Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập hiện nay các doanh nghiệp của ngành chế tạo máy động lực trong đó có Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Chế tạo động cơ VINAPPRO đã bọc lộ ra nhi
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI CÔNG TY TNHH 1 THÀNH VIÊN CHẾ TẠO ĐỘNG CƠ (VINAPPRO) VÀ XÂY DỰNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
VÕ THẠCH NGỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN ÁI ĐOÀN
HÀ NỘI 2006
Trang 2Danh mục các bảng biểu – hình vẽ
1.1.Khái niệm về cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm 3 1.1.2 Phân loại 4
1.4.Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh
1.4.1 Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp 12
1.4.2 Quy mô doanh nghiệp 13
1.4.3 Trình độ công nghệ 13
1.4.4.Chi phí sản xuất kinh doanh 13
1.4.6.Quản lý chất lương sản phẩm 14
1.5.Một số các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
1.5.1.Các yếu tố quốc tế 14
1.5.2.Các yếu tố trong nước 15
1.6 Một số mô hình phân tích năng lực cạnh tranh 17
1.6.1 Mô hình phân tích cạnh tranh trên cơ sở đánh giá
1.6.2 Mô hình phân tích theo quan điểm tổng thể 17
1.7.Sự cấn thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh 19
CHƯƠNG II PHÂN TÍCH & ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHẾ TẠO ĐỘNG CƠ VINAPPRO
2.1.Giới thiệu tổng quát về công ty Vinappro 21
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển 21
2.1.1.1 Lịch sử hình thành
2.1.1.2 Quá trình phát triển 22
2.1.2 Sơ lược về qui trình sản xuất sản phẩm 23
2.2.1.Tình hình nhân sự tại công ty Vnappro 25
2.2.2.Sơ đồ cơ cấu tổ chức 26
2.3.Một số kết quả hoạt động sản xuất trong thời gian qua 27
Trang 32.4.2.Các yếu tố trong nước 32
a/ Tỷ giá hối đoái và lãi suất cho vay 32
b/ Về chính trị và pháp luật, chính sách của chính phủ 33
c/ Yếu tố trình độ khoa học và công nghệ 34
2.4.3.1 Các đối thủ trong nước 35
a/ Dây chuyền gia công thân máy động cơ 37
b/ Doanh thu và số lượng tiêu thụ động cơ trong 3 năm
c/ Tình hình thiết bị 38
a/ Trung quốc 40 b/ Các nước trong khu vực 40
2.5.Phân tích và đánh giá thực trạng các yếu tố cấu thành năng lực
cạnh tranh của công ty chế tạo động cơ Vinappro
2.5.1.1 Quy mô về vốn 41
2.5.1.2 Hoạt động nghiên cứu thị trường 42
2.5.1.2.1.Về thị trường động cơ (dưới 30 mã lực) trên
thế giới và khu vực 43
2.5.1.2.2.Về thị trưòng động cơ dưới 30 mã lực tại Việt Nam 44
• Đánh giá chung về thị trường Việt Nam
• Phân tích các vùng thị trường trong nước
a/ Thị trường đồng bằng sông Cửu Long
b/ Thị trường Tây Nguyên& miền Đông Nam Bộ
c/ Thị trường duyên hải miền Trung
d/ Thị trưòng miền Bắc& Bắc Trung bộ
2.5.1.3 Quản lý chất lượng sản phẩm 47
2.5.1.4 Gía bán sản phẩm 49
2.5.1.5 Chi phí sản xuất kiunh doanh 50
2.5.1.6 Quản lý và tổ chức sản xuất 51
2.5.1.7 Thương hiệu và danh tiếng 54
2.5.1.8 Chất lượng công tác kỹ thuật –thiết kế công nghệ 57
2.5.1.9 Nghiên cứu và phát triển, đổi mới, cải tiến sản phẩm 58
Trang 41/ Bảng cho điểm về sự tưong thích, tính đồng bộ, tính tiên
tiến của sản phẩm tiêu biểu 74 2/ Bảng thống kê các thiết bị sản xuất sản phẩm tiêu biểu
3/ Đánh giá % còn lại cuả thiết bị 78
2.5.1.10.3 Xác định các chỉ số trình độ công nghệ về quản trị
2.5.2 Các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của
CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CÔNG TY CHẾ TẠO ĐỘNG CƠ VINAPPRO
3.1.1 Mục tiêu chiến lược và quan điểm phát triển - Đại hội Đảng cộng
sản Việt Nam lần thứ IX
3.1.2 Mục tiêu và định hướng phát triển ngành công nhiệp Việt Nam
3.1.3 Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 47/2004/CT/TTg ngày 22/
12/2004
3.1.4 Chiến lược phát triển ngàmh cơ khí Việt Nam đến năm 2010
tầm nhìn đến năm 2020 của Bộ công nghiệp
3.1.5 Mục tiêu và kế hoạch phát triển kinh doanh 2005-2007
của công ty Chế tạo động cơ Vinappro
3.1.6 Thực trạng về năng lực cạnh tranh của công ty Vinappro
3.2 Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh 90
3.2.1 Giải pháp 1- Hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng
theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 hiện nay của công ty 90
3.2.2 Giải pháp 2- Đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị (thành
phần T trong phân tích trình đô công nghệ ) 99
3.2.3 Giải pháp 3- Nâng cao chất lượng công tác kỹ thuật –
thiết kế công nghệ 105
3.2.4 Giải pháp 4- Các giải pháp về marketing 108
Bảng tổng hợp lợi ích thực hiện các giải pháp 116
****************************
Trang 5LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô khoa Kinh tế & Quản lý, Trung tâm Sau đại học trường đại học Bách Khoa Hà Nội đã trang bị cho tôi nhiều kiến thức, kinh nghiệm quý báu và những điều kiện hết sức thuận lợi trong suốt thời gian theo học tại trường
Tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn luận văn tốt nghiệp của tôi PGS.TS NGUYỄN ÁI ĐOÀN, người đã tận tình hướng dẫn
và đưa ra nhiều gợi ý, góp thêm nhiều ý kiến quý báu giúp cho tôi hoàn thành được luận văn nầy., và cám ơn các bạn bè, đồng nghiệp tại công ty Chế tạo động cơ VINAPPRO đã giúp đở tạo điều kiện trong việc thu thập các số liệu cần thiết để hoàn chỉnh được luận văn theo yêu cầu
Xin chân thành cám ơn
Học viên : VÕ THẠCH NGỌC
Trang 6DANH MỤC BẢNG –BIỂU – HÌNH VẼ- ĐỒ THỊ
Stt Bảng Tên gọi Trang
2 2.2 Bảng thống kê trình độ chuyên môn nghiệp vụ , 25
3 2.3 Bảng phân bổ lao động tại các phòng ban, phân xưởng 25
4 2.4 Các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh từ năm 2001-2005 27
5 2.5 Sản phẩm động cơ sản xuất ở các công ty thuộc tông công ty
máy động lực và máy nông nghiệp.(VEAM) 36
6 2.6 Năng lực gia công thân máy tại các công ty thuộc tổng công
7 2.7 Doanh thu và số lượng tiêu thụ động cơ năm 2003-2005 của
8 2.8 Thống kê thiết bị các công ty thuộc Tổng công ty VEAM 38
9 2.9 Khả năng cung cấp máy động lực của các nước Đông nam Á
10 2.10 Thị phần máy động lực của nước ngoài tại thị trường Việt Nam
11 2.11 Tổng chi phí sản xuất kinh doanh năm 2004-2005 51
13 2.13 nt 65
14 2.14 Các công đoạn sản xuất sản phẩm tiêu biểu thân máy động cơ 66
15 2.15 Bảng cho điểm các thành phần T,H,I,O trong các công đoạn
sản xuất thân máy động cơ 67
16 2.16 Bảng cho điểm các thành phần công nghệ T,H,I,O trong sản
xuất kinh doanh khi so sánh kết quả thực hiện thực tế và lý
thuyết 69
17 2.17 Xác định hệ số đặc trưng môi trường công nghệ λ 73
18 2.18 Bảng cho điểm về tính tương thích, tính đồng bộ ,tính tiên
19 2.19 Thống kê các thiết bị sản xuất sản phẩm tiêu biểu động cơ diezel 77
21 2.21 Bảng xác định H % hao mòn hữu hình thiết bị 80
22 2.22 Bảng biểu thị năng suất N thực tế đạt được so với thiết kế 80
23 2.23 Bảng đánh giá công tác quản lý chất lượng sản phẩm 80
24 2.24 Xác định hệ số đồng đều K và độ quan trọng 4 thành phần
25 2.25 Thống kê nhân sự trong các công đoạn sản xuất sản phẩm
Trang 727 2.27 Bảng tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá trình độ công nghệ
theo phương pháp ATLAT CÔNG NGHỆ 84
28 3.1 Các chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh 2005-2007 cuả
30 3.3 Bảng kê phản ảnh sự thay đổi chi phí vào giá thành 105
(Giải pháp 2)
Hình
31 1.1 Mô hình phân tích theo quan điểm tổng thể 18
38 2.7 Biểu đồ chu kỳ sống công nghệ 35
39 2.8 Thị phần động cơ diezel cuả nước ngoài và của tổng công ty
40 2.9 Sơ đồ mô tả hoạt động kiểm soát tồn kho của phòng Kế hoạch 52
41 2.10 Sơ đồ kết cấu sản phẩm tiêu biểu động cơ diezel 64
42 2.11 Biểu đồ công nghệ hình thoi của động cơ diezel được đánh giá
trình độ công nghệ 74
44 3.2 Biểu đồ trị số khe hở buồng đốt động cơ DS60 94
45 3.3 Biểu đồ kiểm soát X-R thân máy DF120 94
46 3.4 Biểu đồ nhân quả 95
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1/ Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và mở cửa hội nhâp vào nền kinh
tế thế giới cạnh tranh đã trở thành một quy luật tất yếu, các doanh nghiệp để tồn tại, phát triển đều phải chấp nhận và đối đầu với cạnh tranh
Ngành chế tạo máy động lực (động cơ diezel) trong thời gian trước kia cũng như hiện nay đã có những đóng góp nhất định vào việc cơ giới hoá nông nghiệp, đưa máy móc vào đồng ruộng giảm thiểu sức lao động chân tay, nâng cao năng suất lao động góp phần đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập hiện nay các doanh nghiệp của ngành chế tạo máy động lực trong đó có Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Chế tạo động cơ VINAPPRO đã bọc lộ ra nhiều điểm hạn chế cho thấy năng lực cạnh tranh của công ty kém hơn các đối thủ trong nước cũng như nước ngoài ở thị trường nội địa cũng như thị trường xuất khẩu được thể hiện rỏ nét ở sức tiêu thụ sản phẩm động cơ giảm dần nhất là vào năm
2005 chỉ tiêu thụ được 3203 chiếc, thấp nhất từ năm năm trở lại đây
Sự xuất hiện của các đối thủ cạnh tranh mới trên thị trường máy động lực nhất là các đối thủ nước ngoài có tiềm lực kinh tế tài chính mạnh công nghệ hiện đại , sự biến động lớn ở thị trường xuất khẩu của công ty, giá cả vật tư nguyên vật liệu đầu vào tăng cao đã đưa công ty đến một nhiệm vụ vô cùng bức thiết là phải đổi mới cơ chế hoạt động sản xuất kinh doanh nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.Với những yêu cầu thực tiển đó nội dung :”Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh tại Công ty TNHH 1 TV Chế tạo động cơ VINAPPRO và xây dựng một số giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh,”đã được chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp CHQTKD
2/ Mục đích của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu các lý luận chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh, cùng với việc phân tích, đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng, cấu thành năng lực cạnh tranh cũng như phân tích đánh giá thực trạng về quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty VINAPPRO trong thời gian vừa qua luận văn sẽ đề xuất xây dựng một số giải pháp để nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
3/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứư : chủ yếu nghiên cứu những vấn đề có ảnh hưởng
đến năng lực cạnh tranh của công ty như: môi trường kinh tế vĩ mô, vi mô, và các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh:vốn,hoạt động thị trường, công tác quản lý chất lượng sản phẩm, trình độ công nghệ…
Phạm vi nghiên cứu : đế tài tập trung nghiên cứu phân tích thực trạng các
hoạt động chủ yếu sản xuất kinh doanh của công ty từ năm 2001- 2005 và một số số liệu từ năm 2003-2005 của sản phẩm chính là động cơ diezel
4/ Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp như sau : Phương pháp phân tích , tổng hợp; So sánh trên cơ sở điều tra quan sát thực tế; Phương pháp thống kê , dự
Trang 9báo thông qua việc sử dụng thông tin thu thập số liệu từ thực tiễn , từ các tạp chí chuyên ngành , tài liệu ngành thông tin nội bộ ,các báo cáo tổng kết của công ty , Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp Các thông tin được tập hợp, phân loại ,hệ thống lại đánh giá tình hình một cách sát thực và rút ra được các kết luận cần thiết giúp xây dựng các giải pháp có tính hệ thống
