1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản tại tổng công ty điện lực miền bắc

139 313 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản và các nhân tố ảnh hưởng từ đó đưa ra các giải pháp nhằm chống thất thoát, lãng phí trong xây dựng c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ

XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC MIỀN BẮC

NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ:

ĐẶNG THỊ THU HÀ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN TIÊN PHONG

Hà Nội 2010

Trang 2

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

1

DANH MỤC VIẾT TẮT STT Ký hiệu Cụm từ viết tắt

1 XDCB Xây dựng cơ bản

2 TSCĐ Tài sản cố định

3 TSLĐ Tài sản lưu động

4 NCTKT Nghiên cứu tiền khả thi

5 NCKT Nghiên cứu khả thi

6 TKKT Thiết kế kỹ thuật

7 CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

8 QLĐTXDCB Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản

9 CNV Công nhân viên

10 KHĐT Kế hoạch đầu tư

11 HSDT Hồ sơ dự thầu

12 KQXT Kết quả xét thầu

13 ĐTXD Đầu tư xây dựng

14 KHCB Khấu hao cơ bản

15 NN Nhà nước

16 PC1 Công ty Điện lực 1

17 ĐT Đầu tư

18 BQL Ban quản lý

19 BQLDALĐ Ban quản lý dự án lưới điện

20 CTLĐ Cải tạo lưới điện

21 VTTB Vật tư thiết bị

Trang 3

22 CBĐT Chuẩn bị đầu tư

23 CBCNV Cán bộ công nhân viên

24 TNHH Trách nhiệm hữu hạn

25 KH Kế hoạch

26 GPMB Giải phóng mặt bằng

27 QLDA Quản lý dự án

28 BCĐT Báo cáo đầu tư

29 BCQT Báo cáo quyết toán

30 XL Xây lắp

31 NLNT Năng lượng nông thôn

32 HSMT Hồ sơ mời thầu

Trang 4

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

3

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 - Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình 14

Bảng 1.2 - Các giai đoạn của chu kỳ dự án đầu tư 17

Bảng 2.1 - Quy mô đường dây cao, trung và hạ áp tại Công ty điện lực 1 47

Bảng 2.2 - Quy mô các trạm biến áp tại Công ty điện lực 1 48

Bảng 2.3 - Vốn đầu tư ngành Điện giai đoạn 2002 -2020 51

Bảng 2.4 - Vốn đầu tư EVN giai đoạn 2002 -2020 52

Bảng 2.5 - Tổng công suất đặt các nguồn điện năm 2008 54

Bảng 2.7 - Công tác đấu thầu tại Công ty Điện lực 1 năm 2007 55

Bảng 2.8 - Công tác đấu thầu tại Công ty Điện lực 1 năm 2008 55

Bảng 2.9 - Kết quả thực hiện năm 2007 57

Bảng 2.10 - Kết quả thực hiện năm 2008 62

Bảng 2.11 - Tổng kết đánh giá các tồn tại trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại Công ty Điện lực 1 99

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 - Chu trình dự án đầu tư 15

Sơ đồ 1.2 - Các giai đoạn của chu trình dự án đầu tư 16

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Thương phẩm theo 5 thành phần phụ tải 52

Trang 6

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

5

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN 11

1.1 Các khái niệm cơ bản 11

1.1.1 - Khái niệm về xây dựng cơ bản và quản lý xây dựng cơ bản 11

1.1.2 - Các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư 12

1.1.3 - Chi phí và kết quả đầu tư 13

1.2 Phân loại dự án đầu tư 13

1.2.1 - Phân loại dự án đầu tư theo quy mô và tính chất 13

1.2.2 - Phân loại dự án đầu tư theo lĩnh vực đầu tư 14

1.3 Chu trình dự án đầu tư 15

1.3.1 - Chuẩn bị đầu tư 17

1.3.2 - Thực hiện đầu tư - xây dựng 18

1.3.3 - Hoàn thành kết thúc đầu tư 19

1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả dự án đầu tư 20

1.4.1 - Chỉ tiêu đánh giá tiềm lực tài chính 20

1.4.2 - Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư 20

1.4.3 - Các chỉ tiêu đánh giá công tác xây dựng cơ bản 22

1.5 Các đặc điểm xây dựng cơ bản trong các Công ty Điện lực – Doanh nghiệp kinh doanh phân phối Điện 24

1.5.1 - Các đặc điểm xây dựng cơ bản trong một đơn vị kinh doanh bán điện 24

1.5.2 - Những thay đổi sau khi thành lập Tổng công ty Điện lực Miền Bắc 30

1.6 Các nội dung của công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản ngành Điện 32

1.6.1 - Giai đoạn chuẩn bị đầu tư 32

1.6.2 - Giai đoạn thực hiện đầu tư 34

1.6.3 - Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng 36

1.7 Đánh giá công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản 36

1.7.1 - Chỉ tiêu về thời gian 37

1.7.2 - Chỉ tiêu về chi phí dự án 38

1.7.3 - Chỉ tiêu về chất lượng dự án 39

1.8 Các phương hướng để hoàn thiện công tác quản lý đầu tư các công trình xây dựng cơ bản 42

1.9 Kết luận chương 1 43

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC 1 44

2.1 Khái quát về tình hình đầu tư và kết quả đầu tư XDCB của Công ty Điện lực 1 44

2.1.1 - Giới thiệu khái quát về Công ty Điện Lực 1 44

2.1.2 - Các đặc điểm chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh 47

2.1.3 - Các đặc điểm về chính sách nguồn vốn 50

2.1.4 - Các đặc điểm đầu tư XDCB tại Công ty Điện lực 1 52

2.1.5 - Kết quả đầu tư XDCB trong Công ty Điện lực 1 53

2.2 Phân tích đánh giá công tác quản lý đầu tư XDCB tại Công ty Điện lực 1 69

Trang 7

2.2.1 - Phân tích tổng quan công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản tại Công ty Điện

lực 1 69

2.2.2 - Tổng quan vế các tồn tại trong công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản tại Công ty Điện lực 1 81

2.2.3 - Một số nguyên nhân chủ yếu 82

2.3 Kết luận chương 2 100

CHƯƠNG 3 101

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI TỔNG CÔNG TY ĐIỆN LỰC MIỀN BẮC 101

3.1 Khái quát chung về hoàn thiện công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản 101

3.2 Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản tại Tổng Công ty Điện lực Miền Bắc 104

3.2.1 - Giải pháp về quản lý thời gian và tiến độ dự án xây dựng 104

3.2.2 - Giải pháp về quản lý chi phí dự án 107

3.2.3 - Giải pháp về quản lý chất lượng dự án 115

3.3 Kết luận chương 3 128

KẾT LUẬN 129

TÀI LIỆU THAM KHẢO 131

PHỤ LỤC 132

TÓM TẮT LUẬN VĂN 136

ABSTRACT 137

Trang 8

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Công tác xây dựng cơ bản trong thời gian qua đã gặt hái được những thành công to lớn, đất nước ngày một thay da đổi thịt, cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn, cơ sở vật chất do các thành tựu kinh tế mang lại trong đó có sự đóng góp của công tác xây dựng cơ bản là điều không thể phủ nhận Song trong những thành công mà cả nước đạt được còn có những vấn đề hiện nay trở thành những điểm nóng gây bức xúc cho xã hội và dư luận đó là tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

Từ thuở sơ khai, Năng lượng – Lửa là yếu tố quyết định giúp vượn người thoát khỏi thế giới động vật Từ bấy đến nay năng lượng ngày càng chứng tỏ vai trò đặc biệt quan trọng của nó trong quá trình phát triển kinh tế -

xã hội của loài người, trở thành vấn đề mang tính toàn cầu

Đối với Việt Nam, trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhu cầu năng lượng đang tăng nhanh, việc xây dựng chính sách năng lượng, để sử dụng hiệu quả năng lượng trong mối quan hệ giữa năng lượng kinh tế và môi trường là những vấn đề rất quan trọng Với nền kinh tế đang phát triển như ở Việt Nam, mà trong đó điện năng là loại năng lượng chiếm tỷ

lệ cao thì việc phát triển ngành Điện phục vụ cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa lại càng quan trọng

Hiện nay nhu cầu sử dụng điện năng trong nước rất lớn Trong khi đó,

hệ thống lưới điện quốc gia ở tình trạng quá tải do các công trình cấp điện trước đây không đủ đáp ứng nhu cầu phụ tải

Công ty Điện lực 1 (nay là Tổng công ty điện lực Miền Bắc) là một doanh nghiệp Nhà nước có nhiệm vụ chủ yếu là kinh doanh điện năng - một ngành được coi là hạ tầng cơ sở, tạo đà phát triển cho nền kinh tế Hơn thế nữa, với địa bàn quản lý rộng lớn trải dài phía Bắc có nhiều vùng dân cư thưa thớt, điều kiện kinh doanh khó khăn thì để đảm bảo cung cấp điện an toàn liên tục ổn định với chất lượng ngày càng cao, đồng thời lại phải đạt hiệu quả kinh

tế cao nhất thì phải có những giải pháp nâng cao hiệu quả chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

Thời gian qua, nhiều vụ việc liên quan đến lãng phí, tiêu cực, tham nhũng trong đầu tư xây dựng đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin, báo chí, truyền hình làm cho nhiều người quan tâm theo dõi với những băn khoăn suy nghĩ khác nhau: trong đầu tư xây dựng thất thoát là bao nhiêu, có phải đến 20-30% giá trị đầu tư bị thất thoát như dư luận lâu nay; những công trình, dự án được thanh tra kiểm tra đều phát hiện lãng phí thất thoát hàng ngàn tỷ đồng; còn trên 80% dự án chưa thanh tra kiểm tra thì có hay không có

Trang 9

thất thoát Không chỉ dư luận xã hội quan tâm đến vấn đề nâng cao hiệu quả đầu tư, chống thất thoát, lãng phí, tiêu cực trong đầu tư xây dựng hiện nay,

mà sự quan tâm này đã là ý chí chính trị của Đảng và Nhà nước trong nhiều năm qua, là vấn đề nóng bỏng luôn được nêu ra trong các kỳ Đại hội của Đảng và Chính phủ

Để đẩy lùi tình trạng thất thoát, lãng phí, tiêu cực trong đầu tư xây dựng cơ bản, Đảng và Nhà nước cũng đã sử dụng nhiều giải pháp, công cụ, chính sách nhằm ngăn chặn vấn nạn này Mặc dù những nỗ lực chỉ đạo đó là rất to lớn và đáng ghi nhận nhưng đây vẫn thực sự là một khâu còn nhiều hạn chế và bất cập trong quản lý Nhà nước của Chính phủ và chính quyền các cấp

Trên thực tế, việc thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản là

có thật và nghiêm trọng, nó xảy ra trong mọi khâu của quá trình xây dựng, từ quy hoạch, thiết kế, đấu thầu, thi công, thanh toán và xảy ra ở các cấp, các ngành với nhiều nguyên nhân phức tạp

Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản và các nhân tố ảnh hưởng từ đó đưa ra các giải pháp nhằm chống thất thoát, lãng phí trong xây dựng cơ bản hiện nay là mục tiêu nghiên cứu của đề tài “Phân tích và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản tại Tổng Công ty Điện lực Miền Bắc” sẽ góp phần tìm ra những giải pháp khắc phục tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu

tư XDCB Nhà nước mà cụ thể là của Tổng Công ty Điện lực Miền Bắc nói riêng cũng như lĩnh vực XDCB nói chung

Quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản là một yêu cầu rất quan trọng Công tác nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng, cả trên phương diện tài chính cũng như hiệu quả kinh tế xã hội, đòi hỏi phải quản lý tốt quá trình đầu tư bao gồm tất cảc các giai đoạn từ nghiên cứu cơ hội đầu tư đến giai đoạn vận hành các kết quả đầu tư Vậy công tác quản lý dự án, đầu tư xây dựng và nội dung phương pháp hoàn thiện công tác lý dự án đầu tư là vô cùng quan trọng

Một trong những biện pháp đổi mới công tác quản lý dự án giúp các doanh nghiệp có điều kiện nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý dự án đầu tư là phải có giải pháp nhằm hạn chế các tình trạng yếu kém tồn tại trong từng giai đoạn trong quá trình chuẩn bị, thực hiện đầu tư xây dựng Các giải pháp nhằm chấn chỉnh các yếu kém tồn tại trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng phải được tiến hành đồng bộ và thường xuyên Để thực hiện có hiệu quả trước hết phải xây dựng các biện pháp nhằm và hoàn thiện và nâng cao công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt được các mục đích cơ bản sau:

Trang 10

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

9

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về công tác xây dựng cơ bản trong ngành Điện Những chỉ tiêu thường được sử dụng trong đánh giá công tác quản lý dự án

- Dựa vào cơ sở lý luận đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá hiện trạng công tác quản lý dự án - đầu tư xây dựng cơ bản của Công ty điện lực 1 trong những năm gần đây để thấy thực trạng công tác quản lý dự án của Công ty Điện lực 1 trong những năm gần đây Những tồn tại, nguyên nhân để có hướng giải quyết

- Trên cơ sở vận dụng những vấn đề lý luận và thực tiễn đưa ramột số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đầu tư xây cơ bản tại Tổng Công ty Điện lực Miền Bắc

Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án, đầu tư xây dựng cơ bản các công trình điện của Tổng Công ty Điện lực Miền Bắc Các giải pháp tập trung trên các nội dung của công tác quản lý dự án mà Công ty Điện lực 1 còn thực hiện chưa tốt

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý xây dựng cơ bản của Công ty Điện lực 1, các dạng thất thoát, lãng phí trong dự án đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Tình hình đầu tư XDCB của Công ty Điện lực 1 Kết quả, tồn tại và đề xuất khắc phục

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng phương pháp hệ thống hoá phân tích hiện trạng, tổng hợp phương pháp thống kê những số liệu cần thiết liên quan đến đề tài, phân tính và tổng hợp các số liệu đó Trong quá trình phân tích những điều kiện hoạt động thực tiễn, đặc trưng cơ bản của công ty

và công tác quản lý dự án đầu tư của Công ty Điện lực 1 Phân tích các số liệu

cụ thể, so sánh số liệu đó theo những tiêu chí nhất định Tổng hợp các phân tích để tìm ra kết luận

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trên cơ sở hệ thống hóa những lý luận chung và trên cơ sở những số liệu cụ thể của Công ty Điện lực 1 về tình hình đầu tư XDCB từ nguồn vốn Nhà nước qua đó thấy hiện trạng đạt được, chưa đạt được biểu hiện ở từng khâu đầu tư XDCB Từ đó đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư XDCB nhằm đẩy lùi và ngăn ngừa tình trạng này trong giai đoạn hiện nay và phát triển môi trường đầu tư xây dựng lành mạnh về sau

Trang 11

Góp phần làm rõ thêm những lý luận về công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng, nét đặc trưng cơ bản của đầu tư xây dựng công trình điện; cũng như các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý dự án đầu tư

Phân tích, đánh giá hiện trạng của công tác quản lý dự án và hiệu quả của công tác quản lý dự án – đầu tư xây dựng của Công ty Điện lực I;

Đề suất một số giải pháp phù hợp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại Công điện lực I (nay là Tổng công ty Điện lực Miền Bắc)

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản

Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản tại Công ty Điện lực 1

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản tại Tổng Công ty Điện lực Miền Bắc

Trong quá trình thực hiện, tuy đã nỗ lực cố gắng song do kiến thức, khả năng và điều kiện nghiên cứu còn hạn chế vì vậy những kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu do đó không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý và bổ sung của các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn để Luận Văn của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành cùng lòng biết ơn sâu sắc nhất đến

TS Nguyễn Tiên Phong - người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi tận tình

để hoàn thành bản luận văn này, cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các giáo

sư, tiến sĩ, giảng viên khoa Kinh Tế và Quản Lý, Bộ môn Kinh Tế Năng Lượng trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội; các anh chị, cô chú tại Ban quản

lý dự án lưới điện - Tổng Công ty Điện lực Miền Bắc, các bạn trong lớp và đặc biệt là những người thân trong gia đình đã luôn ủng hộ và giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày……tháng……năm……

Học viên thực hiện: Đặng Thị Thu Hà

Trang 12

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

11

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ

XÂY DỰNG CƠ BẢN

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 - Khái niệm về xây dựng cơ bản và quản lý xây dựng cơ bản

* Khái niệm về đầu tư

Đầu tư là hoạt động sử dụng các tài nguyên trong một thời gian tương

đối dài nhằm thu lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội, là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai

Các nguồn lực sử dụng có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản tài chính hoặc tài sản trí tuệ và các nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn xã hội

Trong thực tế, có rất nhiều hình thái biểu hiện cụ thể của đầu tư Một trong những tiêu thức thường được sử dụng đó là tiêu thức quan hệ quản lý của đầu tư Theo tiêu thức này, đầu tư được chia thành đầu tư gián tiếp và đầu

tư trực tiếp

- Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực tiếp

tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư

- Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham

gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư Đầu tư trực tiếp lại bao gồm đầu tư dịch chuyển và đầu tư phát triển

+ Đầu tư dịch chuyển là một hình thức đầu tư trực tiếp trong đó việc bỏ

vốn là nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị của tài sản Thực chất trong đầu

tư dịch chuyển không có sự gia tăng giá trị tài sản

+ Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp Hoạt động

đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch

vụ và sinh hoạt đời sống xã hội Đây là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ Hình thức đầu tư này đóng vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế tại mỗi quốc gia

Trong các hình thức đầu tư trên, đầu tư phát triển là tiền đề, là cơ sở cho các hoạt động đầu tư khác Các hình thức đầu tư gián tiếp, dịch chuyển không thể tồn tại và vận động nếu không có đầu tư phát triển

Trang 13

- Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải thực hiện với phương pháp riêng và theo một kế hoạch tiến

độ nhằm tạo ra một thực thể mới

Dự án đầu tư: Đầu tư phát triển có vai trò quan trọng đối với sự phát

triển của một quốc gia, là một lĩnh vực hoạt động nhằm tạo ra và duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền kinh tế

Có nhiều khái niệm về dự án đầu tư đã được đưa ra trong quá trình nghiên cứu, xin được trích dẫn một số khái niệm thường được sử dụng:

- Dự án đầu tư là tổng thể các biện pháp nhằm sử dụng các nguồn lực

tài nguyên hữu hạn vốn có để đem lại lợi ích thực cho xã hội càng nhiều càng tốt

- Theo giải thích trong Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 2 năm 2009 của Chính

phủ, tại Điều 5: “Dự án đầu tư là một tập hợp các đề xuất có liên quan đến

việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về mặt số lượng hoặc duy trì, cải tiến nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định (Chỉ

bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp)”

Đầu tư là một khoa học về quá trình bỏ vốn ở thời điểm hiện tại nhằm mục đích thu được hiệu quả lớn hơn trong tương lai Vốn bỏ vào đầu tư gọi là vốn đầu tư

Công tác đầu tư có nội dung liên ngành rất tổng hợp, có nhiệm vụ cung cấp những kiến thức khoa học và những kinh nghiệm thực tiễn về đầu tư để giúp các nhà đầu tư thực hiện kế hoạch đầu tư của mình với hiệu quả tài chính

và hiệu quả kinh tế - xã hội tốt nhất, cũng như để giúp các cơ quan quản lý của Nhà nước thực hiện quản lý đầu tư ở cấp vĩ mô với hiệu quả cao nhất

Mặt khác, kinh tế đầu tư cũng là một lĩnh vực quản lý kinh tế quan trọng nhất của Nhà nước, một hoạt động kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp,

vì lĩnh vực này có ảnh hưởng quyết định đối với sự phát triển của các doanh nghiệp và đất nước

Hoạt động đầu tư cơ bản bằng cách tiến hành xây dựng để tạo ra các TSCĐ được gọi là đầu tư XDCB Đầu tư XDCB là một hình thức đầu tư nói chung, trong đó mục đích bỏ vốn được xác định và giới hạn trong phạm vi tạo

ra những sản phẩm XDCB

Đầu tư XDCB đóng vai trò quyết định, gắn liền với việc nâng cao cơ sở vật chất của nền kinh tế và năng lực sản xuất của doanh nghiệp Nó đòi hỏi một khoản vốn lớn và cần được tính toán chuẩn xác, quản lý một cách chặt chẽ nếu không sẽ dẫn đến sự lãng phí tiền của rất lớn của Nhà nước

1.1.2 - Các đặc trưng cơ bản của hoạt động đầu tư

Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn nhằm thu lợi trong tương lai

Không phân biệt hình thức thực hiện, nguồn gốc của vốn…mọi hoạt động có các đặc trưng nêu trên đều được coi là hoạt động đầu tư

Trang 14

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

13

- Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn nên quyết định đầu tư trước hết

là quyết định sử dụng các nguồn lực mà biểu hiện cụ thể dưới các hình thái khác nhau như tiền, đất đai, tài sản, vật tư thiết bị, giá trị trí tuệ…

- Hoạt động đầu tư là hoạt động có tính chất lâu dài: xác suất biến đổi

nhất định do nhiều nhân tố Chính điều này là một trong những vấn đề hệ trọng phải tính đến trong mọi nội dung phân tích, đánh giá của quá trình thẩm định dự án

- Hoạt động đầu tư là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai: Đầu tư về một phương diện nào đó là một sự

hy sinh hiện tại để đổi lấy lợi ích trong tương lai

- Hoạt động đầu tư là hoạt động luôn chứa đựng yếu tố rủi ro: Các đặc

trưng nói trên đã cho thấy hoạt động đầu tư là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro

1.1.3 - Chi phí và kết quả đầu tư

* Chi phí đầu tư

Theo tính chất của các loại chi phí có thể chia ra hai loại chính:

