ưu tiên tăng trưởng kinh tế thu hút đầu tư nước ngoài, khuyến khích những doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp chủ đạo thông qua can thiệp của chính phủ và đầu tư cho nghiên cứu ứng dụng Chính phủ đã đưa ra một số chính sách cụ thể như sau:

- Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân sản xuất hàng xuất khẩu

- Cung cấp các khoản trợ cấp trực tiếp cho các doanh nghiệp

- Cho vay lãi xuất thấp, miễn giảm thuế

- Thành lập KOTRA - Trung tâm thương mại Hàn Quốc…

Vào những năm 70, công nghiệp hoá các ngành công nghiệp nặng, hoá chất hướng về xuất khẩu: Nhà nước tài trợ có kiểm soát cho các ngành kinh doanh, cho vay lãi suất thấp, khuyến khích mở rộng trang thiết bị trong các

Trang 32

doanh nghiệp tư nhân, phát triển khu chế xuất (EPZ), phá giá nội tệ, thành lập ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc, áp dụng thuế giá trị gia tăng

Vào những năm 80, Chính phủ chủ trương tự do hoá kinh tế; phối hợp các ngành công nghiệp nặng và hoá chất; sử dụng các quy luật của thị trường để điều tiết nền kinh tế nói chung và nền công nghiệp nói riêng, đẩy mạnh hơn một bước vấn đề tư nhân hoá, tự do hoá quản lý vốn, tự do hoá tài chính…

- Kết quả và những bài học kinh nghiệm:

Kết quả đạt được:

Trải qua các thời kỳ phát triển, Chính phủ Hàn Quốc đã có những chuyển đổi về mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp một cách linh hoạt, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, như việc thành lập các tập đoàn

tư nhân với quy mô lớn (Cheabols) là một sáng tạo thành công, đã đưa số lượng các doanh nghiệp trong nước thuộc sở hữu của các Cheabols từ năm

1972 đến 1979 tăng 7,5% lên 25,4% , tốc độ tăng trưởng của các Cheabols trong thời kỳ này đạt 44,7% trong khi GDP tăng 10,2% Tính đến năm

1996 Hàn Quốc đã có 13 công ty lớn trong số 500 công ty lớn nhất thế giới, tài sản của công ty lớn nhất là 73.091,6 triệu USD và nhỏ nhất là 1644,8 triệu USD v.v

Những bài học kinh nghiệm:

Chính phủ Hàn Quốc đã tổ chức, xây dựng thành công mô hình quản lý từ các tập đoàn kinh tế tư nhân với quy mô lớn (Cheabol); sự thay đổi rất linh hoạt mô hình tổ chức quản lý đối với các doanh nghiệp công nghiệp như việc tách ngành Năng lượng thành Bộ Năng lượng và Tài nguyên, đã đưa đất nước qua khỏi cuộc khủng hoảng năng lượng vào những năm 1973; việc chuyển từ mô hình tổ chức quản lý “Ngành công nghiệp” sang mô hình tổ chức quản lý “Nền công nghiệp” đã tăng cường năng lực phát triển của ngành công nghiệp, gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp thương mại và dịch vụ

2 Kinh nghiệm của Trung Quốc:

- Mô hình quản lý:

Là một nược rộng lớn có diện tích đứng thứ ba và dân số chiếm 1/ 5 dân số thế giới, nên chính phủ có chủ trương quản lý các doanh nghiệp công nghiệp bằng cách chia nhỏ thành các phân ngành, các doanh nghiệp

Trang 33

trong từng ngành có thể độc lập hoặc liên kết để nâng cao năng lực quản lý, nâng cao sức cạnh tranh của bản thân doanh nghiệp hoặc của ngành dưới sự quản lý chung của Uỷ ban kinh tế và mậu dịch nhà nước Cụ thể chính phủ tập trung vào việc tăng cường quyền tự chủ cho doanh nghiệp, thực hiện việc “Tách hai quyền” (quyền sở hữu và quyền kinh doanh) giao quyền chủ động cho các doanh nghiệp, chính phủ không can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Mô hình quản lý nhà nước qua các giai đoạn:

