+ Du lịch đón khách là loại hình phục vụ, đón tiếp khách nước ngoài đến thăm đất nước – nơi của cơ quan cung ứng du lịch ; + Du lịch gửi khách : Là loại hình du lịch quốc tế phục vụ và t
Trang 2Môc lôc Trang 1
Ch−¬ng 2 : Thùc tr¹ng du lÞch ë Sa Pa 362.1 Qu¸ tr×nh ph¸t triÓn du lÞch ë Lµo Cai vµ Sa Pa 36
2.3 §¸nh gi¸ ®iÓm m¹nh, yÕu, c¬ héi vµ th¸ch thøc cña du lÞch Sa Pa 67
Ch−¬ng 3 : Mét sè gi¶i ph¸p nh»m ph¸t triÓn du lÞch ë Sa Pa trong
Trang 4Phần mở đầu
1 Tính cầp thiết của đề tài
Du lịch là một trong những ngành kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với môi trường tự nhiên, môi trường nhân văn Trong xu thế hội nhập hiện nay, đặc biệt ở các quốc gia phát triển, du lịch là một nhu cầu không thể thiếu Do những đòi hỏi khách quan đó mà du lịch ngày càng phát triển với nhiều loại hình du lịch như: du lịch sinh thái, du lịch nghiên cứu khoa học, du lịch thăm quan, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch cuối tuần, du lịch thể thao, du lịch văn hoá Du lịch đem đến sự thoả mãn du khách về nhu cầu giải trí, cân bằng trạng thái tinh thần, thể lực sau những ngày lao động mệt nhọc của nếp sống công nghiệp Tuy nhiên, trong một thời gian dài, việc phát triển du lịch mới chỉ quan tâm tới việc xây dựng các khách sạn, nhà hàng, các sản phẩm du lịch với mục đích thu hút nhiều hơn lượng du khách Việc làm này đã đem lại một nguồn lợi đáng kể, song cũng tiềm ẩn những tác động tiêu cực như sự huỷ hoại các hệ sinh thái và nguy cơ ô nhiễm môi trường, góp phần làm gia tăng các tệ nạn xã hội như: mại dâm,
ma tuý , làm biến đổi các giá trị văn hoá truyền thống Những yếu tố đó tác động đến sự phát triển bền vững hoạt động du lịch
Sa Pa một khu du lịch thuộc vùng núi Tây Bắc đang ngày càng thu hút sự chú ý của du khách và các nhà đầu tư Từ năm 1990 cho đến nay sự phát triển mạnh mẽ của du lịch đã mang lại một nguồn lợi không nhỏ về kinh tế cho địa phương nhưng cũng tạo ra nguy cơ xuống cấp về môi trường, văn hoá và xã hội Một số nghiên cứu về hoạt động du lịch ở đây cho thấy hoạt động này đã ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên, xã hội
và văn hoá của người dân bản địa Trong xu thế hội nhập hiện nay, để hướng tới xây dựng Sa Pa thành một điểm du lịch hấp dẫn nhưng vẫn bền
Trang 5vững về mặt môi trường tự nhiên, xã hội, và không ảnh hưởng đến các giá trị văn hoá bản địa, thì cần phải có những giải pháp phù hợp
Với các lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Sa Pa trong xu thế hội nhập”
Đề tài này chủ yếu đề cập một số vấn đề cơ bản đang được quan tâm trong tình hình hiện nay Hơn nữa chủ đề này rất mới và rộng nên đây chỉ là những nghiên cứu bước đầu, những đề xuất có tính gợi mở, cần thiết cho phát triển
du lịch hiện nay ở Sa Pa
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có những nghiên cứu của các tác giả về vấn đề phát triển du lịch bền vững trên phạm vi cả nước Các công trình nghiên cứu đã đề cập một cách toàn diện, khái quát hoặc đi sâu phân tích nguyên nhân phải phát triển bền vững của ngành du lịch Tuy nhiên chưa thấy công trình nào đi sâu, phân tích, đánh giá, nghiên cứu các giải pháp phát triển du lịch bền vững
ở Sa Pa – Lào Cai Vì vậy luận văn “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Sa Pa trong xu thế hội nhập” là đề tài cần thiết
và có ý nghĩa thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích: Xuất phát từ chủ trương, chính sách pháp luật của nhà nước
về du lịch; Từ thực tế phát triển du lịch của Sa Pa, Lào Cai, tiến hành phân tích thực trạng phát triển du lịch tỉnh Lào Cai (trong đó có Sa Pa); trên cơ sở đó tìm ra điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức phát triển du lịch Sa Pa trong xu hướng hội nhập để đề xuất các giải pháp phát triển du lịch bền vững của Sa Pa
Nhiệm vụ: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về du lịch và du
lịch bền vững; Khái quát tình hình phát triển du lịch bền vững của Việt Nam trong thời gian qua Trên cơ sở đó luận chứng các giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch bền vững ở Sa Pa
Trang 64 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Các khách du lịch, dân địa phương Sa Pa và các Doanh
nghiệp du lịch, các yếu tố khác liên quan đến phát triển du lịch bền vững ở
Sa Pa
- Phạm vi: Chủ yếu nghiên cứu sâu về cơ sở lý luận phát triển du lịch
bền vững, vận dụng cụ thể vào tình hình thực tế tại Sa Pa, phân tích, đánh giá
và đề xuất các giải pháp thực hiện
5 Những đóng góp khoa học của luận văn
- Trình bày một cách hệ thống lý luận về du lịch và du lịch bền vững
- Đánh giá được thực trạng của du lịch Lào Cai nói chung và du lịch Sa
Pa nói riêng; phân tích được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của
du lịch Sa Pa trong xu hướng hội nhập
- Đưa ra những giải pháp mang tính gợi mở, định hướng để phát triển
du lịch bền vững tại Sa Pa
6 Phương pháp nghiên cứu chủ yếu
- Phương pháp thu thập thông tin, tài liệu
Trong các công trình nghiên cứu khoa học, tính kế thừa luôn phải
được đặt ra, do vậy việc thu thập các tài liệu có liên quan là rất quan trọng
và cần thiết Trong quá trình thực hiện đề tài nhiều thông tin, tài liệu về
điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và một số tài liệu nghiên cứu về hoạt
động du lịch ở Sa Pa đã được thu thập để làm cơ sở cho những phân tích nghiên cứu được đặt ra đối với đề tài
- Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này việc sử dụng bảng hỏi kết hợp với phỏng vấn bảng chính thức đã được thực hiện Đối tượng chủ yếu là dân địa phương, khách du lịch nội địa và du khách nước ngoài Kết quả bước đầu đã thu được 30 bảng
Trang 7hỏi cho người dân địa phương, 48 cho du khách nội địa và 28 cho du khách nước ngoài
7 Kết cấu của Luận văn
Trang 8để vực dậy nền kinh tế kém phát triển của quốc gia
Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia thuộc Tổ chức Du lịch thế giới (WTO), sự bùng nổ của hoạt động du lịch chỉ mới bắt đầu từ thế kỷ này và các
số liệu về hoạt động du lịch mới bắt đầu được quan tâm từ những năm 50 trở lại đây
Có thể nói rằng, buổi ban đầu sự bùng nổ này là do những du khách tạo nên Cho đến nay, du lịch nghỉ biển vẫn là dòng du khách lớn trên thế giới; chính vì vậy có khái niệm dụ lịch 3S với các nghĩa là biển (sea), cát (sand),
ánh nắng (sun) Hiện nay biển không còn là địa chỉ duy nhất của các chuyến
du lịch, có thể nói rằng, du lịch (tourism) bao gồm 4T là sự di chuyển (travel), phương tiện vận chuyển tốt, gây hứng khởi (transport), về những nơi yên tĩnh, thanh bình (tranquility) và có môi trường tự nhiên cũng như xã hội trong sạch (transparenty)
Người Trung Quốc cho rằng du lịch bao gồm 5 yếu tố là thực, trú, hành, lạc, y Đi du lịch là được nếm như những món ăn ngon, ở trong những căn
Trang 9phòng tiện nghi, đi lại trên những phương tiện sang trọng, được vui chơi giải trí vui vẻ, có điều kiện mua sắm hàng hoá
1.1.2 Thuật ngữ
Thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ nhiều nước bắt nguồn từ tiếng Hy
Lạp với ý nghĩa đi vòng Thuật ngữ Latinh hoá thành tonus và sau đó thành tourisme (tiếng Pháp), tourism (tiếng Anh) vv Theo Robert Lanquar, từ tourist lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1980
Trong tiếng Việt thuật ngữ tourism được dịch thông qua tiếng Hán Du
có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là từng trải
Tuy nhiên, người Trung Quốc gọi tourism là du lãm với nghĩa là đi chơi
để nâng cao nhận thức
1.1 3 Các khái niệm và định nghĩa
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không thể chỉ ở các nước phát triển mà còn ở cả các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay, không chỉ ở nước ta, nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất Trước thực tế phát triển của ngành du lịch về mặt kinh tế cũng như trong lĩnh vực đào tạo, việc nghiên cứu thảo luận để đi đến thống nhất một số khái niệm cơ bản, trong đó có khái niệm về du lịch là một đòi hỏi cần thiết
Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau Đúng là một chuyên gia về du lịch nhận định: “Đối với du lịch có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”
Trong số những học giả đưa ra định nghĩa ngắn gọn nhất (tuy không phải là đơn giản nhất) phải kể đến ausher và Nguyễn Khắc Viện Theo ausher thì du lịch là nghệ thuật đi chơi của các cá nhân, còn viện sĩ Nguyễn
Trang 10Khắc Viện lại quan niệm rằng du lịch là sự mở rộng không gian văn hoá của con người
Dưới con mắt các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà nó còn phải gắn chặt với hoạt động kinh tế Với cố gắng chỉ
ra một cách cụ thể khía cạnh kinh tế của du lịch, Picara Edmod đã đưa định
nghĩa sau: “Du lịch là tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ
về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ
ra và của những khách vãng lai đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp (trước hết trong khách sạn) và gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí
Chúng ta biết rằng, trong thực tế cuộc sống do sự phát triển của xã hội
và nhận thức, các từ ngữ thường có khá nhiều nghĩa, nhiều khi trái ngược nhau Vì vậy nên tách thuật ngữ du lịch thành 2 phần để định nghĩa
Do đó du lịch có thể được hiểu là:
+ Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng
+ Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh
Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch Cho đến nay không ít người, thậm chí ngay cả các cán bộ, nhân viên trong ngành du lịch chỉ cho rằng du lịch là
Trang 11một ngành kinh tế Do đó mục tiêu được quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh tế Điều đó cũng có thể đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội kinh doanh Trong khi đó, du lịch còn là một hiện tượng xã hội, nó góp phần nâng cao trình độ dân trí, phục hồi sức khoẻ cộng đồng, giáo dục lòng yêu nước, tình đoàn kết, hiểu biết lẫn nhau Ngoài ra
sự phát triển du lịch còn có ý nghĩa lớn đối với việc bảo tồn các di sản văn hoá
và tạo nên môi trường sống ổn định về mặt sinh thái, phát triển thiên nhiên môi trường, xã hội Chính vì vậy toàn xã hội phải có trách nhiệm đóng góp hỗ trợ, đầu tư cho du lịch phát triển như đối với giáo dục, thể thao hoặc lĩnh vực văn hoá khác
Theo Luật Du lịch, đã được Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam khoá
XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 thì ta có một số khái niệm như sau:
- Du lịch là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
- Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường
hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập từ nơi đến
- Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân,
cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch
- Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích
lịch sử văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản
để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch
Trang 12- Tham quan là hoạt động của khách du lịch trong ngày tới thăm nơi có
tài nguyên du lịch với mục đích tìm hiểu, thưởng thức những giá trị của tài nguyên du lịch
- Đô thị du lịch là đô thị có lợi thế phát triển du lịch và du lịch có vai
trò quan trọng trong hoạt động của đô thị
- Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài
nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế – xã hội và môi trường
- Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu
tham quan của khách du lịch
- Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở
cung cấp dịch vụ du lịch, gắn kết với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không
- Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu
của khách du lịch trong chuyến đi du lịch
- Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển,
lưu trú, ăn uống, vui chơi, giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch
- Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các
dịch vụ khác phục vụ cho khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú chủ yếu
- Chương trình du lịch là lịch trình, các dịch vụ và giá bán chương trình
được định trước cho chuyến đi của khách du lịch từ nơi xuất phát đến điểm kết thúc chuyến đi
Trang 13- Lữ hành là việc xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc
toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch
- Hướng dẫn du lịch là hoạt động hướng dẫn cho khách du lịch theo
chương trình du lịch Người thực hiện hoạt động hướng dẫn được gọi là hướng dẫn viên và được thanh toán cho dịch vụ hướng dẫn du lịch
- Phương tiện vận chuyển khách du lịch là phương tiện bảo đảm các
điều kiện phục vụ khách du lịch, được sử dụng để vận chuyển khách du lịch theo chương trình du lịch
- Xúc tiến du lịch là hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động nhằm
tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội phát triển du lịch
- Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu
hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai
- Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản
sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững
- Du lịch văn hoá là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc
với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống
- Môi trường du lịch là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhân
văn nơi diễn ra các hoạt động du lịch
1.2 Các loại hình du lịch
Hoạt động du lịch có thể được phân thành các nhóm khác nhau tùy thuộc tiêu chí đưa ra Hiện nay đa số các chuyên gia về du lịch Việt Nam đều phân chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản sau:
1.2.1 - Phân loại theo môi trường tài nguyên
Trang 14Theo Pirojnick (Nguồn: Cơ sở địa lý du lịch và dịch vụ tham quan Nhà xuất bản Đại học tổng hợp Minsk 1985 – tiếng Nga) thì du lịch là một ngành
có định hướng tài nguyên rõ rệt, tùy môi trường tài nguyên mà hoạt động du lịch được chia thành hai nhóm lớn là du lịch văn hoá và du lịch thiên nhiên
- Du lịch văn hóa: Là thể loại du lịch gắn với việc khám phá, tìm hiểu các phong tục tập quán, lễ hội truyền thống, các di tích văn hóa – lịch sử, các
di dản (vật thể và phi vật thể); các hoạt động biểu diễn văn nghệ Loại hình này diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn
- Du lịch thiên nhiên: Là loại hình du lịch thăm quan, khám phá, tìm hiểu thiên nhiên như các rừng cảnh quan, thác nước, sông, suối, hang động, các vườn quốc gia, núi, đồi, hệ động – thực vật Tức là du lịch thiên nhiên là loại hình du lịch đưa du khách về với nơi có điều kiện, môi trường tự nhiên trong lành, cảnh quan tự nhiên hấp dẫn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đặc trưng của họ
1.2.2 Phân loại theo mục đích chuyến đi
- Du lịch tham quan
Tham quan là hành vi quan trọng của con người để nâng cao hiểu biết
về thế giới xung quanh Đối tượng thăm quan có thể là một tài nguyên du lịch
tự nhiên hoặc nhân văn
- Du lịch giải trí
Mục đích chuyến đi là thư giãn, xả hơi, bứt ra khỏi công việc thường nhật căng thẳng để phục hồi lại sức khoẻ Với mục đích này du khách chủ yếu muốn tìm đến những nơi yên tĩnh, có không khí trong lành
- Du lịch nghỉ dưỡng
Nhằm mục đích nghỉ ngơi phục hồi sức khoẻ cho cộng đồng Địa chỉ cho các chuyến du lịch nghỉ dưỡng là những nơi có không khí trong lành, khí
Trang 15hậu dễ chịu, phong cảnh ngoạn mục như các bãi biển, vùng núi, vùng nông thôn
- Du lịch khám phá
Khám phá thế giới xung quanh nhằm mục đích nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh Loại hình này có thể chia thành du lịch tìm hiểu và du lịch mạo hiểm Du lịch tìm hiểu là tìm hiểu thiên nhiên, môi trường, phong tục tập quán, lịch sử Còn du lịch mạo hiểm là dựa trên nhu cầu tự thể hiện mình
để khám phá thiên nhiên, con người và xã hội
- Du lịch thể thao
Tham gia chơi các môn thể thao, nhưng không phải thi đấu chính thức
mà chỉ là giải trí, ở đây các cổ động viên chính là những du khách
- Du lịch lễ hội
Tham gia vào các hoạt động lễ hội văn hoá, du khách muốn hòa mình với cộng đồng quên đi những căng thẳng của cuộc sống đời thường
- Kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích tôn giáo
Là chuyến đi với mục đích thoả mãn nhu cầu thực hiện các lễ nghi tôn giáo của tín đồ hoặc tìm hiểu, nghiên cứu tôn giáo của những người dị giáo
Điểm đến của đối tượng du khách này là các chùa chiền, nhà thờ, thánh địa
- Kết hợp chuyến đi vì mục đích học tập, nghiên cứu
Là chuyến đi với mục đích học tập, tìm hiểu thực tiễn theo cách “học”
đi đôi với “hành”
- Kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích hội nghị
Đây là một loại hình du lịch mới phát triển, đặc biệt từ sau đại chiến thế giới lần thứ 2 Khách đi dự hội nghị thường được bao cấp, các nơi tổ chức Hội nghị thường được thanh toán các dịch vụ ở mức chi trả cao
Trang 16- Kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích thể thao
Là chuyến đi không phải du lịch thể thao thuần tuý, mà chuyến đi của các vận động viên có mục đích chính là luyện tập, tham dự vào các cuộc thi
đấu thể thao
- Kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích chữa bệnh
Mục đích chính của chuyến đi là để điều trị hoặc phòng ngừa 1 căn bệnh tiềm tàng nào đó dựa vào từng loại tài nguyên cụ thể và hoạt động du lịch phù hợp Điểm đến là các khu an dưỡng, nước suống khoáng nóng, tắm thuốc dân tộc hay nơi có không khí trong lành
- Kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích thăm thân
Đối với những nước có nhiều ngoại kiều, loại hình du lịch này được coi trọng vì nó đáp ứng nhu cầu thăm thân kết hợp với đi du lịch Theo Tổng cục
Du lịch nước ta hàng năm có khoảng 20% du khách sang Việt Nam với mục
đích thăm thân
- Kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích kinh doanh
Đây là chuyến đi với mục đích tìm cơ hội làm ăn, tìm đối tác kinh doanh, nhằm sinh lời Các du khách này thường là các thương gia có khả năng thanh toán và đòi hỏi dịch vụ du lịch cao
1.2.3 Phân loại theo lãnh thổ hoạt động
- Du lịch quốc tế
Du lịch quốc tế là chuyến đi của người nước ngoài đến thăm quan du lịch Du lịch nước ngoài là chuyến đi của người trong nước ra thăm quan du lịch ở nước ngoài Như vậy du lịch quốc tế được phân thành du lịch đón khách quốc tế và du lịch gửi khách ra nước ngoài
Trang 17+ Du lịch đón khách là loại hình phục vụ, đón tiếp khách nước ngoài
đến thăm đất nước – nơi của cơ quan cung ứng du lịch ;
+ Du lịch gửi khách : Là loại hình du lịch quốc tế phục vụ và tổ chức
đưa khách từ trong nước đi du lịch ở nước ngoài ;
- Du lịch nội địa
Được hiểu là các hoạt động tổ chức, phục vụ người trong nước đi du lịch, nghỉ ngơi và thăm quan các đối tượng du lịch trong lãnh thổ quốc gia, về cơ bản không có sự giao dịch thanh toán bằng ngoại tệ
1.2.4 Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch
- Du lịch biển
Mục tiêu chủ yếu của du khách là về với thiên nhiên, tham gia các hoạt
động du lịch biển như tắm biển, các môn thể thao trên biển
- Du lịch núi
Tìm về những vùng núi có cảnh quan đẹp, khí hậu dễ chịu, giàu bản sắc dân tộc để du khách được nghỉ dưỡng và trải nghiệm các loại hình như tham quan, thám hiểm, leo núi
1.2.5 Theo phương tiện giao thông
Trang 18Phương tiện chuyên vận chuyển khách bao gồm:
- Phương tiện giao thông đường bộ :
+ Loại có động cơ : ô tô;
+ Loại không có động cơ : Xích lô, xe đạp kéo, xe súc vật kéo;
- Phương tiện giao thông đường thủy
+ Loại có động cơ : Tàu thủy, ca nô, thuyền gắn máy, xuồng máy; + Loại không có động cơ : Các loại thuyền, xuồng, ghe;
- Phương tiện giao thông đường sắt : Tàu hỏa, tàu điện;
- Phương tiện giao thông đường không
+ Loại có động cơ : Máy bay, cáp treo;
+ Loại không có động cơ : Tàu lượn, khinh khí cầu;
1.2.6 Phân loại theo loại hình lưu trú
* Khách sạn
Khách sạn (hotel) là cơ sở lưu trú du lịch được xây dựng thành khối, với quy mô từ 15 buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, tiện nghi và dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch
Buồng ngủ trong khách sạn gồm các loại sau:
- Buồng tiêu chuẩn (standard room) là buồng ngủ đảm bảo tiêu chuẩn tối thiểu cho từng hạng sao của khách sạn;
- Buồng hạng sang (deluxe room) là buồng ngủ có vị trí thuận lợi trong khách sạn với tầm nhìn thoáng; diện tích, trang thiết bị nội thất, tiện nghi tốt hơn buồng tiêu chuẩn;
Trang 19- Buồng đặc biệt (suite room) là buồng ngủ có vị trí, tầm nhìn đẹp trong khách sạn; có phòng khách hoặc khu vực tiếp khách riêng trong buồng ngủ; diện tích, trang thiết bị nội thất, tiện nghi hơn buồng hạng sang;
- Buồng thượng hạng (president room) là buồng ngủ đáp ứng yêu cầu phục vụ nguyên thủ quốc gia với trang thiết bị, tiện nghi hiện dại, cao cấp nhất trong khách sạn 5 sao
a) Khách sạn di chuyển hoặc neo đậu trên mặt nước gọi là khách sạn nổi (floating hotel);
b) Khách sạn được xây dựng thấp tầng, gần đường giao thông, gắn với việc cung cấp nhiên liệu, bảo dưỡng, sữa chữa phương tiện vận chuyển và cung cấp các dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch gọi
là khách sạn bên đường (Motel);
c) Khách sạn được xây dựng tại các đô thị phục vụ khách du lịch, chủ yếu là khách thương gia, khách công vụ, khách tham quan du lịch gọi
là khách sạn thương mại (commercial hotel);
d) Khách sạn được xây dựng độc lập thành khối hoặc thành quần thể gồm các biệt thự, căn hộ du lịch; băng – ga – lâu (bungalow) ở khu vực có cảnh quan thiên nhiên đẹp, phục vụ nhu cầu nghỉ dưỡng, giải trí, thăm quan du lịch gọi là khách sạn nghỉ dưỡng (resort hotel)
* Làng du lịch: Là khu vực có diện tích đủ rộng được quy hoạch, đầu
tư xây dựng như một điểm dân cư nông thôn mà cư dân là khách du lịch, ở nơi
có cảnh quan thiên nhiên đẹp, có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và dịch vụ đồng bộ đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách du lịch trong thời gian lưu trú
Trang 20* Biệt thự du lịch (tourist villa) là biệt thự được xây dựng thấp tầng, có
sân vườn, cơ sở vật chất, trang thiết bị, tiện nghi và dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch
* Căn hộ du lịch (tourist apartment) là căn hộ có trang thiết bị, tiện
nghi cho khách du lịch thuê, tự phục vụ trong thời gian lưu trú Nhiều căn hộ
du lịch được xây dựng trong cùng một khối nhà hoặc nhiều khối liền kế được gọi là khu căn hộ du lịch
* B∙i cắm trại du lịch (tourist camping): là khu vực có diện tích đủ
rộng được quy hoạch ở nơi có cảnh quan thiên nhiên đẹp, có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật và dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch cắm trại
* Nhà nghỉ du lịch (tourist house): Là cơ sở lưu trú du lịch được xây
dựng thành khối, có trang thiết bị, tiện nghi cần thiết phục vụ khách du lịch nhưng không đạt điều kiện tiêu chuẩn xếp hạng khách sạn
Cơ sở lưu trú được bố trí trên các phương tiện di động có qui mô dưới
15 buồng ngủ được xếp vào loại nhà nghỉ
* Nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê (homestay) là nhà dân có
trang thiết bị cần thiết phục vụ lưu trú cho khách du lịch thuê, do người trong gia đình phục vụ
* Các loại hình cơ sở lưu trú khác
a) Băng – ga – lâu (bungalow) là nhà một tầng, được xây dựng chủ yếu
bằng vật liệu nhẹ Băng – ga – lâu có thể xây dựng đơn chiếc hoặc tập hợp thành dãy cụm trong các làng du lịch, khu khách sạn nghỉ dưỡng, bãi cắm trại du lịch có chất lượng phùi hợp với từng loại, hạng cơ sở lưu trú du lịch tương ứng
Trang 21b) Lều du lịch (tourist tent) là phương tiện lưu trú làm bằng vải, bạt
được sử dụng cho khách du lịch trong bãi cắm trại hoặc đi du lịch dã ngoại
1.2.7 Phân loại theo lứa tuổi du khách
Lứa tuổi thiếu niên, thanh niên, trung niên và người cao tuổi
1.2.8 Phân loại theo thời gian của cuộc hành trình
Du lịch ngắn ngày: Thường kéo dài tối đa đến 3 ngày
Du lịch dài ngày: Vào kỳ nghỉ phép hoặc những kỳ nghỉ đông, nghỉ hè
1.3 Quan niệm về phát triển du lịch bền vững
1.3.1 Quan niệm về phát triển bền vững
Cuộc khủng hoảng sinh thái mang tính chất toàn cầu được nêu lên lần
đầu tiên có hệ thống trong bản tường trình thứ nhất của câu lạc bộ La mã -
1972 Bản tường trình đó sau khi nêu những dự báo về cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường hết sức nghiêm trọng, đã khuyến nghị chỉ có thể tránh được thảm hoạ sinh thái bằng cách dừng sự tăng trưởng: tăng trưởng dân số; tăng
Trang 22trưởng kinh tế, tăng trưởng nhu cầu năng lượng và các tài nguyên không tái tạo Mặc dù những dự báo bi quan của bản tường trình đó chưa có sức thuyết phục đầy đủ, nhưng đó cũng là báo động có ích, cảnh tỉnh loài người về tính hữu hạn của trái đất và các tài nguyên thiên nhiên, về sự lãng phí lớn về tài nguyên và sự ô nhiễm môi trường tăng vọt trong quá trình công nghiệp hoá Nguy cơ một thảm hoạ sinh thái là có thực nếu cứ tiếp tục phát triển như thời gian qua Những khuyến nghị “tăng trưởng số không” chung cho toàn thế giới
để tránh thảm hoạ không có tính thực tế Dừng lại sự tăng trưởng mà vẫn giữ nguyên phương thức sản xuất như hiện nay, bòn rút thiên nhiên mà không bồi thường lại, không ngừng đưa vào khí quyển các chất độc công nghiệp, tạo nên hiệu ứng nhà kính làm thủng tầng ôzôn Nhiễm bẩn nước và không khí thì chỉ
có thể kéo dài một thời gian ngắn thời điểm xảy ra thảm hoạ chứ không thể tránh được thảm hoạ
Bản tường trình thứ hai của Câu lạc bộ La mã - 1974 với nhan đề:
“Chiến lược cho ngày mai” đã bổ khuyết vào những thiếu sót của bản tường
trình thứ nhất Nó không khuyến nghị dừng lại sự tăng trưởng như trong bản tường trình thứ nhất mà thay đổi kiểu tăng trưởng, thay kiểu tăng trưởng vô tổ chức, phi cấu trúc như trong nhiều thập kỷ qua bằng một kiểu tăng trưởng hữu cơ như trong một cơ thể sống
Cũng trên tinh thần đó, các nhà sinh thái học, kinh tế học trong thời gian gần đây đều thống nhất nhận định rằng kiểu phát triển như hiện nay đưa loài người lâm vào một cuộc khủng hoảng không lối thoát và được thay thế bằng kiểu phát triển khác, đó là kiểu phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nên chưa có định nghĩa nào
đầy đủ, thống nhất, nó nẩy sinh từ cuộc khủng hoảng môi trường sinh thái và nhằm khắc phục cuộc khủng hoảng đó Bởi vậy khi nói đến phát triển bền vững, nhiều học giả thường chỉ nhấn mạnh yếu tố tự nhiên Họ thường nói đến
Trang 23sử dụng các tài nguyên để đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng của thế hệ tương lai Những nội dung chủ yếu là: tiết kiệm tài nguyên, sử dụng hợp lý tài nguyên, chống ô nhiễm môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học Gần đây trong bản báo cáo về sự phát triển của thế giới trong năm 1992 của Ngân hàng thế giới viết: “đạt tới sự phát triển bền vững và bình đẳng là sự thách thức lớn nhất đặt ra cho nhân loại” Thực vậy để phát triển bền vững các yếu tố tự nhiên không thể tách rời các yếu tố xã hội Một
sự phát triển bền vững được đảm bảo lâu dài về các yếu tố vật chất là tự nhiên cung cấp như năng lượng, nguyên vật liệu, nhưng cũng cần được đảm bảo về mặt con người, về mặt xã hội, vì con người không giải quyết tốt mối quan hệ giữa con người với con người thì cũng không thể giải quyết tốt mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên
Một nền kinh tế bền vững phải là một nền kinh tế vì con người và do con người, kết hợp yêu cầu của sinh thái tự nhiên với yêu cầu của sinh thái nhân văn Tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ môi trường, đảm bảo chất lượng cuộc sống cho mọi người và công bằng xã hội Mỗi người tạo điều kiện để chăm lo cuộc sống của mình của cộng đồng, tự giác chăm lo bảo vệ môi trường trong hoạt động sản xuất cũng như trong đời sống
Từ đó có thể hiểu một cách ngắn gọn về phát triển bền vững là sự phát triển đảm bảo sự hài hoà các mục tiêu kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái, giải quyết hợp lý lợi ích của các nhân tố tự nhiên và xã hội cho thế hệ hiện tại và thế hệ tương lai
a Du lịch và sự phát triển bền vững
Từ khi xuất hiện khái niệm phát triển bền vững, hầu hết các hoạt động kinh tế được đối chiếu, xem xét và bàn luận dưới quan điểm của khái niệm này Du lịch là hoạt động mà người ta cho là cần thiết phải phát triển khai thác theo các quan điểm, nguyên tắc phát triển bền vững, để đảm bảo sự tăng
Trang 24trưởng hợp lý và lâu dài, hay nói cách khác đi, phát triển bền vững trong du lịch đòi hỏi tất yếu khách quan Sở dĩ như vậy là vì trong nhiều trường hợp,
du lịch phụ thuộc hoàn toàn vào sự duy trì, bảo vệ môi trường và các điều kiện tự nhiên, các tài nguyên thiên nhiên, xã hội nhân văn cho sự sống của chính nó Tuy nhiên điều này chỉ mới được thừa nhận một cách nguyên tắc,
lý thuyết và trên thực tế rất ít những chuyển biến tích cực mà
người ta đã đạt được để làm cho du lịch bền vững theo đúng ý nghĩa của thuật ngữ phát triển bền vững
Có thể hiểu du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà vẫn bảo đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch tương lai
Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo cách nào đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm
mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ bản,
đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống
Để sự phát triển du lịch được bền vững, đòi hỏi phải đề cập đến môi trường rộng hơn về kinh tế, chính trị, xã hội Do đó, du lịch phải có vị trí của
nó là một phần của chương trình phát triển kinh tế tổng hợp Du lịch bền vững nhấn mạnh nhu cầu hiểu biết và tôn trọng cơ sở nguồn tài nguyên du lịch về
đảm bảo sự nỗ lực của các bên có liên quan, bao gồm sự hợp tác, hùn vốn kinh doanh, chỉ đạo và nghiên cứu Trong điều kiện thiếu pháp luật, ngành công nghiệp du lịch phải bám lấy những chuẩn mực quốc tế cao nhất Trên hết, du lịch bền vững bao hàm quan điểm thống nhất và không thể chỉ là một mánh khoé tiếp thị Rõ ràng là có một sự phát triển về du lịch “thay thế” hoặc du lịch “xanh” để phục vụ cho những quan tâm đến thiên nhiên hay văn hoá Ngành du lịch phải đảm bảo rằng nó bảo tồn những nguồn tài nguyên mà nó dựa vào để khai thác
Trang 25Bản thân du lịch đã bị những vấn đề môi trường rộng lớn đe doạ - tầng
ôzone bị thủng, nạn phá rừng, nạn ô nhiễm môi trường, đất và bãi biển bị xói mòn Do đó muốn phát triển bền vững ngành du lịch phải liên kết với các tổ chức khác - các tổ chức, các nhà nghiên cứu về môi trường, các cơ quan phát triển và các cộng đồng địa phương - nếu không thì phải đi đầu trong nỗ lực toàn cầu nhằm đạt được một xã hội bền vững
b Những yếu tố cơ bản của du lịch bền vững : Sự bền vững là khái
niệm bao hàm các yếu tố phức tạp khác nhau Trong du lịch bền vững, các yếu
tố môi trường bao gồm tài nguyên sinh thái và tài nguyên nhân văn được người ta quan tâm chú trọng hơn cả
Trong phạm vi hẹp, sự bền vững sinh thái có thể thực hiện bằng cách ngăn chặn hay hạn chế con người khỏi những khu dễ bị tổn hại như những khu vực hoang sơ cần được bảo tồn Tuy nhiên trong thuật ngữ phát triển hay thực
tế xã hội, cách giải quyết này không mang lại hiệu quả cao Một khả năng nữa
là cho phép một nhóm người được hưởng lợi thông qua hoạt động bảo vệ và như vậy vẫn đạt được mức độ cao của bền vững sinh thái
Sự phát triển bền vững tại một điểm du lịch cũng có thể duy trì được nhờ cách tạo sự bình đẳng và sự giảm nghèo, người già, nhóm dân tộc thiểu số
và nhóm tôn giáo một cách giải quyết thực tế là chấp nhận sự ưu tiên Nếu mục đích chính được chấp thuận là làm thoả mãn nhu cầu của khách du lịch, thì nhu cầu của những người khác ít quan trọng hơn Nếu được bảo tồn một môi trường vật chất có được sự quan tâm hơn thì nhu cầu của con người ( bao gồm của du khách và dân cư bản địa) sẽ bị xem nhẹ Một vấn đề cần tập trung
có thể là sự cải thiện hoàn cảnh của những người ở thế bất lợi và không có quyền gì
ở những giai đoạn, những điểm du lịch hay những nước khác nhau,
được ưu tiên phát triển theo hướng nào là hoàn toàn khác nhau Nó phụ thuộc
Trang 26vào các quan điểm về ý chí chủ quan và nhận thức của chính quyền, mỗi người và cộng đồng
Có nhiều cách tiếp cận tới phát triển bền vững trong du lịch Vì vậy có thể có nhiều rắc rối và nhầm lẫn Vai trò của du lịch trong phát triển bền vững rất quan trọng, nhưng có lẽ ít được chú ý tới, vai trò của phát triển bền vững trong du lịch được tiếp thu rộng rãi nhưng lại được hiểu một cách chưa gãy gọn, bởi vậy có những sai sót trong quá trình thực hiện là điều kiện không ngạc nhiên
1.3 2 Sự cần thiết và mục tiêu của du lịch bền vững
a Sự cần thiết phải phát triển du lịch theo hướng bền vững
Hiện nay, hoạt động du lịch phát triển ồ ạt có nguy cơ làm suy thoái tài nguyên du lịch Sự tập trung quá nhiều người và thường xuyên tại điểm du lịch làm cho thiên nhiên không kịp phục hồi và đi đến chỗ huỷ hoại Sự có mặt của những đoàn người này đã uy hiếp đời sống một số loài vật hoang dã, đẩy chúng ra khỏi nơi cư trú yên ổn trước đây
Ngày nay khi đến Vườn Quốc gia Cúc Phương du khách khó có thể nhìn thấy các loài thú đặc trưng như voọc, khỉ Nhũ đá trong các hang động ở Tam Cốc Ninh Bình, Cát Bà bị mất dần vẻ tự nhiên hoang sơ, trở nên không
được hấp dẫn do bị du khách tác động nhiều, hay bị phủ một lớp khói đen vì khói hương của khách
Hiện tượng tàn phá thông qua việc mua, lấy các tiêu bản tự nhiên để làm kỷ niệm cho chuyến đi như phong lan, nhũ đá, còn khá phổ biến Không
ít du khách còn để dấu ấn về sự có mặt của mình tại nơi du lịch Tại nhiều
điểm do ý thức của du khách, trách nhiệm của người làm du lịch, sự quan tâm
đầu tư và quản lý của chính quyền chưa tốt nên tình trạng xả thải bừa bãi trong hoạt động du lịch đã đến mức báo động Chúng ta dễ dàng nhận thấy
điều này ở mọi nơi như Hương Sơn, Ao Vua, Hạ Long vv
Trang 27Mặt khác, do số lượng các công trình phục vụ khách du lịch tăng lên nhanh chóng vượt quá khả năng chịu tải của cơ sở hạ tầng nên chúng bị xuống cấp nghiêm trọng, làm gia tăng mức độ ô nhiễm môi trường, điều đó đều ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên Nếu cứ chạy theo khai thác bừa bãi tài nguyên để kinh doanh thu lợi nhuận thì chính sự phát triển hôm nay lại phá hoại sự phát triển ngày mai của bản thân ngành du lịch, một ngành kinh tế đầy triển vọng của đất nước
Hiện nay nhiều nước trên thế giới, nhiều tổ chức, các nhà khoa học
đang kêu gọi phải phát triển du lịch bền vững, bởi: Trong bất cứ trường hợp nào chúng ta đều hiểu rằng mọi thứ không thể tiếp tục theo một cách nhất
định nếu chúng cứ tiếp tục phát triển như cũ Tất cả hoạt động của chúng ta rốt cuộc là sự khai thác quá mức môi trường tự nhiên, khai thác quá nhiều ở mọi lĩnh vực Chúng ta quên đi một vài khía cạnh đó là:
+ Những giới hạn của tự nhiên: Chúng ta hiểu rằng rất khó để biết được giới hạn chịu đựng của thiên nhiên bởi vì nó luôn thay đổi;
+ Sự phức tạp của những quan hệ chồng chéo, bởi vì phát triển du lịch không đơn giản là những quan hệ nhân - quả gồm hai hay nhiều yếu tố mà là tác động qua lại phức tạp ảnh hưởng tương tác;
+ Sự chậm trễ thời gian tự nhiên: Những tác động của nguyên nhân xa xưa trong quá khứ hay trong những nguyên nhân mà chỉ gây ảnh hưởng nhiều năm về sau (lỗ thủng của tầng ôzôn);
+ Giai đoạn đồng hoá: Thời gian dành cho tự nhiên hay các dân tộc để thích nghi với trạng thái mới Theo một giả thuyết, phát triển văn hoá luôn tụt lại đằng sau sự phát triển cấu trúc Thường những thay đổi nhanh chóng trong cấu trúc kinh tế, cấu trúc nhân khẩu xã hội học ở những khu du lịch không tính đến khả năng cho sự thích ứng văn hoá xã hội và tự nhiên
Trang 28Sự sao lãng về nhận thức các yếu tố tự nhiên trong quá trình phát triển
du lịch và khai thác tài nguyên du lịch một cách bừa bãi tại các khu điểm du lịch trong tình hình hiện nay đã giải thích phần nào sự kêu gọi cần thiết của phát triển du lịch bền vững
b Những mục tiêu của du lịch bền vững
+ Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế và môi trường;
+ Cải thiện tích công bằng xã hội trong phát triển;
+ Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa;
+ Đáp ứng cao độ nhu cầu của du khách;
+ Duy trì chất lượng môi trường
Chiến lược nhằm đạt Du lịch bền vững còn chưa được xây dựng hoàn chỉnh nhằm được chấp nhận rộng rãi Mỗi một tình huống đòi hỏi tiếp cận và giải pháp khác nhau Tuy nhiên, nếu thực sự du lịch là đem lại lợi ích cho môi trường tự nhiên và xã hội và bền vững lâu dài thì tài nguyên không có quyền được sử dụng quá mức Tính đa dạng tự nhiên, xã hội và văn hoá phải
được bảo vệ; phát triển du lịch phải được lồng ghép vào chiến lược phát triển của địa phương và quốc gia, người dân địa phương phải được tham gia vào việc hoạch định kế hoạch, triển khai và giám sát cần được tiến hành Những nguyên tắc này của tính bền vững cần phải được triển khai trong toàn bộ lĩnh vực phát triển du lịch
c Những khó khăn trong việc đạt được phát triển du lịch bền vững
Có một học thuyết thực tiễn là rất quan trọng bởi vì rất nhiều học thuyết trừu tượng không cho phép ta tiến xa hơn được Thực ra những học thuyết trừu tượng thường gây ra những phản ứng ngược lại thực tế Các nhà nghiên cứu và tham luận cũng hiểu một điều là chúng ta đang tiến tới điểm bão hoà nơi mà
Trang 29một mặt có quá nhiều chuyên gia với quá nhiều lời cố vấn và mặt khác có quá
ít tác nhân, tài nguyên và thời gian để hành động Đây là khó khăn thứ nhất
Cách giải thích thứ hai nằm trong áp lực nhu cầu Những nhân tố trong tăng trưởng du lịch, đặc biệt là huy động nguồn vốn nhàn rỗi của các vùng và
sự sẵn sàng đi du lịch, tầm quan trọng của việc đi du lịch như việc đem ý
nghĩa cho cuộc sống đang sản sinh ra làn sóng lớn khách du lịch Đây là lý do thứ hai
Phát triển du lịch bền vững có thể bị tác động của triết lý hưởng lạc ngày càng cao của nhiều người Nghiên cứu dựa trên cơ sở quan sát và thực nghiệm cho thấy mặc dù đã có nhận thức trách nhiệm đối với thế hệ tương lai hay ý thức về môi trường nhưng khuynh hướng chỉ thích hưởng thụ, vui thú và
một cuộc sống xa hoa không hề giảm Đây là lý do thứ ba
Cuối cùng, những diễn thuyết suông và một vài thay đổi quan điểm đơn
độc không đủ để đạt được phát triển du lịch sinh thái đúng đắn và du lịch tương thích xã hội Sự phát triển này kêu gọi thay đổi mô hình hay thay đổi cách hoạt động Tuy nhiên hiểu được thế giới xung quanh hay cơ cấu kinh tế nhằm đưa ra những quyết định thích hợp để thay đổi mô hình hoạt động là rất khó khăn Thực ra một thay đổi căn bản trong ý thức con người đã hiện diện nhưng vẫn có quá nhiều sự bảo thủ hay cách trì hoãn trong hệ thống kinh tế,
chính trị làm chậm trễ những thay đổi này Đây là lý do thứ tư
Giờ đây có nhiều cách tiếp cận mới và ngày càng nhiều nhà điều hành
du lịch suy nghĩ, tìm tòi để làm sao thực hiện được những yêu cầu quản lý môi trường sinh thái Một trong các cách tiếp cận đó là sử dụng ngày càng nhiều chuyên gia môi trường, những tuyên truyền về bảo vệ môi trường, những kiểm toán sinh thái, đường lối chỉ đạo được sửa đổi Bên cạnh đó vẫn
có nhiều nhà quản lý du lịch lãng quên nguy cơ gây ra một cuộc khủng hoảng môi trường
Trang 301.4 Phát triển du lịch bền vững trong xã hội hiện đại
Khái niệm về du lịch bền vững ngày càng được nhiều tổ chức chính trị trên thế giới chấp nhận, đặc biệt là cộng đồng Châu Âu Một số giám đốc điều hành của EU đã tham gia trực tiếp vào các vấn đề du lịch và môi trường
Chính sách quốc gia về du lịch bền vững đã được xây dựng ở Canada, austrlia, Hawaii, ierland, UK
Diễn đàn Liên Hiệp Quốc về Môi trường và phát triển (UNCED) năm
1992 tại Braxin đã dành cho du lịch bền vững một sự quan tâm thích đáng Trong chương trình 21, Hội đồng Lữ hành và Du lịch thế giới, Tổ chức Du lịch Quốc tế và Hội đồng Trái đất đã xác nhận 3 công cụ nền tảng để nhằm đạt
- Các chương trình cải tổ công nghiệp tự nhiên, nhằm vào quản lý có trách nhiệm và đạo đức với sản phẩm và quá trình sản xuất trên quan điểm tôn trọng môi trường và sức khoẻ
Hội thảo Quốc tế về du lịch bền vững tổ chức tại Lanzarote Tây Ban Nha tháng 4/1995, bản Hiến chương Du lịch bền vững đã được xây dựng nhằm kêu gọi cộng đồng quốc tế, các chính phủ, các tổ chức cộng đồng, các cơ quan có thẩm quyền, các nhà chuyên môn, các doanh nghiệp du lịch và kể cả du khách phải quan tâm và tuân thủ chiến lược du lịch bền vững Tại bản Hiến chương đó đã nêu ra các nhận thức đúng đắn về phát triển du lịch bền vững và xu thế phát triển du lịch theo hướng bền vững như: Nhận thức được
Trang 31rằng: Du lịch là một hiện tượng mang tính hai mặt, ở chỗ du lịch vừa có khả năng đóng góp một cách tích cực vào những thành tựu kinh tế xã hội cũng như chính trị, nhưng đồng thời nó cũng một phần dẫn tới sự xuống cấp về môi trường và sự mất đi những bản sắc của từng địa phương, phải xem xét giải quyết trên cơ sở một hệ tư tưởng có tính toàn cầu
Vì vậy phát triển du lịch phải dựa trên cơ sở bền vững, có nghĩa là về mặt sinh thái phải đảm bảo lâu dài, đồng thời phải có hiệu quả về khía cạnh kinh tế, và phải công bằng về mặt xã hội và dân tộc đối với cộng đồng địa phương Phát triển bền vững là một quá trình hướng tới việc quản lý trên toàn cầu các nguồn lực để đảm bảo rằng các nguồn lực này sẽ vẫn duy trì, như vậy giúp cho việc bảo tồn các tài sản tự nhiên và tài sản văn hoá của chúng ta, bao gồm cả các khu vực được bảo tồn Là công cụ đắc lực cho phát triển bền vững, quản lý du lịch một cách chặt chẽ có nghĩa là tính bền vững của các nguồn lực
mà du lịch dựa vào phải được đảm bảo
Du lịch phải góp phần vào sự phát triển bền vững và sự hoà nhập của phát triển bền vững với môi trường tự nhiên và con người, du lịch phải tôn trọng trạng thái cân bằng dễ bị phá vỡ là đặc trưng của các địa điểm du lịch
Phát triển du lịch phải quan tâm đến các ảnh hưởng của nó đối với các
di sản văn hoá và các yếu tố truyền thống, các hoạt động và các động lực của từng địa phương vv
Các Chính phủ, các ngành, các cơ quan chính quyền và các tổ chức phi chính phủ liên quan đến du lịch cần thúc đẩy và tham gia vào hệ thống mở để nghiên cứu, tuyên truyền các thông tin và hội nhập những loại hình du lịch
đúng đắn và kiến thức môi trường trong du lịch, công nghệ đảm bảo được sự bền vững của môi trường
Du lịch bền vững là một bộ phận của phát triển bền vững, xuất hiện như một cách thức kinh doanh mới của các doanh nghiệp du lịch, một cách ứng xử
Trang 32mới của du khách và một đòi hỏi đối với cộng đồng địa phương Du lịch bền vững nhằm đảm bảo đầu vào liên tục cho du lịch trên cơ sở bảo vệ môi trường (trong đó có tài nguyên du lịch) cũng như đóng góp vào nền kinh tế và phúc lợi địa phương
1.5 Những nguyên tắc chung phát triển du lịch bền vững
1.51 Sử dụng tài nguyên một cách bền vững: Bao gồm cả tài nguyên
thiên nhiên, xã hội và văn hoá Việc sử dụng bền vững tài nguyên là nền tảng cơ bản nhất của việc phát triển du lịch lâu dài
1.5.2 Giảm tiêu thụ quá mức và xả thải: Nhằm giảm chi phí khôi phục
các suy thoái môi trường, đồng thời cũng góp phần nâng cao chất lượng du lịch
1.5.3 Duy trì và phát triển tính đa dạng của tự nhiên, xã hội và văn hoá là rất quan trọng đối với du lịch bền vững, tạo ra sức bật cho ngành du
lịch
1.5.4 Lồng ghép du lịch vào trong quy hoạch phát triển địa phương và quốc gia
1.5.5 Hỗ trợ nền kinh tế địa phương: Du lịch phải hỗ trợ vào các hoạt
động kinh tế địa phương, phải tính toán chi phí môi trường vừa để bảo vệ nền kinh tế bản địa cũng như tránh gây hại cho môi trường
1.5.6 Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: Điều này không
chỉ đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho môi trường mà còn tăng cường đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của du khách
1.5.7 Sự tư vấn của các nhóm quyền lợi và công chúng: Tư vấn giữa
công nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức và cơ quan là đảm bảo cho sự hợp tác lâu dài cũng như giải quyết các xung đột có thể nảy sinh
Trang 331.5.8 Đào tạo cán bộ kinh doanh du lịch nhằm thực thi các sáng kiến
và giải pháp du lịch bền vững, nhằm cải thiện chất lượng các sản phẩm du lịch
1.5.9 Marketing du lịch một cách có trách nhiệm: Phải cung cấp cho
khách những thông tin đầy đủ và có trách nhiệm nhằm nâng cao sự tôn trọng của du khách đến môi trường tự nhiên, xã hội và văn hoá khu du lịch, qua đó góp phần thoả mãn nhu cầu của du khách
1.5.10 Triển khai các nghiên cứu, nhằm hỗ trợ giải quyết các vấn đề,
mang lại lợi ích cho khu du lịch, cho nhà kinh doanh du lịch và cho du khách
1.6 Phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam trong xu thế hội nhập
Trong xu thế hội nhập, mở rộng hợp tác quốc tế, du lịch Việt Nam đã
có những bước phát triển rất khả quan, đặc biệt sau khi thực hiện quá trình đổi mới với những chính sách thuận lợi cho du lịch được ban hành Từ những năm
90 của thế kỷ này, ngành du lịch đã nhanh chóng thay đổi cơ cấu tổ chức và hoạt động kinh doanh như đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá để thu hút khách du lịch Vì vậy khách nước ngoài đến Việt Nam ngày một tăng nhanh, năm 1993 mới chỉ đón được chỉ 572 ngàn lượt người đến năm 1994 sau khi Hoa Kỳ xoá bỏ lệnh cấm vấn đối với Việt Nam, số khách nước ngoài tăng lên 1.2 triệu lượt người Trong năm 2005, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt trên 3,4 triệu lượt người, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm 2004 Tính
đến 6 tháng đầu năm 2006, lượng khách quốc tế đến Việt Nam đạt khoảng 1,9 triệu lượt, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2005
Trong xu hướng hội nhập quốc tế du lịch của Việt Nam đang đứng trước cả những cơ hội và thách thức
- Về cơ hội
Trang 34+ Chúng ta gia nhập WTO, Việt Nam sẽ có nhiều bạn hàng đến kinh doanh, đây chính là nguồn khách du lịch tiềm năng có mức chi trả cao tại Việt Nam ;
+ Thu hút được đầu tư nước ngoài đến nước ta; chúng ta có hàng hóa phong phú, sản phẩm đa dạng, tạo cơ hội tổ chức các loại hình du lịch gắn kết với thương mại – mua sắm hàng hóa ;
+ Hệ thống pháp luật về du lịch sẽ được hoàn chỉnh hơn do học tập
được kinh nghiệm quản lý du lịch từ các nước trên thế giới ; sẽ tạo điều kiện bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động du lịch ;
+ Xu hướng hội nhập quốc tế đòi hỏi cơ quan quản lý du lịch ở Trung
ương và địa phương phải nâng lên một tầm cao mới, cải cách hành chính, tạo môi trường pháp lý, kinh doanh và chỉ đạo các Doanh nghiệp tìm kiếm cơ hội kinh doanh ;
+ Nâng cao được vị thế của du lịch Việt Nam trên trường quốc tế, thúc
đẩy giao lưu với các nước có ngành kinh tế du lịch phát triển
- Về thách thức
+ Cạnh tranh ở các Doanh nghiệp du lịch trong và ngoài nước sẽ diễn ra gay gắt hơn Các doanh nghiệp du lịch trong nước không có chiến lược kinh doanh lâu dài thì rất dễ bị các Doanh nghiệp du lịch nước ngoài có tiềm lực kinh doanh mạnh thôn tính, dẫn đến phá sản Ngoài ra còn diễn ra sự cạnh tranh giữa Nhà nước ta với nhà nước khác trong tạo môi trương pháp lý thông thoáng, điều kiện kinh doanh thuận lợi nhất cho các doanh nghiệp;
+ Quá trình toàn cầu hóa trong điều kiện nước ta vẫn là nước đang phát triển sẽ bị thiệt thòi khi phân phối lợi ích về du lịch với các nước phát triển
Đây là nguy cơ tiềm ẩn cho sự thất nghiệp khi các doanh nghiệp trong nước bị phá sản;
Trang 35+ Hội nhập quốc tế đặt ra những vấn đề lớn cho phát triển du lịch bền vững đó là những vấn đề mới trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc chống lại âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền;
Bên cạnh đó nguồn vốn đầu tư của các đối tác nước ngoài vào việc xây dựng các khách sạn, nhà hàng và các công trình dịch vụ giải trí đã đem lại nguồn thu lớn cho du lịch Việt Nam Nhưng song song với sự phát triển lớn mạnh và nhanh chóng của ngành công nghiệp du lịch chính là sự tổn hại đến môi trường và tình trạng báo động của các khu điểm du lịch, điều đó thể hiện
sự phát triển du lịch còn chưa mang tính bền vững như:
+ Môi trường bị ảnh hưởng và xuống cấp nhất là ở các khu, điểm du lịch, như ở các bãi biển;
+ Di tích văn hoá, lịch sử đang trong tình trạng báo động do xuống cấp nghiêm trọng;
+ Nền văn hoá bản xứ thay đổi, thể hiện ở một số phong tục, tập quán không còn giữ nguyên được bản sắc vốn có;
+ Tệ nạn xã hội nảy sinh và có chiều hướng gia tăng;
+ Tính độc đáo của sản phẩm đang dần bị mờ nhạt, kém phần hấp dẫn khách du lịch;
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy thoái của du lịch Việt Nam
là do:
Việt Nam chưa có sự quản lý và khai thác đồng bộ nguồn tài nguyên du lịch tại các khu, điểm du lịch Nhận thức của các cấp, các ngành và của đại bộ phận nhân dân chưa được nâng cao, chương trình giáo dục, đào tạo, tuyên truyền , phổ biến về phát triển du lịch bền vững còng chưa sâu rộng
Trang 36Như vậy để đảm bảo tính bền vững phát triển du lịch trong thời đại hiện nay, ngành du lịch Việt Nam cần: Khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên, gìn giữ toàn vẹn sinh thái: Nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, giữ gìn lâu dài các loài
và các hệ sinh thái bảo đảm thoả mãn lâu dài các nhu cầu của khách du lịch, tăng tính hấp dẫn và phong phú các sản phẩm du lịch; Phát triển du lịch phù hợp với quy hoạch kinh tế - xã hội; Phát triển cộng đồng để nâng cao khả năng tham gia của cộng đồng địa phương vào các hoạt động du lịch; Bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc.Phát triển du lịch mang tính hiệu quả và hợp lý ; Nâng cao nhận thức của du khách, của cộng đồng địa phương, của người làm
du lịch tại các nơi diễn ra hoạt động du lịch ; Đảm bảo an ninh quốc phòng và
an toàn xã hội
Trang 37Chương 2
Phân tích Thực trạng du lịch ở sa pa – Lào Cai
2.1 Quá trình phát triển du lịch ở Lào Cai và Sa Pa
2.1.1 Những nét tổng quan về Lào Cai
`2.1.1.1 Vị trí địa kinh tế
* Thông tin chung : Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới nằm ở phía bắc
Việt Nam, được tái lập tháng 10 năm 1991 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Hoàng Liên Sơn Diện tích tự nhiên 635.708 ha (chiếm 2,44% diện tích cả nước), là tỉnh có diện tích lớn thứ 19/64 tỉnh, thành phố cả nước Theo số liệu thống kê năm 2004 Lào Cai có số dân trên 55,69 vạn người, trong đó số người trong độ tuổi lao động chiếm xấp xỉ 50% ; Mật độ dân cư 88 người/km2 Dân tộc : 25 dân tộc và người có thành phần dân tộc cùng chung sống, chiếm gần 70% dân
số toàn tỉnh trong đó dân tộc Mông chiếm đa số, tiếp đó là dân tộc Tày, Dao, Thái, Nùng Về đơn vị hành chính có 1 thành phố Lào Cai và 8 huyện là Bát Xát, Sa Pa, Bảo Yên, Bảo Thắng, Si Ma Cai, Văn Bàn, Mường Khương, Bắc
Hà
* Vị trí địa kinh tế : Tỉnh Lào Cai nằm cách Hà Nội 338 km về phía
Tây Bắc Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa; Phía Nam giáp tỉnh Yên Bái ; Phía đông giáp tỉnh Hà Giang ; Phía tây giáp tỉnh Sơn La, Lai Châu Lào Cai có đường biên giới chung với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa dài 203 km, trong đó có 59 km đường đất liền và 144 km
đường sông, suối Lào Cai có cửa khẩu quốc tế Lào Cai và cửa khẩu quốc gia Mường Khương, có tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội - Lào Cai – Côn Minh cùng các tuyến quốc lộ 70, 4E, 79 nối Lào Cai với các tỉnh phía nam của tỉnh (Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội ) và với tỉnh Vân Nam – Trung Quốc ở phía bắc ; Các quốc lộ 40, 32 nối Lào Cai với Lai Châu ; Đường
Trang 38279 nối Lào Cai với Hà Giang, Sơn La Ngoài giao thông đường sắt, đường bộ, Lào Cai còn tham gia vào mạng lưới giao thông đường thủy quan trọngvào bậc nhất ở phía bắc với 130 km đường sông Hồng chảy qua tỉnh, có đoạn ranh giới chung giữa Việt Nam và Trung Quốc trên suốt chiều dài khoảng 50 km
Với vị trí địa lý đặc biệt này, Lào Cai trở thành đầu mối thông thương kinh tế, giao lưu văn hóa giữa hai nước Việt Nam với Trung Quốc nói riêng và quốc tế nói chung
2.1.1.2 Địa hình
Địa hình Lào Cai rất phức tạp, phân tầng độ cao lớn, mức độ chia cắt mạnh Hai dãy núi chính là dãy Hoàng Liên Sơn và dãy con voi cùng có hướng tây bắc - đông nam nằm về phía đông và phía tây tạo ra các vùng đất thấp, trung bình giữa 2 dãy núi này và một vùng về phía tây dãy Hoàng Liên Sơn Ngoài ra còn có rất nhiều núi nhỏ hơn phân bố đa dạng, chia cắt tạo ra những tiểu vùng khí hậu khác nhau Do địa hình chia cắt nên phân đai cao thấp khá rõ ràng, trong đó độ cao từ 300 m – 1.000 m chiếm phần lớn diện tích toàn tỉnh Điểm cao nhất là đỉnh núi Phan Xi Păng trên dãy Hoàng Liên Sơn có độ cao 3.143m so với mặt nước biển
Dải đất dọc theo sông Hồng và sông Chảy gồm thành phố Lào Cai – Cam Đường – Bảo Thắng – Bảo Yên – và phần phía đông huyện Văn Bàn thuộc các đai độ cao thấp hơn (điểm thấp nhất là 80m thuộc địa phận huyện Bảo Thắng), địa hình ít hiểm trở hơn, có nhiều vùng đất đồi thoải, thung lũng ruộng nước rộng, là địa bàn thuận lợi cho sản xuất nông – lâm nghiệp hoặc phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng
2.1.1.3 Khí hậu
Lào cai có khí hậu nhiệt đới gió mùa, song do nằm sâu trong lục địa bị chi phối bởi yếu tố địa hình phức tạp nên diễn biến thời tiết có phần thay đổi, khác biệt theo thời gian và không gian Đột biến về nhiệt độ thường xuất hiện
Trang 39ở dạng nhiệt độ trong ngày lên cao hoặc xuống thấp quá (vùng Sa Pa có nhiều ngày nhiệt độ xuống dưới 0o C và có tuyết rơi)
Khí hậu Lào Cai chia làm 2 mùa : mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Nhiệt độ trung bình năm ở vùng cao từ 15 – 20 o C (riêng Sa Pa từ 14 – 16o C và không có tháng nào lên quá 20 o C), lượng mưa trung bình từ 1.800 mm – 2.000 mm Nhiệt độ trung bình năm ở vùng thấp từ 23o C – 29 o C, lượng mưa trung bình
từ 1.400 mm – 1.700 mm
Sương : sương mù thường xuất hiện phổ biến trên toàn tỉnh, có nơi ở mức độ rất dày Trong các đợt rét đậm, ở những vùng núi cao và các thung lũng kín gió còn xuất hiện sương muối, mỗi đợt kéo dài từ 2- 3 ngày Đặc
điểm khí hậu Lào Cai rất thích hợp với các loại cây ôn đới, vì vậy Lào Cai có lợi thế phát triển các đặc sản xứ lạnh mà các vùng khác không có được như : rau, hoa quả, thảo dược và cá nước lạnh
2.1.1.4 Tài nguyên
a) Tài nguyên đất : Có 10 nhóm đất chính, đó là đất : phù sa, lầy, đen,
đỏ vàng, mùn vàng đỏ, mùn alit trên núi, mùn thô trên núi, đỏ vàng bị biến đổi
do trồng lúa, đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá và đất dốc tụ Xin được giới thiệu một số nhóm được sử dụng thiết thực :
- Nhóm đất phù sa : Diện tích nhỏ, chiếm 1,47% diện tích tự nhiên,
phân bố chủ yếu dọc sông Hồng, sông Chảy có độ phì tự nhiên khá cao, thích hợp với các cây lương thực, công nghiệp
- Nhóm đất đỏ vàng : Thường có màu nâu đỏ, đỏ nâu, đỏ vàng hoặc
vàng đỏ rực rỡ Hình thành và phân bố rộng khắp địa bàn toàn tỉnh, chiếm 40% diện tích tự nhiên Nhóm đất này thích hợp với cây công nghiệp dài ngày
Trang 40- Nhóm đất mùn, vàng đỏ : Chiếm 30% diện tích tự nhiên Nhóm này
thích hợp trồng cây dược liệu quý, cây ăn quả và nhiều loại rau ôn đới Đồng thời đất này có thảm thực vật rừng phong phú, đa dạng bậc nhất của tỉnh
- Nhóm đất mùn alit trên núi : Chiếm 11,42% diện tích tự nhiên tập
trung ở huyện Sa Pa, Văn Bàn, có thảm rừng đầu nguồn khá tốt thích hợp với các loại cây trúc, đỗ quyên, rừng hỗn giao
- Nhóm đất đỏ vàng bị biến đổi do trồng lúa : Diện tích chiếm khoảng
2% diện tích tự nhiên, thích hợp trồng hoa màu, phân bố rải rác tại các huyện
2.1.1.5 Tài nguyên nước
Lào Cai có hệ thống sông, suối dày đặc được phân bố khá đều trên địa bàn tỉnh với 2 con sông lớn chảy qua là sông Hồng (khoảng 130 km chiều dài chảy qua tỉnh) và sông Chảy bắt nguồn từ Vân Nam – Trung Quốc có chiều dài đoạn chảy qua tỉnh là 124 km Ngoài hai con sông trên tỉnh còn có hàng nghìn sông suối lớn nhỏ là điều kiện thuận lợi để Lào Cai phát triển thủy điện Bên cạnh đó, nguồn nước ngầm ước tính có trữ lượng xấp xỉ 30 triệu m3 có chất lượng khá tốt Theo các tài liệu điều tra : trên địa bàn tỉnh có 4 nguồn nước khoáng, nước nóng có nhiệt độ khoảng 40o C và nguồn nước siêu nhạt ở
Sa Pa hiện vẫn chưa được khai thác sử dụng
điển hình cho Vườn quốc gia Hoàng liên có Tống quán sủ, Bồ đề, Đỗ quyên, Pơ Mu, mận rừng Chính vì vậy, vườn quốc gia Hòang Liên được đánh giá là