- Chi phí đầu tư cố định: Đất đai, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, các cơ sở

phụ trợ, tiện ích khác và các chi phí trước vận hành

Phần chi phí trước vận hành tuy không trực tiếp tạo ra tài sản, phương tiện phục vụ cho hoạt động đầu tư nhưng là các chi phí gián tiếp hoặc liên quan đến việc tạo ra và vận hành khai thác các tài sản đó để đạt được mục tiêu đầu tư Thông thường chi phí này phụ thuộc vào công suất lắp đặt của công trình

- Vốn lưu động ban đầu: là các chi phí để tạo ra các tài sản lưu động ban

đầu, các điều kiện để dự án có thể đi vào hoạt động bình thường theo các điều kiện kinh tế kỹ thuật dự tính Thông thường chi phí này phụ thuộc vào quy

mô vận hành công trình

* Kết quả đầu tư

Kết quả đầu tư là những biểu hiện của mục tiêu đầu tư dưới dạng các lợi ích cụ thể Kết quả đầu tư có thể biểu hiện ở các dạng: Kết quả tài chính; Kết quả kinh tế; Kết quả xã hội

1.2 Phân loại dự án đầu tư

Có nhiều cách phân loại dự án đầu tư, tuỳ theo mục đích và phạm vi xem xét Ở đây tác giả chỉ nêu ra hai cách phân loại sau:

1.2.1 - Phân loại dự án đầu tư theo quy mô và tính chất

Theo Nghị định của Chính phủ số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình thì các dự án đầu tư xây dựng được phân loại như sau:

Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua và cho phép đầu tư, các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, C

Trang 15

Bảng 1.1 - Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình

Nhóm Tổng mức đầu tư Loại dự án đầu tư xây dựng công trình

Theo nghị quyết

của Quốc hội Dự án quan trọng Quốc gia

A Không kể mức vốn Các dự án đầu tư xây dựng công trình: thuộc lĩnh vực bảo vệ an ninh, quốc phòng có tính chất bảo mật

quốc gia, có ý nghĩa chính trị – xã hội quan trọng

A Không kể mức vốn Các dự án đầu tư xây dựng công trình: sản xuất chất độc hại, chất nổ, hạ tầng khu công nghiệp

(Nguồn: Nghị định 12/2009/NĐ-CP về Quản lý đầu tư và xây dựng)

1.2.2 - Phân loại dự án đầu tư theo lĩnh vực đầu tư

Theo cách phân loại này, dự án đầu tư có thể phân chia thành:

- Dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh,

- Dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật,

- Dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng (kỹ thuật và xã hội)…,

Hoạt động của các dự án đầu tư này có quan hệ tương hỗ với nhau Chẳng hạn các dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật và cơ sở hạ tầng tạo

Trang 16

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

15

điều kiện cho các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, còn các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh đến lượt mình lại tạo điều kiện cho các dự án đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng và các dự án đầu tư khác

Dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh lại có thể phân thành dự án đầu tư thương mại và dự án sản xuất:

- Dự án đầu tư thương mại là dự án đầu tư có thời gian thực hiện đầu tư

và hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngắn, tính chất bất định không cao lại dễ dự đoán và dự đoán dễ đạt độ chính xác cao

- Dự án đầu tư sản xuất là loại dự án đầu tư có thời hạn hoạt động dài (5, 10, 20 năm hoặc lâu hơn), vốn đầu tư lớn thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu tư lâu, độ mạo hiểm cao, tính chất kỹ thuật phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố bất động trong tương lai, không thể dự đoán hết và dự đoán chính xác được (về nhu cầu, giá cả đầu vào và đầu ra, cơ chế chính sách, tốc

độ phát triển khoa học kỹ thuật, thiên tai, sự bất ổn về chính trị…)

1.3 Chu trình dự án đầu tư

Nội dung công tác xây dựng cơ bản

Hoạt động đầu tư XDCB được chia làm 3 giai đoạn:

Sơ đồ 1.1 - Chu trình dự án đầu tư

- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư, quy

mô đầu tư, khảo sát, chọn địa điểm xây dựng

- Giai đoạn thực hiện đầu tư: Xin đất, xin giấy phép xây dựng, thực hiện khảo sát, thiết kế, thẩm định, phê duyệt thiết kế, tổng dự toán

- Giai đoạn kết thúc dự án: Nghiệm thu, bàn giao, vận hành, quyết toán vốn đầu tư

Thực hiện đầy đủ các bước trên là cơ sở để khắc phục những khó khăn, tồn tại do đặc điểm của sản xuất xây dựng tạo ra Trước khi triển khai bước tiếp theo thì bước trước phải được thực hiện nghiêm chỉnh, đúng quy trình, quy phạm và đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt Việc chấp hành trình

Giai đoạn chuẩn bị đầu tư

Giai đoạn thực hiện đầu tư

Giai đoạn kết thúc dự án

Trang 17

tự đầu tư xây dựng có ảnh hưởng rất lớn, có tính chất quyết định không những đối với chất lượng công trình mà còn ảnh hưởng rất lớn đến thất thoát, lãng phí, tạo cơ sở cho tham nhũng về vốn và tài sản trong hoạt động đầu tư xây dựng, làm tăng chi phí xây dựng của công trình, hiệu quả đầu tư thấp Đồng thời nếu không quản lý tốt tiến độ thực hiện giữa các giai đoạn sẽ dẫn đến sự kéo dài về thời gian gây lãng phí, thất thoát vốn đầu tư

Các giai đoạn kế tiếp nhau trong quá trình hình thành và vận hành dự

án Các giai đoạn trong chu trình dự án có thể mô tả theo (sơ đồ 1.2):

Sơ đồ 1.2 - Các giai đoạn của chu trình dự án đầu tư

(Nguồn: Thẩm định và giám sát đầu tư – TS Cao Văn Bản 2003)

Nghiên cứu cơ hội (Nhận dạng dự án)

Nghiên cứu tiền khả thi

Nghiên cứu khả thi

Trang 18

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

17

1.3.1 - Chuẩn bị đầu tư

* Nghiên cứu cơ hội đầu tư (nhận dạng dự án, xác định dự án)

Đây là những ý tưởng ban đầu được hình thành trên cơ sở cảm tính trực quan của nhà đầu tư trên cơ sở quy hoạch định hướng của vùng, của khu vực hay của quốc gia, quy hoạch tổng thể phát triển ngành Thường giai đoạn này kết thúc bằng một kế hoạch mang tính chất chỉ đạo về hướng đầu tư và hình thành tổ chức nghiên cứu

Bảng 1.2 - Các giai đoạn của chu kỳ dự án đầu tư

Vận hành kết quả đầu tư (SX, KD,DV)

án - BCKT KT)

Đánh giá và quyết định (thẩm định

dự án)

Hoàn tất các thủ tục

để triển khai thực hiện đầu tư

Thiết

kế và lập dự toán thi công xây lắp công trình

Thi công xây lắp công trình

Chạy thử và nghiệm thu sử dụng

Sử dụng chưa hết công suất

Sử dụng công suất

ở mức cao nhất

Công suất giảm dần và kết thúc

dự án

(Nguồn: Giáo trình lập dự án đầu tư - ĐH Kinh tế Quốc dân 2005)

* Nghiên cứu tiền khả thi (NCTKH)

Đây là giai đoạn nghiên cứu sơ bộ về các yếu tố cơ bản của dự án Trong giai đoạn này, người ta cũng xác định các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả dự án để làm cơ sở cho việc xem xét, lựa chọn dự án

Nghiên cứu tiền khả thi bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư, các điều kiện thuận lợi và khó khăn Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, lao động, thị trường tiêu thụ, chính sách đầu tư của vùng lãnh thổ, ngành kinh doanh

- Dự kiến quy mô và lựa chọn hình thức đầu tư

- Chọn khu vực, địa điểm và nghiên cứu nhu cầu, diện tích sử dụng, giảm đến mức tối đa những ảnh hưởng về môi trường, xã hội và tái định cư

- Phân tích sơ bộ công nghệ, kỹ thuật và xây dựng, các điều kiện cung cấp vật tư, thiết bị, nguyên liệu, năng lượng, dịch vụ hạ tầng

- Phân tích tài chính nhằm xác định sơ bộ tổng mức đầu tư và các nguồn vốn, phương án huy động và khả năng hoàn vốn, trả nợ, trả lãi

- Tính toán sơ bộ hiệu quả đầu tư trên quan điểm của chủ đầu tư, của xã hội và của Nhà nước

- Nghiên cứu lợi ích kinh tế xã hội của dự án: dự tính khối lượng đóng góp vào GDP, nộp ngân sách Nhà nước thông qua thuế thu nhập doanh

Trang 19

nghiệp, số lượng ngoại tệ thu được từ dự án, tạo công ăn việc làm cho người lao động địa phương nơi đặt dự án

* Nghiên cứu khả thi (NCKT)

Nghiên cứu khả thi là bước nghiên cứu một cách toàn diện và chi tiết các yếu tố của dự án NCKT được thực hiện trên cơ sở các thông tin chi tiết

và có độ chính xác cao hơn giai đoạn NCTKT Đây là cơ sở để quyết định đầu

tư và là căn cứ để triển khai thực hiện dự án thực tế

Nghiên cứu khả thi bao gồm những nội dung chủ yếu sau:

- Những căn cứ xác định sự cần thiết phải đầu tư

- Lựa chọn hình thức đầu tư

- Lập chương trình sản xuất và chương trình đáp ứng nhu cầu

- Các phương án địa điểm cụ thể (Trong đó có đề xuất giải pháp hạn chế tới mức tối thiểu ảnh hưởng đến môi trường và xã hội)

- Phương án giải phóng mặt bằng

` - Phân tích lựa chọn kỹ thuật, công nghệ

- Các phương án thiết kế và giải pháp xây dựng, thiết kế sơ bộ của các phương án đề nghị lựa chọn, giải pháp quản lý bảo vệ môi trường

- Xác định rõ nguồn vốn, khả năng tài chính, tổng mức đầu tư và nhu cầu vốn theo tiến độ Phương án hoàn trả vốn đầu tư (đối với dự án yêu cầu thu hồi vốn đầu tư)

- Phương án quản lý khai thác dự án, sử dụng lao động

- Phân tích hiệu quả đầu tư

- Các mốc thời gian chính thực hiện dự án: Mốc thời gian đấu thầu, thời gian khởi công, thời hạn hoàn thành đưa công trình vào khai thác sử dụng

- Kiến nghị hình thức quản lý thực hiện dự án

- Xác định chủ đầu tư

- Mối quan hệ của các cơ quan liên quan đến dự án

1.3.2 - Thực hiện đầu tư - xây dựng

Thực hiện dự án là giai đoạn biến các dự định đầu tư thành hiện thực nhằm đưa dự án vào hoạt động thực tế của đời sống kinh tế xã hội Giai đoạn này bao gồm một loạt các quá trình kế tiếp hoặc xen kẽ nhau từ khi thiết kế đến khi đưa dự án vào vận hành khai thác