Đổi mới mô hình quản lý doanh nghiệp nhà nước bắt đầu từ năm

1978, quá trình từ 1978 đến 1992 có thể được chia thành 2 giai đoạn: Giai đoạn từ 1978 – 1984: Là giai đoạn chính phủ tập trung vào việc tăng cường tự chủ cho doanh nghiệp; từ 1984 – 1992: Thực hiện mô hình tổ chức quản lý theo hướng tách riêng biệt hai quyền sở hữu và quyền kinh doanh Từ năm 1993 đến nay, chuyển đổi mô hình hoạt động của doanh nghiệp nhà nước nhằm tập trung chủ yếu giải quyết 3 vấn đề lớn:

Một là: xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại: Là thể chế doanh

nghiệp thích ứng với yêu cầu của nền sản xuất lớn xã hội hoá, phản ánh nhu cầu của nến kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Đặc điểm của loại doanh

nghiệp này là: Quyền tài sản rõ ràng, quyền lợi và trách nhiệm phân minh,

chính phủ tách rời doanh nghiệp, quản lý khoa học

Hai là: Thực hiện những biện pháp cải tổ mang tính chiến lược đối

với các doanh nghiệp và khu vực kinh tế nhà nước: Tư tưởng chủ đạo của

những biện pháp này được tóm tắt như sau“ nắm chắc cái lớn, buông lỏng

cái nhỏ”, nhà nước chỉ nắm quyền kinh doanh, điều hành các doanh

nghiệp là trụ cột kinh tế có liên quan đến an ninh quốc phòng (hiện nay có khoảng 1000 doanh nghiệp); khuyến khích các doanh nghiệp nhà nước chuyển sang công ty cổ phần hữu hạn; đối với các doanh nghiệp quy mô nhỏ và vừa thì áp dụng hình thức cải tổ, liên kết, sát nhập cho thuê, khoán kinh doanh…

Ba là: Đẩy mạnh xây dựng các tập đoàn kinh tế: Đại hội XV Đảng

cộng sản Trung quốc khẳng định: “ Lấy tiền vốn làm sợi dây ràng buộc,

thông qua thị trường hình thành nên các tập đoàn doanh nghiệp có sức cạnh tranh vượt quá phạm vi của khu vực, ngành, chế độ sở hữu và quốc gia”

Đến năm 1997 đã xây dựng được 120 tập đoàn với tổng giá trị tài sản là

1600 tỷ NDT, doanh thu 930 tỷ NDT, xuất khẩu hàng năm đạt 14 tỷ USD và 6,8 triệu lao động đang làm việc…

Trang 34

Sau giai đoạn cải cách mang tính mày mò, thử nghiệm (từ 1978 – 1992), từ năm 1993 cải cách doanh nghiệp đã thể hiện chuyển biến rõ nét, mang tính chủ động, doanh nghiệp trở thành chủ thể Cơ sở của lý luận về chế độ doanh nghiệp hiện đại, công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước của Trung Quốc mang đặc điểm cơ bản là phát huy tính chủ động của doanh nghiệp là tự mình đề ra và tự mình thực hiện các biện pháp cải cách phù hợp

- Kết quả và bài học kinh nghiệm:

Doanh nghiệp nhà nước bước đầu trở thành thực thể kinh tế độc lập

nhờ sự phân định rạch ròi về quyền tài sản, trở thành chủ thể cạnh tranh trên thị trường, mang đặc điểm tự chủ kinh doanh, tự chịu lỗ lãi

Cải cách doanh nghiệp nhà nước đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong tình hình nội bộ doanh nghiệp, được thể hiện ở một số điểm sau:

Về chế độ lãnh đạo: xây dựng được cơ chế lãnh đạo doanh nghiệp và

chế độ quản lý, tổ chức phù hợp với quy luật kinh tế thị trường: tăng cường quyền hạn cho giám đốc, áp dụng rộng rãi chế độ phụ trách giám đốc, thi tuyển công khai lựa chọn lãnh đạo…

Về phương thức tạo vốn cho doanh nghiệp: Tiến hành đa dạng hoá

các nguồn vốn trong doanh nghiệp, làm giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho nhà nước đồng thời huy động được các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội

Về chế độ lao động và chế độ phân phối doanh nghiệp: Các doanh

nghiệp được quyền tự chủ trong việc tuyển dụng và sử dụng lao động; các doanh nghiệp áp dụng chế độ hợp đồng lao động thay thế chế độ “lao động suốt đời”

Thông qua cải cách, tỷ lệ nợ của một số doanh nghiệp nhà nước đã giảm xuống, một số doanh nghiệp nhà nước chấm dứt thua lỗ, hiệu quả tổng thể của khu vực kinh tế nhà nước tăng lên

3 –Kinh nghiệm của Nhật Bản:

- Mô hình quản lý:

Các doanh nghiệp công nghiệp Nhật Bản được quản lý trực tiếp của Bộ kinh tế Thương mại và Công nghiệp (METI), đã hình thành các tổ hợp kinh tế, như: Zaibatsus, Keiretsus; chính phủ đã từng bước chuyển đổi từ mô hình quản lý “ngành công nghiệp” sang mô hình quản lý “nền công

Trang 35

nghiệp”, gắn kết công nghiệp với mậu dịch; về phương thức quản lý: Chính phủ đã chuyển từ mô hình quản lý trực tiếp sang quản lý gián tiếp bằng phương thức “điều khiển tầm xa” nhằm tạo ra liên kết kinh tế chặt chẽ với một cơ chế hành chính gọn nhẹ

- Mô hình quản lý nhà nước qua các giai đoạn:

Giai đoạn từ thập kỷ 50 đến thập kỷ 60: Chính phủ tập trung ưu tiên cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thông qua việc ban hành các chính sách tài trợ ưu đãi, cho vay lãi xuất thấp, khuyến khích về thuế, khấu trừ đặc biệt với các khoản có liên quan đến những giao dịch ở nuớc ngoài… , cuối giai đoạn này chính phủ chủ trương phát triển nền kinh tế mở, tăng cường hợp tác giữa nhà nước và tư nhân, điều chỉnh cơ cấu đầu

tư, phát triển kinh tế ngành, đặc biệt là ngành công nghiệp chế tạo máy móc và công nghiệp điện tử

Giai đoạn từ thập kỷ 70 trở lại đây: Chính phủ nới lỏng quản lý, tự

do hoá kinh tế, chính phủ thực hiện điều khiển từ xa bằng cách đưa ra các

“ kế hoạch phát triển tầm xa”; sử dụng các quy luật của thị trường để điều tiết; điều chỉnh cơ cấu ngành: Ưu tiên những ngành có hàm lượng trí tuệ cao, sử dụng ít nguyên vật liệu, nhiên liệu và lao động sống, như ngành sản xuất Máy tính, Điện tử, Robot, Vật liệu mới (Compozit)… ; đẩy mạnh và khuyến khích việc nghiên cứu khoa học công nghệ và ứng dụng công nghệ mới v.v

- Kết quả và những bài học kinh nghiệm

Kết quảđạt được:

Quá trình thực hiện chuyển đổi mô hình quản lý kinh tế của Nhật Bản đã thu được những thành tựu đáng kể, đặc biệt từ năm 1975 đến 1987, sản xuất công nghiệp đã tăng 73,1%, tổng tiêu dùng nguyên, nhiên vật liệu giảm 16,9%, số người làm việc trong ngành công nghiệp chế biến giảm 5,4%, Năng suất lao động tăng gấp đôi, tốc độ tăng trưởng bình quân năm là 6,5% Khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường thế giới cao, đến 1980 Nhật Bản đã trở thành một cường quốc kinh tế trong nền kinh tế thế giới

Những bài học kinh nghiệm:

Về mô hình quản lý: Nhật Bản đã thực hiện quản lý “nền công nghiệp” thông qua Bộ Mậu dịch Quốc tế và Công nghiệp, gắn kết công

Trang 36

nghiệp với mậu dịch, tạo ra liên kết kinh tế chặt chẽ và một cơ chế hành chính gọn nhẹ