- Phương pháp chuyên gia cũng được sử dụng để cho điểm đánh giá trình
độ công nghệ của công ty
5/ Những đóng góp của luận văn
Ngoài việc xác lập một cách có hệ thống các cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh,luận văn sẽ phân tích đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh công ty trên một số các yếu tố chủ yếu cấu thành năng lực cạnh tranh trong đó trình độ công nghệ của công ty là yếu tố được quan tâm nhiều nhất bởi vì đó là yếu tố chính hiện nay quyết định đến năng lực cạnh tranh mà từ trước đến nay chỉ đựơc đề cập đến nhưng không được xác định một cách có
cơ sở khoa học.Trên các cơ sở nầy, luận văn đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời gian tới
Luận văn là một công trình nghiên cứu kết hợp giữa các cơ sở lý luận và thực tiển về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh tại công ty Chế tạo động cơ VINAPPRO ; tuy luận văn chỉ nghiên cứu trong phạm vi một công ty nhưng thiết nghĩ đây cũng là một tài liệu tham khảo hữu ích cho các công ty khác trong ngành chế tạo máy động lực khi quan tâm đến cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
6/ Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm có 3 chương
Chương I.Các cơ sở lý luận về cạnh tranh , năng lực cạnh tranh
Chương II.Phân tích đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng và cấu thành năng lực cạnh tranh của công ty VINAPPRO
ChươngIII.Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranhcông ty VINAPPRO
Do điều kiện hạn chế về thời gian, trình độ có hạn, cũng như yêu cầu bức bách hiện nay của công ty, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu ,phân tích đánh giá những yếu tố chủ yếu cấu thành năng lực cạnh tranh:vốn,công tác thị trưòng ,công tác quản lý chất lượng sản phẩm ,trình độ công nghệ , chất lượng công tác thiết kế kỹ thuật – công nghệ , công tác R&D…để phục vụ trước mắt cho việc năng cao năng lực cạnh tranh với những giải pháp đề xuất mang tính ngắn hạn mà thôi
Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn nhưng chắc chắn sẽ không thể nào tránh khỏi những thiếu sót , rất mong được sự góp ý của các thầy cô và các bạn bè đồng nghiệp để tôi có thể hoàn thiện đề tài nghiên cứu nầy trong tương lai
Trang 10CHƯƠNG I CÁC CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH
1.1.Khái niệm về cạnh tranh: [17,12-15]
1.1.1.Khái niệm
Các học thuyết kinh tế thị trường, dù trường phái nào đều thừa nhận rằng: cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, nơi mà cung - cầu và giá cả hàng hoá là những nhân tố cơ bản của thị trường, là đặc trưng cơ
bản của cơ chế thị trường, cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường
Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, do cách tiếp cận khác nhau, nên có các quan niệm khác nhau về cạnh tranh, đặc biệt là phạm vi của ngôn ngữ này Có thể dẫn ra sau:
Theo K Marx “ Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”
Cuốn tự điển rút gọn về kinh doanh đã định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình
Theo Từ Điển Bách Khoa của Việt Nam thì “Cạnh tranh (trong kinh
doanh) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế
Theo cuốn Kinh tế học của P.Samuelson thì: “ Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường”
Theo các tác giả của cuốn Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách
cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh thì: ” Cạnh tranh có thể được
hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể
Trong hoạt động kinh tế, cạnh tranh là sự giành giật thị trường, khách hàng, đối tác trên cơ sở các ưu thế về chất lượng hàng hoá, giá hàng hoá, thời hạn, sự thuận tiện và uy tín lâu dài.[15,11]
Ngoài ra còn có thể dẫn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh,song qua các định nghĩa trên có thể tiếp cận về cạnh tranh như sau: Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm lấy phần thắng của chủ thể cùng tham dự
Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó
mà các bên đều muốn giành giật (một cơ hội, một sản phẩm, dự án …) Một loạt điều kiện có lợi (một thị trường, một khách hàng …) mục đích cuối cùng
là kiếm được lợi nhuận cao
Trang 11Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh …
Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể
sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm, cạnh tranh bằng giá sản phẩm (chính sách định giá thấp; chính sách định giá cao; chính sách ổn định giá; định giá theo thị trường; chính sách giá phân biệt; bán phá giá); cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm (tổ chức các kênh tiêu thụ); cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt; cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán …
Với cách tiếp cận trên, khái niệm cạnh tranh có thể hiểu như sau: Cạnh
tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích Đối với người sản xuất kinh
doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi
1.1.2 Phân loại [17,16-19]
Cạnh tranh được phân thành nhiều loại với các tiêu thức khác nhau:
Dưới góc độ các chủ thể kinh tế tham gia thị trường, có cạnh tranh giữa những người sản xuất (người bán) với nhau, giữa những người mua và người bán, người sản xuất và người tiêu dùng, và giữa những người mua với nhau
Ở đây cạnh tranh xoay quanh vấn đề: chất lượng hàng hoá, giá cả và điều kiện dịch vụ
• Xét theo quy mô của cạnh tranh có: cạnh tranh của sản phẩm, cạnh tranh của doanh nghiệp và cạnh tranh của quốc gia
• Xét theo tính chất của phương thức cạnh tranh có: cạnh tranh hợp pháp hay cạnh tranh lành mạnh (biện pháp cạnh tranh phù hợp với luật pháp, tập quán, đạo đức kinh doanh) và cạnh tranh bất hợp pháp hay cạnh tranh không lành mạnh (biện pháp cạnh tranh bằng những thủ đoạn chứ không phải vươn lên bằng sự nỗ lực của chính mình)
• Xét theo hình thái của cạnh tranh có: cạnh tranh hoàn hảo, hay thuần túy đây là tình trạng cạnh tranh trong đó giá cả của một loại hàng hoá là không thay đổi trong toàn bộ địa danh cuả thị trường, bởi vì người mua, người bán đều biết tường tận về các điều kiện của thị trường; và cạnh tranh không hoàn hảo đây là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong các ngành sản xuất mà ở
đó người bán hàng hoặc sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực có thể chi phối được giá cả sản phẩm của mình trên thị trường Trong cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính độc quyền Độc quyền nhóm là hình thái thị trường mà trong đó chỉ có một số ít các nhà sản xuất, mỗi người đều nhận thức được rằng giá cả của mình không chỉ phụ thuộc vào hoạt động của các nhà cạnh tranh quan trọng trong ngành đó Cạnh
Trang 12tranh mang tính độc quyền là hình thái thị trường có nhiều người bán sản xuất
ra những sản phẩm có thể dể dàng thay thế cho nhau
• Dưới góc độ các công đoạn của sản xuất – kinh doanh, người ta cho rằng
có ba loại: cạnh tranh trước khi bán hàng, trong quá trình bán hàng và sau khi bán hàng Cạnh tranh này được thực hiện bằng phương thức thanh toán và dịch vụ
• Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể trong cạnh tranh, có cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành Đây là cách phân loại cạnh tranh của K.Marx dựa trên cơ sở khoa học của các phạm trù giá trị thị trường, giá cả sản xuất và lợi nhuận bình quân Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ, một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến sự hình thành giá
cả thị trường đồng nhất đối với hàng hoá dịch vụ cùng loại trên cơ sở giá trị
xã hội của hàng hoá dịch vụ đó Trong cuộc cạnh tranh này, các doanh nghiệp thôn tính lẫn nhau Doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường, những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp hoạt động kinh doanh, thậm chí bị phá sản; cạnh tranh giữa các ngành là cuộc đấu tranh giữa các nhà doanh nghiệp sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm thu lợi nhuận và có tỉ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đã bỏ ra và đầu tư vốn vào ngành có lợi nhất cho sự phát triển
Sự cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến việc các doanh nghiệp luôn tìm kiếm những ngành đầu tư có lợi nhất nên đã chuyển vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành có nhiều lợi nhuận Sau một thời gian nhất định, sự điều chuyển tự nhiên theo tiếng gọi của lợi nhuận này, vô hình chung hình thành nên sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất, dẫn đến kết quả cuối cùng là các chủ doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với số vốn bằng nhau chỉ thu được lợi nhuận như nhau
Phát triển cách phân loại trên của K.Marx, các nhà kinh tế học chia thành hai hình thức cạnh tranh là cạnh tranh dọc và cạnh tranh ngang Cạnh tranh dọc là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi phí bình quân thấp nhất khác nhau Cạnh tranh dọc chỉ ra rằng: sự thay đổi giá bán và lượng bán nói trên của các doanh nghiệp sẽ có điểm dừng Sau một thời gian nhất định, hình thành một giá thị trường thống nhất Cạnh tranh dọc sẽ làm cho các doanh nghiệp có chi phí bình quân cao bị phá sản, còn các doanh nghiệp có chi phí thấp sẽ thu được lợi nhuận cao; cạnh tranh ngang là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp có mức chi phí bình quân thấp như nhau Do đặc điểm đó, trong cạnh tranh ngang không có doanh nghiệp nào bị loại khỏi thị trường, song giá cả ở mức thấp tối đa, lợi nhuận giảm dần và có thể không có lợi nhuận Để hạn chế bất lợi đó, cạnh tranh ngang dẫn đến hai khuynh hướng: hoặc là phải liên minh thống nhất giá bán cao, giảm lượng bán trên thị trường
- xuất hiện độc quyền; hoặc là các doanh nghiệp tìm mọi cách giảm được chi phí, tức là chuyển từ cạnh tranh ngang sang cạnh tranh dọc nhằm trụ lại được trên thị trường và có lợi nhuận cao
Trang 13• Xét theo phạm vi lãnh thổ, có cạnh tranh trong nước và cạnh tranh quốc
tế Cần lưu ý, cạnh tranh quốc tế có thể diễn ra ngay ở thị trường nội địa, đó là cạnh tranh giữa hàng hoá trong nước sản xuất với hàng ngoại nhập
Cạnh tranh kinh tế quốc tế là cạnh tranh kinh tế đã vượt khỏi phạm vi quốc gia, tức là cạnh tranh giữa chủ thể kinh tế trên thị trường thế giới Sở dĩ như vậy, là do sự tác động của cách mạng khoa học – công nghệ, phân công lao động quốc tế đã phát triển sâu, rộng, sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội
có tính chất quốc tế và do quá trình mở rộng thị trường trên quy mô toàn thế giới Chủ thể trực tiếp tham gia vào cạnh tranh kinh tế quốc tế , trước hết, là các doanh nghiệp, bởi lẽ, doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp thực hiện việc sản xuất hàng hoá và dịch vụ
1.2.Vai trò và chức năng cạnh tranh.[24,8]
1.2.1 Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh là cơ chế vận hành chủ yếu của nền kinh tế thị trường, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế
Trên bình diện toàn nền kinh tế, cạnh tranh có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế, góp phần phân bổ nguồn lực có hiệu quả nhất thông qua việc kích thích các doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực tối ưu nhất cũng như hạn chế được những méo mó của thị trường, góp phần phân phối lại thu nhập một cách có hiệu quả hơn và đồng thời góp phần nâng cao phúc lợi xã hội;
Trên bình diện doanh nghiệp, bằng sự hấp dẫn của lợi nhuận từ việc đi đầu
về chất lượng, mẫu mã cũng như áp lực phá sản nếu đứng lại, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải luôn cải tiến, đổi mới công nghệ, phương pháp sản xuất, quản lý nhằm nâng cao chất lượng hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất và lợi nhuận, qua đó đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của chính các doanh nghiệp
Trên bình diện người tiêu dùng, cạnh tranh tạo ra sự chọn lựa rộng rãi hơn, bảo đảm cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng không thể áp đặt giá cả tùy tiện.Với khía cạnh đó cạnh tranh là yếu tố điều tiết thị trường, quan hệ cung cầu, góp phần hạn chế méo mó giá cả lành mạnh hoá các mối quan hệ xã hội
1.2.2.Chức năng của cạnh tranh
Cạnh tranh có thể mang lại lợi ích cho người này và gây thiệt hại cho người khác, song xét dưới góc độ toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực Đối với nền kinh tế, cạnh tranh đảm nhận một số chức năng sau :
• Cạnh tranh đảm bảo điều chỉnh giữa cung và cầu Cạnh tranh hướng việc
sử dụng các nhân tố sản xuất vào những nơi có hiệu quả nhất
• Cạnh tranh tạo môi trường thuận lợi để sản xuất thích ứng với sự biến động của cầu và công nghệ sản xuất
• Cạnh tranh tác động một cách tích cực đến phân phối thu nhập: cạnh tranh sẽ hạn chế hành vi bóc lột trên cơ sở quyền lực thị trường và việc hình thành thu nhập không tương ứng với năng suất
• Cạnh tranh là động lực thúc đẩy đổi mới
Trang 14Tầm quan trọng của những chức năng này có thể thay đổi theo từng thời
kỳ Tùy theo từng thời kỳ, tùy theo việc đánh giá tầm quan trọng của mỗi chức năng, người ta xây dựng mô hình chính sách cạnh tranh khác nhau Cạnh tranh điều chỉnh cung cầu hàng hoá trên thị trường Khi cung của một hàng hoá nào đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa người bán là cho giá cả giảm xuống, chỉ những cơ sở kinh doanh đủ khả năng cải tiến công nghệ, trang bị kỹ thuật, phương thức quản lý và hạ giá thành sản phẩm, mới có thể tồn tại Với ý nghĩa đó cạnh tranh là nhân tố quan trọng kích thích việc ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất
Trong cạnh tranh tất yếu sẽ có doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh nhờ làm
ăn hiệu quả, đồng thời có doanh nghiệp bị phá sản Đối với xã hội, phá sản doanh nghiệp không hoàn toàn mang ý nghĩa tiêu cực vì các nguồn lực của xã hội được chuyển sang cho nhà kinh doanh khác tiếp tục sử dụng một cách có hiệu quả hơn Vì vậy phá sản không phải là sự huỷ diệt hoàn toàn mà là sự huỷ diệt sáng tạo Việc duy trì các doanh nghiệp kém hiệu quả còn gây ra nhiều lãng phí cho xã hội hơn là phá sản
1.3.Năng lực cạnh tranh.[17, 21-29]
Khi nghiên cứu về cạnh tranh, thực tế tồn tại rất nhiều khái niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh được sử dụng phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng, sách báo chuyên môn, giao tiếp hàng ngày của các chuyên gia kinh tế, các chính khách … Nhiều khi khái niệm về năng lực cạnh tranh vừa tỏ ra rất phổ biến vừa hết sức mơ hồ Những khái niệm về năng lực cạnh tranh từ các góc độ khác nhau cũng có sự khác biệt nhau Nguyên nhân
ở đây là:
• Thứ nhất, do phạm vi quá lớn để có thể tiếp cận từ mọi khía cạnh Năng lực cạnh tranh có thể của công ty, ngành, lĩnh vực hoặc quốc gia và bao gồm tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả thị trường như các chính sách, cơ cấu thị trường ,nghiệp vụ kinh doanh về thương mại, đầu tư và các quy định
• Thứ hai, do không có sự rõ ràng khi trả lời câu hỏi ai là người cạnh tranh, các nước hay công ty
Như vậy khái niệm này là một khái niệm phức hợp được xem xét ở nhiều cấp độ khác nhau như:.Năng lực cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của sản phẩm và dịch vụ Một số tác giả như Paul Krugman phê phán khái niệm khả năng /năng lực cạnh tranh của quốc gia vì – theo Krugman – không có quốc gia nào bị phá sản vì năng lực cạnh tranh kém nhưng doanh nghiệp có thể bị phá sản vì không cạnh tranh được trên thị trường Do đó, việc nhận biết và phân loại những khái niệm năng lực cạnh tranh khác nhau là rất cần thiết, nếu muốn hiểu một cách đầy đủ khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
•Khái niệm về năng lực cạnh tranh của quốc gia Theo định nghĩa của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF – World Economic Forum) thì năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao trên cơ
sở các chính sách, thể chế vững bền tương đối và các đặc trưng kinh tế khác
Trang 15Năng lực cạnh tranh của quốc gia được xác định bởi các nhóm nhân tố: mức độ mở của nền kinh tế, bao gồm mở cửa thương mại và đầu tư (thuế quan và hàng rào phi thuế quan, chính sách xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, đầu tư trực tiếp của nước ngoài); Vai trò của Chính phủ (mức độ can thiệp của Nhà nước, năng lực của Chính phủ, quy mô của Chính phủ, chính sách tài khóa, hệ thống thuế, lạm phát); tài chính (Tỷ lệ tín dụng rủi ro tài chính, đầu
tư và tiết kiệm); Công nghệ (năng lực công nghệ nội sinh, công nghệ chuyển giao, mức độ đầu tư cho nghiên cứu và triển khai); Cơ sở hạ tầng (chất lượng
hệ thống giao thông vận tải, mạng viễn thông, điện, nước, kho tàng và các phương tiện vật chất); Quản lý kinh doanh, quản lý nhân lực; Lao động (số lượng lao động, hiệu quả và tính linh hoạt của thị trường lao động); Thể chế (chất lượng của các thể chế pháp lý),… Khái niệm này cho thấy năng lực cạnh tranh của quốc gia được xác định trước hết bằng mức độ tăng tưởng của nền kinh tế quốc dân, và sự có mặt (hay thiếu vắng) các yếu tố quy định khả năng tăng trưởng kinh tế dài hạn trong các chính sách kinh tế đã thực hiện Tuy nhiên, khái niệm này không bao hàm được tất cả các khía cạnh về giá trị gia tăng, chẳng hạn sự tiến bộ về giáo dục, khoa học và công nghệ,… những vấn
đề được coi là quan trọng đối với tiềm năng tăng trưởng dài hạn của một quốc gia Đồng thời, nó cũng không phản ánh được nguyên nhân tạo ra năng lực cạnh tranh và kết quả của cạnh tranh
Một số nhà kinh tế khác lại đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của quốc gia dựa trên năng suất lao động M Porter cho rằng: “Khái niệm có ý nghĩa nhất về năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất lao động” Mở rộng khái niệm này thì năng lực cạnh tranh của quốc gia gần hơn với lý thuyết về lợi thế so sánh Ngay trong lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Ricardo, một quốc gia có khả năng cạnh tranh hơn các quốc gia khác bởi trội hơn về một hay vài thuộc tính Ông cho rằng, khả năng cạnh tranh của một quốc gia là một hệ thống gồm nhiều yếu tố liên quan với nhau, có tác động qua lại và bổ sung cho nhau Các yếu tố này là nền móng, chỗ dựa cho các công ty, giữ vai trò quyết định, cho phép các công ty sáng tạo và duy trì lợi thế cạnh tranh trên một lĩnh vực cụ thể Tuy nhiên, mọi yếu tố đều có thể thay đổi và do đó, năng lực cạnh tranh cũng có thể bị thay đổi Trong trường hợp này, Ủy ban về
Cạnh tranh Công nghiệp trực thuộc Tổng thống Mỹ đã đưa ra khái niệm “Một
nước là cạnh tranh nếu như nước đó duy trì được một tỷ lệ tăng trưởng thu nhập thực ngang bằng với tỷ lệ đó của các nước bạn hàng trong một môi trường thương mại tự do” Khái niệm này tỏ ra khá mơ hồ, bởi vì nó cho rằng
tăng trưởng thu nhập của một nước có liên quan đến các nước bạn hàng như
là tính cạnh tranh là không thỏa đáng
Đối với Fagerberg (1988) vần đề lại được xem xét ở một góc độ khác,
Fagerberg định nghĩa năng lực cạnh tranh của một quốc gia như là “khả năng
của một đất nước trong việc nhận thức rõ mục đích của chính sách kinh tế tập trung, nhất là đối với tăng trưởng thu nhập và việc làm, mà không gặp phải các khó khăn trong cán cân thanh toán” Đây là khái niệm vừa mang tính vĩ
Trang 16mô, vừa mang tính ngẫu nhiên, bởi vì, khi tính cạnh tranh được xác định như
là năng lực để duy trì thị phần có khả năng tạo ra lợi nhuận thì năng lực này lại có triển vọng chưa rõ ràng và mang tính ngẫu nhiên
Như vậy, những khái niệm trên chỉ là một số khái niệm về lý thuyết về năng lực cạnh tranh ở tầm quốc gia và đa số các quan niệm chấp nhận năng lực cạnh tranh của quốc gia phụ thuộc vào khả năng khai thác cơ hội trên thị trường Do đó, có thể hiểu, năng lực cạnh tranh của quốc gia là năng lực của một nền kinh tế có thể tạo ra tăng trưởng bền vững trong môi trường kinh tế đầy biến động của thị trường thế giới
• Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, về khái niệm này, phần lớn các tác giả đều gắn năng lực cạnh tranh doanh nghiệp với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường hoặc gắn năng lực cạnh tranh với vị trí của doanh nghiệp trên thị trường theo thị phần mà nó chiếm giữ thông qua khả năng tổ chức, quản trị kinh doanh hướng vào đổi mới công nghệ, giảm chi phí nhằm duy trì hay gia tăng lợi nhuận, bảo đảm sự tồn tại, phát triển bền vững của doanh nghiệp
Trước tiên, trong lý thuyết tổ chức công nghiệp, khái niệm năng lực cạnh tranh được áp dụng ở phạm vi Xí nghiệp Một Xí nghiệp được xem là có năng lực cạnh tranh khi xí nghiệp đó duy trì được vị thế của mình trên thị trường cùng với các nhà sản xuất khác với các sản phẩm thay thế, hoặc đưa ra thị trường các sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn, hoặc cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất lượng hay dịch vụ ngang bằng hoặc cao hơn
Theo Fafchamps, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường, có nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất
ra sản phẩm có chất lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác nhưng với chi phí thấp hơn thì được coi là có khả năng cạnh tranh cao
Randall lại cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng giành được và duy trì thị phần trên thị trường với lợi nhuận nhất định
Dunning lập luận rằng, năng lực cạnh tranh là khả năng cung ứng sản phẩm của chính doanh nghiệp trên các thị tường khác nhau mà không phân biệt nơi bố trí của doanh nghiệp đó
Theo Philip Lasser, năng lực cạnh tranh của một công ty trong một lĩnh vực được xác định bằng những thế mạnh mà công ty đó hoặc huy động được
để có thể cạnh tranh thắng lợi
Markusen (1992) đã đưa ra khái niệm “một nhà sản xuất là cạnh tranh nếu
như nó có một mức chi phí đơn vị trung bình bằng hoặc thấp hơn chi phí đơn
vị của các nhà cạnh tranh quốc tế”
Một quan niệm khác cho rằng “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp đó
Trang 17trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp trên một thị trường mục tiêu xác định”
Năng lực cạnh tranh là khả năng của một công ty để đánh bại các công ty đối thủ đang ganh đua đạt được thị phần [12,58]
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng vượt trội qua các đối thủ cạnh tranh để duy trì và phát triển bản thân doanh nghiệp [26,210]
Như vậy, trên thực tế đang tồn tại nhiều quan niệm cụ thể, khác nhau về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Song tựu chung, khi tiếp cận năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, cần chú ý tới 4 vấn đề cơ bản sau:
• Một là, trong điều kiện kinh tế thị trường, phải lấy yêu cầu của khách hàng là chuẩn mực đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi lẽ, yêu cầu của khách hàng vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sản xuất, kinh doanh Cùng một loại sản phẩm các nhóm khách hàng khác nhau có những nhu cầu rất khác nhau
•Hai là,yếu tố cơ bản tạo nên năng lực mạnh trong việc lôi kéo khách hàng phải là thực lực của doanh nghiệp.Thực lực này chủ yếu được tạo thành từ những yếu tố nội tại của và được thể hiện ở uy tín của doanh nghiệp
• Ba là, khi nói tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp luôn hàm ý so sánh với doanh nghiệp hữu quan (các đối thủ cạnh tranh) cùng hoạt động trên thị trường Muốn tạo nên năng lực cạnh tranh thực thụ, thực lực của doanh nghiệp phải tạo nên lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh Chính nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể giữ được khách hàng của mình và lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh
• Bốn là, các biểu hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có quan hệ ràng buộc nhau Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh khi nó có khả năng thỏa mãn đầy đủ nhất tất cả những yêu cầu của khách hàng Song khó có doanh nghiệp nào có được yêu cầu này, thường thì có lợi thế về mặt này, lại
có thế yếu về mặt khác Bởi vậy, việc đánh giá đúng đắn những mặt mạnh và mặt yếu của từng doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng với việc tìm các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
Do đó, có thể hiểu, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực
và lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ khác trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao cho các doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước
• Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Đối với khái niệm này, cho đến nay, các tác giả , nhà nghiên cứu kinh tế cũng chưa đưa ra một định nghĩa thống nhất Khái niệm mà các tác giả đưa ra dựa trên khái niệm về năng lực cạnh tranh của quốc gia, của doanh nghiệp
Theo một số tác giả, năng lực cạnh tranh của sản phẩm là sự vượt trội của
nó (về các chỉ tiêu) so với sản phẩm cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường Khái niệm này cho thấy, việc xác định sản phẩm có năng lực cạnh tranh hay không trên thị trường là xác định mức độ tin cậy của người tiêu dùng đối với sản phẩm về giá cả, đổi mới công nghệ, dịch vụ sau
Trang 18bán hàng,… so với sản phẩm cùng loại mà đối thủ khác cung cấp trên cùng thị trường, chứ không quan tâm đến việc nó có vượt trội hơn so với mọi sản phẩm xuất khẩu tại chỗ hay không
Một số tác giả khác lại cho rằng, năng lực cạnh tranh của sản phẩm là năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của loại sản phẩm do chủ thể sản xuất và cung ứng nào đó đem ra để tiêu thụ so với sản phẩm cùng loại của các chủ thể sản xuất, cung ứng khác đem đến tiêu thụ ở cùng một khu vực thị trường và thời gian nhất định
Như vậy, mặc dù vẫn chưa thống nhất khái niệm, song có thể hiểu rằng, năng lực cạnh tranh của sản phẩm được cấu thành bởi nhiều yếu tố, nhưng có những yếu tố chính như: khả năng sử dụng thay thế cho công dụng kinh tế của một loại sản phẩm khác biệt tương tự với loại sản phẩm đó; yếu tố về giá cả của sản phẩm thường gắn liền với chủ thể sản xuất, cung ứng ra nó so với sản phẩm của các chủ thể sản xuất và cung ứng khác có thể thỏa mãn cao hơn yêu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, được người tiêu dùng lựa chọn chấp nhận tiêu thụ, đồng thời đem lại lợi nhuận có thể chấp nhận được cho nhà sản xuất, cung ứng; ngoài các yếu tố chính trên, còn nhiều yếu tố khác như kiểu dáng, mẫu mã hình thức của sản phẩm, phương thức tiêu thụ,quảng cáo,bán hàng…
Ba cấp độ năng lực cạnh tranh có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định nhau và phụ thuộc lẫn nhau Một nền kinh tế
có năng lực cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, ngược lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh, môi trường kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô phải rõ ràng, có thể dự báo được, nền kinh tế phải ổn định, bộ máy Nhà nước phải trong sạch, hoạt động có hiệu quả, có tính chuyên nghiệp Mặt khác, tính năng động, nhạy bén trong quản lý doanh nghiệp cũng là một yếu tố quan trọng, vì trong cùng một môi trường kinh doanh có doanh nghiệp rất thành công trong khi doanh nghiệp khác lại thất bại Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được đo thông qua lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp, thể hiện qua chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Là tế bào của nền kinh tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo cơ sở cho năng lực cạnh tranh quốc gia
Đồng thời, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua năng lực cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay một số sản phẩm và dịch vụ có năng lực cạnh tranh.Như vậy, có thể khẳng định, doanh nghiệp - một nhân tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh của quốc gia Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của sản phẩm vừa là một bộ phận cấu thành, vừa là một trong những mục tiêu của nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Trang 191.4.Các yếu tố chủ yếu cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiêp
1.4.1 Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp:[17,49-52]
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bị chi phối bởi chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp đúng hay sai Nếu có chiến lược đúng thì năng lực cạnh tranh sẽ được nâng cao
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh có nhiều loại chiến lược khác nhau được phân loại theo cấp độ chiến lược và phạm vi của chiến lược, bao gồm chiến lược kinh doanh tổng hợp và chiến lược kinh doanh theo yếu tố, bộ phận hợp thành, đặc thù cho từng lĩnh vực, giải quyết từng vấn đề kinh doanh
để thực hiện chiến lược tổng quát
Chiến lược kinh doanh tổng quát, đề cập những vấn đề quan trọng nhất, bao trùm nhất và có ý nghĩa quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp như: phương thức kinh doanh, chủng loại hàng hoá, dịch vụ được lựa chọn sản xuất kinh doanh, thị trường tiêu thụ, các mục tiêu về tài chính và các chỉ tiêu tăng trưởng, …Dưới đây là khái quát một số chiến lược quan trọng trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp:
• Chiến lược phát triển thị trường mục tiêu: Việc xác định thị trường mục tiêu (thị trường trọng điểm) của doanh nghiệp và chiến lược phát triển thị trường mục tiêu là rất quan trọng Có thể có ba cách tiếp cận thị trường mục
tiêu mà doanh nghiệp có thể xem xét để đưa vào chiến lược Thứ nhất, cách
tiếp cận thị trường mục tiêu đơn giản là doanh nghiệp chọn một trong số các thị trường thành phần làm thị trường mục tiêu và xây dựng marketing cho thị
trường này; Thứ hai, cách tiếp cận thị trường trọng điểm phức tạp, doanh
nghiệp chọn hai hay nhiều hơn trong các thị trường thành phần làm thị trường mục tiêu và xây dựng marketing hỗn hợp cho từng thị trường mục tiêu đã
chọn; Thứ ba, cách tiếp cận thị trường mục tiêu chấp nhận được, doanh
nghiệp chọn hai hay nhiều hơn trong số các thị trường thành phần làm thành một thị trường tương đối đồng nhất và xây dựng marketing hỗn hợp chung cho thị trường ghép
• Chiến lược giữ vững và phát triển thị trường hiện tại: Một trong những nội dung/chiến lược thành phần của chiến lược kinh doanh là chiến lược giữ vững và phát triển thị trường hiện tại của doanh nghiệp Giữ vũng và phát triển thị trường hiện tại xuất phát từ yêu cầu của quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường phải nhằm tới các mục tiêu lợi nhuận vị thế và
an toàn
• Chiến lược tiếp cận và thâm nhập thị trường mới: Để có thể tiếp cận và thâm nhập thị trường mới, việc đầu tiên mà doanh nghiệp cần làm là nghiên cứu thị trường mới này để xác định thị trường trọng điểm của doanh nghiệp,
để từ đó có cách ứng xử (các kích thích thông qua các công cụ của marketing hổn hợp) phù hợp với thị trường mới Đối với xâm nhập thị trường mới, việc
tổ chức thực hiện các công cụ của marketing hổn hợp là rất quan trọng, trong
đó doanh nghiệp cần chú trọng đặc biệt đến việc thiết kế và phát triển hệ
Trang 20thống kênh phân phối, cũng như thực hiện các hoạt động quảng cáo, chào hàng khuyến mại
• Các chiến lược marketing hổn hợp: các chiến lược marketing hổn hợp đi vào chi tiết cụ thể những gì sản phẩm mang đến cho khách hàng; nó được định giá như thế nào, được giới thiệu ra sao, và nó được bán ở đâu để khách hàng có thể mua được Đây là nguyên tắc 4P, đó là Product (sản phẩm), Price (giá cả), Promotion (quảng cáo, giới thiệu), và Place (địa điểm)
1.4.2.Quy mô doanh nghiệp
Quy mô doanh nghiệp thực chất là giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm, tận dụng lợi thế về quy mô sản xuất kinh doanh lớn Cản trở về quy mô buộc các doanh nghiệp mới xuất hiện phải tham gia vào kinh doanh với quy mô lớn
mà đó là một rủi ro đối với một doanh nghiệp mới Trong nền kinh tế hội nhập, yếu tố vốn đối với doanh nghiệp càng trở nên quan trọng, nó là cơ sở để doanh nghiệp có thể tiến hành thực hiện tốt các nội dung hoạt động của mình,
là cơ sở để doanh nghiệp phát triển mở rộng quy mô tạo lợi thế cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong khu vực và thế giới Còn nếu doanh nghiệp tham gia với quy mô nhỏ thì phải chấp nhận bất lợi về chi phí, do đó rất khó có thể cạnh tranh nổi với các doanh nghiệp hiện có
1.4.3.Trình độ công nghệ
Trình độ công nghệ: Tình trạng trình độ máy móc thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng một cách sâu sắc tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nó là yếu tố vật chất quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất của một doanh nghiệp và tác động trực tiếp tới chất lượng sản phẩm Ngoài ra, công nghệ sản xuất, máy móc thiết bị cũng ảnh hưởng đến giá thành và giá bán sản phẩm Một doanh nghiệp có trang thiết bị máy móc hiện đại thì sản phẩm cuả họ nhất định có chất lượng cao Ngược lại không có một doanh nghiệp nào có thể nói là có năng lực cạnh tranh cao khi mà trong tay họ là cả hệ thống máy móc
cũ kỹ với công nghệ sản xuất lạc hậu
1.4.4 Chi phí sản xuất – kinh doanh
Trong đó bao gồm chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới (R&D); các chi phí tiện ích (điện, nước, …); chi phí vận tải; chi phí thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh, … là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới là chi phí quan trọng trong nền kinh tế hiện đại bởi các doanh nghiệp muốn tồn tại, có năng lực cạnh tranh thì cần phải biết đổi mới mình
Do đó hầu hết các doanh nghiệp trên thế giới hiện nay, nhất là tại các nước phát triển chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới chiếm tỉ trọng khá lớn trong cơ cấu chi phí nhằm đầu tư nghiên cứu các công nghệ kỹ thuật mới nâng cao chất lượng và năng suất lao động hay tạo ra các sản phẩm mới, độc đáo, hiện đại, đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của khách hàng, qua đó làm tăng hiệu quả kinh doanh và tạo một vị trí vững chắc trên thị trường Các chi phí điện, nước … luôn là một yếu tố được xem xét khi có dự án đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài Nó cũng được xem xét đến khi so sánh năng lực cạnh
Trang 21tranh giữa các nước Điều này cho thấy chi phí điện, nước … ảnh hưởng không nhỏ đến giá thành sản phẩm trong một số ngành và nó ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.4.5.Quản lý và tổ chức sản xuất.[16,9]
Quản lý sản xuất có tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động của 1 doanh nghiệp Nếu quản lý tốt, ứng dụng được các phương pháp quản lý khoa học thì sẽ tạo khả năng sinh lời lớn cho doanh nghiệp Ngược lại, nếu quản lý kém
sẽ làm cho doanh nghiệp thua lỗ, thậm chí có thể bị phá sản Theo kinh nghiệm đã được tổng kết của Mỹ thì chi phí cho khâu sản xuất, dịch vụ bao giờ cũng chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng chi phí của một doanh nghiệp Mặt khác,các giải pháp tạo khả năng sinh lợi trong lĩnh vực quản lý sản xuất lớn hơn rất nhiều so với các biện pháp giảm phí tổn trong quản lý tài chính và tăng doanh số thông qua hoạt động tiếp thị
1.4.6 Quản lý chất lượng sản phẩm
Ngày nay, trong đời sống kinh tế xã hội và giao lưu kinh tế quốc tế chất lượng sản phẩm có một vai trò hết sức quan trọng và đang trở thành một thách thức to lớn đối với các doanh nghiệp và các quốc gia Sự thắng bại trong cuộc cạnh tranh trên thị trường phụ thuộc chủ yếu vào mức độ thích hợp của chất lượng sản phẩm và dịch vụ, sự hợp lý về giá cả và điều kiện mua bán, giao nhận Để cạnh tranh hữu hiệu trên thị trường trong nước và quốc tế, muốn thoả mãn nhu cầu khách hàng cũng như mang lại lợi nhuận cao thì sản phẩm cần phải có chất lượng Một trong những lý do lớn khiến cho các sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay không đủ sức cạnh tranh nổi trên thị trường trong và ngoài nước mà còn bị lấn át trên thị trường nội địa là do chất lượng sản phẩm của chúng ta còn thấp
Thực tiễn ngày nay cho chúng ta thấy rằng chất lượng sản phẩm đã trở thành yếu tố cạnh tranh đối với các doanh nghiệp và quốc gia Cuộc cạnh tranh kinh tế toàn cầu ngày càng mạnh mẽ với quy mô hoạt động càng lớn, sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, sự thay đổi tâm lý tiêu dùng sản phẩm ngày càng nhanh thì chất lượng sản phẩm đối với các doanh nghiệp ngày càng có ý nghĩa lớn lao
1.5 Một số các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh
Như đã đề cập ở trên, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng vượt qua các đối thủ cạnh tranh để duy trì và phát triển bản thân doanh nghiệp Thông thường, người ta đánh giá khả năng này thông qua các yếu tố nội tại doanh nghiệp như: quy mô, sản phẩm, năng lực quản lý, trình độ công nghệ Tuy nhiên những khả năng này lại bị tác động đồng thời bởi nhiều yếu
tố bên ngoài ở trong nước và quốc tế Vì vậy, khi phân tích các yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, cần phải quan tâm những nội dung sau:
1.5.1 Các yếu tố quốc tế
• Các nhân tố thuộc về chính trị Người ta cho rằng tổ chức chính trị quan trọng nhất là Nhà nước chủ quyền, do nó có khả năng phát hành tiền tệ, đánh
Trang 22thuế và định ra các luật lệ trong một quốc gia Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có một số khía cạnh chính trị quan trọng vượt ra khỏi biên giới quốc gia và tác động không nhỏ đến môi trường kinh doanh và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, như:
+Mối quan hệ giữa các Chính phủ Khi mối quan hệ trở nên thù địch, thì
sự mâu thuẩn giữa hai chính phủ có thể hoàn toàn phá hủy các mối quan hệ kinh doanh giữa hai nước Nếu mối quan hệ chính trị song phương được cải thiện sẽ thúc đẩy thương mại phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong kinh doanh
+ Các tổ chức quốc tế cũng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển và vận dụng các chính sách biểu lộ nguyện vọng chính trị của các quốc gia thành viên Như chính sách của Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới chịu tác động bởi quan điểm của các nước công nghiệp phát triển, những nước có vai trò tài trợ chính cho các tổ chức này
+ Hệ thống luật pháp quốc tế, những hiệp định và thoả thuận được một loạt các quốc gia tuân thủ có ảnh hưởng sâu rộng đến hoạt động kinh doanh quốc tế Mặc dù, có thể chúng không ảnh hưởng trực tiếp tới từng doanh nghiệp riêng lẻ, nhưng chúng ảnh hưởng gián tiếp thông qua việc tạo ra môi trường kinh doanh quốc tế ổn định và thuận lợi
+ Xu hướng phát triển và hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu hoá.Xu hướng hội nhập kinh tế vùng, khu vực có ảnh hưởng quan trọng đối với các công ty đang hoạt động trong các thị trường khu vực Hội nhập kinh tế diễn ra theo nhiều hình thức khác nhau, nhưng đặc biệt tập trung vào vấn đề hợp tác kinh tế, được thiết lập để mang lại sự phụ thuộc kinh tế lẫn nhau nhiều hơn giữa các quốc gia, như khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA); Liên minh châu Âu (EU), và hội nhập đầy đủ nhất đối với một quốc gia là gia nhập
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
+ Đối thủ cạnh tranh quốc tế: Ngày nay sự bành trướng của các tập đoàn
đa quốc gia đang là mối đe dọa đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước đang phát triển Các tập đoàn này có lợi thế về vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm
tổ chức sản xuất – kinh doanh, kinh nghiệm cạnh tranh trên thương trường, sẽ
có nhiều ưu thế trong cạnh tranh Ngược lại, những doanh nghiệp nhỏ, chưa
có kinh nghiệm thường phải chịu thua thiệt và dể dẫn đến phá sản
1.5.2.Các yếu tố trong nước
Các yếu tố trong nước sẽ chi phối hoạt động kinh doanh, cũng như năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố khác nhau.Một số yếu
tố chính yếu là:
• Các yếu tố kinh tế: Đây là nhóm các yếu tố và điều kiện ràng buộc rất phong phú và có ảnh hưởng quan trọng đến thách thức, nhưng đồng thời lại là nguồn khai thác cơ hội hấp dẫn đối với mỗi doanh nghiệp Các yếu tố này tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp theo các hướng:
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Nếu như tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế cao làm cho thu nhập của dân cư tăng, khả năng thanh toán của họ tăng dẫn
Trang 23tới năng lực mua (cầu) các loại hàng hoá và dịch vụ tăng lên, đây là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp nào nắm bắt được điều này và có khả năng đáp ứng được nhu cầu khách hàng (số lượng, giá bán, chất lượng, mẫu mã, …) thì chắc chắn doanh nghiệp đó sẽ thành công và có năng lực cạnh tranh cao Trái lại, khi nền kinh tế suy thoái, các khoản chi tiêu của đại
bộ phận dân chúng bị giảm, do đó sẽ làm gia tăng áp lực cạnh tranh và tạo ra nhiều “nguy cơ” đối với doanh nghiệp.Trong thực tế, suy thoái kinh tế thường gây ra các cuộc chiến tranh về giá cả trong các ngành hoạt động ở giai đoạn bảo hoà
+ Lãi suất: Lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhất là đối với các doanh nghiệp thiếu vốn phải vay ngân hàng Khi lãi suất cho vay của ngân hàng cao, chi phí của doanh nghiệp tăng lên do phải trả lãi tiền vay lớn, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kém đi, nhất là khi đối thủ cạnh tranh có tiềm lực lớn về vốn + Tỷ giá hối đoái và giá trị của đồng tiền trong nước có tác động nhanh chóng và sâu sắc đối với từng quốc gia nói chung và từng doanh nghiệp nói riêng nhất là trong điều kiện nền kinh tế mở Nếu đồng nội tệ lên giá, các doanh nghiệp trong nưóc sẽ giảm năng lực cạnh tranh ở thị trường nước ngoài, vì khi đó giá bán của hàng hoá tính bằng đồng ngoại tệ sẽ cao hơn các đối thủ cạnh tranh Hơn nữa khi đồng nội tệ lên giá sẽ khuyến khích nhập khẩu, vì giá hàng nhập khẩu giảm, và như vậy năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước sẽ bị giảm ngay trên thị trường trong nước Ngược lại, khi đồng nội tệ giảm giá, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tăng
cả trên thị trường trong nước và thị trường ngoài nước, vì khi đó giá bán của các doanh nghiệp giảm hơn so với các đối thủ cạnh tranh kinh doanh hàng hoá do nước khác sản xuất
• Các yếu tố về chính trị, pháp luật: Một thể chế chính trị, pháp luật rõ ràng, rộng mở và ổn định sẽ là cơ sở đảm bảo sự thuận lợi, bình đẳng cho các doanh nghiệp nói chung, tham gia cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả Chẳng hạn, các luật thuế có ảnh hưởng rất lớn đến điều kiện cạnh tranh, đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần và trên mọi lĩnh vực…
• Trình độ khoa học và công nghệ: nhóm các nhân tố này quan trọng và có
ý nghĩa quyết định đối với môi trường cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trình độ khoa học công nghệ có ý nghĩa quyết định đến hai yếu tố cơ bản nhất tạo nên năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường,
đó là chất lượng và giá bán Đối với những nước chậm và đang phát triển, giá
và chất lượng có ý nghĩa ngang nhau trong cạnh tranh Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay, đã chuyển từ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh về chất lượng, cạnh tranh giữa các sản phẩm và dịch vụ có hàm lượng khoa học công nghệ cao Kỹ thuật và công nghệ mới sẽ giúp cho các cơ sở sản xuất trong nước tạo
ra được những thế hệ kỹ thuật và công nghệ tiếp theo nhằm trang bị và tái trang bị toàn bộ cơ sở sản xuất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân nước ta Đây
Trang 24là tiền đề để các doanh nghiệp ổn định và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.Tuy nhiên, về phía nhà nước chi phí hằng năm cho hoạt động khoa học công nghê khoảng 1% tổng ngân sách tiêu dùng ,tương đương 0,4% GDP, so với các nước trong khu vực là 2% GDP thì mức đầu tư nầy là quá thấp [23, 201]
• Các yếu tố thuộc môi trường ngành: Các yếu tố này tác động đến môi trường hoạt động của doanh nghiệp, và vì vậy ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ngành kinh doanh là ngành hoạt động trong đó bao gồm các doanh nghiệp cùng tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có thể thay thế lẫn nhau nhằm đáp ứng một nhu cầu căn bản nào đó của người tiêu dùng
1.6.Một số mô hình phân tích năng lực cạnh tranh
Có rất nhiều tiêu chí hay mô hình phân tích để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Tùy theo đặc điểm của từng doanh nghiệp hay từng ngành, tùy theo mức độ ảnh hưởng của các yếu
tố có thể có những cách đánh giá về năng lực cạnh tranh khác nhau, cách tiếp cận khác nhau Sau đây là hai mô hình cơ bản được sử dụng để phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.6.1Mô hình phân tích cạnh tranh trên cơ sở đánh giá lợi thế so sánh
Lợi thế so sánh ở đây được hiểu là lợi thế về chi phí hoặc khả năng sinh lợi trên một đơn vị sản phẩm Khi doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí dẫn đến giảm được giá thành và tăng lợi nhuận lên thì sẽ làm thay đổi lợi thế so sánh này trong điều kiện giá cả đã được xác định Và như vậy, chỉ số chi phí hay khả năng sinh lợi trên một đơn vị sản phẩm cho biết năng lực cạnh tranh, duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên thị trường
Phân tích lợi thế cạnh tranh theo lợi thế so sánh là một mô hình phân tích tĩnh Có nghĩa là nó xem xét năng lực cạnh tranh chỉ dựa vào khả năng tiết kiệm chi phí của doanh nghiệp và coi các yếu tố còn lại là không đổi Trong khi đó, năng lực cạnh tranh là một khái niệm động, thường xuyên thay đổi theo sự biến động của môi trường Như vậy, theo mô hình phân tích này, doanh nghiệp sẽ nâng cao được năng lực cạnh tranh hay không phụ thuộc hoàn toàn vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp Nói cách khác, mô hình này chỉ tập trung vào những tiềm năng của doanh nghiệp mà không đề cập đến các vấn đề về môi trường kinh doanh của doanh nghiệp bỏ qua các yếu tố khác có tác động hết sức quan trọng đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp Do đó, có thể dẫn đến các kết luận và giải pháp sai lầm 1.6.2 Mô hình phân tích theo quan điểm tổng thể
Theo phương pháp này, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố do doanh nghiệp tự quyết định nhưng cũng còn phụ thuộc vào những yếu tố do Chính phủ quyết định và những yếu tố mà cả Chính phủ và doanh nghiệp chỉ kiểm soát được trong một mức độ hạn chế hoặc hoàn toàn không kiểm soát được.Mô hình phân tích nầy sẽ đưa mô hình tổng quan về doanh nghiệp và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp như sơ đồ hình 1.1
Trang 25
Hình 1.1 Mô hình phân tích theo quan điểm tổng thể
Nhìn chung mô hình này có nhiều ưu điểm hơn mô hình trên do đã đề cập được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không trong trạng thái đơn lẻ mà trong mối quan hệ phức tạp với điều kiện bên ngoài
Tóm lại, có rất nhiều các tiêu chí để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Trên cơ sở các mô hình được sử dụng
Môi trường vĩ mô:
5 Người cung ứng nguyên vật liệu
6 Chính quyền địa phương, công đoàn, các tổ chức xã hội khác
Trang 26để phân tích năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp nêu trên ta có thể thấy: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào các yếu
tố bên trong doanh nghiệp như công nghệ, đào tạo huấn luyện sử dụng nguồn lực, công tác marketing, … mà còn phụ thuộc vào các yếu tố của môi trường kinh doanh ở tầm vĩ mô như môi trường kinh tế, pháp luật, và ở tầm vi mô như các đối thủ cạnh tranh hiện tại, sự xâm nhập ngành của các doanh nghiệp mới, các sản phẩm dịch vụ thay thế, vị thế đàm phán của các nhà cung cấp cững như của người mua Vì vậy, khi nghiên cứu tìm giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, cần đặt doanh nghiệp trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường xung quanh để biết được doanh nghiệp đang đứng ở vị thế nào trên thị trường, đồng thời xác định rõ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ thông qua đánh giá các nhân tố nội tại của bản thân doanh nghiệp Từ đó mới
đề xuất các giải pháp thích hợp
1.7 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là một quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá, là một nội dung trong cơ chế vận động của thị trường Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán ra càng nhiều, số lượng người cung cấp càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt Cũng chính nhờ sự cạnh tranh không ngừng mà nền kinh tế thị trường vận động theo hướng ngày càng nâng cao năng suất lao động xã hội – yếu tố đảm bảo cho sự thành công của mỗi quốc gia trên con đường phát triển Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi không phụ thuộc vào ý muốn của riêng
ai, nên cạnh tranh trở thành một quy luật quan trọng thúc đẩy sự phát triển Mọi doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế đều phải tự mình vận động để đứng được trong cơ chế này Doanh nghiệp nào không thích nghi được cơ chế mới sẽ phải cầm chắc sự phá sản và theo quy luật đào thải nó sẽ
bị gạt ra khỏi thị trường Thay vào đó thị trường lại mở đường cho doanh nghiệp nào biết nắm thời cơ, biết phát huy tối đa những thế mạnh của mình và hạn chế được tối thiểu những bất lợi để giành thắng lợi trong cạnh tranh Ngày nay, toàn cầu hoá mà trước hết về thực chất là toàn cầu hoá kinh tế đang trở thành một xu thế khách quan của sự phát triển kinh tế thế giới, đó là quá trình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới vượt qua khỏi biên giới quốc gia, hướng tới phạm vi toàn cầu trên cơ sở lực lượng sản xuất cũng như trình độ khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ và sự phân công hợp tác quốc
tế ngày càng sâu rộng, tính chất xã hội hoá của sản xuất ngày càng tăng Hội nhập kinh tế quốc tế có nghĩa là mở cửa nền kinh tế, thực hiện tự do hoá thương mại đưa các doanh nghiệp tham gia vào cuộc cạnh tranh quốc tế Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh quốc tế đặt các doanh nghiệp của mỗi quốc gia trước những thử thách nghiệt ngã hàng đầu chính là tính cạnh tranh ngày càng khốc liệt trên cả thị trường trong nước và xuất khẩu do các hàng rào bảo
hộ, cả thuế quan và phi thuế quan, cũng như các chính sách ưu đãi đang dần
bị bỏ Kết quả điều tra của Phòng Thương Mại và Công nghiệp Việt Nam cho
Trang 27thấy chỉ có 23,8% doanh nghiệp có hàng xuất khẩu, 13,7% doanh nghiệp có triển vọng xuất khẩu và 62,5% doanh nghiệp hoàn toàn chưa có khả năng xuất khẩu Vì thế đòi hỏi đầu tiên đối với doanh nghiệp trong hội nhập quốc tế chính là phải không ngừng lớn lên Cụ thể, phải không ngừng đầu tư và tăng vốn, công nghệ mới, chất lượng lao động để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh và tăng năng lực cạnh tranh
Như vậy, qua những phân tích trên cho thấy, sẳn sàng chấp nhận cạnh tranh và không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là vấn
đề sống còn đối với mọi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế
thị trường mở cửa và hội nhập hiện nay
Kết luận chương I
Với những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận cạnh tranh đã được trình bày trong phần trên như;các khái niệm về cạnh tranh, phân loại, vai trò và chức năng của cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, các nhân tố ảnh hưởng, cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và trình bày khái quát một số mô hình phân tích năng lực cạnh tranh Trên cơ sở lý luận và kết hợp với tình hình thực tiển về sản xuất kinh doanh của công ty trong giai đoạn hiện nay, mô hình phân tích theo quan điểm tổng thể được lựa chọn làm cơ sở để phân tích năng lực cạnh tranh của Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Chế tạo động cơ VINAPPRO, trong đó các yếu tố cấu thành năng lực nội sinh của công ty được quan tâm hàng đầu, và sẽ được trình bày tiếp theo trong chương II Sự phân tích đúng đắn,chính xác trên các cơ sở khoa học và thực tiển năng lực cạnh tranh của công ty sẽ là những tiền đề vô cùng quan trọng
để đề ra được các giải pháp mang tính khả thi và có hiệu quả cao không những giúp cho công ty đứng vững được trong điều kiện cạnh tranh hết sức khắc nghiệt hiện nay mà còn góp phần vào việc phát triển trong tương lai
Động cơ diezel TFV60
Trang 28CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY VINAPPRO
2.1 Giới thiệu tổng quát về công ty Vinappro
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
2.1.1.1 Lịch sử hình thành (Căn cứ báo cáo kết quả công tác điều tra
cơ bản của nhà máy quốc doanh Vinappro ngày 28/05/1977)
Ngày thành lập: ngày 20 - 10 - 1968
Ngày được cấp phép hoạt động: 20 - 3- 1969
Địa chỉ :đường số 2 khu công nghiệp Biên Hoà 1,tỉnh Đồng Nai
Tên cơ sở kinh doanh sản xuất: Việt Nam kỹ nghệ động cơ công ty (Vinappro: Viet Nam Power Product Manufactory Company), do một số cổ đông người Việt Nam và Nhật Bản góp vốn đầu tư gồm các hãng: Yanmar, Nichimen với chức vụ Tổng giám đốc do người Việt Nam đảm nhận
Lúc đầu từ việc nhập lắp ráp toàn bộ ,từng bước tiến lên sản xuất một phần bằng những mặt hàng phụ mà Vinappro có khả năng hoàn thành (Nguyên vật liệu đều nhập ngoại) do yêu cầu tiêu thụ đòi hỏi
Dần dần thực hiện kế hoạch tự lực một phần về sản phẩm nội địa, phân xưởng Cơ khí là khâu sản xuất chính về máy nổ, mẫu máy, thử nghiệm, hoàn thành 70% - 90% khối lượng công việc Đồng thời, bắt đầu xây dựng phân xưởng luyện kim (1973), tuyển dụng một số công nhân có tay nghề khá và một số học viên để học nghề Sản phẩm đầu tiên của phân xưởng này là đúc những bộ phận để sản xuất nguyên chiếc máy xay xát lúa, góp phần hoàn thành sản phẩm còn có các xưởng phụ :Dụng cụ, Gò hàn, Ráp thử nổ và Sơn máy
Như đã trình bày ở trên, do sản xuất được một số lượng máy xay xát, đòi hỏi phải hoàn thành song song một sản phẩm chủ yếu không thể thiếu được là loại Rulo cao su loại SU300 và 500 nếu nhập từ Nhật sang thì lãi ít nhưng gặp khó khăn về ngoại tệ
Năm 1974 phân xưởng Cao su được xây dựng và hình thành (Cũng trong hoàn cảnh như phân xưởng luyện kim) trang thiết bị như: máy cán của Đài Loan, vật tư hoá chất của Nhật, một số thiết bị phụ tùng phân xưởng này được số kỹ thuật viên công ty nghiên cứu và chế tạo
Đầu năm 1975, trang thiết bị tương đối hoàn chỉnh, bắt đầu sản xuất Rulo cao su,và gặp ngay khó khăn về kỹ thuật trong thực tế sử dụng: sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu (Tróc lột và mau mòn), rút kinh nghiệm và lần lượt cải tiến tốt hơn, bảo đảm chất lượng 85% khi so sánh với Rulo ngoại nhập, được người tiêu thụ chấp nhận Cũng trên hướng sản xuất này song song với các phân xưởng khác của Vinappro, phân xưởng cao su tiếp tục vươn lên tới ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/04/1975)
Sau ngày giải phóng công ty Vinappro là một đơn vị thuộc Công ty cơ khí,
Bộ cơ khí và luyện kim, hiện nay thuộc Tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp, thuộc Bộ công nghiệp
Trang 292.1.1.2 Quá trình phát triển
Do từ một công ty lắp ráp máy là chủ yếu nên sau 1975 đã lâm vào tình thế rất khó khăn vì các chi tiết phụ tùng này không nhập từ hảng YANMAR được nửa.Về thiết bị cũng như con người được huấn luyện và đào tạo chủ yếu là lắp ráp sản phẩm
Vì vậy,trước tình hình nầy công ty phải đào tạo lại cho người lao động, xin
bổ sung các công nhân kỹ thuật tại các trường đào tạo cũng như Cán bộ kỹ thuật và các thiết bị cần thiết trước mắt để gia công chế tạo chi tiết cho các sản phẩm nầy, từ đó công ty mới có thể tồn tại và phát triển được
Trước những khó khăn về đầu ra sản phẩm, công ty định hướng ngoài việc phải sản xuất chi tiết phụ tùng cũng cần phải định hướng chiến lược cho những năm về sau là sản phẩm động cơ Diezel với công suất nhỏ 6HP đây cũng là sản phẩm mang tính chiến lược của công ty.Với sự tập trung cao độ,huy động tối đa các nguồn lực sẵn có chiếc động cơ Diezel 6HP đã ra đời vào cuối năm 1980
Ngoài ra,Công ty Vinappro nhờ có chủ trương đa dạng hoá sản phẩm làm theo nhu cầu khách hàng từ những năm trước nên đỡ khó khăn, sản phẩm đa dạng, sản phẩm làm ra không đủ bán, máy xay xát và Rulo cao su, nhờ vậy
mà vượt qua buổi ban đầu của thời kỳ đổi mới Nếu như trước đây sản xuất vì
kế hoạch thì nay sản xuất vì khách hàng, trước đây sản xuất không gắn với kinh doanh thì nay sản xuất kinh doanh là một thể thống nhất để dẫn đến hiệu quả cuối cùng
Đổi mới được mở ra từ năm 1986 đã tạo điều kiện cho công ty phát huy được các năng lực kinh nghiệm vốn có của mình các sản phẩm mới lần lượt
ra đời để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng: DS80, DS105… doanh thu của công ty tăng đều hăng năm.Tuy vậy trong nền kinh tế chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thì cạnh tranh là quy luật tất yếu đòi hỏi công ty phải xây dựng cho bằng được một chiến lược sản xuất kinh doanh cho phù hợp, điều nầy cũng muốn nói lên là sự tồn tại và phát triển được quyết định bởi chiến lược kinh doanh của mình.Đó là: Nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả phải linh hoạt, và phải được người tiêu dùng chấp nhận,quảng bá tiếp thị bằng nhiều hình thức để kiên quyết chiếm lĩnh thị trường,một thị trường có nhiều đối thủ cạnh tranh ,và để phát triển bền vững công ty định hướng chiến lược của mình phải hướng ra thị trường xuất khẩu Trong giai đoạn 1996 – 2000 các khó khăn phát sinh ngày càng nhiều trong một môi trường kinh doanh đầy biến động và cạnh tranh ngày càng khắc nghiệt, trong khi đó theo thời gian các thiết bị được trang bị nay đã xuống cấp và không còn chính xác, năng suất không còn đáp ứng cho nhu cầu thị trường Các sản phẩm do Công ty sản xuất ra đang bị cạnh tranh quyết liệt ở thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài trên hai mặt giá cả và chất lượng sản phẩm Thêm vào đó là nạn hàng giả của các tư nhân trong nước cũng gây không ít khó khăn cho Công ty Trong thời kỳ này tình hình thị trường tiền tệ Đông Nam Á có nhiều biến
Trang 30động làm giảm khả năng xuất khẩu sang các nước cùng Đông Nam Á Mặc dù nhà nước có chính sách dán tem và các biện pháp kích cầu nhưng sản phẩm của Công ty sản xuất ra vẫn còn gặp nhiều khó khăn đứng trước tình hình này Công ty Vinappro có nhiều biện pháp khắc phục như:
- Rà soát lại chi phí trong sản xuất cũng như trong kinh doanh, chấp nhận giảm giá bán một số sản phẩm để tiếp tục sản xuất nhằm giữ khách hàng
- Tăng cường thêm nhiều biện pháp chống hàng giả, quảng cáo trên truyền hình, báo, đài để khách hàng phân biệt hàng thật hàng giả
- Tăng cường thêm nhiều đại lý mới tại đồng bằng Sông Cửu Long, kiểm tra lại hệ thống đại lý kiên quyết loại bỏ những đại lý bán hàng giả
Hiện nay Công ty Vinappro sản xuất các sản phẩm là:
Động cơ Diesel (máy động lực) các loại từ 06 đến 23 mã lực
Máy xăng từ 5.5đến 13 mã lực
Máy phát điện từ 5 đến 15KVA
Các loại máy xay xát từ 700kg đến 2000kg như: RP700, RP800 RP1000L, HW60A, RH2000 và giàn xay xát hoàn chỉnh 24 tấn /ca, Rulo cao su các loại từ 4”đến 10”, máy bơm nước các loại có tổng cột áp từ 20m đến 50m và đẩy xa 200m và các loại phụ tùng phục vụ nông nghiệp.Trong đó động cơ Diesel là sản phẩm chủ yếu của công ty
Giai đoạn từ năm 2001 -2005 Công ty không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, mẫu mã theo yêu cầu của người tiêu dùng Đến nay sản phẩm đạt chất lượng tốt hơn so với máy nổ Trung Quốc, dần dần tạo được uy tín với khách hàng nước ngoài
Như đã trình bày, công ty là một doanh nghiệp nhà nước trực thuộc tổng công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp,Bộ công nghiệp.Hoạt động của công ty là trực tiếp sản xuất các sản phẩm máy động lực máy nông nghiệp sau
đó tổ chức kinh doanh tiêu thụ sản phẩm trên thị trường Điều này cũng cho thấy được quy mô và tính đa dạng phức tạp trong toàn bộ hoạt động sản xuất
kinh doanh của công ty
2.1.2 Sơ lược về qui trình sản xuất sản phẩm
Qui trình sản xuất sản phẩm của công ty có thể tóm lược trong sơ đồ sau:
Hình 2.1 Sơ đồ qui trình sản xuất
a) Chuẩn bị sản xuất
Khi đã có quyết định kế hoạch sản xuất trong tháng, quý thì phòng kế hoạch và bộ phận cung cấp vật tư phải chuẩn bị đầy đủ vật tư, nguyên vật liệu, lệnh kế hoạch sản xuất hàng tháng, quý cho từng phân xưởng, phối hợp với phòng kỹ thuật cung cấp đủ bản vẽ về sản phẩm cần sản xuất trong kế
Chuẩn bị
Sản xuất
Tao phôi
Gia công
Ráp thử nổ
Thành phẩm
Trang 31hoạch, chuẩn bị thật kỹ kế hoạch điều độ sản xuất cho đồng bộ từ phân xưởng này sang phân xưởng khác cho thật nhịp nhàng để mang lại hiệu quả kinh tế b) Tạo phôi
Tạo phôi đúc: (Gang) phân xưởng Đúc là phân xưởng được nhận lệnh kế hoạch đầu tiên để tạo ra được những chi tiết bằng Gang ở dạng thô theo yêu cầu kỹ thuật tạo phôi đúc qui định nhằm cung cấp đủ phôi gia công cho các phân xưởng khác Thông thường phân xưởng Đúc và các vệ tinh Đúc bên ngoài phải chuẩn bị thực hiện trước để kịp tiến độ sản xuất đề ra
Tạo phôi thép: tổ cưa thép cung cấp phôi cho phân xưởng cơ khí gia công
cơ tạo thành những chi tiết như: Bánh răng truyền động, trục truyển động
và phôi rèn dập cho phân xưởng rèn dập (Gò hàn)
c) Gia công cơ
Phân xưởng Cơ khí sau khi đã nhận được đầy đủ phôi liệu do phòng kế hoạch và bộ phận cung ứng vật tư điều đến, phân xưởng sẽ triển khai đến từng
tổ, từng cá nhân đứng máy công cụ gia công hoàn chỉnh chi tiết theo đúng yêu cầu kỹ thuật của bản vẽ chế tạo Đồng thời phòng quản lý chất lượng, có nhiệm vụ hỗ trợ cho các phân xưởng trong việc phát hiện ra những bước gia công , nguyên công gây ra sai hỏng kịp thời trên dây chuyền sản xuất, gia công từ máy này sang máy khác hầu tránh trình trạng sai hỏng hàng loạt, gây lãng phí, thiệt hại lớn
e) Thành phẩm
Những sản phẩm đã được sơn hoàn chỉnh và dán nhãn sẽ được chuyển đến
tổ đóng bao bì thuộc phân xưởng Ráp, để đóng bao bì cho từng sản phẩm và vận chuyển loạt sản phẩm này vào kho để bán cho khách hàng Tuỳ theo qui cách, kích thước của từng loại sản phẩm mà có bao bì phù hợp như: Bằng gỗ ván ép, bìa cứng
Ngoài ra công ty Vinappro còn có dây chuyền sản xuất Rulo cao su dùng bóc vỏ lúa trong các giàn máy xay xát tại phân xưởng Cao su Phân xuởng Cao su sản xuất theo dây chuyền khép kín từ việc gia công cơ, cán nóng đến việc ép, hấp, quét keo dán nhãn hoàn tất sản phẩm xuất xưởng
Trang 322.2 Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty Vinappro
2.2.1 Tình hình nhân sự tại công ty Vinappro
Bảng 2.1 : Bảng tổng hợp lao động công ty VINAPPRO
Phân theo chỉ tiêu Đơn vị tính Số lượng
Công nhân trực tiếp sản
Công nhân
kỹ thuật
Lao động phổ thông
Trang 332.2.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Hình 2.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty Vinappro
(Nguồn: Phòng tổ chức lao động công ty tháng 01/2006)
Trưởng Phòng
Kế Toán
Trưởng Phòng Kinh doanh
Trưởng Phòng Cung ứng vật
tư
Trưởng Phòng quản
lý chất lượng
Trưởng Phòng
Kỹ thuật
Trưởng Phòng
Kế hoạch - XNK
Quản đốc phân xưởng Đúc
Quản đốc Phân xưởng Rèn dập
Quản đốc phân xưởng
Cơ khí
Quản đốc phân xưởng Ráp thử
nổ
Quản đốc phân xưởng Cao
su
Trưởng Ngành Dụng
cụ
Trưởng Ngành
Cơ điện
Trưởng Ngành Ráp cụm
Trang 342.3 Một số kết quả hoạt động sản xuất trong thời gian qua
2.3.1.Các chỉ tiêu chủ yếu:
Bảng 2.4: Các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh từ năm 2001 – 2005
Stt Chỉ tiêu chủ yếu đvt Thực hiện 2001 Thực hiện 2002 Thực hiện 2003 Thực hiện 2004 Thực hiện 2005 trưởng Tăng
Máy xay xát các loại Cái 10.946 8.469 10.577 6571 6099 89%
Rulo cao su các loại
1.000 Cặp 140.045 134386 161049 164120 175831 108 %
Bơm nước các loại Máy 3.058 2.084 1.857 2.939 423 85%
(Nguồn: báo cáo Phòng kinh doanh tháng 03/2006)
Trang 352.3.2.Biểu đồ sản xuất các sản phẩm chủ yếu : 2001 – 2005
0100020003000400050006000
2001 2002 2003 2004 2005
Trang 362.3.3 Đánh giá tình hình thực hiện SXKD 2005 [4,2]
Năm 2005 có nhiều biến động phức tạp, tác động trực tiếp đến giá cả sản xuất kinh doanh của công ty ở thị trường trong nước và thị trường nước ngoài
• Giá dầu thế giới luôn luôn biến động và tăng cao trong nhiều tháng liền
có lúc lên đến 70USD/thùng đã làm cho nhiều nguyên vật liệu đầu vào của ngành cơ khí chế tạo máy động lực tăng theo như: sắt thép, hoá chất, … đặc biệt là than coke, gang, cao su, … tăng hơn 100% Giá nguyên vật liệu tăng cao và không có chiều hướng giảm làm cho công ty phải chấp nhận một mặt bằng giá đầu vào cao trong khi đó giá bán rất khó tăng theo kịp Chỉ có thể tăng từ 10 – 20% mà chủ yếu là các máy xay xát rulo cao su Riêng động cơ diezel không thể tăng giá được do phải cạnh tranh gay gắt với các đối thủ khác, hàng nhập lậu, hàng second hand của Nhật,Trung Quốc, đây là yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty
• Ở thị trường trong nước, dịch bệnh lan rộng cho tôm, cá, các loại thủy, gia cầm, đã làm cho sức mua của người nông dân vốn đã yếu nay lại càng sụt giảm mạnh hơn Hàng loạt các trại nuôi tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long đã không còn khả năng đầu tư mới các máy móc (động cơ diezel), với những dự
án đầu tư cũ thì việc thu hồi vốn trở nên khó khăn làm ảnh hưởng đến đồng vốn cho sản xuất kinh doanh
• Tình hình tiêu thụ các sản phẩm nhập ngoại từ Trung Quốc và hàng second hand vẫn không có chiều hướng giảm mà ngày càng phát triển mạnh
mẽ hơn, thủ đoạn tinh vi hơn như là: Động cơ và phụ tùng các loại nhập vào bằng nhiều cách kể cả nhập lậu, gian lận thương mại, không rõ xuất xứ, chất lượng, và đưa vào các công ty tư nhân lắp ráp rồi tung ra thị trường bán với
số lượng rất lớn và giá rất thấp (lấy số lượng lớn để bù giá) và không có chế
độ hậu mãi nào cho người tiêu dùng Đây là một cuộc cạnh tranh không cân sức, bất bình đẳng đối với Công ty vì Công ty luôn luôn phải tuân thủ các luật
lệ nhà nước đã ban hành
• Đối với thị trường nước ngoài Trong năm 2005 thị trường xuất khẩu chủ lực của Công ty là Iraq vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục, các hợp đồng xuất khẩu động cơ diezel và bơm nước, máy phát điện trước đây còn gặp nhiều khó khăn trong việc thoả thuận ký kết hợp đồng và giá trị hợp đồng này hơn
• Với thị trường phía Bắc, nạn hàng giả tiếp tục lấn lướt làm cho các sản phẩm của Công ty tiêu thụ giảm mạnh, và đến nay vẫn chưa có biện pháp để ngăn chặn hữu hiệu
Trang 37- Về yếu tố chủ quan: công tác dự báo thị trường chưa chuẩn xác dẫn đến có những mặt hàng cần với số lượng lớn như động cơ DF120 nhưng Công ty không đáp ứng được nhu cầu Khi đã nhận ra được thì thời gian không còn nữa, cơ hội đã qua, việc đáp ứng cho nhu cầu người tiêu dùng chậm
Tuy còn nhiều khó khăn nhưng Công ty vẫn cố gắng thực hiện được các chỉ tiêu như sau:
- Giá trị sản xuất công nghiệp: 85,780 tỷ
là động cơ diezel bằng 43,4% so với năm 2004 Do các nguyên nhân chủ yếu được trình bày ở phần trên Vì vậy, đây chính là những vấn đề cấp bách và nhiều thách thức buộc công ty phải tập trung mọi nguồn lực nghiên cứu tìm ra các giải pháp phù hợp nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời gian tới
2.4 Phân tích thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của công ty Vinappro:
2.4.1 Các yếu tố quốc tế:
Vào những năm 90 của thế kỷ XX, tình hình cạnh tranh kinh tế thế giới có
sự thay đổi nhanh chóng Với sự sụp đổ của chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Liên
Xô và các nước Đông Âu đã làm cho cục diện chính trị thế giới biến đổi, chuyển từ đối đầu, chiến tranh sang cạnh tranh hòa hoãn và hợp tác, dù còn có chiến tranh tôn giáo, sắc tộc nhưng các nước phát triển và đang phát triển đều tập trung cho phát triển kinh tế Chính vì vậy mà thời kỳ 1991 – 2000, kinh tế thế giới tăng trưởng khá cao, đạt trên 3,5% năm Đồng thời với xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa và sự hình thành các khối kinh tế, vùng kinh tế và hợp tác kinh tế như NAFTA,(Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỷ) AFTA,(Khu vực mậu dịch tự do các nước ASEAN APEC, (Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương ) ASEM (Diễn đàn Á- Âu), EU,(Cộng đồng Châu Âu)… Bên cạnh sự xuất hiện và nổi trội trong phát triển kinh tế của một số nước Đông Á thì vai trò của ba trung tâm kinh tế lớn (Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản) vẫn tiếp tục được khẳng định Dưới sự tác động của khoa học - công nghệ mà đặc biệt là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và vật liệu mới đã làm cho thị trường hàng hóa thế giới ngày càng phong phú và nền thương mại thế giới có
sự biến đổi nhanh chóng
Tự do hóa thương mại được đẩy mạnh thông qua việc cam kết cắt giảm thuế quan và gỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan, các nước tham gia vào WTO,(Tổ chức thương mại thế giới) và trong nội bộ các khối kinh tế, thương mại để hình thành các khu vực mậu dịch tự do như AFTA, NAFTA,… Nhiều nước trên thế giới đã thay đổi chính sách phát triển kinh tế và thương mại theo
Trang 38hướng mở cửa và hội nhập Quan hệ kinh tế thương mại trên thế giới ngày càng phát triển
Sự ra đời, phát triển và xu hướng hợp nhất các tập đoàn kinh tế và các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia làm cho thị trường xuất hiện các thương hiệu toàn cầu như: TOYOTA, SIEMENTS, GENERAL MOTOR,… Về ngành động lực như YANMAR, KUBOTA (Nhật Bản), JANGDONG CAOFENG, NANING(Trung Quốc) đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất kinh doanh của công ty
Cũng do sự phát triển hết sức nhanh chóng của khoa hoc công nghệ làm cho sự phân công lao động quốc tế phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu bởi
vì trong thời đại kinh tế tri thức hiện nay, thay vì đất đai, tài nguyên và vốn trước đây thì tri thức ngày càng làm nên giá trị áp đảo trong mỗi sản phẩm Các nước có thế mạnh về khoa học công nghệ ra sức đầu tư phát triển những ngành khoa học dựa trên tri thức để mong tìm lợi thế cạnh tranh càng cao hơn Bên cạnh đó lại xuất hiện xu thế mới trong sự phân công chuyên sâu trong hợp tác quốc tế để ngày càng có nhiều những công ty chuyên sản xuất vào một mặt hàng, một chi tiết nào đó của sản phẩm hay cung cấp một dịch vụ chuyên môn nhất định.Sự tác động của toàn cầu hóa kinh tế đã làm cho cơ cấu kinh tế thay đổi sâu sắc Trong những năm 60, ngành nông - lâm – ngư nghiệp chiếm 10,4% cơ cấu sản phẩm thế giới, ngành công nghiệp chiếm khoảng 38,4%, dịch vụ chiếm 51,2%, đến năm 2003 sự phát triển của khoa học công nghệ cơ cấu trước đây đã thay đổi mạnh mẽ với các tỷ lệ tương ứng là: 3,4%, 21%, 75,6%
Có thể nói rằng sự thay đổi nhanh chóng trong nền kinh tế quốc tế đã tác động trực tiếp đến giá cả hàng hóa làm cho sự cạnh tranh của công ty khó khăn, cùng với việc giảm thuế quan, đơn giản hóa thủ tục xuất nhập khẩu thì giá cả hàng hóa sẽ hạ Hiện nay, công ty còn chịu nhiều loại thuế và chi phí khác không cần thiết, thêm vào đó trình độ quản lý công ty còn hạn chế, chính những điều này đã làm cho giá bán sản phẩm công ty cao trên khu vực Ngoài yếu tố giá cả, chất lượng sản phẩm cũng gặp phải nhiều bất lợi do trình độ công nghệ sản xuất của các nước trong khu vực cao hơn nhiều so với Công ty nhờ ứng dụng được những thành tựu khoa học công nghệ Mặt khác, cơ sở sản xuất động cơ Diesel của một số nước như Indonexia, Thailand (tại đây công ty YANMAR đã đầu tư các nhà máy sản xuất máy động lực phục vụ cho thị trường Đông Nam Á) rất giống với công ty nhưng với thiết bị công nghệ tiên tiến,phương pháp quản lý khoa học, điều này dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt mà công ty phải đương đầu
Thị trường sản phẩm hàng hóa phong phú, các rào cản thuế quan không còn, sự lớn mạnh của những tập đoàn xuyên quốc gia, sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật trên thế giới, cơ cấu kinh tế thay đổi,… đều tác động không thuận lợi đối với Công ty và được thể hiện ở hai mặt:
- Giá bán sản phẩm
- Chi phí cho chất lượng sản phẩm đều cao
Trang 39Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty về động cơ Diesel năm 2005 sụt giảm, chỉ bằng 43,40% so với năm 2004 là có sự tác động không thuận lợi của môi trường kinh doanh quốc tế đến năng lực cạnh tranh trong công ty
2.4.2 Các yếu tố trong nước:
Các thành tựu của công cuộc đổi mới 20 năm qua ở nước ta đã làm cho nền kinh tế thoát ra sự khủng hoảng và khởi sắc, ngày càng năng động hơn Thị trường trong nước tăng nhanh, thị trường nước ngoài đang được mở rộng hơn, kinh tế ổn định nền sản xuất phát triển, hàng hóa và dịch vụ tương đối đa dạng, phong phú, lưu thông thông thoáng, quan hệ cung cầu về hàng hóa và dịch vụ ngày càng được cải thiện, tạo tiền đề để ổn định về giá cả, đã tạo ra nhiều điều kiện và môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp
Kết quả đạt được từ năm 1991 đến nay cho thấy nền kinh tế Việt Nam đã
có nhịp độ tăng trưởng cao và ổn định (từ 5% - 7%), đời sống dân cư có phần cải thiện (Thời báo KTSG, số 1-2006, trang19), cho dù chưa có con số chính thức nhưng có thể thấy được thông qua con số thống kê đã có của Tổng cục thống kê: tăng trưởng GDP đạt 8.4 % (2005) cao nhất so với những năm trước
đó nhưng vẫn không bằng tốc độ tăng 9.34% (1996), năm trước khi xảy ra khủng hoảng kinh tế tài chính – có thể tính GDP bình quân mỗi năm là : 8%
cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực nhờ tỉ trọng trong GDP của khu vực công nghiệp – xây dựng đạt xấp xỉ: 41% Mặt khác, tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đạt khoảng 58.5%, chặn đà giảm sút mạnh
và liên tục trong thời kỳ 1998 – 2003, tỷ lệ lạm phát đã giảm xuống mức có thể chấp nhận được thâm hụt ngân sách được kiểm soát tốt hơn và đã có cơ sở
để ổn định kinh tế ở tầm vĩ mô tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, cũng như nâng cao được sức tiêu thụ sản phẩm
a/ Tỷ giá hối đoái và lãi suất cho vay.[11,45]
Cả 2 yếu tố này đều tác động đến giá thành sản phẩm - dịch vụ của Công
ty, thường thì doanh nghiệp nào cũng có quan hệ trên thị trường quốc tế, nếu không là đầu tư nước ngoài thì cũng phải mua nguyên vật liệu, hàng hoá, máy móc từ nước ngoài, tỷ giá hối đoái chiếm vị trí trung tâm trong những tác động lên các hoạt động này và nhất là nó ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành và giá bán sản phẩm
Yếu tố lãi suất cho vay của ngân hàng cũng có những ảnh hưởng đáng kể đến các hoạt động quản trị của doanh nghiệp Thực tế thì các doanh nghiệp đều phải đi vay vốn ở các ngân hàng để mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc trong mua bán hàng hoá, vì vậy lãi suất cho vay cao hay thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các yếu tố đầu vào, đầu ra của doanh nghiệp Điều này cũng có nghĩa là ảnh hưởng của lãi suất cho vay đến giá thành, giá bán và tác động đến sức mua thực tế về hàng hoá - dịch vụ của doanh nghiệp tác động đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp đối với hàng hoá - dịch vụ của những đối thủ cạnh tranh khác Trong năm 2005 chi phí trả lãi vay dài hạn và ngắn hạn là 0,063 + 5,500 = 5,563 tỷ điều này làm giảm đi sự cạnh tranh về vốn của công
ty trong khi đó lợi nhuận là 6,908 tỷ
Trang 40Hiện nay một số dự án đầu tư cho sản xuất cơ khí không được vay từ quỹ
hỗ trợ phát triển với lãi suất là 3% năm mà chỉ được hưởng chế độ hỗ trợ sản xuất sau đầu tư Nhưng tỉ lệ hỗ trợ lãi suất sau đầu tư quá nhỏ bé trong khi lãi suất tín dụng thương mại mà các doanh nghiệp vay lại quá cao nên sau khi bù trừ thì lãi suất vay đầu tư cao
Đối với chương trình sản phẩm cơ khí trọng điểm Các dự án sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm được Thủ tướng phê duyệt tại công văn số 1457/CP-
CN ngày 27/10/2003 của Chính phủ là các dự án đầu tư sản xuất các sản phẩm cơ khí mới, có độ phức tạp cao đòi hỏi phải đầu tư các dây chuyền thiết
bị hiện đại Các dự án đầu tư này có thời gian thu hồi vốn dài, tỷ suất lợi nhuận không cao nên cần được hưởng chính sách ưu đải hổ trợ đặc biệt của Nhà nước.Theo quy định tại Quyết định số 186/2002/QĐ-TTg ngày 26/12/2002 của Thủ tướng Chính phủ, các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm cơ khí trọng điểm được Nhà nước hỗ trợ vay vốn tín dụng ưu đải đặc biệt để đầu
tư với lãi suất 3% năm trong vòng 12 năm, 2 năm đầu không phải trả lãi, trả
nợ gốc từ năm thứ 5 việc vay vốn thông qua quỹ hỗ trợ phát triển
Tuy nhiên, bắt đầu từ ngày 27/04/2004 (Nghị định số 106/2004/NĐ-CP ngày 01/04/2004 của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước thay thế Nghị định số 43/1999/NĐ-CP ngày 29/06/1999 về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có hiệu lực) việc vay vốn đầu tư các dự án sản phẩm
cơ khí trọng điểm sẽ gặp rất nhiều khó khăn Cụ thể, đối tượng vay vốn bị thu hẹp lại trong đó lĩnh vực chế tạo máy động lực (động cơ diezel) theo Nghị định 106/2004/NĐ-CP, các dự án sản xuất động cơ diezel loại từ 300 mã lực trở lên mới thuộc đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước Các ưu đãi khác về thời gian vay vốn và lãi suất thấp đã gặp rất nhiều khó khăn vì thế làm cho sức cạnh tranh của ngành cơ khí chế tạo nói chung và ngành chế tạo máy động lực nói riêng giảm sức cạnh tranh [1,18-19]
b/ Về chính trị và pháp luật, chính sách của Chính phủ.[11 ,54-57]
Thập kỷ 80 – 90 của thế kỷ XX là thập kỷ có nhiều biến động cả về chính trị lẫn kinh tế trên thế giới Một quy luật được thấy rõ trong thời kỳ phát triển bảo táp này là: sự định hướng đúng đắn và ổn định về chính trị là những điều kiện cần thiết khách quan để phát triển toàn bộ nền kinh tế ở mỗi nước và ở mỗi doanh nghiệp
Chúng ta đều biết rằng hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp, Chính phủ đóng vai trò khá quan trọng: Chính phủ vừa có thể thúc đẩy vừa có thể hạn chế việc kinh doanh Tất cả những luật lệ, chính sách kinh tế mà Chính phủ ban hành đều có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến hoạt động quản trị sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chính phủ có thể thúc đẩy bằng cách khuyến khích mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc trợ cấp cho các ngành công nghiệp được lựa chọn ưu tiên về thuế trong những hoàn cảnh nhất định, bảo vệ một vài ngành kinh doanh thông qua những biểu thuế suất đặc biệt, hay trợ giúp việc nghiên cứu và triển khai công nghệ mới