Thực hiện dự án là giai đoạn hết sức quan trọng, có liên quan chặt chẽ với việc đảm bảo chất lượng và tiến độ thực hiện dự án và sau đó là hiệu quả đầu tư

* Công tác của chủ đầu tư

- Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước

- Xin giấy phép xây dựng hoặc giấy phép khai thác tài nguyên

- Chuẩn bị mặt bằng xây dựng

- Mua sắm thiết bị và công nghệ

- Tổ chức tuyển chọn tư vấn, khảo sát thiết kế, giám định kỹ thuật và chất lượng công trình

Trang 20

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

19

- Thẩm định và phê duyệt thiết kế kỹ thuật (TKKT) tổng dự toán

- Tổ chức đấu thầu thi công xây lắp, mua sắm thiết bị công trình

* Công tác của tổ chức xây lắp

Chuẩn bị các điều kiện cho thi công xây lắp San lấp mặt bằng xây dựng điện nước, công xưởng, kho tàng, bến cảng đường xá, lán trại và công trình tạm phục vụ thi công, chuẩn bị vật liệu xây dựng…

Chuẩn bị xây dựng các công trình vật liệu liên quan trực tiếp

* Các công tác tiếp theo

Tiến hành thi công xây lắp công trình theo đúng thiết kế, dự án và tổng tiến độ được duyệt Trong bước công việc này các cơ quan, các bên đối tác có liên quan đến việc xây lắp công trình phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình cụ thể là:

- Chủ đầu tư có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các hợp đồng

- Các nhà tư vấn có trách nhiệm giám định kỹ thuật và chất lượng công trình theo đúng chức năng và hợp đồng kinh tế đã ký kết

- Các nhà thầu phải thực hiện đúng tiến độ và chất lượng xây dựng công trình như đã ký kết trong hợp đồng

Yêu cầu quan trọng nhất đối với công tác thi công xây lắp là đưa công trình vào khai thác, sử dụng đồng bộ, hoàn chỉnh, đúng thời hạn quy định theo tổng tiến độ, đảm bảo chất lượng và hạ giá thành xây lắp

1.3.3 - Hoàn thành kết thúc đầu tư

* Vận hành (sử dụng khai thác …) dự án

Giai đoạn này được xác định từ khi chính thức đưa dự án vào vận hành khai thác cho đến khi kết thúc dự án Đây là giai đoạn thực hiện các hoạt động theo chức năng của dự án và quản lý các hoạt động đó theo các kế hoạch đã dự tính

* Đánh giá sau khi thực hiện dự án (thường gọi là đánh giá sau dự án)

Thực chất đây là việc phân tích, đánh giá các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của dự án trong giai đoạn vận hành khai thác Phân tích, đánh giá dự án trong giai đoạn này nhằm:

- Hiệu chỉnh các thông số kinh tế - kỹ thuật để đảm bảo mức đã được

dự kiến trong nghiên cứu khả thi

- Tìm kiếm cơ hội phát triển, mở rộng dự án hoặc điều chỉnh các yếu tố của dự án cho phù hợp với tình hình thực tế để đảm bảo hiệu quả dự án Dựa vào các kết quả phân tích, đánh giá quá trình vận hành, khai thác dự án để có quyết định đúng đắn về sự cần thiết kéo dài hoặc chấm dứt thời hạn hoạt động của dự án

* Kết thúc dự án

Tiến hành các công việc cần thiết để chấm dứt hoạt động của dự án (thanh toán công nợ, thanh lý tài sản và hoàn thành các thủ tục pháp lý khác)

Trang 21

1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả dự án đầu tư

1.4.1 - Chỉ tiêu đánh giá tiềm lực tài chính

- Hệ số vốn tự có so với vốn đi vay: Hệ số này phải lớn hơn hoặc bằng

1 Đối với dự án có triển vọng, hiệu quả thu được là rõ ràng thì hệ số này có thể nhỏ hơn 1, vào khoảng 2/3 thì dự án thuận lợi

- Tỷ trọng vốn tự có trong tổng vốn đầu tư phải lớn hơn hoặc bằng 50% Đối với các dự án có triển vọng, hiệu quả rõ ràng tỷ trọng này có thể là 40%, thì dự án thuận lợi

Như vậy, hai chỉ tiêu trên nói lên tiềm lực tài chính đảm bảo cho dự án thực hiện được thuận lợi

1.4.2 - Các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư

* Chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần (NPV – Net Present Value)

Để đánh giá đầy đủ quy mô lãi của cả đời dự án trong phân tích tài chính thường sử dụng tiêu chuẩn giá trị hiện tại thuần

Giá trị hiện tại thuần NPV của một dự án là tổng lãi các năm của dự

án quy đổi về hiện tại (tại năm 0)

Chỉ tiêu này xác định giá trị tuyệt đối của lãi dự án đã quy về hiện tại

Công thức:

Trong đó: NPV là giá trị hiện tại thuần của dự án

Bt: Doanh thu tại năm thứ t SV : Giá trị còn lại

Ct: Chi phí khai thác tại năm thứ t n : Tuổi thọ của dự án

C0: Chi phí đầu tư ban đầu i : Lãi suất

Chỉ tiêu giá trị hiện tại của thu nhập thuần được xem là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá dự án đầu tư

Điều kiện lựa chọn dự án đầu tư theo tiêu chuẩn NPV:

- Dự án được chấp nhận (đáng giá) khi NPV lớn hơn hoặc bằng 0 Khi

đó tổng các khoản thu của dự án lớn hơn hoặc bằng tổng các khoản chi phí sau khi đã đưa về mặt bằng hiện tại

- Ngược lại, dự án không được chấp thuận khi NPV nhỏ hơn hoặc bằng

0 Khi đó tổng thu của dự án không đủ bù đắp được chi phí bỏ ra

- Khi NPV đạt giá trị lớn nhất (max), tức là dự án tối ưu, chấp nhận dự

án

* Chỉ tiêu tỷ suất thu hồi nội tại (IRR – Internal Rate of Return)

Chỉ tiêu này còn được gọi là tỷ suất hoàn vốn nội bộ, tỷ suất nội hoàn, suất thu hồi nội bộ

Tỷ suất thu hồi nội tại IRR là mức lãi suất mà tại đó NPV = 0 tức là:

1

1

1 i SV i C C

B

t

t t

B NPV

0

01

(1.1)

(1.2)

Trang 22

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

21

Hoặc: Tỷ suất hoàn vốn nội bộ là mức lãi suất nếu dùng nó làm tỷ suất chiết

khấu để tính chuyển các khoản thu, chi của dự án về cùng mặt bằng thời gian hiện tại thì tổng thu sẽ cân bằng với tổng chi, tức là: NPV = 0

IRR là một chỉ tiêu quan trọng trong phân tích tài chính dự án

- Dự án được chấp nhận khi IRR ≥ i* (lãi suất giới hạn)

- Dự án sẽ không được chấp nhận khi IRR ≤ i*

- Khi NPV đạt giá trị lớn nhất (max), tức là dự án tối ưu, chấp nhận dự

* Tỷ số lợi ích - Chi phí (B/C : Benefits – Costs Ratio)

Chỉ tiêu tỷ số lợi ích - chi phí được xác định bằng tỷ số giữa lợi ích thu được với chi phí bỏ ra của dự án Xác định tỷ lệ giữa giá trị hiện tại của lợi ích với giá trị hiện tại của chi phí bỏ ra Công thức tính:

Trong đó: Bt : Doanh thu (hay lợi ích) của dự án tại năm thứ t

i : Lãi suất

PV(B) : Giá trị hiện tại của các khoản lợi ích bao gồm doanh thu

ở các năm của đời dự án

PV(C) : Giá trị hiện tại của các khoản chi phí

Điều kiện sử dụng tỷ lệ lợi ích trên chi phí là:

- Nếu B/C > 1 : Chấp nhận dự án, có nghĩa là doanh thu lớn hơn chi phí

- Nếu B/C < 1 : Loại bỏ dự án, doanh thu không bù đắp đủ chi phí

- Nếu B/C ⇒ max : Dự án tối ưu, chấp nhận dự án

* Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn (Thv)

Thời gian hoàn vốn là thời gian tính từ khi dự án đi vào khai thác cho đến khi NPV = 0 (Xác định khoảng thời gian số vốn đầu tư bỏ ra thu hồi được hoàn toàn)

n t

n

t t

t

IRR

C IRR

B

1 1

1

) (

B PV C

B C

Trang 23

Công thức:

Để tính thời gian hoàn vốn Thv ta có tính theo các cách sau:

- Bằng phương pháp nội suy:

Trong đó:

T : là thời gian hoàn vốn; t1: là thời gian thấp; t2: là thời gian cao hơn

NPV1: Giá trị hiện tại thuần tương ứng với thời gian thấp t1

NPV2: Giá trị hiện tại thuần tương ứng với thời gian cao t2

Điều kiện khi sử dụng Thv:

- Dự án có Thv càng nhỏ càng tốt

- Dự án loại trừ nhau thì dự án nào có Thv nhỏ hơn thì được xếp hạng cao

hơn

Chỉ tiêu thời gian hoàn vốn được áp dụng đối với các dự án có tính rủi

ro cao Nhưng nhiều khi có thể dễ ngộ nhận, chọn dự án có Thv nhỏ nhất mà

bỏ qua dự án có NPV lớn Hơn nữa, Thv phụ thuộc nhiều vào lãi suất, không

đề cập đến sự diễn biến của chi phí và lợi ích của dự án sau khi hoàn vốn, một

dự án tuy có thời gian hoàn vốn dài song lợi ích tăng nhanh hơn thì vẫn là một

dự án tốt

1.4.3 - Các chỉ tiêu đánh giá công tác xây dựng cơ bản

* Chỉ tiêu hiệu quả công tác đầu tư xây dựng cơ bản

Hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng phản ánh mức độ sử dụng các nguồn lực

và thường được xác định bằng tỷ số

hDo DeTaoLoiIc ChiPhiBoRa

uoc LoiIchThuD

Lợi ích thu được cụ thể là doanh thu, lợi nhuận gia tăng do của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, chi phí bỏ ra cụ thể là giá trị đầu tư xây dựng

cơ bản đó bỏ ra, cụ thể là giá trị của nguồn lực đó bỏ rả để tạo ra lợi ích ví dụ như: giá trị TSCĐ, giá trị TSLĐ, giá trị chi phí, giá trị của nguồn vốn

* Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng tài sản

*Khái niệm: Số lượng và giá trị của tài sản cố định phản ánh năng lực

hiện có, trình độ khoa học kỹ thuật mà doanh nghiệp đầu tư nhằm nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm Mặt khác sử dụng hết công suất của tài sản cố định là một biện pháp quan trọng để thực hiện tốt kế hoạch sản xuất

B NPV

0

01

( )

1 2

1 1

2 2

NPV NPV

NPV t

t t T

Trang 24

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

23

*Phân tích tài sản cố định: là phân tích tình trạng thiết bị tài sản cố

định, cơ cấu tài sản cố định là mối quan hệ tỷ trọng của từng loại tài sản cố định trong toàn bộ tài sản cố định xét về mặt giá trị Phân tích cơ cấu tài sản cố định là xem xét đánh giá tình hình hợp lý về sự biến động tỷ trọng của từng loại tài sản cố định, trên cơ sở đó hướng đầu tư xây dựng tài sản cố định một cách hợp lý

Xét trong mối quan hệ tài sản dùng vào sản xuất kinh doanh sẽ chiếm

tỷ trọng lớn hơn so với tỷ trọng của tài sản dùng ngoài việc kinh doanh

* Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội

Chính vì vậy trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần tuyển dụng lao động là doanh nghiệp đó gúp phần tạo nên công ăn việc làm cho người lao động

Nộp ngân sách là nghĩa vụ của mọi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh (thuế doanh thu, thuế đất ) Hơn 90% ngân sách Nhà nước được hình thành

từ việc thu thuế Do vậy nộp thuế là góp phần phát triển kinh tế xã hội

Doanh nghiệp không những có trách nhiệm đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động mà còn có trách nhiệm nâng cao đời sống tinh thần cũng như vật chất Trên góc độ kinh tế, hiệu quả này phản ánh thông qua chỉ tiêu tăng thu nhập bình quân trên một đầu người, gia tăng đầu tư xã hội, mức hưởng phúc lợi

* Nhóm chỉ tiêu đánh giá thất thoát, lãng phí trong hoạt động đầu tư XDCB

Để xác định tiêu chí đánh giá mức độ thất thoát, lãng phí trong hoạt động đầu tư xây dựng phải bám sát những đặc trưng cơ bản, bám sát từng khâu của hoạt động đầu tư xây dựng để phân tích đánh giá Một số tiêu chí dùng để xác định thất thoát, lãng phí vốn đầu tư XDCB Nhà nước trong đầu

tư XDCB là:

(1) Nhóm chỉ tiêu đánh giá thất thoát do chủ trương đầu tư

Trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư phải đưa ra những quyết định quan trọng đó là: quyết định chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư

(2) Nhóm chỉ tiêu đánh giá thất thoát trong khâu chuẩn bị xây dựng

Thất thoát, lãng phí trong công tác tư vấn, lập thiết kế và dự toán

(3) Nhóm chỉ tiêu đánh giá thất thoát, lãng phí trong khâu đền bù, bàn giao mặt bằng chậm

(4) Nhóm chỉ tiêu đánh giá thất thoát, lãng phí trong bố trí kế hoạch vốn và cấp vốn đầu tư

Từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư chuyển sang giai đoạn thực hiện đầu tư phải thông qua khâu bố trí kế hoạch vốn và cấp vốn đầu tư đây cũng là khâu

dễ gây ra thất thoát, lãng phí, tiêu cực

Trang 25

(5) Nhóm chỉ tiêu đánh giá thất thoát trong giai đoạn thực hiện đầu

- Ngành Điện lực thuộc ngành hạ tầng cơ sở: Là ngành hạ tầng cơ sở do

đó nhu cầu vốn đầu tư hàng năm rất lớn Với vai trò là ngành cung cấp tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng cho xã hội do đó ngành Điện có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của các ngành khác và đối với toàn xã hội Trong quá trình phát triển đất nước theo hướng CNH - HĐH, tất cả các ngành, lĩnh vực đều cùng phát triển nên nhu cầu tiêu dùng điện ngày càng tăng lên Nhưng với đặc điểm của điện - là một sản phẩm không thể tích luỹ trước, mà quá trình sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời, do vậy đặc điểm của đầu tư

cũng như đầu tư XDCB trong ngành Điện là phải: đầu tư đi trước một bước

so với các ngành khác, đầu tư trước về máy móc, thiết bị, nguồn, trạm và đường dây để khi có phát sinh nhu cầu của ngành khác thì sẽ có điện để cung cấp kịp thời và không làm trễ thời gian của hoạt động sản xuất kinh doanh Theo số liệu thống kê nhiều năm để đảm bảo GDP tăng trưởng trung bình hàng năm từ khoảng 8-9% thì ngành Điện phải có mức tăng trưởng là 14-16%, nghĩa là khoảng hai lần so với tốc độ tăng GDP Điều này đặt ra các yêu cầu rất cao đối với nhu cầu đầu tư xây dựng cơ bản phát triển lưới điện

- Vốn đầu tư lớn và thời gian xây dựng dài: Vốn đầu tư cho ngành Điện rất lớn nhưng sẽ là những khoản đầu tư làm tiền đề phát triển cho nền kinh tế bởi vì phát triển hạ tầng luôn phải đi trước một bước đón đầu sự phát triển của nền kinh tế Ví dụ: Tổng mức đầu tư công trình thủy điện Sơn La, Hòa Bình, Yali rất lớn khoảng từ 900000 đến 1,2 triệu USD/ MW công suất đặt Thời gian xây dựng Nhà máy thủy điện Hòa Bình, Thác Bà lần lượt là 16 năm, 12 năm Thời gian xây dựng Nhà máy nhiệt điện Phả Lại I, Phú Mỹ I lần lượt là

6 năm, 8 năm Vốn đầu tư xây dựng đường dây điện truyền tải phân phối lên đến hàng trăm triệu đô Ví dụ một km đường dây 500 KV có suất đầu tư vào khoảng 1 triệu USD

- Nhu cầu đầu tư cho ngành Điện trong một năm khoảng 1 tỷ USD, chiếm 2,5% GDP; trong khi đó ngân sách Nhà nước cho Công nghiệp là 5% GDP Vì vậy một năm ngành Điện chỉ có thể đáp ứng đầu tư khoảng 300 triệu USD (30% nhu cầu đầu tư)

Trang 26

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

25

- Vòng quay vốn đầu tư chậm: Thời gian quay vòng của vốn đầu tư trong ngành Điện rất lâu thường ở mức hàng chục năm (thời gian hoàn vốn khoảng 20 năm) và trong một số trường hợp xét về quan điểm đầu tư mức độ rủi ro cũng tương đối lớn.Điều này do nhiều lý do cả khách quan và chủ quan mang lại: ví dụ như giá bán điện do Nhà nước quy định, rất khó có thể điều chỉnh tăng, thậm chí với nhiều trường hợp giá bán còn thấp hơn giá thành sản xuất Hơn nữa phần lớn tiền đầu tư lại là nguồn vốn vay, nên chi phí trả lãi vay cũng tạo ra một áp lực lớn đối với đầu tư xây dựng cơ bản trong ngành

- Hiệu quả đầu tư vốn thấp nhưng hiệu quả đem lại cho nền kinh tế là rất lớn và khó xác định cụ thể Lợi nhuận thu được từ quá trình đầu tư thấp so với các ngành kinh tế khác nhưng nó tạo tiền đề cho các ngành kinh tế khác phát triển, hiệu quả đầu tư của nó có tác dụng lâu dài và vững chắc

- Là một ngành có tính liên kết hệ thống tuyệt đối Các bộ phận cấu thành hệ thống lưới điện có mối liên hệ chặt chẽ và đồng bộ với nhau Hiệu quả của ngành Điện là hiệu quả của toàn bộ hệ thống chứ không riêng của một bộ phận nào

- Trong ngành năng lượng thì có điện năng là sản phẩm hầu như không thể dự trữ được nghĩa là sản xuất bao nhiêu thì phát hết bấy nhiêu Thời điểm dùng điện đồng thời với thời điểm sản xuất Một vấn đề đặt ra là trong những giờ cao điểm thì phải chạy phủ đỉnh, lúc đó các nhà máy phải chạy hết công suất, trong nhà máy phải có các nhà máy dự phòng

- Không chỉ phải xây dựng các nhà máy điện, ngành Điện còn phải xây dựng đường dây truyền tải và trạm biến áp, lưới phân phối, các cơ sở thí nghiệm, các nhà máy chế tạo thiết bị để phục vụ, sửa chữa

- Hiện nay có một số nhà máy điện thuộc sở hữu của các Tổng công ty

91 hoặc một số các đơn vị sản xuất công nghiệp ngoài EVN, tham gia phát điện vào hệ thống điện quốc gia như Tổng công ty Than Việt Nam, Tổng công ty Sông Đà, Bộ Xây Dựng… Như vậy là đa dạng hóa được nguồn vốn đầu tư (thu hút các nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước), giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho Nhà nước, dần dần xóa bỏ thế độc quyền và đã có cạnh tranh khâu phát (giá bán)

- Trong các công trình nhà máy thủy điện thì mức đầu tư cho 1MW và thời gian xây dựng đều lớn hơn nhà máy nhiệt điện Song chi phí vận hành nhà máy thủy điện thì rẻ hơn nhà máy nhiệt điện

- Do vậy đòi hỏi các dự án đầu tư trong ngành năng lượng phải được nghiên cứu và đánh giá một cách kỹ lưỡng nhằm không những đảm bảo đầu

tư có hiệu quả cho ngành mà còn cho cả sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước

Trang 27

- Hơn nữa đối với các dự án tiết kiệm năng lượng, sự lựa chọn các phương án đầu tư được liên hệ với những công nghệ và sáng kiến kết hợp với những khoản đầu tư khác nhau, lợi tức và chi phí khác nhau Do vậy khoản tiền đầu tư vào dự án cần phải được xem xét và cân nhắc hết sức kỹ càng

- Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản có liên quan chặt chẽ đến môi trường pháp lý Cụ thể ở Việt Nam, hoạt động này cần tuyệt đối tuân thủ các văn bản pháp lý của Nhà nước về công tác đầu tư xây dựng cơ bản, luật xây dựng và các nghị định, thông tư hướng dẫn, luật đấu thầu và riêng với ngành Điện thì hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản trong ngành Điện còn phải tuân thủ theo luật điện lực, một số các văn bản chuyên ngành Điện khác

Quy mô đầu tư xây dựng các công trình điện rất lớn:

Với đặc tính của ngành Điện các công trình đầu tư phát triển của ngành Điện thường có quy mô lớn mặt khác suất đầu tư cho phát triển nguồn lớn:

- Suất đầu tư nhà máy thuỷ điện : 800-:-1.000USD/1kW công suất đặt;

- Suất đầu tư nhà máy nhiệt điện: 700-:- 900USD/1kW công suất đặt Đầu tư XDCB vào ngành Điện đòi hỏi một khối lượng vốn rất lớn, vốn

để xây dựng các nhà máy điện, trạm điện, đường dây theo một hệ thống đồng

bộ mới có thể truyền tải và phân phối điện tới nơi tiêu thụ Để sản xuất ra điện năng có thể từ nhiều nguồn khác nhau: Thuỷ điện, nhiệt điện, năng lượng hạt nhân với mỗi phương thức khác nhau đòi hỏi khối lượng vốn sử dụng khác nhau Do đó mỗi đất nước, mỗi khu vực, mỗi vùng có thể lựa chọn phương thức nào phù hợp nhất với điều kiện hiện có để sản xuất ra điện hợp lý, an toàn và hiệu qủa nhất

Trong đầu tư xây dựng cần phải đồng bộ và cân đối:

