1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Nghiên cứu vai trò của công ty mua bán điện trong thị trường phát điện cạnh tranh

84 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền kinh tế nước ta nói chung đã và đang tham gia hội nhập với nền kinh tế toàn cầu mà trước hết là các nền kinh tế trong khu vực với hoạt động đầu tư các công trình điện, xuất khẩu các

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-G F -

NGUYỄN HẢI ĐÔNG

NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA CÔNG TY MUA BÁN ĐIỆN TRONG

THỊ TRƯỜNG PHÁT ĐIỆN CẠNH TRANH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan công trình nghiên cứu này là của tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu được nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập tại trường cũng như tiếp xúc trao đổi với đồng nghiệp về vấn đề đang nghiên cứu, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quí báu của thầy cô và các bạn đã giúp em hoàn thành luận văn này

Để hoàn thành đề tài này không chỉ nhờ vào sự cố gắng nỗ lực của bản thân

mà quan trọng hơn là sự hướng dẫn tận tình và kinh nghiệm quí báu của thầy hướng dẫn vì vậy em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy VS.GS.TSKH Trần Đình Long đã giúp em hoàn thành luận văn này

Khi hoàn thành luận văn này do thời gian còn hạn chế vì vậy không thể tránh khỏi thiếu sót Vậy em rất mong đuợc sự đóng góp ý kiến xây dựng từ thầy cô và các bạn để được hoàn thiện hơn

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC HèNH VẼ 6

MỞ ĐẦU 7

Chương 1 Giới thiệu về thị trường điện cạnh tranh 9

1.1 Khái niệm về thị trường điện 9

1.2 Các yếu tố thúc đẩy thị trường, tạo ra xu thế chuyển đổi sang thị trường cạnh tranh 10

1.3 Một số mô hình thị trường điện trên thế giới 13

1.3.1 Thị trường điện tại Anh và xứ Wales 13

1.3.2 Thị trường điện California 18

1.3.3 Thị trường điện Italia 22

1.3.4 Thị trường điện Ba Lan 23

1.4 Thị trường điện tại Việt Nam 24

CHƯƠNG 2 Mễ HèNH TỔ CHỨC CỦA THỊ TRƯỜNG PHÁT ĐIỆN CANH TRANH 34

2.1 Mô hình độc quyền 34

2.2 Mô hình cạnh tranh phát điện (đơn vị mua duy nhất) 35

2.3 Mô hình cạnh tranh bán buôn (nhiều đơn vị mua buôn) 39

2.4 Mô hình cạnh tranh bán buôn và bán lẻ (cạnh tranh hoàn toàn) 42

CHƯƠNG 3 CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA CễNG TY MUA BÁN ĐIỆN 45

3.1 Nhiệm vụ của Cụng ty Mua Bỏn điện 45

3.2 Chức năng của Cụng ty Mua Bỏn điện 46

3.3 Định giỏ điện trong thị trường cạnh tranh 48

3.3.1 Cỏc phương phỏp định giỏ điện tại Việt Nam .49

3.3.2 Đối với nhà mỏy thủy điện 56

3.3.3 Định giỏ theo cơ chế chào giỏ cạnh tranh 57

Trang 5

3.4 Các lựa chọn về tổ chức cho Công ty Mua Bán điện 60

CHƯƠNG 4 HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY MUA BÁN ĐIỆNTRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM 63

4.1 Khuôn khổ pháp lí cho việc hoạt động của các Công ty Mua Bán điện tại Việt Nam 63

4.2 Vấn đề điều tiết ngành điện và vai trò của đơn vị vận hành thị trường 65

4.3 Hoạt động của Công ty Mua Bán điện 73

4.4 Giảm thiểu rủi ro và duy trì lợi thế của Công ty Mua Bán điện 79

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 PPA Power Purchase Agreement : Hợp đồng mua bán điện

2 LC Large Consumer : Khách hàng lớn

3 PT Power Trader : Đơn vị kinh doanh

4 SB Single buyer : Đơn vị mua duy nhất

5 EVN VietNam Electricity: Tập đoàn Điện lực Việt Nam

6 D/R Distributor/ Retailer : Phân phối/ bán lẽ

7 T TranSmitter: Đơn vị truyền tải

Trang 7

DANH MỤC CÁC HèNH VẼ

Hình 1-1: Sơ đồ thị trường điện trên thế giới 9

Hình 1-2: Mô hình thị trường điện tại Anh 14

Hình 1-3: Mô hình thị trường Pool 15

Hình 1-4: Mô hình thị trường hợp đồng 16

Hình 1-5: Thị trường cung cấp bán lẻ 17

Hình 1.6: Mô hình thị trường điện bang California 19

Hình 1.7: Biểu đồ giá trung bình tại thị trường Cali 21

giai đoạn đầu khủng hoảng 21

Hình 1.8: Cơ cấu nguồn điện theo công suất 25

Hình 2.1: Mô hình độc quyền 34

Hình 2.2: Mô hình cạnh tranh phát điện 36

Hình 2.3: Mô hình cạnh tranh bán buôn 40

Hình 2.4: Mô hình cạnh tranh bán buôn và bán lẻ 43

Hỡnh 4.1: Cỏc mục tiờu của điều tiết và nhu cầu tự chủ liờn đới 65

Hỡnh 4.2: Cỏc Đặc điểm của một Cơ quan Điều tiết cú hiệu quả 66

Hỡnh 4.3: Chuỗi hoạt động của Cơ quan điều tiết 68

Trang 8

MỞ ĐẦU

Đặc trưng chủ yếu của kinh tế thế giới hiện nay là xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra rất mạnh mẽ, cuốn hút tất cả các nước Nền kinh tế nước ta nói chung

đã và đang tham gia hội nhập với nền kinh tế toàn cầu mà trước hết là các nền kinh

tế trong khu vực với hoạt động đầu tư các công trình điện, xuất khẩu các dịch vụ liên quan sang các nước khác…

Công ty Mua Bán điện là đơn vị trung gian duy nhất trong quan hệ thương mại giữa các đơn vị phát điện và các Công ty phân phối điện trong giai đoạn thị trường phát điện cạnh tranh Nghiên cứu vai trò, chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của đơn vị này có ý nghĩa khoa học quan trọng đối với tất cả các nước đang xây dựng và phát triển thị trường điện lực

Theo luật điện lực và các quyết định của Chính phủ, Việt Nam đang chuẩn bị các điều kiện để tiến hành giai đoạn đầu của thị trường điện: Giai đoạn phát điện cạnh tranh Trong giai đoạn này Công ty Mua Bán điện là một trong những đối tác chính của các đơn vị phát điện và tất cả các Tổng Công ty phân phối điện

Nội dung nghiên cứu vai trò của Công ty Mua Bán điện trong thị trường phát điện cạnh tranh bao gồm:

- Nghiên cứu mô hình Công ty Mua Bán điện trên thế giới

- Vai trò nhiệm vụ và hoạt động của Công ty Mua Bán điện trong thị trường điện

- Hoạt động của Công ty Mua Bán điện trong điều kiện Việt nam

Trong các giai đoạn phát triển khác nhau của thị trường điện thì vai trò của Công ty Mua Bán điện rất quan trọng

Vì vậy đề tài nghiên cứu “Vai trò của Công ty Mua Bán điện trong thị

trường phát điện cạnh trạnh” có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn đối với ngành

điện Việt Nam hiện nay

Trang 9

Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn được giới thiệu trong 4 chương chính

CHƯƠNG I: Giới thiệu về thị trường điện cạnh tranh

CHƯƠNG II: Mô hình tổ chức của thị trường phát điện cạnh tranh

CHƯƠNG III: Chức năng nhiệm vụ của Công ty Mua Bán điện

CHƯƠNG IV: Hoạt động của Công ty Mua Bán điện trong điều kiện Việt Nam Kết luận và Kiến nghị

Trang 10

Chương 1 Giới thiệu về thị trường điện cạnh tranh

1.1 Khái niệm về thị trường điện

Dây chuyền sản xuất kinh doanh của bất kỳ ngành công nghiệp điện nào cũng gồm 3 khâu liên hoàn: sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng

Điều kiện hình thành thị trường điện không những chỉ phụ thuộc vào chính sách về kinh tế, xã hội của Nhà nước mà còn được quyết định bởi điều kiện kỹ thuật, công nghệ của hệ thống điện Có nhiều điểm khác nhau về thị trường điện, tuy nhiên

về cơ bản thị trường điện là việc hộ tiêu thụ cuối có thể mua điện năng từ các nhà máy sản xuất điện thông qua hệ thống truyền tải điện (được xem như độc quyền tự nhiên) hình thành nên thị trường điện bán buôn giữa các nhà máy điện và thị trường

điện bán lẻ cho các hộ tiêu thụ điện năng

Hình 1-1: Sơ đồ thị trường điện trên thế giới (nguồn Newsletter, third quarter 2002)

Trước đây ngành điện được xem là ngành độc quyền tự nhiên, cả 3 chức năng trên thường được tập trung trong một công ty điện lực Quốc gia Với sự phát triển nhanh của nền kinh tế cũng như yêu cầu tăng trưởng nhanh của nhu cầu tiêu thụ

điện và sự đòi hỏi vốn đầu tư lớn để phát triển các công trình năng lượng, ở nhiều

Trang 11

nước đã có xu hướng cấu trúc lại tổ chức quản lý của ngành điện Những thay đổi to lớn vừa qua trong ngành công nghiệp điện các nước phần lớn gắn với các thay đổi quyền sở hữu và quản lý Trong đó vai trò của tư nhân đã được quan tâm ở các mức

độ khác nhau để tiến tới tư nhân hoá ngành điện nhằm giảm bớt sự độc quyền tạo cơ hội cạnh tranh trong các khâu

1.2 Các yếu tố thúc đẩy thị trường, tạo ra xu thế chuyển đổi sang thị trường cạnh tranh

Những khái niệm đầu tiên về thị trường và tư nhân hoá hệ thống năng lượng

điện xuất hiện ở Chilê vào những năm cuối thập kỷ 70 thế kỷ trước, cùng với sự đổi mới “thị trường tự do” của nhóm Chicago Boys (1 nhóm gồm 25 nhà kinh tế học người Chi-lê) Mô hình thị trường của Chilê đã được coi là thành công trong việc

đưa ra giá điện hợp lý và rõ ràng Argentina đã phát triển mô hình của Chilê bằng cách đặt ra giới hạn chặt chẽ vào sự tập trung của thị trường và bằng cách phát triển cấu trúc thanh toán cho các đơn vị dự trữ để đảm bảo độ tin cậy hệ thống Ngân hàng thế giới (World Bank) đã tích cực trong việc giới thiệu nhiều dạng khác nhau

về thị trường ở các nước Mỹ La tinh, bao gồm Peru, Brazil và Colombia trong thập

kỷ 90

Sự kiện quan trọng của thị trường điện diễn ra vào năm 1990 khi chính phủ Anh thực hiện tư nhân hoá ngành công nghiệp cung cấp điện Anh (UK Electricity Supply Industry) Quá trình này được coi là chất xúc tác cho sự giảm điều tiết của một vài nước khối liên hiệp Anh, đặc biệt là úc và New Zealand Tuy nhiên, trong rất nhiều trường hợp sự giảm điều tiết thị trường xuất hiện không cần đến việc tư nhân hoá rộng rãi như ở Anh

- Thị trường độc quyền tức là cả 3 khâu: sản xuất, truyền tải, phân phối, đều

do một chủ sở hữu duy nhất nắm giữ và vận hành (ở đây thường là nhà nước) Do

đó, giá cả cũng do đơn vị chủ sở hữu quyết định, rẻ thì người tiêu dùng được lợi, đắt thì phải chịu thiệt thòi Người tiêu dùng cũng không được quyền lựa chọn cho mình nhà sản xuất hay phân phối Việc mua bán một chiều tất yếu sẽ đến lúc phải dỡ bỏ

- Nền kinh tế và các ngành công nghiệp khác ngày càng phát triển làm cho nhu cầu điện năng ngày một tăng cao, do đó cần phải mở rộng thị trường, tăng công

Trang 12

suất phát, việc này đỏi hỏi một chi phí rất lớn, tạo ra gánh nặng cho đơn vị chủ sở hữu Độc quyền cần phải được phá bỏ thì mới có thể thu hút thêm vốn đầu tư từ bên ngoài, việc mở rộng thị trường mới theo kịp sự phát triển các ngành khác

- Do không phải cạnh tranh trên thị trường nên chất lượng dịch vụ của ngành

điện độc quyền cũng không thường xuyên được nâng cao, chất lượng dịch vụ kém

đem lại nhiều phiền toái cho khách hàng, đồng thời cũng thể hiện khâu tổ chức và quản lý không hiệu quả

- Giữa các nước có thị trường độc quyền không được lưu thông Tức là khi thiếu hay thừa điện, nước đó không thể bán ra hay yêu cầu mua điện từ các nước khác, dẫn đến tình trạng lãng phí điện đã sản xuất hay thiếu điện cung cấp trong nước Mặt khác, việc không lưu thông thị trường khiến thị trường đó không có cơ hội trao đổi về những kỹ thuật và công nghệ mới, sẽ trở nên lạc hậu so với các thị trường điện khác

- Chuyển đổi thị trường tạo ra cơ hội tận dụng tiềm năng của mọi nguồn năng lượng: điện nguyên tử, năng lượng gió, năng lượng mặt trời

Cỏc mụ hỡnh tổ chức của thị trường phỏt điện cạnh tranh gồm:

(1) mụ hỡnh độc quyền, (2) mụ hỡnh cạnh tranh phỏt điện, (3) mụ hỡnh cạnh tranh bỏn buụn và (4) mụ hỡnh thị trường cạnh tranh bỏn lẻ (hoàn chỉnh)

Quá trình chuyển hoá giữa các mô hình và xu thế phát triển

1 Một số vấn đề chính trong quá trình chuyển hoá giữa các mô hình:

- Cơ chế chuyển đổi: Muốn chuyển đổi từ mô hình độc quyền sang mô hình cạnh tranh phát điện cần phải có các hợp đồng mua bán điện (PPA), các hợp đồng

được phân định tỷ lệ điện được mua bán, từ 70-80% dành cho các hợp đồng cố định, còn lại 20-30% lượng điện được chào bán tự do trên thị trường theo thời điểm (spot market) Từ mô hình cạnh tranh phát điện sang mô hình cạnh tranh bán buôn cần cơ chế quy định quyền thâm nhập hệ thống truyền tải và thị trường bán buôn; từ mô hình cạnh tranh bán buôn sang mô hình cạnh tranh hoàn toàn cần cơ chế thâm nhập

hệ thống phân phối

- Các dàn xếp thương mại và phí truyền tải: Các dàn xếp thương mại là tập hợp các quy tắc mà người bán và người mua phải thực hiện trong quá trình giao

Trang 13

dịch Qúa trình giao dịch sẽ luôn xuất hiện sự chênh lệch giữa lượng điện năng cam kết bán, mua theo hợp đồng và thực tế Vì vậy phải có cơ chế tài chính và phương pháp đo đếm, tính tiền

- Cấu trúc của các đơn vị về mặt chức năng: với mô hình cạnh tranh phát điện nhất thiết phải có các đơn vị phát độc lập, ngoài ra đơn vị mua duy nhất cũng phải

độc lập với chủ sở hữu các nhà máy điện; với mô hình cạnh tranh bán buôn thì các

đơn vị phân phối phải độc lập với chủ sở hữu các nhà máy điện và đơn vị truyền tải nên độc lập với người mua và người bán; với mô hình cạnh tranh hoàn toàn thì đơn

vị truyền tải và đơn vị phân phối có thể nhập và tách khỏi đơn vị bán lẻ và chủ sở hữu phát điện, ngoài ra đơn vị vận hành hệ thống và điều hành thị trường phải độc lập

- Hiệu quả kinh tế: lợi thế của thị trường cạnh tranh là việc đảm bảo đạt được hiệu quả về các mặt sản xuất và đầu tư, sử dụng điện và phân bổ chi phí

- Các trách nhiệm đối với chính sách xã hội: trong quá trình chuyển hoá từ

độc quyền đến cạnh tranh hoàn toàn, khu vực bị điều tiết thu hẹp dần và khu vực cạnh tranh ngày càng mở rộng, phạm vi của trách nhiệm đối với vấn đề chính sách xã hội cũng giảm dần Chính vì vậy trách nhiệm đối với chính sách xã hội là một vấn đề cần giải quyết

- Phương án xử lý vấn đề các chi phí không thu hồi được: Các chi phí này bao gồm những phần vốn đầu tư đã bỏ ra và không có khả năng thu hồi được sau khi thiết lập thị trường cạnh tranh Trong một thị trường cạnh tranh thực sự, giá điện bị giảm xuống và có thể có một số các nhà máy doanh thu không đủ để thu hồi giá trị tài sản trên sổ kế toán Trong trường hợp này việc thiết kế cơ chế thu hồi vốn sao cho không ảnh hưởng đến nguyên tắc của kinh tế thị trường và các biện pháp hỗ trợ thích hợp của cơ quan điều tiết là rất quan trọng

- áp lực thay đổi nội tại: là nguyên nhân bên trong của mô hình đòi hỏi phải thay đổi để giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh Ví dụ như áp lực thay đổi từ mô hình một người mua duy nhất sang mô hình bán buôn là các đơn vị phân phối muốn có nhiều đại lý, các nhà máy điện độc lập muốn thâm nhập lưới truyền tải, đơn vị mua duy nhất với hệ thống truyền tải có thể không đủ khả năng khi phụ tải tăng trưởng

Trang 14

Xu thế chung trong lĩnh vực phát điện

Dựa trên các mô hình tổ chức đã nêu trên, hoạt động phát điện phải trải qua các bước phát triển tuần tự như sau:

- Trong mô hình 1: Mô hình độc quyền, khu vực phát điện là một phần của hoạt động điện lực thích hợp ngành dọc

- Trong mô hình 2: Mô hình đơn vị mua duy nhất, hoạt động phát điện bao gồm nhiều đơn vị phát điện bán điện cho một đơn vị mua duy nhất Các đơn vị phát

điện này là các nhà sản xuất điện độc lập (IPP) hoặc cỏc nhà mỏy điện thuộc nhiều loại hỡnh sở hữu khỏc nhau

- Trong mô hình 3 và 4, khu vực phát điện chỉ bao gồm các đơn vị sản xuất

điện độc lập, bán điện cho các đơn vị phân phối (mô hình 3), đơn vị bán lẻ hoặc khách hàng (mô hình 4) qua các hợp đồng song phương Các đơn vị phân phối vẫn

cú thể cú quyền bán lẻ điện trong khu vực của mình Các đơn vị phát điện được đảm bảo quyền thâm nhập lưới truyền tải (mô hình 3) và lưới phân phối (mô hình 4)

1.3 Một số mô hình thị trường điện trên thế giới

1.3.1 Thị trường điện tại Anh và xứ Wales

Năm 1983, Luật Năng Lượng ở Anh đã cho phép bãi bỏ độc quyền trong khâu phát điện và phân phối, bắt đầu đưa cạnh tranh vào ngành điện Điều này buộc các công ty phải trực tiếp mua điện từ các nhà máy điện độc lập (IPP)

Sau đổi mới, thị trường điện tại Anh có các đặc điểm sau:

- Cho phép các đơn vị phát và các công ty cung cấp bán lẻ cạnh tranh (mô hình 3)

- Truyền tải và phân phối độc quyền có điều tiết

- Tồn tại 3 thị trường: thị trường Pool, thị trường hợp đồng (bán buôn) và thị trường cung cấp (bán lẻ)

Trang 15

Điện Quốc gia Nhà máy điện Nhà máy điện

độc lập Đơn vị khác nước Anh Điện hạt nhân Scotlen

Nhà cung cấp khác Các nhà máy

điện/ Nhà cung cấp

Hình 1-2: Mô hình thị trường điện tại Anh

Trang 16

Thị trường Pool: là một thị trường bán buôn ngắn hạn, nó tập hợp các đơn vị phát và các nhà cung cấp mua buụn (để bán lẻ) Pool sẽ tập hợp nhu cầu tổng của tất cả các nhà cung cấp có nhu cầu mua buôn, các đơn vị sẽ cạnh tranh với nhau thông qua giá đấu thầu để đáp ứng nhu cầu mà Pool tập hợp được

Hình 1-3: Mô hình thị trường Pool

Thị trường các hợp đồng: Tương tự như Pool, có nghĩa là các đơn vị phát sẽ cạnh tranh với nhau để bán điện cho các nhà cung cấp mua buôn Nhưng đây là các hợp đồng trung hạn và dài hạn Về bản chất, đây là các hợp đồng tài chính nhằm hạn chế các rủi ro nếu có sự thay đổi giá trong Pool, nên người ta coi đây là một thị trường tài chính hơn là một thị trường vật lý Do đó nó có thể thêm các đối tác thứ

ba là các “nhà đầu cơ” (hay còn gọi là các nhà cung cấp ảo), những người chuyên mua đi bán lại các hợp đồng để kiếm lời Trên các thị trường tài chính khác tồn tại nhà cung cấp này nhưng rất hiếm khi thấy xuất hiện trên thị trường điện

Trang 17

Hình 1-4: Mô hình thị trường hợp đồng

Thị trường cung cấp bán lẻ: Sau khi mua điện từ Pool, các nhà cung cấp sẽ lại thuê lưới truyền tải/ phân phối để chuyển tới các khách hàng lẻ của mình, tất cả các nhà cung cấp này sẽ phải cạnh tranh với nhau để có thể ký kết được hợp đồng mua và cung cấp điện cho các hộ tiêu thụ lẻ Như vậy, các công ty khu vực trước đây thường

được độc quyền bán điện cho các khách hàng trong khu vực này sẽ chịu sức ép cạnh tranh của các công ty bên cạnh

Contract for marder future

Trang 18

Hình 1-5: Thị trường cung cấp bán lẻ

Hệ thống truyền tải, phân phối: Hệ thống truyền tải sau đổi mới đã được tách khỏi CEGB (Central Electricity Generating Board) thành công ty lưới Quốc gia (National Grid Company – NGC) là dạng công ty trách nhiệm hữu hạn thuộc sở hữu công cộng, tuy nhiên nó là gián tiếp tư nhân và là công ty độc quyền 12 công ty khu vực đều cổ phần trong CEGB, mỗi công ty này đều chịu trách nhiệm đối với mạng phân phối của khu vực mình Họ buộc phải đấu nối tất cả các đơn vị phát và các hộ tiêu thụ vào lưới của mình Phí truyền tải sẽ phụ thuộc vào khoảng cách, công suất truyền, thời gian truyền và thời điểm truyền

Việc cải tổ thị trường điện tại Anh và xứ Wales đã đem lại những tác động

đáng kể:

- Việc tăng cường sử dụng các nguồn năng lượng sơ cấp (than, khí đốt, nguyên tử…) nội địa, hệ số sẵn sàng của các nhà máy tăng lên, công suất của các nhà máy và của lưới cũng tăng lên, do vậy An toàn cung cấp điện không còn bị đe doạ

Cỏc

nhà

cung cấp

Cỏc hộ tiờu thụ lẻ

T/gian Ngưỡng cú quyền vàoSố khỏch lẻ

lưới

Quy mụ cạnh tranh

3/94

3/98

4/98-nay Khụng

hạn chế

22 triệu 100%

Trang 19

- Giá điện có xu hướng giảm: giá giảm 4% đối với các hộ tiêu thụ nhỏ và 1,7% đối với các hộ trung bình do sức ép của cạnh tranh

- Đầu tư bùng nổ vào năm 1996, công suất phát (chủ yếu là IPP) tăng từ 10 lên đến 15GW

- Lợi nhuận của các công ty tăng lên do tiết kiệm chi phí, sau 1 năm đổi mới, lợi nhuận tăng khoảng 150% Ví dụ: chi phí lao động giảm 19% trong đó các công

ty phát giảm 50% lao động, lưới giảm 20%, các công ty khu vực giảm 7%

- Nhiều công nghệ mới đã được áp dụng, hiệu suất nhiệt tăng lên đã làm giảm mạnh lượng phát thải Môi trường được bảo vệ tốt hơn

Kết luận: xét một cách tổng thể, công cuộc đổi mới thị trường điện ở Anh

được đánh giá thành công, ngành điện đảm bảo cung cấp điện cho đất nước với chi phí xã hội rẻ hơn nhưng vẫn đảm bảo an toàn và chất lượng Mô hình cải tổ ở Anh rất được các nước quan tâm học tập và ứng dụng

1.3.2 Thị trường điện California

California là một bang lớn nằm ở phía Tõy Nam Hoa Kỳ Năm 1978 khi quyết định cải tổ ngành điện được ban hành ở Hoa Kỳ, bộ luật PURRA ra đời, buộc các công ty phải mua điện từ bên ngoài Năm 1992, bộ luật Năng Lượng EPAct

được đưa ra, đảm bảo cho mọi đơn vị phát có quyền truy cập vào lưới điện công cộng để ký kết các hợp đồng mua bán điện với các công ty mua buôn hay với các công ty phân phối

Các bang tích cực cải tổ là Arizona, Connecticut, Delaware, District of Columbia, Illinois, Maine Maryland, Massachusetts, Michigan… bang California do một cuộc khủng hoảng lớn từ năm 2000 mà quá trình đổi mới bị trì hoãn

Trang 20

Đơn vị phát điện

Trao đổi năng lượng Hợp đồng song phương

Phối hợp lập lịch huy động tổ máy

Nhà cung cấp dịch vụ

Hình 1.6: Mô hình thị trường điện bang California

Trước khi đổi mới, thị trường điện gồm 3 công ty liên kết độc quyền: PG&E (Pacific Gas & Electric); SEC (Southern Edision Company); SDG&E (San Diago & Electric) quản lý cả 3 khâu sản xuất, phân phối và truyền tải

Bắt đầu chương trình đổi mới và cải tổ vào tháng 4 năm 1994 bằng cách đưa

ra một thị trường cạnh tranh buôn bán, đối với thị trường bán lẻ, họ được phép vào

Trang 21

lưới trực tiếp và tự do lựa chọn các đường truyền tải và phân phối Sau 2 năm thảo luận và nghiên cứu, bang đã quyết định thực hiện tái cấu trúc lại ngành công nghiệp

điện của bang bằng cách đưa ra bộ luật cải tổ AB 1890 (Assambly Bill)

Nội dung chính của bộ luật AB 1890

- Mọi người tiêu thụ lẻ có quyền chọn cho mình một nhà cung cấp (Electric Service Provider – ESP), nếu họ không có khả năng chọn, sẽ có một công ty phân phối công cộng tại địa phương (Utility Distribution Company) cấp điện cho họ với giá mà Uỷ ban Công cộng (Public Utility Commission – PUC) cấp điện cho họ với giá quy định

- Các công ty điện độc quyền trước đây buộc phải mở cửa mạng truyền tải và phân phối của mình để cho các công ty phát, các nhà mua buôn và các công ty cung cấp truy cập mua bán cạnh tranh, giá truy cập do FERC (Federal Energy Regulation Commisson – Uỷ ban Điều tiết) và PUC quy định

- Giá bán điện của các công ty phân phối (UDC) cho khách hàng phải bằng giá Spot (chào bán ngay) trên thị trường bán buôn (được xác định trước đó 1 ngày)

có kể thêm chi phí tổn thất vào hoá đơn

- Giá bán điện cho các hộ tiêu thụ nhỏ và các hộ dân cư sẽ được giảm 10% so với mức giá phổ biến hiện hành

- Thành lập 2 tổ chức phi lợi nhuận là tổ chức vận hành hệ thống độc lập (Independent System Operator – ISO) và tổ chức trao đổi năng lượng (Power Exchange – PX) để giúp đỡ việc mua bán được thuận lợi

- ISO có nhiệm vụ vận hành lưới truyền tải, chịu trách nhiệm đảm bảo cân bằng năng lượng cho hệ thống và các dịch vụ hỗ trợ, quản lý tắc nghẽn, còn PX lo vận hành thị trường mua buôn theo giờ và theo ngày

Quá trình khủng hoảng của thị trường điện California (bắt đầu từ mùa hè năm 2000):

- Giá bán buôn bắt đầu tăng mạnh vào các ngày 21-24/5, tiếp đó là các ngày 12-16/6 và 26-30/6 Đặc biệt giá vào giờ cao điểm đã đạt 1099 USD/MWh vào ngày

28 tháng 5

Trang 22

- Giá RTP (giá theo thời gian thực) của ISO đã đạt mức trần là 750 USD/ MWh và có đến 8 lần như vậy xảy ra vào tháng 6/2000 Ngày 01/7 ISO đã quyết

định giảm giá trần từ 750 xuống 500 USD/MWh, đến ngày 7/8 giảm còn 250 USD/MWh

- Giữa tháng 5 và tháng 8, nhiệt độ vùng Cali tiếp tục tăng cao, thiếu điện buộc ISO nhiều lần tuyờn bố cắt điện Chi phí đầu vào để sản xuất điện, đặc biệt là giá gas tăng mạnh, giá phát thải NOx cũng tăng cao Giá bán buôn tăng nhiều trong khi giá bán lẻ bị khống chế chặt khiến nhiều công ty không có khả năng trang trải về tài chính và có nguy cơ phá sản Theo quan sát giá bán buôn trên thị trường tăng 200-300% so với hè năm trước, trong khi giá bán lẻ hầu như bị đông cứng khiến các công ty mất đến hàng tỷ USD (tổng số thua thiệt do bán lỗ của PG&E và SDG&E vào khoảng 4,6 tỷ USD)

Hình 1.7: Biểu đồ giá trung bình tại thị trường Cali giai đoạn đầu khủng hoảng Nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng:

- áp lực của thị trường là nguyên nhân chủ yếu gây ra sự tăng giá: Giá đầu vào nhiên liệu tăng, đặc biệt là giá khí tăng mạnh Nhu cầu điện năng của mùa hè năm đó tăng mạnh do nhiệt độ lên cao bất thường trong khi các nguồn dự trữ của

Trang 23

miền tây và của California rất bị hạn chế do hầu hết các công ty phát đua nhau tăng

hệ số sẵn sàng

- áp lực về mặt kỹ thuật: Độ tin cậy giảm do nhu cầu tăng mạnh phải cắt điện nhiều lần, khả năng của các đường liên thông của California và các bang lân cận yếu nên không cho phép nhập điện nhiều từ bên ngoài, cũng vì vậy chi phí tắc nghẽn lớn

- Các quy định của thị trường bán lẻ qua bộ luật AB 1890 lúc đó đã làm cho tình thế thị trường càng thêm trầm trọng: Không những khống chế giá bán lẻ mà giá trần còn hạ thêm 10%, hạn chế các hợp đồng mua trước làm cho các công ty không thể chống đỡ được với sự thay đổi của giá trên thị trường giao ngay (Spot Market)

- Một số công ty đã lạm dụng sức mạnh thị trường (Market Power), lợi dụng lợi thế độc quyền, đó là các công ty phát lớn có chi phí biên thấp hơn rất nhiều so với các đối thủ khác và theo định nghĩa là những công ty có sức mạnh thị trường (họ

sẽ có khả năng lái giá thị trường theo hướng có lợi cho mình) và các công ty truyền tải, được xem là độc quyền tự nhiên

Bài học rút ra:

- Theo quan điểm của Uỷ ban điều tiết (Ferc): Nếu như cạnh tranh phía phát đã làm cho giá cả bán buôn trở nên linh hoạt thì giá trần ở khâu bán lẻ giống như cái cổ chai dễ làm ách tắc quá trình vận hành thị trường Do đó phải bãi bỏ mọi

sự kiểm soát giá cả

- Chế độ đấu thầu giá đơn (single price) tạo ra sự bất hợp lý quá lớn về mặt thu nhập giữa các công ty phát cần phải bãi bỏ

1.3.3 Thị trường điện Italia

Trong quá trình triển khai thị trường điện, chính phủ Italia đã ban hành một quyết định, trong đó bắt đầu cho phép phá bỏ liên kết dọc của ENEL – một công ty

điện sở hữu nhà nước và sau đó tiến hành tư nhân hoá thị trường điện, thiết lập thị trường điện theo quy định của Liên minh Châu Âu (EC Directive 96/92) Quyết định

có tên Bersani (mang tên của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Italia) đã được chính thức ban hành ngày 16/03/1999 và có hiệu lực từ ngày 1/4/1999

Trang 24

Theo quyết định này, trong vòng 6 tháng kể từ khi Quyết định Bersani có hiệu lực, Công ty truyền tải điện phải thành lập một công ty cổ phần mua duy nhất Tuy nhiên, công ty truyền tải điện vẫn nắm giữ ít nhất 50,1% quyền sở hữu của đơn

vị duy nhất, số cổ phần còn lại được chuyển cho các công ty hoạt động trong khâu phân phối điện Theo quy định, không công ty phân phối nào được phép nắm giữ hơn 10% số cổ phần của đơn vị mua duy nhất

Đơn vị mua duy nhất chịu trách nhiệm ký kết các hợp đồng thoả thuận để cung cấp điện cho khách hàng bị điều tiết Cùng thời gian này, Bộ Công nghiệp phải ban hành hướng dẫn đơn vị mua duy nhất này đảm bảo an ninh và hiệu quả kinh tế cung cấp điện cho nhóm khách hàng bị điều tiết có xét tới hiệu quả sử dụng các nguồn năng lượng khác nhau, kể cả nhà máy điện đồng phát và năng lượng tái tạo

1.3.4 Thị trường điện Ba Lan

Luật Điện lực năm 1997 đã mở hướng cho phép tái cấu trúc ngành điện của

Ba Lan thành 3 khâu: Khâu phát điện, khâu truyền tải và khâu phân phối điện Ngành Điện vẫn chủ yếu chịu sự quản lý bởi nhà nước thậm chí ngay trong quá trình cải tổ

Công ty lưới điện PSESA được Bộ công nghiệp cho phép thành lập dưới dạng công ty cổ phần và trong đó Bộ Tài chính nắm giữ 100% cổ phần vào năm 1990 Công ty này chịu trách nhiệm truyền tải điện, có vai trò độc quyền trong việc trao

đổi điện năng và hoạt động như đơn vị mua duy nhất

Tháng 3/2006, Chính phủ Ba Lan đã thực hiện chương trình cải tổ ngành công nghiệp điện Một trong những mục tiêu của chương trình này là hợp nhất các công ty điện lực thành các đơn vị có khả năng cạnh tranh cao, có thể thực hiện các

dự án đầu tư ở Ba Lan và tham gia vào thị trường điện của Liên minh Châu Âu

Thông qua việc sát nhập giữa PSESA (đang giữ vai trò chủ đạo trong ngành công nghiệp điện) với BOT (đơn vị giữ vai trò chủ đạo trong thị trường phát điện) và các công ty phân phối điện thành công ty Polska Grupa Energetyczna và được thành lập ngày 9/5/2007 Bộ Tài chính Ba Lan đã chuyển 85% giá trị tài sản của công ty PGE Energia SA và BOT SA cho PSESA Vì vậy, PGE trở thành đơn vị có tiềm lực

Trang 25

mạnh cho phép có thể thực hiện các dự án phát triển cần thiết Đặc biệt, điều này

đảm bảo cho an ninh năng lượng dài hạn ở Ba Lan và đảm bảo điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế

1.4 Thị trường điện tại Việt Nam

Mô hình tổ chức

Tổng công ty điện lực Việt Nam (EVN) được thành lập theo Nghị định số 14/CP ngày 27/01/1995 của Chính phủ Tổng công ty điện lực Việt nam là tổng công ty thuộc sở hữu nhà nước, được giao nhiệm vụ chịu trách nhiệm đầu tư và phát triển ngành công nghiệp điện, tổ chức sản xuất và phân phối điện nhằm đảm bảo nhu cầu điện năng cho sản xuất và sinh hoạt phù hợp với yêu cầu và định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Căn cứ Quyết định số 148/2006/QĐ-TTg ngày 22 tháng 6 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Công ty mẹ – Tập đoàn Điện lực Việt Nam: Ngày

17 tháng 12 năm 2006, Tổng công ty Điện lực Việt Nam chính thức trở thành Tập

đoàn điện lực Việt Nam, với tên giao dịch quốc tế là Việt Nam Electricity, viết tắt

- Khối các công ty truyền tải điện: Trung tâm Điều độ Quốc gia và 4 công

ty truyền tải điện khu vực có chức năng chính là quản lý điều hành hệ thống truyền tải điện quốc gia, gồm các trạm và đường dây cấp 500kV, 220kV và 110kV

- Khối Công ty điện lực: 7 công ty điện lực hạch toán độc lập, có nhiệm vụ phân phối và bán lẻ điện đến khách hàng

- Khối tư vấn: 4 Công ty tư vấn xây dựng điện tại các khu vực và viện năng lượng, có nhiệm vụ thiết kế, quy hoạch, lập dự án và thực hiện việc đầu tư xây lắp các công trình điện lực trên toàn quốc

- Khối chế tạo: sản xuất các thiết bị phục vụ trong ngành điện

Trang 26

- Khối trường học: các trường đại học, cao đẳng và trung cấp dạy nghề đào tạo về ngành điện

Sản xuất và phân phối điện năng

• Về nguồn điện:

Năm 2009, tổng công suất lắp đặt của các nhà máy điện bao gồm thuỷ điện, nhiệt điện, tuabin khí, diesel là 18481 MW với công suất của nhà máy thuộc Tổng công ty Điện lực Việt nam (EVN) là 12852MW, các nhà máy điện độc lập (IPP) là

5629 MW tổng công suất Trong đó:

- Thuỷ điện 6173MW

- Nhiệt điện than: 2145 MW

- Nhiệt điện dầu: 516 MW

- Tuabin khí (khí + dầu): 3197 MW

- Dielsel và thuỷ điện nhỏ :500 MW

Hình 1.8: Cơ cấu nguồn điện theo công suất

IPP, 5269 31%

Nhiệt điện than, 2145 11,81%

Thủy điện,

6173, 34%

Trang 27

• Về lưới điện:

EVN đã tập trung nhiều vào việc cải tạo nâng cấp hệ thống lưới điện truyền tải, lưới điện phân phối bằng rất nhiều nguồn vốn khác nhau, đặc biệt là các nguồn vốn vay từ các tổ chức quốc tế như: Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), SIDA (Thụy Điển)… Tính đến hết năm 2009 lưới điện truyền tải cao áp toàn quốc bao gồm 3438 km đường dây; 16 máy biến áp (MBA) 500kV(không kể MBA của Nhà máy); 8497 km đường dây, 119 MBA 220kV;

12145 km đường dây, 746 MBA 110kV do Công ty Truyền tải điện quản lý vận hành Tuy nhiên, mặt kỹ thuật thì tính liên kết của hệ thống lưới điện truyền tải chưa cao, khi một phần tử bị sự cố sẽ ảnh hưởng chung tới toàn bộ hệ thống lưới điện Đối với lưới điện phân phối, do 7 công ty điện lực trực thuộc EVN quản lý trực tiếp bán

điện đến các hộ phụ tải

Cải cách ngành điện ở Việt Nam

- Sự cần thiết của việc cải cách ngành điện:

Sau hơn một thập kỷ nhu cầu điện tăng với tốc độ cao, ngành điện Việt Nam

đang bước vào giai đoạn phát triển mang tính quyết định Ngành điện đang đối mặt với một loạt những thách thức và vấn đề cần phải giải quyết Nếu không, sự phát triển của ngành sẽ không thể bền vững

- Cận biên dự phòng công suất thấp ở mức nguy hiểm: Hiện tại, nhu cầu đỉnh vào khoảng 13867 MW, công suất lắp đặt đạt 18418 MW Cận biên dự phòng cực thấp như vậy không thể đảm bảo tính tin cậy và an ninh của hệ thống điện Rất cần công suất mới để không xảy ra thiếu điện trong tương lai

- Tăng trưởng nhu cầu điện tiếp tục với tốc độ cao và các yêu cầu về vốn lớn: Theo dự báo, nhu cầu điện sẽ tiếp tục tăng 15-16% một năm trong thời kỳ kế hoạch 2001-2010

Từ năm 2000 – 2005 Sản lượng tăng từ 27,04 tỷ đến 53,6 tỷ kWh

Từ năm 2005 – 2009 Sản lượng tăng từ 53,6 tỷ đến 87,02 tỷ kWh

Dự báo năm 2010 Sản lượng Hệ thống điện Quốc gia tăng 93 tỷ kWh

Trang 28

- Sự thiếu hụt ngày càng lớn trong việc tài trợ cho việc phát triển ngành: Trong Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia giai đoạn 2006-2015 (quy hoạch VI)

được Thủ tướng thông qua ngày 18/7/2007 tổng vốn đầu tư cho toàn ngành trong giai đoạn này là khoảng 79,9 tỷ USD, tương đương 1.262.980 tỷ đồng; trong đó, đầu tư cho nguồn điện khoảng 52 tỷ USD và đầu tư cho lưới điện gần 27,9 tỷ USD Bình quân mỗi năm, vốn đầu tư cho ngành điện gần 8 tỷ USD Chính phủ chỉ có thể cung cấp xấp xỉ 70% vốn đầu tư cần thiết Trong giai đoạn 2003-2010, cần có xẫpỉ 6 tỷ USD vốn đầu tư từ các nguồn phi Chính phủ Việc thu hút một lượng lớn vốn đầu tư phi Chính phủ vào ngành điện là một thách thức lớn đặt ra cho EVN

- Không có một khuôn khổ pháp lý và điều tiết rõ ràng: Thật khó mà thu hút các nhà đầu tư thuộc khu vực phi chính phủ trong và ngoài nước đầu tư vào ngành

điện Việt Nam nếu không có một khuôn khổ pháp lý và điều tiết rõ ràng để bảo vệ vốn đầu tư của họ và đảm bảo bù đắp toàn bộ chi phí và có một lợi nhuận hợp lý trên vốn đầu tư

- Thu hồi chi phí và nguồn thu nhập không đủ: Năm 2006, mức giá điện trung bình được quy đinh là 842 VNĐ/kWh, thấp hơn chi phí cận biên dài hạn (theo

định nghĩa: là chi phí tăng thêm để sản xuất ra thêm 1kWh điện) ước tính khoảng 1050VNĐ Không thể đạt được và duy trì được khả năng tài chính của ngành điện nếu không có sự tăng giá phù hợp

- Mâu thuẫn giữa biểu giá thống nhất trên toàn quốc và cải cách trên cơ sở thị trường: Do mật độ khách hàng khác nhau, do sự pha trộn giữa các khách hàng và do hoàn cảnh địa lý, chi phí cung ứng điện tất yếu khác nhau giữa các khu vực khác nhau EVN không thể tiến dần đến việc thành lập các công ty điện lực trách nhiệm hữu hạn cấp tỉnh và cấp huyện vì có biểu giá thống nhất trên toàn quốc Sở dĩ như vậy là do công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ có thể đặt giá các dịch vụ điện năng do công ty cung cấp tại mức giá thống nhất trên toàn quốc mà không cần quan tâm đến chi phí cung cấp các dịch vụ Đối với EVN, biểu giá thống nhất trên toàn quốc đòi hỏi EVN cung cấp trợ giá chéo giữa các khu vực (các công ty điện lực) thông qua hạch toán giá điện bán buôn nội bộ Thực tiễn trợ giá chéo không khuyến khích các công ty điện lực cắt giảm các chi phí và nâng cao hiệu năng Biểu giá điện bán lẻ

Trang 29

thống nhất trên toàn quốc mâu thuẫn với cải cách kinh tế của chính phủ và nguyên tắc định giá trên cơ sở chi phí

Sự ra đời của Luật điện lực

Năm 1995, chớnh phủ Việt Nam bắt đầu tiến hành cải cách trên lĩnh vực năng lượng, bao gồm cả ngành điện Việt Nam Hiện nay EVN cú 7 công ty khu vực

có liên kết về mặt phân phối và bán lẻ Tháng 12/1995 chính phủ đã ban hành Chính sách năng lượng Theo một khía cạnh khác, chính sách cải cách này vạch ra một chiến lược cho sự phát triển của một khung điều tiết, bao gồm luật điện lực, xác

định giá theo chi phí, nâng cao các thành phần tư nhân, phát triển lưới điện nông thôn và đảm nhận yêu cầu về quản lý

Để thi hành chính sách này, Bộ Công nghiệp đã làm việc với Bộ Tư pháp, Bộ

Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng quốc hội, EVN và một số tổ chức khác để chuẩn bị cho Luật Điện lực Một ban chỉ đạo cấp cao do Bộ Công nghiệp đứng đầu được thành lập vào năm 1996 để điều hành việc xây dựng bản dự thảo Lụât Điện lực,

đồng thời Tổ Cụng tỏc xây dựng Luật Điện lực cũng được thành lập Tháng 5/1998, bản Dự thảo Luật Điện lực (bản dự thảo số 6 bằng tiếng Việt và bản dự thảo số 4 bằng tiếng Anh) đã hoàn thành Bản dự thảo này đã xác lập các nguyên tắc và chính sách cho việc quản lý cấp nhà nước và cung cấp một khung luật rộng cho việc phát triển và điều tiết trong phạm vi năng lượng điện Các thể chế cũng được định ra về việc vạch ra các nguyên tắc và hướng dẫn nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan của chính phủ, cho việc phát triển chính sách năng lượng quốc gia và tạo ra một khung phỏp lý cho việc điều tiết giá và đầu từ vào các dự án Vào thời điểm này, Bộ Công nghiệp đã có kế hoạch để hoàn thành bản dự thảo và trình lên Thủ tướng Lộ trình thực hiện do Bộ Công nghiệp đề nghị và sau đó chính phủ trình Luật điện lực lên Quốc hội vào năm 2004, được Quốc hội phê chuẩn cuối năm đó và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2005

Luật Điện lực nhằm đáp ứng được những nền tảng cơ bản của khung điều tiết Nhưng những ứng dụng của nó sẽ vẫn bị hạn chế khi quyền điều tiết điện lực chưa

được đưa ra trong Bộ luật Quyền điều tiết điện lực sẽ đóng một vai trò quan trọng

Trang 30

luật của Quốc hội Vì vậy, chính phủ đã yêu cầu hỗ trợ kỹ thuật của Ngân hàng phát triển châu á (ADB) trong việc xây dựng những điều khoản dưới luật để phục

vụ cho việc vận hành luật Điện lực

Lộ trình cải cách ngành điện Vịêt Nam

Theo dự án hỗ trợ kỹ thuật TA 3763-VIE năm 2004 của công ty tư vấn TA và ngân hàng phát triển châu á, lộ trình cải cách ngành điện Việt Nam đã được phác thảo một cách cụ thể, với các nhiệm vụ quan trọng phải được thực hiện theo từng giai đoạn như sau:

* Giai đoạn 1: Chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho cải cách

Trong giai đoạn này, yêu cầu phải thiết lập các khuôn khổ luật pháp, điều tiết

và thương mại rõ ràng minh bạch tạo tiền đề cho công cuộc cải cách cơ cấu, các nhiệm vụ chủ yếu như sau:

- Cơ cấu lại EVN thành các công ty độc lập và trách nhiệm hữu hạn

- Củng cố khả năng quản lý tài chính và thương mại của các công ty trách nhiệm hữu hạn để đảm bảo duy trì khả năng tài chính lành mạnh

- Ban hành luật Điện lực và các văn bản dưới luật, các nghị định hướng dẫn thực hiện luật

- Thành lập cơ quan điều tiết

- Thiết lập hệ thống giá điện mới

* Giai đoạn 2: Chuyển sang thị trường điện một người mua duy nhất

- Thiết kế và thiết lập thị trường một người mua duy nhất (cơ cấu thị trường,

vấn đề chuyển EVN thành cỏc cơ quan mua, cơ quan vận hành hệ thống, công ty truyền tải điện, các công ty trách nhiệm hữu hạn phát điện và phân phối điện, thiết lập quy định về hoạt động của thị trường điện)

- Thiết lập các luật lệ của thị trường (quy định chào giá và lập kế hoạch khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên, quy định về lưới điện, giá điện, chống các hành

vi phi cạnh tranh)

Trang 31

* Giai đoạn 3: Chuyển sang thị trường cạnh tranh bán buôn

- Phát triển thị trường giao ngay (thiết kế các luật lệ, phát triển hệ thống thông tin liên lạc và quản lý thị trường (cả phần mềm và phần cứng, thử nghiệm, đào tạo và đưa vào vận hành

- Thiết kế cơ cấu tổ chức thị trường hợp lý để ngăn chặn hành vi lung đoạn thị trường (số lượng phù hợp các công ty phát và công ty phân phối)

- Thiết kế quy định hoạt động của thị trường, nâng cấp các luật lệ sẵn cho thị trường cạnh tranh bán buôn

- Nâng cấp các quy định của thị trường bao gồm các quy định về xử lý chi phí rủi ro tiềm năng (stranded cost) còn lại đối với các hợp đồng mua bán điện dài hạn, các quy định giám sát thị trường với các điều khoản thi hành

* Giai đoạn 4: Chuyển sang thị trường bán lẻ

- Thiết lập cơ chế thị trường hợp lý (tách dịch vụ quản lý lưới phân phối ra khỏi dịch vụ bán lẻ, xác định vai trò của các doanh nghiệp bán lẻ và vai trò của người cung cấp dịch vụ bán lẻ)

- Thiết kế thị trường bán lẻ cạnh tranh (xây dựng kế hoạch chi tiết cho thị trường bán lẻ cạnh tranh, thiết lập các luật lệ của thị trường, phát triển các quy định

về lưới điện phân phối, sửa đổi bổ sung quy định về lưới điện và quy định về giá

điện v.v…)

- Nâng cấp các quy định về thị trường

- Nâng cấp hệ thống quản lý thị trường và hệ thống thông tin liên lạc

Từ thực tế điều kiện kinh tế, xã hội của nước ta kết hợp với các hỗ trợ kỹ thuật của các công ty tư vấn, ngày 26/1/2006 Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định số 26/2006/QĐ-TTg về việc: Phê duyệt lộ trình, các điều kiện hình thành

và phát triển các cấp độ của thị trường Điện lực Việt Nam Theo quyết định này, thị trường điện sẽ được hình thành và phát triển qua ba cấp độ, ở mỗi cấp độ đều có 2 bước: thí điểm và thực hiện Cụ thể như sau:

Cấp độ 1- Bước 1: Thị trường phát điện cạnh tranh thí điểm (2005-2008)

Trang 32

- Thực hiện thị trường phát điện cạnh tranh giữa các nhà máy điện, các công

ty truyền tải điện, các công ty phân phối điện thuộc EVN sẽ được tổ chức lại dưới dạng các công ty độc lập về hạch toán kinh doanh

- Các công ty phát điện độc lập (IPP) không thuộc sở hữu của EVN sẽ tiếp tục bán điện cho EVN theo các hợp đồng mua bán điện dài hạn (PPA) đã được ký kết

- Kết thúc bước thí điểm, các nhà máy điện lớn có vai trò quan trọng trong hệ thống điện đang thuộc EVN phải được chuyển đổi thành các đơn vị phát điện độc lập dưới dạng các công ty nhà nước độc lập; Các nhà máy điện còn lại phải được chuyển đổi thành các đơn vị phát điện độc lập dưới dạng các công ty cổ phần để chuẩn bị cho thị trường phát điện cạnh tranh hoàn chỉnh

- Bộ công nghiệp ban hành các quy định điều tiết các hoạt động của thị trường và hướng dẫn thực hiện

Cấp độ 1 Bước 2: Thị trường phát điện cạnh tranh hoàn chỉnh (2009-2014)

- Thực hiện thị trường phát điện cạnh tranh hoàn chỉnh sau khi các điều kiện tiên quyết cho bước này đã được đáp ứng

- Cho phép các nhà máy điện độc lập không thuộc sở hữu của EVN tham gia chào giá để bắt đầu thị trường phát điện cạnh tranh hoàn chỉnh (theo mô hình người một mua duy nhất); các đơn vị phát điện sẽ bán điện lên thị trường thông qua các hợp đồng PPA và chào giá cạnh tranh trên thị trường giao ngay với tỷ lệ điện năng mua bán theo hai hình thức của từng đơn vị do Cục Điều tiết điện lực quy định

Cấp độ 2 Bước 1: Thị trường bán buôn điện cạnh tranh thí điểm (2015-2016)

- Thực hiện thị trường bán buôn điện cạnh tranh thí điểm khi các điều kiện tiên quyết cho cấp độ này đã được đáp ứng

- Cho phép lựa chọn một số đơn vị phân phối và khách hàng lớn để hình thành thị trường bán buôn điện cạnh tranh thí điểm Cho phép hình thành một số đơn

vị bán buôn mới để tăng cường cạnh tranh trong khâu mua bán buôn điện Các công

ty truyền tải điện hiện tại được sát nhập thành một công ty truyền tải điện quốc gia duy nhất trực thuộc EVN; các đơn vị phân phối, đơn vị vận hành hệ thống và đơn vị

điều hành giao dịch thị trường điện do EVN tiếp tục quản lý

Trang 33

Bước 2: Thị trường bán buôn điện cạnh tranh hoàn chỉnh (2017-2022)

- Thực hiện thị trường bán buôn điện cạnh tranh hoàn chỉnh khi các điều kiện tiên quyết cho bước này đã được đáp ứng

- Cho phép các công ty phân phối điện hiện thuộc EVN được chuyển thành các công ty độc lập (công ty nhà nước hoặc cổ phần) để mua điện trực tiếp từ các

đơn vị phát điện và ngược lại, các đơn vị phát điện cũng cạnh tranh để bán điện cho các công ty này Các đơn vị bán buôn cũng tham gia cạnh tranh để bán điện cho các

đơn vị phân phối và khách hàng lớn

Cấp độ 3 Bước 1 –: Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh thí điểm (2022-2024)

- Thực hiện thị trường bán lẻ điện cạnh tranh thí điểm khi các điều kiện tiên quyết cho cấp độ này đã được đáp ứng

- Cho phép lựa chọn 1 số khu vực lưới phân phối có quy mô thích hợp để triển khai thí điểm Theo mức độ tiêu thụ điện do Cục điều tiết điện lực quy định, các khách hàng được quyền lựa chọn nhà cung cấp điện cho mình (đơn vị bán lẻ

điện) Chức năng kinh doanh bán lẻ điện của các công ty phân phối được lựa chọn thí điểm sẽ tách khỏi chức năng quản lý và vận hành lưới phân phối; các đơn vị bán

lẻ điện sẽ cạnh tranh để bán điện tới từng khách hàng sử dụng điện và cạnh tranh để mua điện từ các đơn vị bán buôn điện

Bước 2: Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh hoàn chỉnh (từ 2024)

- Theo mức độ tiêu thụ điện do Cục Điều tiết điện lực quy định, các khách hàng sử dụng điện trên toàn quốc được quyền lựa chọn nhà cung cấp điện cho mình (đơn vị bán lẻ điện) hoặc trực tiếp mua điện từ thị trường

- Các tổ chức, cá nhân đáp ứng các yêu cầu về hoạt động điện lực được phép thành lập mới các đơn vị bán lẻ điện cạnh tranh trong khâu bán lẻ Các đơn vị này

được quyền mua điện từ các đơn vị phát điện hoặc từ thị trường để bán lẻ cho khách hàng sử dụng điện

Thị trường phát điện cạnh tranh thí điểm đã được triển khai từ tháng 7/2005, với một số nhà máy tham gia gồm Phả Lại, Uông Bí, Ninh Bình, Thác Bà, Thác Mơ,

Đa Nhim, Hàm Thuận - Đa Mi, Bà Rịa, Vĩnh Sơn – Sông Hinh đã bước đầu giúp Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia (A0) - đơn vị chịu trách nhiệm điều hành

Trang 34

thị trường – làm quen được với các hoạt động của thị trường như chào giá, tính toán, công bố, trao đổi thông tin Thị trường điện là một hoạt động mới mẻ ở Việt Nam vì vậy, việc hình thành thị trường điện phải được thực hiện dần dần, thận trọng nhằm phát triển bền vững ngành điện, đảm bảo các mục tiêu dài hạn

Trang 35

CHƯƠNG 2

Mễ HèNH TỔ CHỨC CỦA THỊ TRƯỜNG PHÁT ĐIỆN CANH TRANH

Các dạng cấu trúc tổ chức thị trường điện thông dụng hiện nay là:

2.1 Mô hình độc quyền

Mô hình độc quyền được tổ chức theo liên kết dọc, trong đó 3 khâu chính do một chủ thể độc quyền sở hữu, điều hành và quản lý, thường là sở hữu nhà nước Công ty sở hữu đồng thời vận hành toàn bộ các nhà máy điện cùng với lưới truyền tải và phân phối, đồng thời cũng đảm nhận việc bán lẻ tới khách hàng, độc quyền về sản xuất và bán hàng trong phạm vi dịch vụ của mình Trong mô hình này không có cạnh tranh, không có lựa chọn cho các đơn vị cũng như cho người sử dụng điện cuối cùng, biểu giá điện đến người sử dụng là do chính phủ quyết định Mô hình cũng không có cơ quan vận hành thị trường vì chưa có thị trường Việc vận hành hệ thống

do các đơn vị truyền tải, các trung tâm điều độ thực hiện, và chỉ là vận hành kỹ thuật, không phục vụ cho thương mại

Mô hình độc quyền đã tồn tại trong ngành điện hầu hết các nước trên thế giới

từ thập kỷ 90 trở về trước Hiện nay mô hình này vẫn còn được sử dụng ở các nước: Pháp, Bồ Đào Nha, ý, Malaysia…

Trang 36

* Ưu điểm của mô hình:

- Thuận tiện cho việc quản lý kỹ thuật theo liên kết dọc vì các khâu đều do một công ty điều khiển, vì vậy việc điều hành và cân bằng toàn hệ thống tập trung

- Đơn vị chủ động trong việc lập kế hoạch sản xuất và kinh doanh

- Phối hợp một cách tốt nhất giữa các hoạt động về vận hành, đầu tư, giảm tổng chi phí đầu tư cho toàn ngành

- Giảm thiểu các chi phí cố định và chi phí giao dịch

- Nhà nước bảo trợ cho kết quả hoạt động kinh doanh của công ty bằng cách

- Do đặc thù của ngành điện, đầu tư phải đi trước một bước với lượng vốn lớn Trong khi mô hình độc quyền không cho phép huy động các nguồn tài chính mới, nhất là nguồn vốn tư nhân, cổ phần cho nhu cầu phát triển của toàn ngành Đây sẽ là gánh nặng cho chính phủ khi nhu cầu sử dụng điện ngày càng tăng nhanh

- Bộ máy quản lý, tổ chức dễ tạo ra sự chồng chéo các chức năng và rườm rà

- Khách hàng bị phụ thuộc vào các cơ sở độc quyền và không được chọn nhà cung cấp cho mình

2.2 Mô hình cạnh tranh phát điện (đơn vị mua duy nhất)

Là mô hình trong đó một hay nhiều đơn vị độc quyền ngành dọc vẫn còn nắm quyền kiểm soát ngành Theo mô hình này, đơn vị mua duy nhất được độc quyền mua điện từ các nhà máy điện và bán trực tiếp đến các hộ tiêu thụ điện hoặc thông qua các công ty chuyên bán lẻ điện Các nhà máy điện này có thể thuộc quyền sở

Trang 37

hữu hoặc không thuộc quyền sở hữu nhà nước, đồng thời một số nhà đầu tư khác có quyền xây dựng nhà máy điện độc lập (IPP) cùng cạnh tranh bán điện cho đơn vị mua duy nhất Khi có nhu cầu phụ tải mới hoặc có một nhà máy cũ ngừng phát điện

Đơn vị mua duy nhất sẽ tổ chức đấu thầu và lựa chọn một công ty để ký hợp đồng cung cấp điện, như vậy ngành điện có khả năng cạnh tranh ở khâu sản xuất điện, còn khâu truyền tải phân phối vẫn trong sự kiểm soát của các đơn vị độc quyền

Theo mô hình này, khu vực phát điện gồm nhiều nhà sản xuất, có thể bao gồm các nhà sản xuất độc quyền Đơn vị mua buôn có thể lựa chọn nhà sản xuất, toàn bộ điện sản xuất ra phải bán cho đơn vị mua duy nhất và do vậy, đơn vị này độc quyền

Trang 38

LC: Khách hàng lớn

Mô hình cạnh tranh phát điện có thể tồn tại dưới 2 dạng cơ bản:

- Trong quá trình chuyển đổi, các nhà máy điện đang hoạt động được bán hết cho các nhà đầu tư tư nhân, tạo thành các IPP, ký hợp đồng bán điện cho đơn vị mua duy nhất (trường hợp Bắc Ai-len)

- Một công ty tích hợp mua điện của tất cả các nhà sản xuất độc lập khác (như đã diễn ra ở Mỹ)

Trong mô hình độc quyền hoàn toàn, giá do nhà nước quyết định, còn ở mô hình cạnh tranh phát điện, giá bán điện giữa các nhà sản xuất điện độc lập với đơn vị mua duy nhất thông qua các hợp đồng mua bán điện hoặc đấu thầu Giá hợp đồng thường bao gồm phí sẵn sàng (tính trên kW, nhằm thu hồi chi phí cố định) và phí năng lượng (nhằm thu hồi chi phí biến đổi) Nếu nhà máy không đạt sự sẵn sàng cần thiết thì phải đền bù

* Chức năng, nhiệm vụ của đơn vị mua duy nhất:

- Thực hiện việc mua điện: xác định các yêu cầu về cơ sở và thiết bị phát điện hoặc truyền tải mới, xây dựng và thực hiện một quy trình đấu thầu cạnh tranh cho hoạt động phát điện, tham gia vận hành và quản lý các hợp đồng mua bán điện

- Thực hiện việc bán điện: Soạn thảo và tham gia các hợp đồng cung cấp điện cho các đơn vị phân phối

- Dự báo phụ tải, quy hoạch và mở rộng hệ thống về phát điện và truyền tải

điện, mua các dịch vụ truyền tải của các đơn vị truyền tải để đưa điện đến các đơn vị phân phối, phối hợp với đơn vị truyền tải mở rộng mạng lưới truyền tải điện

* Chức năng, nhiệm vụ của cơ quan vận hành hệ thống:

- Kiểm soát điện năng, bao gồm lập kế hoạch và điều độ (trên cơ sở hợp đồng mua bán điện) để cân bằng giữa cung và cầu theo điều kiện kỹ thuật của các phần tử trong hệ thống điện

- Các dịch vụ liên quan, bao gồm: Điều độ thường xuyên, điều chỉnh điện áp, mức dự phòng nóng và dự phòng nguội; khởi động lại khi mất điện để đảm bảo độ tin cậy của hệ thống

Trang 39

- Dự báo và thông báo mọi sự cố truyền tải, điều tiết mức không tương thích của trang thiết bị, lập kế hoạch vận hành và khôi phục trong trường hợp khẩn cấp, nghiên cứu tính ổn định của các thiết bị phát điện và truyền tải điện mới để đảm bảo

độ tin cậy của hệ thống

* Vai trò của đơn vị truyền tải: Sở hữu và bảo trì hệ thống truyền tải, cung cấp rộng rãi các dịch vụ truyền tải và không phân biệt đối xử với tất cả các khách hàng sử dụng điện

Trong quá trình chuyển dần sang thị trường điện cạnh tranh, phí truyền tải càng ngày càng trở nên quan trọng Do các nhà máy điện tách ra hạch toán độc lập, vì vậy các đơn vị truyền tải phải tính toán và thiết lập hệ thống giá truyền tải Bước

đầu giá truyền tải được tính với một số nút chính, giá truyền tải theo từng khu vực Trong trường hợp chưa có cạnh tranh trong khu vực truyền tải, cơ quan điều tiết của nhà nước phải có trách nhiệm xác định giá truyền tải

Với mô hình này, có một hợp đồng mua bán điện (PPA) giữa nhà sản xuất và

đại lý mua, giá chào của các đơn vị phát điện phải bao gồm cả chi phí truyền tải Hợp đồng mua bán điện phải chỉ rõ điện được mua ở đâu (tại thanh cái nhà máy hay tại thị trường trung tâm), ai chịu trách nhiệm truyền tải công suất, ai lãnh phần rủi ro khi hệ thống truyền tải bị giới hạn dẫn đến nhà máy không phát điện được

Vị trí xây dựng các nhà máy điện mới phụ thuộc vào việc thu phía truyền tải, nói cách khác là cơ chế thu phí góp phần tối ưu hoá vị trí nhà máy và điều độ hệ thống

* Ưu điểm của mô hình:

- Đa dạng hình thức sở hữu trong khâu phát điện nên đã giải quyết được gánh nặng cho nhà nước về vốn đầu tư phát triển nguồn điện

- Đầu tư đổi mới công nghệ của các nhà máy điện sẽ giảm thiểu ảnh hưởng

đến môi trường xung quanh Khuyến khích các nhà đầu tư sản xuất các năng lượng gạch và giá thành thấp

* Nhược điểm của mô hình:

Trang 40

- Giá trong khâu phân phối cho người tiêu dùng do Nhà nước quy định Nhưng giá bán của các nhà sản xuất lại do thị trường điều tiết Nên công ty phân phối sẽ thiếu chủ động trong kinh doanh bán điện khi thị trường có biến động

- Trong một số hệ thống có độ tăng trưởng phụ tải lớn, đơn vị mua duy nhất

có thể trở thành một khâu hẹp và cản trở việc cung cấp điện

- Không có cơ hội cho các đơn vị phân phối lựa chọn đối tác cung cấp điện cho mình để giảm chi phí

- Việc lựa chọn thời điểm đầu tư, vị trí đầu tư có thể chưa đạt hiệu quả cao do phí truyền tải chưa ảnh hưởng đến giá bán điện của các nhà sản xuất

- Người tiêu dùng không có sự lựa chọn nhà phân phôi

2.3 Mô hình cạnh tranh bán buôn (nhiều đơn vị mua buôn)

Sự khác biệt giữa mô hình cạnh tranh bán buôn và mô hình cạnh tranh phát

điện là các đơn vị phân phối và các khách hàng lớn có thể mua điện từ bất kỳ một sản xuất cạnh tranh nào thông qua thị trường bán buôn Họ không bị buộc phải mua

điện từ một đơn vị mua duy nhất như trong mô hình cạnh tranh phát điện Điều này nghĩa là sự cạnh tranh đã được thiết lập ở các cấp điện áp thấp

Tuy nhiên, các đơn vị phân phối trong mô hình cạnh tranh bán buôn vẫn độc quyền về bán điện cho khách hàng cuối cùng Vì các khách hàng không được lựa chọn nhà cung cấp, việc điều tiết giá là cần thiết Mô hình cạnh tranh bán buôn đòi hỏi phải thiết lập thị trường điện tức thời để cho các nhà sản xuất điện và bán điện

có thể buôn bán sản phẩm của mình trên cơ sở từng giờ, hoặc thậm chí từng 0,5 giờ Ngoài ra, cần phải tổ chức một thị trường tương lai trong đó các bên có thể ký các hợp đồng mua bán điện tay đôi dài hạn

Trong mô hình cạnh tranh bán buôn, khi khách hàng có thể mua điện trên lưới truyền tải, phí truyền tải điện trở thành vấn đề trung tâm của mô hình Trong mô hình này, hoạt động truyền tải được tách khỏi phát điện và được sở hữu đơn vị Truyền tải Mô hình này đỏi hỏi đơn vị truyền tải phải mở cửa cho tất cả các đơn vị sản xuất và người mua Các đơn vị bán buôn đều có hợp đồng mua bán của mình, thị trường năng lượng của mô hình này gồm 2 hình thức: Thị trường tức thời và hợp

đồng song phương Điều kiện tiên quyết để các nhà sản xuất có thể bán điện thẳng

Ngày đăng: 15/07/2017, 20:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ian Alexander and Antonio Estache (12/1997), A back-of- the- envelope approach to assess the cost of capital for network regulators, pp. 1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A back-of- the- envelope approach to assess the cost of capital for network regulators
5. NEA (2000), Reduction of Capital Costs of Nuclear Power plants, OECD, Paris, France. Tiếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reduction of Capital Costs of Nuclear Power plants, OECD, Paris, France
Tác giả: NEA
Năm: 2000
6.GV.VS. Trần Đình Long, PGS.TS Đặng Quốc Thống (2005), Báo cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu lộ trình hình thành và phát triển thị trường năng lượng Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: GV.VS. Trần Đình Long, PGS.TS Đặng Quốc Thống (2005)
Tác giả: GV.VS. Trần Đình Long, PGS.TS Đặng Quốc Thống
Năm: 2005
12. Thạc sĩ Tuyết Minh Tuyết – Viện Năng lượng, “Giá điện và thị trường điện trong giai đoạn quy hoạch phát triển tổng sơ đồ điện lực Việt Nam”, htpp://www.ips.gov.vn/tt-khcn/login chitiet.asp?id=1818 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giá điện và thị trường điện trong giai đoạn quy hoạch phát triển tổng sơ đồ điện lực Việt Nam
13. Thạc sĩ Thái Minh Châu (2008), “Nghiên cứu mô hình thị trường điện và xây dựng lộ trình tiến tới thị trường bán lẻ điện cạnh tranh tại Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Nghiên cứu mô hình thị trường điện và xây dựng lộ trình tiến tới thị trường bán lẻ điện cạnh tranh tại Việt Nam
Tác giả: Thạc sĩ Thái Minh Châu
Năm: 2008
14. Nguyễn Minh Thắng (04-2007), Chuyên đề nghiên cứu số 3 “ Chiến lược chào giá của các nhà máy điện trong thị trường điện” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề nghiên cứu số 3 “ Chiến lược chào giá của các nhà máy điện trong thị trường điện
2. IEA (2003), World Energy Investment Outlook, OECD/IEA, Paris, France Khác
3. IEA and NEA (1998), Projected costs of generating Electricity: Update 1998, OECD, Paris, France Khác
4. NEA (2003), Nuclear Electricity Generation: What are the external costs, OECD, Paris, France Khác
7. Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (2006), Thiết kế định hướng thị trường phát điện cạnh tranh nội bộ Tổng Công ty Điện lực Việt Nam Khác
8. Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Báo cáo 2006-2007 (Corporate Profile) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1-1: Sơ đồ thị trường điện trên thế giới  (nguồn Newsletter, third quarter 2002) - Nghiên cứu vai trò của công ty mua bán điện trong thị trường phát điện cạnh tranh
Hình 1 1: Sơ đồ thị trường điện trên thế giới (nguồn Newsletter, third quarter 2002) (Trang 10)
Hình 1-2: Mô hình thị tr−ờng điện tại Anh - Nghiên cứu vai trò của công ty mua bán điện trong thị trường phát điện cạnh tranh
Hình 1 2: Mô hình thị tr−ờng điện tại Anh (Trang 15)
Hình 1-3: Mô hình thị tr−ờng Pool - Nghiên cứu vai trò của công ty mua bán điện trong thị trường phát điện cạnh tranh
Hình 1 3: Mô hình thị tr−ờng Pool (Trang 16)
Hình 1-4: Mô hình thị trường hợp đồng - Nghiên cứu vai trò của công ty mua bán điện trong thị trường phát điện cạnh tranh
Hình 1 4: Mô hình thị trường hợp đồng (Trang 17)
Hình 1-5: Thị tr−ờng cung cấp bán lẻ - Nghiên cứu vai trò của công ty mua bán điện trong thị trường phát điện cạnh tranh
Hình 1 5: Thị tr−ờng cung cấp bán lẻ (Trang 18)
Hình 1.6: Mô hình thị tr−ờng điện bang California - Nghiên cứu vai trò của công ty mua bán điện trong thị trường phát điện cạnh tranh
Hình 1.6 Mô hình thị tr−ờng điện bang California (Trang 20)
Hình 1.7: Biểu đồ giá trung bình tại thị trường Cali giai đoạn đầu khủng hoảng  Nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng: - Nghiên cứu vai trò của công ty mua bán điện trong thị trường phát điện cạnh tranh
Hình 1.7 Biểu đồ giá trung bình tại thị trường Cali giai đoạn đầu khủng hoảng Nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng: (Trang 22)
Hình 2.1: Mô hình độc quyền - Nghiên cứu vai trò của công ty mua bán điện trong thị trường phát điện cạnh tranh
Hình 2.1 Mô hình độc quyền (Trang 35)
Hình 2.2: Mô hình cạnh tranh phát điện - Nghiên cứu vai trò của công ty mua bán điện trong thị trường phát điện cạnh tranh
Hình 2.2 Mô hình cạnh tranh phát điện (Trang 37)
Hình 2.3: Mô hình cạnh tranh bán buôn - Nghiên cứu vai trò của công ty mua bán điện trong thị trường phát điện cạnh tranh
Hình 2.3 Mô hình cạnh tranh bán buôn (Trang 41)
Hình 2.4: Mô hình cạnh tranh bán buôn và bán lẻ - Nghiên cứu vai trò của công ty mua bán điện trong thị trường phát điện cạnh tranh
Hình 2.4 Mô hình cạnh tranh bán buôn và bán lẻ (Trang 44)
Hình 4.1: Các mục tiêu của điều tiết và nhu cầu tự chủ liên đới - Nghiên cứu vai trò của công ty mua bán điện trong thị trường phát điện cạnh tranh
Hình 4.1 Các mục tiêu của điều tiết và nhu cầu tự chủ liên đới (Trang 66)
Hình 4.2: Các Đặc điểm của một Cơ quan Điều tiết có hiệu quả - Nghiên cứu vai trò của công ty mua bán điện trong thị trường phát điện cạnh tranh
Hình 4.2 Các Đặc điểm của một Cơ quan Điều tiết có hiệu quả (Trang 67)
Hình 4.3: Chuỗi hoạt động của Cơ quan điều tiết - Nghiên cứu vai trò của công ty mua bán điện trong thị trường phát điện cạnh tranh
Hình 4.3 Chuỗi hoạt động của Cơ quan điều tiết (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w