Về phương thức quản lý: Chính phủ đã “nới lỏng” dần quản lý bằng các “kế hoạch tầm xa” trong bối cảnh các doanh nghiệp đã đủ mạnh sau một thời gian dài được nhà nước bảo hộ và đỡ đầu việc để các doanh nghiệp vận hành theo các quy luật của thị trường với sự điều tiết của chính phủ qua các “kế hoạch phát triển tầm xa”, đã tạo đà cho các doanh nghiệp phát triển nhanh, đủ năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Tóm lại, Mỗi quốc gia có một cách quản lý riêng, các nước Đông Nam á hầu như gắn công nghiệp với mậu dịch, đặc biệt là thương mại quốc tế, vì mục tiêu của các nước này là xây dựng nền kinh tế hướng về xuất khẩu Riêng Trung Quốc, là nuớc rộng lớn, chủ trương quản lý công nghiệp bằng cách chia nhỏ thành các phân ngành dưới sự quản lý chung của Uỷ ban Kinh tế và Mậu dịch Với mô hình Hàn Quốc, thì sự linh hoạt trong mô hình quản lý đã giúp nước này vượt qua cuộc khủng hoảng năng lược năm

1973 và khủng hoảng tài chính Châu á năm 1997 để trở thành con rồng Châu á

Mỗi nước có một mô hình, một phương thước quản lý riêng, nhưng nhìn chung giai đoạn đầu các nước đều đề ra những chính sách bảo hộ các ngành kinh tế trong nước (có thể là một vài ngành mũi nhọn); kinh tế nhà nước đóng vai trò quan trọng, thường mang tính chủ đạo trong nền kinh tế Khi ngành công nghiệp trong nước đủ mạnh, nhà nước “buông” dần bảo hộ và giảm dần vai trò của kinh tế nhà nước trong toàn bộ nền kinh tế, lúc này chính phủ thực hiện việc quản lý, điều phối, hướng dẫn sự phát triển thông qua các “kế hoạch phát triển tầm xa”, vai trò điều tiết của thị trường lúc này đóng vai trò chủ đạo

Trang 37

CHƯƠNG II:

CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ CHUYỂN ĐỔI SANG MÔ HÌNH TỔ CHỨC

CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON

2.1 Tình hình phát triển của của doanh nghiệp nhà nước và sự cần thiết phải chuyển đổi sang mô hình tổ chức công ty mẹ- công ty con

2.1.1 Tình hình phát triển của doanh nghiệp nhà nước

Kể từ 1945 đến nay, Doanh nghiệp Nhà nước đã trải qua nhiều thời kỳ với những tên gọi khác nhau, có những đặc điểm và điều kiện khác nhau, song đặc điểm chung nhất là: Quá trình phát triển của doanh nghiệp được xuất phát từ điểm rất thấp, lạc hậu so với các nước phát triển

+ Thời kỳ từ 1945 – 1954, thời kỳ kháng chiến chống Pháp của dân

tộc, Đảng ta có chủ trương xây dựng những công xưởng phục vụ cho quốc phòng đồng thời cũng đặt nền móng cho sự phát triển nền công nghiệp sau này; ngày 01/11/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 104/ SL quy định tổ chức xí nghiệp quốc doanh, các công binh xưởng được thành lập với quy mô nhỏ, thủ công, phân tán và hoạt động bí mật, chủ yếu phục vụ chiến đấu và đời sống của nhân dân vùng căn cứ kháng chiến

+ Thời kỳ 1955 – 1975, là thời kỳ đất nước bị chia cắt thành 2 miền,

nhiệm vụ chiến lược giai đọan này là Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, đấu tranh giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước Miền Nam ở vùng giải phóng (căn cứ của lực lượng giải phóng) thì hình thành các xưởng sản xuất do cục hậu cần quân đội quản lý, chủ yếu phục vụ cho quân giải phóng và nhân dân vùng căn cứ cách mạng; ở Miền Bắc, sự ra đời các Nhà máy quốc doanh độc lập (xí nghiệp quốc doanh), quản lý theo kiểu trực tuyến gồm Giám đốc và ban giám đốc, các phòng, ban chức năng và các hệ thống phân xưởng sản xuất Cơ sở của giai đoạn này là tập trung những công việc có chung công năng hoặc quy trình kỹ thuật thì giao cho một cơ sở hoặc một nhóm cơ sở thực hiện, sự phân công này có ưu điểm là tập trung về chuyên môn hóa cao, nhưng vẫn còn nhược điểm là các cơ sở,

Trang 38

đơn vị thực hiện chỉ hướng tới mục tiêu là hoàn thành nhiệm vụ được giao mà không quan tâm đến xuất sứ công việc, đối tượng được phục vụ, công năng, giá thành của sản phẩm, thị trường tiêu thụ và mức độ tiêu thụ… nên gây ra lãng phí cao

+ Thời kỳ từ 1976 – 1985, giai đoạn giải phóng Miền Nam, đất nước

hoàn toàn thống nhất, giai đoạn này tiếp tục xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Miền Bắc, hàn gắn viết thương chiến tranh ở Miền Nam, chuẩn bị cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội; nhưng tình trạng các nhà máy quốc doanh độc lập hoạt động kém hiện qủa, quản lý nhà nước phức tạp nên đã ra đời mô hình các xí nghiệp liên hiệp theo Nghị định 302/CP ngày 01/02/1978 của Chính phủ, như: Liên hiệp các xí nghiệp Dệt, Liên hiệp các xí nghiệp May, Liên hiệp các xí nghiệp Xi măng, sắt thép v.v nhằm xây dựng các xí nghiệp chuyên ngành có quy mô lớn để vừa làm chức năng sản xuất kinh doanh và chức năng quản lý kinh tế ngành Các liên hiệp xí nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập Các Liên hiêp xí nghiệp đã làm được một số việc như: Xây dựng hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật sản xuất cấp ngành Trong mô hình này Tổng giám đốc hoặc Giám đốc Liên hiệp xí nghiệp trực tiếp điều hành (giao các kế hoạch sản xuất, các chỉ tiêu như tiêu hao ) còn các xí nghiệp quốc doanh (đơn vị cơ sở) chỉ có tập trung vào sản xuất để hoàn thành kế hoạch được giao với bất kỳ hình thức nào, bất chấp có hiệu quả hay không ? v.v Nhà nước quyết định đầu tư vào đâu thì các xí nghiệp tập trung hướng vào đó do vậy ở mô hình này đã tập trung được sức mạnh và quy mô nhưng cơ cấu điều hành và bộ máy quản lý công kềnh dễ dẫn đến quan liêu, mệnh lệnh Các thông tin điều hành từ trung tâm đến các cơ sở sản xuất phải qua nhiều cấp làm cho

bị nhiễu và độ lệch tăng lên Bộ phận kế hoạch các cấp chỉ tập trung vào mục tiêu lập kế hoạch và bảo vệ hoàn thành kế hoạch với cấp trên vào cuối năm, bảo vệ quỹ lương với các cơ quan cấp Bộ chủ quản, Tài chính, Kế hoạch, Vật tư , Uỷ ban vật giá nhà nước… Các cơ quan cấp trên, căn cứ vào báo cáo của xí nghiệp mà quyết định công nhận hoàn thành kế hoạch Thời kỳ này được gọi là thời kỳ “ Tập trung quan liêu, bao cấp”; ưu điểm của thời kỳ này là: Tập trung sức mạnh về công nghệ, tài chính và tổ chức đã xây dựng được các công trình lớn

Trong mô hình xí nghiệp liên hiệp, các xí nghiệp thành viên có bộ chỉ huy là cơ quan liên hiệp xí nghiệp vì thế hiệp lực của các cơ quan tăng

Trang 39

lên trong việc phối hợp các kế hoạch hành động của các xí nghiệp Trong một tổ chức chỉ huy, vốn và các nguồn lực khác đều được điều động một cách rễ ràng từ đơn vị này sang đơn vị khác, như vậy việc tận dụng các nguồn lực được tốt hơn

Trong mỗi Liên hiệp xí nghiệp, các kế hoạch sản xuất, kỹ thuật, tài chính được lập trên cơ sở thống nhất trong toàn hệ thống liên hiệp, các vật

tư sản xuất ra sản phẩm được cung cấp theo kế hoạch nên sản xuất được chủ động, đây là ưu điểm nổi bật của mô hình này; bộ máy tổ chức quản lý của mô hình này bao gồm: Giám đốc và các Phó Giám đốc, các Phòng Ban chuyên môn (theo chức năng riêng biệt) điều hành theo hình thức trực tuyến; Liên hiệp xí nghiệp có tư cách pháp nhân, còn các xí nghiệp thành viên có thể có tư cách pháp nhân độc lập hoặc không có; Liên hiệp xí nghiệp có bộ máy điều hành và theo dõi các xí nghiệp thành viên, các xí nghiệp thành viên đóng góp tài chính để duy trì hoạt động bộ máy của Liên hiệp xí nghiệp

+ Thời kỳ 1986 – 1990, thời kỳ này chủ trương của Nhà nước đã chú

trọng đến sản xuất hàng tiêu dùng; quản lý nhà nước đối với các xí nghiệp cũng được nới lỏng hơn theo hướng giao quyền tự chủ cho các xí nghiệp nhiều hơn (theo Quyết định 217/ HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, năm 1987) làm xuất hiện các mối liên doanh, liên kết mới trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; chế độ tự chịu trách nhiệm về tài chính và kế hoạch sản xuất kinh doanh được thực hiện ở các xí nghiệp hoặc các liên hiệp xí nghiệp, đã khuyến khích tính năng động của các cán bộ quản lý trong xí nghiệp, cơ chế quản lý hành chính theo Bộ chủ quản và Chính quyền địa phương (thường gọi là cơ chế “ xin - cho”) được giảm dần

Mô hình Công ty và Tổng công ty được ra đời thay thế cho mô hình xí nghiệp và liên hiệp xí nghiệp; về mặt pháp lý thì ở mô hình này các Công ty và Tổng công ty đều có tư cách pháp nhân (những công ty không có tư cách pháp nhân thì hạch toán báo sổ với công ty hoặc tổng công ty); cấp quản lý cao nhất là bộ máy của Tổng công ty, cơ quan này tập trung vào các hoạt động thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh là chính, giao nhiều quyền hơn cho các công ty thành viên, nên trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, họ cũng đã chủ động và phát huy được tính năng động, tạo hiệu quả cao hơn; công tác xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược phát triển công

ty vẫn còn bị xem nhẹ, hệ thống các chỉ tiêu định mức kinh tế – kỹ thuật,

Trang 40

tiêu chuẩn sản xuất, chất lượng sản phẩm ít được quan tâm, đây là hạn chế lớn của mô hình này, thời kỳ này cũng là thời kỳ giao thời khi nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá sang nền kinh tế thị trường Tuy nhiên trong mô hình này vẫn còn tồn tại 3 cấp quản lý, đó là: Xí nghiệp, Công ty và Tổng công ty, bộ chỉ huy là cơ quan Tổng công ty, vì thế sức mạnh tài chính, quy mô sản xuất và tính phức tạp trong lãnh đạo của Tổng công ty lớn hơn rất nhiều so với Liên hiệp xí nghiệp

+ Thời kỳ 1990 – 2004, là giai đoạn đổi mới nền kinh tế, được đánh

dấu bằng việc sửa đổi hiến pháp năm 1992 Theo hiến pháp, các thành phần kinh tế sở hữu khác nhau bước đầu có quyền cùng tồn tại bên cạnh kinh tế sở hữu nhà nước Từ đây nền kinh tế nước ta chính thức chuyển sang nền kinh tế thị trường; Luật Doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội khoá IX thông qua năm 1995, tại điều 43 khoản 2 khẳng định “ Tổng công

ty nhà nước là tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản và có các quỹ tập trung theo quy định của chính phủ” Để khắc phục tình trạng hoạt động kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, Quyết định 388/ HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy chế thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước, Chỉ thị 202/CT, ngày 08/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc tiếp tục chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần

Giai đoạn này có nhiều Liên hiệp xí nghiệp phát triển thành các Tổng công ty mạnh, như Tổng công ty Bưu chính Viễn thông, Tổng công ty Than, Tổng công ty Điện lực, Tổng công ty Dệt – May v.v Trong các Tổng công ty có Hội đồng quản trị, Ban Tổng Giám đốc, Ban Kiểm soát… đây là bước chuẩn bị cho việc ra đời các tập đoàn kinh tế

2.1.2 Mô hình Tổng công ty 90 – 91, cơ sở cho việc thành lập tập đoàn kinh tế mạnh:

Ngày 07/3/1994, Thủ Tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 90/TTg về việc sắp xếp thành lập và đăng ký lại các Liên hiệp xí nghệp, Tổng công ty chưa sắp xếp theo nghị định 388/ HĐBT và sắp xếp, thành lập lại các Liên hiệp xí nghiệp (gọi tắt là tổng công ty 90) Theo luật doanh nghiệp nhà nước quy định: Tổng công ty nhà nước được thành lập và hoạt động trên cơ sở liên kết của nhiều đơn vị thành viên có mối quan hệ

Ngày đăng: 15/07/2017, 20:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8- PGS.TS.Ngô Thắng Lợi (2004), Doanh nghiệp Nhà Nước trong phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam đến năm 2010, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh nghiệp Nhà Nước trong phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam đến năm 2010
Tác giả: PGS.TS.Ngô Thắng Lợi
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
10- PGS.TS. Nguyễn Đình Phan (1996), Thành lập và quản lý các tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành lập và quản lý các tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Đình Phan
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
11- GS.TS. Đỗ Hoàng Toàn (2002), Quản lý Kinh tế, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Kinh tế
Tác giả: GS.TS. Đỗ Hoàng Toàn
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
12-PGS.TS. Đỗ Văn Phức (2003), Khoa học quản lý hoạt động kinh doanh, NXB Khoa học & kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học quản lý hoạt động kinh doanh
Tác giả: PGS.TS. Đỗ Văn Phức
Nhà XB: NXB Khoa học & kỹ thuật
Năm: 2003
13-PGS.TS. Đỗ Văn Phức (2003), Quản lý nhân lực của Doanh nghiệp, NXB Khoa học & kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhân lực của Doanh nghiệp
Tác giả: PGS.TS. Đỗ Văn Phức
Nhà XB: NXB Khoa học & kỹ thuật
Năm: 2003
14-TS. Nguyễn Đại Thắng, TS. Nguyễn Văn Thanh, TS. Nguyễn Duy Bột (1994), Kinh tế học vi mô, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học vi mô
Tác giả: TS. Nguyễn Đại Thắng, TS. Nguyễn Văn Thanh, TS. Nguyễn Duy Bột
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1994
15- TS. Nguyễn Văn Thương (1997), Cơ sở của quản lý tài chính doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở của quản lý tài chính doanh nghiệp
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Thương
Năm: 1997
18-Ban đổi mới Doanh nghiệp Trung ương ( 22/9/2005), Báo cáo tóm tắt sơ kết thí điểm mô hình Công ty mẹ - Công ty con, Hội nghị sơ kết thí điểm áp dụng mô hình Công ty mẹ - Công ty con, Hà Nội Khác
20-Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (2003) Đề án thí điểm chuyển Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con Khác
21-Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (2003), Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con Khác
22-Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn, (2002, 2003, 2004, 2005), Báo cáo Tổng kết hoạt động sản xuất, kinh doanh và báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 2006 Khác
23-Công ty Dầu thực vật Hương liệu mỹ phẩm Việt Nam (2003), Đề án chuyển đổi Công ty Dầu thực vật Hương liệu mỹ phẩm Việt Nam sang hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con Khác
24-Công ty Dầu thực vật Hương liệu mỹ phẩm Việt Nam (2004), Điều lệ tổ chức hoạt động của Công ty Dầu thực vật Hương liệu my phẩm Việt Nam theo moõ hỡnh Coõng ty meù - Coõng ty con Khác
25-Công ty Dầu thực vật Hương liệu mỹ phẩm Việt Nam (2003, 2004, 2005), Báo cáo Tổng kết hoạt động sản xuất, kinh doanh và báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 2006 Khác
26-Công ty May Việt Tiến (2004), Điều lệ tổ chức hoạt động của Công ty May Vieọt Tieỏn theo moõ hỡnh Coõng ty meù - Coõng ty con Khác
27-Công ty May Việt Tiến (2002, 2003, 2004, 2005), Báo cáo Tổng kết hoạt động sản xuất, kinh doanh, và báo cáo sơ kết 6 tháng đầu năm 2006 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm