Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1 Mục tiêu: Trên cơ sở lý thuyết chung về chiến lược và hoạch định chiến lược, chiến lược phát triển giáo dục đào tạo và các phân tích đánh giá những
Trang 1Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội - -
Luận Văn Thạc Sỹ Khoa học
Phân tích chiến lược và một số đề xuất
về chiến lược phát triển giáo dục đào tạo tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
Ngành: Quản trị kinh doanh
Trang 2Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục bảng biểu, sơ đồ
Lời nói đầu……… 1
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về chiến lược và hoạch định chiến lược của doanh nghiệp 5
1.1 Chiến lược và hoạch định chiến lược của doanh nghiệp 5
1.1.1 Chiến lược 5
1.1.1.1 Các quan niệm về chiến lược 5
1.1.1.2 Phân biệt chiến lược với các phạm trù khác 7
1.1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của chiến lược 8
1.1.2 Quản trị chiến lược 10
1.1.2.1 Khái niệm quản trị chiến lược 10
1.1.2.2 Quá trình quản trị chiến lược 11
1.1.3 Các loại chiến lược 12
1.1.3.1 Căn cứ vào phạm vi chiến lược kinh doanh: 12
1.1.3.2 Căn cứ vào hướng tiếp cận 13
1.1.4 Các phương pháp phân tích, lựa chọn chiến lược 13
1.4.4.1 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài 13
1.1.4.2 Ma trận đánh giá yếu tố bên trong 14
1.1.4.3 Ma trận hình ảnh cạnh tranh 14
1.1.4.4 Ma trận SWOT 14
1.1.5 Kế hoạch chiến lược 16
1.1.6 Lựa chọn chiến lược 19
1.2 Phân tích chiến lược kinh doanh 19
1.2.1 Phân tích môi trường vĩ mô 20
1.2.2 Phân tích môi trường vi mô ( môi trường ngành) 22
1.2.3 Phân tích nội bộ doanh nghiệp 25
1.2.3.1 Nguồn nhân lực 26
1.2.3.2 Hệ thống tổ chức quản lý 26
1.2.3.3 Khả năng sản xuất, nghiên cứu và phát triển (R&D) 26
Trang 31.3.1 Khái niệm chiến lược giáo dục 30
1.3.2 Kế hoạch chiến lược giáo dục 30
Chương 2: Phân tích chiến lược và lựa chọn chiến lược phát triển Giáo dục đào tạo Tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định 34
2.1 Giới thiệu chung về trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định 34
2.1.1 Giới thiệu chung về trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định 34
2.1.1.1 Quá trình phát triển của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định 34
2.1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 35
2.1.1.3 Cơ cấu bộ máy tổ chức : 36
2.1.1.4 Hoạt động đào tạo của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định 38
2.1.2 Tình hình giáo dục đào tạo của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định .41
2.1.2.1 Xây dựng và quản lý kế hoạch: 41
2.1.2.2 Hoạt động đào tạo: 42
2.1.2.3 Công tác quản lý giảng dạy, kết quả đào tạo 43
2.1.2.4 Công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ 45
2.2 Phân tích chiến lược phát triển giáo dục đào tạo tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định 46
2.2.1 Phân tích môi trường bên ngoài 46
2.2.1.1 Phân tích môi trường vĩ mô 47
2.2.1.2 Phân tích môi trường vi mô 48
2.2.2 Phân tích nội lực của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định72 2.2.2.1 Tình hình xây dựng đội ngũ giảng viên 72
2.2.2.2 Kết quả nghiên cứu khoa học 77
2.2.2.3 Tình hình XD cơ sở vật chất, các phòng thí nghiệm và thư viện của trường 80
2.2.2.4 Kết quả quá trình đào tạo 86
2.2.2.5 Cạnh tranh giữa các ngành đào tạo 89
Trang 42.3.1 Xây dựng ma trận SWOT 96
2.3.2 Đề xuất chiến lược phát triển giáo dục đào tạo tại trường ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật Nam Định 98
2.3.3 Phương án chiến lược 101
2.3.3.1 Kết hợp S/O 101
2.3.3.2 Kết hợp S/T 102
2.3.3.3 Kết hợp W/O 102
2.3.3.4 Chiến lược W/T 102
Chương 3: Một số giải pháp thực hiện Chiến lược Phát triển giáo dục đào tạo tại trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam Định 104
3.1 Mục tiêu tổng quát của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định. 104
3.2 Một số giải pháp thực hiện chiến lược phát triển giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định đến năm 2010. 105
3.2.1 Chiến lược tăng trưởng trên cơ sở nâng cao chất lượng đào tạo 105
3.2.1.1 Mục tiêu 105
3 2.1.2 Giải pháp thực hiện 106
3.2.2 Chiến lược mở rộng thị trường, liên kết hợp tác trong đào tạo 113
3.2.2.1 Mục tiêu 114
3.2.2.2 Giải pháp thực hiện 114
3.2.3 Chiến lược chuyên môn hoá 115
3.2.3.1 Mục tiêu 115
3.2.3.2 Giải pháp thực hiện 116
3.3 Các kiến nghị, đề xuất 117
3.3.1 Đối với nhà nước: 117
3.3.2 Đối với Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định 118 Kết luận
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 5Lời nói đầu
1 Sự cần thiết của đề tài
Chưa bao giờ trong lịch sử phát triển của mình, loài người lại phải đối
mặt với một thế giới thay đổi nhanh như hiện nay
Khi thế giới bước sang thế kỷ 21, ngành giáo dục lại phải đối mặt với
thách thức lớn chưa từng có Chúng ta thực sự bị choáng ngợp khi nhìn vào
toàn bộ hệ thống giáo dục từ nhà trường, chương trình học, tài liệu dạy và
học, tới giáo viên học sinh và cả những gì đang diễn ra trong thế giới quanh
ta Tất cả đều đang đặt ra những đòi hỏi cấp bách đối với giáo dục đào tạo và
giáo dục con người có đủ khả năng đáp ứng được những thách thức trong thế
kỷ mới
Trong nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII khẳng định công
nghiệp hoá - hiện đại hoá là con đường duy nhất đưa đất nước ta thoát khỏi
tình trạng nghèo nàn và lạc hậu Thực hiện dân giàu nước mạnh xã hội công
bằng văn minh Nghị quyết Trung ương II khoá VIII có nói “ Không có trình
độ dân trí cao, không có đội ngũ công nhân giỏi, không thể công nghiệp hoá
hiện đại hoá nước ta sẽ tụt hậu ngày càng xa so với các nước Tới đại hội IX
của Đảng đã khẳng định mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế
xã hội: Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời
sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân tạo nền tảng để đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hoá”
Con đường Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút
ngắn thời gian so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự vừa có
những bước nhảy vọt” Trong công cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất
nước Đảng ta xác định rằng việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ
bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Phát triển nguồn nhân lực có chất
Trang 6lượng cao là đặc trưng cơ bản của Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá Con người
là chủ thể là nhân tố năng động sáng tạo nhất trong mối quan hệ giữa 3 hệ
thống kinh tế – xã hội và môi trường
Trong những năm đổi mới sự nghiệp giáo dục tiếp tục phát triển về quy
mô, đáp ứng yêu cầu học tập ngày càng cao của xã hội Chất lượng đào tạo đã
có những biến chuyển tích cực nhưng nguồn nhân lực được đào tạo vẫn chưa
đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hoá đất
nước Vì vậy chúng ta cần “ưu tiên nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc
biệt chú trọng nguồn nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao cán bộ quản
lý giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề góp phần nâng cao sức cạnh tranh
trong nền kinh tế ”
Nhìn chung đội ngũ giảng viên dạy nghề còn thiếu về số lượng, thấp về
chất lượng Tỷ lệ giáo viên dạy nghề đạt chuẩn còn thấp chưa đáp ứng về yêu
cầu vừa tăng về quy mô vừa đảm bảo nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt
động dạy nghề Để tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng nguồn nhân
lực, chúng ta cần mở rộng quy mô đào tạo cũng như nâng cao trình độ chuẩn
của đội ngũ giáo viên dạy nghề Luật giáo dục 2005 đã xác định đào tạo nghề
có 3 cấp trình độ là sơ cấp, trung cấp và cao đẳng nghề Để đào tạo người lao
động có trình độ cao nghề cần từng bước chuẩn hoá đội ngũ giáo viên dạy
nghề, đảm bảo tỷ lệ trung bình 1 giáo viên / 15 học sinh vào năm 2010, nâng
dần tỷ lệ giáo viên có trình độ sau đại học tại các trường dạy nghề, đặc biệt
các trường dạy nghề có trình độ cao
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và ý nghĩa quan trọng là cần phải nghiên
cứu một cách khoa học và có hệ thống chiến lược phát triển giáo dục đào tạo
từ đó rút ra những đề xuất, giải pháp để thực hiện thành công chiến lược phát
triển giáo dục đào tạo tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định Nội
dung “Phân tích chiến lược và một số đề xuất về chiến lược phát triển giáo
Trang 7dục đào tạo tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định” đã được chọn
làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu: Trên cơ sở lý thuyết chung về chiến lược và hoạch định
chiến lược, chiến lược phát triển giáo dục đào tạo và các phân tích đánh giá
những kết quả đạt được của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
trong thời gian qua, xu hướng phát triển của giáo dục đào tạo quốc gia và khu
vực đến năm 2010 từ đó đưa ra một số đề xuất một số giải pháp nhằm phát
triển giáo dục đào tạo của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật đến năm 2010
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích hệ thống những vấn đề lý luận về chiến lược kinh doanh nói
chung và chiến lược phát triển giáo dục đào tạo nói riêng
Thông qua việc giới thiệu các kết quả đạt được của Trường Đại học Sư
phạm Kỹ thuật Nam Định trong những năm gần đây và các xu hướng phát
triển giáo dục đào tạo của Việt nam, luận văn sẽ đưa ra những mục tiêu cơ
bản để phát triển giáo dục đào tạo của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam
Định
Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để thực hiện mục tiêu, đáp ứng nhu
cầu phát triển giáo dục đào tạo nghề
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục đào tạo Đối tượng nghiên
cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về chiến lược phát triển
giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng
phát triển giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
đến năm 2010 từ đó rút ra những đề xuất, giải pháp nhằm thực hiện chiến
lược phát triển giáo dục đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam
Định
Trang 8Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp
nghiên cứu định lượng, phương pháp thống kê, phân tích, so sánh tổng hợp,
phương pháp diễn giải, phương pháp quy nạp, phương pháp biện chứng
Việc điều tra khảo sát thực tế dựa trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu,
khảo sát của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
4 Tên lụân văn và kết cấu của luận văn
4.1 Tên luận văn:
Phân tích chiến lược và một số đề xuất về chiến lược phát triển giáo
dục đào tạo tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
4.2 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo nội dung chính của
luận văn gồm 3 chương::
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về chiến lược và hoạch định chiến lược
của doanh nghiệp
Chương 2: Phân tích chiến lược và lựa chọn chiến lược phát triển giáo dục
đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
Chương 3: Một số giải pháp thực hiện chiến lược phát triển giáo dục tại
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định đến năm 2010
Trang 9Chương 1: Một số lý luận cơ bản về chiến lược và hoạch định chiến lược
của doanh nghiệp
Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu Việc phát triển giáo dục đào
tạo là nền tảng, nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những động lực
quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá là yếu tố cơ bản
để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững
Chiến lược phát triển giáo dục đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn
nhân lực trình độ cao phù hợp với cơ cấu kinh tế xã hội của thời kỳ công
nghiệp hoá hiện đại hoá nâng cao năng lực cạnh tranh và hợp tác bình đẳng
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng
giáo dục sau trung học thông qua việc đa dạng hoá chương trình đào tạo trên
cơ sở xây dựng một hệ thống lưu thông phù hợp với cơ cấu trình độ, cơ cấu
ngành nghề, cơ cấu vùng miền của nhân lực và năng lực của cơ sở đào tạo
Trước khi nghiên cứu về chiến lược phát triển đào tạo chúng ta tìm hiểu
về chiến lược và hoạch định chiến lược nói chung
1.1 Chiến lược và hoạch định chiến lược của doanh nghiệp
1.1.1 Chiến lược
1.1.1.1 Các quan niệm về chiến lược
Thuật ngữ “chiến lược” (Strategy) xuất phát từ lĩnh vực quân sự theo
gốc Hi Lạp có nghĩa là “khoa học về hoạch định và điều khiển các hoạt động
quân sự” là “nghệ thuật để chỉ huy các phương tiện để chiến thắng đối
phương” Như vậy chiến thuật được hiểu là khoa học hoạch định, điều khiển
và nghệ thuật sử dụng các nguồn lực, phương tiện trong các hoạt động quân
sự có quy mô lớn, có thời gian dài để tạo ra ưu thế nhằm chiến thắng đối thủ,
Trang 10là nghệ thuật khai thác những chỗ yếu nhất và mang lại cơ hội thành công lớn
nhất
Từ lĩnh vực quân sự thuật ngữ chiến lược được sử dụng nhiều trong
kinh tế cả ở phạm vi vĩ mô và vi mô: chiến lược phát triển kinh tế xã hội,
chiến lược phát triển các ngành như công nghiệp cơ khí, ngành giáo dục,
ngành y tế, chiến lược phát triển tổng công ty, công ty đến năm 2010, 2020…
với nội dung xác định những mục tiêu cơ bản dài hạn, chương trình hành
động và phân bổ các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu của nền kinh tế,
ngành hay doanh nghiệp trong tương lai xa Khác với thuật ngữ chiến thuật là
việc lựa chọn cách thức tiến hành những hoạt động cụ thể để thực hiện mục
tiêu trước mắt, mục tiêu ngắn hạn hơn
Ra đời vào khoảng những năm sáu mươi của thế kỷ XX, chiến lược
kinh doanh dần dần được sử dụng phổ biến ở doanh nghiệp với nhiều quan
niệm khác nhau
James B Quinn cho rằng “chiến lược là một dạng thức hoặc một kế
hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các trình tự thành một
tổng thể kết dính lại với nhau
William J Glueck trong giáo trình “Business Policy & Strategic
Management” quan niệm “chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất,
tính toàn diện, tính phối hợp, được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ
bản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện”
Alfred Chandler đại học Harvard định nghĩa “Chiến lược bao hàm việc
ấn định các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, đồng thời lựa chọn
cách thức tiến trình hành động và phân bố các tài nguyên thiết yếu để thực
hiện các mục tiêu đó”
Qua phân tích các khái niệm trên ta thấy chiến lược kinh doanh của
doanh nghiệp có những điểm chung là:
Trang 11- Chiến lược là một chương trình hành động tổng quát hướng tới mục
tiêu kinh doanh cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, là chương trình hành động
của doanh nghiệp để đạt tới tương lai tươi sáng
- Các chính sách cơ bản quan trọng của doanh nghiệp trong hoạt động
kinh doanh thì chỉ có người chủ sở hữu của doanh nghiệp mới có quyền thay
đổi các chính sách này
- Trình tự hành động, cách thức tiến hành và phân bổ các nguồn lực,
các điều kiện của doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiều đề ra
- Chiến lược là tập hợp những quyết định và hành động hướng đến các
mục tiêu đảm bảo sao cho năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được
những cơ hội và thách thức từ bên ngoài
- Chiến lược như là mô hình vì ở một khía cạnh nào đó, chiến lược của
một tổ chức được phản ánh cấu trúc, khuynh hướng mà người ta dự định
trong tương lai
- Chiến lược như là một triển vọng, quan điểm này muốn đề cập đến sự
liên quan đến chiến lược với mực tiêu cơ bản, vị thế chiến lược và triển vọng
tương lai của nó
Vậy chiến lược của một tổ chức nào đó có thể được hiểu là “định
hướng hoạt động có mục tiêu trong một thời gian dài cùng với hệ thống chính
sách, biện pháp và cách thức phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu của tổ
chức trong một khoảng thời gian tương ứng.”
1.1.1.2 Phân biệt chiến lược với các phạm trù khác
Chiến lược được các nhà quản trị hiểu với nhiều cách khác nhau trong
nghiên cứu Song quy lại, chiến lược là các kế hoạch lớn, kế hoạch dài hạn
được khởi thảo trên cơ sở tin chắc là cái gì đối phương có thể làm hoặc không
thể làm để phản ánh lĩnh vực rộng lớn trong hoạt động của doanh nghiệp Tuy
vậy, chiến lược có những điểm khác biệt so với kế hoạch, quy hoạch và quản
lý chiến lược mà chúng ta cần phân biệt:
Trang 12- Kế hoạch là tập hợp các chỉ tiêu, mục tiêu và những công việc cần đạt
được trong một quá trình phát triển tương lai trên cơ sở nguồn lực về thời
gian, về bối cảnh kinh tế – xã hội cụ thể xác định Kế hoạch bao gồm kế
hoạch dài hạn, kế hoạch trung hạn và kế hoạch ngắn hạn
- Quy hoạch là sự bố trí sắp xếp tổng thể các mục tiêu cần được thực
hiện một cách hợp lý theo không gian lãnh thổ nhất định có tính đến nguồn
lực và thời gian thực hiện làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dài hạn
- Về quản lý chiến lược cũng có một số khái niệm sau:
+ Quản lý chiến lược là quá trình quản lý việc theo đuổi chức năng
nhiệm vụ của một tổ chức trong khi quản lý mối quan hệ của tổ chức đó với
môi trường của nó
+ Quản lý chiến lược là tập hợp các quyết định và biện pháp hành động
dẫn đến việc hoạch định và thực hiện chiến lược nhằm đạt được mục tiêu của
tổ chức
+ Quản lý chiến lược là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại
cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của tổ chức đề ra, thực hiện các
quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như
tương lai
Chiến lược và quản lý chiến lược không đồng nhất với các chức năng
và phạm trù quản lý khác của doanh nghiệp Cho dù có tính độc lập tương đối
nhưng quản lý chiến lược và các mặt quản lý khác đều có mục tiêu chung là
nhằm tăng cường quản lý doanh nghiệp và thực hiện các mục tiêu hoạt động
của doanh nghiệp Hơn nữa, chúng có mối quan hệ gắn bó không thể tách rời
được Cụ thể là, các chức năng quản lý khác cung cấp cho quản lý chiến lược
những thông tin cần thiết trong quá trình hoạch định chiến lược kinh doanh,
đến lượt mình chúng sẽ nhận được các kết luận của quyết định chiến lược
cung cấp Những kết luận đó sẽ là một trong những cơ sở quan trọng phục vụ
cho quá trình thực hiện các chức năng quản lý của doanh nghiệp
Trang 131.1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của chiến lược
* Vai trò:
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, loại trừ những yếu tố
may rủi ngẫu nhiên, sự tồn tại và thành công trong kinh doanh của doanh
nghiệp phụ thuộc trước hết vào tính đúng đắn của chiến lược đã vạch ra và
thực thi tốt các chiến lược đó Vai trò của chiến lược kinh doanh bắt nguồn từ
những ưu điểm cơ bản, tác động của chiến lược trong kinh doanh so với
doanh nghiệp không xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh
- Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp thấy rõ được mục đích
hướng đi của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh
- Trong điều kiện môi trường kinh doanh biến đổi nhanh chóng, tạo ra
muôn vàn cơ hội tìm kiếm lợi nhuận những cũng đầy cạm bẫy rủi ro
- Nhờ vận dụng chiến lược kinh doanh, các doanh nghiệp sẽ gắn liền
các quyết định đề ra với các điều kiện của môi trường, giúp cân đối giữa một
bên là tài nguyên, nguồn lực và mục tiêu của doanh nghiệp với bên kia là các
cơ hội thị trường đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu đề ra
- Trong môi trường cạnh tranh gay gắt, thông qua phân tích toàn diện
đầy đủ các yếu tố môi trường vĩ mô, môi trường tác nghiệp giúp doanh ngiệp
xác định đối thủ cạnh tranh, trên cơ sở đó đưa ra giải pháp tổng thể nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
* ý nghĩa: Chiến lược kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối
với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
- Giúp doanh nghiệp nhận thấy rõ mục đích hướng đi của mình làm ở
cơ sở cho mọi kế hoạch hoạt động cụ thể tạo ra phương án kinh doanh tốt hơn
thông qua việc sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, tăng sự liên kết và
gắn bó của cán bộ quản lý trong thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp
- Giúp doanh nghiệp nhận biết được các cơ hội và nguy cơ trong tương
lai qua đó có thể nắm bắt và tận dụng các cơ hội, đồng thời có biện pháp chủ
Trang 14động đối phó với những nguy cơ, đe doạ từ môi trường có thể xảy ra trong
tương lai
- Giúp doanh nghiệp tạo ra thế chủ động tác động tới môi trường, làm
thay đổi môi trường cho phù hợp với sự phát triển của doanh nghiệp
- Cho phép phân phối một cách có hiệu quả về thời gian, nguồn lực
cho các lĩnh vực hoạt động khác nhau
- Hoạch định chiến lược khuyến khích doanh nghiệp hướng về tương
lai phát huy sự năng động sáng tạo, ngăn chặn những tư tưởng ngại thay đổi,
làm rõ trách nhiệm cá nhân, tăng cường tính tập thể
- Giúp cho doanh nghiệp tăng vị trí cạnh tranh, cải thiện các chỉ tiêu về
doanh số, tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả quản lý tránh được rủi ro về
tài chính, tăng khả năng phòng ngừa, ngăn chặn các vấn đề khó khăn của
doanh nghiệp Nâng cao đời sống cán bộ công nhân, đảm bảo cho doanh
nghiệp phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh
Tóm lại: Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp duy trì mối quan hệ
chặt chẽ giữa một bên là nguồn lực và các mục tiêu của doanh nghiệp, một
bên là cơ hội thị trường và vị thế cạnh tranh trên thị trường
1.1.2 Quản trị chiến lược
Hoạch định chiến lược giúp các doanh nghiệp đạt được mục tiêu trước
mắt và lâu dài, tổng thể và bộ phận là một điều hết sức quan trọng và cần
thiết Mục đích của việc hoạch định chiến lược là “dự kiến tương lai trong
hiện tại” thông qua lập kế hoạch cho những năm tiếp theo
Hoạch định chiến lược là giai đoạn đầu của quản trị chiến lược Hình
thành chiến lược là quá trình thiết lập nhiệm vụ kinh doanh, thực hiện điều
tra, nghiên cứu các mặt mạnh, mặt yếu bên trong tổ chức, cơ hội và nguy cơ
đe doạ của môi trường bên ngoài, đề ra các mục tiêu dài hạn, xây dựng và lựa
chọn các chiến lược để thực hiện các mục tiêu
1.1.2.1 Khái niệm quản trị chiến lược
Trang 15Có nhiều quan niệm khác nhau về quản trị chiến lược, quan niệm cho
rằng quản trị chiến lược của doanh nghiệp là nghệ thuật và khoa học của việc
xây dựng, tổ chức, thực hiện và đánh giá các quyết định tổng hợp giúp cho
doanh nghiệp có thể đạt được các mục tiêu của mình
Quan niệm cho rằng quản trị chiến lược là tập hợp các quyết định và
biện pháp hành động dẫn đến việc hoạch định và thực hiện các chiến lược
nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp
Quản trị chiến lược còn được hiểu là một nghệ thuật và khoa học thiết
lập, thực hiện và đánh giá các quyết định liên quan đến nhiều chức năng cho
phép doanh nghiệp đạt được mục tiêu đã đề ra
Quản trị chiến lược là phương thức quản trị nhằm định hướng chiến
lược và phối hợp các chức năng quản trị trong quá trình phát triển lâu dài của
doanh nghiệp trên cơ sở phân tích và dự báo môi trường kinh doanh một cách
toàn diện
Vậy có thể hiểu quản trị chiến lược là tổng hợp các hoạt động hoạch
định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, điều chỉnh chiến lược kinh doanh diễn ra
lặp đi lặp lại hoặc không theo chu kỳ thời gian nhằm đảm bảo doanh nghiệp
luôn tận dụng được mọi cơ hội, thời cơ cũng như hạn chế hoặc xoá bỏ được
các de doạ, cạm bẫy trên con đường thực hiện các mục tiêu của mình
1.1.2.2 Quá trình quản trị chiến lược
Tuỳ thuộc vào mô hình của từng doanh nghiệp, quá trình quản trị chiến
lược là một quá trình thường xuyên liên tục và đòi hỏi sự tham gia của tất cả
các thành viên trong doanh nghiệp đó, nhưng nhìn chung phải trải qua các
bước sau
- Xác định mục tiêu chiến lược: Mục tiêu chiến lược là cái “đích” mà
doanh nghiệp cần đạt được trong thời kỳ chiến lược Cần xác định hệ thống
mục tiêu của doanh nghiệp cũng như từng bộ phận bên trong của doanh
nghiệp
Trang 16- Phân tích môi trường bên ngoài và các yếu tố nội bộ bên trong doanh
nghiệp: Môi trường bên ngoài luôn tác động theo chiều hướng khác nhau, với
các mức độ khác nhau đến hoạt động doanh nghiệp Các nhân tố tác động tích
cực ảnh hưởng tốt đến hoạt động của doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng
tiêu cực ảnh hưởng xấu đến hoạt động của doanh nghiệp có thể tạo ra các cơ
hội, thời cơ, nguy cơ và thách thức đối với doanh nghiệp Để hoạch định
chiến lược hoặc ra các quyết định kinh doanh, các nhà quản trị không thể
không chú ý nghiên cứu, phân tích môi trường kinh doanh
- Lựa chọn chiến lược: là một khâu quan trọng của toàn bộ quá trình
hoạch định chiến lược Để đảm bảo việc lựa chọn chiến lược đúng đắn, phù
hợp với thực tế, quá trình lựa chọn chiến lược cần quán triệt một số yêu cầu
sau:
+ Đảm bảo tính hiệu quả lâu dài của quá trình hoạt động
+ Đảm bảo tính liên tục và kế thừa chiến lược
+ Chiến lược phải mang tính toàn diện, rõ ràng
+ Phải đảm bảo tính nhất quán và tính khả thi
+ Đảm bảo thực hiện mục tiêu ưu tiên
- Thực hiện chiến lược: Triển khai thực hiện chiến lược là nhân tố quan
trọng bảo đảm cho chiến lược thành công Thực hiện chiến lược là quá trình
chuyển các ý tưởng chiến lược đã được hoạch định thành các hành động cụ
thể của doanh nghiệp
- Kiểm tra, đánh giá chiến lược: Để kiểm tra, đánh giá quá trình hình
thành và thực hiện chiến lược cần xác định rõ phải kiểm tra, đánh giá chiến
lược, cung cấp thông tin góp phần tạo tiền đề cho việc hoạch định chiến lược
cho kỳ kế hoạch tiếp theo
1.1.3 Các loại chiến lược
Tuỳ theo các căn cứ phân loại mà chiến lược kinh doanh được phân
thành các loại chiến lược khác nhau:
Trang 171.1.3.1 Căn cứ vào phạm vi chiến lược kinh doanh:
- Chiến lược chung: Đề cập đến những vấn đề quan trọng nhất, bao
trùm nhất và có ý nghĩa lâu dài Chiến lược chung quyết định những vấn đề
sống còn của doanh nghiệp
- Chiến lược cấp đơn vị, cấp cơ sở: Chủ yếu là chiến lược cạnh tranh,
cạnh tranh bằng giá thấp, bằng sự khác biệt của sản phẩm và dịch vụ hoặc tạo
ra một khúc chiến lược riêng
- Chiến lược bộ phận: Là chiến lược chức năng bao gồm: chiến lược
sản xuất, chiến lược thương mại, chiến lược tài chính, chiến lược phát triển
nguồn nhân lực, chiến lược xã hội, chiến lược đổi mới công nghệ, chiến lược
mua sắm và hậu cần, hệ thống thông tin, chiến lược nghiên cứu và phát triển
1.1.3.2 Căn cứ vào hướng tiếp cận
- Chiến lược tập trung vào những nhân tố then chốt: nghĩa là không
dàn trải các nguồn lực mà cần tập chung cho những hoạt động kinh doanh có
ý nghĩa quyết định đối với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Chiến lược kinh doanh dựa trên ưu thế tương đối: là phân tích, so
sánh sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp mình so với các đối thủ cạnh
tranh qua đó tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình làm chỗ dựa cho
chiến lược kinh doanh
- Chiến lược kinh doanh sáng tạo tấn công: thông qua việc nhìn vào
những vấn đề đã được phổ biến, những kết luận trước đây để tìm ra những
khám phá mới làm cơ sở cho chiến lược kinh doanh
- Chiến lược khai thác khả năng tiềm tàng: Chiến lược này không nhằm
vào nhân tố then chốt mà nhằm khai thác khả năng tiềm tàng, các tiềm năng
sử dụng những nguồn lực dư thừa
1.1.4 Các phương pháp phân tích, lựa chọn chiến lược
Xây dựng chiến lược được thực hiện trên cơ sở phân tích và đánh giá
môi trường kinh doanh, nhận biết những cơ hội và nguy cơ tác động đến sự
Trang 18tồn tại của tổ chức Từ đó, xác định phương án chiến lược để đạt được mục
tiêu đề ra
1.4.4.1 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài
Ma trận các yếu tố bên ngoài cho phép các nhà chiến lược tóm tắt và
đánh giá các thông tin kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, chính phủ, tự nhiên,
công nghệ, yếu tố hội nhập có ảnh hưởng đến doanh nghiệp Trong ma trận
này có điểm lưu ý sau:
- Tổng các mức phân loại tầm quan trọng phải bằng 1
- Tổng số điểm quan trọng cao nhất mà tổ chức có thể đạt được là 4 và
thấp nhất là 1 Tổng số điểm quan trọng trung bình là 2,5 Tổng số điểm quan
trọng bằng 4 cho thấy tổ chức đang phản ứng rất tốt với các cơ hội và đe doạ
từ môi trường kinh doanh Nếu tổng số điểm bằng 1 thì ngược lại
Bảng 1.1 Ma trận tổng hợp các yếu tố bên ngoài
Các yếu tố
bên ngoài
chủ yếu
Mức quan trọng của yếu tố đối với ngành
Phân loại yếu tố đối với
tổ chức
Số điểm quan trọng
có giá trị từ 0.0 (không quan trọng) đến giá trị 1.0 (rất quan trọng)
Phân loại các yếu tố tác động đến tổ chức, có giá trị:
Tổng cộng = 1
(Fred R.David, 2006, tr.178 – Khái luận về quản trị chiến lược)
1.1.4.2 Ma trận đánh giá yếu tố bên trong
Trang 19Ma trận đánh giá yếu tố bên trong phân tích, đánh giá các yếu tố nội bộ
để tìm điểm mạnh, điểm yếu quan trọng của các bộ phận chức năng, đánh giá
mối quan hệ giữa các bộ phận này
Hình thức bảng tương tự như Bảng 1.2
1.1.4.3 Ma trận hình ảnh cạnh tranh
Ma trận hình ản cạnh tranh cho nhận diẹn những đối thủ cạnh tranh chủ
yếu cùng những ưu thế và nhược điểm của họ Ma trận này là sự mở rộng ma
trận đánh giá cá yếu tố bên ngoài bằng cách đưa vào đó các yếu tố quan trọng
của môi trường bên trong để so sánh giữa các đối thủ cạnh tranh trong ngành
1.1.4.4 Ma trận SWOT
Một tổ chức đều có một số những cơ hội và mối đe doạ của môi trường
bên ngoài và các điểm mạnh, điểm yếu bên trong Các yếu tố đó có thể được
sắp xếp thành một ma trận để hình thành chiến lược khả thi có thể lựa chọn
Các cơ hội (O)
Liệt kê những cơ hội
……
……
Các chiến lươc SO
Sử dụng điểm mạnh để tận dụng các cơ hội
Các chiến lươc WO
Khắc phục các điểm yếu bên trong để tận dụng cơ hội
Các mối đe doạ (T)
Liệt kê những đe doạ
………
………
Các chiến lươc ST
Sử dụng điểm mạnh để hạn chế bớt các nguy cơ
đe doạ từ bên ngoài
Các chiến lươc WT
Giảm thiểu những điểm yếu và tránh các mối đe doạ từ môi trường
(Nguồn: Fred R David, 2006, tr.267 - Khái luận về quản trị chiến lược)
Để xây dựng ma trận SWOT phải tiến hành theo các bước sau:
Trang 20- Bước 1: Liệt kê tất cả các điểm mạnh chủ yếu bên trong doanh
nghiệp
- Bước 2: Liệt kê tất cả các điểm yếu cơ bản trong doanh nghiệp
- Bước 3: Liệt kê tất cả các cơ hội lớn từ môi trường bên ngoài mà
doanh nghiệp có thể khai thác
- Bước 4: Liệt kê các mối đe doạ trực tiếp từ bên ngoài đối với doanh
nghiệp
- Bước 5: Lựa chọn để kết hợp điểm mạnh bên trong với cơ hội bên
ngoài để hình thành chiến lược SO phù hợp rồi ghi vào ô tương ứng Đây là
chiến lược thuận lợi nhất mà doanh nghiệp nào cũng muốn hướng tới
- Bước 6: Lựa chọn kết hợp những điểm yếu bên trong với những cơ
hội bên ngoài để hình thành chiến lược WO thích hợp rồi ghi vào ô tương
ứng Đây là chiến lược khắc phục các điểm yếu bên trong bằng cách tận dụng
cơ hội bên ngoài
- Bước 7: Lựa chọn kết hợp điểm mạnh bên trong với mối đe doạ bên
ngoài để hình thành chiến lược ST rồi ghi vào ô tương ứng Đây là chiến lược
sử dụng thế mạnh của doanh nghiệp để hạn chế bớt hoặc tránh khỏi những tác
động tiêu cực của môi trường bên ngoài đe doạ
- Bước 8: Lựa chọn kết hợp điểm yếu bên trong với nguy cơ bên ngoài
để hình thành chiến lược WT Đây là chiến lược phòng thủ, khi doanh nghiệp
ở vào tình trạng bất lợi nhất thì chiến lược WT có thể sẽ giúp cho doanh
nghiệp giảm đi những điểm yếu bên trong đồng thời tránh được những mối đe
doạ từ bên ngoài
Việc phân tích ma trận SWOT để hình thành các ý tưởng chiến lược tận
dụng triệt để cơ hội, phát huy điểm mạnh, tránh các nguy cơ và che chắn các
điểm yếu Trên cơ sở đó hình thành các phương án kết hợp chiến lược với
nguyên tắc tận dụng, khai thác triệt để các cơ hội, tránh rủi ro, phát huy các
điểm mạnh và che chắn các điểm yếu xuất hiện trong thời kỳ chiến lược
Trang 211.1.5 Kế hoạch chiến lược
Khái niệm về lập kế hoạch chiến lược mới xuất hiện ở nước ta mấy
năm gần đây, vì thế có nhiều khái niệm kế hoạch chiến lược chưa được làm
rõ Cần phải phân biệt hai khái niệm: Kế hoạch chiến lược (strategic plan) và
kế hoạch hành động (operational plan) Sự khác biệt giữa kế hoạch chiến lược
và kế hoạch hành động là thông số thời gian Lập kế hoạch chiến lược hướng
tới mục tiêu dài hạn còn lập kế hoạch hành động giải quyết vấn đề cho tổ
chức trong khoảng thời gian trước mắt Lập kế hoạch hành động chỉ rõ người
chịu trách nhiệm thực hiện công việc, thời gian hoàn thành và chi phí cụ thể
cho từng hoạt động đó Chúng ta có thể thấy được mối quan hệ này qua sơ đồ
Sơ đồ 1.1 Quy trình lập kế hoạch
Bryson (1988) và Hussey (1985) đã đưa ra một số định nghĩa về xây
dựng kế hoạch chiến lược Trong đó định nghĩa sau được thể hiện tương đối
sát: Kế hoạch chiến lược là một hoạt động có tính hướng đích nhằm xác định
một cách chính xác chúng ta muốn đến đâu và làm thế nào để đến đó
Như vậy lập kế hoạch chiến lược là xác định mục tiêu dài hạn và xác
định những cách thức đạt được những mục tiêu đó trên cơ sở phân tích môi
trường bên ngoài, điều kiện bên trong, nhu cầu của tổ chức và các điều kiện
tài chính, nguồn lực đã có và có thể huy động được để thực hiện các mục tiêu
đã xác định
Lợi ích của việc lập kế hoạch chiến lược là giúp cho một tổ chức ý thức
được những thay đổi của môi trường bên ngoài và tạo điều kiện cho nó đương
đầu một cách có hiệu quả với những thay đổi đó; có ý thức về mục tiêu
chung; tạo điều kiện cho tổ chức đánh giá khả năng của chính mình và phối
hợp hoạt động để đạt mục tiêu đó; tạo điều kiện để tổ chức đánh giá ý nghĩa
của đường lối hành động đã cam kết; tạo cơ hội để lôi kéo mọi người trong tổ
K ế hoạch chiến
lược
K ế hoạch cụ thể
Qu ản lý kết quả
Trang 22chức tham gia vào xây dựng và triển khai những quyết định quan trọng; làm
rõ phương hướng hoạt động của tổ chức; đưa ra quyết định trên cơ sở tương
lai của tổ chức; xây dựng nền tảng cho việc ra quyết định Ngoài ra kế hoạch
chiến lược nâng cao kết quả hoạt động của tổ chức; xây dựng hoạt động
chung của cả tổ chức và nhóm chuyên gia; cung cấp cho tổ chức một khung
để đánh giá kết quả hoạt động của mình; lôi cuốn tất cả các cấp quản lý tham
gia vào giai đoạn xây dựng và thực thi kế hoạch
* Các yếu tố cơ bản của kế hoạch chiến lược:
- Sứ mệnh của tổ chức là điểm khởi đầu của kế hoạch chiến lược Xác
định tổ chức sẽ làm gì, bản chất và quan điểm cơ bản của tổ chức, cơ sở triết
lý của sự tồn tại của tổ chức
- Phân tích chiến lược là cơ sở dữ liệu cho kế hoạch chiến lược Nó bao
gồm sự phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài có tác động lớn nhất đến
tương lai của tổ chức
- Mục tiêu dài hạn xác định kết quả chiến lược cần đạt được khi tiến
hành sứ mệnh và phân tích chiến lược
- Định hướng và phương án chiến lược dài hạn là chỉ ra phương hướng
lâu dài của tổ chức, xác định vị thế của tổ chức trong tương lai
- Các chương trình tổng hợp là sự phối hợp toàn bộ sức mạnh của các
bộ phận tổ chức trong việc thực hiện các chương trình chung Là những hoạt
động cốt yếu cần thiết để thực hiện chiến lược và đạt được mục tiêu đã đề ra
- Dự toán tài chính là phân tích tổng hợp các kết quả tài chính đã dự trù
cho các giải pháp để thực hiện kế hoạch
- Bản chỉ đạo tổng hợp là sự tiếp nhận bản kế hoạch chiến lược theo
quan điểm của ban lãnh đạo của tổ chức
Kế hoạch trong doanh nghiệp gồm hai mặt : Lập ra kế hoạch hoạt động
và tổ chức thực hiện kế hoạch đó Trong doanh nghiệp việc lập kế hoạch
chiếm vị trí hàng đầu trong hoạt động kinh doanh và trong mọi hoạt động
Trang 23khác của con người Bởi vì nếu không có kế hoạch trước thì con người ta
không thể thực hiện bất cứ việc gì có hiệu quả cao được
Công tác kế hoạch có vị trí quan trọng trong quản lý kinh doanh vì nó
cũng là phương tiện để thực hiện chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh
doanh dù có tốt đến đâu nhưng không có triển khai trên các mặt hoạt động cụ
thể, không có kế hoạch hoạt động thì đó mới chỉ là ý đồ chiến lược, là mục
tiêu và giải pháp Chỉ có kế hoạch mới chỉ ra các công cụ thực hiện, chương
trình hành động cụ thể phải làm, dự tính hiệu quả sẽ đạt được và nên hay
không chọn chiến lược này Không có lập kế hoạch và không có tổ chức thực
hiện các chỉ tiêu, các hoạt động cụ thể thì không có chiến lược nào được thực
hiện, dù chiến lược vạch ra có hay đến đâu chăng nữa vẫn chỉ là ý tưởng,
chiến lược trên giấy mà thôi
Nếu xét về mặt thời gian, có thể chia kế hoạch dài hạn và kế hoạch
ngắn hạn Trong điều kiện kinh tế thị trường ngày nay có thể gọi là kế hoạch
chiến lược và kế hoạch hàng năm
Hoạch định chiến lược chính là lập kế hoạch chiến lược Kế hoạch
chiến lược là lập kế hoạch cho một thời gian dài Tuỳ thuộc vào khả năng tầm
nhìn và tiềm năng của doanh nghiệp mà lập kế hoạch cho 2 năm, 5 năm hay
10 năm
Hoạch định chiến lược vạch ra mục tiêu trong dài hạn, đề ra chiến lược
tổng quát về các chiến lược bộ phận, đề ra giải pháp cho doang nghiệp trong
một khoảng thời gian nhất định trong tương lai
Kế hoạch hàng năm dựa vào chiến lược và giải pháp đã vạch ra để lập
ra các chỉ tiêu cụ thể phải đạt được trong năm kế hoạch Nó cũng đưa ra kế
hoạch hành động, nghĩa là các biện pháp phải tổ chức thực hiện để đạt được
những chỉ tiêu đó và cũng là để chiến lược kinh doanh được thực hiện
1.1.6 Lựa chọn chiến lược
Trang 24- Chiến lược phát triển thị trường: Loại này hướng tới việc tăng trưởng
bằng cách đưa những sản phẩm dịch vụ hiện có vào những khu vực địa lý
mới Loại này đòi hỏi công ty phải có khả năng tiếp cận và xâm nhập thị
trường mạnh mẽ
- Chiến lược thâm nhập thị trường: Chiến lược này nhắm đến việc tăng
trưởng cho sản phẩm hiện tại trong thị trường hiện nay Chiến lược này được
sử dụng rộng rãi như một chiến lược đơn độc và thường kết hợp với các chiến
lược khác
- Chiến lược phát triển sản phẩm: Tìm sự tăng trưởng bằng cách phát triển
những sản phẩm mới chiến lược này đòi hỏi những chi phí nghiên cứu và đầu
tư rất lớn
1.2 Phân tích chiến lược kinh doanh
Trước khi hoạch định chiến lược kinh doanh nhà quản trị cần phải tiến
hành một loạt các phân tích giúp cho chiến lược hình thành có căn cứ khoa
học
Phân tích môi trường kinh doanh: nhằm đưa ra những cơ hôi, đe doạ,
điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp từ đó phát huy các điểm mạnh, khắc
phục những điểm yếu trong việc khai thác các cơ hội và né tránh các đe doạ
từ phía môi trường Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp được phân định
thành môi trường bên ngoài và môi trường bên trong
Phân tích môi trường bên ngoài: phân tích những ảnh hưởng của các
nhân tố bên ngoài tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp nhằm nhận dạng những đe doạ để né tránh, những thời cơ để tận dụng
Phân tích môi trường bên trong: đó là phân tích nhận thức những điểm
mạnh, điểm yếu của bản thân doanh nghiệp so với yêu cầu, nhiệm vụ hoạt
động sản xuất kinh doanh đối với đối thủ cạnh tranh
Trang 25Hệ thống thông tin cũng là một trong những yếu tố quan trọng để xây
dựng cũng như thực hiện chiến lược thông tin phong phú được xử lý tốt kịp
thời, đảm bảo tính sát thực khả thi cho các mục tiêu, phản ánh chiến lược
Môi trường kinh doanh là tập hợp những điều kiện, yếu tố bên ngoài và
bên trong có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp Sự thành công trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
(nếu không tính đến vận may) chỉ xuất hiện khi kết hợp hài hoà các yếu tố bên
trong doanh nghiệp với hoàn cảnh bên ngoài Do sự biến động thất thường
ngày càng tăng trong môi trường kinh doanh trên khắp thế giới, việc kiểm
soát được các yếu tố của môi trường ngày càng trở thành một phần quan
trọng Trong khi đương đầu với điều kiện môi trường phức tạp, diễn biến
nhanh doanh nghiệp phải dựa vào việc phân tích đúng tình hình môi trường
kinh doanh và tình hình hiện tại của mình đồng thời, phải tiên lượng trước xu
hướng biến động của các nhân tố tác động của môi trường đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp để có biện pháp ứng xử phù hợp với điều kiện môi
trường
Môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến tất cả các ngành kinh doanh, nhưng
cách thức và mức độ ảnh hưởng có thể khác nhau Môi trường vi mô được xác
định đối với một ngành cụ thể, với tất cả các hãng trong ngành
1.2.1 Phân tích môi trường vĩ mô
Việc phân tích môi trường vĩ mô giúp doanh nghiệp trả lời được các
câu hỏi: hiện nay doanh nghiệp đang đối phó với những vấn đề gì Mặc dù có
nhiều vấn đề khác nhau của môi trường vĩ mô, có 5 yếu tố quan trọng bao
trùm là:
- Các yếu tố kinh tế: ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp trên mọi mặt
hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm các yếu tố: tốc độ tăng trưởng, chu kỳ
kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, lãi suất ngân hàng, chính sách tài khoá, chính
sách tiền tệ, chính sách ngoại thương, cán cân thanh toán, cán cân ngân sách,
Trang 26cán cân thương mại, thu nhập quốc dân… Mỗi yếu tố trên đều có thể là cơ hội
cũng là mối đe doạ đối với sự phát triển kinh doanh của doanh nghiệp Việc
phân tích các yếu tố kinh tế giúp cho nhà quản lý tiến hành các dự báo và đưa
ra các kết luận về những xu thế chính của sự biến đổi của môi trường tương
lai là cơ sở cho các dự báo ngành và dự báo thương mại
- Yếu tố chính trị và pháp luật: Các thể chế kinh tế xã hội như các chính
sách quy chế, định chế, luật lệ, chế độ tiền lương, thủ tục hành chính do chính
phủ đề ra cũng như mức độ ổn định về chính trị, tính bền vững của chính phủ
đều là môi trường có thể tạo cơ hội hay nguy cơ đối với việc kinh doanh và
nhiều khi quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp
- Các yếu tố xã hội: dân số, tỷ lệ tăng dân số, cơ cấu dân cư, tôn giáo,
chuẩn mực đạo đức, phong tục tập quán, giá trị văn hoá cộng đồng doanh
nhân đều có tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Là nhân tố
chính trong việc hình thành thị trường sản phẩm và thị trường các dịch vụ yếu
tố sản xuất
Các yếu tố xã hội thường biến đổi chậm nên các doanh nghiệp thường
dễ lãng quên khi xem xét những vấn đề chiến lược, một số trường hợp đưa
doanh nghiệp đến thảm hoạ
- Các yếu tố tự nhiên: Khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, môi
trường tự nhiên được coi là những yếu tố quan trọng đối với sự phát triển cho
nhiều ngành công nghiệp và các doanh nghiệp Sự khai thác tài nguyên bừa
bãi, nạn ô nhiễm môi trường đang đặt ra cho các doanh nghiệp những định
hướng như thay thế nguồn nguyên liệu, tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả cao
nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Yếu tố công nghệ: Ngày nay tiến bộ khoa học kỹ thuật và những áp
dụng tiến bộ đó vào lĩnh vực sản xuất và quản lý đang ảnh hưởng rất lớn đến
các doanh nghiệp Chu kỳ sống của sản phẩm và vòng đời công nghệ ngắn
dần, sự tiến bộ trong công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ siêu
Trang 27dẫn đang được sử dụng như những thế mạnh quan trọng nhằm tăng khả năng
cạnh tranh Sự phát triển của khoa học kỹ thuật có thể tác động sâu sắc đến
sản phẩm dịch vụ thị trường, nhà cung cấp, nhà phân phối, người cạnh tranh,
khách hàng, quá trình sản xuất và vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp Tiến bộ
kỹ thuật có thể tạo ra những thị trường mới, sản phẩm mới làm thay đổi vị trí
giá cả cạnh tranh có quan hệ trong một ngành và làm cho những sản phẩm
dịch vụ hiện có trở nên lỗi thời Những thay đổi kỹ thuật có thể làm giảm đi
hoặc loại trừ hàng rào giá cả giữa doanh nghiệp Tiến bộ kỹ thuật có thể tạo ra
những ưu thế cạnh tranh mới, mạnh mẽ hơn các ưu thế hiện có Ngày nay
không có doanh nghiệp hay ngành công nghiệp nào mà tự cách ly với sự phát
triển công nghệ đang xuất hiện
1.2.2 Phân tích môi trường vi mô ( môi trường ngành)
Môi trường vi mô bao gồm các yếu tố trong ngành là yếu tố ngoại cảnh
đối với doanh nghiệp Môi trường vi mô quyết định tính chất và mức độ cạnh
tranh trong ngành kinh doanh đó Để xây dựng một chiến lược kinh doanh
thắng lợi các nhà quản trị cần phải phân tích những yếu tố trong môi trường
một cách sâu sắc và toàn diện qua đó nhận diện những mặt mạnh và mặt yếu
của mình để đưa ra các đối sách thích hợp tận dụng các cơ hội và né tránh các
nguy cơ do môi trường ngành đem lại Các tác lực vi mô gây ảnh hưởng trực
tiếp đối với doanh nghiệp
- áp lực của khách hàng: khách hàng là những người mua sản phẩm
của doanh nghiệp là nhân tố quan trọng của hoạt động kinh doanh Kinh
doanh phải đảm bảo lợi ích cho khách hàng và tìm mọi biện pháp để thoả mãn
cao nhất nhu cầu của khách hàng Nhu cầu của khách hàng là một phạm trù
không giới hạn, doanh nghiệp nào biết khai thác và biến nhu cầu của họ thành
cầu của doanh nghiệp thì doanh nghiệp đó nắm chắc phần thắng trong kinh
doanh, doanh nghiệp nào không chú ý đến điều này, trước sau cũng sẽ bị thất
bại
Trang 28- Sự cạnh tranh của các đối thủ trong ngành: Đối thủ cạnh tranh là các
công ty đang hoạt động cùng ngành kinh doanh với doanh nghiệp đang tìm
các tăng doanh thu bán hàng, tăng lợi nhuận bằng các biện pháp, chính sách
tạo ra những bất lợi cho doanh nghiệp Khả năng cung ứng của tất cả các đối
thủ cạnh tranh trong một ngành tạo ra cung sản phẩm/dịch vụ trên thị trường
Số lượng, quy mô, sức mạnh của từng đối thủ cạnh tranh đều ảnh hưởng đến
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Tuy nhiên, cần chú ý rằng mức độ
ảnh hưởng của các đối thủ còn gắn với thị trường bộ phận: thông thường chỉ
các đối thủ ở cùng khu vực thị trường bộ phận mới ảnh hưởng đến hoạt động
kinh doanh của nhau Phạm trù thị trường rộng hay hẹp lại tuỳ thuộc vào đặc
điểm của sản phẩm/dịch vụ và các điều kiện địa hình, giao thông, cơ sở hạ
tầng
- Đối thủ tiềm năng: gồm những doanh nghiệp chưa có mặt trong lĩnh
vực hoạt động đó nhưng có khả năng tham gia vào ngành trong tương lai Tác
động của những doanh nghiệp này đối với hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp đến đâu hoàn toàn phụ thuộc vào vào sức mạnh cạnh tranh của các
doanh nghiệp đó
Theo M.Porter, những nhân tố sau tác động đến quá trình tham gia thị
trường của các đối thủ mới: các rào cản thâm nhập thị trường, hiệu quả kinh
tế của quy mô, bất lợi về chi phí do nguyên nhân khác, sự khác biệt hoá sản
phẩm, yêu cầu về vốn cho sự thâm nhập, chi phí chuyển đổi, sự tiếp cận
đường dây phân phối, các chính sách thuộc quản lý vĩ mô
- Sức ép của sản phẩm thay thế: là sản phẩm của đối thủ cạnh tranh
hay của một ngành khác có thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thay
cho những sản phẩm mà doanh nghiệp đang cung cấp Sản phẩm thay thế là
một trong những nhân tố quan trọng tác động đến quá trình tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp Càng nhiều loại sản phẩm thay thế xuất hiện bao nhiêu sẽ
Trang 29càng tạo ra sức ép lớn đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp bấy
nhiêu
- Quyền lực của nhà cung cấp: Các nhà cung cấp hình thành thị trường
cung cấp các yếu tố đầu vào khác nhau bao gồm cả người bán thiết bị, nguyên
vật liệu, người cung cấp vốn và những người cung cấp lao động cho doanh
nghiệp Tính chất của các thị trường cung cấp khác nhau sẽ ảnh hưởng ở mức
độ khác nhau đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thị trường mang
tính chất cạnh tranh, cạnh tranh không hoàn hảo hay độc quyền sẽ tác động ở
mức độ khác nhau đến hoạt động mua sắm và dự trữ cũng như tuyển dụng lao
động của từng doanh nghiệp
ảnh hưởng chung của các yếu tố này thường là một sự miễn cưỡng đối
với tất cả các doanh nghiệp, các tác lực này càng mạnh thì khả năng sinh lời
của doanh nghiệp càng bị hạn chế nên để đề ra một chiến lược thành công thì
phải phân tích từng yếu tố chủ yếu đó Sự am hiểu các nguồn sức ép cạnh
tranh giúp doanh nghiệp nhận ra các mặt mạnh, mặt yếu của mình liên quan
đến các cơ hội và nguy cơ mà ngành kinh doanh đó gặp phải
Có thể tóm tắt các tác lực trong môi trường vi mô đối với hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Các tác lực trong môi trường vi mô
Trang 30Để giảm bớt được ảnh hưởng của các tác động ngoại vi, doanh nghiệp cần phải phân tích và hiểu rõ được các thế lực trong môi trường cạnh tranh
đó Từ đó tận dụng các cơ hội, giảm thiểu các nguy cơ và tìm vị trí có lợi nhất
trong môi trường cạnh tranh của mình
1.2.3 Phân tích nội bộ doanh nghiệp
Phân tích môi trường nội bộ doanh nghiệp chú trọng những điểm mạnh, điểm yếu trong quan hệ với các chiến lược cấp bộ phận chức năng của doanh
nghiệp Cần phân tích một cách cặn kẽ các yếu tố nội bộ doanh nghiệp, xác
định rõ các ưu nhược điểm của mình trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp thích
hợp nhằm giảm bớt nhược điểm, phát huy ưu điểm để đạt được lợi thế tối đa
Các đối thủ mới tiềm ẩn
Khách hàng
Nhà
cung
Đối thủ cạnh tranh trong ngành
Sự tranh đua giữa các công ty hiện
có mặt trong ngành
Sản phẩm thay thế
Trang 31Chỉ qua xem xét hoàn cảnh nội bộ của doanh nghiệp cũng thấy rằng sự
sống còn của doanh nghiệp suy cho cùng phụ thuộc vào khả năng doanh
nghiệp có nhận được các nguồn lực từ môi trường bên ngoài hay không Các
nguồn lực chủ yếu để doanh nghiệp tồn tại bao gồm: tiền vốn, con người và
nguyên vật liệu Mỗi bộ phận chức năng của doanh nghiệp chịu trách nhiệm
tìm kiếm hoặc bảo toàn hay nhiều nguồn lực nói trên
1.2.3.1 Nguồn nhân lực
Đây là nguồn tài nguyên lớn và quý nhất Việc quản lý và sử dụng
nguồn nhân lực hiện hữu được coi là một chức năng cốt lõi giữ vai trò quan
trọng trong tiến trình quản trị chiến lược và góp phần quan trọng vào sự thành
công của doanh nghiệp
Các yếu tố nhân lực chủ yếu mà doanh nghiệp cần xem xét là : Bộ máy
lãnh đạo, trình độ tay nghề và tư cách đạo đức của cán bộ công nhân viên,
trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, sử dụng các biện pháp khuyến khích sự
sáng tạo hăng say làm việc của người lao động…
1.2.3.2 Hệ thống tổ chức quản lý
Cần xem xét đến cơ cấu tổ chức, uy tín và quy mô của doanh nghiệp;
phong cách quản lý của bộ máy lãnh đạo; khả năng ra quyết định, khả năng
xây dựng êkip của bộ máy lãnh đạo; năng lực mức độ quan tâm và trình độ
của ban lãnh đạo tổ chức…
1.2.3.3 Khả năng sản xuất, nghiên cứu và phát triển (R&D)
Khả năng sản xuất là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp Thường tập trung chủ yếu vào các vấn đề năng lực
sản xuất như quy mô, cơ cấu, trình độ kỹ thuật sản xuất, hình thức tổ chức quá
trình sản xuất… Các nhân tố trên tác động trực tiếp đến chi phí kinh doanh
cũng như thời hạn sản xuất và đáp ứng cầu về sản phẩm/dịch vụ Đây là một
trong những điều kiện không thể thiếu tạo ra lợi thế cạnh tranh của doanh
nghiệp
Trang 32Việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển thường tạo ra những kết quả
bất ngờ Chất lượng các nỗ lực nghiên cứu phát triển doanh nghiệp có thể
giúp doanh nghiệp giữ vững vị trí đầu ngành hoặc ngược lại làm cho doanh
nghiệp tụt hậu so với các hãng đầu ngành trong các lĩnh vực như: phát triển
sản phẩm mới, chất lượng sản phẩm, kiểm soát giá thành và công nghệ sản
xuất Ngoài ra bộ phận chức năng về nghiên cứu phát triển còn phải thường
xuyên theo dõi các điều kiện môi trường ngoại lai, các thông tin về đổi mới
công nghệ liên quan đến quy trình công nghệ, sản phẩm và nguyên vật liệu
Sự trao đổi thông tin một cách hữu hiệu giữa bộ phận nghiên cứu phát triển
với các hoạt động khác có ý nghĩa hết sức quan trọng đảm bảo sự thành công
của doanh nghiệp
1.2.3.4 Tình hình tài chính và kế toán
Các yếu tố tài chính kế toán có thể tạo ra các ưu, nhược điểm của doanh
nghiệp là:
Khả năng huy động vốn ngắn hạn, dài hạn; nguồn vốn của doanh
nghiệp, tỷ lệ giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu; chi phí vốn so với toàn ngành
và các đối thủ cạnh tranh; vốn lưu động, vòng quay vốn lưu động, sự kiểm
soát giá thành hữu hiệu, quy mô tài chính…
1.2.3.5 Hoạt động Marketing
Có thể hiểu Marketing là quá trình kế hoạch hoá và thực hiện các ý
tưởng liên quan đến việc hình thành, xác định giá cả, xúc tiến và phân phối
hàng hoá dịch vụ để tạo ra sự trao đổi nhằm thoả mãn các mục tiêu của mọi cá
nhân và tổ chức Các ưu nhược điểm về hoạt động marketing của một doanh
nghiệp được thể hiện ở các yếu tố: Các loại sản phẩm dịch vụ của doanh
nghiệp, mức đa dạng hoá sản phẩm, uy tín chất lượng sản phẩm, khả năng thu
thập thông tin cần thiết về thị trường, thị phần, cơ cấu mặt hàng dịch vụ, kênh
phân phối số lượng phạm vi, mức độ kiểm soát… Chiến lược giá, việc quảng
cáo khuyến mại có hiệu quả, dịch vụ sau bán hàng Hoạt động marketing của
Trang 33doanh nghiệp càng có chất lượng và ở phạm vi rộng bao nhiêu doanh nghiệp
càng có thể tạo ra lợi thế chiến thắng các đối thủ cạnh tranh bấy nhiêu
Tóm lại, tất cả những yếu tố nội bộ doanh nghiệp đều có thể tạo thành
những điểm mạnh hay điểm yếu cho doanh nghiệp với nhiều mức độ khác
nhau Những yếu tố nội bộ doanh nghiệp đều có liên quan đến sự hình thành
các chiến lược bộ phận Trên cơ sở phân tích môi trường bên trong của doanh
nghiệp, cần xem xét các chiến lược bộ phận phải được xây dựng như thế nào
để khai thác các điểm mạnh và điều chỉnh, hạn chế các điểm yếu một cách tốt
nhất để đạt được mục tiêu đề ra
Có thể khái quát mối quan hệ giữa các cấp độ môi trường kinh doanh
của công ty cùng các yếu tố tác động ở mỗi cấp độ môi trường:
Trang 34Sơ đồ 1.3 Mối quan hệ giữa các cấp độ môi trường
1.3 Chiến lược giáo dục
Lao động giáo dục là một loại lao động có tính phục vụ (hoặc dịch vụ)
có thể tạo ra giá trị sử dụng đặc biệt cho xã hội, là một loại hoạt động không
có không được trong sản xuất
Giáo dục sản xuất ra khả năng lao động cho người lao động và phát
triển lực lượng sản xuất có hình thái trí thức khoa học cho xã hội Giáo dục có
thể tái sản xuất khả năng lao động của con người, là phương pháp quan trọng
của tái sản xuất lực lượng sản xuất có hình thái tri thức khoa học
Môi trường Vĩ mô
Các yếu tố kinh tế Các yếu tố chính trị và pháp lý
Các yếu tố xã hội Các yếu tố tự nhiên Các yếu tố kỹ thuật công nghệ Môi trường vi mô
Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Sản phẩm thay thế Quyền lực của nhà cung ứng
Quyền lực của khách hàng
Các đối thủ cạnh tranh
Môi trường nội bộ
Nguồn nhân lực
Hệ thống tổ chức quản lý
Tình hình sản xuất
Tình hình Tài chính - KT
Trang 35Chiến lược giáo dục là khái niệm quản lý chỉ toàn bộ quá trình kết hợp,
tổ chức tư tưởng, quan điểm, kế hoạch, biện pháp, nguồn lực cần thiết của con
người và thực hiện chúng một cách thích hợp nhất quán trong thời gian tương
đối dài để thay đổi cục diện công việc hoặc khách thể từ trạng thái hiện tại
đến trạng thái mong muốn Những quá trình này và những hoạt động trong đó
được thiết kế và kế hoạch hoá trong văn bản chiến lược
Về bản chất mọi chiến lược nói chung đều là phương tiện để tạo ra thay
đổi tức là nó gồm tất cả những gì nằm trong khoảng giữa ý đồ, mục đích và
kết quả hoặc giữa khả năng dự kiến và hiện thực đạt được, và kết quả hay
hiện thực mới được tạo ra này phải chứa đựng những thay đổi nhất định từ
bên trong Khuynh hướng và chức năng chủ đạo của mọi chiến lược là phát
triển, chiến lược giáo dục trước hết hướng vào phát triển khách thể (hiện thực
giáo dục, cục diện lý luận trong hoạt động giáo dục, thực trạng quản lý giáo
dục, chất lượng giáo dục, phương pháp giáo dục…)
1.3.1 Khái niệm chiến lược giáo dục
Các chiến lược trong lĩnh vực giáo dục là một khái niệm chỉ toàn bộ
những quá trình kết hợp, tổ chức tư tưởng, quan điểm, biện pháp nguồn lực
cần thiết của con người và thực hiện chúng một cách thích hợp, nhất quán
trong thời gian tương đối dài để thay đổi cục diện sự nghiệp giáo dục (công
tác giáo dục, quy mô và hệ thống cơ cấu giáo dục, chất lượng giáo dục nhà
trường …) từ trạng thái hiện tại đến trạng thái đáng mong muốn Những quá
trình đó được thiết kế và kế hoạch hoá trong văn bản chiến lược giáo dục
Chiến lược giáo dục cũng có hai chức năng cơ bản như mọi chiến lược
khác: chức năng phát triển và chức năng quản lý phát triển Ngày nay các
chiến lược trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội thường có nhiều cấp nhiều
hình thức và nhiều kiểu Trong lĩnh vực giáo dục cũng vậy Các chiến lược
giáo dục có hai cấp cơ bản:
Trang 36- Chiến lược phát triển giáo dục: nối lĩnh vực giáo dục với toàn bộ quá
trình phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia thông qua chính sách giáo dục,
luật giáo dục và những công cụ hành chính khác
- Chiến lược tác nghiệp giáo dục: là những chiến lược bộ phận có chức
năng chủ yếu là giải quyết vấn đề, qua đó tích luỹ những nhân tố và điều kiện
cần thiết để thay đổi cục diện cũ, tạo dần cho những nhân tố mới cho cục diện
mới của giáo dục Chiến lược phát triển giáo dục được hình dung như là một
hành lang chung, một cái khung chung, môt môi trường chung, tự nó chưa có
tác động gì thực tế để thay đổi Nội dung của nó chính là các chiến lược tác
nghiệp giáo dục: các chiến lược phát triển chương trình giáo dục, chiến lược
dạy học, chiến lược học tập, chiến lược quản lý giảng dạy và quản lý học tập,
chiến lược đánh giá, chiến lược tài chính và đầu tư giáo dục, chiến lược giáo
dục khoa học, chiến lược giáo dục ngôn ngữ, chiến lược giáo dục công
nghệ,…
Các chiến lược giáo dục trong điều kiện quản lý nhà nước thống nhất
một chương trình giáo dục quốc gia như Việt nam lại có thể có thêm một cấp
trung gian - đó là chương trình giáo dục quốc gia Chương trình giáo dục là
kiểu chiến lược nối liền chiến lược phát triển giáo dục với các chiến lược tác
nghiệp giáo dục (tức là hoạt động, biện pháp, giải pháp, phương pháp, kỹ
năng giải quyết vấn đề trong các quá trình và quan hệ cụ thể của hệ thống
giáo dục) Nếu không thực hiện kế hoạch chiến lược phát triển giáo dục thông
qua chương trình giáo dục thì nhà trường, giáo viên , người học, các nhà quản
lý và nghiên cứu giáo dục, công chúng xã hội và cha mẹ học sinh … không
biết phải làm những gì Những hoạt động theo chương trình giáo dục chính là
bộ phận chủ đạo để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục Những chiến
lược tác nghiệp giáo dục nếu không hướng vào thực hiện chương trình giáo
dục thì cũng không thể gắn kết được với kế hoạch phát triển giáo dục
1.3.2 Kế hoạch chiến lược giáo dục
Trang 37Là văn bản kế hoạch được sử dụng trong quản lý, có tác dụng dài hạn,
thể hiện kết quả của các hoạt động hoạch định chiến lược và dự kiến các hoạt
động thực hiện kế hoạch chiến lược Kế hoạch chiến lược là phần cốt lõi của
toàn bộ văn bản chiến lược giáo dục nó mang tính định hướng nghiệp vụ và
chuyên môn thuộc lĩnh vực giáo dục Nhờ vậy nội dung văn bản chiến lược
của ngành này không giống nội dung văn bản chiến lược của ngành kia, mặc
dù khung kỹ thuật của mọi văn bản chiến lược đều có thể giống nhau, tuân
theo những quy định, thủ thục hành chính
Hoạch định chiến lược hay lập kế hoạch chiến lược là hoạt động và quá
trình nghiên cứu, điều tra, dự báo tổ chức tư tưởng, lý luận, bộ máy, mục tiêu,
nhiệm vụ… cần thiết để thiết kế và thể hiện những thành phần cơ bản nhất
của một chiến lược dưới hình thức một văn bản có tính chất kế hoạch Nói
cách khác sản phẩm chính của lập kế hoạch chiến lược là bản kế hoạch chiến
lược Những bước cơ bản nhất của quy trình lập kế hoạch chiến lược bao
gồm:
- Chuẩn bị (bộ máy, phương pháp, công cụ, điều kiện…, kể cả truyền
thông và huấn luyện chuyên gia, lập kế hoạch làm việc)
- Xác định và phát biểu sứ mạng, tầm nhìn, đường lối tư tưởng (người
ta có thể dùng chúng để đặt tên cho chiến lược sẽ hoạch định )
- Đánh giá tình huống, phân tích dự báo (thu thập dữ liệu, bằng chứng
và phương pháp luận, lập kế hoạch)
- Phát triển nội dung các chiến lược, xác định mục đích và các mục tiêu
chiến lược (chiến lược gồm những định hướng, vấn đề, nhiệm vụ, nội dung,
lĩnh vực…)
- Hoàn thành văn bản kế hoạch (kiểu văn bản kế có thể khác nhau tuỳ
theo chủ thể lựa chọn phương pháp và kỹ thuật thiết kế)
Có thể xác định chi tiết các bước lập kế hoạch chiến lược giáo dục
Như một số nước phương tây người ta chỉ ra là các bước: quá trình chuẩn bị,
Trang 38phát triển sứ mạng, phát triển tầm nhìn, phát triển và sử dụng các phép đo và
dữ liệu thực hiện Xem xét đánh giá các yếu tố thực tiễn, phân tích tác động
chéo, phát triển văn bản chiến lược, lập kế hoạch hành động, thực hiện và
đánh giá
* Văn bản thực hiện chiến lược giáo dục:
Là loại văn bản hành chính quy định kế hoạch chiến lược, chương trình
hành động thực tế, nguồn lực, phương pháp thực hiện kế hoạch đó, những giải
thích, hướng dẫn và yêu cầu cần thiết về quá trình thực hiện kế hoạch, đánh
giá thực hiện kế hoạch (đánh giá chiến lược trong quá trình xúc tiến và khi kết
thúc nó), điều chỉnh kế hoạch và những phụ lục cần thiết cho biết phương
pháp, quy mô, dữ liệu khoa học, thông số kỹ thuật … đã được thực hiện khi
lập kế hoạch chiến lược, đôi khi có cả những minh chứng nữa nếu gặp vấn đề
phức tạp
Kế hoạch chiến lược là phần chủ yếu thể hiện chiến lược và có vai trò
quan trọng nhất trong văn bản chiến lược, nhưng các thành phần kia cũng
không thể thiếu được Không có chúng thì văn bản chiến lược chỉ đơn giản là
là bản kế hoạch trừu tượng khó hiểu và chưa rõ cách thực hiện, không rõ trách
nhiệm và quan hệ giữa các bên tham gia và những bên hưởng lợi từ chiến
lược đó
Trang 39Chương 2: Phân tích chiến lược và lựa chọn chiến lược phát triển Giáo
dục đào tạo Tại trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Nam Định 2.1 Giới thiệu chung về trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
2.1.1 Giới thiệu chung về trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam
Định
2.1.1.1 Quá trình phát triển của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam
Định
+ Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định tiền thân là Trường
Trung học Công nghiệp Nam Hà được thành lập theo quyết định số 1263
BCNN/KB-1 ngày 21/12/1966 của Bộ Công nghiệp nặng, có nhiệm vụ đào
tạo cán bộ trung cấp
+ Năm 1971 trường thuộc Tổng cục Dạy nghề theo quyết định số
171/TTg ngày 16/6/1971 để làm nhiệm vụ đào tạo giáo viên dạy nghề
+ Năm 1978 trường thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục làm nhiệm
vụ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề
+ Từ 1/7/1998 đến nay trường thuộc Tổng cục Dạy nghề, Bộ Lao
động-Thương binh và Xã hội
+ Từ năm 1992-1999 theo quyết định số 1395/TH-DN ngày 13/7/1992
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, trường được phép đào tạo thí điểm
giáo viên dạy nghề trình độ cao đẳng sư phạm kỹ thuật
+ Từ tháng 5/1999 Trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
được thành lập trên cơ sở Trường Sư phạm Kỹ thuật Nam Định theo quyết
định số 130/1999/QĐ-TTg ngày 28/05/1999 của Thủ tướng Chính phủ
+ Từ ngày 05/ 01/ 2006, Chính phủ đã ký Quyết định số 05/2006/QĐ -
TTg về việc thành lập Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam Định
Trang 40Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định là trường đại học công
lập nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân nước CHXHCN Việt Nam, thuộc
đơn vị sự nghiệp đào tạo, do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập và
giải thể Trường chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Lao động, Thương binh và
Xã hội và chịu sự quản lý về chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo
2.1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ
+ Đào tạo giáo viên dạy nghề, giáo viên kỹ thuật, kỹ sư công nghệ trình
độ đại học và cao đẳng đáp ứng nhu cầu cung cấp nguồn nhân lực cho phát
triển kinh tế xã hội của các tỉnh phía Bắc Khi có đủ điều kiện sẽ đào tạo trình
độ sau đại học
+ Nghiên cứu triển khai ứng dụng khoa học công nghệ, khoa học giáo
dục, đặc biệt về lĩnh vực sư phạm nghề Đồng thời nghiên cứu chuyển giao
khoa học công nghệ
+ Bồi dưỡng, đào tạo lại, nâng cao trình độ đội ngũ công chức, cán bộ
kỹ thuật công nghệ, cán bộ giảng dạy ở trình độ cao theo yêu cầu chuẩn hóa
nghiệp vụ chuyên môn (năng lực sư phạm nghề, cập nhật công nghệ tiên
tiến )
+ Tham gia hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu, trao đổi khoa
học, chuyển giao công nghệ
+ Nhiệm vụ cụ thể:
- Đào tạo trình độ đại học: Cấp bằng kỹ sư sư phạm; kỹ sư công nghệ
- Đào tạo trình độ cao đẳng: Cấp bằng cử nhân cao đẳng
- Đào tạo trình độ trung cấp: Cấp bằng kỹ thuật viên trung cấp
- Đào tạo công nhân kỹ thuật: Cấp bằng nghề
- Đào tạo liên thông theo các hình thức như: Liên thông dọc từ trình độ
công nhân kỹ thuật lành nghề, trình độ cao và trung học chuyên nghiệp lên
cao đẳng, lên đại học theo chuyên ngành Đào tạo ngành thứ hai, theo ngành
sư phạm kỹ thuật, chuyển nghề