Đặc điểm của sản phẩm điện năng là quá trình sản xuất, truyền tải và phân phối xảy ra đồng thời Do đó yêu cầu phải phát triển đồng bộ và cân đối giữa phát triển nguồn và phát triển lưới; trong phát triển nguồn phải cân đối giữa thuỷ điện, nhiệt điện và các loại nguồn khác; trong phát triển lưới phải đồng bộ giữa phát triển lưới truyền tải và lưới phân phối Có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của các ngành khác: Nhiên liệu của các nhà máy nhiệt điện là sản phẩm của một số ngành khác như than, khí, dầu Do đó phát triển nguồn điện có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của các ngành khác như than, dầu khí,

Chính từ các đặc điểm trên ta có thể tóm lược các đặc trưng chính trong đầu tư xây dựng ngành Điện là:

- Vốn đầu tư lớn, do đó cần phải huy động các nguồn vốn khác nhau dẫn đến rủi ro về tài chính, rủi ro về lãi suất, rủi ro trong vấn đề kiểm soát, rủi

ro trong chủ động thực hiện cũng như huy động vốn,

- Quy mô đầu tư lớn đặt ra rất nhiều vấn đề như quản lý, sự phối hợp giữa các ban ngành và địa phương, chống thất thoát lãng phí,

- Thời gian chuẩn bị và xây dựng dài do đó đặt ra nhiều vấn đề như

Trang 28

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

27

- Đòi hỏi sự cân đối và đồng bộ giữa phát triển nguồn và phát triển lưới; trong đầu tư phát triển lưới phải cân đối giữa lưới điện truyền tải và lưới điện phân phối

- Tiếp cận hệ thống (sự liên hệ chặt chẽ với sự phát triển của các ngành khác)

Có thể nói, với những đặc điểm đầu tư xây dựng tương tự như các ngành khác ngoài ra cũng có những đặc thù riêng của ngành nhưng việc thất thoát, lãng phí xảy ra trong lĩnh vực đầu tư XDCB của ngành Điện cũng mang những nét chung như những ngành khác

Địa điểm sản xuất không cố định:

Đặc điểm sản xuất của ngành xây dựng khác với các ngành khác, mỗi công trình được tiến hành ở một địa điểm khác nhau, sau khi hoàn thành công trình, con người và công cụ lao động đều phải di chuyển đến địa điểm xây dựng mới Các phương án về xây dựng, về kỹ thuật và về tổ chức sản xuất cũng luôn thay đổi theo từng địa điểm

Đặc điểm này làm cho sản xuất xây dựng hay bị gián đoạn, hay phải di chuyển từ đó làm nảy sinh ra nhiều chi phí cho khâu di chuyển lực lượng thi công và chi phí để xây dựng các công trình tạm phục vụ thi công Chính vì vậy trong công tác quản lý phải chủ động lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất linh hoạt, giảm chi phí liên quan đến vận chuyển nếu không rất dễ xảy ra tình trạng thất thoát, lãng phí

Thời gian chuẩn bị, xây dựng và vận hành dài:

Đối với các công trình nguồn điện đặc biệt là các nhà máy thuỷ điện, thời gian chuẩn bị và xây dựng tương đối dài Ví dụ Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình thời gian chuẩn bị và xây dựng khoảng 15 năm, Nhà máy thuỷ điện Sơn

La thời gian chuẩn bị và xây dựng khoảng 10-12 năm; Nhà máy nhiệt điện Phả Lại 2 thời gian chuẩn bị và xây dựng khoảng 4 –5 năm Thời gian vận hành các nhà máy thuỷ điện khoảng 50 năm, thời gian vận hành các nhà máy nhiệt điện khoảng 25-30 năm

Chu kỳ sản xuất (thời gian xây dựng công trình) thường dài:

Sản phẩm của xây dựng là các công trình xây dựng hoàn chỉnh mang tính chất là tài sản cố định nên thời gian sản xuất ra chúng thường dài và phải tính theo tháng, năm Thời gian xây dựng dài do bị chi phối bởi quy mô và mức độ phức tạp về kỹ thuật xây dựng công trình, dự án

Từ đặc điểm này làm cho công tác thanh toán vốn đầu tư gặp khó khăn, nếu chờ xây dựng xong mới thanh toán sẽ làm các đơn vị xây dựng không có vốn hoạt động, thời gian kéo dài dễ gặp rủi ro ngẫu nhiên như thời tiết, lãi suất, tỷ giá và không loại trừ việc nhà thầu sẽ lợi dụng những biến động về chế độ chính sách, thay đổi định mức nhằm hưởng phần chênh lệch do khó xác định chính xác thời điểm mang lại Trong công tác chỉ đạo thi công cần kiên quyết thực hiện đúng tiến độ xây dựng để nhanh chóng đưa công trình

Trang 29

vào sử dụng tránh những thiệt hại về kinh tế do vốn “chết” trong thời gian xây dựng hoặc có thể ảnh hưởng đến các ngành liên quan

Sản xuất xây dựng mang tính đơn chiếc

Đặc điểm của sản xuất xây dựng là không sản xuất được hàng loạt hàng hoá như trong công nghiệp mà sản xuất theo đơn đặt hàng đơn chiếc nên sản phẩm phải được xác định trước khi thi công Do đó trong công tác quản lý phải tìm mọi giải pháp để chuẩn xác các tiêu thức đánh giá về chất lượng và giá cả công trình

Muốn vậy phải có giải pháp để tăng cường công tác quản lý sử dụng vốn ngay từ khâu lập dự án cả về chi phí như tổng mức vốn đầu tư, quy mô đầu tư, các tiêu chuẩn kỹ thuật tránh tình trạng lãng phí do không chuẩn xác ngay từ đầu dẫn đến phải có sự điều chỉnh, bổ sung về sau Mỗi dự án, mỗi công trình xây dựng phải xác định tổng mức đầu tư, tổng dự toán, dự toán hạng mục công trình để làm căn cứ cho quá trình tổ chức thực hiện hoạt động đầu tư như làm cơ sở để xây dựng giá trần, giá sàn khi xét thầu, căn cứ cấp phát vốn

Ngoài ra việc nghiên cứu đặc điểm sản xuất đơn chiếc trong sản xuất xây dựng còn là cơ sở để nghiên cứu tìm các giải pháp tổ chức thi công hợp lý nhằm giảm các chi phí phát sinh trong quá trình xây dựng để rút ngắn thời gian thi công sẽ tác động tích cực để giảm lãng phí, thất thoát vốn và tài sản trong hoạt động đầu tư xây dựng

Hoạt động xây dựng chủ yếu ngoài trời, chịu ảnh hưởng rất lớn bởi yếu

tố tự nhiên:

Điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu, mưa gió, bão lụt đều ảnh hưởng đến quá trình xây dựng, làm gián đoạn quá trình thi công, ảnh hưởng đến máy móc, vật tư thiết bị thi công Đòi hỏi đơn vị thi công phải lập tiến độ thi công hợp lý để tránh thời tiết xấu, giảm thời gian tổn thất do thời tiết gây ra, phải tổ chức tốt hệ thống kho bãi để bảo quản vật tư, tài sản nhằm tránh những thất thoát, hư hỏng, mất mát do thiên nhiên gây ra

Quá trình sản xuất XDCB thường tiến hành ngoài trời và bị ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên Điều kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn quyết định đến quy mô, các giải pháp thi công, tiến độ xây dựng, chất lượng và hiệu quả đầu tư của dự án Công tác khảo sát địa chất là nền tảng cho tuổi thọ của công trình, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nền móng, nếu không khảo sát chính xác có thể dẫn đến việc phải điều chỉnh thiết kế trong qúa trình thi công gây lãng phí Có khảo sát tốt thì mới có đầu vào tin cậy cho việc lập dự án cũng như thiết kế mới làm tai mắt để đảm bảo công trình làm ra bảo đảm yêu cầu

Việc nghiên cứu thuỷ văn có thể giúp cho việc tận dụng triệt để được các nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có hay hạn chế được những nguy hiểm tiềm ẩn của nó gây ra nhằm tránh được những mất mát không đáng có

Trang 30

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

29

Việc phân tích kỹ điều kiện sinh thái sẽ hạn chế được những thất thoát

do quá trình đầu tư xây dựng diễn ra làm ảnh hưởng môi trường tự nhiên xung quanh cả tích cực như tạo thêm nguồn nước sạch, tạo vẻ đẹp cảnh quan và cũng có thể tiêu cực do không đầu tư thích đáng cho việc khảo sát điều kiện

tự nhiên dẫn đến phá hỏng cảnh quan, gây ô nhiễm cho các khu dân cư

Công tác tổ chức quá trình sản xuất xây dựng rất phức tạp:

Trong quá trình thi công xây dựng thường có nhiều đơn vị tham gia, nhiều thành phần kinh tế tham gia thực hiện phần việc của mình theo một trình tự nhất định về thời gian và không gian trên một mặt bằng thi công chật hẹp

Đặc điểm này đòi hỏi các đơn vị thi công phải có trình độ phối hợp cao trong sản xuất để đảm bảo tiến độ thi công và chất lượng công trình Đồng thời cũng do đặc điểm này mà chủ đầu tư phải có biện pháp kiểm tra giám sát tốt hoạt động thi công của các đơn vị và sự phối hợp giữa các đơn vị nhằm đảm bảo chất lượng công trình và giảm tối đa thất thoát, lãng phí trong quá trình thực hiện dự án

Đặc điểm sản phẩm XDCB:

Sản phẩm của đầu tư XDCB có tính cố định, nó gắn liền với đất đai,

nơi sản xuất và nơi sử dụng trong khi sản xuất di động, tư liệu sản xuất di động, sức lao động di động Từ đó đặt ra đối với hoạt động XDCB phương pháp quản lý là rất phức tạp Và cũng do tính chất này nên việc tìm địa điểm xây dựng công trình chuẩn bị đầu tư là một khâu rất quan trọng, có những công trình xây dựng tại địa điểm không hợp lý, toàn bộ chi phí do chuyển địa điểm rất lớn Tìm địa điểm cho sản phẩm có tính cố định là điều kiện tiên quyết trước khi tiến hành khởi công xây dựng công trình

Các điều kiện địa hình cũng có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thực hiện dự án đầu tư cũng như tác dụng sau này của các kết quả đầu tư Quá trình sản xuất thường tiến hành ngoài trời và bị ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên Vật liệu xây dựng nhiều, có trọng lượng lớn, nhu cầu vận chuyển cao

Do vậy phải có một tổ chức cung ứng vật tư kỹ thuật đặc biệt để đưa vật liệu đến tận công trình theo tiến độ thi công Hoàn thành dự án phải trải qua nhiều giai đoạn, có rất nhiều đơn vị tham gia thực hiện mới tạo ra được một sản phẩm có tính chất cố định

Tất cả những yếu tố đa dạng và phức tạp trên tạo ra nhiều khe hở, nhiều công đoạn và nhiều tác nhân có thể dẫn đến thất thoát, lãng phí tiền của của Nhà nước

sản phẩm XDCB Tính đơn chiếc có nghĩa không có sản phẩm XDCB nào giống sản phẩm nào Dù thiết kế giống nhau, sản phẩm cố định nhưng địa điểm khác nhau, thời tiết khí hậu các vùng khác nhau sản phẩm không

Trang 31

giống nhau hoàn toàn, chi phí sản xuất cũng không giống nhau Từ tính đơn chiếc ta thấy mỗi một công trình đầu tư có tính chất quản lý khác nhau, giữa các công trình, dự án khác nhau đòi hỏi phương pháp và trình độ quản lý thay đổi linh hoạt cho phù hợp với điều kiện cụ thể và đặc tính này cũng gây ra sự bất ổn định cho quá trình thi công xây lắp Tính đơn chiếc không chỉ chịu ảnh hưởng của yếu tố kinh tế mà còn chịu ảnh hưởng của yếu tố kỹ thuật và bị ảnh hưởng lớn bởi tính cố định của sản phẩm XDCB

Thời gian xây dựng và thời gian tồn tại của sản phẩm XDCB lâu Từ

đặc điểm thời gian xây dựng dài nên ứ đọng vốn đối với hoạt động đầu tư XDCB lớn, càng ứ đọng vốn càng thiệt hại lớn vì khối lượng vốn lớn, khối lượng sản phẩm lớn Hơn nữa do thời gian xây dựng lâu nên chịu ảnh hưởng của các yếu tố như giá trị đồng tiền, điều kiện thời tiết, tình hình chính trị, chế

độ chính sách Thời gian càng dài các yếu tố khác đó càng dễ xảy ra những thay đổi Nếu tác động từ các yếu tố đó theo chiều hướng xấu sẽ dẫn đến tổn thất lớn Và sản phẩm XDCB tồn tại lâu, nếu tác động từ các yếu tố trên tốt, chất lượng công trình tốt thì thành quả hoạt động đầu tư XDCB càng phát huy tác dụng tốt trong thời gian dài, đóng góp lớn cho nền kinh tế, văn hoá xã hội,

có những công trình tồn tại vĩnh viễn và ngược lại

Về phương diện sử dụng, sản phẩm xây dựng có liên quan đến nhiều ngành, vùng địa phương như các đường giao thông quốc lộ, tỉnh lộ, đường

sắt, đường dây điện Từ đó đòi hỏi phải chú ý cân nhắc kỹ về chủ trương đầu

tư đồng thời phối kết hợp chặt chẽ giữa các ngành, các địa phương nhằm hạn chế và tránh thất thoát, lãng phí khi triển khai dự án

Sản phẩm xây dựng mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hoá nghệ thuật và quốc phòng Đặc điểm này có thể dẫn đến phát sinh các

mâu thuẫn, mất cân đối trong quan hệ phối hợp đồng bộ giữa các khâu công tác từ quá trình chuẩn bị đầu tư, chuẩn bị xây dựng cũng như quá trình thi công Vì có thể xảy ra tình trạng đảm bảo về chất lượng kỹ thuật nhưng lại chưa có hiệu quả kinh tế cao hoặc chưa đảm bảo tính thẩm mỹ

Có thể nói, với những đặc điểm rất phức tạp của sản xuất XDCB cũng như sản phẩm XDCB như vậy thì để tránh tình trạng thất thoát, lãng phí có thể xảy ra chẳng những phải thận trọng về chủ trương, mà còn đòi hỏi phải có trình độ tổ chức, phối hợp các khâu từ công tác thẩm định dự án, thẩm định đấu thầu xây dựng, đấu thầu mua sắm thiết bị, kiểm tra chất lượng đến nghiệm thu khối lượng, quyết toán dự án đưa vào khai thác sử dụng

1.5.2 - Những thay đổi sau khi thành lập Tổng công ty Điện lực Miền Bắc

Năm 2010 Công ty Điện lực 1 có một bước ngoặt lớn là chuyển đổi thành Tổng công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện lực Miền Bắc

Sự thay đổi này đã đưa Tổng công ty Điện lực Miền Bắc giữ vị trí, vai trò to

Trang 32

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

31

lớn trong ngành Điện với quy mô gia tăng và đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh

- Hoạt động điện lực: Sản xuất, truyền tải, phân phối, kinh doanh điện năng

- Xuất nhập khẩu điện năng

- Hoạt động tư vấn: Tư vấn lập dự án đầu tư, tư vấn xây dựng, tư vấn giám sát, quản lý chất lượng công trình

- Khảo sát, thiết kế, thi công xây lắp: các công trình lưới điện đến cấp điện áp

220 kV, các công trình công nghiệp và dân dụng, các công trình thủy điện vừa

- Xuất nhập khẩu và kinh doanh các vật tư thiết bị ngành Điện, các sản phẩm

cơ khí điện, viễn thông và công nghệ thông tin, các nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu cao su, xăng dầu, dầu mỡ, ga và các loại vật tư, phụ tùng thiết bị phục

vụ cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổng công ty

- Sản xuất và kinh doanh các vật liệu cách điện, vật liệu dẫn điện, các sản phẩm Compozit, Polime, PVC, vật liệu xây dựng

- Kinh doanh khách sạn (không bao gồm quán bar, karaoke, vũ trường), nhà hàng ăn uống, kinh doanh dịch vụ du lịch lữ hành nội địa và quốc tế, du lịch sinh thái

- Kinh doanh viễn thông và công nghệ thông tin

- Hợp tác liên doanh, liên kết với các tổ chức doanh nghiệp trong nước và nước ngoài về các lĩnh vực: hoạt động điện lực, viễn thông, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ

- Kinh doanh, khai thác cảng và dịch vụ giao nhận kho bãi nhà xưởng nhà văn phòng nhà ở cung cấp lắp đặt hệ thống các thiết bị điện, điện tử, điện lạnh và thiết bị dẫn ga, khí

- Đầu tư, kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, khu đô thị, khu du lịch sinh thái và bất động sản khác

- Đầu tư ra nước ngoài, mua bán doanh nghiệp, góp vốn, mua cổ phần hoặc chuyển nhượng vốn góp… theo quy định của pháp luật

- Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và hoạt động chứng khoán

- Xuất khẩu lao động

Trang 33

- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư

- Giai đoạn thực hiện đầu tư

- Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng

1.6.1 - Giai đoạn chuẩn bị đầu tư

Là giai đoạn mà chi phí có tỷ trọng không lớn so với tổng mức vốn đầu tư của cả dự án hay công trình, nhưng là một giai đoạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó quyết định đến nội dung, mục đích, yêu cầu của quá trình đầu tư và xây dựng

Công tác chuẩn bị đầu tư bao gồm:

- Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư;

- Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước hoặc nước ngoài để tìm nguồn vốn để tìm nguồn cung ứng vật tư thiết bị hoặc tiêu thụ sản phẩm Xem xét khả năng có thể huy động các nguồn vốn để đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư;

- Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng;

- Lập dự án đầu tư;

- Thẩm định dự án để quyết định đầu tư;

Trong đó việc lập dự án, thẩm định dự án là quan trọng nhất, nó giúp chủ đầu tư, các cấp ra quyết định đầu tư, lựa chọn phương án đầu tư tốt nhất; quyết định đầu tư đúng hướng và đạt được lợi ích kinh tế xã hội mà dự án đầu

tư mang lại Quản lý quá trình này phải dựa vào chiến lược phát triển kinh tế

xã hội của Nhà nước, quy hoạch phát triển ngành và địa phương trong từng giai đoạn, từng thời kỳ nhất định, pháp luật và các chính sách hiện hành, lựa chọn phương án khai thác sử dụng có hiệu quả, cải thiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động, góp phần thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

Nội dung chủ yếu của Báo cáo đầu tư bao gồm:

Trang 34

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

33

Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư, các điều kiện thuận lợi và khó khăn;

Dự kiến quy mô đầu tư, lựa chọn hình thức đầu tư;

Tiến hành khảo sát và chọn địa điểm xây dựng (có phân tích và đánh giá

Phương án quản lý khai thác dự án đưa vào sử dụng;

Phân tích hiệu quả đầu tư;

Báo cáo đầu tư phản ánh tính trung thực kết quả nghiên cứu khả thi với tính cách là quá trình nghiên cứu cụ thể, có hệ thống về toàn bộ các vấn đề kinh tế, kỹ thuật, xã hội, môi trường có ảnh hưởng đến việc thực hiện đầu tư

và vận hành khai thác công trình, đến hiệu quả của dự án đầu tư, từ đó làm rõ:

- Tính chuẩn xác của mục tiêu đầu tư;

- Phương pháp tối ưu với tính cách là hệ thống các giải pháp cho mọi vấn

đề có liêu quan;

- Triển vọng và yêu cầu đạt được hiệu quả;

Trước tiên, chủ trương đầu tư công trình đầu tư xây dựng phải mang lại hiệu quả cao nhất và người ký quyết định đầu tư phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về quyết định của mình do vậy cần có tổng kết khoa học về hiệu quả đầu tư trong thời gian qua ở doanh nghiệp, từ đó rút ra những bài học cần thiết để tránh sai sót trong tương lai

Tổng mức đầu tư bao gồm những chi phí cho việc chuẩn bị đầu tư, chi phí thực hiện đầu tư, chi phí thực hiện đầu tư và xây dựng, chi phí chuẩn bị sản xuất, chi phí bảo hiểm và chi phí dự phòng;

Giới thiệu tổng quan về dựa án là giới thiệu những nét khái quát nhất về

dự án định thực hiện Cụ thể nêu được mục tiêu cần đạt được của dự án trong mối quan hệ với mục tiêu chung của doanh nghiệp;

- Lý do ra đời của dự án đầu tư xây dựng;

- Phạm vi của dự án đầu tư xây dựng;

- Cơ cấu tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng;

- Liệt kê mốc thời gian quan trọng trong quá trình thực hiện dự án;

Công tác thẩm định và phê duyệt:

Trang 35

Cơ quan tổ chức thẩm định dự án đầu tư chịu trách nhiệm trước pháp luật

về nội dung thẩm định của mình và trình người có thẩm quyền quyết định đầu

tư báo cáo thẩm định, các hồ sơ cần thiết kèm theo dự thảo quyết định đầu tư

1.6.2 - Giai đoạn thực hiện đầu tư

Đây là giai đoạn quan trọng nhất liên quan đến hiệu quả dự án, vì vậy khi đánh giá công tác quản lý dự án ở giai đoạn này người ta thường sử dụng chỉ tiêu thời gian và chi phí để đánh giá

Giai đoạn thực hiện đầu tư là giai đoạn mà chi phí có tỷ trọng rất lớn so với tổng mức vốn đầu tư của dự án, là giai đoạn quyết định việc thực hiện nội dung, mục đích của dự án đầu tư Quản lý tốt giai đoạn này sẽ góp phần tiết kiệm được chi phí, chống được lãng phí và thất thoát trong xây dựng đồng thời quyết định đến chất lượng, hiệu quả của cả dự án hoặc công trình đưa vào khai thác, sử dụng

Nội dung của giai đoạn thực hiện dự án đầu tư bao gồm:

- Tổ chức đền bù giải phóng mặt bằng, chuẩn bị mặt bằng xây dựng;

- Tuyển chọn tư vấn khảo sát, thiết kế, giám định kỹ thuật và chất lượng công trình;

- Thẩm định thiết kế, tổng dự toán công trình;

- Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công công trình;

- Ký kết hợp đồng với nhà thầu để thực hiện dự án;

- Thi công xây lắp công trình;

- Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các hợp đồng;

- Quyết toán vốn đầu tư xây dựng sau khi hoàn thành xây lắp đưa dự án vào khai thác sử dụng;

Trong giai đoạn này việc quản lý chặt chẽ trong các khâu đều có những ý nghĩa rất quan trọng đến việc tiết kiệm vốn đầu tư, hạn chế được lãng phí, tiêu cực trong đầu tư và xây dựng, đảm bảo được chất lượng, kỹ mỹ thuật trong xây dựng cơ bản, đem lại hiệu quả trong đầu tư

Nội dung thực hiện dự án đầu tư bao gồm:

1 - Xin giao hoặc thuê đất (đối với dự án có sử dụng thuê đất);

2 - Xin giấy phép xây dựng;

3 - Thực hiện công tác đền bù và gải phóng mặt bằng, (chuẩn bị mặt bằng xây dựng);

4 - Thẩm định thiết kế, tổng tự toán, dự toán công trình;

5 - Tiến hành thi công xây lắp;

Trang 36

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

35

6 - Kiểm tra việc thực hiện cỏc hợp đồng;

7 - Quản lý kỹ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xõy dựng;

8 - Vận hành thử, nghiệm thu, quyết toỏn vốn đầu tư, bàn giao đưa cụng trỡnh vào sử dụng và thực hiện bảo hành sản phẩm

Sơ đồ 1.4 - Sơ đồ giai đoạn thực hiện đầu tư

Xin giao (thuê) đất

Tuyển chọn t− vấn thiết kế

Trang 37

1.6.3 - Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng

Là giai đoạn cuối cùng của quá trình thực hiện đầu tư và xây dựng, chi phí trong giai đoạn này có tỷ trọng rất nhỏ trong tổng mức vốn đầu tư, nhưng nó

là một giai đoạn hoàn chỉnh “lý lịch” của dự án đã được đầu tư Nó bao gồm các công việc:

- Bàn giao công trình cho người sử dụng, lập và bàn giao hồ sơ hoàn công, đưa vào lưu trữ theo pháp luật về lưu trữ của Nhà nước

- Bảo hành công trình: người cung cấp tài liệu, số liệu khảo sát phục vụ thiết kế, xây lắp, nghiệm thu, giám định công trình, chủ nhiệm đề án thiết kế, chủ thầu xây lắp, người cung cấp vật tư thiết bị xây dựng và người giám sát xây dựng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng sản phẩm hoặc kết quả công tác mình thực hiện Thời hạn bảo hành; quyền, nghĩa

vụ về bảo hành của các bên; thủ tục thực hiện và nghĩa vụ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã quy định

Vận hành dự án: sau khi nhận bàn giao công trình, chủ đầu tư có trách nhiệm khai thác; hoàn thiện tổ chức và phương pháp quản lý nhằm phát huy đầy đủ và có hiệu quả các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đã được đề ra trong dự án đầu tư

Nội dung công việc phải thực hiện khi kết thúc xây dựng bao gồm:

1 - Nghiệm thu bàn giao công trình;

2 - Thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình;

3 - Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình;

4 - Bảo hành công trình;

5 - Quyết toán vốn đầu tư công trình;

6 - Phê duyệt quyết toán công trình;

1.7 Đánh giá công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản

Để thực hiện tốt một dự án đầu tư, trước hết ta phải xác định được các mục tiêu của dự án đó Mà mục tiêu của dự án phải đảm bảo tiêu chuẩn: S.M.A.R.T Trong đó:

S: specific (cụ thể)

M: measurable (đo được)

A: assignable (phân công được)

R: realistic (thực tế)

T: time - bound (có tính thời gian)

Trang 38

Đặng Thị Thu Hà – QTKD K2008 - 2010 HBKHN

37

Công tác quản lý dự án tức là thực hiện các chức năng của quản lý với tất

cả các khâu từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư cho tới khi kết thúc dự án Mặt khác quản lý dự án là đảm bảo đạt mục tiêu chất lượng dự án, chi phí dự

án trong khi vẫn thỏa mãn về tiến độ thực hiện dự án

1.7.1 - Chỉ tiêu về thời gian

Quản lý thời gian và tiến độ dự án là quá trình quản lý bao gồm việc thiết lập mạng công việc, xác định thời gian thực hiện từng công việc cũng như toàn bộ dự án và quản lý tiến trình thực hiện các công việc dự án trên cơ sở các nguồn lực cho phép và những yêu cầu về chất lượng đã định

Mục tiêu của quản lý thời gian là làm sao để dự án hoàn thành đúng thời hạn trong phạm vi ngân sách và nguồn lực cho phép, đáp ứng những yêu cầu

đã định về chất lượng

Quản lý thời gian là cơ sở để giám sát chi phí cũng như các nguồn lực khác cần cho công việc dự án Trong môi trường dự án, chức năng quản lý thời gian và tiến độ quan trọng hơn trong môi trường hoạt động kinh doanh thông thường vì nhu cầu kết hợp phức tạp và thường xuyên liên tục giữa các công việc, đặc biệt trong trường hợp dự án phải đáp ứng một thời hạn cụ thể của khách hàng

Xem xét chỉ tiêu về thời gian tức là chúng ta cần xem xét dự án có hoàn thành đúng thời gian và tiến độ thực hiện hay không

Chất lượng

Thời hạn Chi phí

Trang 39

1.7.2 - Chỉ tiêu về chi phí dự án

Các công trình sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, đều phải lập đầy

đủ các lài liệu dự toán xác định chi phí cần thiết của công trình

Trong quá trình thực hiện chủ đầu tư, tổ chức tư vấn phải căn cứ vào những quy định quản lý chi phí xây dựng của Nhà nước để lập và trình người

có thẩm quyền phê duyệt tổng dự toán, dự toán hạng mục công trình làm căn

cứ để tổ chức đấu tầu xây lắp và chi phí quản lý sau đấu thầu

Nhà thầu xây lắp căn cứ vào những quy định quản lý chi phí xây dựng của nhà nước để tham khảo khi lập giá trị dự thầu các công trình xây dựng

Chi phí xây dựng thông qua việc ban hành chế độ chính sách của Nhà nước, căn cứ các nguyên tắc và phương pháp lập đơn giá, dự toán, các định mức kinh tế kỹ thuật; định mức chi phí tư vấn đầu tư và xây dựng; suất vốn đầu tư để xác định tổng mức đầu tư cho dự án, tổng dự toán, dự toán công trình

Tổng dự toán công trình là căn cứ để quản lý chi phí xây dựng gồm các khoản chi phí về khảo sát, thiết kế xây lắp, mua sắm thiết bị, chi phí sử dụng đất đai, đền bù và giải phóng mặt bằng, tái định cư, chi phí bảo hiểm công trình xây dựng, thuế và chi phí dự phòng (bao gồm cả trượt giá và khối lượng phát sinh)

Một dự án hoàn thành đúng tiến độ kế hoạch sẽ hiệu quả hơn nếu tổng chi phí thực hiện dự án cũng đúng bằng chi phí dự toán Tổng chi phí của dự án bao gồm chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp và những khoản tiền phạt vi phạm hợp đồng

Chi phí trực tiếp bao gồm chi phí nhân công sản xuất, chi phí nguyên vật liệu và những khoản chi phí khác trực tiếp liên quan đến công việc dự án Chi phí gián tiếp gồm chi phí quản lý, khấu hao thiết bị văn phòng, những khoản chi phí cố định và biến đổi khác mà có thể giảm được nếu thời gian thực hiện

dự án rút ngắn

Thời gian thực hiện càng rút ngắn, chi phí gián tiếp càng ít Khoản tiền phạt có thể phát sinh nếu dự án kéo dài quá ngày kết thúc xác định Ngược lại, trong một số trường hợp, nhà thầu sẽ được thưởng do hoàn thành trước thời hạn Thưởng hay phạt đều phải ghi trong hợp đồng Tóm lại, để thực hiện mục tiêu của quản lý dự án, người ta có thể đẩy nhanh tiến trình thực hiện một

số công việc nhằm rút ngắn tổng thời gian thực hiện dự án

Giữa các khoản chi phí trực tiếp, gián tiếp và thời gian thực hiện công việc

có liên quan mật thiết với nhau

Chi phí dự án hợp lý, mức độ tiết kiệm chi phí, tăng kết quả kinh tế

Trang 40

Chất lượng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Từ công tác quản lý dự án có thể xem chất lượng mức độ hoàn thiện của công trình so với các tiêu chuẩn thiết kế được duyệt Như vậy, trong công tác quản lý dự án đầu

tư xây dựng một dung sai của các chỉ tiêu được định rõ để đánh giá mức độ hoàn thành chất lượng Chỉ tiêu chất lượng công trình phải đảm bảo theo đúng tiêu chuẩn thiết kế

Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Điện:

- Công tác quản lý dự án đầu tư chỉ được thực hiện từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư Tuy nhiên trước đó phụ thuộc rất lớn vào quy hoạch mà đối với ngành Điện là do Bộ Công Nghiệp phê duyệt

- Công tác quy hoạch: công tác lập, rà soát, điều chỉnh các quy hoạch phải thực sự đảm bảo sự phù hợp giữa quy hoạch phát triển nghành, quy hoạch xây dựng với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Phải tăng cường kiểm tra giám sát việc thực hiện đầu tư theo quy hoạch được phê duyệt, giám sát tăng cường nâng cao chất lượng quy hoạch

- Tập trung rà soát các dự án triển khai về sự phù hợp với quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, dự án phải phù hợp với quy hoạch, có hiệu quả hoặc hiệu quả phải sát với thiết thực của ngành, của địa phương

- Đối với đơn vị tư vấn lập báo cáo đầu tư, thiết kế và tư vấn giám sát thi công, phải rà soát các tổ chức về năng lực chuyên môn và tư cách chủ thể Trong quá trình thực hiện đầu tư còn sai sót hoặc tính toán chưa phù hợp với thực tế, dẫn đến khối lượng vật tư thừa thiếu, thiếu hoặc thiếu chính xác Tổ chức tư vấn chưa chịu tránh nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật về thết kế và chất lượng công tác tư vấn

- Trong quá trình thiết kế không nên đưa công nghệ kỹ thuật quá cao, đôi khi quá lỗi thời hoặc không thật sự phù hợp với đặc điểm của dự án gây lãng phí không cần thiết cho dự án Không đưa chủng loại vật tư không sử dụng rộng rãi trên thị trường hiện đã lạc hậu không còn đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật tại thời điểm

Ngày đăng: 15/07/2017, 20:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm